1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tài liệu MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MỐC CƠ SỞ TRONG ĐO LÚN CÔNG TRÌNH pdf

4 776 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề về mốc cơ sở trong đo lún công trình
Tác giả Ths. Đinh Xuân Vinh
Chuyên ngành Trắc địa
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2005
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 55,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xây dựng mốc cơ sở đo lún Như chúng ta đã biết, mốc đo lún CTXD được xây dựng ở nơi có tác động địa chấn nhỏ nhất trong điều kiện có thể, ví dụ nơi cách xa công trường đang đóng cọc

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MỐC CƠ SỞ TRONG ĐO LÚN CÔNG TRÌNH

Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và xây dựng HUD - CIC

Trang 2

1 Đặt vấn đề:

Với tốc độ đô

thị hoá đang diễn ra

ngày càng nhanh trên

đất nước ta, hàng trăm

khu đô thị mới đang

triển khai xây dựng

hoặc mới đi vào hoạt

động Hơn bao giờ hết,

công tác đảm bảo an

toàn chất lượng cho

các công trình xây

dựng(CTXD) lại được

quan tâm như hiện

nay Chất lượng CTXD

được đánh giá bằng

nhiều tiêu chí, trong đó

việc xác định độ ổn

định của công trình qua

thời gian sử dụng là

điều hết sức quan

trọng Để thực hiện

điều này, thế giới

thường tiến hành kiểm

tra độ chuyển dịch

( ngang và đứng) của

CTXD (thế giới gọi

chung là biến dạng),

qua đó nhận được cái

nhìn khách quan và

trung thực về tính ổn

định của CTXD, từ đó

đề xuất những giải

pháp thiết kế hoặc gia

cường CTXD cho phù

hợp

2 Về đo lún

công trình

Việc đánh giá

độ lún của CTXD

thường thực hiện bằng

phép đo nhiều chu kỳ

thuỷ chuẩn hình học tia

ngắm ngắn với tiêu

chuẩn hạng I, hạng II

Nhà nước Các quy

trình đo cũng như loại

máy sử dụng đã được

trình bày trong các giáo

trình của Khoa Trắc

địa, trường Đại học Mỏ

Địa chất, các tiêu

chuẩn xây dựng Việt

Nam do Bộ Xây dựng

ban hành Trong công

tác xác định độ lún của

CTXD, có 3 bước phải

tiến hành Thứ nhất là

xây dựng hệ thống mốc

cơ sở (tối thiểu 3 mốc),

thứ hai là quy trình đo

và loại phương tiện sử

dụng, thứ ba là giải

pháp xử lý nội nghiệp

Bước thứ ba đóng vai trò rất lớn trong việc xác định độ lún CTXD và đã được trình bày trong số 3/2005 Tạp chí Xây dựng[1] Bước thứ hai cũng được cụ thể hoá bằng TCXDVN 271 –

2002 Bước đầu tiên là việc xây dựng mốc cơ

sở thì lâu nay thực hiện vẫn còn một số bất cập

Trong nội dung bài báo này, tác giả mong muốn đưa ra một cái nhìn tổng quát, khách quan và khoa học về vấn đề mốc

cơ sở đo lún CTXD

3 Việc xây dựng mốc cơ sở đo lún

Như chúng ta đã biết, mốc đo lún CTXD được xây dựng ở nơi có tác động địa chấn nhỏ nhất trong điều kiện có thể, ví dụ nơi cách xa công trường đang đóng cọc, cách xa đường giao thông chính có xe tải nặng hoạt động, không nằm trên địa tầng trượt hay mái trượt, .Việc lựa chọn đầy đủ những yếu tố về địa chất trong phạm vi một khu đô thị mới, khu công nghiệp hay khu chế xuất cũng là điều khó Trên thế giới (Nga, Ucraina, Mêhico,

Mỹ, Bungari ) thường phân chia 3 loại mốc cơ sở: Mốc chôn sâu(đến tầng đá gốc), mốc chôn nông (khoảng 2 m), mốc gắn tường hoặc gắn nền các công trình đã lún ổn định Do trên khu vực cần đo lún ít có công trình hiện hữu mà độ lún

đã ổn định, nên các mốc

cơ sở dạng gắn tường hay gắn nền ít được sử

dụng Các mốc chôn nông dễ bị ảnh hưởng bởi các xung động của lớp đất mặt như: tải trọng của công trình gần

đó, tải trọng động của các phương tiện vận tải,

Nên việc xây dựng các mốc dạng chôn sâu là ưu tiên

hàng đầu Để tiến hành đặt mốc cơ sở đo lún (loại chôn sâu) vào tầng

đá gốc, phải thực hiện nhiều giai đoạn: sau khi khoan tạo lỗ với độ sâu đến hàng trăm mét[2], [4], đặt ống thép cách ly với đất đá xung quanh thân mốc nhằm hạn chế ảnh hưởng của nhiệt độ các địa tầng đến sự thay đổi chiều dài (độ cao) của mốc Chu kì đầu, công tác đo đạc xác định

