1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay

111 1,1K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Phạm Thị Thuỳ Dương
Người hướng dẫn TS Trần Viết Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lí luận và PPDH bộ môn Giáo dục Chính trị
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện tốt sứ mệnh “nâng cao dân trí,phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triểnđất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam”, cùng với sự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM THỊ THUỲ DƯƠNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TRUYỀN

THỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

(QUA KHẢO SÁT TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ANH SƠN 2, HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

NGHỆ AN, 10 / 2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TRUYỀN

THỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

(QUA KHẢO SÁT TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ANH SƠN 2, HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN)

Chuyên ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Giáo dục Chính trị

Mã số: 601410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Viết Quang

Trang 3

NGHỆ AN, 10 / 2012

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôicòn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, nhiệt tình của các thầy, cô giáo khoa Giáodục Chính trị, khoa Sau Đại học, Trường Đại học Vinh; Đặc biệt tôi xin bày tỏlòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo TS.Trần Viết Quang - người trực tiếp hướngdẫn khoa học; tôi xin chân thành cảm ơn TrườngTHPT Anh Sơn 2; UBNDhuyện Anh Sơn và tất cả các bạn đồng môn, người thân đã động viên, giúp đỡ

và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn

Mặt dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng công trình không thể tránh khỏinhững hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và cácbạn để công trình được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 10 năm 2012

Tác giả

Phạm Thị Thuỳ Dương

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 8Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNGCAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINHTRUNG HỌC PHỔ THÔNG 81.1 Cơ sở lý luận của việc giáo dục truyền thống cho học sinh trung họcphổ thông 81.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 81.1.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống cho học sinhtrung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay 111.2 Thực trạng giáo dục truyền thống cho học sinh trường THPT AnhSơn 2, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An 401.2.1 Khái quát về trường THPT Anh Sơn 2, huyện Anh Sơn, tỉnhNghệ An 401.2.2 Tình hình giáo dục truyền thống cho học sinh trường THPT AnhSơn 2, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An 41Kết luận chương 1 50Chương 2 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁODỤC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ 52THÔNG ANH SƠN 2, HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN TRONG 52GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 522.1 Quan điểm về giáo dục truyền thống cho học sinh trung học phổ thông 522.1.1 Quán triệt quan điểm của Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về giáo dục truyền thống cho học sinh 52

Trang 6

2.1.2 Giáo dục truyền thống cho học sinh gắn với mục tiêu giáo dục toàn diện

trong nhà trường phổ thông 62

2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống cho học sinh trường THPT Anh Sơn 2, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An 65

2.2.1 Giáo dục truyền thống thông qua dạy học trong nhà trường 65

2.2.2 Giáo dục truyền thống thông qua các hoạt động xã hội 68

2.2.3 Giáo dục truyền thống thông qua việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 72

2.2.4 Kết hợp giữa gia đình, nhà trường với các tổ chức chính trị xã hội trong giáo dục truyền thống cho học sinh 78

2.2.5 Giáo dục truyền thống thông qua đánh giá kết quả rèn luyện và phát huy tính tự giác, tích cực của học sinh 82

2.2.6 Tăng cường điều kiện vật chất cho công tác giáo dục truyền thống cho học sinh 86

Kết luận chương 2 88

C KẾT LUẬN 89

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

E PHỤ LỤC

Trang 7

KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 CNXH: Chủ nghĩa xã hội

2 CNH, HĐH: Công Chủ nghiệp hoá, hiện đại hoá

3 ĐH, CĐ: Đại học, cao đẳng

4 GDCD: Giáo dục công dân

5 GDTT: Giáo dục truyền thống

6 GD&ĐT: Giáo dục và đào tạo

7 THPT: Trung học phổ thông

8 XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thư gửi ngành giáo dục nhân dịp khai giảng năm học mới nămhọc 2011 - 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh: Năm học 2011

- 2012 có ý nghĩa rất quan trọng là năm học đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ XI Để thực hiện tốt sứ mệnh “nâng cao dân trí,phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triểnđất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam”, cùng với sự gópsức của toàn xã hội, yêu cầu ngành giáo dục cần đổi mới căn bản, toàn diện;đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cảcác cấp, bậc học; đẩy mạnh thi đua “dạy tốt, học tốt”; nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện; đặc biệt, coi trọng giáo dục truyền thống lịch sử, đạo đức,lối sống, v.v

Công tác giáo dục truyền thống (GDTT) là một phần không thể thiếu đểhình thành và phát triển đạo đức, nhân cách của học sinh Trong bối cảnh đấtnước đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc GDTT dân tộc cho họcsinh càng có ý nghĩa quan trọng

Thanh niên, học sinh là bộ phận quan trọng của dân tộc, là lực lượngxung kích và sáng tạo của cách mạng, là lực lượng dự bị chiến đấu của Đảng,nên cần được chuẩn bị tốt về mọi mặt GDTT cho thế hệ trẻ luôn là mộtnhiệm vụ quan trọng của các thế hệ cha anh, của Đảng Cộng sản Việt Nam,của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh GDTT cho thanh niên nhằmmục đích giúp thanh niên hiểu biết sâu sắc quá khứ gian khổ, đau thươngnhưng anh dũng và vinh quang của dân tộc, của Đảng để thanh niên tự hào,tin tưởng, nhận rõ giá trị của cuộc sống hiện tại, nâng cao tinh thần yêu nước

xã hội chủ nghĩa (XHCN) và tinh thần quốc tế chân chính, xây dựng thái độlao động mới, ý thức tự lực tự cường, có trách nhiệm với xã hội, với tương lai

Trang 9

của dân tộc, tiếp tục sự nghiệp của các thế hệ cha anh đi trước, xây dựngthành công chủ nghĩa xã hội (CNXH) và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN Đặt trong xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá thì công tác GDTT càngtrở nên cấp thiết và có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển bền vững của mỗiquốc gia Thực tế cho thấy, những quốc gia phát triển bền vững trước hết lànhững quốc gia có nền kinh tế phát triển, trên cơ sở nền móng của một nềnvăn hoá được gìn giữ và phát huy tốt nhất bản sắc của dân tộc mình Trongthời đại ngày nay, tư tưởng trên càng có ý nghĩa to lớn khi mà nguồn gốc của

sự giàu có và phát triển của một đất nước không chỉ là tài nguyên, vốn, kỹthuật mà yếu tố ngày càng trở nên quyết định chính là nguồn lực con người.Cũng có nghĩa là, trong thời kỳ hội nhập các giá trị truyền thống trở thành

“thẻ thông hành, chứng minh thư” để giúp cho các dân tộc có thể hoà nhập

mà không bị hoà tan

Thanh niên, học sinh là tương lai của đất nước, là một trong nhữngnhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa(CNH, HĐH), hội nhập quốc tế Thanh niên, học sinh được đặt ở vị trí trungtâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nguồn lực con người Mặc khác,trong xu thế hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường định hướngXHCN ở nước ta hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực vẫn tồn tại nhiều hạnchế, tiêu cực: đó là lối sống thực dụng, chạy theo “đồng tiền”; là tình trạngsuy thoái đạo đức, tha hóa nhân cách… của không ít người trong xã hội Làlứa tuổi mới lớn, học sinh trung học phổ thông (THPT) chịu tác động trực tiếpcủa xã hội nên không nằm ngoài “dòng chảy” đó Trong thời gian gần đây,một bộ phận không nhỏ học sinh đạo đức xuống cấp một cách đáng báo động,

có thái độ thờ ơ với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Do vậy, công tácGDTT có vai trò rất quan trọng đối với việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàndiện trong các nhà trường

Trang 10

Anh Sơn là một vùng đất giàu truyền thống của tỉnh Nghệ An Lớp lớpcon cháu Anh Sơn, từ đời này qua đời khác luôn ý thức rõ việc giữ gìn và pháthuy truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước Tuy vậy, trong thời gian gầnđây, một bộ phận không nhỏ học sinh Anh Sơn có tư tưởng lơ là thậm chíkhông quan tâm đến việc học tâp những giá trị truyền thống Nội dung, phươngthức GDTT trong các trường phổ thông có những hạn chế, bất cập

Với những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay” (qua khảo sát tại Trường THPT Anh Sơn 2, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An)

làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề về truyền thống, GDTT cho học sinh, sinh viên luôn thu hút sựquan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, cũng như các nhà nghiêncứu Vì vậy, đã có nhiều văn bản, nghị quyết, các công trình nghiên cứu đềcập đến vấn đề này từ những góc độ khác nhau

- Nhóm các vấn đề về truyền thống và giáo dục truyền thống:

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc GDTT cho thế hệ trẻ, Đảng vàNhà nước ta luôn quan tâm đúng mức về vấn đề này Có thể nhận thấy điều

ấy trong các Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản ViệtNam; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH Bộ

GD&ĐT, Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam,

HN, 2008 Lịch sử Đảng Bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Huyện Anh Sơn, Nxb

Nghệ An 2003, 2008 Tiếp đến là những công trình nghiên cứu của các nhà

khoa học, các nhà nghiên cứu ở nước ta cũng đã đi sâu phân tích, tìm hiểu vềnhững giá trị truyền thống của dân tộc, quan hệ giữa truyền thống và hiện đại,

GDTT trong bối cảnh hiện nay được thể hiện trong các tác phẩm: “Vấn đề

khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển” của GS Nguyễn

Trang 11

Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học, số 2/1998; “Giá trị truyền thống - nhân lõi

và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc” của PGS Nguyễn

Văn Huyên, Tạp chí Triết học, số 4/1998; “Về truyền thống dân tộc” của GS Trần Quốc Vượng, Tạp chí Cộng sản, số 2/1982; “Hồ Chí Minh với văn hoá

truyền thống và tiếp xúc văn hoá Đông - Tây” của Phan Văn Các, Tạp chí

Cộng sản, số 13/1996; “Văn hoá chính trị Việt Nam, truyền thống và hiện

đại” của GS Nguyễn Hồng Phong, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1998.

“Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” của Trần Văn Giàu,

Nxb Khoa học xã hội, HN 1990 đã đề cập đến nhiều khía cạnh của đạo đứccũng như mối quan hệ giữa đạo đức với tồn tại xã hội và các giá trị truyền

thống của dân tộc; “Đến hiện đại từ truyền thống” của Trần Đình Hượu, Nxb Văn hoá HN, 1996; “Đạo đức mới” của GS Vũ Khiêu, Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội, 1974; Nguyễn Lương Bằng, “Kết hợp truyền thống và hiện đại trong

quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sỹ

Triết học, HN 2001 Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 7, Nxb Chính Trị QG, HN

1996 Trần Đình Sử, “Truyền thống dân tộc và tính hiện đại của truyền

thống” Tạp chí Cộng Sản, số 15/1996 Vũ Minh Giang, Phan Huy Lê, (chủ

biên), “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay”, tập 2, Hà Nội, 1996 Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), “giá trị

truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá”, Nxb Chính Trị QG,

HN, 2002 GS Nguyễn Hồng Phong,“Tìm hiểu tính cách dân tộc”, Nxb Khoa học HN 1963 GS Phan Đình Diệu, “Đừng quay lưng với những giá trị

truyền thống” Góp ý dự thảo chiến lược phát triển GD 2009 - 2020 Chu

Trọng Huyến Đất Nghệ đôi điều nên biết, Nxb Nghệ An 2005

- Nhóm các vấn đề về giáo dục truyền thống cho học sinh, sinh viên:

Nhận thức rõ Công tác GDTT là một phần không thể thiếu để hìnhthành và phát triển đạo đức, nhân cách của học sinh, sinh viên Trong bối

Trang 12

cảnh đất nước đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc GDTT dântộc cho học sinh, sinh viên càng có ý nghĩa quan trọng Vì vậy, đã có nhiềutác giả nghiên cứu về vấn đề GDTT cho học sinh, sinh viên như: Hồ Chí

Minh Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh Niên, HN 1980 Đoàn Minh Duệ (chủ biên), “Những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục truyền

thống cho thanh, thiếu niên tỉnh Nghệ An” Nxb Nghệ An 2004 Lương

Ngọc “Giáo dục truyền thống cho thanh niên”, Nxb Thanh niên, HN 1992.

“Kế thừa một số giá trị truyền thống của dân tộc trong việc giáo dục thế

hệ trẻ việt nam hiện nay” của Nguyễn Thị Tuất Tài liệu bồi dưỡng thường

xuyên GV THPT chu kì 3 Bộ GD&ĐT; Tuổi trẻ Nghệ An, số 1-2007 Võ

thế Anh (2010) “Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS trung học

phổ thông huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong điều kiện phát triển KTTT” Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, trường Đại Học Vinh Nguyễn

Văn Dương (2010) Phát huy các giá trị truyền thống cho đội ngũ cán bộ

xã ở tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay Luận văn thạc sĩ khoa học

giáo dục, trường Đại Học Vinh Nguyễn Thị Nguyệt (2010) Giáo dục các

giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cho sinh viên Trường Cao đẳng văn hóa Nghệ thuật Nghệ An thông qua các hoạt động ngoại khóa Luận văn

thạc sĩ khoa học giáo dục, trường Đại Học Vinh

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu, những bài viết trên đây có ýnghĩa quan trọng đối với công tác GDTT nói chung và GDTT cho học sinh,sinh viên Tuy nhiên, vấn đề GDTT cho học sinh Trường THPT Anh Sơn 2,huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An cho đến nay chưa có một công trình nàonghiên cứu Các kết quả nghiên cứu trên là những cơ sở lý luận rất cần thiết

để tác giả thực hiện đề tài luận văn của mình

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích

Đề tài làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng GDTT cho học sinh TrườngTHPT Anh Sơn 2, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất các giải phápnhằm nâng cao hiệu quả GDTT cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụchủ yếu sau:

Thứ nhất: Phân tích tính tất yếu của việc nâng cao hiệu quả GDTT cho

học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay

Thứ hai: Điều tra, khảo sát thực trạng công tác GDTT cho học sinh tại

Trường THPT Anh Sơn 2, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An những năm gần đây

Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả

GDTT cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Ăngghen, quanđiểm của Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam những vấn

đề về truyền thống, GDTT

- Đề tài sử dụng các phương pháp các phương pháp chủ yếu như: phântích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc, thống kê, điều tra xã hội học, v.v

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu vấn đề truyền thống, GDTT cho đối tượng là họcsinh THPT trong giai đoạn hiện nay

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 14

Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, đề tài chỉ tập trung nghiên cứuvấn đề GDTT cho học sinh THPT trên địa bàn cụ thể là Trường THPT AnhSơn 2, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.

Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu một số giá trị truyền thống nổi bật,

có tác động sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm và đạo đức của học sinh THPTnhư: truyền thống yêu nước; truyền thống đoàn kết; truyền thống nhân ái,nhân nghĩa; truyền thống cần cù, sáng tạo

6 Giả thuyết khoa học

Việc luận giải một cách có căn cứ khoa học và thực tiễn vấn đề GDTTcho học sinh THPT, các quan điểm và các giải pháp mà luận văn đưa ra, nếuđược nhận thức và vận dụng hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả GDTT cho học sinhcác trường THPT trong giai đoạn hiện nay

7 Đóng góp của đề tài

Với kết quả đạt được, luận văn có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thựctiễn, góp phần quan trọng vào quá trình GDTT, giáo dục chính trị, tư tưởng,đạo đức, lối sống cho học sinh phổ thông trong giai đoạn hiện nay Đề tài làtài liệu tham khảo thiết thực trong công tác GDTT cho học sinh trong cáctrường phổ thông

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

đề tài gồm có 2 chương và 4 tiết

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU

QUẢ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.

Chương 2 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ANH SƠN 2, HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.

Trang 15

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1.1 Khái niệm truyền thống

Từ trước đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về truyền thống, đượcnhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau

Trong “Hệ tư tưởng Đức”, C Mác và Ph Ăngghen viết: “Lịch sử chẳngqua chỉ là nối tiếp của những thế hệ riêng rẽ, trong đó mỗi thế hệ đều khaithác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất cả các thế

hệ trước để lại, do đó, mỗi thế hệ một mặt tiếp tục phương thức hoạt độngđược truyền lại, nhưng trong mỗi hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi, và mặtkhác lại biến đổi những hoàn cảnh cũ một hoạt động hoàn toàn thay đổi” (6,48) Mặc dù chưa đưa ra được một định nghĩa có tính chất kinh điển về truyềnthống, nhưng C Mác và Ph Ăngghen cũng đã thể hiện tư tưởng cơ bản vềkhái niệm truyền thống

Trong Từ điển Tiếng Việt, truyền thống được giải thích là “đức tính,tập quán, tư tưởng, lối sống được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”(32, 812)

Giáo sư Vũ Khiêu thì cho rằng: “Truyền thống là những thói quen lâuđời, đã được hình thành trong nếp sống, nếp suy nghĩ và hành động của mộtdân tộc, một dòng họ, một làng xã, một tập đoàn lịch sử” (22, 14)

Trang 16

Còn Giáo sư Trần Quốc Vượng khi nghiên cứu truyền thống dân tộc đã

đi đến kết luận: “Truyền thống như là một hệ thống tính cách, các thế ứng xửcủa một tập thể (một cộng đồng), được hình thành trong lịch sử, trong mộtmôi trường tự nhiên và nhân văn nhất định, trở nên ổn định, có thể được địnhchế hoá bằng luật hay bằng lệ, và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệkhác, để đảm bảo tính đồng nhất của một cộng đồng” (34, 28-29)

Khi nghiên cứu về “Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mụctiêu phát triển”, GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng: “Nói đến truyềnthống là nói đến phức hợp những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen,những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí… của một cộng đồng người

đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác” (7, 16)

Nghiên cứu về “Truyền thống dân tộc và tính hiện đại của truyềnthống”, GS.TS Trần Đình Sử cho rằng: “Truyền thống là mối liên hệ của lịch

sử, mà một đầu là những giá trị tư tưởng, văn hoá được sáng tạo trong quákhứ lịch sử dân tộc và một đầu là sự thẩm định, xác lập và phát huy của ngườihiện đại” (29, 45)

Tiếp cận truyền thống dưới góc độ Triết học, trong Luận án tiến sĩTriết học “Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáodục đào tạo ở Việt Nam hiện nay” TS Nguyễn Lương Bằng đưa ra địnhnghĩa: “Truyền thống là một khái niệm, dùng để chỉ những hiện tượng nhưtính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, thói quen trong tư duy, tâm lý, lốiứng xử… được hình thành trên cơ sở những điều kiện tự nhiên - địa lý,kinh tế - xã hội cũng như hoạt động của con người trong quá trình lịch sử

và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một cộng đồngngười nhất định” (4, 17-18)

