1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng Sức khỏe trẻ em - Trường Trung học Y tế Lào Cai

230 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 5,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • SỨC KHOẺ TRẺ EM

    • Tên bài học

    • CHƯƠNG I. NHI ĐẠI CƯƠNG

    • CHƯƠNG II. SƠ SINH

    • CHƯƠNG III. DINH DƯỠNG - TIÊU HOÁ

    • CHƯƠNG V. HÔ HẤP- TUẦN HOÀN- TIẾT NIỆU

    • MẪU BỆNH ÁN NHI KHOA

    • Cộng

  • Biểu đồ tăng trưởng (BĐTT) là các đồ thị theo dõi sự phát triển về cân nặng và chiều cao của trẻ từ 0 cho đến 5 tuổi.

  • - Nhìn: Hướng mắt nhìn đồ vật đạt tới góc nhìn 90 độ  vào tháng thứ 1 và 180 độ  vào tháng thứ 2. Nhìn chăm chú vào người và có thể mỉm cười với họ, 2 mắt nhìn vào một điểm.

    • - Vận động thô: Để ngồi , đứa trẻ giữ vững được đầu. Nằm sấp nâng được đầu 90độ trên mặt phẳng giừơng, chống đỡ được trên cánh tay, biết lật. Có khuynh hướng giảm trương lực cơ.

    • - Nhìn: Có khả năng quay cả đầu để nhìn theo một vật đang di chuyển. Chơi với 2 bàn tay và đặt tay vào miệng.

    • - Nghe: Nghe tiếng động, nghe tiếng người nói, biết được chỗ phát tiếng nói.

      • - Ngôn ngữ: Nói ồ ồ trong miệng, biết nói chuyện

  • - Da trẻ mềm, mỏng, xốp, có nhiều nước, nhiều mao mạch nên dễ xây sát, nhiễm khuẩn, sờ vào mịn như nhung, các sợi cơ và đàn hồi phát triển ít , tuyến mồ hôi trong 3 - 4 tháng đầu phát triển nhưng chưa hoạt động.

    • I. Mục tiêu: Sau khi học xong bài này học sinh có khả năng

  • 4. Triệu chứng

  • 4.1. Suy dinh dưỡng nhẹ

  • - Cân nặng còn 70 - 80 %

  • - Lớp mỡ dưới da bụng mỏng

  • - Trẻ vẫn thèm ăn và chưa có biểu hiện rối loạn tiêu hóa

  • 4.2. Suy dinh dưỡng vừa

  • - Cân nặng còn 60 - 70 %

  • - Mất lớp mỡ dưới da bụng, mông, chi

  • - Rối loạn tiêu hóa từng đợt

  • - Trẻ có thể biếng ăn

  • 4.3. Suy dinh dưỡng nặng

  • 4.3.1. Thể teo đét

  • - Cân nặng còn < 60 %

  • - Trẻ gầy đét, da bọc xương, vẻ mặt như cụ già do mất toàn bộ lớp mỡ dưới da bụng, mông, chi và má

  • - Cơ nhẽo làm ảnh hưởng tới sự phát triển vận động của trẻ

  • - Tinh thần mệt mỏi, ít phản ứng với ngoại cảnh, trẻ hay quấy khóc, không chịu chơi

  • - Trẻ có thể kèm theo ăn hoặc kém ăn, thường xuyên rối loạn tiêu hóa, ỉa lỏng, phân sống

  • 2. Điều trị

    • * Bệnh nhi chưa dùng kháng sinh ở tuyến trước

  • - Phải theo dõi ít nhất trong 1 năm sau khi ra viện.

  • C........................................................................................................

  • E. Sốt cao ác tính.

  • Câu 3. Cặp nhiệt độ ở......(A) hoặc ở.......(B) là chính xác nhất

  • A.......................................................................................................

  • B.......................................................................................................

  • Câu 4. Hậu quả của sốt cao thường dẫn đến các biến chứng là:

  • A.......................................................................................................

  • B.......................................................................................................

  • C.......................................................................................................

  • D. Ngoài ra khi sốt cao trẻ thường bị nhức đầu, buồn nôn hoặc nôn, chán ăn, sút cân, ăn ít, táo bón

  • Câu 5. Dùng thuốc hạ sốt khi thân nhiệt từ:

  • A. 37,5oc

  • B. 38 oc

  • C. 38,5oc

  • D. 39 oc

  • E. 39,5oc

  • Câu 2. Thiếu máu thiếu sắt thường gặp ở lứa tuổi:.................................................

  • Câu 4. Trẻ sơ sinh thiếu máu khi huyết sắc tố (Hb) dưới:

  • A. 100 g/l

  • B. 110 g/l

  • C. 120 g/l

  • D. 130 g/l

  • E. 140 g/l

  • Câu 5. Trẻ từ 6 tháng đến 6 tuổi thiếu máu khi huyết sắc tố (Hb) dưới:

  • A. 80 g/l

  • B. 90 g/l

  • C. 100 g/l

  • D. 110 g/l

  • E. 120 g/l

Nội dung

Bài giảng Sức khỏe trẻ em cung cấp cho người học những kiến thức như: Nhi đại cương; Sơ sinh; Dinh dưỡng và tiêu hóa; Hô hấp-tuần hoàn-tiết niệu. Mời các bạn cùng tham khảo!

CÁC THỜI KỲ TUỔI TRẺ

Sau khi học xong bài này học sinh có khả năng:

1 Kể tên được 6 thời kỳ tuổi trẻ.

2 Trình bày được đặc điểm sinh lý và bệnh lý của trẻ em qua 6 thời kỳ.

3 Trình bày được các biện pháp phòng bệnh của trẻ em qua từng thời kỳ.

Cơ thể trẻ em có sự khác biệt rõ rệt so với người lớn; trẻ em không chỉ là phiên bản thu nhỏ của người lớn Thay vào đó, trẻ em là một cơ thể đang trong quá trình phát triển và tăng trưởng, với những đặc điểm sinh lý và nhu cầu dinh dưỡng riêng biệt.

+ Lớn lên: Chỉ sự gia tăng về tầm vóc.

+ Phát triển: Chỉ sự hoàn thiện về chức năng của các bộ phận.

Trẻ em trải qua 6 thời kỳ phát triển từ khi còn là bào thai đến khi trưởng thành, mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm sinh lý và bệnh lý riêng Việc nhận biết những đặc điểm này là rất quan trọng để áp dụng các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục phù hợp.

