1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong giai đoạn hiện nay luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

97 1,6K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Nguyễn Đình Nam
Người hướng dẫn TS. Đinh Trung Thành
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa Học Giáo Dục
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 499,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong những năm qua 28 Chương 2: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN ĐÌNH NAM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN NGHI LỘC,

TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN ĐÌNH NAM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH

NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: LL & PPDH Bộ môn Chính trị

Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH TRUNG THÀNH

Trang 3

Do nhiều điều kiện khác nhau và nhất là do trình độ còn nhiều hạn chế nên em không có tham vọng đi sâu và giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức

cơ sở hiện nay, nhất là đối với huyện Nghi Lộc - một vùng quê còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy, những trang viết trong Luận văn này chỉ là những kết quả bước đầu, cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung, làm rõ hơn trong thực tiễn công tác

Luận văn sẽ không thể hoàn thành nếu không có sự quan tâm, động viên và cung cấp tài liệu của các thầy, cô giáo, bạn bè, đồng

nghiệp Và sau cùng, nhưng quan trọng nhất là TS Đinh Trung Thành - Người thầy, người hướng dẫn khoa học đã bỏ nhiều công sức

định hướng nội dung, hướng dẫn viết và chỉnh sửa để hoàn thiện luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn TS Đinh Trung Thành, các thầy, cô

giáo trong khoa Chính trị, Hội đồng khoa học và bạn bè, đồng nghiệp!

Trang 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,

CÔNG CHỨC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI

CÁCH HÀNH CHÍNH.

8

1.1 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật

cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở trong giai đoạn hiện

1.3 Thực trạng công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán

bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

trong những năm qua

28

Chương 2: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI

PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO

DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG

CHỨC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH

HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ

AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

50

2.1 Phương hướng của công tác giáo dục pháp luật cho đội

ngũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách

hành chính ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong giai

50

Trang 5

đoạn hiện nay

2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục

pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng

yêu cầu cải cách hành chính ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ

An trong giai đoạn hiện nay

CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNTT: Công nghệ thông tin

CNXH: Chủ nghĩa xã hội

ĐLDT: Độc lập dân tộc

Trang 6

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa(XHCN) Việt Nam, pháp luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan

hệ xã hội Mọi hoạt động của công dân, tổ chức đều phải tuân theo các quyđịnh của pháp luật Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của ĐảngCộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật.Mọi cơ quan tổ chức, CBCC, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp

và pháp luật” [14;132

Cán bộ, công chức (CBCC) là các “tế bào” cấu thành nên bộ máy nhànước Về mặt lý thuyết, mỗi CBCC đồng thời là một công dân, cũng phải tuânthủ theo pháp luật Trong quá trình xây dựng nền hành chính Việt Nam trongsạch, vững mạnh, đòi hỏi phải có một đội ngũ CBCC không chỉ vững vàng vềbản lĩnh chính trị, có đạo đức, lối sống lành mạnh, mà còn phải có kiến thức,hiểu biết pháp luật ở trình độ cao, phải nắm vững kiến thức pháp luật chung,cùng với đó là kiến thức pháp luật liên quan đến chuyên môn để chấp hành vàvận dụng pháp luật vào thực tế trong quá trình tiếp xúc, làm việc với nhândân

Trang 7

Trong mối quan hệ với nhân dân, CBCC cơ sở có vị trí đặc biệt quantrọng, trực tiếp với nhân dân, là người đầu tiên giải quyết các yêu cầu củanhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ củamình, đồng thời là người tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân Vì vậy, CBCC cơ sở là chủthể giáo dục pháp luật (GDPL), là người có trách nhiệm tuyên truyền, GDPLcho nhân dân thông qua công tác chuyên môn, nghiệp vụ của mình ở cơ sở.Nếu CBCC cơ sở có trình độ hiểu biết pháp luật toàn diện, sâu sắc, có thái độtôn trọng pháp luật, chấp hành pháp luật nghiêm túc thì quá trình thực thicông vụ ở cơ sở đạt hiệu quả cao, hiệu quả GDPL cho nhân dân sẽ cao hơn.Ngược lại, nếu CBCC cơ sở không hiểu biết pháp luật, coi thường pháp luật

sẽ có tác động tiêu cực tới quá trình quản lý Nhà nước, dẫn tới vi phạm kỷluật, kỷ cương phép nước bị buông lỏng, làm mất lòng tin của nhân dân đốivới Đảng, Nhà nước. 

Công cuộc đổi mới đất nước đã và đang đặt ra những thử thách đốivới đội ngũ CBCC nói chung, CBCC cơ sở nói riêng đáp ứng yêu cầu cảicách hành chính (CCHC), xây dựng nền hành chính Việt Nam trong sạch,vững mạnh Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộngsản Việt Nam nêu rõ: “Tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước trongsạch, vững mạnh, bảo đảm quản lý thống nhất, trong suốt, hiệu lực, hiệu quả.Thực hiện chương trình tổng thể CCHC và hiện đại hóa nền hành chính quốcgia” [16;142 Điều đó đòi hỏi đội ngũ CBCC cơ sở phải được trang bị mộtcách có hệ thống các kiến thức pháp luật, thành thạo về chuyên môn nghiệp

vụ và có tinh thần công vụ cao để có thể xử lý kịp thời các vấn đề nảy sinh từthực tiễn của cuộc sống

Nhận thức được tầm quan trọng công tác GDPL và vai trò của đội ngũCBCC cơ sở, trong thời gian qua, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã quan tâm

Trang 8

đến công tác GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở và đã đạt được những kết quảđáng ghi nhận Tuy nhiên, qua quá trình công tác tại huyện và thực tiễn ở cơ

sở, chúng tôi nhận thấy rằng công tác GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở còngặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao, đội ngũ cán bộ làm công tác GDPLchưa đáp ứng yêu cầu; nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục còn nhiềulúng túng GDPL nói chung và GDPL cho CBCC cơ sở nói riêng chưa ngangtầm với yêu cầu của quản lý xã hội bằng pháp luật Vì vậy, vẫn còn tình trạngmột bộ phận CBCC cơ sở hiểu biết pháp luật chưa đầy đủ, chưa nắm vững cácquy định của pháp luật, còn để xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật, quan liêu,sách nhiễu nhân dân, thậm chí có CBCC cơ sở cố ý làm trái các quy định củapháp luật Điều đó đặt ra vấn đề cần phải nâng cao hiệu quả GDPL cho độingũ CBCC cơ sở, để đội ngũ CBCC cơ sở nắm vững và thực hiện tốt hơnnhiệm vụ của mình, góp phần xây dựng một nền hành chính mới, mà ở đóngười dân phát huy tốt quyền làm chủ, CBCC thực sự là công bộc của nhândân

Từ những vấn đề trên, chúng tôi nhận thấy rằng để đội ngũ CBCC cơ

sở có ý thức pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật, đáp ứng yêu cầuCCHC nhà nước thì vấn đề nâng cao hiệu quả GDPL cho CBCC cơ sở phảiđược đặt ra một cách nghiêm túc và được giải quyết đúng đắn cả về mặt lýluận cũng như thực tiễn Xuất phát từ những yêu cầu đó, chúng tôi chọn vấn

đề: “Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ

sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ khoa học Giáo dục.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Vấn đề GDPL, GDPL cho CBCC trong giai đoạn hiện nay đã đượcnhiều nhà khoa học nghiên cứu ở các góc độ khác nhau

Trang 9

Nghiên cứu các vấn đề chung về GDPL đã có một số công trình tiêubiểu sau: Công tác nghiên cứu lý luận về GDPL trong thời kỳ đổi mới, LêVăn Hoè, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Số 9/2008;GDPL ở Thái Bình thực trạng và giải pháp, Nguyễn Hồng Quyên, Tạp chíDân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 9/2010; Công tác tuyên truyền, phổbiến GDPL ở tỉnh Bình Phước, Phan Xuân Linh, Tạp chí Dân chủ và Phápluật, Bộ Tư pháp, Số 3/2011 Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật, ĐàoTrí Úc chủ biên, Hà Nội, 1995; Cơ sở khoa học cho việc xây dựng ý thức vàlối sống theo pháp luật, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; Cần nângcao ý thức pháp luật cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, Hoài Nam, Dân chủ vàPháp luật, Bộ Tư pháp, Số chuyên đề tháng 12/2009 Sổ tay nghiệp vụ phổbiến giáo dục pháp luật, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục phápluật tỉnh Nghệ An - Sở tư pháp, Vinh 2009