độ cao của mốc (đỉnh mốc) được tiến hành đồng thời với việc đo nhiệt độ thân mốc, để qua đó hiệu chỉnh vào

độ cao mốc trong các chu kì sau này Để xác định nhiệt độ thân mốc, người ta thả xuống lỗ khoan đặt mốc nhiều đầu đo nhiệt độ, ứng với nhiều độ sâu khác nhau, nhiệt độ trung bình của mốc được tính dựa trên nhiệt độ không khí tại các vị trí khác nhau trong lỗ khoan và khoảng cách giữa các điểm đo nhiệt độ Do việc đo nhiệt độ trong lòng hố khoan rất khó khăn, nên ngày nay phương pháp này ít dùng trên thế giới Nếu thân mốc được làm bằng thép ống, thì do hệ số giãn nở  của thép, chiều dài thân mốc có thể thay đổi cỡ 0.5 mm /

4 m giữa hai mùa đông

-hè (giả thiết giữa hai

mùa chênh nhiệt độ là 100

C)[3], nghĩa là với chiều dài thân mốc khoảng 50

m, ta có sự thay đổi chiều dài (độ cao) mốc giữa hai mùa đông - hè cỡ 6 mm

Trên đây là với mốc lõi đơn, hiện nay trên thế giới người ta xây dựng mốc cơ sở đo lún dạng chôn sâu với kết cấu lõi kép: gồm một lõi chính và một lõi phụ[4]

Chiều dài của lõi chính và lõi phụ lúc ban đầu (khi chưa chôn mốc) được xác định Sau khi chôn mốc,

do nhiệt độ trong lòng ống khoan thay đổi theo mùa khí hậu, do hệ số giãn nở nhiệt của lõi chính và lõi phụ khác nhau, lúc này chiều dài giữa lõi chính và lõi phụ

có một lượng chênh so với ban đầu Ta xác định được sự thay đổi chiều dài của mốc chính  LC

nhờ biết trước hệ số giãn

nở nhiệt của lõi chính C, lõi phụ P:

Trong công thức:

 đo được tại thời điểm công tác

C, P là hệ số giãn nở nhiệt đã biết trước

LC độ giãn nở của lõi chính do nhiệt độ tại thời điểm công tác

Hiệu chỉnh  LC vào độ cao của mốc, ta có độ cao chuẩn

4 Thực trạng ở nước ta

Công tác quan trắc chuyển dịch và biến dạng công trình hiện nay

ở nước ta được thực hiện với hầu hết các mốc chôn sâu lõi đơn Khu vực đô thị như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, với điều kiện địa tầng là sỏi cuội cũng phải ở độ sâu khoảng 50 m Nếu mốc

cơ sở đo lún được đặt vào tầng sỏi cuội thì độ dài

C P

C C

L

Trang 3

của mốc cũng cỡ 50 m.

Hơn nữa, chúng ta đều

xây dựng mốc đo lún

với kết cấu lõi đơn

được làm bằng thép

ống có mạ kẽm bên

trong và bên ngoài,

đường kính khoảng 40

mm Việc làm này

cũng có lý do, một

phần vì thi công mốc

dễ dàng hơn, phần khác

vì kinh phí có hạn Tuy

nhiên như trên đã phân

tích, với loại mốc đó

thì độ cao mốc sẽ có

biến động lớn khi nhiệt

độ không khí thay đổi

Đây chính là bất cập

mà lâu nay các chuyên

gia trắc địa gặp phải

Để giải bài toán này, từ

những năm 90 của thế

kỉ trước đã có đề xuất

xây dựng quanh Hà

Nội một hệ thống mốc

cơ sở đo lún dạng chôn

sâu theo đúng quy trình

công nghệ (với kinh

phí khá lớn) Nhưng

cho đến nay, dự án vẫn

chưa thực hiện được

5 Giải pháp cho

mốc cơ sở đo lún

Trước mắt, để

thực hiện công tác đo

lún công trình, chúng

ta vẫn phải xây dựng

các mốc cơ sở đo lún

tại khu đô thị mới hoặc

công trình công nghiệp

Tuy nhiên, có thể giảm

thiểu phần nào sự thay

đổi độ cao mốc do

nhiệt độ Đó là xây

dựng các mốc đo lún

dạng lõi đơn với chiều

sâu khoảng 10 m, lúc

này L do nhiệt độ

thay đổi khoảng 1 mm

và nên chọn vị trí sao

cho địa tầng đặt mốc

(-10 m) là sét dạng dẻo

đến dẻo cứng hoặc cát

hạt mịn Đồng thời

trong hệ thống mốc cơ

sở phải có một mốc

được đặt tới địa tầng

ổn định ( ví dụ như

tầng sỏi cuội tại Hà Nội) Áp dụng phân tích xác xuất thống kê [5] ta

sẽ tìm được mốc ổn định trong chu kì đo Tác giả

đã thực hiện ý tưởng này bằng việc xây dựng một

hệ thống mốc cơ sở đo lún với độ sâu 10 m trong một dự án đô thị mới, qua hơn hai năm tiến hành quan trắc, kết quả nhận được tương đối khả quan, sự thay đổi độ cao của mốc được hiệu chỉnh kịp thời theo mùa khí hậu và phản ánh trung thực độ lún công trình