1 Thời kỳ phát triển trong tử cung

Bắt đầu từ lúc thụ thai đến lúc trẻ ra đời, bình thường là 270 -

- Đây là thời kỳ hình thành và phát triển thai nhi.

+ Thời kỳ hình thành thai nhi : trong 3 tháng đầu

+ Thời kỳ phát triển thai nhi : 6 tháng sau

- Sự hình thành và phát triển của thai nhi hoàn toàn phụ thuộc vào người mẹ.

- Đề phòng mắc các bệnh nhiễm khuẩn

Trong ba tháng đầu thai kỳ, nếu người mẹ bị nhiễm các bệnh virus như cúm, Rubella hay sốt phát ban, có thể dẫn đến nguy cơ quái thai, dị dạng, sẩy thai hoặc sinh non.

- Người mẹ bị các bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV, giang mai, lậu và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục khác rất dễ truyền sang con.

Mẹ cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng như đạm, mỡ, đường, vitamin và muối khoáng để duy trì sức khỏe Hạn chế kiêng khem quá mức, kết hợp với lao động nhẹ, sinh hoạt điều độ và giữ tinh thần thoải mái sẽ giúp mẹ có sức khỏe tốt hơn.

Bảo vệ sức khỏe của mẹ bầu là vô cùng quan trọng, trong đó việc tiêm phòng uốn ván cho bà mẹ khi mang thai không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe của mẹ mà còn đảm bảo an toàn cho sự phát triển của trẻ sơ sinh sau này.

Kể từ lúc đẻ cho tới lúc được 4 tuần (trong vòng 1 tháng đầu sau đẻ).

2.1 Đặc điểm sinh lý: Đó là sự thích nghi của trẻ đối với cuộc sống ngoài tử cung bao gồm:

- Trẻ bắt đầu thở bằng phổi, tiếng khóc chào đời cũng là hơi thở đầu tiên

- Vòng tuần hoàn chính thức hoạt động.

- Bộ máy tiêu hóa bắt đầu làm việc: trẻ bú, nuốt và tự tiêu hóa hấp thụ sữa mẹ.

- Các bộ phận khác cũng hoạt động theo chức năng nhưng chưa hoàn chỉnh.

- Hệ thần kinh chưa phát triển hoàn chỉnh nên trẻ luôn luôn ức chế, trẻ ngủ suốt ngày

- Trẻ có hiện tượng vàng da sinh lý, rụng rốn sinh lý, biến động sinh dục sinh lý,

Trẻ sơ sinh có cơ thể non nớt và sức đề kháng yếu, do đó dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như nhiễm khuẩn da, rốn, phổi, tiêu hóa, nhiễm trùng máu và viêm màng não mủ Những bệnh này có thể tiến triển nhanh chóng và gây nguy hiểm đến tính mạng.

- Tiếp tục mắc các bệnh dị tật bẩm sinh trong thời kỳ bào thai

- Chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ sơ sinh là khâu quan trọng nhất của người mẹ ở thời kỳ này.

- Đảm bảo giữ ấm cho trẻ.

- Đảm bảo vô khuẩn, giữ vệ sinh da.

- Tã lót và các dụng cụ nuôi dưỡng chăm sóc khác phải sạch sẽ

- Cho trẻ ăn sữa mẹ là tốt nhất

- Tiêm phòng Lao, Viêm gan B1, Vitamin K1 cho trẻ sơ sinh,

3 Thời kỳ bú mẹ: Tiếp theo thời kỳ sơ sinh cho đến khi trẻ được

- Trẻ lớn nhanh, cuối năm cân nặng tăng gấp 3, chiều cao tăng gấp rưỡi lúc đẻ.

- Bộ máy tiêu hoá hoạt động yếu so với nhu cầu dinh dưỡng cao của trẻ.

- Các chức năng chống lại sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh vào đường hô hấp, tiêu hoá kém.

Nhu cầu dinh dưỡng cao của trẻ em đòi hỏi việc duy trì cho trẻ bú sữa mẹ, và từ tháng thứ 6 trở đi, việc bổ sung thực phẩm ăn dặm hợp lý là rất cần thiết.

- Trẻ dễ mắc bệnh suy dinh dưỡng, còi xương, tiêu chảy, viêm phổi nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt.

- Muốn trẻ ở lứa tuổi này phát triển tốt, khỏe mạnh, cần đảm bảo cho trẻ bú mẹ và cho ăn thêm đúng và đủ.

- Cần đảm bảo sữa mẹ đầy đủ cho trẻ.

- Cho ăn sam ( ăn thêm ) đúng phương pháp.

- Tiêm phòng (hoặc uống phòng) đầy đủ theo lịch.

- Phát hiện sớm và điều trị kịp thời các bệnh cho trẻ

4 Thời kỳ răng sữa: Từ 1 - 5 tuổi (tuổi nhà trẻ và tuổi mẫu giáo) 4.1 Đặc điểm sinh lý

- Trẻ phát triển nhanh về vận động và tinh thần: trẻ biết đi, chạy, leo trèo.

- Có thể tự làm các việc đơn giản: ăn bằng thìa, mặc quần áo Trẻ cũng có thể tập vẽ, tập viết

Trẻ em có sự tò mò mạnh mẽ với môi trường xung quanh và thích giao tiếp với bạn bè cũng như người lớn Chúng dễ dàng bắt chước hành động, vì vậy cả những hành động tích cực và tiêu cực đều có thể ảnh hưởng đến tính cách và nhân cách của trẻ.

- Do tiếp xúc rộng rãi nên trẻ rễ mắc các bệnh lây truyền như cúm, sởi, ho gà, bạch hầu, bại liệt, lao

- Dễ mắc các bệnh dị ứng như hen, mẩn ngứa, viêm thận,

- Vẫn bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn ở đường hô hấp và tiêu hoá.

- Giáo dục cho trẻ có ý thức vệ sinh.

- Tổ chức các hoạt động vui chơi ngoài trời.

- Sớm cách ly các cháu bị bệnh.

- Tiêm phòng nhắc lại đúng lịch.

Chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi này có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhân cách, tính tình của trẻ sau này.

5 Thời kỳ thiếu niên: Từ 5- 15 tuổi

- Chức năng các bộ phận đã hoàn chỉnh, hệ thống cơ phát triển mạnh.

- Phát triển nhanh về trí tuệ, tinh thần, có tính khéo léo và sáng tạo.

- Giới tính bắt đầu hình thành và phát triển.

- Răng vĩnh viễn thay thế cho răng sữa.

- Bắt đầu mọc răng hàm

- Dễ mắc các bệnh thấp tim, bệnh viêm thận.