Nghiên cứu về GDPL cho CBCC tiêu biểu có các công trình nghiêncứu sau đây: GDPL cho CBCC hành chính ở nước ta hiện nay, Nguyễn QuốcSửu, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Số 7/2010; Đổi mớiphương pháp và hình thức GDPL cho CBCC hành chính; Nguyễn Quốc Sửu;Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 5/2011; Các yếu tố ảnh hưởngtới hoạt động GDPL cho CBCC hành chính ở nước ta hiện nay, Nguyễn QuốcSửu, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện nhà nước và pháp luật, Số 4/2010;GDPL cho CBCC cấp xã tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Bưởi,Trường Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh Đề án phổ biến, giáo dục pháp luậtcho cán bộ đồng bào dân tộc và miền núi trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn

2011 – 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, 2011; Hỏi đáp pháp luật chongười dân cơ sở, Sở Tư pháp Nghệ An, 2009 Nghiệp vụ phổ biến, giáo dụcpháp luật cho cán bộ, nhân dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Sở Tư pháp, 2009;Kết quả 6 năm thực hiện Chỉ thị số 32 – CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo

Trang 10

của Đảng trong công tác phổ biến GDPL, nâng cao ý thức chấp hành phápluật của cán bộ, nhân dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Sở Tư pháp Nghệ An,

2009

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác đã được đăng ở cáctạp chí, các báo ở Trung ương và địa phương

Những công trình trên đã có nhiều đóng góp quan trọng không những

về mặt lý luận mà phần nào kết quả nghiên cứu còn được ứng dụng trong thựctiễn GDPL nói chung, GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở nói riêng

Song, dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy họcChính trị, việc nghiên cứu vấn đề GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở đáp ứngyêu cầu CCHC nhà nước thì chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện Vì

vậy, “Nâng cao hiệu quả GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở đáp ứng yêu cầu CCHC ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” là vấn đề

có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn

Đề tài nghiên cứu của tác giả không trùng với các công trình khoa học

Trang 11

- Làm rõ thực trạng công tác GDPL cho CBCC cơ sở ở huyện NghiLộc, tỉnh Nghệ An trong những năm qua

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảGDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở đáp ứng yêu cầu CCHC ở huyện Nghi Lộc,tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, những quan điểm của Mác - Ăngghen - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về GDPL

- Các quan điểm chỉ đạo trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước, cácchỉ thị của Bộ Chính trị, Chương trình hành động, Quyết định của Thủ tướngChính phủ, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cóliên quan đến nội dung đề tài

5.2 Phương pháp

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp mang tính chấtliên ngành, trong đó chủ yếu là kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháplôgíc; sử dụng và kết hợp với các phương pháp khác như: phương pháp thống

kê, phương pháp phân tích, đánh giá, phương pháp tổng hợp…

Trang 12

6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

- Trình bày tương đối có hệ thống cơ sở lý luận về GDPL cho đội ngũCBCC cơ sở đáp ứng yêu cầu CCHC

- Thông qua phân tích thực trạng công tác GDPL cho CBCC cơ sở ởhuyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, đề tài cung cấp thêm những tư liệu về nhữngkết quả, hạn chế của công tác GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDPL cho độingũ CBCC đáp ứng yêu cầu CCHC ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

- Luận văn có thể làm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, tuyêntruyền, phổ biến, GDPL

7 Giả thuyết khoa học

Thực hiện các giải pháp như đề xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quảGDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở đáp ứng yêu cầu CCHC ở huyện Nghi Lộc,tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn được kết cấu thành 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục pháp luật cho độingũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính

Chương 2: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quảcông tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng yêucầu cải cách hành chính ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiệnnay

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 1.1 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở trong giai đoạn hiện nay

1.1.1 Một số vấn đề chung về công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở

1.1.1.1 Khái niệm Giáo dục pháp luật

Khi bàn về khái niệm GDPL, có nhiều quan điểm khác nhau Nhưng

về cơ bản có các quan điểm sau đây:

Trang 14

Quan niệm thứ nhất cho rằng, GDPL là việc phổ biến, tuyên truyền,

giới thiệu các văn bản pháp luật Theo quan điểm này, việc GDPL thực chấtchỉ là những đợt tuyên truyền, cổ động khi có các văn bản pháp luật được banhành như: Hiến pháp, các bộ luật, nghị quyết, chỉ thị liên quan đến phápluật , là công việc thông tin đại chúng của bộ máy tuyên truyền, là một bộphận của quá trình phổ biến pháp luật trong toàn xã hội

Quan niệm thứ hai, pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung.

Mọi công dân đều phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, do đó không cần đặtvấn đề GDPL Pháp luật không thể là thuộc tính tuyên truyền vận động,ngược lại, bản thân pháp luật sẽ tự thực hiện chức năng của mình bằng cácquy định về quyền và nghĩa vụ thông qua các chế tài đối với những ngườitham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh

Quan điểm thứ ba, xem GDPL là một bộ phận của giáo dục chính trị,

tư tưởng, đạo đức Điều này có nghĩa là: ý thức tuân thủ pháp luật của conngười phụ thuộc vào công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức trong xãhội có đạt hiệu quả tốt hay không Như vậy, theo quan niệm này thì chỉ cầnthực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức là mọi công dân

đã có ý thức pháp luật cao, có sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật

Các quan điểm trên đã nêu ra được một số khía cạnh của khái niệmGDPL nhưng nhìn chung chưa mang tính hệ thống, cụ thể, chưa thấy hết tínhđặc thù, toàn diện, sự tác động của GDPL nên đã vô tình hạ thấp vai trò, giátrị xã hội của GDPL Vì bản thân pháp luật mới ở dạng tiềm năng, là các vănbản quy phạm pháp luật trên lý thuyết Để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống

cần có một cơ chế điều chỉnh bao gồm các giai đoạn: Thứ nhất, ban hành các văn bản pháp luật; Thứ hai, tuyên truyền giáo dục sâu rộng trong quần chúng nhân dân; Thứ ba, tổ chức thực hiện; Thứ tư, kiểm tra giám sát để từ đó điều

chỉnh pháp luật phù hợp với thực tiễn cuộc sống Trong cơ chế đó thì vai trò

Trang 15

của con người là quan trọng nhất: “Yếu tố con người là cơ bản và là linh hồncủa cơ chế” [20;14

Quá trình con người tham gia vào việc tuân thủ pháp luật là một quátrình rất phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan Ởgiai đoạn này, quy phạm pháp luật có khả năng tác động lên ý thức của cánhân như khuyến khích hành vi hợp pháp và kiềm chế các hành vi trái vớipháp luật của mỗi cá nhân Vì vậy, việc phổ biến các văn bản pháp luật chỉmới là điều kiện cần nhưng chưa đủ để con người tuân thủ đúng pháp luật, màđiều kiện đủ ở đây là ý thức của mỗi con người khi tham gia vào các hoạtđộng pháp tuân thủ đúng luật pháp Trong tư tưởng về xây dựng một nhànước pháp quyền XHCN, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cho nên, công bố đạoluật này chưa phải là mọi việc đều xong, mà còn phải tuyên truyền, giáo dụclâu dài mới thực hiện được tốt” [37;524

Để làm rõ bản chất của khái niệm GDPL, chúng ta cần xuất phát từnghĩa hẹp của khái niệm giáo dục theo khoa học sư phạm, để xây dựng kháiniệm GDPL Từ đó, cho ta thấy rõ hơn mối quan hệ giữa cái riêng, cái đặc thùcủa GDPL với cái chung, cái phổ biến của giáo dục GDPL vừa mang nhữngđặc điểm chung của giáo dục, sử dụng các hình thức phương pháp của giáodục, vừa thể hiện những nét đặc thù riêng có của mình trong mối liên hệ chặtchẽ với các loại hình giáo dục khác như giáo dục chính trị, đạo đức Tính đặcthù của GDPL còn thể hiện ở mục đích, nội dung, hình thức và phương pháp

Nét đặc thù của GDPL khác tương đối với các dạng giáo dục khác:GDPL có mục đích riêng, đó là hoạt động nhằm hình thành tri thức,tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật

GDPL có nội dung riêng, đó là sự tác động định hướng với nội dung

cơ bản là chuyển tải tri thức của nhân loại nói chung, của một nhà nước nói

Trang 16

riêng về hai hiện tượng nhà nước và pháp luật, trong đó, pháp luật hiện hànhcủa Nhà nước là bộ phận vô cùng quan trọng.