Trang 17

Thực tế cho thấy, có nhiều cách hiểu khác nhau về truyền thống và tuỳtheo mục đích nghiên cứu của mình mà các tác giả đã đưa ra các cách tiếp cận

về truyền thống Và từ các cách hiểu trên về truyền thống, có thể nêu lênnhững đặc trưng cơ bản của truyền thống là: tính tập thể, cộng đồng; lịch sử;tương đối ổn định nhưng không vĩnh cửu; có tính năng động; có thể học được

và truyền lại được

Truyền thống là sản phẩm của cả cộng đồng, là cái tương đối ổn định vàbền vững nhưng ít biến đổi, tuy vậy không có nghĩa truyền thống là cái bất biến,vĩnh hằng, mà có sự vận động, biến đổi và phát triển

Truyền thống có một số đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, truyền thống là những giá trị tinh thần, tư tưởng, tâm lý, tập

quán, thói quen… thường là những giá trị tinh thần tốt có tác dụng củng cố,phát triển quan hệ xã hội, tạo ra sức mạnh cho con người vượt qua mọi khókhăn trong hiện tại để phát triển xã hội và hoàn thiện nhân cách trong tương lai

Thứ hai, truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng

người (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, dòng họ, gia đình, làng xã…) là bản sắccủa các cộng đồng người

Thứ ba, truyền thống được hình thành trong lịch sử do tác động của

môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý, do tác động của quá trình lao độngsản xuất và kết cấu kinh tế - xã hội, tác động thường xuyên của lịch sử, tácđộng của môi trường văn hoá khu vực và trên thế giới

Thứ tư, truyền thống được nhiều người thừa nhận là những giá trị tốt

đẹp cần giữ gìn, phát triển, được mọi người thực hiện như yêu cầu tất yếu và

có tính kế thừa từ lớp người trước sang lớp người sau, nó ăn sâu vào tâm lý,vào phong tục, tập quán, nếp nghĩ… của con người

Trang 18

Từ những cách hiểu, những định nghĩa khác nhau về truyền thống, chúng

ta có thể hiểu: Truyền thống là một hệ thống các tính cách, các phép ứng xửcủa một tập thể được hình thành, biến đổi và phát triển trong lịch sử, được kếttinh, tích luỹ lại và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, chi phốisuy nghĩ và hành động của con người ở hiện tại và tương lai

1.1.1.2 Khái niệm giáo dục truyền thống

GDTT là một bộ phận của quá trình xã hội hoá con người, trong đó cáclực lượng xã hội sử dụng các thói quen trong lối sống và nếp nghĩ của cộngđồng người như một phương tiện giáo dục tác động tích cực lên đối tượngnhằm góp phần phát triển hoàn thiện nhân cách của họ

Nhân cách con người hình thành và phát triển chủ yếu trong lứa tuổi họcsinh và tương đối hoàn hoàn chỉnh ở lớp cuối THPT Nói cách khác, giáo dụcnhà trường nói chung, GDTT trong nhà trường nói riêng có ý nghĩa hết sứcquan trọng đối với việc phát triển và hoàn thiện nhân cách con người Bởi vì,giáo dục là gì nếu không phải nhằm mang lại cho đối tượng những kiến thức,

kỹ năng, kinh nghiệm ứng xử đối với tự nhiên, xã hội, con người, tạo lập nơi

họ tình cảm, thái độ và thói quen đúng đắn, tích cực? Tất cả kiến thức, kỹnăng và kinh nghiệm đó phải được tích luỹ, sàng lọc trong một thời gian dài,

do cộng đồng người đúc rút, thử nghiệm qua thực tiễn Như vậy, hiển nhiênbản thân quá trình giáo dục đã là quá trình tiếp thu hệ thống giá trị mang tínhtruyền thống

1.1.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay

1.1.2.1 Những truyền thống cần được giáo dục cho học sinh THPT

Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một đất nước có 54 dân tộc anh em Vìthế, dân tộc Việt Nam là dân tộc có nhiều truyền thống, trong đó yêu nước làtruyền thống nổi bật nhất mà bất kỳ ai cũng phải thừa nhận Các giá trị tinh thần

Trang 19

truyền thống của người Việt phong phú và đa dạng Nó được hình thành vàphát triển trong điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng, truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nambao gồm: Lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo,tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người.

Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định, các giá trị truyền thống đạo đức củadân tộc Việt Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan,thương người, vì nghĩa

Trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước cũng đã khẳng định: Nhữnggiá trị văn hoá truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nướcnồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý thương người như thể thương thânđức tính cần cù…

- Truyền thống yêu nước

Trong kho tàng truyền thống phong phú và quý báu của dân tộc ta, truyềnthống yêu nước là truyền thống quan trọng nhất, truyền thống hàng đầu có giátrị cao nhất, “Nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đạiđến hiện đại” (18, 100)

Hệ thống các giá trị truyền thống Việt Nam đã được hình thành trongsuốt hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, trong sự giaolưu, tiếp thu, cải biến, chọn lọc những giá trị văn hoá của các dân tộc khác.Tuy vậy, cái cốt lõi trong hệ thống các giá trị truyền thống Việt Nam hoàntoàn bắt nguồn từ nền tảng của dân tộc, từ truyền thống hàng nghìn năm kiêntrì chịu đựng gian khổ, khó khăn và vượt qua một cách oanh liệt các tác độngkhắc nghiệt khác nhau của tự nhiên và xã hội Trong số những truyền thống

vô cùng quý giá của dân tộc thì nổi trội hơn cả là truyền thống yêu nước, tinhthần dân tộc, ý chí tự lập tự cường

Trang 20

Dĩ nhiên, bất cứ một dân tộc nào trên hành tinh này cũng đều có lòngyêu nước của họ Lòng yêu nước đó tuy một phần là tình cảm rất tự nhiên,nhưng mặt khác quan trọng hơn, nó chính là sản phẩm của lịch sử, được hunđúc bởi chính lịch sử của dân tộc Cùng với sự tiến triển của lịch sử ViệtNam, tinh thần yêu nước Việt Nam trở thành chủ nghĩa yêu nước, trở thànhmột giá trị, một động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ thúc đẩy biết bao nhiêuthế hệ kiên cường và dũng cảm hi sinh để giành lại và bảo vệ độc lập của Tổquốc, bảo vệ những phẩm giá của chính con người.

Tinh thần yêu nước là giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dântộc Việt Nam ta Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: tình cảm và tư tưởng yêu nước làtình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam và chủ nghĩayêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại

Ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy đủ và tập trung nhất, hơn bất cứ chỗ nàokhác Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam Tinh thần yêu nước là nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xãhội mà nội dung của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quákhứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc Thực ra,trên thế giới, mỗi quốc gia, dân tộc đều có tình yêu đất nước, nhưng bản sắc,

sự hình thành cũng như biểu hiện của nó lại có sự khác nhau Ở Việt Nam,chúng ta có thể thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhấtcủa dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thangbậc giá trị truyền thống, và là hằng số trong mỗi người Việt Nam, là tiêu điểmcủa mọi tiêu điểm Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trênlợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữ gìn

và phát triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân tộc…

Tinh thần yêu nước Việt Nam được bắt nguồn từ những tình cảm bình

dị, đơn sơ của mỗi người dân Tình cảm đó, mới đầu, chỉ là sự quan tâm đến

Trang 21

những người thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển cao thànhtình yêu Tổ quốc Tình yêu đất nước không phải là tình cảm bẩm sinh, mà làsản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền với một đất nước nhất định.

Tình yêu đất nước không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất nước,

nó còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đất nước Trên thế giới,hầu như dân tộc nào cũng phải trải qua quá trình bảo vệ đất nước, chống xâmlăng Nhưng có lẽ không có một dân tộc nào lại phải chịu nhiều cuộc chiếntranh với những kẻ thù lớn mạnh hơn rất nhiều như ở Việt Nam Chính tinhthần yêu nước nồng nàn đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiếnthắng mọi thế lực xâm lược Qua những cuộc chiến đấu trường kỳ đầy giankhổ đó, chủ nghĩa yêu nước trở thành dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam,trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh trong tâm hồn Việt Nam

Yêu nước là tình cảm và tư tưởng phổ biến, vốn có ở tất cả các dân tộctrên thế giới chứ không riêng gì của dân tộc Việt Nam Song, tư tưởng ấy đượchình thành sớm hay muộn, đậm hay nhạt, nội dung cụ thể, hình thức và mức độbiểu hiện cũng như chiều hướng phát triển của nó lại tuỳ thuộc vào điều kiệnlịch sử đặc thù của từng dân tộc Đối với dân tộc Việt Nam, lòng yêu nướckhông chỉ là một tình cảm tự nhiên, mà nó còn là sản phẩm của lịch sử đượchun đúc từ chính lịch sử đau thương mà hào hùng của dân tộc Việt Nam

Lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nan là lịch sử đất tranh giànhlại và bảo vệ nền độc lập từ tay kẻ thù xâm lược Chính vì vậy mà tinh thầnyêu nước đã ngầm sâu vào tình cảm, vào tư tưởng của mỗi người dân ViệtNam qua tất cả các thời đại, làm nên một sức mạnh kỳ diệu, giúp cho dân tộc

ta đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác cho dù chúng có hùng mạnh đếnđâu Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: Dân ta có một lòngnồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay,mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn

Trang 22

sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nónhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.

