Nghiên cứu về đề tài Hoạt động khai thác mỏ của người nước ngoài ở miền Bắc Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX còn góp phần lý giải sự tương đồng và khác biệt trong chính sá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
TRẦN XUÂN THANH
HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC MỎ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM TỪ CUỐI
THẾ KỶ XVII ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Mã số: 62 22 03 11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI
Hà Nội – 2020
Trang 2
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Nguyễn Văn Kim
2 PGS.TS Nguyễn Mạnh Dũng
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm luận án tiến sĩ họp tại: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội vào hồi giờ … ngày
…tháng … năm ………
Có thể tìm hiểu luận án tại:
-Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang 3Khai mỏ là một trong những hoạt động kinh tế quan trọng và có lịch sử lâu đời ở Việt Nam và trên thế giới Ở Việt Nam, dưới thời kỳ Lê – Trịnh (giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII) và đầu triều Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX), khi khai mỏ trở thành một hoạt động thu hút nhiều thương nhân
và lao động tham gia thì người Hoa, với lợi thế về vốn, kinh nghiệm và kỹ thuật đã trở thành lực lượng chi phối các hoạt động khai mỏ ở khu vực thượng du Đàng Ngoài Đến nửa cuối thế kỷ XIX, sau khi hoành thành việc đánh chiếm Đông Dương, thực dân Pháp đã thực hiện các cuộc khai thác thuộc địa quy mô lớn ở đây Các mỏ khoáng sản ở Bắc Kỳ không chỉ trở thành nơi bỏ vốn đầu tư, mở mang, thiết lập hệ thống hạ tầng phục vụ việc khai thác, vận chuyển và xuất khẩu các nguồn tài nguyên ở đây mà còn góp phần đưa Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới thông qua việc tham gia vào hệ thống thương mại khu vực cũng như hệ thống các thuộc địa khác Hơn thế nữa, khai mỏ ở Bắc Kỳ nói riêng, ở Đông Dương nói chung còn góp phần vực dậy
vị thế kinh tế và chính trị của thực dân Pháp
Nghiên cứu về hoạt động khai mỏ của người ngoài ở miền Bắc Việt Nam sẽ đưa ra một góc nhìn
có tính hệ thống, toàn diện về sự xuất hiện, quá trình xác lập các hoạt động khai mỏ của người Hoa ở khu vực thượng du Đàng Ngoài (từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XVIII) cũng như của
tư bản Pháp tại Bắc Kỳ (từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX)
Nghiên cứu về đề tài Hoạt động khai thác mỏ của người nước ngoài ở miền Bắc Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX còn góp phần lý giải sự tương đồng và khác biệt trong chính
sách quản lý của các chính quyền ở Việt Nam đối với hoạt động khai mỏ của người nước ngoài; phân tích và đánh giá những tác động của hoạt động khai mỏ đối với xã hội Việt Nam cũng như những ảnh hưởng trở lại đối với miền Nam Trung Hoa cũng như tới vị thế của nước Pháp trong thế giới tư bản
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu cơ bản của luận án là tái hiện và phân tích bức tranh kinh tế - xã hội, lý giải sự ra đời hoạt động khai mỏ của người nước ngoài ở miền Bắc Việt Nam; phân tích và luận giải sự tương đồng và khác biệt trong chính sách quản lý của các chính quyền ở Việt Nam và những ảnh hưởng của hoạt động này đối với Việt Nam và một số quốc gia trong bối cảnh khu vực và thế giới từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu cơ bản của luận án là mối liên hệ giữa bối cảnh các quốc gia và khu vực
