Với những lí do trên, chúng tôi đã chọn Kịch Việt Nam 1945 - 1985 viết về đề tài lịch sử - tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình.. Đối tượng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ THƯ
KỊCH VIỆT NAM (1945 – 1985) VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ - TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ ĐẶC
TRƯNG THỂ LOẠI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 62.22.01.20
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Trang 2
Hà Nội, 2020
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Đức Phương
Phản biện:
Phản biện:
Phản biện:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm luận án tiến sĩ họp tại
vào hồi giờ ngày tháng năm 20
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trang 3Đề tài lịch sử luôn là một trong những đề tài hấp dẫn đối với các nhà văn đương đại và trở thành đối tượng nghiên cứu nhận được sự quan tâm rất lớn trong giới nghiên cứu và phê bình văn học Thông qua cách lí giải và tìm hiểu về những vấn đề trong quá khứ, các nhà văn đã thể hiện được rất rõ góc nhìn cũng như tư duy của mình về các nhân vật, các sự kiện trong quá khứ
Mỗi tác giả khi tiếp cận đề tài lịch sử đều cố gắng làm mới chất liệu để thể hiện được cái nhìn cá nhân và thời đại đối với quá khứ, nhưng không đơn thuần là một bức tranh minh hoạ mà đằng sau đó, luôn ẩn chứa những dụng ý sâu xa về những vấn đề đương đại Cũng chính vì thế mà
sự thay đổi hình thái xã hội, từ ý thức hệ của thời đại dẫn đến sự khác nhau về đặc trưng của văn học nói chung và kịch nói riêng
Các thời kỳ phát triển của văn học luôn có sự tương đồng với các giai đoạn của lịch sử dân tộc Năm 1945 và năm 1986 là hai dấu mốc quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại, trước và sau thời kỳ này, văn học có rất nhiều sự khác biệt về quan điểm nghệ thuật, về cảm hứng chủ đạo,
về đề tài, về thế giới nhân vật Do vậy, kịch nói riêng và văn học Việt Nam nói chung giai đoạn
1945 - 1985 sẽ có những đặc trưng riêng
Với những lí do trên, chúng tôi đã chọn Kịch Việt Nam (1945 - 1985) viết về đề tài lịch sử - tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu: là tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại của các vở kịch viết về
đề tài lịch sử được sáng tác trong giai đoạn 1945 – 1985
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Bao gồm những vở kịch nói lấy chủ đề chiến tranh cách mạng, giải phóng đất nước, cũng như những vở kịch lấy chủ đề lịch sử phong kiến Việt Nam được sáng tác trong giai đoạn 1945 -
1985 của các tác giả chuyên nghiệp Trong các vở kịch đó, người viết chọn lựa khảo sát những
vở kịch viết về những sự kiện quan trọng đã được ghi chép trong lịch sử, các nhân vật có thật hay các nhân vật lấy nguyên mẫu ngoài đời
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu các tác phẩm kịch nói viết về đề tài lịch sử,
luận án muốn chỉ ra những đặc trưng cơ bản nhất trong các khuynh hướng ứng xử với chất liệu lịch sử của các tác giả Đồng thời, luận án cũng phân tích tư duy nghệ thuật của những tác phẩm kịch viết trong giai đoạn này có những đặc điểm nổi bật mang tính đặc trưng thể loại khác với các giai đoạn trước và sau để tìm ra những tương đồng và khác biệt Từ đó, nhìn nhận được giá trị của các tác phẩm kịch nói viết về đề tài lịch sử viết trong giai đoạn này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trước hết, tổng quan những vấn đề liên quan đến lí thuyết cũng như thực tiễn nghiên cứu và sáng tác kịch về đề tài lịch sử qua từng giai đoạn khác nhau để thấy được vị trí, vai trò của những tác phẩm kịch viết về đề tài lịch sử trong giai đoạn 1945 - 1985
