Nội dung của bài viết trình bày về cơ sở pháp lý đối với tự chủ trong hoạt động chuyên môn của cơ sở giáo dục đại học; khái quát thực trạng đào tạo trình độ đại học; đề xuất giải pháp phối hợp trong đào tạo trình độ đại học nhóm ngành Kỹ thuật - Công nghệ...
Trang 1GIẢI PHÁP PHỐI HỢP GIỮA CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VỚI CÁC DOANH NGHIỆP, ĐƠN VỊ SỬ DỤNG NHÂN LỰC
TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC NHÓM NGÀNH KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ
Hoàng Công Dụng
Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và Cung ứng nhân lực, Bộ GD&ĐT
Nguyễn Thế Hà
Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
1 Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo
ra những thay đổi lớn về cung - cầu trong thị trường lao động, để tránh tình trạng thất nghiệp, dư thừa lao động hoặc lao động không đáp ứng được yêu cầu thay đổi của xã hội, các nước trên thế giới đang áp dụng nhiều chính sách, hoạch định trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, năng suất lao động thấp đang
là những thách thức của Việt Nam nhằm đáp ứng cho một giai đoạn mới dựa trên nền tảng khoa học công nghệ 4.0 Trước xu thế máy móc tự động hóa thay thế máy móc con người, nguồn nhân lực phải được trang bị những kiến thức, kỹ năng phù hợp để đáp ứng yêu cầu công việc trong tình hình mới Cơ chế tự chủ trong hoạt động chuyên môn giúp cơ sở giáo dục đại học chủ động, linh hoạt hơn trong việc lựa chọn phương pháp, hình thức xây dựng và triển khai thực hiện chương trình đào tạo Khi đó, hợp tác giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp càng có ý nghĩa thiết thực góp phần đổi mới phương thức đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nhân lực nhóm ngành Kỹ thuật - Công nghệ (KT-CN) nói riêng Sự phối hợp này cũng là một trong những yếu tố cốt lõi đối với việc xây dựng hệ thống giáo dục đại học gắn liền với yêu cầu thực tiễn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội
2 Nội dung
2.1 Cơ sở pháp lý đối với tự chủ trong hoạt động chuyên môn của cơ sở giáo dục đại học
Từ năm 2005, tại Điều 60 của Luật giáo dục đã có quy định về quyền tự chủ và
tự chịu trách nhiệm của trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học Trong đó
có các nội dung (1) Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề được phép đào tạo; (2) Xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng
Quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học đã được nêu rõ tại Luật giáo dục đại học 2012, sửa đổi bổ sung năm 2018 Cụ thể tại khoản 1 Điều 32:
Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền
tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục
Trang 2Về chính sách giáo dục, Khoản 4 Điều 12 cũng nêu rõ: Gắn đào tạo với nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ; đẩy mạnh hợp tác giữa cơ sở giáo dục đại học với tổ chức nghiên cứu khoa học và với doanh nghiệp
Khoản 6 Điều 12: Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có quyền và trách nhiệm tiếp nhận, tạo điều kiện để người học, giảng viên thực hành, thực tập, nghiên cứu khoa học
và chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Điều 13 Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 nêu chi tiết quyền tự chủ về học thuật và hoạt động chuyên môn của cơ sở giáo dục đại học cũng như quyền tự chủ về bộ máy, nhân sự, tài chính và tài sản
Khoản 1 Điều 13: Quyền tự chủ về học thuật và hoạt động chuyên môn
a) Được quyền ban hành và tổ chức thực hiện các quy định nội bộ về hoạt động tuyển sinh, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác trong nước và quốc tế phù hợp quy định của pháp luật;