Có 5 mốc cơ sở trong hệ thống Khi lưới

có vừa đủ yếu tố gốc tối thiểu thì được xem là lưới tự do bậc 0 ( số khuyết d = 0 ) Với lưới

độ cao tự do, số khuyết

d = 1 và được gọi là lưới

tự do bậc 1 Lưới cơ sở

đo lún được bình sai theo phương pháp bình sai lưới tự do với điều kiện ràng buộc đối với vecto ẩn số dạng:

CT x+

Lc = 0 Thoả mãn : -Số lượng điều kiện bằng số khuyết d trong lưới

-Các hàng của ma trận

CT độc lập tuyến tính đối với các hàng của ma trận hệ số (A) hệ phương trình số hiệu chỉnh

Lựa chọn các phần tử của vectơ C theo quy tắc:

(11111)T

1, 5 Kết quả bình sai cho ta thấy: Vào mùa

hè, mốc M4 có chiều dài 60m độ cao thay đổi khá lớn +6,98mm Các mốc còn lại có chiều dài 10m

độ cao thay đổi tuỳ thuộc địa tầng nơi đặt mốc Trong những chu

kì nhất định có thể thấy

độ ổn định của từng mốc trong hệ thống Từ tháng

11 năm 2004 đến tháng

8 năm 2005, mốc M1 ổn định, mốc M4 trồi +5,58mm Từ tháng 8 năm 2005 đến tháng 9 năm 2006 mốc M2 ổn định, mốc M4 rút ngắn lại - 4,49mm vào tháng

1 năm 2006 nhưng lại trồi lên +5,88mm vào tháng 9 năm 2006 Tiêu chuẩn mốc ổn định được chọn là: sai số trung phương phải nhỏ hơn 3 lần sai số giới hạn Biểu

đồ dưới đây biểu diễn độ biến dạng về độ cao các mốc cơ sở trong hệ thống mốc được xây dựng tại một khu đô thị

-40 -30 -20 -10 0 10 20

M1 0 0.68 1.28 M2 0 1.81 5.61 M3 0 1.48 5.01 M4 0 4.47 5.58 M5 0 -8.43 -17.48 Nov-04 Mar-05 Aug-05

§é lón (mm)

6 Kết luận

Mốc cơ sở đo lún là yếu tố quan trọng

để phản ánh độ lún công trình xây dựng Việc thi công xây dựng mốc theo đúng quy trình công nghệ là vượt quá khả năng hiện có và khá tốn kém kinh phí Thực hiện giải pháp đã nêu đạt hiệu quả kinh tế và kĩ thuật sâu sắc, phù hợp điều kiện đầu tư và thi công của Việt Nam Kết

quả nghiên cứu trên góp phần làm phong phú thêm

cơ sở lí luận và hoàn thiện công nghệ đo lún công trình

Tài liệu tham khảo:

[1] Đinh Xuân

Vinh(2005), “Xử lý số

liệu đo lún công trình xây dựng bằng phần mềm BS-Lun.FOR”, Tạp chí Xây

Dựng-Bộ Xây Dựng, tháng 3 năm 2005 [2] Trần Mạnh Nhất

(1996), Một số kết quả

nghiên cứu lún mặt đất

và công trình ở khu vực

Hà Nội bằng phương pháp trắc địa, Tạp chí

khoa học, trường Đại học

Mỏ Địa chất, Hà Nội [3] Trần Khánh (2003),

Nghiên cứu quy trình công nghệ công tác quan trắc biến dạng công trình,

Đề tài cấp Bộ mã số B2000 – 36 - 14, Bộ Giáo dục và Đào tạo

[4] Phan Văn Hiến

(1997), Quan trắc chuyển

dịch và biến dạng công trình, bài giảng cao học

ngành trắc địa, trường Đại học Mỏ - Địa chất,

Hà Nội

[5] Đinh Xuân Vinh(2005), “Phương

pháp chênh lệch trung bình trong xử lý số liệu

đo lún công trình ”, Tạp

chí Xây Dựng-Bộ Xây Dựng, tháng 8 năm 2005

Summary

SOME PROBLEM FOR BASIC HEIGHT SURVEY MARKERS IN MEASURING ENGINEERING SUBSIDENCE

This article analyses

disadvantages of the construction methos for basic height survey markers in measuring engineering subsidence After that, new basic markers construction methos has a large sense

Trang 4

about economy and technology, conformity with economic and working conditions in VietNam.

Ngày đăng: 21/12/2013, 00:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w