ở Đông Á và thế giới với hoạt động khai mỏ của người nước ngoài ở miền Bắc Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: khu vực Đông Á với vùng thượng du miền Bắc Việt Nam là trung tâm Về thời gian: cuối thế kỷ XVII đến năm 1919
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng những nguyên tắc căn bản của phương pháp luận sử học Mác xít, trong đó phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ đạo Các phương pháp hệ thống, phân tích,
so sánh đối chiếu cũng được luận án vận dụng
5 Các nguồn tài liệu
Trang 4Thứ nhất là các tài liệu thông sử, địa chí, một số bộ sử Trung Quốc đã được dịch và hiệu đính tiếng Việt Thứ hai là ghi chép của các giáo sĩ, nhà thám hiểm, du hành, thương nhân phương Tây về Đàng Ngoài thời kỳ tiền thực dân, là giai đoạn phát triển mạnh mẽ các mối quan hệ bang
giao, thương mại, tôn giáo… giữa các quốc gia phương Tây với Đàng Ngoài Đại Việt, được thể
hiện dưới dạng hồi ký, nhật ký Thứ ba là nguồn tài liệu lưu trữ, tài liệu báo chí, báo cáo thời thuộc Pháp là nguồn tài liệu đặc biệt quan trọng đối với đề tài, cung cấp các số liệu về tiềm năng khoáng sản, quá trình thăm dò, tìm kiếm, khai thác, chế biến và tiêu thụ khoáng sản của thực dân Pháp tại Bắc Kỳ và Đông Dương Đó còn là các sắc lệnh, nghị định, các văn bản hành chính khác về mỏ và các sách chuyên khảo Thứ tư là các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước; sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án liên quan đến đề tài nghiên cứu
6 Đóng góp của luận án
Góp phần nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về sự xuất hiện, quá trình chi phối hoạt động khai mỏ của người Hoa và người Pháp ở miền Bắc Việt Nam trong bối cảnh quốc gia và khu vực trong dòng chảy lịch sử từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX; phân tích, luận giải hệ quả của các chính sách quản lý của các chính quyền ở Việt Nam đối với hoạt động khai mỏ của các thế lực ngoại kiều và tác động của nó đối với xã hội Việt Nam và một số quốc gia trong những giai đoạn lịch sử khác nhau
7 Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận án gồm
5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Chương 2: Tiền đề và các nhân tố dẫn tới hoạt động khai mỏ của người nước ngoài ở Việt Nam Chương 3: Khai mỏ của người Hoa từ cuối thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Chương 4: Khai mỏ của người Pháp ở Bắc Kỳ (1884-1919)
Chương 5: Một số nhận xét về hoạt động khai mỏ của người nước ngoài ở Việt Nam
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Những nghiên cứu về tài nguyên khoáng sản, tiềm năng khai mỏ ở Việt Nam
Đầu tiên là những ghi chép, khảo tả về tình hình kinh tế, xã hội Đại Việt nói chung và Đàng Ngoài nói riêng trong các thế kỷ XVII-XVIII Sau đó là những báo cáo, ghi chép chi tiết, cụ thể nhất phục
vụ chính quyền Pháp ở Đông Dương và chính quốc Những hồi ký, ghi chép, nghiên cứu của các chính trị gia, các nhà kinh tế hay các kỹ sư khai thác mỏ được Chính phủ Pháp cử sang Đông Dương Đó còn là các loại hồi ký, địa dư, địa chí, công trình khảo cứu… của các nhà chính trị, thương nhân, kỹ sư, nhà khoa học…
1.2 Những nghiên cứu về khai mỏ ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII-đầu thế kỷ XX
Những năm gần đây, cùng với xu hướng nghiên cứu về các hoạt động thương mại của thương nhân ngoại kiều và tác động của nó đối với các quốc gia trong khu vực Đông Á, cũng xuất hiện một số nghiên cứu về lĩnh vực khai mỏ cũng như hoạt động khai mỏ có nhân tố người nước ngoài - đặc biệt là người Hoa và người Pháp ở Việt Nam
Trang 51.3 Kết quả và những vấn đề cần giải quyết
