1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ trong tự chủ giáo dục đại học

4 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 252,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày nhìn nhận vấn đề tăng cường nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ trong mối liên hệ với tự chủ giáo dục đại học ở góc độ cấu trúc, quản trị, và chính sách.

Trang 1

TĂNG CƯỜNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG TỰ CHỦ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Huỳnh Đăng Chính Huỳnh Quyết Thắng

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

I Mở đầu

Sau gần 35 năm đổi mới đất nước, giáo dục đại học Việt Nam đã có bước phát triển rõ rệt về quy mô, huy động được nhiều nguồn lực xã hội và đạt được nhiều kết quả tích cực cho cung cấp nguồn nhân lực có trình độ (cao đẳng, đại học, sau đại học) Cơ chế tài chính cho giáo dục đại học đã có nhiều đổi mới, quan hệ quốc tế phát triển nhanh

ở các cấp Các thay đổi trên đã góp phần quan trọng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

Quyền tự chủ đại học được mở rộng thông qua hệ thống pháp luật tạo xu hướng tăng chi tiêu xã hội cho giáo dục Yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo ngày càng khắt khe, sự cạnh tranh trong đào tạo và thu hút nhân tài ngày càng gia tăng,

cơ chế chính sách về tự chủ đại học còn thiếu đồng bộ, tồn tại những áp lực và rủi ro khi tiên phong trong đổi mới về mô hình quản trị, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo Bên cạnh đó nhu cầu sử dụng lao động trình độ cao tăng nhanh do tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 và nền kinh tế tri thức, quan hệ quốc tế cởi mở, sự phổ biến của

công nghệ kỹ thuật số và xu hướng chuyển đổi số Chính vì vậy bài tham luận này sẽ nhìn nhận vấn đề tăng cường nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ trong mối liên hệ với tự chủ giáo dục đại học ở góc độ cấu trúc, quản trị, và chính sách

II Cơ sở lý luận và một số quan điểm

Để có thể giải quyết căn bản vấn đề tự chủ giáo dục đại học cũng như tìm ra cách đầu tư hợp lý cho giáo dục-đào tạo nhưng vẫn mang lại kết quả tốt cho KHCN thì cần hệ

thống giáo dục đứng trên nền tảng triết lý dân tộc Sứ mạng của giáo dục đại học là “tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học” [1] Như vậy, giáo dục đại học

đào tạo ra những con người làm chủ thể của xã hội, cốt lõi là cung cấp cho người học phương pháp tìm kiếm tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cơ bản Thực tế khoa học công nghệ phát triển rất nhanh nên giáo dục đại học phải luôn chủ động trong tư duy và độc lập để phát triển thay vì chạy đuổi theo nhu cầu xã hội Nhu cầu các doanh nghiệp về lao động rất đa dạng và luôn thay đổi nên giáo dục đại học chỉ là phần mở đầu của kiến thức

để trang bị cho người học kỹ năng học tập suốt đời Sản phẩm của giáo dục đại học đó là những con người có khả năng sản xuất ra tri thức Nghiên cứu khoa học tự nhiên, kỹ thuật gắn với khoa học xã hội-nhân văn

Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng với hàng loạt các Hiệp định thương mại tự

do thế hệ mới với các nước và khu vực đã được ký kết, đang đi vào thực thi như CPTPP1,

1 CPTPP: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp định CPTPP, là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm 11 nước thành viên là: Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam

Trang 2

FTA2 Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp trong và ngoài nước)

có nhu cầu rất cao về việc sử dụng nguồn nhân lực có trình độ và năng lực phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh; tiếp thu và làm chủ công nghệ, … dẫn đến nhu cầu gắn kết và

quan hệ hữu cơ giữa các cơ sở đào tạo (Đại học cũng như Nghề nghiệp) với các doanh nghiệp là hết sức cần thiết, chặt chẽ để cùng phát triển; quá trình này được diễn ra thông

qua hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, đào tạo nguồn nhân lực có trình

độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động của xã hội cũng như cho doanh nghiệp

Trong nền kinh tế tri thức cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh của sản xuất kinh doanh doanh nghiệp được tạo ra từ kiến thức và sáng tạo để có được chi phí thấp và sự khác biệt

mà nguồn gốc cơ bản là nguồn vốn nhân lực đang có Ngoài ra, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang được phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam, đã mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân; đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội [2,3]

Xuất phát từ như cầu doanh nghiệp ý thức được tầm quan trọng của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực cũng như tạo ra sự khác biệt, lợi thế cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh Về vấn đề này, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm hoặc mức độ còn thấp

Từ đó nhà nước cần quan điểm định hướng đầu tư cho khoa học công nghệ là đầu

tư cho tương lai và tập trung phát triển ở các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn, liên ngành có vai trò then chốt trong giai đoạn hiện nay như Big Data & AI, Công nghệ Vật liệu mới, Năng lượng và Môi trường bền vững, Sức khỏe, Biến đổi khí hậu toàn cầu…

Trên cơ sở đó, các cơ sở giảo dục đại học tự chủ cần xây dựng và phát huy mối quan hệ với các doanh nghiệp, thông qua hiệu quả trong các nhiệm vụ phối hợp nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực

Về quản trị đại học, cơ sở Giáo dục Đại học vừa có chức năng là tổ chức giáo dục đào tạo, lại vừa có chức năng là tổ chức khoa học công nghệ Hoạt động giáo dục đào tạo

và khoa học công nghệ luôn song hành và gắn kết chặt chẽ với nhau trong các cơ sở đào

tạo, nhất là cơ sở giáo dục đại học [4] Cả hai hoạt động trên đều cùng lấy định hướng và đối tượng trung tâm để hỗ trợ và phát triển, đó là doanh nghiệp

III Một số bài học kinh nghiệm của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội có đội ngũ 1090 cán bộ giảng viên (73,5% TS

; 22,7% PGS, GS), đào tạo 32.184 sinh viên (89 % đại học, 7 % chương trình quốc tế, 4

% sau đại học) trong 19 Khoa-Viện đào tạo, 8 Viện-Trung tâm nghiên cứu, và 12 Phòng thí nghiệm tập trung và trọng điểm [5] Thành lập từ 1956 cho đến nay Trường đại học

công nghệ kỹ thuật hàng đầu Việt Nam đã được xếp hạng 33 về ‘Mục tiêu phát triển bền vững (MTPTBV 7) - Năng lượng sạch với giá thành hợp lý’ theo Times Higher Education

Impact Rankings 22/04/2020; xếp hạng 351-400 đại học hàng đầu thế giới về lĩnh vực

Kỹ thuật và Công nghệ, xếp hạng 601 ngành Khoa học máy tính theo bảng xếp hạng

2 FTA: Việt Nam tham gia 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 12 FTA đã có hiệu lực, trong đó Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) được kỳ vọng sẽ có những tác động sâu rộng đến nền kinh tế Việt Nam

Trang 3

THE WUR by Subject 2020; TOP 300 của bảng xếp hạng các trường đại học tại các nước có nền kinh tế mới nổi của THE Trong các đại diện đến từ Việt Nam, ĐHBK Hà Nội đứng đầu về chỉ số ảnh hưởng nghiên cứu (chỉ số trích dẫn khoa học) Có 430 đối tác trong đó 112 đối tác thân thiết Hiện nay, hàng năm tổng kinh phí các đề tài NCKH các cấp đạt hơn 100 tỉ, kinh phí chuyển giao và dịch vụ KHCN đạt 22 tỉ, năm sau luôn tăng cao hơn năm trước Hệ thống đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp kết hợp giữa mạng lưới cựu sinh viên, hệ thống doanh nghiệp BK-Holding, phòng ban chức năng, nhóm nghiên cứu và sinh viên đã thúc đẩy các kết quả trên

