1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Tư tưởng biện chứng trong triết học Hêraclit

22 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 138,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách làhọc thuyết triết học, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến vànhững quy luật chung nhất của mọi quá trình vận động, phát triển của các sự vật,hiện tượng tron

Trang 1

MỞ ĐẦU

Phép biện chứng là học thuyết về biện chứng của thế giới Với tư cách làhọc thuyết triết học, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến vànhững quy luật chung nhất của mọi quá trình vận động, phát triển của các sự vật,hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; từ đó xây dựng các nguyên tắcphương pháp luận chung cho các quá trình nhận thức và thực tiễn Phép biệnchứng là mảng vấn đề có ý nghĩa và vị trí quan trọng trong triết học Lịch sửphép biện chứng hình thành và phát triển từ khi triết học ra đời, mà đỉnh cao của

nó là phép biện chứng mácxít

Nghiên cứu lịch sử phép biện chứng không thể bỏ qua những tư tưởng biệnchứng sơ khai thời cổ đại Như ở trong cùng một dòng chảy, những thành tựuphép biện chứng mà chúng ta có được ngày nay là kết quả tất yếu của sự pháttriển tư tưởng biện chứng liên tục từ thời cổ đại qua thời phục hưng, cho đếnthời cận đại

Thời kỳ ra đời của triết học cổ đại và những tư tưởng biện chứng sơ khaigắn liền với sự ra đời của các nhà nước chiếm hữu nô lệ trong lịch sử, khi xã hội

đã có sự phân hoá giai cấp rõ rệt, khi lao động chân tay và lao động trí óc táchrời nhau Ở Phương Tây, những tư tưởng biện chứng sơ khai thời cổ đại gắn liềnvới cái nôi triết học Hy Lạp cổ đại Nghiên cứu tư tưởng biện chứng Hy Lạp cổđại cho phép chúng ta khẳng định rằng: Sự ra đời và phát triển của phép biệnchứng duy vật là sự nối tiếp hợp lôgíc của tư tưởng biện chứng từ thời cổ đại

Cũng như các cái nôi triết học khác trên thế giới thì ở Hy Lạp cổ đại,những tư tưởng biện chứng được hình thành từ rất sớm, song đã có sự phát triểnmạnh mẽ Do điều kiện kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ, văn hoá của người

Hy Lạp cổ đại lại phát triển hết sức rực rỡ nên triết học và những tư tưởng biệnchứng có mảnh đất màu mỡ để sinh sôi nảy nở

Nói đến tư tưởng biện chứng ở Hy Lạp cổ đại, thì không thể không nóiđến nhân vật Hêraclít - nhà triết học đã được V.I Lênin đánh giá là nhà biện

Trang 2

chứng đầu tiên trong lịch sử Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng biện

chứng trong triết học Hêraclit” làm tên đề tài cho bài tiểu luận của mình Mặc

dù đã có sự cố gắng, song không tránh khỏi những hạn chế nhất định, kinh mong

cô giáo và các bạn góp ý để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn

Trang 3

Chương 1

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

1 Bối cảnh lịch sử ra đời tư tưởng biện chứng Hy Lạp cổ đại

Triết học Hy Lạp cổ đại là nền triết học được hình thành vào khoảng thế kỷ

VI trước công nguyên đến thế kỷ VI tại Hy Lạp Triết học Hy Lạp cổ đại đượcxem là thành tựu rực rỡ của văn minh phương tây, tạo nên cơ sở xuất phát củatriết học châu Âu sau này

Triết học ra đời khi chế độ chiếm hữu nô lệ được xác lập trên cơ sở pháttriển của kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Sự phát triểnkinh tế thúc đẩy sự ra đời, phát triển của khoa học và triết học Cùng với sự hìnhthành và phổ biến của chế độ chiếm hữu nô lệ là sự xuất hiện của các công cụbằng sắt