Các nghiên cứu các học giả trong và ngoài nước dù đã đề cập tới các hoạt động khai mỏ ở Việt Nam nhưng mới ở các khía cạnh riêng biệt, ở từng thể chế chính trị, từng giai đoạn lịch sử, từng khu vực, địa phương khác nhau mà chưa hướng tới những nghiên cứu có toàn diện và liên tục
về hoạt động khai mỏ của người nước ngoài ở miền Bắc Việt Nam trong suốt cả một tiến trình lịch sử từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX Đây là những hạn chế mà những công trình nghiên cứu đi sau phải khắc phục và giải quyết
Chương 2
TIỀN ĐỀ VÀ CÁC NHÂN TỐ DẪN TỚI HOẠT ĐỘNG KHAI MỎ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở
VIỆT NAM 2.1 Phân vùng địa lý và nguồn tài nguyên khoáng sản ở miền bắc Việt Nam
Vùng thượng du miền Bắc Việt Nam không chỉ là khu vực tiếp giao giữa miền Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa mà còn là cửa ngõ mở ra các tuyến hải thương qun trọng thông qua hệ thống các cửa sông, cửa biển hướng ra vịnh Bắc Bộ - một trong những cửa ngõ và trung tâm giao thương quan trọng trong hệ thống thương mại quốc tế Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào đã khiến nơi đây trở thành một động lực kinh tế cung cấp những nguồn lực quan trọng để duy trì sự sinh tồn và phát triển của các cộng đồng cư dân ở đây qua nhiều thế kỷ
2.2 Sự ra đời và phát triển của khai mỏ thế giới và Việt Nam
Trên thế giới, hoạt động khai mỏ mặc dù đã xuất hiện từ rất sớm nhưng chỉ phát triển bùng nổ khi nhu cầu về than đá và thép (làm nhiên liệu cho động cơ hơi nước) phục vụ cho các cuộc cách mạng công nghiệp ở Tây Âu (cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX) diễn ra mạnh mẽ Sau đó, nhu cầu về kim loại màu và các nhiên liệu hóa thạch (làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong) phục
vụ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai ở châu Âu và Bắc Mỹ từ giữa thế kỷ XIX càng khiến cho các hoạt động khai mỏ phát triển rộng khắp các hệ thống thuộc địa của thực dân phương Tây Bên cạnh đó, sự phát triển của thương mại, đường sắt, điện năng và các cuộc chiến tranh thế giới càng đẩy mạnh nhu cầu tiêu thụ các nguồn tài nguyên không tái tạo Lĩnh vực khai mỏ ở Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy ảnh hưởng từ những biến động của tình hình kinh
tế và chính trị trên thế giới và khu vực
2.3 Chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các chính quyền ở Việt Nam trong bối cảnh khu vực thế kỷ XVII-XVIII
Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá ở Đại Việt và công cuộc tìm kiếm thị trường của các nước tư bản phương Tây đã thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động thương nghiệp vầ thủ công nghiệp ở Đàng Ngoài Chính quyền Lê - Trịnh đã thực thi một số chính sách để phát triển kinh tế
xã hội, trong đó có việc quản lý các hoạt động khai mỏ ở vùng thượng du Đàng Ngoài Chính sách này không chỉ tạo điều kiện cho thương nhân trong nước mà còn cho phép thương nhân người Hoa bỏ vốn lĩnh trưng khai thác các mỏ khoáng sản ở khu vực này
2.4 Nhu cầu khai mỏ của người Hoa ở Đại Việt
Sự gia tăng nhu cầu về các kim loại quý do sự bùng nổ dân số và phát triển thương mại với phương Tây của Trung Hoa cũng như nhu cầu tìm kiếm các nguồn tài nguyên mới là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy các lực lượng phu mỏ và thương nhân tiến xuống khu vực phía nam của Trung Hoa như Quảng Tây, Vân Nam và miền Bắc Việt Nam
2.5 Nhu cầu khai mỏ của người Pháp ở Bắc Kỳ
Trang 6Trong cách mạng công nghiệp đầu thế kỷ XIX ở Pháp, luyện kim là một trụ cột và nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Bên cạnh đó, những thiếu hụt trong nguồn cung than