Để có được các kết quả trên, thực tiễn cho thấy cần hoàn thiện hơn nữa các chính sách thu hút cán bộ khoa học công nghệ trình độ cao, chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học trẻ có uy tín quốc tế và đặc biệt là đào tạo nghiên cứu sau đại học

Doanh nghiệp và xã hội cần được tạo tin tưởng năng lực của các trường Đại học trong việc hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động : Giải mã công nghệ, Làm chủ công nghệ, Thích ứng công nghệ, Đổi mới công nghệ, Hoàn thiện công nghệ, … Xây dựng cơ chế ưu tiên cho các trường khi tham gia vào hoạt động đổi mới công nghệ

Từ đó, các cơ sở giáo dục đại học tự chủ phải chủ động xây dựng định hướng nghiên cứu khoa học và đào tạo đội ngũ với phương châm lấy doanh nghiệp làm trung tâm đối tượng thụ hưởng Phối hợp với các tổ chức khoa học và công nghệ để xây dựng mạng lưới nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ Thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin để chia sẻ hệ thống “Công nghệ cần – Công nghệ có” Điều này sẽ giải quyết được mâu thuẫn hiện nay, đó là : khi doanh nghiệp cần thông tin về đổi mới công nghệ, đơn vị hỗ trợ tư vấn đổi mới công nghệ, đơn vị phối hợp để thực hiện việc đổi mới công nghệ, … mà không biết tìm ở đâu ; trong khi đó các tổ chức khoa học và công nghệ lại đang thiếu các thông tin về đổi mới công nghệ trong thực tế sản xuất ; thiếu thông tin

về các đơn vị có nhu cầu đổi mới công nghệ

IV Một số đề xuất về chính sách

Để tăng cường gắn kết nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, đào tạo nguồn nhân lực giữa các cơ sở Giáo dục Đại học với sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước, cần một hệ thống chính sách thúc đẩy và hỗ trợ tích cực của quản lý nhà nước Có thêm

cơ chế để đưa Nghị định 95/2014 vào thực tiễn bên cạnh các Nghị quyết, Chương trình,

Đề án để triển khai các hoạt động KHCN: Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của

Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/2/2020 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của việt nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 6/8/2020 của Chính phủ về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ; Quyết định 1322/QĐ-TTg ngày 31/8/2020 Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa đến 2030…

Xây dựng các mối liên kết chặt chẽ, hữu cơ, tương trợ lẫn nhau giữa Doanh nghiệp và nhà trường Xây dựng và triển khai có hiệu quả mô hình liên kết Trường/ Viện

- Doanh nghiệp – Cơ quan quản lý nhà nước Nâng cao khả năng tự đặt hàng/ đề xuất các nhiệm vụ liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ Thông qua sự hợp tác với các Trường để đặt hàng hoặc tiến hành dự báo/ dự đoán các xu hướng mới về công nghệ, về sản phẩm để có kế hoạch thích ứng phù hợp

Trang 4

Nhà trường chủ động phối hợp với doanh nghiệp để khơi thông và sử dụng có hiệu quả nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước thông qua các Chương trình/ Đề án/Nhiệm

vụ KHCN các cấp từ : Quốc gia/ Bộ, ngành, địa phương/tại cơ sở và doanh nghiệp

V Kết luận

Trên đây là cách nhìn của một Trường công nghệ kỹ thuật đang triển khai tự chủ đại học đối với vai trò của nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ Góc nhìn này xuất phát từ sứ mệnh của giáo dục đại học Việt Nam có vai trò tạo nguồn vốn nhân lực cho xã hội và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam bởi khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nghị Quyết 29/TW ngày 04-11-2013 của BCH Trung ương “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”

[2] Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội thảo về CM công nghiệp lần thứ

tư ngày 24/6/2019

[3] Phát biểu của PTT Vương Đình Huệ tại Hội thảo "Năng lực cạnh tranh và phát triển bao trùm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” ngày 17/11/2017

[4] Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30-12-2019 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học

Ngày đăng: 21/07/2021, 07:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w