Về mặt kinh tế, ngay từ khi xuất hiện những công cụ bằng sắt thích hợp với

vùng đất Hy Lạp khô cằn và không thuận lợi cho việc tưới tiêu so với người AiCập và người Sume người Babilon cổ đại Cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vàomức lên xuống của sông Nin, sông Ti-gơ-rơ và sông Ơ-phơ-rát các công cụ bằngsắt đã đem lại cho con người Hy Lạp cổ đại một uy quyền đối với tự nhiên tolớn hơn nhiều Đó là một trong các nhân tố quan trọng giúp cho người Hy Lạpthoát khỏi kinh tế tự nhiên để tham gia vào các quan hệ vật chất Sự phát triểncủa công thương nghiệp đã tạo ra một tầng lớp chủ nô mới Tầng lớp giàu cóvốn không phải chủ nô mới này ngày càng khẳng định được địa vị của mìnhtrong các nhà nước thành thị Hy Lạp Việc của cải, nô lệ nắm trong tay tầng lớpchủ nô mới này đã thúc đẩy chế độ tư hữu tài sản phát triển nhanh chóng Việc

sử dụng các công cụ bằng sắt trong sản xuất thủ công nghiệp đã khiến cho thủcông nghiệp thoát khỏi sản xuất nông nghiệp Nghề thủ công phát triển cao trênquy mô lớn ở các thành phố Hy Lạp cổ đại Giữa thành phố và nông thôn có một

sự đối lập gay gắt

Về mặt xã hội: Nhà nước Hy Lạp xuất hiện dưới hình thức các quốc gia thị

Trang 4

thành (thành bang); xã hội phân chia thành hai giai cấp đối lập là chủ nô và nô

lệ Cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của cáckhuynh hướng triết học

Triết học Hy Lạp cùng với những thành tựu của nó có vai trò vô cùng quantrọng đối với Châu Âu nói riêng và nhân loại nói chung Hy Lạp là quê hươngcủa các triết gia lớn với những tư tưởng vĩ đại Từ Talét, triết học đã ra đời vàthay thế thần thoại cùng tôn giáo nguyên thuỷ, đồng thời thâu tóm các tri thứckhoa học vào một hệ thống mang tính khái quát hơn Triết học Hy Lạp cũng đãphản ánh các cuộc đấu tranh giai cấp, phản ánh những tư tưởng trong xã hội lúcbấy giờ mà tiêu biểu là cuộc đấu tranh giữa hai trường phái duy vật và duy tâm

Sự xuất hiện của triết học mặc dù chưa thể chấm dứt ngay những ràng buộc vớithần thoại nhưng nó đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử nhận thức củangười Hy Lạp cổ đại sang thế giới quan triết học

2 Đặc điểm của tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại

Triết học Hy Lạp cổ đại là ngon cờ lý luận của giai cấp chủ nô, ngay từ đầu

đã mang tinh giai cấp sâu sắc Về thực chất, là thế giới quan,ý thức hệ của giaicấp chủ nô thống trị, là công cụ lý luận để duy trì và bảo vệ trật tự xã hội đươngthời, phục vụ cho giai cấp chủ nô

Triết học Hy Lạp cổ đại gắn chặt với khoa học tự nhiên, lấy giới tự nhiênlàm đối tượng nghiên cứu Vì vậy, nó thuộc loại hình triết học tự nhiên, nhà triếthọc đồng thời là nhà khoa học tự nhiên; muốn hiểu biết sâu sắc nền triết học nàycần phải có tri thức khoa học tự nhiên vững chắc

Thế giới quan bao trùm triết học Hy Lạp cổ đại là duy vật và vô thần Triếthọc duy tâm và cuộc đấu tranh của họ chống lại triết học duy vật thường diễn ra,song chủ nghĩa duy vật và thế giới quan vô thần luôn chiếm ưu thế; nó là vũ khí

lý luận cần cho giai cấp chủ nô chống lại những thế lực chống đối, những điều

mê tín, dị đoan và những điều vô lý trong thần thoại

Phép biện chứng tự phát, ngây thơ ra đời và phát triển trong triết học Hylạp cổ đại cùng với chủ nghĩa duy vật mộc mạc, chất phác và thành tựu của khoa

Trang 5

học tự nhiên là đặc điểm nổi bật của lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại Ngay từđầu, sự ra đời của triết học Hy Lạp đã gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, xuất phát từnhu cầu phát triển của nhận thức khoa học và kỹ thuật, gắn liền với quá trình rađời và phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp, chứa đựng mầm mốngcủa hầu hết các thế giới quan sau này.