đá và kim loại sau cuộc chiến tranh Pháp – Phổ cũng như nỗ lực cạnh tranh với Anh và các quốc gia khác ở châu Âu đã thúc đẩy chính phủ Pháp tiến hành các cuộc khai thác tài nguyên quy mô lớn ở Đông Dương và các xứ thuộc địa khác trong hệ thống thuộc địa của mình Mặt khác, tiến hành khai khoáng ở Bắc Kỳ sẽ giúp cho chính quyền thực dân ở Đông Dương thực hiện mục tiêu của mình: đầu tư tối thiểu nhưng đạt được lợi nhuận tối đa Đầu tư, khai thác mỏ
ở Bắc Kỳ còn tạo ra cho người Pháp một vùng đệm để tiến hành các hoạt động giao thương đến các thị trường đầy tiềm năng ở khu vực phía Nam Trung Hoa nhằm kết nối Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây với các hệ thống thương mại trong khu vực như Sài Gòn, Hồng Kông, Nhật Bản, Philippine, Singapore…
Tiểu kết chương 2
Với những thuận lợi về vị trí địa lý, nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào cùng sự cởi mở của môi trường chính trị và kinh tế thời kỳ Lê – Trịnh là động lực mạnh mẽ lôi cuốn các cộng đồng người Hoa vượt biên giới và tiến hành các hoạt động khai mỏ ở Đàng Ngoài của Đại Việt trong các thế kỷ XVII – XVIII Bên cạnh đó, sự nhập cư ồ ạt của người Hoa từ sau phong trào phản Thanh phục Minh và sự hình thành đông đảo các cộng đồng người Hoa như một thực thể ổn định trong xã hội Đại Việt từ thế kỉ XVIII - XIX kết hợp với những yếu tố thuận lợi về chính sách của các chúa Nguyễn và các vua đầu triều Nguyễn được xem là cơ sở xuất hiện các hoạt động khai mỏ người Hoa ở miền Bắc Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XIX Thế kỷ XVIII – XIX cũng là thời kỳ mà các thế lực thực dân phương Tây tìm cách tiến hành các cuộc xâm chiếm và mở rộng thuộc địa về vùng Viễn Đông để tìm kiếm các nguồn tài nguyên giàu có nhằm bù đắp cho sự thiếu hụt các nguồn tài nguyên tại chính quốc Mối quan tâm của nước Pháp về mối lợi tài nguyên và nhân công giá rẻ tại Đông Dương đã được hiện thực hóa bằng quá trình bình định và xâm lược Đông Dương, trong đó có Bắc Kỳ, thiết lập chế độ cai trị thực dân và tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa quy mô lớn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tại đây
Chương 3 KHAI MỎ CỦA NGƯỜI HOA TỪ CUỐI THẾ KỶ XVII ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 3.1 Khai mỏ của người Hoa ở Đàng Ngoài thời Lê- Trịnh
3.1.1 Chính sách quản lý của chính quyền Lê – Trịnh đối với hoạt động khai mỏ của người Hoa ở Đàng Ngoài
Chính quyền Lê – Trịnh bắt đầu thi hành chính sách quản lý chặt chẽ các mỏ từ khâu khai thác, vận chuyển đến mua bán bằng việc độc quyền quản lý việc khai thác các mỏ Chính sách này bắt đầu được chính quyền cho thực thi từ năm 1760 với chế độ quản giám Theo đó, thành phần các quản giám thuộc ba tầng lớp: thứ nhất là các vương hầu, quý tộc; thứ hai là các quan lại triều đình tự nguyện xin làm; thứ ba là các thổ tù, quan lại địa phương
3.1.2 Nhân công
Chính quyền cho phép chủ các mỏ được quyền chủ động thuê nhân công, điều này tạo điều kiện cho các quan lại triều đình và thổ tù địa phương tham gia vào hoạt động khai mỏ với tư cách tư nhân Bên cạnh đó, chính quyền cũng cho phép người Hoa cũng được tham gia khai mỏ Điều này lý giải tại sao tại một số mỏ do thương nhân người Hoa đứng ra khai thác thì phần lớn nhân công làm thuê cho họ cũng chính là người Hoa Kết quả của chính sách này là đã có đến hàng vạn người Hoa đã tham gia vào việc khai mỏ ở Đàng Ngoài, gây ra những hệ quả phức tạp về sau
3.1.3 Chính sách thuế
Trang 7Một cơ quan thuộc bộ Hộ là Hộ phiên phụ trách việc thu chi tài chính và quản lý thuế, trong đó