Thứ hai, chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong các tác phẩm kịch nói dưới góc nhìn về tư duy nghệ thuật thông qua các hướng tiếp cận chất liệu lịch sử, các đối tượng được chọn để phản ánh của tác phẩm
Thứ ba, luận án phân tích những đặc trưng của hành động, ngôn ngữ, xung đột kịch v.v… của những tác phẩm giai đoạn này có những đặc điểm gì giống và khác với những tác phẩm trước
và sau đó
Trang 4Thứ tư, luận án lí giải những nguyên nhân hình thành tư duy nghệ thuật và những đặc trưng riêng của kịch viết về đề tài lịch sử giai đoạn này
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sẽ vận dụng, phối hợp nhiều phương pháp quan trọng (như: Phương pháp lịch sử xã hội,
Phương pháp loại hình, Phương pháp nghiên cứu liên ngành, Phương pháp tiếp cận văn hóa học, phương pháp tiểu sử ), cùng các nguyên tắc phương pháp luận của một số lý thuyết hiện
đại (như: lí thuyết về bi kịch của Aristot, hệ thống lí thuyết thể hệ của Stanislavski, Athur Miller, Becton Brech…) Ngoài ra, luận án còn sử dụng các các thao tác phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê, tổng hợp để từng bước giải quyết triệt để và hiệu quả nhất các nhiệm vụ đề tài đặt ra
5 Đóng góp của luận án
Về mặt lý thuyết: Đây là công trình khoa học chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu về kịch Việt Nam viết về đề tài lịch sử giai đoạn 1945 - 1985 dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại Qua đó, luận án bổ sung một cách nhìn nhận, nghiên cứu mới về kịch lịch sử nói riêng và kịch thoại nói chung
Về mặt thực tiễn: luận án góp phần mở rộng và bổ sung tư liệu cho việc giảng dạy, nghiên cứu, giúp sinh viên tiếp cận được các tư liệu lý luận và thực tiễn về vẫn đề kịch nói cũng như vấn đề văn học nghệ thuật
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được triển khai thành 4 chương:
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Kịch Việt Nam viết về đề tài lịch sử trong sự phát triển của văn học và kịch từ 1945 đến 1985
Chương 3 Kịch Việt Nam (1945 - 1985) về đề tài lịch sử - dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật Chương 4 Kịch Việt Nam (1945 - 1985) về đề tài lịch sử - nhìn từ đặc trưng thể loại
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái luận về tư duy và tư duy nghệ thuật
1.1.1 Tư duy
Khái niệm tư duy (được hiểu một cách khái quát nhất): là quá trình hoạt động nhận thức lý tính của con người, nhằm phản ánh bản chất của sự vật hiện tượng
Tư duy được nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau và có hai kiểu phân biệt tư duy Theo triết học, chúng ta có phương pháp tư duy siêu hình và phương pháp tư duy biện chứng Theo hình thái ý thức xã hội, chúng ta có tư duy khoa học - tư duy logic; tư duy nghệ thuật - tư duy ẩn dụ;
tư duy tôn giáo
Tư duy cũng được các nhà khoa học phân biệt với các khái niệm tương tự khác như: ý thức, lí trí, tư tưởng
Trang 51.1.2 Tư duy nghệ thuật
Tư duy nghệ thuật là quá trình người nghệ sĩ tạo ra tác phẩm phản ánh hiện thực dựa trên quan niệm, cảm nhận của cá nhân, nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo Tìm hiểu về tư duy nghệ thuật cũng là đi tìm hiểu những tư tưởng, quan niệm nghệ thuật, và các phương tiện nghệ thuật mà người nghệ sĩ đã chọn lựa để sáng tạo nên các tác phẩm của mình