Xét trên các yếu tố chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức vàphương pháp giáo dục cũng có thể chỉ ra các nét đặc thù của GDPL Chẳnghạn, GDPL so với các dạng giáo dục khác, đó là quá trình tác động liên tục,thường xuyên, lâu dài chứ không phải là sự tác động một lần của chủ thể lênđối tượng giáo dục Vì thế, GDPL trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ gia đình,nhà trường, các tập thể lao động, các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể

xã hội Nhân tố con người với hành vi hợp pháp đóng vai trò chủ đạo trongquá trình tác động qua lại giữa người giáo dục (chủ thể) với người được giáodục (đối tượng) Người được giáo dục là người chịu sự tác động có tổ chức,

có định hướng các thông tin pháp luật Vì vậy, sự hiểu biết về trình độ, đặcđiểm nhân thân của người được giáo dục là đòi hỏi hàng đầu đối với ngườigiáo dục Đồng thời, người GDPL cần phải nắm vững tri thức pháp luật, biếtcách chuyển tải nó và hơn thế nữa phải là tấm gương, phải là hình mẫu trongviệc tuân theo pháp luật Bởi vì, trong GDPL thì nguyên tắc "làm gương",

"làm mẫu" có ảnh hưởng to lớn đối với người được giáo dục

Tóm lại: Khái niệm GDPL được xây dựng xuất phát từ nghĩa hẹp của

giáo dục và theo đó, GDPL được hiểu là hoạt động có định hướng, có tổ chức,

có chủ định của chủ thể giáo dục, tác động lên đối tượng giáo dục nhằm hìnhthành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của

hệ thống pháp luật hiện hành

Với khái niệm GDPL như đã nêu trên, ở nước ta hiện nay, việc trang

bị tri thức pháp luật, xây dựng tình cảm và thói quen pháp luật cho mọi côngdân là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội Trong đótrước hết thuộc về hệ thống các cơ quan có chức năng giáo dục, đào tạo nóichung và các cơ quan có chức năng GDPL của Nhà nước nói riêng

Trang 17

GDPL là một trong những mắt xích quan trọng, có ý nghĩa đặc biệttrong việc tăng cường pháp chế XHCN Bởi vì, GDPL là nhằm hình thành ýthức tôn trọng, tuân thủ pháp luật cho mọi công dân, nhằm phát huy vai trò vàhiệu lực của pháp luật trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Văn kiệnĐại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục đẩymạnh việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảmNhà nước ta thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnhđạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội” [16;246 Vàchúng ta đang từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý xã hội bằng pháp luật,trong phương hướng đó, GDPL giữ một vai trò đặc biệt quan trọng.

Thực tế trong thời gian qua cho thấy, sự coi nhẹ và thiếu năng độngtrong công tác GDPL là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ýthức pháp luật của CBCC và nhân dân còn thấp, "pháp luật và kỷ cương củaNhà nước bị vi phạm ngày càng phổ biến" [46;14 Điều đó đặt ra cho chúng

ta sự cần thiết phải nhận thức ý nghĩa mang tầm chiến lược của công tácGDPL, nhất là trong bối cảnh đẩy mạnh CCHC, xây dựng nhà nước phápquyền của dân, do dân, vì dân

1.1.1.2 Khái niệm Cán bộ, Công chức cơ sở

Như chúng ta đã biết, từ khi Nhà nước xuất hiện và có sự phân chia

lãnh thổ thì vấn đề phân chia các đơn vị hành chính - lãnh thổ luôn là vấn đềquan trọng Ở Việt Nam, vấn đề này được Đảng và Nhà nước đặc biệt coitrọng và được quy định trong Hiến pháp - văn bản có tính pháp lý cao nhất.Theo Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2002 và Luật tổ chứcHĐND và UBND, chính quyền địa phương được tổ chức thành 3 cấp:

Chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh)

Trang 18

Chính quyền cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung

là cấp huyện)

Chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)

Chính quyền cấp xã là chính quyền gần dân nhất trong hệ thống chínhquyền 4 cấp Gọi chính quyền cấp xã, thị trấn là chính quyền cấp cơ sở bởinhững lý do sau:

Thứ nhất, cấp này thoả mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của một cấp

Chịu sự kiểm soát của chính quyền cấp trên

Thứ hai, đây là cấp chính quyền thấp nhất, không có cấp chính quyền

nào thấp hơn chính quyền xã, phường, thị trấn Đây là cấp gần dân nhất, sâusát nhân dân nhất so với các cấp chính quyền khác

Thứ ba, cấp xã là nền móng của bộ máy nhà nước, là cái gốc của hệ

thống chính quyền nhà nước 4 cấp

Mặc dù là cấp thấp nhất nhưng chính quyền cơ sở có một vai trò rấtquan trọng trong hệ thống chính quyền 4 cấp và vị trí quan trọng đặc biệttrong hệ thống chính trị cơ sở nói riêng Chính quyền cơ sở là cầu nối, là nơigiao lưu trực tiếp giữa Nhà nước và nhân dân, đồng thời cấp cơ sở là nơi biểuhiện tập trung nhất, rõ nhất những ưu việt hay hạn chế của chế độ XHCN HồChí Minh đã viết: “Cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính.Cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi” [37;371

Chính vì vậy, chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở ảnhhưởng trực tiếp đến uy tín, lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước

Trang 19

Chính quyền cơ sở là nơi thể hiện tính hiệu lực, hiệu quả của chủtrương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước Đây là nơitrực tiếp thực thi, kiểm nghiệm và phản ánh tính hiệu lực, hiệu quả của hệthống thể chế, chính sách Do đó, chất lượng của hệ thống thể chế, chính sáchphụ thuộc vào chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở.

Chính quyền cơ sở trực tiếp quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội(KT - XH) của địa phương Những vấn đề của địa phương mà chính quyền cơ

sở có thẩm quyền giải quyết thì chính quyền cơ sở đại diện cho nhân dân địaphương trực tiếp giải quyết

Chính quyền cơ sở là nơi thể hiện, đồng thời phản ánh tâm tư nguyệnvọng và lợi ích của nhân dân địa phương Mọi chủ trương, đường lối, chínhsách đều được xuất phát từ cơ sở và hướng về cơ sở Không ai khác ngoàichính quyền cơ sở hiểu rõ và đảm nhận vai trò thu thập, phản ánh tâm tưnguyện vọng của nhân dân địa phương; đồng thời giúp Nhà nước đề ra cácbiện pháp tổ chức, quản lý phù hợp với đặc điểm của một địa phương, đảmbảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân địa phương

Trước khi có Pháp lệnh CBCC sửa đổi, bổ sung năm 2003, cán bộ cơ

sở là những người công tác tại bộ máy chính quyền xã, phường, thị trấn Đó lànhững người trực tiếp tham gia quản lý mọi mặt đời sống KT - XH của địaphương, tuy nhiên họ chưa được coi là CBCC trong biên chế nhà nước, lươngcủa họ không phải từ ngân sách nhà nước mà do địa phương trả

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của chính quyền cơ sở và độingũ cán bộ chính quyền cơ sở, một yêu cầu khách quan đặt ra là: đội ngũ cán

bộ xã, phường, thị trấn cần được xếp vào đội ngũ CBCC trong biên chế nhànước Chính vì vậy, Luật CBCC có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 nêu rõ: Cán

bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam,được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhândân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND), Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người

Trang 20

đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Namđược tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp

xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Từ quy định trên có thể hiểu cán bộ, công chức cấp xã (cấp cơ sở) là:Công dân Việt Nam

Được bầu cử hoặc tuyển dụng vào các vị trí công tác ở xã

Trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Phân biệt cán bộ và công chức cấp xã:

Cán bộ do bầu cử, công chức do tuyển dụng

Cán bộ giữ vị trí cấp trưởng, phó hoặc thường trực của cơ quan Đảng,chính quyền, đoàn thể cấp xã; còn công chức là những người làm chuyênmôn, nghiệp vụ thuộc UBND xã

- Phân loại CBCC cấp xã

+ Cán bộ cấp xã:

* Cán bộ làm công tác Đảng: Bí thư và phó bí thư hoặc trực Đảng

* Cán bộ làm công tác chính quyền: Chủ tịch, phó chủ tịch UBND,Chủ tịch, phó chủ tịch HĐND xã

* Cán bộ làm công tác đoàn thể: người đứng đầu các tổ chức chính trị

- xã hội: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Hội Phụ nữ, Bí thư Đoàn thanhniên, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch Hội nông dân xã

Trang 21

Công chức cấp xã có thể được thi tuyển hoặc xét tuyển theo quyđịnh.