Các bệnh lý học đường như gù và vẹo cột sống thường xuất phát từ tư thế ngồi học không đúng Ngoài ra, tình trạng cận thị cũng gia tăng do đọc sách trong môi trường thiếu ánh sáng, xem ti vi quá nhiều và tư thế ngồi viết không hợp lý.

- Có những rối loạn hành vi do xem nhiều phim hành động hoặc chơi các trò chơi điện tử mang tính bạo lực

- Đề phòng bệnh và phát hiện sớm bệnh thấp tim để điều trị tích cực.

- Chú ý tư thế ngồi học thích hợp với lứa tuổi.

- Phòng học phải có đủ ánh sáng.

- Tránh cho trẻ chơi trò chơi điện tử hoặc xem phim hành động, bạo lực

Giới hạn này không cố định rõ Cụ thể:

- Nữ dậy thì lúc 9 - 12 tuổi và kết thúc 17 - 18 tuổi.

- Nam dậy thì lúc 10 - 14 tuổi và kết thúc 19 - 20 tuổi.

- Biến đổi nhiều về tâm lý.

- Hoạt động tuyến nội tiết và sinh dục chiếm ưu thế.

- Chức năng sinh dục đã trưởng thành.

- Trẻ dễ mắc bệnh rối loạn tâm thần và tim mạch

- Còn các bệnh khác cũng như người lớn

- Các bệnh lây truyền qua đường tình dục

- Cần giáo dục cho trẻ biết yêu thể dục thể thao.

- Giáo dục giới tính và quan hệ nam, nữ lành mạnh.

- Đề phòng các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, tiêm trích.

* Trả lời ngắn cho các câu hỏi sau đây bằng cách điền từ hoặc cụm từ vào chỗ trống:

Câu 1 Kể tên cho đủ 6 thời kỳ tuổi trẻ là:

Câu 2 Thời kỳ trong tử cung là thời kỳ (A) và (B) , giai đoạn này phụ thuộc hoàn toàn vào (C)

Câu 3 Đặc điểm sinh lý chủ yếu của thời kỳ sơ sinh là

* Chọn ý trả lời đúng nhất trong các câu sau bằng cách khoanh tròn vào ý mà bạn cho là đúng nhất:

Câu 4 Trong các nhóm bệnh sau đây, nhóm bệnh nào thường gặp nhất ở trẻ em trong thời kỳ bú mẹ:

Câu 5 Bệnh vàng da thường gặp nhất ở thời kỳ sơ sinh là:

A Vàng da do hội chứng mật đặc

B Vàng da do viêm gan A

C Vàng da do tăng Bilirubin tự do

D Vàng da do viêm gan B

E Vàng da do teo đường mật bẩm sinh

Câu 6 Trong 5 nhóm bệnh sau đây, nhóm bệnh nào thường hay mắc nhất trong thời kỳ thiếu niên:

Câu 7 Đặc điểm sinh lý nổi bật nhất của trẻ sơ sinh là:

A Trẻ bắt đầu thở bằng phổi

B Vòng tuần hoàn chính thức hoạt động

C Bộ máy tiêu hóa bắt đầu làm việc

D Bộ máy tiết niệu bắt đầu hoạt động

E Trẻ thích nghi với môi trường bên ngoài tử cung

* Chọn ý đúng – sai trong các câu sau bằng cách đánh dấu x vào cột Đ nếu là câu đúng, vào cột S nếu là câu sai.

TT Nội dung câu hỏi Đ S

Câu 8 Thời kỳ bú mẹ được tính từ lúc đẻ đến khi trẻ được 12 tháng tuổi

Câu 9 Suy dinh dưỡng và còi xương gặp nhiều nhất ở thời kỳ bú mẹ

Câu 10 Trẻ được 31 ngày tuổi vẫn là trẻ sơ sinh

Câu 11 Thời kỳ dậy thì cơ bắp phát triển nhanh

Câu 12 Giới hạn của thời kỳ dậy thì thường không cố định

Câu 13 Thời kỳ dậy thì chức năng sinh dục đã trưởng thành

SỰ TĂNG TRƯỞNG THỂ CHẤT Ở TRẺ EM

Sau khi học xong bài này học sinh có khả năng:

1 Trình bày được sự tăng trưởng về cân nặng, chiều cao, vòng đầu, vòng ngực và vòng cánh tay theo tuổi.

2 Trình bày được các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất trẻ em.

3 Trình bày được cách vẽ và đánh giá được biểu đồ theo dõi tình trang sức khoẻ của trẻ em.

- Cân nặng lúc đẻ của trẻ sơ sinh khoẻ mạnh, đủ tháng là từ 2500 gram trở lên (trung bình từ 2.800 đến 3.000 g).

Vài ngày sau khi sinh, trẻ sơ sinh thường giảm cân từ 6-8% so với cân nặng lúc sinh, hiện tượng này được gọi là sụt cân sinh lý Trẻ sẽ phục hồi về cân nặng ban đầu vào khoảng ngày thứ 10 sau sinh Đối với trẻ sinh non, tỷ lệ sụt cân thường cao hơn và quá trình phục hồi cũng diễn ra chậm hơn so với trẻ đủ tháng.

- Trong 3 tháng đầu cân nặng tăng nhanh sau đó chậm dần Đến tháng thứ 4 – 5 cân nặng tăng gấp đôi và cuối năm tăng gấp 3 lúc đẻ.

Trong 6 tháng đầu đời, trẻ em Việt Nam có mức tăng cân nhanh chóng, tương đương với trẻ em ở các nước phát triển, trung bình đạt 700g mỗi tháng Công thức tính cân nặng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi là:

X 1 = P đẻ + 700 x n (trong đó n là số tháng tuổi)

Trong 6 tháng tới, trẻ em Việt Nam có tốc độ tăng cân chậm hơn so với trẻ em ở các nước phát triển, với mức tăng trung bình chỉ 600g mỗi tháng Công thức tính cân nặng cho trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi là:

X 2 = P 6 tháng + 600 x (n - 6) (trong đó n là số tháng tuổi)

1.3 Trẻ từ 1 tuổi trở lên

- Trẻ từ 1 đến 9 tuổi cân nặng tăng chậm hơn, trung bình mỗi năm tăng 2,0 kg Có thể tính cân nặng của trẻ từ 1 - 9 tuổi theo công thức sau

+ X3: cân nặng của trẻ từ 1 – 9 tuổi.

+ 9,5 kg: cân nặng của trẻ lúc 1 tuổi.

+ 2,0 kg: cân nặng mỗi năm tăng được.