1.1.3 Tư duy kịch
Để tìm ra được những đặc tính của tư duy kịch, chúng ta cần đặt nó trong tương quan so sánh với tư duy thơ và căn xuôi Khác với tuy duy tiểu thuyết, truyện ngắn, các nhà văn tiếp cận hiện thực lịch sử ở thì quá khứ, tư duy nghệ thuật kịch cũng hướng tới hiện thực thông qua khám phá
số phận cá nhân của nhân vật nhưng tiếp cận hiện thực hiện thực ở thì hiện tại (qua quá trình tái hiện trực tiếp ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật)
Chúng ta có thể hiểu tư duy kịch là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, mang đặc điểm chung của tư duy nghệ thuật trong văn học, có nhiều nét tương đồng nhưng cũng có nhiều biểu hiện khác với tư duy tiểu thuyết bởi đặc trưng của thể loại Qua nhiều giai đoạn và quá trình, nó sẽ có sự thay đổi, và ở mỗi nhà viết kịch sẽ có quá trình tư duy khác nhau để từ đó thế giới nghệ thuật họ sáng tạo nên sẽ mang những nét rất riêng
1.2 Giới thuyết về kịch và đặc trưng thể loại kịch
1.2.1 Khái niệm về kịch
Kịch là thể loại đặc biệt, nó nằm vừa thuộc lĩnh vực sân khấu, vừa thuộc lĩnh vực văn học Theo Từ điển thuật ngữ văn học, kịch được hiểu theo hai cấp độ khác nhau, cấp độ loại hình và
cấp độ loại thể Ở cấp độ loại hình, kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (kịch,
tự sự, trữ tình) Ở cấp độ loại thể, kịch (có thể hiểu là kịch nói) là một thể loại tồn tại bên cạnh
các loại hình nghệ thuật sân khấu khác như kịch múa, kịch hát
1.2.2 Đặc trưng của kịch
1.2.2.1 Xung đột kịch
Có thể xem xung đột là khởi đầu của kịch Người đầu tiên đưa ra lí thuyết xung đột kịch hoàn chỉnh là Hegel (trước đó Aristole cũng đã nhắc đến nhưng chưa thực sự đầy đủ và rõ ràng, mang tính khu biệt) Sau đó, những tên tuổi gắn bó với lịch sử hình thành và phát triển của thể loại kịch như Stanislavski, Arthur Miller, khẳng định vai trò của xung đột trong kịch Xung đột kịch phải được tổ chức trên cơ sở của phương thức điển hình hóa, nó bao gồm nhiều cặp phạm trù đối lập nhau Xung đột kịch bắt nguồn từ những mâu thuẫn trong cuộc sống, những những mâu thuẫn đó phải gay cấn và kịch tính, có chiều sâu mới trở thành xung đột và được thể hiện trên sân khấu
1.2.2.2 Hành động kịch
Hành động trong kịch không chỉ thể hiện tính cách của nhân vật trong qua các cử chỉ, lời nói, động tác mà hành động còn biểu hiện cho sự cảm nhận và tư duy của nhân vật trước các tình huống xảy ra trong cốt truyện Có hai loại hành động, đó là hành động bên trong (là những yếu
tố nội tâm, thường có sự thay đổi do sự tác động của xung đột kịch, tạo nên chiều sâu tâm lý cho nhân vật) và hành động bên ngoài (là điệu bộ, cử chỉ, động tác di chuyển, cách ăn nói… của nhân vật)
1.2.2.3 Ngôn ngữ kịch
Trang 6Ngôn ngữ là thành phần đầu tiên của văn bản nghệ thuật, là điểm nhấn quan trọng của phong cách viết Đối với một tác phẩm kịch, tất cả những vấn đề về ngôn ngữ đều được đặt vào ngôn ngữ nhân vật Đó chính là điểm khác rõ rệt nhất so với với ngôn ngữ tự sự và ngôn ngữ trữ tình Văn bản kịch là văn bản đối thoại, hoàn toàn không có khái niệm “người kể chuyện” như trong các tác phẩm tự sự
Lời của các nhân vật gọi là thoại, bao gồm ba dạng: đối thoại, độc thoại và bàng thoại
1.3 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.3.1 Nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong văn học
Vấn đề tư duy nghệ thuật trong văn học đã được nhắc đến trong nhiều công trình nghiên cứu