b) Xác định, công bố công khai phương thức, chỉ tiêu tuyển sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trừ lĩnh vực quốc phòng, an ninh thực hiện theo quy định của cơ quan quản lý trực tiếp;
c) Quyết định phương thức tổ chức và quản lý đào tạo đối với các trình độ, hình thức đào tạo; xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo phù hợp với quy định về Khung trình độ quốc gia Việt Nam, về chuẩn chương trình đào tạo, bảo đảm không gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng, không xuyên tạc lịch sử, ảnh hưởng xấu đến văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục và đoàn kết các dân tộc Việt Nam, hòa bình, an ninh thế giới, không có nội dung truyền bá tôn giáo; biên soạn, lựa chọn, thẩm định, phê duyệt và sử dụng tài liệu giảng dạy, giáo trình giáo dục đại học (trừ các môn học bắt buộc); tổ chức thực hiện, đánh giá chất lượng các chương trình đào tạo của giáo dục đại học; thiết kế mẫu, in phôi, cấp phát, quản lý văn bằng, chứng chỉ phù hợp với quy định của pháp luật;
d) Quyết định đào tạo từ xa, liên kết đào tạo trình độ đại học theo hình thức vừa làm vừa học với cơ sở giáo dục trong nước đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;
đ) Quyết định hoạt động khoa học và công nghệ theo quy định tại Điều 16 Nghị định này; quyết định các hoạt động hợp tác quốc tế quy định tại các khoản 3, 5 và 6 Điều 44 của Luật Giáo dục đại học, phù hợp với quy định của pháp luật;
e) Nếu đủ điều kiện thực hiện quyền tự chủ theo quy định tại khoản 17 thì được
tự chủ mở ngành đào tạo theo quy định tại khoản 18, được tự chủ liên kết đào tạo với nước ngoài theo quy định tại khoản 30, Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học; (…)
g) Thực hiện các quyền tự chủ khác về học thuật và hoạt động chuyên môn phù hợp với quy định của pháp luật
Theo PGS.TS Trần Quốc Toản, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương: “Tự chủ đại học là một cơ chế đồng bộ - phù hợp nhằm tạo cho cơ sở giáo dục đại học là một đơn vị pháp lý có quyền tự chủ cao, gắn hữu cơ - thống nhất về quyền, nghĩa vụ, lợi ích, trách nhiệm, và trách nhiệm giải trình với Nhà nước và các chủ thể liên quan trong việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, tổ chức và nhân sự, huy động và sử dụng các nguồn lực…, tạo động lực cho sự phát triển bền vững và hiệu quả của cơ
Trang 3giáo dục đại học, thực hiện tốt mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, đất nước và hội nhập quốc tế.”
Một trong những nội dung chủ yếu của cơ chế tự chủ là cơ sở giáo dục tự chủ trong việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn về giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học… Tự chủ giúp các cơ sở giáo dục đại học được quyết định những vấn đề về chương trình, tài liệu giảng dạy, phương pháp day học, chịu trách nhiệm về chất lượng đầu ra của sinh viên Cơ chế tự chủ sẽ giúp cơ sở giáo dục chủ động, mềm dẻo, linh hoạt và sáng tạo trong các hoạt động đào tạo
2.2 Khái quát thực trạng đào tạo trình độ đại học
2.2.1 Tình hình đào tạo trình độ đại học trong nước
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT), tính đến hết năm học 2017-2018 hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) có 235 trường đại học, học viện (bao gồm 170 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước
ngoài) Tổng số sinh viên đại học là 1.707.025 em, giảm nhẹ so với năm học
2016-2017 Trong đó số sinh viên chính quy là 1.443.000 em
Bảng 1: Quy mô đào tạo trình độ đại học từ năm 2016-2018