1.1.1.3 Khái niệm Cải cách hành chính

CCHC là một khái niệm đã được nhiều học giả, các nhà nghiên cứuhành chính trên thế giới đưa ra, dựa trên các điều kiện về chế độ chính trị, KT

- XH của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêunghiên cứu, do đó hầu hết các định nghĩa này là khác nhau Tuy nhiên, quaxem xét, phân tích dưới nhiều góc độ của khái niệm, có thể thấy các kháiniệm về CCHC được nêu ra có một số điểm thống nhất sau:

CCHC là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định,được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền

CCHC không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉlàm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn sovới trước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vàocuộc sống hơn, cơ chế hoạt động của bộ máy, chất lượng đội ngũ CBCC làmviệc trong các cơ quan nhà nước sau khi tiến hành CCHC đạt hiệu quả, hiệulực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý KT - XH của một quốc gia

CCHC tuỳ theo điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn của lịch sử, yêucầu phát triển KT - XH của mỗi quốc gia, có thể được đặt ra những trọng tâm,trọng điểm khác nhau, hướng tới hoàn thiện một hoặc một số nội dung củanền hành chính, đó là tổ chức bộ máy, đội ngũ CBCC, thể chế pháp lý, hoặctài chính công

Ở Việt Nam hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào chínhthức định nghĩa khái niệm CCHC là gì Tuy nhiên, nhiều văn bản quan trọngcủa Đảng đã đề cập đến thuật ngữ này như Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII của Đảng, Nghị quyết TW 8 - khoá VII, Nghị quyết Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VIII, XI, X của Đảng đã nêu ra các mục tiêu,

Trang 22

nhiệm vụ cụ thể cho công cuộc CCHC nhà nước Đồng thời, Nghị quyết số:30c/NQ-CP của Chính phủ về việc Ban hành Chương trình tổng thể CCHCnhà nước giai đoạn 2011-2020 đã nêu rõ mục tiêu của chương trình là:

1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường địnhhướng XHCN nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng cóhiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước

2. Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi,minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính

3. Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ươngtới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăngtính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và củacác cơ quan hành chính nhà nước

4. Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệquyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, củađất nước

5. Xây dựng đội ngũ CBCC, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực vàtrình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước

Trọng tâm CCHC trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xâydựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức; chú trọng cải cáchchính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để CBCC, viên chức thực thicông vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hànhchính và chất lượng dịch vụ công

Đặc biệt, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sảnViệt Nam một lần nữa đã nhấn mạnh vấn đề tạo bước chuyển mạnh vềCCHC Văn kiện xác định rõ nội dung cơ bản, mục tiêu tổng quát của CCHCViệt Nam trong những năm tiếp theo, đó là: “Đẩy mạnh cải cách lập pháp,hành pháp và tư pháp, đổi mới tư duy và quy trình xây dựng pháp luật, nâng

Trang 23

cao chất lượng hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật;tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, bảo đảmquản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả Thực hiện chương trìnhtổng thể CCHC và hiện đại hóa nền hành chính quốc gia” [16;142.

Để thực hiện được mục tiêu CCHC, Đảng ta cũng xác định: “Xâydựng đội ngũ CBCC, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chínhtrị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân Quyđịnh rõ và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu” [16;143

1.1.2 Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức

cơ sở là nhân tố quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân,

do dân, vì dân

Để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, một trong những yếu tốrất quan trọng là phải xây dựng được một đội ngũ CBCC có trình độ và tínhchuyên nghiệp cao, có phẩm chất đạo đức tốt và nắm rõ kiến thức về phápluật, pháp chế Vai trò của pháp luật, pháp chế, tăng cường giáo dục, nâng cao

ý thức pháp luật xã hội được ghi rõ trong Điều 12, Chương 1 của Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng

cường pháp chế XHCN, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xãhội, đơn vị vũ trang và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp

và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm hiếnpháp và pháp luật nhà nước, tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện,giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khoá VII) ngày 23/01/1995 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nướcCộng hoà XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chínhtiếp tục xác định: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật Đó

là cơ sở chủ yếu điều chỉnh các quan hệ cơ bản trong xã hội Đồng thời, coi

Trang 24

trọng giáo dục, nâng cao đạo đức XHCN, kết hợp biện pháp hành chính vớigiáo dục tư tưởng, nâng cao dân trí Cán bộ, viên chức nhà nước phải nêugương đạo đức Tăng cường tuyên truyền, GDPL trong nhân dân, trước hếttrong Đảng và cơ quan Nhà nước, làm cho mọi người hiểu và làm theo phápluật Vì vậy, đối với đội ngũ CBCC trong quá trình làm việc phải luôn đặtpháp luật lên hàng đầu, xem đó là thước đo cho hiệu quả công việc.

Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ ra:

“Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyềnXHCN” [16;246 Điều đó nhấn mạnh là phải tăng cường tuyên truyền phổbiến, GDPL trong nhân dân, trong đó có CBCC, làm cho CBCC hiểu và nắm

rõ pháp luật, thực thi tốt pháp luật, xem đó là điều kiện tiên quyết đảm bảotính chất của một nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân

Một nguyên lý đã được khẳng định là nhà nước không thể tồn tạithiếu pháp luật và pháp luật không thể phát huy hiệu lực của mình nếu không

có sức mạnh của bộ máy nhà nước Thông qua quyền lực nhà nước, pháp luậtmới có thể phát huy tác dụng trong đời sống xã hội, phát huy vai trò quản lýNhà nước, quản lý xã hội Hệ thống pháp luật là “con đường”, là cái “khungpháp lý” do Nhà nước vạch ra trước hết để CBCC dựa vào đó để làm việc.Phổ biến, GDPL góp phần đem lại cho CBCC có trí thức pháp luật, xây dựngtình cảm pháp luật đúng đắn và có hành vi hợp pháp, biết sử dụng pháp luậtlàm phương tiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của ngườidân, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội

Phổ biến, GDPL góp phần nâng cao ý thức pháp luật, văn hoá pháp lýcho đội ngũ CBCC Những chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước cóđược hiện thực hóa trong đời sống xã hội hay không còn phụ thuộc nhiều vàovấn đề nâng cao ý thức pháp luật, năng lực tổ chức, thực hiện pháp luật củađội ngũ CBCC nói chung, trong đó có vai trò của CBCC cơ sở

Trang 25

1.1.3 Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật để xây dựng được một đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững chính sách và pháp luật của nhà nước

Do tính chất, đặc điểm công tác, vị trí và uy tín trong xã hội, là nhữngngười lãnh đạo, quản lý đất nước, đưa chính sách của Đảng, pháp luật của nhànước vào cuộc sống của người dân, cho nên CBCC cần phải đứng ở vị trí tiênphong, họ phải được phổ biến, giáo dục, phải nắm được pháp luật trước khi

họ đem những văn bản pháp luật tuyên truyền, giáo dục cho người khác

Công tác GDPL cho đội ngũ CBCC là điều kiện tiên quyết mang tínhquyết định đến hiệu quả của việc hiện thực hoá pháp luật vào thực tiễn củacuộc sống Vì vậy, phải hết sức chú trọng để “xây dựng đội ngũ CBCC, cóphẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyênnghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân” [16;143

Bên cạnh đó, ý thức pháp luật của CBCC có vai trò quan trọng trongviệc nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và việc xây dựng nhà nước phápquyền XHCN, dân chủ hoá đời sống xã hội, duy trì trật tự, kỷ cương Điều đóđược thể hiện ở chỗ: Nếu cán bộ có trình độ hiểu biết về pháp luật, luôn sống

và làm việc theo hiến pháp và pháp luật sẽ có tác dụng lớn trong việc duy trìtrật tự xã hội và sự phát triển của đất nước Còn trường hợp CBCC khônghiểu biết về pháp luật hoặc không tôn trọng pháp luật, có hành vi lợi dụngchức vụ, quyền hạn để tham nhũng, gây phiền hà…có thể trực tiếp gây ranhững thiệt hại về tài sản của nhà nước, tập thể và cá nhân, nghiêm trọng hơn

là gây tình trạng lộn xộn, mất kỷ cương trong nhà nước và xã hội dẫn đến sựkìm hãm sự phát triển KT - XH của đất nước, ảnh hưởng tiêu cực đến sựnghiệp CNH, HĐH đất nước