những năm gần đây Về tư duy thơ, có thể kể đến giáo trình Tư duy thơ Việt Nam của Nguyễn
Bá Thành Tư duy văn xuôi có bài viết Tư duy nghệ thuật Nguyễn Tuân qua các truyện yêu
Bình Có một số công trình viết về sự thay đổi tư duy trong sáng tác nghệ thuật, chẳng hạn
như: Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam của Trần Đình Sử, Đôi nét
về một tư duy văn học mới đang hình thành của Nguyên Ngọc, Đổi mới tư duy văn học và đóng góp của một số cây bút văn xuôi của Mai Hương v.vv
1.3.2 Nghiên cứu về lý thuyết thể loại kịch
Ở Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về lí thuyết kịch nói chung của các tác giả nước ngoài đã
được dịch ra tiếng Việt Nhà nghiên cứu A Anhist có các cuốn chuyên đề Lý luận kịch từ Aristote
đến Lessin và Lý luận kịch ở phương Tây nửa cuối thế kỷ XIX, B Brecht có công trình Bàn về sân khấu tự sự… Nghiên cứu về ảnh hưởng của các lí thuyết và phương pháp biên kịch của
nước ngoài đối với sân khấu kịch Việt Nam, các tác giả rất chú ý đến A Chekhov, Satanislavski
và Arthur Miller… Nhà nghiên cứu Hoàng Sự có hai công trình liên quan đến lý luận kịch của Xô
Viết là Những vấn đề thi pháp kịch Chekhov và Phương pháp sân khấu Stanislavski Chuyên luận của Trần Yến Chi Nghệ thuật biên kịch Arthur Miller đã nghiên cứu sâu về những đặc điểm
của Arthur Miller trong việc thể hiện những vấn đề về con người và phê phán xã hội Mỹ cuối thế
kỉ trước Lý thuyết về kịch cũng được nhiều nhà lý luận, phê bình sân khấu trong nước quan tâm
và đặt ra trong quá trình nghiên cứu kịch ngay từ những năm 70, 80 của thế kỉ trước Có thể
điểm tên những công trình đã ghi dấu ấn như thế: Nghệ thuật viết kịch, Xây dựng cốt truyện
kịch của Hồ Ngọc; Lý luận kịch, Về thi pháp kịch, Về hình tượng con người mới trong kịch của
Tất Thắng; Giao lưu văn học và sân khấu của Phan Trọng Thưởng… Có thể xem đây là những
công trình nghiên cứu khá sâu sắc và đầy đủ diện mạo của văn học kịch trên phương diện thể loại
1.3.3.Tình hình nghiên cứu sáng tác kịch và kịch lịch sử
Có khá nhiều công trình tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của kịch nói những năm đầu thế kỉ XX Trong các công trình đó, phải kể đến các cuốn sách tương đối sơ khai về kịch
Việt Nam như: Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám) của Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý và Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam 1945 – 1975 (Hoạt
động sáng tác và biểu diễn) của Phan Kế Hoành và Vũ Quang Vinh); Những nhà văn Việt Nam
(nửa đầu thế kỉ XX) của Phan Trọng Thưởng
Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về kịch nói thường xoay quanh một giai đoạn phát triển của kịch hoặc tập trung khai thác các tác phẩm kịch của các tác giả tiêu biểu Trong số những bài viết, bài nghiên cứu về kịch gần đây, chúng tôi nhận thấy có ba tác giả được nghiên cứu nhiều nhất là Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi và Lưu Quang Vũ
Trang 7Vấn đề nghiên cứu kịch viết về đề tài lịch sử luôn nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà viết kịch, những người làm sân khấu và những nhà lý luận, phê bình Các hội thảo lớn đã được tổ chức như: Hội thảo Bàn về đề tài lịch sử (1979); Hội nghị Sân khấu với đề tài lịch sử (1996); Toạ đàm Nghệ thuật sân khấu sáng tạo về đề tài lịch sử ; Hội thảo khoa học toàn quốc Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử (2012) Ngoài những công trình kể trên, chúng tôi đã thống