Hình thành từ sớm, lại được thử thách, khẳng định qua bao nhiêu thăngtrầm của lịch sử, được bổ sung, phát triển qua từng thời kỳ, theo yêu cầu pháttriển của dân tộc và thời đại, tinh thần yêu nước đó trở thành chủ nghĩa yêunước, trở thành một trong những giá trị truyền thống cao quý nhất, bền vữngnhất của dân tộc ta

Chủ nghĩa yêu nước ngày nay kết hợp hài hòa với Chủ nghĩa Mác Lênin Chủ nghĩa Mác - Lênin đem lại cho chủ nghĩa yêu nước truyền thốngsức mạnh vô địch không những trong cuộc chiến chống ngoại xâm mà còn cảtrong quá trình xây dựng đất nước đi lên CNXH

Ngày nay, truyền thống yêu nước lại được thể hiện sâu sắc trong sựnghiệp xây dựng đất nước, thể hiện ở sự nhất trí, tin tưởng vào đường lối đổimới của Đảng Truyền thống yêu nước ngày nay trở thành động lực của mọingười Việt Nam trong sự nghiệp chiến thắng đói nghèo lạc hậu, quyết tâmxây dựng thành công CNXH, thực hiện đến cùng mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

- Truyền thống đoàn kết

Truyền thống đoàn kết là một giá trị truyền thống mang tính đặc thùcủa dân tộc Việt Nam, là nhân tố cốt lõi trong hệ thống các giá trị truyềnthống của dân tộc mà nhờ đó con người Việt Nam có sức mạnh to lớn trướcmọi thách thức Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết là nhân tố hợp thànhđộng lực thúc đẩy quả trình phát triển của lịch sử dân tộc

Truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ chủ nghĩayêu nước và là biểu hiện sâu sắc của chủ nghĩa yêu nước Truyền thống ấyđược phản ánh rất rõ trong truyền thuyết về ngày đầu mở nước Mẹ Âu Cơ

Trang 23

sinh bọc trăm trứng nở thành trăm con Dù con trai lên rừng, con gái xuốngbiển, thì họ đều chung một nghĩa “Đồng bào” - cùng một bọc mà ra

Như vậy, Người Việt Nam ta dẫu là sắc tộc nào thì cũng từ một bọc mà

ra - cùng một đồng bào, cùng một gốc Người Việt Nam ta dẫu theo tôn giáonào, giai tầng nào đều có chung một Tổ quốc - một đất nước mà tổ tiên để lại.Người Việt Nam ta dẫu ở vùng miền nào, dẫu ở trong nước hay định cư ởnước ngoài đều chung một lòng yêu nước thương nòi, đều chung một ý thức:một giọt máu đào hơn ao nước lã Điểm tương đồng này đã gắn kết mọi ngườiViệt Nam lại bất chấp những khác biệt tạo nên sự thống nhất trong đa dạng Nhờ truyền thống đoàn kết mà biết bao thế hệ người Việt Nam cùngnhau vượt qua những khó khăn, thử thách của tự nhiên và xã hội để phát triểnsản xuất và bảo vệ Tổ quốc

Từ kinh nghiệm thực tế chúng ta đã nhận thức đầy đủ về vai trò củatinh thần đoàn kết : “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứngminh rằng, nếu không đoàn kết được các lực lượng, nếu để cho mầm mốngcủa sự chia rẽ tồn tại thì dù cho sức mạnh vũ khí lớn đến đâu, hiện đại đếnđâu kết quả cuối cùng cũng chỉ là thất bại

Thấy rõ vai trò của đoàn kết, cha ông ta luôn có ý thức chống lại sựchia rẽ mất đoàn kết từ bên ngoài :

“Khôn ngoan đối đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”

Vì vậy, người Việt Nam chọn “trong ấm ngoài êm” như là một thái độsống, một thái độ ứng xử phổ biến trong các mối quan hệ mà từ xa xưa cha

Trang 24

ông ta đã lựa chọn để giữ vững tinh thần đoàn kết Lịch sử dân tộc đã chứngminh cho tinh thần đoàn kết của cha ông ta có sức mạnh to lớn như thế nào.

Có thể nói truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam chứa đựng mộthợp chất văn hoá sâu nặng, một mạch nguồn văn hoá sâu xa mà không phảidân tộc nào trên thế giới cũng có được Truyền thống ấy vừa là nhu cầu, vừa

là mong ước của cha ông ta về sự gắn bó giữa những người cùng dân tộc Việt Truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam được thể hiện rõ nhất làkhi đất nước đứng trước hoạ xâm lăng, nền độc lập của dân tộc bị đe doạ hoặcđứng trước xu hướng cát cứ của các thế lực phong kiến Từ chính sách dùngngười Việt đánh người Việt của các thế lực phong kiến phương Bắc đến chínhsách chia rẽ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã lần lượt bị thất bại trước sứcmạnh đoàn kết của dân tộc ta Thực dân Pháp đã chủ trương dùng chính sách

“Chia để trị”, chia rẽ ba miền Bắc - Trung - Nam, chia rẽ các dân tộc trong đạigia đình các dân tộc Việt Nam, chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân cũng nhưmưu đồ chia cắt hai miền Bắc - Nam lâu dài của đế quốc Mỹ, nhưng tất cả các

âm mưu đó đều thất bại

Truyền thống đoàn kết không chỉ là một điểm tựa, một động lực mạnh

mẽ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc mà còn là động lực trong sự nghiệpxây dựng CNXH ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lý:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”

Trước lúc đi xa, Người vẫn còn trăn trở: “Đoàn kết là một truyền thốngcực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta”, và yêu cầu mỗi cán bộ, Đảng viênphải thấm nhuần tư tưởng “Cần phải giữ gìn sự thống nhất trong Đảng nhưgiữ gìn con ngươi của mắt mình”

Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta ngày càng được giữ gìn và pháthuy đặc biệt trong giai đoan hiện nay, giai đoạn Việt Nam bước vào hội nhập

Trang 25

kinh tế thì truyền thống đoàn kết ấy càng đòi hỏi những nội dung mới, sâu sắc

và quyết liệt không kém giai đoạn đất nước trong những ngày đầu mở cõi haytrong các cuộc chiến tranh giữ nước

Đoàn kết trong Đảng - Đoàn kết toàn dân tộc - Đoàn kết quốc tế đã làmnên một Việt Nam ngày nay và sẽ là làm một Việt Nam của thời hiện đại:Nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh

- Truyền thống nhân ái, nhân nghĩa

Truyền thống nhân ái, nhân nghĩa là sản phẩm tất yếu của lịch sử ViệtNam, được hình thành từ chính cuộc sống của người Việt và được phát triển theo

sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam

Lòng nhân ái Việt Nam trước hết là lòng thương yêu lẫn nhau giữangười với người dù họ là ai, có địa vị xã hội như thế nào; là sự giúp đỡ lẫnnhau, cùng nhau hướng tới tương lai ngày càng tốt đẹp và phải được hiện thựchoá trong đời sống hàng ngày theo kiểu: “Lá lành đùm lá rách”, “chị ngã emnâng”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”…

Lòng nhân ái này đã thấm sâu trong các quan hệ từ trong gia đình đếnxóm làng, cộng đồng xã hội Một trong những nội dung nhân ái của ngườiViệt là chữ “tình” Bác Hồ cũng từng kêu gọi mọi người “đối xử với nhauphải có tình, có nghĩa” Có lẽ, quan điểm này đã trở thành nhân sinh quanchung trong cuộc sống người dân Việt Thật vậy, trong đời sống vợ chồng,người Việt quý trọng “tình nghĩa” hơn “lễ nghĩa” Nghĩa là cái sâu sắc trongtình cảm ở đời Tình cảm ấy có vai trò rất quan trọng Nó có thể là một “quantoà” lương tâm để xét xử những mối bất hoà trong quan hệ vợ chồng hay quan

hệ khác; có những trường hợp, một số cặp vợ chồng không còn tình cảm sâuđậm hay thương yêu nhau do bất hoà vấn đề gì đó trong quan hệ, nhưng họvẫn sống chung với nhau; vì nghĩa mà vợ chồng sống với nhau đến thuở đầu

Trang 26

bạc, răng long Điều này lý giải tại sao đời sống vợ chồng của người Việt lại

có điểm khác so với người phương Tây Người Việt Nam hay nói đến “tìnhsâu, nghĩa nặng”

Nhân ái của người Việt còn biểu hiện trong quan hệ gia đình Cha mẹ

lo cho con khi còn nhỏ, con cái có trách nhiệm lo cho cha mẹ khi già yếu,bệnh tật Anh em trong nhà thì xem “như chân với tay”, “anh thuận, em hoà lànhà có phúc”

Đối với người dưng, lòng nhân ái thể hiện ở việc giúp người nghèokhổ, vượt qua cơn hoạn nạn mà không cần bất kỳ sự trả ơn

Trong quan hệ xóm làng, lòng nhân ái thể hiện ở “chín bỏ làm mười”,

“nhường cơm, xẻ áo”, “lá lành đùm lá rách”, “tối lửa, tắt đèn có nhau”; dùxem xét mọi việc “có lý, có tình” nhưng thực ra, người Việt Nam nặng tìnhhơn lý, nhiều lúc đi đến chỗ duy tình Họ ghét lối sống bạc tình, bạc nghĩa,theo kiểu “ăn cháo, đá bát”

Hồ Chí Minh là một biểu tượng tuyệt vời của lòng nhân ái Ở Hồ ChíMinh, lòng thương người không trừu tượng mà nó biểu hiện cụ thể đối vớinhững cảnh đời nô lệ, bị áp bức, bóc lột Hồ Chí Minh nói: “Một ngày đồngbào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên” Trong Điếuvăn tại Lễ tang của Người, đồng chí Lê Duẩn viết: “Cuộc đời của Hồ Chủ tịchtrong như ánh sáng, đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiêncường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân tha thiết”.Đồng chí Phạm Văn Đồng đã nhận định sâu sắc: “Hồ Chủ tịch rất coi trọng conngười, bởi đó chính là vốn quý nhất” Đồng chí Trường Chinh cũng có nhậnxét: “Một điều nổi bật trong đạo đức Hồ Chủ tịch là lòng thương người” Có lẽ,khi nói về lòng nhân ái của Hồ Chí Minh, chắc hẳn trong chúng ta không ai cóthể quên câu thơ nổi tiếng trong bài thơ “Bác ơi” của nhà thơ Tố Hữu:

“Bác ơi tim Bác mênh mông thế,

Ôm cả non sông mọi kiếp người”

Trang 27

Có thể nói, lòng nhân ái là một giá trị văn hoá lớn của dân tộc ta Nó đãtạo nên một nét độc đáo trong chủ nghĩa nhân văn truyền thống Việt Nam,đúng như Đảng ta đã khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V:

“Thương nước, thương nhà, thương người, thương mình” là truyền thống đậm

đà của nhân dân ta

Trong những năm qua, nền kinh tế thị trường đã thể hiện tính năngđộng, ưu việt của mình so với nền kinh tế vận hành theo cơ chế tập trung quanliêu, bao cấp Điều đáng mừng là tinh thần nhân ái vẫn tiếp tục được nhân dân

ta kế thừa, phát huy và nâng lên một tầm cao mới trong xây dựng lối sống củamình Truyền thống thương người, cởi mở, khoan dung, thấm nhuần tinh thầnlạc quan, tin tưởng vào sự chiến thắng của cái chính nghĩa, cái đẹp trước cáiphi nghĩa, cái xấu, sẵn sàng cưu mang những ai gặp hoạn nạn, khó khăn, bấthạnh đã được các tầng lớp nhân dân phát huy trong thời kỳ đổi mới Thật vậy,giữa sự bề bộn của nền kinh tế thị trường lắm khi xô bồ, nhưng mọi người đềuhăng hái góp sức mình vào các phong trào có ý nghĩa sâu sắc như “Uốngnước nhớ nguồn”, “Xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa”; “Áo lụa tặngbà”, “Tấm chăn nghĩa tình ấm lòng mẹ”, “Phụng dưỡng các bà mẹ Việt Namanh hùng“, “Gây quỹ vì người nghèo”, “Hiến máu nhân đạo”, “Vòng tay nhânái”, “Nối vòng tay lớn”, “Vì nạn nhân ảnh hưởng chất độc màu da cam”,

“Thanh niên tình nguyện phát triển nông thôn” Các phong trào này đã đạtđược những kết quả khả quan Cho đến nay, 100% Bà mẹ Việt Nam Anhhùng được các đơn vị, tổ chức nhận phụng dưỡng đến cuối đời; hàng chụcvạn thân nhân của liệt sĩ được đỡ đầu; toàn dân góp nhiều tỉ đồng, của cải,công sức cứu trợ đồng bào các vùng bị thiên tai, giúp đỡ người già không nơinương tựa, trẻ em gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Một điều đáng quý nữa là, lòng nhân ái của dân tộc ta ngày nay khôngchỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà nó đã vượt ra ngoài biên giới Chúng ta

Trang 28

đã gửi nhiều chuyến hàng, tiền để giúp đỡ những nước bạn gặp khó khăn Đặcbiệt, mới đây, lòng nhân ái của nhân dân ta đã được thể hiện bằng nhữngnghĩa cử rất cao đẹp trong việc ủng hộ tiền của cho người dân các nước bịđộng đất, sóng thần tàn phá khốc liệt.

Tuy vậy, cũng cần nhận thấy rằng, lòng nhân ái trong giai đoạn hiện nay

có biểu hiện suy giảm trong lối sống của không ít cá nhân Dễ thấy nhất có lẽ làlối sống ngoại lai ích kỷ, hẹp hòi, phi nhân tính đang có chiều hướng lấn át lốisống giàu nghĩa tình truyền thống

Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, giao lưu, hội nhập quốc tế được

mở rộng, nhiều cá nhân có được cơ hội thuận lợi để làm ăn, thu nhập tăng lên,nhưng đáng tiếc, trong xã hội lại xuất hiện những hành vi mất tính nhân ái.Tình làng, nghĩa xóm, quan hệ giữa người với người, lòng nhân ái bị mờ nhạtdần đi Sự đùm bọc, cưu mang, giúp đỡ người khó khăn ít được diễn ra từ tìnhcảm chân thật tự đáy lòng

Dân tộc Việt Nam từ ngàn đời nay đã có truyền thống nhân nghĩa baodung Mặc dù phải đối mặt với biết bao gian khó như chiến tranh, thiên tai lũlụt nhưng tấm lòng nhân nghĩa bao dung của người Việt Nam vẫn ngời sáng Trong bài Cáo Bình Ngô, nhà văn hóa, nhà thao lược quân sự, nhàchính trị Nguyễn Trãi đã viết: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn Lấy chí nhânthay cường bạo” Trong suốt chiều dài lịch sử các cuộc kháng chiến chốngngoại xâm của dân tộc ta, tinh thần ấy vẫn xuyên suốt với đạo lý “đánh kẻchạy đi chứ không đánh kẻ chạy lại” Đó là cách ứng xử đối với “thù trong,giặc ngoài”, còn giữa đồng bào với nhau thì người Việt Nam luôn hành xửđúng với câu ca:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Trang 29

Những người từng trải qua các cuộc kháng chiến chống thực dân và đếquốc, ai mà không nhớ hình ảnh bà con mình đùm bọc đi tản cư, sơ tán Tronggian nan giặc giã, người với người vẫn chia sẻ cùng nhau từng ngụm nước,miếng cơm, nhường chỗ ở cho nhau, thậm chí nhận nuôi trẻ cơ nhỡ vẫn làchuyện thường tình Nhà thơ Tố Hữu đã mô tả cuộc sống trong chiến khu: “Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nữa chăn sui đắp cùng”

Đó là những hình ảnh dung dị mà thật đẹp về tình cảm của nhữngngười dân chiến khu đối với cán bộ kháng chiến Còn tình cảm của bộ đội đốivới dân thì “như cá với nước”, “không tơ hào cái kim sợi chỉ của dân” đúngnhư lời dạy của Bác Hồ

Đối với người Việt Nam thì tình trước, lý sau,“Tình sâu nghĩa nặng”,người Việt Nam ràng bược nhau bằng chữ tình Chữ tình chiếm một vị tríquan trọng trong đời sống của nhân dân ta Tình vợ chồng, tình cha mẹ concái, tình anh em, tình bạn bè, tình làng xóm, tình thầy trò, tình đồng hương,tình đồng bào, tình dân tộc

Như vậy, tình người của con người Việt Nam rất phong phú, đa dạngnhưng dù tồn tại dưới hình thức nào cũng nổi lên lối sống trọn nghĩa, vẹn tình,

“Thương người như thể thương thân” Vì vậy, những hiện tượng ăn cháo đábát, táng tận lương tâm, phụ tình bạc nghĩa, đổi trắng thay đen… thường bị dưluận xã hội lên án, bị coi thường, khinh rẻ

Tóm lại, truyền thống nhân ái, nhân nghĩa của dân tộc ta là một giá trịrất đáng tự hào Nó là cái gốc của đạo đức Không có lòng nhân ái thì khôngthể có lòng yêu nước, thương dân được Truyền thống nhân ái nhân nghĩa nàychính là nguồn gốc sâu xa nhất và bền chặt nhất của chủ nghĩa nhân đạo cộngsản Việt Nam

Trang 30

- Truyền thống cần cù, sáng tạo

Cần cù là một giá trị đạo đức đáng quý có từ bao đời của nhân dân ta

Từ ngàn xưa, trong kho tàng thần thoại, truyền thuyết đã đề cập nhiều đến đứctính cần cù, biểu hiện ở thái độ của con người trong việc sáng tạo ra của cảivật chất và tinh thần phục vụ cuộc sống

Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm là một giá trị đạo đức nổi bật trong

hệ giá trị của dân tộc Việt Nam Thực ra, để kiến tạo ra của cải vật chất thì bất

cứ dân tộc nào cũng phải lao động, cũng phải chịu khó, và họ cũng có thể tựhào về những thành quả đã tạo dựng được của mình, nhưng dân tộc Việt Namlại là một trường hợp đặc biệt Bởi lẽ, như đã nói, Việt Nam là một nước cónền văn minh nông nghiệp lâu đời Lao động nông nghiệp là loại hình laođộng vất vả, cần nhiều thời gian, công sức mới có hạt gạo, bát cơm để ăn.Hơn nữa, thiên nhiên lại quá nhiều nắng gió, mưa bão mà nhiều khi, mùanắng thì hạn cháy đồng, mùa mưa lại lũ lụt Quanh năm suốt tháng, người dânViệt Nam phải lo đắp đập, đào mương lấy nước tưới, đắp đê phòng chống bãolụt Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, những người nước ngoài đến Việt Nam đềuhết sức ngạc nhiên khi thấy mọi cơ năng của con người Việt Nam đều đượcdùng để làm việc: đầu đội, vai gánh, lưng cõng, tay nhanh nhẹn và khéo léo,chân chạy như bay Ngoài sự khéo léo, đó còn là một minh chứng cho sự cần

cù, chịu khó của người Việt Nam

Hơn nữa, dân tộc Việt Nam lại luôn chịu sự xâm lăng của các thế lựcbên ngoài Bất cứ cuộc xâm lăng nào, bên cạnh nhiều lý do khác, cũng đều là

sự cướp bóc của cải, phá hoại mùa màng sản xuất Do đó, để khắc phục hậuquả, nhân dân Việt Nam không còn cách nào hơn là phải lao động cần cù Như thế, đầu tiên, lao động cần cù như một yêu cầu tất yếu để đảm bảocho sự sinh tồn của dân tộc Sau đó, trong sự đấu tranh gian khổ với thiên

Trang 31

nhiên, với cuộc sống luôn bị kẻ thù xâm lăng, lao động cần cù đã trở thànhmột phẩm chất đạo đức không thể thiếu đối với con người Việt Nam.