Trang 26

1.1.4 Quản lý được nhà nước và xã hội bằng pháp luật theo tiêu chí của một nhà nước pháp quyền, cán bộ, công chức phải được trang bị những kiến thức về nhà nước và pháp luật một cách đầy đủ và kịp thời

Khi bàn về vấn đề cán bộ, Hồ Chí Minh đã viết: “Cán bộ là ngườiđem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ, đểđặt chính sách cho đúng, vì vậy cán bộ là cái gốc của mọi công việc…”[37;240 Để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ được giao, để “đem chính sáchcủa Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành” và để

“đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, đểđặt chính sách đúng” thì người CBCC trước hết phải chấp hành chủ trươngcủa Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; phải thi hành nhiệm vụ, công

vụ theo đúng quy định của pháp luật CBCC chịu trách nhiệm trước pháp luật

về việc thi hành nhiệm vụ của mình, do đó họ phải là những người được trang

bị tốt nhất về các văn bản pháp luật của nhà nước Hay nói cách khác CBCCcần phải được trang bị những kiến thức đầy đủ về nhà nước và pháp luật, cónhư thế thì những chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước mới đượctruyền đạt đến người dân một cách chính xác và có hiệu quả

Theo quy định của Luật CBCC: CBCC phải thực hiện cần, kiệm,liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ

Như vậy, CBCC có vị trí, vai trò rất quan trọng trong bộ máy nhànước Sự nghiệp của người CBCC gắn liền với sự nghiệp cách mạng củaĐảng, của đất nước, là nhân tố quan trọng trong quá trình xây dựng và hoànthiện nhà nước pháp quyền XHCN - một nhà nước của dân, do dân và vì dân

Để có đội ngũ CBCC vững mạnh, trong sạch bên cạnh việc tăng cường côngtác quản lý, rèn luyện CBCC đòi hỏi các cơ quan, tổ chức có thẩm quyềnquản lý CBCC phải có trách nhiệm quy hoạch và xem trọng công tác tổ chứcđào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực của CBCC và một trong

Trang 27

những nội dung quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC là việcGDPL cho CBCC.

Trong quá trình đổi mới và thực hiện CCHC nhà nước pháp quyềnXHCN của dân, do dân và vì dân, Đảng và nhà nước ta đã từng bước hoànthiện các chuẩn mực về đạo đức, các chuẩn mực pháp lý về tiêu chuẩn, hành

vi của CBCC trong hoạt động công vụ Luật CBCC, luật phòng chống thamnhũng và luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí…đã có những quy định rất

cụ thể về tiêu chuẩn, nghĩa vụ, quyền lợi của CBCC

Luật CBCC được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13tháng 11 năm 2008 và bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2010 đã xác định rất rõ nghĩa

vụ của CBCC tại điều 8, mục 1, chương 2 của Luật như sau:

1 Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòaXHCN Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia

2 Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân

3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sátcủa nhân dân

4 Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước

1.1.5 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước

Trải qua hơn 25 năm đổi mới, đất nước ta đã thu được những thànhtựu mang ý nghĩa lịch sử, đưa nước ta thoát khỏi nhóm nước có thu nhập thấp,hội nhập vào khối quốc gia có thu nhập trung bình trên thế giới Nhờ đó, thế

và lực Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao

Hiến pháp năm 1992 được xây dựng trên tinh thần đổi mới là cơ sở đểnhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật về kinh tế, văn hoá, xã hội, gópphần to lớn vào quá trình dân chủ hoá xã hội và phát triển kinh tế ở nước ta

Trang 28

Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào sự phát triển tư duy chính trị,pháp luật Đồng thời, đó cũng là sức ép đòi hỏi ý thức pháp luật phải đượcnâng cao, biểu hiện trước hết chính là sự hiểu biết của đội ngũ CBCC, nhữngngười lãnh đạo, quản lý từ trung ương đến cơ sở

Để phản ánh kịp thời, tránh lâm vào tình trạng lạc hậu so với sự pháttriển của đất nước, đáp ứng yêu cầu CCHC nhà nước hiện nay thì CBCC phải

là những người có vai trò lớn nhất trong việc tham gia xây dựng hệ thốngpháp luật, trước hết là pháp luật hành chính, phù hợp với thực tiễn cuộc sống,

ít sai sót, nhằm tạo ra một khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, khoa họctrong các lĩnh vực hoạt động Cần tổ chức, tuyên truyền, hướng dẫn, giáo dụccác đối tượng sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, mọi quan hệ xãhội đều dựa trên nền tảng cơ bản là pháp luật Các cơ quan Đảng, nhà nướcthực hiện các hoạt động lãnh đạo, quản lý bằng hiến pháp và pháp luật

Trong chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011 - 2020,Chính phủ đã xác định rất rõ, muốn CCHC nhà nước thì phải xây dựng vànâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức Mục tiêu của việc nâng caochất lượng đội ngũ CBCC là đến năm 2020, đội ngũ CBCC, viên chức có sốlượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhândân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước Xây dựng đội ngũ CBCC,viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tínhchuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân thông qua các hình thức đào tạo,bồi dưỡng phù hợp, có hiệu quả Hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyểndụng, bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực, sở trườngcủa công chức, viên chức trúng tuyển Hoàn thiện quy định của pháp luật vềđánh giá CBCC, viên chức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.Đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng CBCC, viên chức

Trang 29

Nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ củaCBCC, viên chức.

Từ thực tế trên cho thấy, tính cấp bách của việc tăng cường GDPLtrong đội ngũ CBCC hiện nay không chỉ vì tình trạng vi phạm pháp luật trongđội ngũ này mà còn xuất phát từ thực trạng yếu kém, chưa được sự quan tâmđầy đủ của công tác GDPL Thực trạng GDPL cho CBCC cần phải được đánhgiá nghiêm túc và đúng đắn để thấy rõ được tính cấp bách và yêu cầu bức xúccủa việc tăng cường GDPL cho đội ngũ CBCC trong giai đoạn hiện nay

1.2 Nội dung và hình thức giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở

1.2.1 Nội dung giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ sở

Nội dung của GDPL là một thành tố quan trọng của quá trình GDPL.Nội dung của GDPL được xác định căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ và đồngthời xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm của đối tượng GDPL Việc xác định đúngnội dung của GDPL sẽ đảm bảo cho chất lượng của việc GDPL có hiệu quả.Điều 10 - Luật phổ biến, GDPL được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN ViệtNam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012 đã xácđịnh rõ nội dung phổ biến, GDPL như sau:

1 Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm

là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và giađình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáodục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, CBCC, các vănbản quy phạm pháp luật mới được ban hành

2 Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thànhviên, các thỏa thuận quốc tế

Trang 30

3. Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật;lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiệnpháp luật.