kê khá nhiều luận văn, luận án tiến sĩ của các trường đại học, viện nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến lý thuyết và thực tiễn sáng tác, biểu diễn kịch
Tiểu kết chương 1
Để nghiên cứu những đặc trưng của thể loại kịch được thể hiện trong các tác phẩm kịch (1945- 1985) viết về đề tài lịch sử, người nghiên cứu cần chỉ ra các khái niệm liên quan đến vấn đề Trong đó, các vấn đề về tư duy nghệ thuật, về đặc trưng của kịch, và kịch về đề tài lịch sử đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu riêng về tư duy nghệ thuật
và đặc trưng thể loại kịch viết về đề tài lịch sử từ sau Cách mạng đến trước Đổi mới vẫn chưa được nhắc tới nhiều trong các công trình nêu trên Đó chính là mục tiêu nghiên cứu mà người viết muốn thực hiện trong luận án này
Chương 2
KỊCH VIỆT NAM VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC VÀ KỊCH TỪ
1945 ĐẾN 1985
2.1 Những tác động của bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa đến hoạt động sáng tác văn học
Các giai đoạn lịch sử cùng với những sự kiện lớn của đất nước đã tác động không nhỏ đến sự thay đổi của văn học thời kỳ này Đặc biệt là bối cảnh chiến tranh cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ đã tác động lớn đến mục đích, tư tưởng cũng như quan niệm sáng tác của hầu hết các nhà văn, nhà thơ và nhà viết kịch trong giai đoạn này Đề cương văn hóa năm 1943 trở thành văn kiện lý luận quan trọng cho sự phát triển của văn học Đề cương không chỉ xác định nội dung, tính chất, nhiệm vụ của nền văn học mà còn nhấn mạnh nguyên tắc vận động của văn học là: dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa Đó cũng chính là định hướng ảnh hưởng sâu sắc nhất đến toàn bộ tiến trình của nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 và thậm chí dư âm của nó kéo dài đến gần cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước Dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn học đã trở thành một vũ khí tiên phong, một món
ăn tinh thần lớn lao nhằm nâng cao sức mạnh và tình đoàn kết của toàn dân trong chặng đường giải phóng dân tộc
2.2 Sự thống nhất trong đa dạng và khuynh hướng chủ đạo của văn học 1945 – 1985
2.2.1 Tính thống nhất của văn học 1945 – 1985
Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 chủ yếu là văn học cách mạng, gắn bó mật thiết với vận mệnh chung của dân tộc Trong hoàn cảnh này, văn học phải đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước, và nghệ thuật phải làm tròn nhiệm vụ chính là phục vụ cách mạng và cổ động chiến đấu Khí thế cách mạng và kháng chiến đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần công dân của các nhà văn Văn chương trước hết phải là vũ khí chiến đấu Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1985 tập trung vào đề tài cơ bản: bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Tính thống nhất cũng được thể hiện qua tính đại chúng hoá của văn học, do đó quần chúng nhân dân không chỉ là đối tượng thể hiện mà còn là người tiếp nhận văn học và chính quần chúng cũng tham gia nhiều vào quá trình sáng tác văn học Một đặc điểm thống nhất khác
là văn học thời kỳ này chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Trang 82.2.2 Sự đa dạng trong chỉnh thể thống nhất của văn học 1945 – 1985
Ở mỗi giai đoạn khác nhau (cụ thể qua cac giai đoạn phát triển của văn học 1945 – 1954; 1954 – 1965; 1965 – 1975; 1975 – 1985), văn học có sự thay đổi, tiến bộ để đáp ứng được nhu cầu thực tế và chính bởi lẽ đó, dù có phát triển trong sự thống nhất thì tính đa dạng vẫn là đặc điểm nổi bật trong văn học trong thời kỳ này Tính đa dạng ở đây được thể hiện bằng diện mạo hoàn chỉnh với tất cả các thể loại cơ bản của văn học Tính đa dạng cũng được thể hiện qua nội dung