Trẻ em trong độ tuổi từ 10 đến 15 tuổi thường tăng cân nhanh chóng, trung bình mỗi năm tăng khoảng 4 kg Để tính toán cân nặng hợp lý cho trẻ trong độ tuổi này, có thể áp dụng công thức cụ thể.

+ X4: cân nặng của trẻ từ 10 – 15 tuổi.

+ 21 kg: cân nặng của trẻ lúc 10 tuổi.

+ 4 kg: cân nặng mỗi năm tăng được.

Chiều cao của trẻ sơ sinh trung bình 48 - 50cm, con trai cao hơn con gái.

- Trong năm đầu chiều cao phát triển nhanh nhưng không đồng đều từng tháng, những tháng đầu phát triển nhanh hơn các tháng cuối năm:

+ Trong 3 tháng đầu: mỗi tháng tăng thêm được 3 - 3,5 cm. + Trong 3 tháng tiếp theo: mỗi tháng tăng thêm được 2,0 cm. + 6 tháng cuối: mỗi tháng tăng thêm được 1 - 1,5cm.

- Như vậy lúc 1 tuổi trẻ tăng thêm được 23 - 25 cm, lúc này chiều cao của trẻ khoảng 75cm.

2.3 Trẻ từ 1 tuổi trở lên

- Tốc độ chiều cao ở tuổi này chậm hơn so với trẻ dưới 1 tuổi

- Khi trẻ được 1 tuổi chiều cao trung bình là 75 cm Mỗi năm sau đó trung bình trẻ tăng được 5cm/năm.

- Có thể tính gần đúng chiều cao của trẻ em trên 1 tuổi theo công thức:

+ X = chiều cao của trẻ > 1 tuổi.

- Đến tuổi dậy thì chiều cao tăng nhanh trung bình 5 - 8 cm/năm.

3 Tăng trưởng vòng đầu, vòng ngực và vòng cánh tay

- Phát triển nhanh trong năm đầu, các năm sau phát triển chậm lại.

- Trong 3 tháng đầu mỗi tháng vòng đầu tăng gần 3 cm, đến 6 tháng tuổi vòng đầu bằng vòng ngực.

- Trẻ từ 1 đến dưới 3 tuổi mỗi năm vòng đầu tăng 2 cm.

- Từ 3 tuổi trở lên mỗi năm vòng đầu tăng trung bình 0,5 – 1 cm.

- Chỉ số vòng đầu theo tuổi:

Khi mới sinh, vòng ngực của trẻ nhỏ hơn vòng đầu khoảng 1-2 cm, với trị số trung bình là 30 cm Trong những tháng đầu đời, vòng ngực cũng tăng nhanh nhưng với mức độ chậm hơn so với vòng đầu Đến 6 tháng tuổi, vòng đầu và vòng ngực sẽ bằng nhau, sau đó vòng ngực phát triển nhanh chóng và vượt qua vòng đầu.

Trong năm đầu đời, trẻ em phát triển nhanh chóng, nhưng sự phát triển sẽ chậm lại trong những năm tiếp theo Chỉ số vòng cánh tay là công cụ hữu ích để phát hiện tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ từ 1 đến 5 tuổi.

- Vòng cánh tay của trẻ lúc 1 tháng tuổi là 11 cm, lúc 1 tuổi ≥ 14 cm, đến 5 tuổi là 15 ± 1 cm

5 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất

5.1 Những yếu tố bên trong cơ thể

- Các yếu tố nội tiết như vai trò của tuyến yên, tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến thượng thận

- Vai trò hệ thần kinh.

- Yếu tố di truyền liên quan đến chủng tộc, gen

- Các dị tật bẩm sinh đều gây cho trẻ em chậm lớn.

5.2 Những yếu tố bên ngoài cơ thể

- Vai trò dinh dưỡng rất quan trọng: Nuôi dưỡng tốt trẻ lớn nhanh và ngược lại.

- Chăm sóc y tế: Trẻ ở trong môi trường chăm sóc y tế tốt sẽ tăng trưởng nhanh hơn.

- Các yếu tố bệnh tật làm trẻ chậm lớn.

- Vai trò giáo dục và rèn luyện tập thân thể làm trẻ phát triển cân đối.

- Khí hậu, môi trường làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ và thường tăng cân vào mùa mát mẻ, khí hậu trong lành.

- Các hoạt động thể dục thể thao.

- Điều kiện kinh tế , xã hội.

6 Hướng dẫn theo dõi biểu đồ cân nặng

6 1 Mục đích và ý nghĩa của việc sử dụng Biểu đồ tăng trưởng

Trẻ em đang trong giai đoạn phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, vì vậy việc theo dõi cân nặng của trẻ thường xuyên là rất quan trọng Nếu trẻ không tăng cân, điều này có thể chỉ ra rằng trẻ đang ốm hoặc không được cung cấp đủ chất dinh dưỡng Việc giám sát cân nặng không chỉ giúp đánh giá sự phát triển của trẻ mà còn là biện pháp hiệu quả trong việc phòng ngừa suy dinh dưỡng và béo phì ở trẻ em.

Biểu đồ tăng trưởng (BĐTT) là các đồ thị theo dõi sự phát triển về cân nặng và chiều cao của trẻ từ 0 cho đến 5 tuổi.

Cân nặng và chiều cao của trẻ chỉ cung cấp thông tin cơ bản về nguy cơ các vấn đề dinh dưỡng, nhưng không đủ để theo dõi sự phát triển thể lực của trẻ Việc thực hiện nhiều lần cân đo chính xác và ghi chép trên biểu đồ phát triển thể lực (BĐTT) sẽ mang lại cái nhìn tổng quát hơn về sự phát triển của trẻ, đồng thời cho phép nhận diện ảnh hưởng của các yếu tố như thời gian mang thai, cân nặng sơ sinh và quá trình chăm sóc trẻ.

Mỗi trẻ dưới 5 tuổi có một BĐTT riêng, giúp cho các bà mẹ theo dõi một cách liên tục sự phát triển của con mình.

Cộng tác viên sử dụng BĐTT để tư vấn cho các bà mẹ về chăm sóc và dinh dưỡng trẻ em, đồng thời đánh giá tỷ lệ phần trăm trẻ bị suy dinh dưỡng so với tổng số trẻ dưới độ tuổi quy định.