Căn cứ vào nội dung GDPL, chúng ta khẳng định rằng: không thể cómột nội dung nhất định để áp dụng cho công tác đào tạo, GDPL cho tất cả cácđối tượng Rõ ràng, thực tiễn đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu và áp dụng hợp

lý phương thức phối hợp các chương trình, hình thức phương tiện, cần phảikết hợp nhiều nội dung khác nhau phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm từng đốitượng được giáo dục

Do tính chất đặc thù của công việc, CBCC là những người tham giavào các quan hệ pháp luật với tư cách là người lãnh đạo, quản lý xã hội Thái

độ và hành vi xử sự của mỗi CBCC chính là minh chứng cụ thể nhất cho tínhpháp chế trong tổ chức và hoạt động của các hệ thống chính trị nói chung.CBCC cơ sở là những người trực tiếp, có tác động mạnh đến hiểu biết, nhậnthức, thái độ, tình cảm của công dân đối với pháp luật Vì vậy, CBCC cơ sởphải được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong việc áp dụng pháp luật vàtrước tiên họ phải có ý thức đầy đủ về trách nhiệm chủ thể GDPL của mìnhtrong khi thực hiện nhiệm vụ

Đối với CBCC cơ sở cần giáo dục, phổ biến pháp luật theo các nộidung chủ yếu sau:

Những kiến thức cơ bản về nhà nước và các văn bản, quy phạm phápluật, tổ chức bộ máy nhà nước, cơ chế bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của côngdân

Hệ thống những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý thường gặptrong thực tiễn;

Một số pháp luật thực định liên quan đến hoạt động của CBCC như:các bộ luật, các đạo luật quan trọng, có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan

Trang 31

trực tiếp đến đời sống xã hội như: Pháp luật về dân sự, kinh tế (Bộ luật Dân

sự, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật Thi hành án dân sự ); Pháp luật

về quyền dân chủ của công dân (Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Bầu cử đại biểuHĐND ; pháp luật về an ninh, trật tự (Bộ luật Hình sự, các quy định phápluật về trật tự ATGT, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính…); Pháp luật vềhội nhập kinh tế quốc tế (Luật Đầu tư, Luật Thương mại, các quy định liênquan đến việc Việt Nam gia nhập WTO ); pháp luật về văn hoá - xã hội(Luật Giáo dục, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, pháp lệnh tínngưỡng, tôn giáo, Luật CBCC ); pháp luật về phòng chống tham nhũng, lãngphí như (Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chốnglãng phí )

Đối với các CBCC làm công tác chuyên trách về pháp luật ngoàinhững nội dung giáo dục chung thì cần đi chuyên sâu hơn các nội dung về cácvăn bản pháp luật Cụ thể là: Những quan điểm, những học thuyết về nhànước và pháp luật trong lịch sử và hiện tại; hệ thống các văn bản luật của nhànước ta và quốc tế; cập nhật những thông tin mới nhất về pháp luật; cung cấp,giải thích các quy phạm pháp luật cụ thể, về những hậu quả pháp lý do việcchấp hành hay vi phạm các quy phạm pháp luật đó, hướng dẫn hành vi xử sự

cụ thể

1.2.2 Hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ sở

Mục đích và nội dung của công tác GDPL là điều kiện cần thiết ảnhhưởng đến nhận thức, tình cảm của đối tượng được GDPL Tuy nhiên, điềukiện đủ để công tác GDPL tác động vào đối tượng được giáo dục là phải trảiqua một quá trình truyền tải thông tin, đó chính là các hình thức cụ thể để tổchức quá trình GDPL, các hình thức giao tiếp giữa người giáo dục và ngườiđược giáo dục

Trang 32

Điều 11 - Luật phổ biến, GDPL được Quốc hội nước Cộng hòaXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm

2012 đã xác định rõ hình thức phổ biến, GDPL như sau:

1. Họp báo, thông cáo báo chí

2. Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật;cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật

3 Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh,internet, pa-nô, áp - phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tảithông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tincủa cơ quan, tổ chức, khu dân cư

4. Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật

5 Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt độngtiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động kháccủa các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp

lý, hòa giải ở cơ sở

6. Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổchức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chếvăn hóa khác ở cơ sở

7. Thông qua chương trình GDPL trong các cơ sở giáo dục của hệthống giáo dục quốc dân

8. Các hình thức phổ biến, GDPL khác phù hợp với từng đối tượng cụthể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảođảm cho công tác phổ biến, GDPL đem lại hiệu quả

Qua nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn về GDPL cho CBCCcho thấy: GDPL cho CBCC biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và có

sự kết hợp chặt chẽ với nhau như: Dạy và học pháp luật trong các trường; tậphuấn chuyên đề về nhà nước và pháp luật; giáo dục qua tuyên truyền cổ động

Trang 33

(tuyên truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là quabáo, tạp chí, qua hoạt động nghệ thuật, qua các cuộc thi ); GDPL qua hoạtđộng thực tiễn của CBCC trên lĩnh vực công tác của mình, nhất là các hoạtđộng trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp; GDPL qua hệ thống thôngtin pháp luật (Công báo, các bản tin pháp luật, các văn bản pháp luật quađường công văn nhà nước )

Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ của chủ thể, khách thểGDPL, có thể chia hình thức GDPL cho CBCC nói chung, CBCC cơ sở thành

ba loại

Thứ nhất, GDPL mang tính chất phổ biến, tuyên truyền giáo dục

chính trị tư tưởng Tổ chức các buổi sinh hoạt, nói chuyện, phổ biến pháp luậttại các địa phương, các cơ quan Đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị - xãhội ở cơ sở Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu cho đối tượng là CBCC cơ sở.Tuyên truyền, GDPL qua các kênh thông tin trên truyền hình, báo chí, tủ sáchpháp luật đồng thời tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi về chủ đề pháp luật

Thứ hai, GDPL mang tính chất chuyên sâu cho CBCC trong lĩnh vực

ban hành và thực thi pháp luật Điều này xuất phát từ vai trò, vị trí của CBCCchuyên ngành pháp luật Họ vừa là đối tượng cần được GDPL, vừa là chủ thểGDPL trong mối quan hệ với CBCC khác và nhân dân

Thứ ba, GDPL cho CBCC cơ sở thông qua đào tạo, bồi dưỡng kiến

thức pháp luật ở các trường, các trung tâm Đây là hình thức cơ bản nhất củacông tác GDPL cho CBCC Có thể đào tạo, bồi dưỡng pháp luật trong cáctrường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp không chuyên luật hoặcđào tạo, bồi dưỡng pháp luật trong các trường, các khoa chuyên về ngànhluật, các trung tâm, đơn vị, cơ quan có chức năng tuyên truyền, phổ biến,GDPL

Trang 34

Các hình thức đào tạo này đã cung cấp cho hệ thống chính trị một độingũ CBCC có trình độ pháp luật vững vàng để thực hiện chức năng quản lýnhà nước và quản lý xã hội theo pháp luật.

Từ quan niệm và phân loại GDPL như trên, các chủ thể GDPL choCBCC phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung ngay trong khi xây dựngcác chương trình công tác, nghiệp vụ chuyên môn trong từng thời kỳ hoặctrong từng vụ việc Trên cơ sở đó, chuẩn bị các điều kiện vật chất, cán bộ để

tổ chức hình thức giáo dục phù hợp

Trong công tác GDPL nói chung, GDPL cho CBCC cơ sở nói riêng,cần phải kết hợp các hình thức giáo dục khác nhau nhằm phát huy mặt tíchcực và khắc phục những hạn chế của từng loại hình để đạt kết quả tốt nhất

1.3 Thực trạng công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong những năm qua

1.3.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

1.3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, văn hóa lịch sử của huyện Nghi Lộc

Huyện Nghi Lộc phía Đông tiếp giáp biển Đông và Thị xã Cửa Lò,phía Đông Nam giáp huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), phía Nam giáp Thành phốVinh và huyện Hưng Nguyên, phía Tây Nam giáp huyện Nam Đàn, phía Tâygiáp huyện Đô Lương, phía Tây Bắc giáp huyện Yên Thành và phía Bắc giáphuyện Diễn Châu Huyện Nghi Lộc hiện tại có tổng diện tích tự nhiên:34.770,43 ha, dân số 186.439 người (tính đến hết năm 2010) và 29 đơn vịhành chính cấp xã, và 01 thị trấn

Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển, địa hình đa dạng, có hướng

thấp dần từ Tây sang Đông và có thể chia thành 2 vùng lớn: Vùng bán sơn địa: Vùng này chiếm diện tích khá lớn nhưng tập trung ít dân cư (khoảng

Trang 35

57.842 người) chiếm 31,4% tổng dân số của cả huyện Vùng đồng bằng: Với

diện tích tự nhiên khoảng 16.686 ha, chiếm 48% so với diện tích của cảhuyện Nghi Lộc chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, mùa mưabão (tháng 8- tháng 10), mùa nắng nóng có gió Lào khô hanh

Trải qua những biến động lịch sử, vùng đất Nghi Lộc có nhiều lầnthay đổi tên gọi, duyên cách địa lý hành chính khác nhau Tuy nhiên, đến năm

1984 tên gọi Nghi Lộc mới được hình thành (Hội thảo danh xưng Nghi Lộc, tháng 11/2009 tại Hà Nội đã xác định)

Trước năm 1945, huyện Nghi Lộc có 5 tổng, 79 xã Sau Cách mạngtháng Tám 1945, tên gọi các đơn vị hành chính vẫn giữ nguyên, tháng 5/1946,thực hiện sắc lệnh của Chính phủ, Nghị quyết phiên họp HĐND tỉnh đầu tiên,Huyện uỷ Nghi Lộc chỉ đạo tổ chức sắp xếp lại đơn vị hành chính tronghuyện, bãi bỏ cấp tổng, từ 79 xã sát nhập lại thành 24 xã