có thuế mỏ Thuế mỏ và các loại lâm thổ sản khác nằm trong nguồn thu thuế chuyên lợi của triều đình Theo đó, triều đình quy định mức thuê đối với từng mỏ, tuỳ thuộc vào trữ lượng và năng suất khai thác ở các mỏ Để khuyến khích hoạt động khai mỏ, các chúa Trịnh thực hiện chính sách miễn thuế 5 năm đầu cho các mỏ mới đi vào hoạt động Tuy vậy, trong thời kỳ này, tình trạng trốn thuế của các chủ mỏ và các quan quản giám vẫn xảy ra thường xuyên, gây thất thoát cho nhà nước
3.1.4 Quy mô, chủng loại mỏ
Về quy mô, dưới thời kỳ Lê- Trịnh, người Hoa đã tham gia khai thác tại hầu hết các mỏ ở Đàng Ngoài, trong đó có một số mỏ đã từng bị sáp nhập vào lãnh thổ nhà Thanh (như Tụ Long, Ngưu Dương, Hồ Điệp, Phô Viên, Tung Lãng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ Tuyền, Tuy Phụ, Nghiêm Châu)… Tổng số mỏ theo thống kê vào khoảng bảy chục mỏ, phân bố trong không gian các trấn vùng thượng du phía Bắc nhưng tập trung nhiều ở Thái Nguyên, Hưng Hóa và Tuyên Quang Về chủng loại, trong số khoảng các mỏ kim loại được khai thác nhiều nhất chính là bạc và đồng
3.1.5 Phương thức khai thác
Phương thức khai thác trong các mỏ ở Đàng Ngoài thời kỳ này vẫn mang tính chất thủ công Theo đó “quặng mỏ được người công nhân đào lên mặt đất bằng những công cụ thô sơ; sau đó được đãi rồi nấu trong những lò nổi” Các trường mỏ do người Hoa quản lý hoạt động theo mô
hình tương tự như ở Vân Nam Theo đó mỗi đơn vị sản xuất lớn gồm nhiều tàu (vị trí) khai thác, được chia nhỏ thành nhiều tiêm (giếng), người được chuyển nhượng thường cho các nhà khai thác nhỏ thầu lại các tiêm này Một cơ sở sử dụng từ 5 chục đến hai trăm nhân công, làm thành
nhiều nhóm, thay phiên nhau ngày đêm, mỗi nhóm gồm nhiều đội đảm nhiệm các công việc khác nhau như tách quặng, chống đỡ đường hầm, thông khí, dùng bơm làm cạn công trường… Sau khai thác là nghiền quặng, rửa, lựa chọn và nhiều giai đoạn pha chế khác Tất cả đều phân công trên cơ sở chuyên môn hóa cao Quy trình kỹ thuật này không chỉ phụ thuộc vào một nhà khai thác trực tiếp mà là sự liên kết giữa người bỏ vốn và người cung cấp nhân công
3.1.6 Hoạt động khai thác của người Hoa tại một số mỏ
3.1.6.1 Tụ Long
3.1.6.2 Tống Tinh
3.1.6.3 Một số mỏ khác
3.2 Khai mỏ của người Hoa dưới triều Nguyễn thế kỷ XIX
3.2.1 Chính sách quản lý của triều Nguyễn
Dưới triều Nguyễn, người Hoa được phép chủ động thuê nhân công để khai mỏ Nhà Nguyễn cũng sử dụng người Hoa để phát triển các nghề đúc đồng, luyện thép, lọc đãi vàng, làm gốm sứ… Việc quản lý và giám sát các mỏ được triều đình giao cho bộ Hộ Bên dưới là hệ thống quan lại phụ trách việc quản lý đất đai của địa phương Tại các địa phương, khi phát hiện có mỏ, các quan đứng đầu phải có trách nhiệm trình báo lên triều đình Sau đó vua sẽ có tấu chỉ xem xét việc tổ chức khai mỏ Sự cởi mở của triều Nguyễn trong chính sách quản lý việc khai mỏ đối với ngươi Hoa đã tạo sức hút thúc đẩy các làn sóng di cư mới của người Hoa đến Việt Nam
3.2.2 Nhân công
Trên phạm vi khu vực thượng du miền Bắc cũng như trong cả nước, việc khai thác mỏ dưới triều Nguyễn được phân thành 4 lực lượng, trong đó có loại mỏ do thương nhân Hoa kiều lĩnh
Trang 8trưng và nộp thuế hàng năm Tiều Nguyễn đã sử dụng một nguồn nhân lực đáng kể phục vụ việc khai mỏ ở khu vực thượng du miền Bắc, trong đó có thương nhân và phu mỏ người Hoa Nhân công nguồi Hoa có kinh nghiệm và kỹ thuật cao hơn so với người Việt Việc khai thác mỏ được tổ chức theo công đoạn, mang tính chuyên nghiệp cao
3.2.3 Quy mô, chủng loại mỏ
Dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX, tại các tỉnh thuộc khu vực thượng du miền Bắc như Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Sơn Tây có 107 mỏ, chiếm khoảng 85% tổng số mỏ cả nước thời bấy giờ Trên phương diện loại hình mỏ, so với thời kỳ Lê – Trịnh cuối thế kỷ XVIII, các loại khoáng sản được khai dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX
đã đa dạng hơn Dưới thời Lê – Trịnh, chủ yếu khai các mỏ đồng, mỏ bạc thì sang triều Nguyễn, chính quyền đã cho khai các loại mỏ khác như diêm tiêu, châu sa, chì, lưu huỳnh…
3.2.4 Thể lệ và phương thức khai thác
Dưới triều Nguyễn, triều đình thường cử các viên quan lại hoặc giao trách nhiệm cho người đứng đầu chính quyền các trấn, phủ xem xét và định ngạch thuế cho các mỏ Để nắm được trữ lượng từng mỏ, đôi khi, chính quyền còn cho người khai thử trong một thời gian nhất định để tìm hiểu sản lượng của từng mỏ Trong những năm đầu thế kỷ XIX, vua Gia Long định ra lệ thi đấu giá để lĩnh trưng thuế các mỏ ở các trấn thuộc Bắc Thành, việc này đươc tiền hành hàng năm nên mức thuế cũng thay đổi theo niên kỳ Tuy nhiên, trong những năm sau này khi hệ thống chính quyền đã ổn định, nhất là sau khi Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính, triều Nguyễn cho cấp giấy lĩnh trưng trong một thời gian dài “với mức thuế do Nhà nước quy định” Những thương nhân người Hoa vì thế được cấp phép lĩnh trưng các mỏ trong thời gian dài hơn, đã chủ động hơn trong việc khai thác cũng như nộp thuế Tuy nhiên, chính sách tạo điều kiện này đã khiến cho chính quyền nhà Nguyễn buông lỏng việc giám sát, tạo cơ hội để người Hoa có cơ hội trốn thuế và lén lút mang khoáng sản qua bên kia biên giới, gây ra những thất thoát tài nguyên của Đại Nam
3.2.5 Chính sách thuế
Để kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai mỏ của người Hoa, triều Nguyễn định các mức thuế hàng năm dành cho từng mỏ và tổ chức thu thuế ngay khi các mỏ đi vào hoạt động Vua Minh Mạng còn quy định, từ năm 1832, cứ định kỳ 3 năm các quan địa phương và triều đình phải đi kiểm tra đán giá lại tình hình các mỏ để từ đó đề ra mức thuế mới
Tiểu kết chương 3
Mặc dù chính quyền Lê- Trịnh và triều Nguyễn đã ban hành những biện pháp nhằm hạn chế vai trò của người Hoa trong các mỏ ở vùng thượng du nhưng do vị trí, địa hình xã xôi hiểm trở nên những chính sách này chỉ hạn chế phần nào tình trạng phu mỏ người Hoa tràn lan khắp các khu vực thượng du Dù chỉ trực tiếp giành được phần ít các mỏ để khai thác, nhưng với tư cách là nhà thầu lại hay với cương vị là những người thợ, người Hoa vẫn tìm cách thu lợi từ vốn tri thức sẵn có về hệ thống các hầm mỏ khu vực thượng du miền bắc Việt Nam Với việc duy trì các hoạt động khai mỏ với một quy mô lớn diễn ra liên tục suốt gần hai thế kỷ (cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX), những người khai mỏ (bao gồm các tù trưởng địa phương, những người lĩnh trưng và hoá phu người Hoa cũng như các cộng đồng cư dân bản địa) đã tạo ra một bước chuyển biến căn bản cho nền kinh tế - xã hội khu vực thượng du miền bắc Việt Nam với sự hình thành các trung tâm cư dân đông đúc, đa sắc tộc trở thành các địa điểm giao lưu kinh tế - văn hoá Các hoạt động khai mỏ cũng đem lại một nguồn thu đáng kể đóng góp vào nguồn ngân sách tài chính của đất nước và góp phần hình thành lên những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa sớm trên đìa bàn các tỉnh miền núi phía bắc của Việt Nam Đến thế kỷ XIX, mặc dù triều Nguyễn nghiêm cấm việc mang các loại khoáng sản ra khỏi biên giới nhưng những điều luật ấy chỉ hạn chế việc vận chuyển công khai chứ hoàn toàn không có khả năng ngăn chặn các dòng chảy kim loại ra khỏi biên giới bằng các con đường lén lút, buôn lậu