Loại hình trường 2015-2016 2016-2017 2017-2018
(Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Phần lớn sinh viên tập trung theo học các ngành thuộc khối ngành V, III: Toán
và thống kê; Máy tính và công nghệ thông tin; Công nghệ kỹ thuật; Kỹ thuật; Sản xuất chế biến; Kiến trúc và xây dựng, Nông lâm và thủy sản; Thú y và Khối ngành: kinh doanh quản lý, pháp luật
Biểu đồ 1: Cơ cấu sinh viên theo nhóm ngành
Trang 4Về đội ngũ giảng viên, năm học 2017-2018, tổng số giảng viên trong các trường đại học là 74.991 người , tăng 3,02% so với năm học 2016-2017, trong đó giảng viên có trình độ tiến sĩ là 20.198 (tăng 22,3%); bác sỹ chuyên khoa I,II là 632 (tăng 20,8%) và thạc sĩ là 44.634 (tăng 3,64%)
Tỷ lệ giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư và trình độ tiến sĩ trong toàn
hệ thống vẫn ở mức khiêm tốn Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ giảng viên là vấn đề đang được quan tâm khi nhiều cán bộ, giảng viên không có đề tài nghiên cứu, chưa có bài báo đăng trên tạp chí khoa học trong nước và quốc tế, trình độ ngoại ngữ còn hạn chế
Số lượng giảng viên cơ hữu của các trường ngoài công lập vẫn còn ít (15.759 người chiếm khoảng 21% tổng số giảng viên trong toàn quốc) mặc dù có tăng về số lượng nhưng rất ít (xấp xỉ 4.0%) và độ tuổi trung bình cao, chưa thực sự đáp ứng nhu cầu, cũng như đảm bảo về chất lượng để tạo sức hút đối với hệ thống đào tạo ngoài công lập
Trên cơ sở khảo sát, dự báo nhu cầu đào tạo, các cơ sở GDĐH đã có sự điều chỉnh về cơ cấu ngành nghề; nhiều trường đã tập trung vào mở mới và nâng cao chất lượng các ngành thuộc lĩnh vực CNTT, công nghệ kỹ thuật, kỹ thuật, sức khỏe và du lịch là những ngành đem lại nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên tốt nghiệp ở trong nước cũng như việc dịch chuyển lao động trong khu vực ASEAN
Theo số liệu tổng hợp của Vụ GDĐH, năm 2017, tổng số ngành mở mới ở trình
độ đại học là 184 ngành, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành Kỹ thuật, Công nghệ
kỹ thuật, Máy tính và Công nghệ thông tin, Khoa học xã hội và hành vi, Pháp luật
Biểu đồ 2: Số lượng ngành mới mở trong năm 2017 theo nhóm ngành
(nguồn: Vụ GDĐH)
2.2.2 Tình hình đào tạo nhóm ngành Kỹ thuật - Công nghệ
Trong những năm gần đây, cuộc CMCN 4.0 tác động rộng khắp các lĩnh vực của xã hội, thực tế xã hội, ngành giáo dục, các cơ sở giáo dục, người học đã và đang chịu tác động không nhỏ từ nó với xuất hiện nhiều ngành, chuyên ngành liên quan đến
Trang 5KT-CN rải rác ở hầu hết các lĩnh vực, nhóm ngành Tuy nhiên, sự quan tâm của nhân loại nói chung đều hướng đến hai nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật và Kỹ thuật ở tất cả các trình độ đào tạo nghề sơ cấp nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; đặc biệt là các ngành, các trình độ đào tạo nhân lực trình độ cao, chất lượng cao
Các cơ sở GDĐH tăng cường nâng cao chất lượng đào tạo các ngành có khả năng đem lại nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên tốt nghiệp ở trong nước cũng như việc dịch chuyển lao động trong khu vực ASEAN Xu thế số lượng và tỷ lệ số ngành đào tạo trình độ đại học theo các nhóm ngành có liên quan đến công nghệ, kỹ thuật tăng, cụ thể năm 2018 với 1.471 lượt ngành tăng 33% so với năm 2017 và chủ yếu thuộc lĩnh vực CNTT, công nghệ kỹ thuật, kỹ thuật, sức khỏe và du lịch
Như vậy, trong tương lai không xa, Danh mục giáo dục đào tạo các cấp sẽ có điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện đảm bảo phù hợp với các xu thế và thực tế trong bối cảnh CMCN 4.0 và nhiều xu thế mới khác