Ước vọng về một đức tính lao động cần cù đã được thể hiện nhiềutrong dân gian Việt Nam Người Việt luôn nhắc nhở với nhau rằng, “năngnhặt chặt bị”, “kiến tha lâu đầy tổ” Người ta luôn luôn phê phán thói “ănkhông ngồi rồi”, bởi với họ, “nhàn cư vi bất thiện” Lao động cần cù củangười Việt Nam luôn gắn với tiết kiệm, bởi lẽ, “buôn tàu buôn bè không bằng

ăn dè hà tiện”, “khi có mà không ăn dè, đến khi ăn dè chẳng có mà ăn”

Vốn mang sẵn trong mình đức tính cần cù, yêu lao động nên nhân dân

ta luôn tỏ thái độ phê phán, khinh ghét đối với thói lười biếng Người ViệtNam trong lao động luôn sáng tạo ra cái mới làm biến đổi tự nhiên, cải tạo xãhội, làm cho cuộc sống ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn Bản thân sự cần

cù đã đối lập hoàn toàn với tư tưởng số mệnh vốn coi con người không có khảnăng cải tạo thế giới, số phận con người do trời định sẵn Nhờ cần cù lao động

mà tổ tiên ta đã xây dựng được dải non sông tươi đẹp, trù phú làm nơi sinh tụgiống nòi Bằng ca dao, tục ngữ, quần chúng nhân dân luôn ca tụng đức tínhcần cù: “Có làm thì mới có ăn”, “Khen nết hay làm, ai khen nết hay ăn”… Cần cù được xem là đức tính tốt đẹp, là thước đo phẩm chất của mỗicon người Ngày nay, để tiến tới một xã hội tốt đẹp đem lại hạnh phúc, ấm nocho dân tộc thì lao động cần cù là nền tảng, cơ sở của sự sáng tạo, là tiêuchuẩn để đánh giá phẩm chất của con người

Con người là nhân tố quan trọng nhất bảo đảm cho sự phát triển bềnvững Việc đầu tư cho sự phát triển của con người không chỉ vì mục tiêu nhânvăn mà còn là sự đầu tư có lợi nhất cho sự phát triển bền vững Đó là nhữngkết luận khá thống nhất trong kinh nghiệm của các nước phát triển và là bàihọc cần ghi nhớ của các nước đi sau như Việt Nam

Trang 32

Thông qua hoạt động thực tiễn của con người bằng sức mạnh của trí tuệkết hợp với các nguồn lực mới có thể tạo nên tăng trưởng và tăng trưởng bềnvững Để khai thác các nguồn vốn, các nguồn tài nguyên và cả nguồn nhânlực một cách hiệu quả tạo nên chất lượng của sự tăng trưởng thì yếu tố conngười đóng vai trò quan trọng.

Ở bất cứ thời kỳ nào người Việt Nam cũng thể hiện sự sáng tạo củariêng mình Không có óc sáng tạo thì người Việt Nam không thể tồn tại trongsuốt hơn 4000 năm lịch sử Vì vậy, sáng tạo được xem là một trong nhữngđức tính lớn của người Việt Nam thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc

- Truyền thống của tỉnh Nghệ An

Nghệ An là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, là vùng đất người Việt cổ

cư trú từ rất sớm Đây là một miền quê nghèo khó, không chỉ khắc nghiệt về

tự nhiên mà còn thường xuyên chịu sự hoành hành của chiến tranh Chính vìvậy, người dân ở mảnh đất này muốn tồn tại phải gồng mình chống thiên tai,chiến tranh Chính hoàn cảnh ấy đã hình thành nên những giá trị truyền thốngcủa người Nghệ An: Cần cù, tiết kiệm, chịu thương, chịu khó, đoàn kết, gan

dạ, quả cảm, dám hy sinh để bảo vệ quê hương

Tiêu biểu hơn cả là truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm Bảntính người Nghệ An vốn nhiệt tình cách mạng, tinh thần đấu tranh quyết liệt,

vì vậy người Nghệ An thường đi đầu trong các cuộc chiến tranh giải phóngdân tộc Có thể nói, trong các cuộc đấu tranh giữ nước, không mảnh đất nàolại xuất hiện nhiều anh hùng giải phóng dân tộc, nhiều vị lãnh tụ, lãnh đạophong trào như ở Nghệ An: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mai Thúc Loan, Lê HồngPhong, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu Vì vậy,những tên đất, tên người Nghệ An đã đi vào lịch sử như một minh chứnghùng hồn của tinh thần yêu nước

Trang 33

Hiếu học cũng là một truyền thống tiêu biểu của người Nghệ An Nghệ

An là mảnh đất “Địa linh nhân kiệt”, người Nghệ An có truyền thống hiếuhọc, khổ học, khổ luyện thành tài Tinh thần học tập của người Nghệ là tinhthần học tập suốt đời, cái nghèo cũng là một trong những động lực giúp chongười Nghệ rèn luyện ý chí chăm học, khổ học để mong tìm cho mình mộtcông danh, sự nghiệp vững chắc Chính vì hiếu học, nên người Nghệ An luôn

có ý thức “tôn sư trọng đạo”

Một trong những truyền thống tốt đẹp của người Nghệ An là lối sốnggiản dị, ghét xa hoa lãng phí Có lẽ từ sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sựnghèo khó trong cuộc sống mà người Nghệ An đã hình thành từ rất sớm ýthức tiết kiệm đôi lúc đến giản dị, ghét sự xa hoa, lãng phí Sự cần cù, chămchỉ, sự tằn tiện trong chi tiêu, đoàn kết, tương thân tương ái trong cuộc sống

đã đủ để khẳng định lối sống giản dị của người Nghệ An

- Truyền thống của huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An

Giới thiệu tổng quan về huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An

Lịch sử hình thành.

Dưới chế độ phong kiến nhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 3 (1882) phủAnh - Thanh - Đô được đổi tên thành phủ Anh Sơn (Gồm toàn bộ phần đấtcủa huyện Hưng Nguyên, Nam đàn, Anh Sơn và Đô Lương ) Đến năm 1946,phủ Anh Sơn lúc này bao gồm 2 huyện Anh Sơn và Đô Lương hiện nay Huyện Anh Sơn hôm nay được thành lập từ tháng 4 năm 1963, tách ra

từ huyện lớn Anh Sơn theo Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm

1963 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Huyện được cấu thành từ 20 xã và 1thị trấn: Thị trấn Anh Sơn, Tam Sơn, Đỉnh Sơn, Cẩm Sơn, Thành Sơn, BìnhSơn, Thọ Sơn, Hùng Sơn, Tường Sơn, Đức Sơn, Hội Sơn, Hoa Sơn ThạchSơn, Phúc Sơn, Long Sơn, Khai Sơn, Cao Sơn, Tào Sơn, Vĩnh Sơn, Lĩnh Sơn,Lạng Sơn

Trang 34

Vị trí địa lý.

Là một huyện miền núi thuộc miền Tây Nghệ An, trải dọc theo đôi bờsông Lam và Quốc lộ 7, phía Đông giáp với huyện đồng bằng Đô Lương, phíaBắc giáp với huyện miền núi Tân Kỳ và huyện vùng cao Quỳ Hợp, phía Tâygiáp với huyện vùng cao Con Cuông và nước bạn Lào, phía Nam giáp vớihuyện miền núi Thanh Chương Cách thành phố Vinh 100km về phía Tây.Địa hình: Vùng đất Anh Sơn nghiêng dần từ phía Tây về phía Đông, điểm caonhất là đỉnh núi Kim Nhan ở vùng núi Cao Vều

“Lèn Kim Nhan chín tầng mây phủ

Rú Cao Vều ấp ủ tình thương”

Địa hình đồi núi có 41.416ha, chiếm 80% diện tích tự nhiên Phần cònlại là ruộng và đất bãi ven sông

Khí hậu: Huyện Anh Sơn nằm trên giải đất miền Trung nên khí hậumang những nét chung của vùng nhiệt đới gió mùa Ngoài một số thuận lợicho sự phát triển cây trồng do khí hậu, ánh sáng và lượng mưa đem lại, khíhậu Anh Sơn cũng khắc nhiệt vì chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, vàgió Phơn Tây Nam Lào Vì vậy, gây ra nạn hạn hán, lũ lụt làm ảnh hưởng đến

sự phát triển chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng

Truyền thống của huyện Anh Sơn

Nhân dân Anh Sơn cần cù, ham học, có truyền thống cách mạng, làhuyện Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Công tác Quốc phòng trongnhững năm qua được giữ vững, an ninh đảm bảo tốt; Phong trào toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phát triển rộng khắp; Công tác GD&ĐT,công tác Y tế ngày càng được củng cố và phát triển

Trong gian khổ, hy sinh người Anh Sơn sáng ngời chủ nghĩa anh hùngcách mạng, phát huy truyền thống “Dương Xuân bất khuất, Yên Phúc kiêncường” và cao trào Xô Viết năm xưa, bất chấp đạn bom của kẻ thù; Đảng bộ,

Trang 35

nhân dân, lực lượng vũ trang Anh Sơn đẩy mạnh phong trào lao động sảnxuất, công tác học tập, chiến đấu và phục vụ chiến đấu Phong trào mỗi ngườilàm việc bằng 2 vì miền Nam ruột thịt; phấn đấu mỗi ha đạt 5 tấn thóc, 2 conlợn, đã huy động hàng chục lượt vạn người ngày đêm lao động trên các côngtrình xây hồ, đắp đập, đào mương dẫn nước Chỉ sau một thời gian ngắn, hàngchục công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất được xây dựng, đưa nước tưới chogần 2000 ha ruộng Phong trào mở đất lập làng mới đón hàng trăm hộ dân cáchuyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Đô Lương lên xây dựng quê hương mới ởcác xã Thành Sơn, Bình Sơn, Thọ Sơn, Tam Sơn, Đỉnh Sơn, Cẩm Sơn.