5 tuổi được cân ở 1 xã hoặc 1 cộng đồng nào đó, để từ đó có kế hoạch và biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa suy dinh dưỡng cho trẻ em dưới

5 tuổi ở xã đó trong thời gian tiếp theo

6 2 Cách sử dụng biểu đồ tăng trưởng

Có hai loại biều đồ: Biểu đồ theo dõi cân nặng theo tuổi và chiều cao theo tuổi

- Chiều cao của trẻ dưới 24 tháng tuổi được đo trên thước đo nằm

- Chiều cao của trẻ từ 24 tháng tuổi trở lên được đo bằng thước đo đứng

- Các giá trị đo của trẻ ở kênh màu xanh là phát triển bình thường.

- Các giá trị đo của trẻ ở kênh trắng là suy dinh dưỡng vừa.

- Các giá trị đo của trẻ ở ngoài tất cả các kênh là suy dinh dưỡng nặng.

- Nếu đường phát triển của trẻ đi lên là bình thường.

- Nếu đường phát triển của trẻ nằm ngang là đe dọa.

- Nếu đường phát triển cân nặng của trẻ đi xuống là nguy hiểm

* Chọn địa điểm cân trẻ

- Tiện cho các bà mẹ mang con đến cân

- Mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông

- Nền nhà phẳng và chắc

Để đảm bảo an toàn cho trẻ, chỗ treo cân cần phải chắc chắn và ổn định Ngoài ra, nên treo cân ở ngang tầm mắt để người sử dụng có thể dễ dàng và chính xác đọc được số cân của trẻ.

+ Trước khi cân phải thử cân bằng một vật chuẩn.

+ Cẩn thận kiểm tra cân một lần nữa trước khi cân.

+ Nếu sử dụng rổ cân hoặc quang cân phải nhớ trừ bì.

+ Đặt cân ở trên nền nhà bằng phẳng và chắc chắn.

+ Mặt cân hướng ra nơi có nhiều ánh sáng để dễ đọc

+ Trước khi cân phải cân thử kiểm tra lại bằng vật chuẩn

+ Kiểm tra máng cân phải chắc chắn khi cân trẻ nhỏ

- Mùa hè nên cởi hết quần áo của trẻ Mùa đông nếu trẻ mặc quần áo dầy, phải nhớ trừ bì quần áo.

- Cẩn thận đặt trẻ vào rổ cân/máng cân.

- Đọc số cân khi trẻ ngồi im.

- Đọc chính xác đến 100 gam (ví dụ: 8,7 kg)

6.2.2 Đo chiều dài của trẻ

* Chọn địa điểm đo chiều dài nằm của trẻ

- Thước đo được đặt trên bàn cao khoảng 70-80 cm so với mặt đất.

- Bàn đặt thước phải chắc chắn và được đặt trên nền nhà phẳng

- Một mép bàn nên dựa vào tường chắc đề phòng trẻ giẫy có thể bị ngã xuống từ phía không có người đo.

* Cách đo chiều dài của trẻ dưới 24 tháng tuổi

Hình 1.1 Đo chiều dài của trẻ

- Đặt thước cố định trên mặt bàn với thanh trượt vuông góc với mặt thước.

- Cần hai người đã được tập huấn để có thể đo chiều dài nằm của trẻ được chính xác

- Trẻ mặc quần áo nhẹ hoặc tã lót, không đi giầy dép.

Đặt trẻ nằm ngửa ở giữa thước, đầu chạm nhẹ vào thanh chắn, hai chân duỗi thẳng Dịch thanh trượt từ dưới lên cho đến khi chạm và ép toàn bộ vào mặt bàn chân của trẻ.

- Đọc kết quả với độ chính xác tới 0,1 cm.

6 2.3 Đo chiều cao đứng của trẻ từ 24 tháng tuổi trở lên cho đến 5 tuổi

- Đặt thước đo chiều cao cố định trên nền nhà phẳng và chắc, mặt thước áp sát vào tường hoặc cột thẳng đứng.

Hãy cho trẻ mặc quần áo mỏng, không đi giày dép, và đứng thẳng, áp sát đầu, lưng, mông, bắp và gót chân vào mặt thước, mặt hướng về phía trước Đảm bảo vai và tay của trẻ buông thõng tự do ở hai bên, đồng thời đầu gối không được chùng.

- Dịch thanh chặn nhẹ nhàng cho đến khi chạm vào đỉnh đầu của trẻ.

- Khi đọc thì tầm mắt của người đo phải ngang với thanh chặn của thước đo sau khi đã chạm vào đỉnh đầu của trẻ

- Đọc kết quả với độ chính xác tới 0,1 cm.

Hình1 2 Đo chiều cao đứng của trẻ

Đối với trẻ em bị tàn tật không thể đứng thẳng, có thể đo chiều dài nằm hoặc sử dụng thước chuyên dụng Trẻ từ 24 đến 36 tháng tuổi có thể được đo chiều dài nằm hoặc chiều cao đứng, nhưng cần hiệu chỉnh kết quả khi áp dụng vào biểu đồ tăng trưởng chiều cao.

6.2.4 Cách điền các thông tin của trẻ vào hai mặt của BĐTT

- Chọn loại biểu đồ dành cho bé trai (Màu xanh nước biển) hay bé gái (màu hồng nhạt) đúng với giới của trẻ được theo dõi.

- Điền đầy đủ họ và tên và ngày tháng năm sinh của trẻ vào cả hai mặt của biểu đồ.

* Mô tả các thông tin của biểu đồ tăng trưởng (BĐTT): Bao gồm các thành phần sau

- Hai mặt của biểu đồ:

+ BĐTT bao gồm hai loại biểu đồ trên cả hai mặt: Biểu đồ cân nặng theo tuổi và biểu đồ chiều dài nằm/ chiều cao đứng theo tuổi.

+ Trục tháng tuổi (nằm ở phía dưới của biểu đồ): từ 0 đến 60 tháng và được nhóm từ 1 đến 5 tuổi.

- Các trục thang đo trong biểu đồ

+ Biểu đồ theo dõi cân nặng theo tuổi: Trục cân nặng từ 0 đến

30 kg ở bên trái và từ 8 đến 30 kg ở bên phải từ 1 đến 16 kg (chia 2 kg).

Biểu đồ theo dõi chiều dài nằm và chiều cao theo tuổi được thiết kế với trục chiều dài nằm từ 45 đến 125 cm ở bên trái, trong khi trục chiều cao đứng nằm trong khoảng từ 60 đến 125 cm ở bên phải.

- Các đường phát triển của quần thể chuẩn

Các đường phát triển của quần thể chuẩn được sử dụng để phân loại trẻ em so với quần thể chuẩn một cách tương đối Trong biểu đồ, có năm loại đường phát triển khác nhau được áp dụng.