Bảng 2: Số lượng ngành/nghề đào tạo theo trình độ (*_thống kê chưa đầy đủ)
Stt Nhóm ngành/nghề
Sô ngành/nghề đào tạo tương ứng các trình độ
Trung cấp Cao đẳng Đại học Thạc sĩ Tiến sĩ
1 Công nghệ kỹ thuật
(mã lĩnh vực 51)
2 Kỹ thuật
(mã lĩnh vực 52)
3 Các lĩnh vực khác
(nhiều mã lĩnh vực)
Thực tế trong bối cảnh xã hội chịu tác động của cuộc CMCN 4.0, đã và đang xuất hiện nhiều ngành, chuyên ngành liên quan đến công nghệ - kỹ thuật rải rác ở hầu hết các lĩnh vực, nhóm ngành; theo đó số lượng các ngành/chuyên ngành của 02 nhóm ngành KT-CN tăng mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo cung ứng và nhu cầu sử dụng của các lĩnh vực kinh tế - xã hội Tuy nhiên, sự quan tâm của nhân loại đều hướng đến hai nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật và Kỹ thuật ở tất cả các trình độ đào tạo nghề sơ cấp nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; đặc biệt là các ngành, các trình độ đào tạo nhân lực trình độ cao, chất lượng cao
Hiện hai nhóm ngành nghề đào tạo Công nghệ kỹ thuật và Kỹ thuật cùng số lượt ngành đào tạo theo các trình độ được mô tả theo bảng dưới đây:
Bảng 3: Số lượt ngành đào tạo theo các trình độ đào tạo
Mã Tên nhóm ngành Số lượt ngành đào tạo theo các trình độ
Đại học Thạc sĩ Tiến sĩ
Trang 6Đối với các nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật và Kỹ thuật các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ với số lượt cơ sở GDĐH đã đăng ký mở ngành và tổ chức tuyển sinh, đào tạo, cụ thể như sau:
Bảng 4: Số lượt cơ sở GDĐH tham gia tuyển sinh, đào tạo ở các trình độ
(Nguồn: Dữ liệu thống kê của Vụ GDĐH)
Đại học
Thạc
sĩ
Tiến
sĩ
75101 Công nghệ kỹ thuật kiến trúc và công trình xây dựng 44 0 0
75103 Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông 96 0 0
75104 Công nghệ hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường 63 0 0
75203 Kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường 31 29 3
75205 Kỹ thuật địa chất, địa vật lý và trắc địa 20 9 1
Qua thống kê số liệu số ngành trong Danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV, có 18 ngành chung của 02 nhóm ngành trên, ngành có số cơ sở tham gia đào tạo trình độ đại học nhiều nhất là ngành Công nghệ thông tin với 124 lượt cơ sở GDĐH đã đăng ký
mở ngành; đồng thời cũng không ít các nhóm ngành, ngành mà các cơ sở GDĐH không tham gia hoặc không đủ điều kiện mở ngành ở tất các các trình độ đào tạo; cụ thể như: Quản lý công nghiệp, Công nghệ dầu khí và khai thác, cộng nghệ in,… trong nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật chưa có cở sở GDĐH nào đăng ký mở ngành cho dù như cầu sử dụng nhân lực hiện không ít
Tính đến tháng 9/2019 cả nước có 114 cơ sở đào tạo có đào tạo nhóm ngành Kỹ thuật và Công nghệ kỹ thuật Cụ thể như sau:
- Khu vực Miền Bắc: 55 cơ sở;
- Khu vực Miền Trung: 16 cơ sở;
Trang 7- Khu vực Miền Nam: 43 cơ sở
Trong đó tập trung vào một số cơ sở đào tạo có quy mô lớn về số ngành đào tạo
và số lượng tuyển sinh như: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM (47); Trường Đại học Bách Khoa - ĐHQG TP.Hồ Chí Minh (33); Trường ĐH Bách khoa Hà Nội (32 ngành đào tạo); Trường Đại học Điện lực (17) Trường Đại học Mỏ Địa chất Hà Nội (16); Trường Đại học Hàng hải (16); Trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh (15); Trường ĐH Công nghệ GTVT (15)
Bảng 5: Một số trường có quy mô đào tạo nhóm ngành KT-CN nhiều nhất, năm 2019
(Nguồn: Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và Cung ứng nhân lực, Bộ GDĐT)
Stt Cơ sở đào tạo Số ngành đào tạo
SL tuyển sinh
Loại hình trường