Một là, tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại được thể hiện

trong triết học của những nhà triết học duy vật về tự nhiên, về con người và về

xã hội Các đại biểu tiêu biểu cho tư tưởng biện chứng duy vật Hy Lạp cổ đại đólà: Talét, Anaximen, Anaximenđrơ, Hêraclít, Đêmôcrít

Hai là, đặc điểm cơ bản và xuyên suốt trong phép biện chứng Hy Lạp cổ

đại đó là tính ngây thơ, tự phát Tự phát vì các nhà triết học Hy Lạp cổ đạinghiên cứu tự nhiên chỉ cốt làm sao vẽ được bức tranh chung về thế giới và chỉ

ra được nguồn gốc của nó chứ không có chủ định nghiên cứu phép biện chứng.Ngây thơ vì hầu hết các tư tưởng biện chứng của các nhà duy vật Hy Lạp cổ đạiđều mang tính suy luận, phỏng đoán trên cơ sở kinh nghiệm trực giác

Ba là, trong quan điểm khởi nguyên vũ trụ của các nhà triết học Hy Lạp cổ

đại là một minh chứng cụ thể Chẳng hạn như Talét cho thế giới có khởi nguyênban đầu là nước, bởi Talét thấy nước luôn hiện diện ở khắp mọi nơi Hay nhưHêraclít quan niệm khởi nguyên là lửa, bởi ông cho rằng lửa là yếu tố năng độngnhất so với đất, nước, không khí, như các nhà triết học trước ông đã khẳng định

đó là khởi nguyên của thế giới Trên cơ sở quan sát sự xung động nhịp nhàngcủa ngọn lửa Hêraclít đã giải thích sự chuyển hoá lửa → các sự vật, hiện tượng,các sự vật hiện tượng → lửa Thậm chí ngay cả với học thuyết nổi tiếng của ông:học thuyết về dòng chảy phổ biến Từ sự quan sát trực cảm sự “trôi đi , chảy đi”của dòng sông để ông khẳng định vận động là vĩnh cửu “không ai có thể tắm hailần trên một dòng sông”

Bốn là, các nhà triết học Hy lạp cổ đại còn là các nhà khoa học tự nhiên.

Do vậy quan niệm, lập trường của các nhà triết học tự nhiên mang tính duy vật.Tuy nhiên vào thời đại của các nhà triết học cổ đại Hy Lạp thì yếu tố khoa học

Trang 6

lại chưa phát triển để chứng minh cho các tư tưởng biện chứng của các nhà triếthọc, nên phần lớn các tư tưởng biện chứng đều mang tính chất phỏng đoán, dựatrên kinh nghiệm trực quan Chính yếu tố khoa học của thời đại các nhà triết học

cổ đại Hy Lạp chưa phát triển, chưa phục vụ tích cực cho triết học nên đã làmcho những tư tưởng mang đặc điểm ngây thơ

Năm là, các tư tưởng biện chứng của các nhà triết học duy vật chứa đựng

những yếu tố thần thoại Như Talét mặc dù xem nước là khởi nguyên của mọithứ, song do hạn chế của khoa học lúc bấy giờ nên ông đã viện đến thần linh khikhông giải thích được từ tính của nam châm và hổ phách cho rằng sở dĩ vạn vậtvận động được là nhờ các thần linh

Thành tựu nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện ở việc nó là “ mầmmống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”, đáng kế nhất

là sự ra đời của chủ nghĩa duy vật mộc mạc, chất phác và phép biện chứng tựphát, ngây thơ- những hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duy vật và phép biệnchứng trong lịch sử triết học nhân loại Vì vậy, nó gắn chặt với tên tuổi và sựnghiệp của các nhà triết học: Talét (khoảng 624- 547 TCN), Đêmôcơrít (khoảng460-370 TCN), Plantôn (427-347 TCN): Arixtốt (384- 322 TCN), Êpiquya (341-

270 TCN),…

Tóm lại, đặc điểm cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật Hy Lạp cổ đại

là mang tính ngây thơ, tự phát Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại chỉ muốn vẽ nênbức tranh về thế giới mà không có chủ định nghiên cứu phép biện chứng, do cácnhà triết học Hy Lạp cổ đại còn là các nhà khoa học tự nhiên, nhưng khoa họclúc bấy giờ chưa phát triển để chứng minh cho các tư tưởng biện chứng, do ảnhhưởng của thần thoại đến nền triết học Hy Lạp cổ đại, nên phép biện chứng củacác nhà triết học Hy Lạp cổ đại còn phảng phất yếu tố thần thoại

Trang 7

Chương 2

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC CỦA HÊRACLÍT

Về tư tưởng biện chứng Hy Lạp cổ đại thì Hêraclít được xếp ở vị trí trungtâm Tư tưởng biện chứng trong triết học của ông được trình bày một cách khásâu sắc, ông cũng là người đã đưa ra những phỏng đoán thiên tài về sự vận động

và phát triển của thế giới Ông được xem là “một trong những nhà sáng lập raphép biện chứng”