SỰ PHÁT TRIỂN TÂM THẦN VÀ VẬN ĐỘNG Ở TRẺ EM

Sau khi học xong bài này học sinh có khả năng:

1 Nêu được 4 yếu tố tạo thành sự phát triển tinh thần vận động

2 Nêu được những mốc chính trong sự phát triển vận động thô của trẻ từ 3-12 tháng

3 Trình bày được những mốc chính trong sự phát triển vận động tinh tế của trẻ từ 3-12 tháng

4 Trình bày được những mốc chính trong sự phát triển nghe, ngôn ngữ và giao tiếp xã hội của trẻ lúc 12 tháng, 2 – 3 tuổi

Trẻ từ 1 tháng đến 3 tuổi cần được theo dõi để phát hiện sớm các khiếm khuyết trong phát triển tâm lý và vận động Việc can thiệp sớm rất quan trọng, vì sau độ tuổi này, khả năng phục hồi sẽ khó khăn hơn.

Phát triển tinh thần - vận động của trẻ là sự phát triển song song của trẻ trên 2 phương diện:

- Thần kinh cơ: đạt được trương lực của một số nhóm cơ cho phép thực hiện những động tác xác định

- Tinh thần: biểu hiện về trí tuệ và nhận biết tăng dần theo mức độ

Phát triển tinh thần và vận động của trẻ không chỉ ảnh hưởng đến sự trưởng thành của não bộ mà còn tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất và tinh thần của trẻ.

1 Những yếu tố tạo thành sự phát triển về tinh thần - vận động

Bao gồm: vận động thụ động, chủ động, trương lực, phản xạ nguyên thuỷ tuỷ sống.

Phản ứng tự phát trước một tình huống bất ngờ, độc lập hoàn toàn với những điều được học.

Giọng nói, cự động ở mặt, hiểu những mệnh lệnh, lời nói ít, nhiều phức tạp.

1.4.Phản ứng với xã hội

Hành vi tự phát hoặc được gây nên trước người , sinh vật sống hoặc đồ vật dẫn đến những thái độ chăm sóc và giáo dục

- Thai nghén và những biến chứng

- Điều kiện nuôi dưỡng: nhà ở, tiện nghi, gia đình anh em, sự phân cách giữa mẹ và trẻ

- Không có bệnh lý trong giai đoạn khám đánh giá PT tinh thần - vận động

- Không được khám khi đứa trẻ đói hoặc buồn ngủ

- Khám trẻ trong tư thế ngồi trên gối mẹ

- Những dụng cụ khám : đồ chơi, khối gỗ…

3 Những mốc chính trong sự phát triển tinh thần - vận động

Sự phát triển tinh thần và vận động của đứa trẻ từ 1 tháng đến

Trẻ sơ sinh có khả năng vận động thô, với cổ còn mềm, có thể giữ đầu trong 1 giây khi ngồi Khi nằm sấp, trẻ có thể ngẩng cằm lên khỏi mặt giường trong 1 giây Tứ chi của trẻ có trương lực cơ sinh lý, thường ở tư thế cong hình con ếch nếu là sơ sinh đủ tháng.

- Vận động tinh tế: Phản xạ nắm rõ vào tháng thứ 1 và ít rõ vào tháng thứ 2.

Trong tháng đầu tiên, trẻ có khả năng nhìn đồ vật với góc nhìn 90 độ, và đến tháng thứ hai, góc nhìn này mở rộng lên 180 độ Trẻ cũng bắt đầu nhìn chăm chú vào người xung quanh và có thể mỉm cười với họ, với cả hai mắt đều hướng về một điểm nhất định.

- Nghe: Đứa trẻ ngay từ ngày đầu tiên của đời sống đã có thể phản ứng lại với tiếng động Nó nằm yên khi nghe nhạc.Từ tháng thứ

2 có thể hướng về phía tiếng động - Ngôn ngữ: Khóc là một phương tiện để thông tin với môi trường xung quanh.Từ tháng thứ 2 phát được những âm.

- Khả năng giao tiếp với xã hội: Ngủ 20 tiếng đồng hồ trong một ngày.Đã nhận biết tiếng nói của mẹ và nhận biết mẹ ở bên mình.

Vận động thô là khả năng mà trẻ em thể hiện khi ngồi vững, giữ đầu thẳng và nâng đầu lên 90 độ khi nằm sấp trên giường Trẻ cũng có thể chống đỡ bằng cánh tay và biết lật mình, mặc dù có xu hướng giảm trương lực cơ.

Vận động tinh tế là quá trình mà phản xạ nắm tự nhiên dần biến mất, thay vào đó là sự nắm bàn tay có ý thức Bàn tay không chỉ đơn thuần nắm giữ mà còn mở ra để tiếp nhận và giữ chặt các đồ vật được đặt vào tay, được gọi là phản xạ tiếp xúc vận động.

- Nhìn: Có khả năng quay cả đầu để nhìn theo một vật đang di chuyển Chơi với 2 bàn tay và đặt tay vào miệng.

- Nghe: Nghe tiếng động, nghe tiếng người nói, biết được chỗ phát tiếng nói.

- Ngôn ngữ: Nói ồ ồ trong miệng, biết nói chuyện

- Khả năng giao tiếp với xã hội: Khóc vì vui, khóc vì không bằng lòng Đứa trẻ có thể quay quắt khi mẹ ru nó ngủ.

- Vận động thô: Đầu và thân hình cứng, biết lật lại, ngồi có dựa.

Vận động tinh tế là quá trình quan trọng trong sự phát triển của trẻ Để kích thích khả năng này, hãy đặt một vật trước mặt trẻ, cho trẻ dùng bàn tay nắm chặt vật đó và đưa nó vào miệng Hành động này giúp hình thành phản xạ tiếp xúc và quan sát, từ đó phát triển khả năng nhận thức và khám phá thế giới xung quanh.

- Nhìn: Quay cả thân hình để nhìn theo một người nào.

- Nghe: Quay đầu về phía tiếng động, rất nhạy cảm với giọng người.

- Ngôn ngữ: Nói ồn ào trong miệng

Khả năng giao tiếp xã hội của trẻ được thể hiện qua việc nhận diện khuôn mặt của chính mình trong gương và phản ứng khi nghe gọi tên Trẻ cũng có những biểu hiện rõ ràng về sở thích ăn uống, thể hiện sự thích thú với một số loại thực phẩm hơn so với những loại khác.

Biết ngồi một mình lúc 8 tháng Có thể nghiêng người để nắm lấy đồ vật.Có thể đi bằng xe tập đi.