1 Trường ĐH Bách Khoa - ĐHQG
2 Trường ĐHSP Kỹ thuật TP.HCM 40 07 0 4.665 x
3 Trường ĐH Bách khoa Hà Nội 01 14 17 4.660 x
5 Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM 15 0 0 2.075 x
6 Trường ĐH Kỹ thuật Công nghiệp -
9 Trường ĐH Mỏ - Địa chất Hà Nội 03 13 0 1.190 x
TỔNG CỘNG 115 66 32 24.540 10 0 Kết quả tuyển sinh năm 2019, số liệu chỉ tiêu và số thí sinh nhập học các nhóm ngành của 02 nhóm ngành trên cụ thể: Nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật có 30 ngành với mã từ 7510102 đến 7519002 có tổng chỉ tiêu được các cơ sở GDĐH xác định là 42,652 chỉ tiêu và có 34,194 thí sinh nhập học đạt tỷ lệ 80,2%; Nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật có 28 ngành với mã từ 7520101 đến 7520607 có tổng chỉ tiêu được các
cơ sở GDĐH xác định là 26,987 chỉ tiêu và có 22,648 thí sinh nhập học đạt tỷ lệ 83,9%
Theo số liệu tổng hợp kết quả kỳ thi tuyển sinh quốc gia liên quan đến số sinh viên đến nhập học của 02 nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật và Kỹ thuật hai năm 2018,
2019 được cụ thể tại Bảng 4 dưới đây, Theo đó, so với năm 2018 chỉ tiêu tuyển sinh năm 2019 nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật tăng 2,990 thí sinh (tăng 9,58%), nhóm ngành kỹ thuật tăng 1,285 (tăng 5,96%)
2.2.3 Nhân lực trình độ đại học nhóm ngành Kỹ thuật - Công nghệ với các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động
Trong thời gian gần đây, vấn đề đào tạo theo nhu cầu của xã hội ngày càng được quan tâm mạnh mẽ Để đáp ứng yêu cầu này, việc phối hợp chặt chẽ giữa đào tạo
Trang 8với nhà tuyển dụng, đơn vị sử dụng lao động là điều không thể thiếu trong bối cảnh hiện nay
Tổng hợp một số kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu Đề tài cho thấy, có đến
96 doanh nghiệp trả lời cho rằng cần phải đạo tạo, huấn luyên thêm cho nhân lực ngành kỹ thuật – công nghệ, chỉ có số ít cho rằng không cần đào tạo thêm hoặc không quan tâm Như vậy, có thể thấy trong nhận thức của các doanh nghiệp đã chủ động trong vấn đề bổ sung thêm những kiến thức, kỹ năng thực tế cho nhân lực ngành này
và điều đó sẽ giúp/hỗ trợ các sinh viên mới ra trường có thể tiếp cận công việc một cách nhanh và đem lại hiệu quả hơn cho doanh nghiệp
Biểu đồ 2: Số doanh nghiệp cần đào tạo, huấn luyện thêm cho nhân lực nhóm ngành KT-CN
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu Đề tài
Có đến trên 77% doanh nghiệp tự ý thức được rằng cần phải có sự phối hợp tham gia hoạt động đào tạo nhân lực, chỉ có số ít doanh nghiệp cho rằng điều này là không cần thiết hoặc không quan tâm đến vấn đề này Đây thực sự là một tín hiệu khá tích cực trong công tác đào tạo nhân lực nói chung và nhân lực ngành kỹ thuật – công nghệ nói riêng và đây cũng là một sự chia sẻ trách nhiệm trong đào tạo cũng như trong trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp
Biểu đồ 3: Hình thức phối hợp trong đào tạo nhân lực
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu Đề tài
Vấn đề trách nhiệm, tự ý thức của các doanh nghiệp trong vấn đề phối hợp đào tạo, huấn luyện càng được thể hiện rõ khi đa số các doanh nghiệp lựa chọn hình thức
là tự nguyên chứ số ít lựa chọn hình thức bắt buộc khi tham gia việc này Như vậy, có
Trang 9thể thấy doanh nghiệp không muốn một sự ràng buộc về mặt pháp lý trong vấn đề này Điều này cũng dễ hiểu và thông cảm cho doanh nghiệp khi mà ngoài mục tiêu về lợi nhuận thì doanh nghiệp cũng còn phải gánh vác rất nhiều các nghĩa vụ, cũng như trách nhiệm khác đối với cộng đồng và xã hội
Biểu đồ 4: Thời gian đào tạo, huấn luyện lại cho các nhân sự nhóm ngành KT-CN