và phương thức phản ánh, khuynh hướng tiếp cận chất liệu cuộc sống của văn học
2.2.3 Khuynh hướng sử thi và lãng mạn cách mạng là khuynh hướng chủ đạo của văn học 1945 – 1985
Đây là cảm hứng đã hình thành trong sáng tác của các tác giả trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đặc biệt lại chi phối mạnh mẽ đến các sáng tác được viết trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ Tác phẩm có khuynh hướng sử thi là tác phẩm có ý nghĩa lịch sử và dân tộc Nhân vật chính
là những người đại diện cho lý tưởng và phẩm chất của cộng đồng và chiến đấu vì cộng đồng Cảm hứng lãng mạn cách mạng chủ yếu thể hiện ở chỗ khẳng định lý tưởng cuộc sống mới và
vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước
2.3 Vị trí của kịch và kịch về đề tài lịch sử trong văn học giai đoạn 1945 – 1985
2.3.1 Sự phát triển hùng hậu về đội ngũ sáng tác và các đề tài phản ánh của kịch
Đội ngũ sáng tác kịch thời kỳ này phần lớn là các cán bộ tuyên truyền cách mạng và một số ít những nghệ sĩ đã thành danh từ thời kỳ trước
Giai đoạn đầu cách mạng, do điều kiện và mục đích ý nghĩa của việc sáng tác và trình diễn kịch giai đoạn đó, các vở kịch chủ yếu được sáng tác nhanh và mang tính chất cổ động phong trào
Ở giai đoạn sau 1954, các vở kịch có nhiều tiến bộ, nhiều vở kịch tập trung phản ánh cuộc đấu tranh của quân và dân ta trong vùng địch tạm chiến
Hoạt động kịch nói thời kỳ chống Mỹ cứu nước 1965-1975 cũng có nhiều nét đột phá Sân khấu kịch lúc này thực sự đã trở thành một vũ khí nhạy bén của Đảng trong cuộc cách mạng về văn hóa tư tưởng và chính trị, đây là thời kỳ chứng kiến sự trưởng thành mạnh mẽ của kịch nói cả
về chất lượng và số lượng
Sau năm 1975, kịch nói Việt Nam đã tạo nên một diện mạo mới trong hoàn cảnh lịch sử mới Kịch nói tập trung vào hai mặt đề tài lớn là tái hiện lại cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và cuộc sống thời hậu chiến, đề tài lịch sử phong kiến đã bắt đầu trở lại trong một số sáng tác của các nhà viết kịch giai đoạn này
2.3.2 Kịch viết về đề tài lịch sử trong tiến trình phát triển của kịch nói riêng và văn học nói chung
2.3.2.1.Kịch viết về đề tài lịch sử trong mối tương quan giữa văn học và lịch sử
Kịch lịch sử là các tác phẩm viết về đề tài lịch sử nhưng trong đó có các chi tiết, nhân vật hư cấu Tuy nhiên, các sự kiện và nhân vật chính thường có thực trong lịch sử Tuy nhiên do chưa
có sự thống nhất về cách phân chia các thể loại kịch nên NCS sử dụng cách định danh “kịch về
đề tài lịch sử” thay vì cách định danh “kịch lịch sử”
Có thể thấy kịch viết về đề tài lịch sử trong giai đoạn 1945 - 1985 chủ yếu là những tác phẩm lấy bối cảnh, sự kiện và nhân vật trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Những sự
Trang 9kiện trong lịch sử phong kiến cũng được tái hiện, nhưng so với đề tài về chiến tranh cách mạng thì chưa thực sự nổi bật Trong những tác phẩm viết về lịch sử giai đoạn này, hình tượng nhân vật được xây dựng dựa trên những nhân vật có thật trong lịch sử như Hồ Chí Minh, Phan Đình Giót, Nguyễn Trãi, Trần Thủ Độ…, hoặc dựa trên nguyên mẫu ngoài đời thực và được thay đổi tên tuổi, quê quán nhưng vẫn giữ lại những sự kiện, hành động và biến cố quan trọng trong cuộc đời nhân vật