Tháng 4/1947, để phù hợp với tình hình tác chiến, các đơn vị hànhchính xã được gộp lại còn 13 xã Cuối năm 1953, đầu năm 1954 trong đợtgiảm tô, Tỉnh uỷ Nghệ An chỉ đạo sắp xếp lại đơn vị hành chính, từ 13 xã lớnchia thành 38 xã và thống nhất lấy chữ đầu tên huyện làm chữ đầu tên xã.Ngày 26/12/1970, Thủ tướng Chính phủ quyết định nhập xã Nghi Phú vàoThành phố Vinh, tháng 4/1986, Hội đồng Bộ trưởng có quyết định thành lậpThị trấn Quán Hành và Thị trấn Cửa Lò thuộc huyện Nghi Lộc Ngày29/8/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 113 - CP về thành lập Thị xã Cửa

Lò trực thuộc tỉnh Nghệ An trên cở sở thị trấn Cửa Lò và các xã Nghi Thu,Nghi Hương, Nghi Hoà, Nghi Hải, một phần đất, dân cư Nghi Quang, NghiHợp của huyện Nghi Lộc Ngày 17/4/2008, để mở rộng thành phố Vinh theoquy hoạch, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2008/NĐ-CP về điều chỉnhđịa giới hành chính huyện Nghi Lộc và Hưng Nguyên, trong đó huyện Nghi

Trang 36

Lộc chuyển xã Nghi Ân, Nghi Đức, Nghi Liên, Nghi Kim về thành phố Vinhvới 3.115,63 ha đất tự nhiên và 29.304 khẩu

Vùng đất và con người Nghi Lộc có bề dày truyền thống lịch sử, vănhóa, yêu nước, cách mạng Đồng thời, Nghi Lộc cũng là vùng đất hiếu học,khoa bảng, nhiều dòng họ, nhiều làng có người đỗ đạt trong suốt thời kỳ Hánhọc và truyền thống đó được phát huy qua các thế hệ hôm nay, làm vinh danhcho quê hương, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước

1.3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh

Kinh tế của huyện Nghi Lộc trong 5 năm 2006 - 2011 đã đạt nhiều kếtquả quan trọng: Tốc độ tăng trưởng đạt 12,01%, tổng giá trị sản xuất năm

2011 là 2.017 tỷ đồng, trong đó tỷ trọng ngành Nông - Lâm - Ngư chiếm21,7%; Công nghiệp - xây dựng chiếm 60,9%; Dịch vụ - thương mại chiếm17,4% Thu nhập bình quân đầu người từ 2006 - 2011 ước đạt 14,7 triệu đồng.Tổng thu ngân sách theo phân cấp trong 5 năm đạt trên 380 tỷ đồng

Nông, lâm, ngư nghiệp tăng trưởng khá, góp phần quan trọng trongviệc ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân Giá trị sản xuất của ngànhNông, Lâm, Ngư giai đoạn 2006 - 2011 tăng bình quân 3, 62%/năm Cơ cấucây trồng, mùa vụ tiếp tục được chuyển đổi có hiệu quả Công nghiệp - xâydựng và tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh, góp phần tích cực trong việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và đẩy nhanh tốc độ đô thị hóanông thôn Dịch vụ, thương mại phát triển nhanh, tạo điều kiện cho người dântiếp cận với các loại hình dịch vụ thuận lợi, từng bước gắn phát triển dịch vụvới chuyển dịch cơ cấu lao động Giá trị sản xuất ngành dịch vụ - thương mạigiai đoạn 2006 - 2011 tăng bình quân 15.36%/ năm Thu ngân sách đạt cao,tạo điều kiện thuân lợi cho chi đầu tư phát triển và xây dựng kết cấu hạ tầng.Tăng thu ngân sách hàng năm giai đoạn 2006 - 2011 đạt 30,3%, đây là giaiđoạn có số thu ngân sách cao nhất từ trước đến nay

Trang 37

Hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao được tăng cường, từng bướcđáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần của nhân dân, góp phần gìn giữ và pháthuy bản sắc văn hóa quê hương, đất nước Phong trào “Toàn dân đoàn kết xâydựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tụcchuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập của con em và đàotạo nghề cho người lao động, thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạonhân lực và bồi dưỡng nhân tài Mạng lưới trường lớp và các cơ sở giáo dục -đào tạo phát triển khá hoàn chỉnh, tỷ lệ huy động học sinh các cấp đạt cao.Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được tăng cường và đạt kếtquả tích cực Tỷ lệ phát triển dân số hàng năm ổn định dưới 1%, tỷ lệ ngườisinh con thứ 3 trở lên giảm còn 17,3%.

Các chính sách xã hội được quan tâm đúng mức Các chương trìnhgiải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người laođộng đã đạt được kết quả đáng ghi nhận Trong giai đoạn 2006 - 2011, đã cóhơn 26.000 lao động được đào tạo nghề (bằng 30%), xuất khẩu lao động được4.850 người, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 10%, thu nhập bình quân đầungười năm 2011 tăng 3.23 lần so với giai đoạn 2001-2006

Quốc phòng, an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được giữvững ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT - XH Làm tốt côngtác tuyên truyền phổ biến và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách củaĐảng, nhà nước về các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Phong trào toàn dântham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc đã được triển khai rộng khắp

1.3.2 Tình hình đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

1.3.2.1 Về mặt số lượng

Huyện Nghi Lộc có 29 xã, 1 thị trấn với quy mô địa giới hành chính

và dân số khác nhau Theo quy định của nhà nước, số lượng CBCC cơ sở phụthuộc vào quy mô địa giới hành chính và dân số Bên cạnh đó, do yếu tố sápnhập, chia tách của các xã nên đã ảnh hưởng đến số lượng CBCC cơ sở

Trang 38

Theo thống kế, tính đến tháng 7/2012, tổng số CBCC cơ sở đươngchức trên địa bàn huyện Nghi Lộc gồm có 626 người, trong đó cán bộ là 308,công chức là 318 Số lượng cán bộ chủ chốt cơ sở (Bí thư, Phó bí thư trựcĐảng, Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND các xã,thị trấn) là 159 người Ngoài ra, toàn huyện còn có 297 cán bộ bán chuyêntrách và cấp phó các đoàn thể chính trị - xã hội và trên 800 cán bộ là bí thưchi bộ, xóm trưởng của các xóm, khối Cụ thể như sau:

Bảng 1.1 Số lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở

Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Nghi Lộc (2012)

Trong số cán bộ chủ chốt, có một số đồng chí Bí thư Đảng ủy kiêmChủ tịch HĐND xã, thị trấn, hoặc Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã

Số CBCC còn lại ở cơ sở là các chức danh theo quy định của Luật CBCC.Qua tổng hợp cho thấy, số lượng CBCC cơ sở ở huyện Nghi Lộc cơ bản được

bố trí đủ về số lượng, tỷ lệ cán bộ và công chức gần tương đương nhau Tuynhiên, do yếu tố dân số ở các xã, thị trấn và một số chức danh chưa được bổsung kịp thời nên số lượng CBCC còn thiếu so với quy định, mới đạt 92,6%

so với số lượng biên chế được giao Bên cạnh đó, tại các xã, thị trấn có sựchênh lệch nhau về số lượng CBCC, xã có số lượng CBCC nhiều nhất là 23người, xã thấp nhất là 17 người

Trang 39

trung cấp chính trị Có 19 xã có trên 5 cán bộ có trình độ chuyên môn đại học

và 2 xã 100% cán bộ chủ chốt có trình độ chuyên môn đại học

Bảng 1.2 Chất lượng cán bộ, công chức cơ sở

Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Nghi Lộc (2012)

Qua số liệu tổng hợp cho thấy: Trình độ chuyên môn của CBCC cơ sở

ở huyện Nghi Lộc chủ yếu là trung cấp, chiếm 51,28%; số CBCC chưa quađào tạo còn nhiều 16,93%; chưa có CBCC cơ sở nào có trình độ trên đại học;65,17% được đào tạo trình độ trung cấp lý luận chính trị Tuy nhiên, so vớimặt bằng chung thì trình độ lý luận chính trị chưa cao: 218 người chưa quađào tạo, chiếm 34,83%, chỉ có 1 người có trình độ cao cấp chính trị, chiếm0,1% Số CBCC cơ sở chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về nhà nướcpháp luật còn nhiều Cơ cấu CBCC chưa hợp lý về ngành nghề, về lĩnh vựccông tác Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí sử dụng CBCC ở một số xã chưatốt, vì vậy, vẫn còn tình trạng chồng chéo trong luân chuyển, bố trí sử dụngCBCC cơ sở