Hưởng ứng chủ trương quy hoạch khu dân cư mới, hàng chục hộ dân tựnguyện dời nhà lên đồi, ổn định cuộc sống Cuộc vận động xây dựng “Ba ngọn

cờ hồng” mà nòng cốt là các hợp tác xã đã tạo không khí thi đua sôi nổi, gắn bótrách nhiệm tình cảm hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ, góp phần xây dựng quan

hệ sản xuất mới là nguồn động viên người thân an tâm ra chiến trường

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao đã vượt lên khó khănđạt nhiều thành tích, kịp thời động viên cổ vũ tinh thần lạc quan cách mạng củanhân dân trong những ngày tháng gian khổ ác liệt vững tin vào ngày toàn thắng Công tác GD&ĐT dù khó khăn đến mấy cũng đã ra sức thi đua dạy thậttốt học thật tốt, từ những lớp học dưới hầm trú ẩn, lớp lớp học sinh đội mũ rơmđến trường, giáo dục Anh Sơn đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân đạt danh hiệuhọc sinh giỏi tỉnh và miền Bắc, từ những mái trường này các thế hệ con em AnhSơn đã trưởng thành đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Suốt từ những năm 1963 - 1975, lúc này nhiệm vụ quốc phòng đượcđặt lên hàng đầu, tất cả để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, các lực lượng vũtrang Anh Sơn đã hợp đồng tác chiến với các đơn vị quân đội đánh thắng,đánh đuổi, bắn bị thương và góp phần bắn cháy máy bay Mĩ, dân quân xãPhúc Sơn, Bản Vều mưu trí phối hợp bắn toán biệt kích, các đơn vị dân quân

Trang 36

trực chiến và phục vụ chiến đấu ở các trọng điểm sân bay Dừa, khu côngnghiệp Đồng Trương - Hội Sơn, Cầu Trù, Cầu Sở, Cầu Khe Sừng, Phà CâyChanh, Phà Khai Sơn đã cũng cảm chiến đấu bảo vệ an toàn các công trình,nhà máy, kho tàng, đảm bảo giao thông, liên lạc an toàn, bí mật cho hàngchục vạn lượt bộ đội, phương tiện vũ khí ra chiến trường Nhân dân xã ThạchSơn, xã Phúc Sơn đã giúp đỡ các cơ quan cấp huyện sống và làm việc Trongnhững năm chiến tranh với truyền thống “Thóc không thiếu một cân, quânkhông thiếu một người, tất cả cho tiền tuyến”, Đảng bộ và nhân dân Anh Sơn đãđộng viên 20.800 lượt con em vào bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏatuyến, đóng góp 4.500 tấn lương thực, 1.300 tấn thực phẩm, huy động 25 vạnngày công sân lấp hố bom, làm sân bay Dừa, đắp đường vận tải Dù ở nơi đâu,chiến trường nào con em Anh Sơn đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chiến đấuanh dũng, hy sinh vẻ vang Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược bảo vệ Tổquốc, huyện Anh Sơn có 2000 liệt sỹ, 1900 thương binh, bệnh binh; 2000 giađình liệt sỹ, gia đình có công với nước, 22000 cá nhân tập thể được tặng thưởnghuân, huy chương danh hiệu dũng sỹ và các phần thưởng khác - ghi nhận nhữngđóng góp của Đảng bộ, nhân dân, các lực lượng vũ trang huyện Anh Sơn; Đảng,nhà nước đã phong tặng huyện Anh Sơn và 2 xã Phúc Sơn, Tường Sơn và 6 cánhân danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và 29 mẹ Việt Nam anh hùng Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tổ quốc thống nhất, một hào khí cáchmạng mới đã đến, huyện Anh Sơn như một công trường tập trung hàn gắn vếtthương chiến tranh, khôi phục phát triển kinh tế - xã hội, khai hoang phục hóa,cải tạo đồng ruộng; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, vượt qua những khó khăn

do hậu quả chiến tranh để lại; thiên tai tàn phá, sự trì trễ của cơ chế quản lý baocấp, một lần nữa Đảng bộ, nhân dân Anh Sơn lập chiến công mới, đẩy mạnh sảnxuất Chỉ trong một thời gian ngắn đã cơ bản tự túc được lương thực và đóng

Trang 37

góp cho tỉnh hàng chục vạn tấn Ngô, Sắn kịp thời cung ứng cho các nơi trongtỉnh gặp khó khăn về lương thực.

Đi đôi với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế được quantâm phát triển Chỉ sau 3 năm, toàn huyện đã xây mới hàng trăm lớp học, trạm y

tế, nhà văn hóa được xây dựng ở 20/20 xã, thị trấn

Bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọngtâm, xây dựng Đảng là then chống, xây dựng phát triển văn hóa là nền tảng tinhthần động lực phát triển, đã khơi dậy tính năng động sáng tạo, tình hình kinh tế -

xã hội của Anh Sơn có bước phát triển vượt bậc, tốc độ tăng trưởng kinh tế 5năm qua đạt 13,5% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng Côngnghiệp -Dịch vụ - Thương mại chiếm hơn 60%, nông nghiệp phát triển theohướng sản xuất hàng hóa

Anh Sơn là huyện miền núi, kinh tế lâm nghiệp được chú trọng và có hiệuquả, 100% diện tích đất rừng được giao tận hộ gia đình; ngày càng nhiều tập thể,

cá nhân khai thác phát triển vốn đất rừng mang lại thu nhập cao như xã HùngSơn, xóm 12 Long Sơn phong trào xây dựng trang trại tăng nhanh Toàn huyện

có 500 hộ phát triển mô hình theo hướng trang trại

Thực hiện chủ trương CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, với lợi thếtiềm năng trên đất Anh Sơn có 5 nhà máy sản xuất công nghiệp và các xưởngchế biến nông sản như nhà máy Xi Măng, nhà máy Đường, nhà máy Chè…tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu sản xuất Góp phần xóađói, giảm nghèo, làm giàu chính đáng

Hoạt động thương mại - dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp được quan tâmphát triển, toàn huyện có 250 doanh nghiệp vừa và nhỏ, 1300 hộ kinh doanhthương mại dịch vụ bưu chính viễn thông được lan tỏa đến khắp xóm làng

Anh Sơn là miền quê văn hóa, nhiều nét đẹp văn hóa được lưu giữ, phongtrào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã thu được kết quả đáng

Trang 38

mừng, 80% gia đình văn hóa, có 117 đơn vị đạt chuẩn văn hóa; các hoạt độngvăn nghệ, thể dục thể thao thu hút ngày càng nhiều người ở các lứa tuổi thamgia Không ngừng nâng cao đời sống tinh thần giữ gìn phát huy bản sắc, gópphần ngăn chặn các tệ nạn xã hội.

Sự nghiệp GD&ĐT luôn được xác định là quốc sách hàng đầu, phát triểntheo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa, đào tạo nhân tài, phát triểnnhân lực từ chỗ chỉ có 1 trường cấp 2 Phúc Sơn đến nay có 88 trường học cáccấp, có 14 trường đạt chuẩn quốc gia, 21 xã, thị trấn hoàn thành phổ cậpTrung Học Cơ Sở, Chất lượng giáo dục có nhiều tiến bộ, tỷ lệ tốt nghiệp, họcsinh giỏi, học sinh đậu ĐH, CĐ ngày càng nhiều

Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, dân số gia đình và trẻ em được quantâm đầu tư hàng chục tỷ đồng xây dựng bệnh viện, trạm xá, mua trang thiết bịhiện đại, đội ngũ y bác sỹ được tăng cường tuyến huyện và cơ sở Hiện có 16/20

xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, công tác y tế dự phòng đã góp phần ngăn chặnkhông để phát sinh các dịch bệnh

Công tác chính sách xã hội, chăm sóc người có công, hưởng chính sách xãhội, người già cô đơn tàn tật được thực hiện chu đáo, kịp thời, phong trào đền ơnđáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện được nhiều người hưởng ứng, giải quyết và tạoviệc làm được chú trọng

1.1.2.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục truyền thống cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay

+ Sức mạnh của truyền thống; vai trò của giáo dục truyền thống

Truyền thống có tác động tích cực đến việc hình thành bản chất của conngười Vì truyền thống được đúc kết từ tinh hoa văn hoá của dân tộc và đượctruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Truyền thống được xem là một chuẩnmực đạo đức mà dựa vào đó, học sinh có thể nhận định phải trái, nên chăng