2.3.2.2 Kịch viết về đề tài lịch sử trong tiến trình chung của văn học kịch Việt Nam
Giai đoạn đầu tiên của kịch nói (1921-1930), những sáng tác kịch thường dịch, mô phỏng, phóng tác các vở kịch lừng danh của phương Tây, đặc biệt là Pháp Giai đoạn thứ hai (1930-1945) được xem như là giai đoạn trưởng thành của kịch nói Việt Nam Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), sân khấu giai đoạn 1940-1945 có sự nở rộ những vở kịch viết về đề tài lịch
sử Giai đoạn sau năm 1945, kịch nói đề tài lịch sử gặt hái được nhiều thành tựu to lớn hơn thời
kỳ trước
Trong tiến trình chung của văn học kịch Việt Nam, kịch viết về đề tài lịch sử đóng một vai trò vô cùng đặc biệt với nhiều tác phẩm mang dấu ấn đậm nét trong hệ thống kịch nói Việt Nam Ở giai đoạn sơ khai, đề tài lịch sử thường được biết đến với những vở kịch lấy cốt truyện từ văn học và lịch sử Trung Quốc Tiếp đến những năm 30 của thế kỷ trước, đề tài lịch sử Việt Nam bắt đầu được chú ý với nhiều vở kịch viết về quá khứ, mượn bối cảnh lịch sử xa xưa để đặt mình trong các nhân vật mang nặng tâm tư, nỗi lòng riêng, đặc biệt là nỗi lòng của kẻ sĩ trước hoàn cảnh thực tại Bước sang giai đoạn mới, đề tài lịch sử phong kiến trong kịch nói giai đoạn 1945 - 1985
có phần khiêm tốn hơn so với các thể loại kịch khác (kịch thơ, kịch hát), mà thay vào đó là sự tập trung và nở rộ của các vở kịch về đề tài chiến tranh cách mạng Song với những thành tựu riêng, với những đặc trưng thẩm mỹ của loại hình kịch thoại cùng với sự xâm nhập, ảnh hưởng của kịch hát và kịch thơ (giai đoạn đầu của quá trình phát triển), kịch nói về đề tài lịch sử đã hình thành những đặc trưng thi pháp riêng trong việc phản ánh đề tài lịch sử
Tiểu kết chương 2
Đi từ bối cảnh lịch sử, xã hội trong giai đoạn 1945 - 1985, chúng tôi mong muốn lý giải được những tác động của nó lên diện mạo văn học nói chung và văn học kịch nói riêng Chính sự tác động này đã tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của các thể loại văn học Với những tác phẩm
mà chúng tôi đã nêu trên, có thể thấy được vai trò của đề tài lịch sử trong tiến trình phát triển chung của văn học cũng như của kịch Dù đó là đề tài về chiến tranh cách mạng hay đề tài về lịch sử các triều đại phong kiến thì tựu trung lại, chỉ riêng giai đoạn 1945 – 1985, đã có rất nhiều
vở kịch để lại dấu ấn đậm nét cho đến ngày nay, được đánh giá cao và được tái hiện nhiều lần trên sân khấu đương đại
Chương 3 KỊCH VIỆT NAM (1945 - 1985) VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ - DƯỚI GÓC NHÌN TƯ DUY NGHỆ THUẬT
3.1 Quan niệm sáng tác kịch về đề tài lịch sử giai đoạn 1945 – 1985
3.1.1 Tư duy về hư cấu lịch sử
Nếu như trong các kịch bản văn học thông thường, hư cấu là kỹ thuật tất yếu của nhà viết kịch nói riêng và của sân khấu nói chung, thì đối với kịch lịch sử, nghệ thuật hư cấu chính là lĩnh vực chủ yếu để nhà văn thể hiện sự sáng tạo của mình, làm cho tác phẩm trở thành một kịch bản
Trang 10lịch sử đúng nghĩa Trong những vở kịch được viết vào giai đoạn 1945 - 1985, có lẽ vai trò của
hư cấu không thực sự nổi bật Nhưng điều đó không có nghĩa là các vở kịch đó thiếu đi tính hư cấu Tính hư cấu của mỗi vở kịch lịch sử có thể được thể hiện ở việc hư cấu nhân vật, hư cấu
sự kiện, hư cấu chi tiết Đối với những chi tiết có thật hoặc ngày, tháng, năm lịch sử đều không thể hư cấu