Trang 9Chương 4 KHAI MỎ CỦA NGƯỜI PHÁP Ở BẮC KỲ
(1884-1919)
4 1 Quá trình thiết lập các hoạt động khai thác mỏ của người Pháp ở Việt Nam (1858-1897)
4.1.1 Quá trình thăm dò mỏ của người Pháp ở Bắc Kỳ
Quá trình chinh phục và thực dân hóa của người Pháp ở Việt Nam là một quá trình diễn ra từ cuối thế kỷ XVI, khởi đầu bởi các nhà truyền đạo Công giáo và các thương nhân Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng những mỏ này có khả năng sinh lợi nhuận cao Khi người Pháp thiết lập chế
độ thực dân ở đây, việc thăm dò, điều tra, thống kê mỏ được người Pháp đặc biệt quan tâm Công việc điều tra, nghiên cứu, thống kê về mỏ của người Pháp trên đất Đông Dương nói chung, ở Bắc Kỳ nói riêng đã diễn ra liên tục và kéo dài từ cuối thế kỷ XIX cho mãi đến những năm 30 thế kỷ XX Quá trình thăm dò, tìm kiếm các nguồn tài nguyên ở Đông Dương nói chung,
ở Bắc Kỳ nói riêng mặc dù đã được tiến hành từ đầu những năm 70 của thế kỷ XIX nhưng về
cơ bản được đẩy mạnh sau khi sau khi Hòa ước Harmand và Hòa ước Patenotre được ký kết
4.1.2 Các chính sách chiếm dụng mỏ
Sau khi tiến hành thăm dò và thực hiện các chính sách chiếm dụng mỏ ở Việt Nam, người Pháp ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động này trên toàn xứ Đông Dương cũng như đặc thù từng khu vực Sau khi hủy bỏ các bản Hợp đồng được ký giữa triều đình Huế
và Bavier Chauffour về việc bán có thời hạn 100 năm các mỏ than Kế Bào và Hòn Gấc vào năm
1884 và trực tiếp ký với chủ mỏ này bằng các văn bản khác, người Pháp buộc nhà Nguyễn phải
ký với Pháp một Công ước về mỏ vào ngày 18/2/1885, xác nhận sự chuyển giao bước đầu quyền quản lý mỏ ở Bắc và Trung Kỳ từ tay triều đình Huế sang tay chính quyền thực dân Công ước này cũng đồng thời là văn bản mở đường cho việc Pháp thiết lập một quy chế mỏ ở Đông Dương từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX cũng giống như Pháp đã thực hiện công việc này trên tất cả các xứ thuộc địa khác Theo thống kê, từ năm 1888 đến 1945, đã có hơn 90 văn bản liên quan đến việc quản lý mỏ ở Đông Dương và các xứ
4.1.3 Thành lập các cơ quan chuyên trách về mỏ
Nhằm đẩy mạnh hoạt động khai thác mỏ ở Đông Dương, người Pháp đã thực hiện nhiều biện pháp về hành chính, tài chính và pháp lý Về hành chính, người Pháp chủ trương thành lập một
cơ quan chuyên trách về mỏ với nhiệm vụ trợ giúp chính quyền thuộc địa trong việc đề ra quy chế mỏ, tiến hành thăm dò, cấp nhượng và quản lý việc khai thác mỏ Cơ quan quản lý mỏ và những bộ phận hỗ trợ cho hoạt động của cơ quan này đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành khai thác mỏ ở Đông Dương
4.2 Hoạt động khai mỏ của người Pháp ở Bắc Kỳ (1897-1919)
4.2.1 Khai mỏ trong Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp
Đầu thế kỷ XX, nhu cầu về nguyên liệu (c ao su) hay nhiên liệu (than đá) của nước Pháp càng tăng cao nhằm phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa Cao su và than đá cũng là những ngành công nghiệp mang lợi nhuận cao cho người Pháp, và người Pháp có thể khai thác nguồn tài nguyên này ngay tại xứ Đông Dương thuộc địa Đó là những lý do cơ bản mà từ người Pháp
đã tiến hành đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) với quy mô lớn ở Đông Dương, trong đó ngành công nghiệp khai mỏ chiếm vị trí quan trọng thứ nhất trong đợt khai thác thuộc địa này Ngày 22/3/1897, Toàn quyền Đông Dương đã đưa ra “chương trình hành động”, được
Trang 10trình bày trong lá thư gửi Bộ trưởng Thuộc địa Pháp đề ngày 22/3/1897 với nội dung gồm 7 điểm Đây cũng chính là cốt lõi của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất mà Paul Doumer là người khởi động