Hình thành pince (kẹp) giữa ngón cái và ngón trỏ.Theo yêu cầu của người khám nó có thể đặt 1 vật vào tay họ.

Có khái niệm về phương tiện, mục đích, vật chứa, chất được chứa.Có thể cầm đồ vật cho vào trong một cái hộp hoặc lọ.

Phát được những âm rời lập lại.Có khái niệm về câu nói của người khác Hiểu được ton nói ví dụ như khóc khi nghe người khác nạt.

- Khả năng giao tiếp với xã hội

Tò mò tất cả, hoạt động quá mức.

- Vận động thô: Đứa trẻ có thể đi khi được vịn một tay, có thể đứng được một mình không cần dựa và vịn.

+ Đứa trẻ cầm nắm đồ vật một cách có ý thức, nới lỏng đồ vật đang cầm trong tay một cách chính xác., thích ném đồ vật vào nhau.

Trẻ em phát triển khái niệm về độ cao, độ rắn, độ sâu và độ thấp, cũng như hiểu biết về vật chứa và chất chứa Chúng có khả năng lồng ghép các đồ vật vào nhau và biết cách thể hiện yêu cầu của bản thân.

+ Nói 2-3 tiếng, nói tiếng nói riêng của mình không giải thích điều gì được nhưng tương ứng với nhưng tình huống rất chính xác

+ Thay đổi giữa 12 và 24 tháng, có thể hiểu được ý nghĩa của nhiều câu nói.

- Khả năng giao tiếp với xã hội: Nhớ được những tình huống khi gặp lại Nhu cầu về an toàn.

Trẻ em bắt đầu phát triển vận động thô khi 15 tháng tuổi, có khả năng đi một mình Đến 18 tháng, trẻ biết chạy và có thể vịn để leo cầu thang Khi 21 tháng, trẻ có thể bước xuống cầu thang với sự hỗ trợ của tay vịn Trẻ cũng có thể quỳ gối, đi đứng một mình, nhưng thường xuyên bị té Ngoài ra, trẻ có khả năng kéo một vật phía sau.

Vận động tinh tế là khả năng thực hiện các hành động nhẹ nhàng và chính xác, như thả kẹo vào một chiếc bình cổ hẹp hay cầm thìa Trẻ cũng cần biết cách dở sách, vẽ đường trên giấy và tạo ra những đường nguệch ngoạc Ngoài ra, việc xây dựng một ngôi nhà bằng ba khối cũng là một phần quan trọng trong phát triển kỹ năng này.

- Ngôn ngữ: Bắt đầu biết lắc đầu phủ định.Thực hiện được một vài mệnh lệnh đơn giản.

Khả năng giao tiếp xã hội của trẻ thể hiện qua việc thích và đam mê một món đồ chơi nhất định Trẻ có xu hướng muốn sở hữu riêng những món đồ chơi chung với bạn bè Bên cạnh đó, trẻ có thể bắt đầu kêu mẹ khi cần thay tã, cho thấy sự phát triển trong khả năng giao tiếp và nhận thức về nhu cầu cá nhân.

- Vận động thô: Chạy nhanh, trèo, leo và xuống cầu thang một mình.Cân bằng.Bắt bóng, đánh bóng.

+ Ăn một mình, tự tắm, mở đóng cửa.Mặc áo quần một mình. Hiểu biết

+ Hiểu ý nghĩa 4-8 hình ảnh.Tìm kiếm được 4-8 đồ vật thông dụng, chỉ được 4 -8 bộ phần của cơ thể.Hiểu 2-4 mệnh lệnh liên tục.

Lúc 2 tuổi trẻ có thể đái ỉa chủ động Biết xếp 6-8 khối chồng lên nhau Biết 2 - 4 màu.Đếm đến 4 lúc 2 tuổi, đến 8 lúc 3 tuổi.

- Ngôn ngữ: Nói câu nói có động từ, lúc 2 tuổi tự xưng tên hoặc xưng con.Lúc 3 tuổi biết sử dụng chủ từ để mở đầu câu nói.

ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ TRẺ EM

Sau khi học xong bài này học sinh có khả năng:

1 Trình bày được đặc điểm cấu tạo sinh lý và phát triển của hệ da, cơ, xương.

2 Trình bày được đặc điểm về giải phẫu và sinh lý hệ hô hấp.

3 Trình bày được đặc điểm riêng biệt về hệ thống tuần hoàn máu, tiêu hóa và tiết niệu.

Để đánh giá hoạt động sinh lý của cơ thể trẻ em theo lứa tuổi, cần chú ý đến các chỉ số quan trọng như nhịp thở, mạch, huyết áp, số lượng hồng cầu, huyết sắc tố, bạch cầu, tiểu cầu và khối lượng nước tiểu Những chỉ số này không chỉ phản ánh tình trạng sức khỏe mà còn giúp theo dõi sự phát triển và phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe ở trẻ em.

Để hiểu rõ về đặc điểm bệnh lý và chăm sóc trẻ em, cần nắm vững những đặc điểm cơ bản của các bộ phận cơ thể trẻ em khác với người lớn.

1 Đặc điểm da và lớp mỡ dưới da

Da trẻ em mềm mại, mỏng manh và có nhiều nước, khiến cho da dễ bị tổn thương và nhiễm khuẩn Bề mặt da mịn màng như nhung, trong khi các sợi cơ và độ đàn hồi vẫn chưa phát triển nhiều Tuyến mồ hôi của trẻ sẽ phát triển trong 3-4 tháng đầu nhưng chưa hoạt động hiệu quả.

- Khi mới đẻ, trên da có một lớp chất gây màu trắng xám, có tác dụng:

Khi chăm sóc trẻ mới sinh, chỉ nên thấm khô các vết máu mà không lau sạch hoàn toàn Sau 48 giờ, cần lau sạch để phòng ngừa tình trạng hăm đỏ ở các nếp gấp.

- Diện tích da so với trọng lượng cơ thể lớn hơn người lớn,

Lớp mỡ dưới da của trẻ nhỏ rất mỏng và tuyến mồ hôi vẫn chưa hoạt động hiệu quả, dẫn đến khả năng điều hòa nhiệt kém Do đó, trẻ dễ bị lạnh hoặc nóng quá mức và có nguy cơ mất nước qua da cao.