1 Nội dung tư tưởng biện chứng của Hêraclit

1.1 Quan niệm của Hêraclít về khởi nguyên của vũ trụ

Tìm kiếm bản nguyên đầu tiên của vũ trụ, luận giải bản nguyên đó vềphương diện bản thể luận và gắn nó với một hay vài dạng tồn tại cụ thể của vậtchất dưới dạng trực quan cảm tính, đó là một trong những đặc trưng làm nêntính độc đáo của triết học Hy Lạp cổ đại Hêraclít khẳng định: “Thế giới là mộtchỉnh thể bao gồm mọi vật, không do một thần thánh nào tạo ra, mà đã, đang và

sẽ là một ngọn lửa cháy vĩnh viễn sống, bùng cháy và tắt đi theo những quyluật” [1, tr.371]

Như vậy, vũ trụ xét về tổng thể, theo Hêraclít là cái đơn (duy nhất), nhưngcái đơn đó phải là tổng thể của sự thống nhất của các vật thể và không thể thiếumột khởi nguyên thống nhất và chung cho mọi vật thể và khởi nguyên đó chính

là lửa Với quan điểm duy vật Hêraclít cũng cho rằng trong vũ trụ những sự vật,hiện tượng nội tại tự nó biến đổi đa dạng, vận động chuyển hoá, biến đổi sangnhững hình thức, mức độ khác nhau mà có cơ sở của chúng là ngọn lửa

Hêraclít đã lấy lửa là cơ sở độc nhất, phổ biến của mọi hiện tượng tựnhiên, lửa là nguồn gốc vật chất đầu tiên của chúng và ông đã dùng sự biến đổicủa lửa để giải thích như là sự biến đổi bản chất của mọi hiện tượng tự nhiên.Ông cho rằng: “Tất cả được trao đổi với lửa, và lửa trao đổi với tất cả, giống nhưhàng hoá đối với vàng và vàng đối với hàng hoá” [4, tr.10] Rõ ràng, ngay từ đầu

Trang 8

khi cho khởi nguyên của vũ trụ là lửa, Hêraclít đã cố gắng xác lập mối liên hệcác sự vật, hiện tượng trong vũ trụ qua cơ sở là ngọn lửa Hêraclít cũng đã nóilên tính thống nhất của vũ trụ là ở ngọn lửa sống bất diệt, vĩnh hằng nhưng cũngluôn bùng cháy và lụi tàn trong những khoảnh khắc.

1.2 Về khái niệm logos của Hêraclít

Cùng với quan niệm độc đáo về lửa, khái niệm Logos đã trở thành tâmđiểm trong thế giới quan của Hêraclit, thành hạt nhân trung tâm trong phép biệnchứng của ông” [2, tr.32] Trong hệ thống triết học của Hêraclít, Logos được coi

là một khái niệm khó hiểu nhất Tuy nhiên, với câu hỏi đặt ra, vậy Logos trongquan niệm của Hêraclít có nghĩa là gì? Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâmcủa nhiều nhà triết học trên thế giới

Logos là một khái niệm có trước Hêraclít là một khái niệm đa nghĩa.Trong tiếng Hy Lạp cổ Logos có nghĩa là từ ngữ, là tư tưởng Với nghĩa là, tưtưởng, Logos được thể hiện trong từ ngữ Logos được hiểu theo nghĩa nào là tùythuộc vào văn cảnh của ngôn ngữ Hêraclít đã biến khái niệm này thành trungtâm trong triết học của ông Logos trong hệ thống triết học của Hêraclít vẫn làmột khái niệm đa nghĩa

Trong triết học của Hêraclít khi quan niệm lửa là khởi nguyên đầu tiên, là

cơ sở của vạn vật thế giới, lửa sẽ phán xét tất cả “Ngọn lửa” có một quy luật nộitại của nó, đó là Logos Và như vậy, mối quan hệ Logos và lửa có thể xem làmối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng Logos là quy luật biến đổi phổ biếncủa vạn vật trong vũ trụ, ông viết: “sự chuyển hóa của lửa là: đầu tiên thànhbiển, một nửa biển thành đất, nửa còn lại thành gió xoáy… Đất lại hóa thànhbiển và tuân theo Logos mà trước kia biển hóa thành đất đã tuân theo” [2, tr.35].Logos trong quan niệm của Hêraclít là quy luật bất biến vĩnh hằng của vũ trụ,ông viết rằng: “Logos là cái vĩnh viễn tồn tại…vạn vật ra đời đều dựa vào Logoscủa nó” [2, tr.35] Hêraclít cho rằng thấu hiểu của một con người đó là nhận thứcLogos, người thông thái phải là người nhận thức và việc làm phải tuân thủ theoLogos: “tự nhiên yêu thích ẩn dấu mình” Nhận thức và việc làm phải tuân thủ