Trong số CBCC cơ sở hiện tại, chúng tôi nhận thấy rằng trình độ củacán bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở tăng nhanh Đến nay, Chủtịch Mặt trận Tổ quốc và trưởng các đoàn thể xã, thị trấn 26% có trình độchuyên môn đại học (tăng 17,6%); 46,7% trung cấp (tăng 21,3%); 81,3% cótrình độ trung cấp chính trị (tăng 25,6%) so với năm 2006 Bên cạnh đó, hàngnăm cấp ủy huyện và cơ sở còn cử CBCC cơ sở tham gia các lớp đào tạo, bồi

Trang 40

dưỡng Trong 5 năm (2007 – 2011), huyện đã mở 1 lớp đại học kinh tế Nôngnghiệp, 2 lớp Cao đẳng Tài chính, Địa chính, 2 lớp Trung cấp về chuyên môn,

3 lớp sơ cấp về công tác Thanh vận, Phụ vận và Nông dân; 4 lớp Trung cấp lýluận chính trị - hành chính, 1 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ chủ chốt

xã, thị trấn và 170 lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho 21.157 lượt cán bộ.Sau đào tạo, bồi dưỡng có 91,3% được sắp xếp, bố trí công việc phù hợp,trong đó có 40,73% được bố trí chức vụ cao hơn Qua đánh giá, hàng năm có18,5% CBCC cơ sở được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Về đội ngũ CBCC cơ sở ở huyện Nghi Lộc, theo đánh giá của

UBND huyện Nghi Lộc tại Quyết định số 249/2012/QĐ-UBND ngày25/6/2012 về việc ban hành đề án “Tiếp tục đẩy mạnh công tác CCHC nhànước trên địa bàn huyện, giai đoạn 2012 - 2020” như sau:

- Về những ưu điểm:

Đội ngũ CBCC cơ sở trên địa bàn huyện Nghi Lộc có bản lĩnh chínhtrị vững vàng, kiên định mục tiêu ĐLDT và CNXH; đa số CBCC cơ sở cóphẩm chất đạo đức tốt, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, có tâmhuyết với cơ sở Đoàn kết, gắn bó, có ý thức trách nhiệm, nhiệt tình trongcông tác; tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đúng đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở

Số CBCC cơ sở được đào tạo, bồi dưỡng tương đối cơ bản về trình độchuyên môn, chủ động tiếp thu, nắm bắt cái mới, tích lũy kinh nghiệm trongquá trình quản lý nhà nước, thực thi nhiệm vụ tại cơ sở Đa số CBCC cơ sởbiết vận dụng kiến thức chuyên môn được đào tạo, các quy định của nhà nước

để xử lý công việc và biết ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ tốt công tácchuyên môn

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho đội ngũ CBCC

cơ sở về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị được quan tâm Việc thực

Ngày đăng: 20/12/2013, 23:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2003), Chỉ thị số 32/CT-TW ngày 09/12/2003 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2003), Chỉ thị số 32/CT-TW ngày 09/12/2003 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2003
2. Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN (1995), Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1995
3. Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN (1997), Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
4. Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN (2002), Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
5. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nghi Lộc, Nghị quyết số 03 - NQ/HU, ngày 20/7/2006 kèm theo Đề án số 03 ĐA/HU về “Đổi mới, nâng cao chất lượng quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới, nâng cao chất lượng quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
6. Ban thường vụ Huyện uỷ Nghi Lộc (2009), Kế hoạch số 53 - KH/HU ngày 04 tháng 3 năm 2009 về “Tổ chức thực hiện công tác phổ biến, GDPL trên địa bàn huyện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổ chức thực hiện công tác phổ biến, GDPL trên địa bàn huyện
Tác giả: Ban thường vụ Huyện uỷ Nghi Lộc
Năm: 2009
7. Nguyễn Huy Bằng (2008) “Bàn về việc phối hợp trong hoạt động của hội đồng phối hợp công tác phố biến GDPL”, Tạp chí Dân chủ pháp luật.Bộ Tư pháp, Số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn về việc phối hợp trong hoạt động của hội đồng phối hợp công tác phố biến GDPL”
9. Nguyễn Thị Bưởi (2009) “GDPL cho CBCC cấp xã tại Thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “GDPL cho CBCC cấp xã tại Thành phố Hồ Chí Minh
10. TS.Lê Thị Châu (2009), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phổ biến, GDPL của công đoàn trong tình hình hiện nay”, Nhà nước và pháp luật, Viện nhà nước và pháp luật, Số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phổ biến, GDPL của công đoàn trong tình hình hiện nay”
Tác giả: TS.Lê Thị Châu
Năm: 2009
11. Hồ Quốc Dũng (1997), Công tác tuyên truyền GDPL ở nước ta, Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tuyên truyền GDPL ở nước ta
Tác giả: Hồ Quốc Dũng
Năm: 1997
13. Đảng bộ Huyện Nghi Lộc (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Huyện Đảng bộ lần thứ XXVII, Nghi Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Huyện Đảng bộ lần thứ XXVII
Tác giả: Đảng bộ Huyện Nghi Lộc
Năm: 2010
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
18. PTS. Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai (1995), “Bàn về GDPL” ; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về GDPL”
Tác giả: PTS. Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
19. Nguyễn Ngọc Hoàng (2000), Đổi mới giải pháp pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở nước ta, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giải pháp pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoàng
Năm: 2000
21. Lê Văn Hoè (2008), Công tác nghiên cứu lý luận về GDPL trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác nghiên cứu lý luận về GDPL trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Lê Văn Hoè
Năm: 2008
22. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến GDPL Huyện Nghi Lộc (2007), Báo cáo kết quả thực hiện công tác truyền, phổ biến GDPL năm 2007, Nghi Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác truyền, phổ biến GDPL năm 2007
Tác giả: Hội đồng phối hợp công tác phổ biến GDPL Huyện Nghi Lộc
Năm: 2007
23. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến GDPL Huyện Nghi Lộc (2008), Báo cáo kết quả thực hiện công tác truyền, phổ biến GDPL năm 2008, Nghi Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác truyền, phổ biến GDPL năm 2008
Tác giả: Hội đồng phối hợp công tác phổ biến GDPL Huyện Nghi Lộc
Năm: 2008
24. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến GDPL Huyện Nghi Lộc (2009), Báo cáo kết quả thực hiện công tác truyền, phổ biến GDPL năm 2009, Nghi Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác truyền, phổ biến GDPL năm 2009
Tác giả: Hội đồng phối hợp công tác phổ biến GDPL Huyện Nghi Lộc
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Chất lượng cán bộ, công chức cơ sở - Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong giai đoạn hiện nay luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.2. Chất lượng cán bộ, công chức cơ sở (Trang 39)
Bảng 1.4. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng  giai đoạn (2007 - 2011) - Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong giai đoạn hiện nay luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.4. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng giai đoạn (2007 - 2011) (Trang 45)
Bảng 1.5. Số lượng các lớp bồi dưỡng, tập huấn liên quan đến   pháp luật (2007 – 2011) - Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong giai đoạn hiện nay luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.5. Số lượng các lớp bồi dưỡng, tập huấn liên quan đến pháp luật (2007 – 2011) (Trang 46)
Bảng 1.7. Số lượng tài liệu phổ biến, GDPL trong 5 năm  (2007-2011) - Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong giai đoạn hiện nay luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.7. Số lượng tài liệu phổ biến, GDPL trong 5 năm (2007-2011) (Trang 48)
Bảng 1.9. Tổ chức các cuộc thi, hội thi tìm hiểu pháp luật, giao lưu  văn hóa, văn nghệ có lồng ghép pháp luật 5 năm (2007 – 2011) - Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong giai đoạn hiện nay luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.9. Tổ chức các cuộc thi, hội thi tìm hiểu pháp luật, giao lưu văn hóa, văn nghệ có lồng ghép pháp luật 5 năm (2007 – 2011) (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w