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu Đề tài
Với phần lớn doanh nghiệp cho rằng cần phải đào tạo, huấn luyện thêm cho nhân lực thì việc bố trí, sắp xếp thời gian để đào tạo cũng là một vấn đề khó khăn đối với các doanh nghiệp khi mà phải cân đối với lợi ích và chi phí của các doanh nghiệp
Ý kiến đa số của các doanh nghiệp (trên 72%) cho rằng, khoảng thời gian đào tạo, huấn luyên thêm là từ 1 đến 6 tháng, tiếp đến có thể là dưới 1 tháng (chiếm trên 18%)
và số ít là từ 7 tháng trở lên
Biểu đồ 5: Cách thức phối hợp trong đào tạo nhân lực
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu Đề tài
Theo kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu, đa số các doanh nghiệp lựa chọn cách thức phối hợp là hỗ trợ, tiếp nhận thực tập, xếp thứ hai là cung cấp chuyên gia, tiếp đến là xây dựng giáo trình/chương trình đào tạo, hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất và không nhiều các doanh nghiệp lựa chọn chuyển giao công nghệ Đây là điều dễ hiểu khi vấn đề bí mật công nghệ là sự sống còn của doanh nghiệp và các cách thức mà doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn cũng khá là phù hợp trong điều kiện hiện nay
Trang 10Biểu đồ 6: Hình thức ưu đãi cho doanh nghiệp khi tham gia phối hợp đào tạo
nhân lực nhóm ngành KT-CN
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu Đề tài
Có thể khẳng định là các doanh nghiệp hiện nay đã thực sự chủ động trong công tác đào tạo, tuyển dụng nhân lực ngành KT-CN khi mà đa số các doanh nghiệp (trên 50%) các doanh nghiệp không cần sự hỗ trợ khi tham gia đào tạo, huấn luyện nhân lực Nhưng nếu được lựa chọn sự hỗ trợ, thì các doanh nghiệp lựa chọn vấn đề rất căn bản đó chính là Hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm/dịch vụ chứ không phải là các vấn
đề quan trọng khác như vốn, ưu đãi thuế…
2.3 Nhận xét chung
Trong quá trình thực hiện tự chủ về học thuật và hoạt động chuyên môn, các cơ
sở GDDHđã từng bước thích nghi với quan điểm, cơ chế hoạt động mới và chủ động thực hiện có hiệu quả các hoạt động như:
- Về việc tuyển sinh: Căn cứ Thông tư hướng dẫn của Bộ GDĐT, trên cơ sở năng lực thực tiễn của nhà trường, nhu cầu của thị trường lao động và kết quả đầu ra của sinh viên, các cơ sở GDDH chủ động xây dựng đề án tuyển sinh, xác định chỉ tiêu tuyển sinh đối với từng ngành đào tạo để công khai và báo cáo, giải trình với Bộ GDĐT
Trên cơ sở khảo sát, dự báo nhu cầu đào tạo, các cơ sở đào tạo đã có sự điều chỉnh về cơ cấu ngành nghề; nhiều trường đã tập trung vào mở mới và nâng cao chất lượng các ngành thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật, kỹ thuật, sức khỏe và du lịch là những ngành đem lại nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên tốt nghiệp
ở trong nước cũng như việc dịch chuyển lao động trong khu vực ASEAN
- Về chương trình đào tạo: Bộ GDĐT đã ban hành Thông tư hướng dẫn và chỉ đạo các trường đổi mới công tác xây dựng chương trình đào tạo, trong đó có sự tham gia của các nhà quản lý, các nhà sử dụng lao động; xây dựng và công bố chuẩn đầu ra theo từng ngành đào tạo
Nếu như trước đây chương trình, giáo trình thường lạc hậu, nhiều nội dung không phù hợp so với thực tiễn (do có nhiều giáo trình được sử dụng hàng chục năm không hề có cập nhật, thay đổi) thì đến nay nhiều cơ sở GDDH đã được chủ động trong việc xây dựng chương trình, thường xuyên rà soát, cập nhật, điều chỉnh và bổ sung chương trình đào tạo Nhiều cơ sở GDDH đã mời các nhà tuyển dụng, doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng, điều chỉnh và bổ sung chương trình đào tạo