Trang 39

Truyền thống có tác dụng giáo dục, đào tạo nên những lớp người mới phù hợpvới giai đoạn lịch sử mới, góp phần thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển Hiện nay, khoa học công nghệ đã có bước phát triển vượt bậc, chi phốimọi lĩnh vực của đời sống xã hội Bên cạnh những thành tựu rực rỡ mà khoahọc công nghệ đưa lại thì cùng với nó - nhiều vấn đề xã hội đang đặt ra gaygắt như vấn đề dân số, môi trường, phân hoá giàu nghèo Các giá trị tốt đẹpcủa học sinh, sinh viên ngày càng có xu hướng bị giảm sút và xói mòn Trướctình hình đó, vấn đề đặt ra cho hiện tại là không sao chép máy móc quá khứ,cũng không loại bỏ quá khứ khỏi cuộc sống hiện tại Qúa khứ và hiện tại lànhững mắt xích nối liền với nhau trong quá trình phát triển Chúng ta khôngthể lãng quên, chối bỏ quá khứ bởi quá khứ là nền móng để xây dựng nhữnglâu đài tương lai Qúa khứ dường như vẫn tồn tại song hành với hiện tại Do

đó điều quan trọng và cần thiết là làm cho học sinh hiểu, thấm nhuần các giátrị truyền thống của dân tộc, vận dụng nó cải tạo hiện tại, hướng tới tương lai

Nói đến truyền thống thì có cả truyền thống tốt, truyền thống xấu,truyền thống hay, truyền thống dở Khi nói đến giá trị truyền thống có nghĩa

là đã có sự gạn đục, khơi trong, đã có sự lựa chọn chỉ giữ lại những truyềnthống tốt, truyền thống hay Do vậy, việc học tập và tiếp thu của học sinh chỉdựa trên những truyền thống tốt bởi đây là nền tảng hình thành nên các giá trịmới tốt đẹp ở học sinh

Tính tích cực của truyền thống thể hiện ở chỗ truyền thống là điểm tựa,

là bệ phóng, là giá đỡ cho sự phát triển của xã hội Nhờ có truyền thống, conngười mới tiếp thu được những thành tựu của các thế hệ đi trước

Truyền thống là kết tinh văn hoá của dân tộc, là sức mạnh nội sinhkhông thể thiếu của mỗi dân tộc trong tiến trình phát triển, bảo tồn giống nòi,xây dựng đất nước Truyền thống trở thành điểm tựa vững chắc nhất cho mỗihọc sinh phát huy năng lực của mình

Trang 40

Truyền thống còn là hạt nhân hợp lý để kích thích sức sống, bản lĩnh củadân tộc, góp phần to lớn cho tiến trình hiện đại hoá đất nước Truyền thống hìnhthành trong học sinh tình cảm yêu thương, trân trọng với lịch sử dân tộc Chonên, nó là đòn bẩy cho sự phát riển xã hội trong thời kỳ lịch sử mới.

Như vậy, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc là cơ sở để mỗihọc sinh phân định phải trái, tốt xấu Nó có tác dụng ngăn chặn, hạn chếnhững hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội, xây dựng một môi trườngtốt đẹp trong trường học, góp phần xây dựng một chế độ xã hội lành mạnh,

mà ở đó con người sống với nhau có nghĩa tình, vị tha và nhân ái

Tính tiêu cực của truyền thống thể hiện ở những truyền thống lạc hậu,truyền thống xấu có tính bảo thủ và có sức ỳ rất lớn, nó thay đổi hết sức chậmchạp Những những truyền thống xấu, truyền thống lạc hậu là những “kẻ địchto” đối với việc hình thành nhân cách con người mới, chúng ngấm ngầm cảntrở sự phát triển của xã hội Nó kìm hãm, níu kéo, cản trở con người vươn lênphía trước, vươn tới cái mới Truyền thống là cái cầu nối giữa quá khứ vàhiện tại, nó tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của con người tronghiện tại và có thể cả ở trong tương lai Vì vậy, việc phát huy truyền thống phải

có sự lựa chọn, kế thừa truyền thống tốt, tiến bộ Những truyền thống xấu, lạchậu cần phải loại trừ, tiêu diệt

Truyền thống của dân tộc ta phát triển như một dòng chảy liên tục, luônluôn được bổ sung, được làm giàu bởi những yếu tố mới của thời đại, đồngthời loại bỏ những yếu tố lỗi thời, lạc hậu không còn phù hợp Như vậy, giữatruyền thống và hiện đại, giữa cái cũ và cái mới có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau, không tách rời nhau Truyền thống tiếp sức cho hiện tại, hiện tại để lạidấu ấn lên truyền thống Đây là sự kế thừa không chỉ diễn ra trong khuôn khổdân tộc Việt Nam mà là của tất cả các dân tộc trên thế giới trong quá trìnhgiao lưu giữa các quốc gia

Ngày đăng: 20/12/2013, 23:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ thế Anh (2010). “Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS trung học phổ thông huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong điều kiện phát triển KTTT”. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, trường Đại Học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS trunghọc phổ thông huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong điều kiện phát triểnKTTT”
Tác giả: Võ thế Anh
Năm: 2010
2. Bộ giáo dục và đào tạo (2011).Quy chế Đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông (Ban hành kèm theo Thông tư số: 58/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế Đánh giá, xếp loại học sinh trung họccơ sở và học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2011
4. Nguyễn Lương Bằng (2001). Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trìnhđổi mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Lương Bằng
Năm: 2001
5. Phan Văn Các (1996). Hồ Chí Minh với văn hoá truyền thống và tiếp xúc văn hoá Đông- Tây, Tạp chí Cộng Sản , số 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với văn hoá truyền thống và tiếp xúcvăn hoá Đông- Tây
Tác giả: Phan Văn Các
Năm: 1996
6. C.Mác, Ph.Ăngghen (1987). Hệ tư tưởng Đức, Nxb Sự thật HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Đức
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật HN
Năm: 1987
7. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998). Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển. Tạp chí Triết học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vìmục tiêu phát triển
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1998
8. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (2002) (chủ biên). Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá, NXBCTQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trịtruyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá
Nhà XB: NXBCTQGHN
9. Phan Đình Diệu, Đừng quay lưng với những giá trị truyền thống. Góp ý dự thảo chiến lược phát triển GD 2009-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đừng quay lưng với những giá trị truyền thống
10.Đoàn Minh Duệ (2004) (chủ biên), Những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho thanh, thiếu niên tỉnh Nghệ An. Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp nâng cao chất lượnggiáo dục truyền thống cho thanh, thiếu niên tỉnh Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
11.Nguyễn Văn Dương (2010). Phát huy các giá trị truyền thống cho đội ngũ cán bộ xã ở tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, trường Đại Học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy các giá trị truyền thống cho đội ngũcán bộ xã ở tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Dương
Năm: 2010
17.Vũ Minh Giang, Phan Huy Lê (chủ biên) (1996). Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giá trị truyền thốngvà con người Việt Nam hiện nay
Tác giả: Vũ Minh Giang, Phan Huy Lê (chủ biên)
Năm: 1996
18.Trần văn Giàu (1990). Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb KHXHHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần văn Giàu
Nhà XB: Nxb KHXHHN
Năm: 1990
19.Nguyễn Văn Huyên (1998). Gíá trị truyền thống- nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc. Tạp chí Triết học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gíá trị truyền thống- nhân lõi và sức sống bêntrong của sự phát triển đất nước, dân tộc
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 1998
20.Chu Trọng Huyến (2005). Đất Nghệ đôi điều nên biết, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Nghệ đôi điều nên biết
Tác giả: Chu Trọng Huyến
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
21.Trần Đình Hượu (1996). Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb văn hoá HN 22.Vũ Khiêu (chủ biên) (1974). Đạo đức mới. Nxb KHXHHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến hiện đại từ truyền thống", Nxb văn hoá HN22.Vũ Khiêu (chủ biên) (1974). "Đạo đức mới
Tác giả: Trần Đình Hượu (1996). Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb văn hoá HN 22.Vũ Khiêu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb văn hoá HN22.Vũ Khiêu (chủ biên) (1974). "Đạo đức mới". Nxb KHXHHN
Năm: 1974
24.Hồ Chí Minh (1980). Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giáo dục thanh niên
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 1980
26.Lương Ngọc.(1992). Giáo dục truyền thống cho thanh niên, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục truyền thống cho thanh niên
Tác giả: Lương Ngọc
Nhà XB: Nxb Thanhniên
Năm: 1992
28.Nguyễn Hồng Phong. (1963). Tìm hiểu tính cách dân tộc, Nxb khoa học HN 29.Trần Đình Sử.(1996). Truyền thông dân tộc và tính hiện đại của truyềnthống.Tạp chí Cộng Sản , số 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tính cách dân tộc", Nxb khoa học HN29.Trần Đình Sử.(1996). "Truyền thông dân tộc và tính hiện đại của truyền"thống
Tác giả: Nguyễn Hồng Phong. (1963). Tìm hiểu tính cách dân tộc, Nxb khoa học HN 29.Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb khoa học HN29.Trần Đình Sử.(1996). "Truyền thông dân tộc và tính hiện đại của truyền"thống".Tạp chí Cộng Sản
Năm: 1996
30.Nguyễn Thị Tuất. (2005). Kế thừa một số giá trị truyền thống của dân tộc trong việc giáo dục thế hệ trẻ việt nam hiện nay. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên Giáo viên THPT chu kì 3. Bộ GD&ĐT. Viện nghiên cứu sư phạm HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế thừa một số giá trị truyền thống của dân tộctrong việc giáo dục thế hệ trẻ việt nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Tuất
Năm: 2005
33.Viện ngôn ngữ học. (2002). Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, trung tâm từ điển học, HN-ĐN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác công tác giáo              dục truyền thống ở trường THPT Anh Sơn 2 - Nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay
Bảng 1.3 Đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác công tác giáo dục truyền thống ở trường THPT Anh Sơn 2 (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w