- Lớp mỡ dưới da hình thành từ tháng thứ 7 - 8 thời kì bào thai nên ở trẻ đẻ non lớp mỡ dưới da này mỏng

- Trong 6 tháng đầu, lớp mỡ phát triển nhanh, bề dày lớp mỡ dưới da của trẻ:

Lớp mỡ dưới da của trẻ nhỏ chứa nhiều axit béo bão hòa như axit palmitic và stearic, trong khi lượng axit béo không bão hòa như axit oleic lại khá ít Khi thời tiết lạnh, lớp mỡ này có thể khiến da trẻ trở nên cứng và khô.

- Tóc trẻ em mềm mại vì chưa có lõi tóc, tóc có thể rậm, thưa, đen hoặc hơi vàng

1.2 Sinh lý (chức năng của da)

Kém hơn so với người lớn, vì da trẻ em mỏng nên dễ xây xát, tổn thương và nhiễm trùng

Trong những tháng đầu sau khi sinh, trẻ sơ sinh chưa có khả năng tiết mồ hôi, nhưng diện tích da của trẻ so với trọng lượng cơ thể lại lớn hơn nhiều so với người lớn Do đó, trẻ dễ mất nước qua da hơn, điều này cần được chú ý để đảm bảo sức khỏe cho trẻ.

* Chức năng điều hòa nhiệt

Da trẻ điều hòa nhiệt kém dễ bị nóng quá, lạnh quá.

* Chức năng chuyển hóa dinh dưỡng

- Tham gia chuyển hóa nước, các chất điện giải.

Trẻ em có chất tiền vitamin D trên da, và khi tiếp xúc với tia cực tím từ ánh sáng mặt trời, chất này sẽ chuyển hóa thành vitamin D Việc tắm nắng sớm giúp phòng ngừa bệnh còi xương ở trẻ.

Sợi cơ của trẻ em có đặc điểm mảnh, chứa nhiều nước, ít đạm và ít mỡ, vì vậy khi trẻ bị sốt, nôn hoặc tiêu chảy, tốc độ mất nước và sụt cân diễn ra nhanh hơn so với người lớn.

- Cơ trẻ em phát triển dần đến tuổi trưởng thành chiếm 42 % trọng lượng cơ thể Trong khi đó mới đẻ chiếm 23 % trọng lượng cơ thể.

2.2 Đặc điểm về sự phát triển cơ

Cơ bắp của trẻ em phát triển không đồng đều, với các nhóm cơ lớn như đùi, mông, vai và cánh tay phát triển trước Trong khi đó, các cơ nhỏ như cơ bàn tay và ngón tay phát triển sau, điều này giải thích tại sao trẻ dưới 6 tuổi thường không thể thực hiện các động tác tỉ mỉ và chính xác.

Trẻ em dưới 15 tuổi không nên lao động quá sức do cơ thể đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ Thay vào đó, cần hướng dẫn trẻ luyện tập đúng cách để hỗ trợ sự phát triển của hệ cơ.

Trong những tháng đầu sau sinh, trẻ thường gặp hiện tượng tăng trương lực cơ sinh lý, đặc biệt là ở các cơ gấp, dẫn đến tình trạng hai tay co lại Tăng trương lực cơ ở chi trên thường giảm vào khoảng 2-3 tháng, trong khi ở chi dưới sẽ hết vào 3-4 tháng, giúp trẻ vận động tay chân dễ dàng hơn.

- Đặc điểm chung: Xương chưa phát triển đầy đủ, hầu hết còn là sụn

- Quá trình tạo thành xương, cốt hóa phát triển dần theo tuổi, đến

20 - 25 tuổi mới kết thúc Điểm cốt hóa thường ở giữa các đầu xương và xuất hiện theo từng lứa tuổi

- Dựa vào điểm cốt hóa để xác định tuổi xương của trẻ và đánh giá sự phát triển cơ thể.

+ Lúc 3 - 6 tháng có hai điểm cốt hóa của xương cả và xương móc.

+ Lúc 3 tuổi có điểm cốt hóa của xương tháp.

+ Lúc 4 - 6 tuổi của xương bán nguyệt và xương thang.

+ Lúc 5 -7 tuổi của xương thuyền.

+ Lúc 10 - 13 tuổi của xương đậu.

Xương của trẻ nhỏ có thành phần chứa nhiều nước và ít muối khoáng, khiến cho xương trở nên mềm và dễ gãy Khi trẻ lớn lên, lượng nước trong xương giảm và lượng muối khoáng tăng lên, dẫn đến việc xương trở nên chắc khỏe hơn Do đó, khi xương của trẻ em bị gãy, thường xảy ra theo kiểu gãy cành tươi.

3.2 Đặc điểm cấu tạo một số xương

- Hộp sọ trẻ em tương đối to so với kích thước cơ thể, phát triển nhanh nhất trong năm đầu tiên.

- Lúc đẻ, ở hộp sọ có hai thóp:

+ Thóp trước rộng mỗi chiều 2 - 3 cm, kín vào lúc 12 tháng,chậm nhất là 18 tháng.

+ Thóp sau nhỏ, kín vào lúc 3 tháng Trong bệnh não bé thóp kín nhanh, bệnh còi xương thóp chậm liền.

- Các xoang trán, xoang sàng trên 3 tuổi mới phát triển nên trẻ dưới 3 tuổi chưa bị viêm xoang.

- Xương cột sống chưa cố định, lúc sơ sinh khá thẳng Khi biết ngẩng đầu (1 - 2 tháng) trục cột sống cong về phía trước, khi biết ngồi

Trong 6 tháng đầu đời, trục cột sống của trẻ sẽ cong về phía sau, sau đó khi biết đi vào khoảng 1 tuổi, trục cột sống vùng lưng sẽ cong về phía trước Đến 7 tuổi, cột sống sẽ có hai đoạn uốn cong cố định ở cổ và ngực, và khi bước vào tuổi dậy thì, sẽ xuất hiện thêm một đoạn cong ở vùng thắt lưng.

- Do cột sống lúc đầu chưa cố định, nếu cho trẻ ngồi sớm, bế nách, ngồi học không đúng tư thế, trẻ dễ bị gù và vẹo cột sống.

Lúc mới đẻ xương chi hơi cong, từ khi 1 - 2 tháng và sau đó xương chi thẳng dần Xương chi mềm, dễ bị gẫy, cong.

Giữa trẻ trai và gái ở độ tuổi 6-7, khung chậu chưa có sự khác biệt rõ rệt Tuy nhiên, khung chậu của trẻ gái bắt đầu phát triển mạnh mẽ hơn và tiếp tục phát triển đến khoảng 20-21 tuổi Do đó, phụ nữ sinh con trước 22 tuổi có nguy cơ gặp khó khăn trong quá trình sinh nở.

Ngày đăng: 21/07/2021, 08:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w