4.2.2 Khai thác các mỏ than
Giai đoạn này, sản lượng than của Bắc Kỳ chiếm khoảng ba phần tư sản lượng khai thác than hàng năm của Đông Dương Mặc dù than đã được khai thác trước đây dưới triều Nguyễn cộng với sự tham gia của người Hoa nhưng sự khác biệt về trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến cộng với phương thức quản lý hiện đại của người Pháp đã tạo ra bước ngoặt cho ngành khai thác than ở Bắc Kỳ Ngành khai thác than Bắc Kỳ có xu hướng phát triển tăng dần trong khoảng vài thập kỷ đầu tiên, tính từ cuối thế kỷ XIX Trong các ngành khai thác mỏ, than đá trở thành nguồn hàng có sản lượng cao, đem lai giá trị xuất khẩu đáng kể Như mỏ than Kế Bào, sản lượng của năm 1906 đã tăng gần gấp 3 lần năm 1903, trong đó tiêu thụ tăng gấp 3 lần Tính trên bình diện Đông Dương, từ giữa năm 1913 và 1928, sản lượng than đã tăng 4 lần; từ giữa những năm
1900 và 1929, sản lượng than đã tăng 9 lần về giá trị
4.2.3 Khai thác các mỏ kim loại
Trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ XX, hoạt động khai thác các
mỏ kim loại chủ yếu tập trung ở miền Bắc Kỳ Hoạt động khai thác mỏ kim loại bắt đầu vào năm
1904 khi quặng thiếc và vonfram đã được phát hiện lại trong dãy núi Pia Oac thuộc phạm vi Bắc
Kỳ Suốt thòi kỳ giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới, sản phẩm mỏ đứng hàng thứ tư trong xuất khẩu Đông Dương, chiếm từ 4 đến 8% tổng số giá trị xuất khẩu của Đông Dương
4.2.4 Tình hình đầu tư vốn và kỹ nghệ
Khi người Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Đông Dương thì sự phát triển của công nghiệp khai mỏ của Đông Dương đã phát triển với tốc độ nhanh hơn sự phát triển chung của nền kinh tế cả nước Giai đoạn 1888-1919, phần lớn than được khai thác bằng phương pháp thủ công, chủ yếu là bằng sức người Việc cơ giới hóa ngành mỏ chỉ được phổ biến sau những năm 20 đầu thế kỷ XX Trong các hầm mỏ, mái chống thường là gỗ, về sau các thanh chống bằng thép hỗ trợ việc chống hầm lò đã phổ biến nhiều hơn trong một vài mỏ
4.2.5 Tình hình nhân công
Nhân công trong ngành khai mỏ của Đông Dương sử dụng khoảng 0,5% nhân công lao động của đất nước Đầu thế kỷ XX, các mỏ ở Đông Dương đã sử dụng 270 kỹ thuật viên lành nghề và các nhà quản lý người châu Âu, và 49.200 người châu Á Khoảng ba phần tư trong số này là làm việc trong ngành khai thác than Theo quy định, tỷ lệ tối đa của của người nước ngoài bao gồm cả người Pháp có thể được sử dụng là 10% trong tổng số nhân công lao động trong ngành than và 5% trong tất cả các mỏ khác Những người Hoa ban đầu được sử dụng nhiều nhất trong các mỏ bởi họ có sức khỏe, kinh nghiệm và kỹ năng tốt hơn Tuy nhiên, trong những năm sau này, người Việt đã thay thế người Hoa (đến những năm 30 của thế kỷ XX, nhân công người Việt
đã chiếm 90% lao động trong các mỏ
4.2.6 Tình hình tiêu thụ than và kim loại
Với chính sách gia tăng hàm lượng hàng hóa xuất khẩu của chính quyền thực dân, toàn bộ sản lượng khoáng sản kim loại khai thác tại Đông Dương đã được xuất khẩu Cho đến năm 1914, quặng thiếc Đông Dương đã được xuất khẩu sang Singapore, trong khi quặng kẽm thì được xuất khẩu sang châu Âu với bạn hàng nhập khẩu chính là Đức Trong thời gian diễn ra chiến tranh Thế giới thứ nhất, khi thị trường châu Âu bị phong tỏa, quặng kim loại Đông Dương đã tìm cách tiêu thụ tại thị trường Viễn Đông bởi lúc này ngành công nghiệp Nhật Bản đang gia tăng nhập nguyên, nhiên liệu, trong đó có quặng kim loại của Đông Dương nhằm phục vụ nhu cầu phát triển của mình