Nói đến hư cấu nhân vật, rõ ràng đây là xu hướng hư cấu dễ nhận thấy nhất trong kịch lịch sử Bên cạnh những con người có thật, kịch lịch sử còn có hệ thống những nhân vật hư cấu mà phổ biến nhất là nhân vật người tình của các danh nhân lịch sử Một dạng hư cấu hấp dẫn nhất, kể
cả đối với người viết lẫn người đọc, chính là hư cấu về tâm lý, nội tâm, tình cảm, về chuyện tình yêu của nhân vật Nhìn chung đối với những vở kịch viết trong giai đoạn này thì tính chất của cơ cấu luôn ở một giới hạn nhất định Không có chi tiết hư cấu nào vượt quá giới hạn của biên độ
hư cấu đối với lịch sử bởi đây là những sáng tác trong bối cảnh lịch sử của cuộc kháng chiến, mục đích của việc sáng tác kịch nói riêng và văn học nói chung là để phục vụ cách mạng, cổ vũ tinh thần chiến đấu
3.1.2 Quan niệm về tính hiện đại trong kịch viết về đề tài lịch sử
Quan niệm sáng tác kịch về đề tài lịch sử trong giai đoạn này vô cùng chú trọng tính hiện đại, bởi đây là một yêu cầu cơ bản cho mục đích sáng tác kịch cách mạng Hiện thực của cuộc chiến đấu là chủ đề xuyên suốt trong hầu hết các tác phẩm kịch Do đó, ở mỗi tác phẩm, tính đương đại, tính thời sự được thể hiện rất rõ Mỗi người ở mỗi thời đại khác nhau sẽ có thái độ khác nhau đối với tư liệu lịch sử, bởi nó chỉ là một tư liệu thuần túy để các nhà văn tự do sáng tạo dựa trên ý đồ và quan điểm của riêng mình Và mỗi tư liệu đó được chọn lựa và thể hiện thành công hay không, được đón nhận hay không thì bản thân sự sáng tạo đó phải mang tính hiện đại
Như vậy, khi nói đến tư duy nghệ thuật trong sáng tác kịch về đề tài lịch sử, tính chất hư cấu và tính hiện đại luôn là những yếu tố được nói đến đầu tiên để người nghiên cứu có thể thấy được khuynh hướng sáng tạo của nhà viết kịch
3.2 Các khuynh hướng khai thác chủ đề lịch sử
Trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, kịch Việt Nam chủ yếu đi sâu vào mảng đề tài xã hội với nhiều tác phẩm tiêu biểu Cho đến những năm 1930, kịch lịch sử bắt đầu được chú ý với sự ra đời của hàng loạt các vở kịch lấy những câu chuyện cũ trong lịch sử để làm bài học mới cho người hiện tại Sau Cách mạng tháng Tám cho đến những năm tám mươi của thế kỷ trước, sân khấu mới thực sự mang ý nghĩa của một thể loại nghệ thuật có tính chất quần chúng Trong thời kỳ này, chủ đề lịch sử được khai thác phong phú hơn bao giờ hết và được phân hoá thành hai chủ đề chính: lịch sử chiến tranh cách mạng và lịch sử phong kiến Việt Nam
3.2.1 Khai thác chủ đề lịch sử chiến tranh cách mạng
Từ thành công của vở Bắc Sơn, các tác phẩm lấy chủ đề lịch sử cách mạng tiếp nối nhau ra đời Những tác phẩm này mở rộng đối tượng để phản ánh những sự kiện lớn lao của dân tộc: Hà Nội trong khói lửa chiến tranh, những chiến dịch lớn với thắng lợi vẻ vang của quân đội ta, công cuộc cải cách ruộng đất và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Các vở kịch tiêu biểu khai thác chủ đề này: Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng, Trước giờ chiến thắng của Đào Hồng Cẩm và Sỹ Hanh, Cách mạng của Nguyễn Khải; Bài ca Điện Biên của Tất Đạt, Lửa cháy lên rồi của Phan Vũ; Người công dân số một của Vũ Đình Phòng và Hà Văn Cầu, tác phẩm Đêm trắng của Lưu Quang Hà, Nhân chứng và lịch sử của Hoài Giao…
3.2.2 Khai thác đề tài lịch sử phong kiến
Kịch viết về thời kỳ phong kiến thường có xu hướng lấy những sự kiện trong chính sử cũng như trong dã sử thành đề tài khai thác trong tác phẩm của mình Nhưng trước thời kỳ Đổi mới, đề tài này thường xuất hiện nhiều hơn trong các vở kịch hát Riêng về kịch nói, đề tài lịch sử phong