Trang 9

theo Logos: “không phải theo tôi, mà theo Logos, thừa nhận rằng tất cả là đơnnhất” [4, tr.11] Logos trong quan niệm của Hêraclít còn được hiểu như là cáichung, cái phổ biến, ông viết “muốn nói một cách có lý cần phải giữ mình theocái lý (Logos), giống như thành phố được xây dựng chặt chẽ nhờ đạo luật và nóvững bền hơn nhờ vào luật của con người được giáo dưỡng vào thời mà nó từngbày ra bởi quyền lực của nó có sao như nó vốn muốn nói tới Nó hòa vào tất cả,

vì thế nhất thiết phải tuân thủ cái chung, nhưng dù Logos (cái ý) là chung nhất

đa số con người sống theo như thế, một khi họ hiểu một cách tường tận luật ấy”[4, tr.11]

Với cách hiểu như trên, thì Logos là quy luật chung nhất, phổ biến của vũtrụ và vạn vật phải tuân theo Trên cơ sở quan điểm này trong tư tưởng của mình

về sự thống nhất (hài hòa) và đấu tranh của các mặt đối lập, Hêraclít đã cho rằng

“Logos là ông hoàng tạo ra sự đấu tranh và hài hòa của vạn vật trong vũ trụ.Logos là sự đấu tranh - cái tuyệt đối vĩnh viễn và hai hòa - cái hợp nhất, cânbằng và khắc phục một cách tương đối mặt đối lập trong đấu tranh với nhau”,hay nói cách khác Logos là sự thống nhất của mọi cái hiện hữu

1.3 Tư tưởng biện chứng của Hêraclít trong quan niệm về sự thống nhất (hài hòa) và đấu tranh của các mặt đối lập

Nếu như ở Hy Lạp cổ đại các nhà triết học thuộc trường phái Milê và đặcbiệt là Anaximenđrơ đã có công đầu trong việc xây dựng những tư tưởng sơ khaiđầu tiên về sự thống nhất đấu tranh của các mặt đối lập, sự phân đôi thống nhấtcủa các mặt đối lập, thì Hêraclít là là người nói đến sự thống nhất và đấu tranhcủa các mặt đối lập nhiều nhất Ở Hêraclít quan điểm của ông về sự thống nhất(hài hòa) và đấu tranh của các mặt đối lập được thể hiện rõ ở những điểm sau

Sự thống nhất có nghĩa là sự đồng nhất của cái đa dạng, là sự hài hòa của

các mặt đối lập “bất đồng với nhau” Hêraclít đã nhìn nhận sự thống nhất là sự

đồng nhất của cái đa dạng Nhưng Hêraclít còn khác với phần đông các nhà triếthọc Hy Lạp cổ đại còn cho rằng sự thống nhất không chỉ đơn giản là sự đồngnhất của cái đa dạng mà trong sự thống nhất luôn bao hàm trong nó các mặt đối

Trang 10

lập “bất đồng” với nhau Ông viết “họ không hiểu cái bất đồng lại hòa hợp vớichính mình: (nó) là sự hòa hòa đối lập với (bản thân) giống như cây cung và cáithiên cầm” [5, tr.112].

Hêraclit đã nhìn nhận sự vật thế giới hiện tượng và trong mỗi sự vật, hiệntượng đều chứa đựng trong nó các mặt đối lập trái ngược nhau Sự tồn tại củacác mặt đối lập trong mỗi sự vật, hiện tượng là khách quan và phổ biến Tuynhiên, ở đây Hêraclít mới chỉ nêu ra các ví dụ từ hiện thực cuộc sống để so sánh,minh hoạ các mặt đối lập và sự thống nhất của các mặt đối lập Còn những kháiniệm: mặt đối lập, khái niệm đồng nhất, khái niệm mâu thuẫn thì ông chưa đi tới

rõ ràng Nhưng về cơ bản thì bước đầu Hêraclít đã có quan niệm đúng đắn về sựtồn tại khách quan của các mặt đối lập trong mỗi sự vật, hiện tượng Đây là cơ

sở đầu tiên, quan trọng cho phép ông tiến sâu hơn nữa vào khai thác, tìm hiểuquy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Không chỉ cho rằng các mặt đối lập tồn tại khách quan trong mỗi sự vật,hiện tượng, Hêraclít còn thấy được rằng, trong sự thống nhất của các mặt đốilập, các mặt đối lập còn có mối quan hệ giả định lẫn nhau và không thể có đượcnếu thiếu nhau Chúng là điều kiện cho nhau tồn tại, sự tồn tại của mặt này phảilấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề, chúng tồn tại thông qua nhau

Hêraclit cho rằng, mỗi sự vật, hiện tượng trong quá trình biến đổi đều trải

qua các trạng thái đối lập và chuyển thành các mặt đối lập với nó Tất cả các sựvật hiện tượng trong thế giới đều bao hàm những mặt trái ngược nhau, trong quátrình biến đổi của các sự vật đều trải qua các trạng thái đối lập và chuyển hoá

thành các mặt đối lập với nó Vẫn là lối văn phong giàu hình ảnh, ông đã làm rõ

quan điểm này của mình bằng những ví dụ: sống trở thành chết; thức trở thànhngủ; trẻ trở thành già… nhưng cũng có thể nói ngược lại rằng: chết thành sống;ngủ thành thức; già trở thành trẻ Ông nói: “cùng ở một thứ trong ta như sống vàchết; thức và ngủ; già và trẻ vì sau khi biến đổi cái này trở thành cái kia, vàngược lại” [5, tr.119] Vũ trụ là một sự hài hòa tuyệt đẹp của các mặt đối lập, trật

tự của sự hài hòa vũ trụ là sự thống nhất của các mặt đối lập, trong đó lúc thì

Trang 11

mặt này, lúc thì mặt khác Trong các mặt đối lập sẽ có một mặt chiếm ưu thếtheo một chu kỳ nào đó, trong một giới hạn nào đó Chẳng hạn như ngày vàđêm, mùa đông và mùa hè, chiến tranh và hoà bình… theo tính chu kỳ và trongmột giới hạn sẽ có một mặt chiếm ưu thế Mùa đông là mặt đối lập chiếm ưu thếtrong tính chu kỳ của nó sẽ cho ta một mùa đông, mùa hè chiếm ưu thế so vớimặt đối lập của nó là mùa đông sẽ cho ta mùa hè Tương tự như vậy trong vũ trụ

sẽ diễn ra theo chiều hướng đó Tuy nhiên trong quan điểm này của Hêraclítchưa đi sâu để nói rõ hơn về sự chiếm ưu thế tương đối của một trong các mặtđối lập so với các mặt khác và sự cân bằng “căng thẳng” giữa các mặt đối lập.Khi thiết định sự tồn tại của các sự vật, cả hai hình thức đó của sự hài hoà đềuđem lại cho chúng tính xác định, tính ổn định và tính bền vững Nhưng sự hàihoà của các sự vật là tương đối là nhất thời, tính xác định và tính ổn định cũngchỉ là nhất thời tương đối, vấn đề là ở chỗ sự hài hoà sớm hay muộn sẽ bị pháhuỷ bởi cuộc đấu tranh của các mặt đối lập Sự chiếm ưu thế của một trong cácmặt đối lập đối với các mặt khác có nghĩa là làm mất đi sự hài hoà và dẫn tớichỗ tiêu vong của các sự vật Ở đây, Hêraclít chỉ nói đến chuyển hoá của các mặtđối lập mang tính chu kỳ từ sự cảm nhận trực quan của mình trước cuộc sống

1.4 Tư tưởng biện chứng của Hêraclít trong quan điểm về nhận thức

Hêraclít được thừa nhận với tư cách là người sáng lập ra phép biện chứngkhông chỉ bởi những quan niệm về vũ trụ, tính thống nhất của vũ trụ, về vậnđộng phổ biến, về tính thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập mà còn bởiquan niệm độc đáo của ông về nhận thức

Hêraclít là ông cho rằng người ta chỉ có thể nhận biết được cái chung, cái

phổ biến khi tìm ra được những biểu hiện đa dạng, cụ thể của nó ở các sự vật,

hiện tượng đơn nhất, cá biệt bằng cách so sánh, đối chiếu các sự vật, hiện tượngđơn nhất cá biệt này với cái chung, cái phổ biến Nhiều nhà triết học có tên tuổitrong đó có những nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã coi đó là phương pháp

“đằng sau cây nhận thấy rừng” - đằng sau hiện tượng nhận thấy bản chất, cònđằng sau bản chất nhận thấy hiện tượng Ông có một câu châm ngôn nổi tiếng:

Ngày đăng: 21/07/2021, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w