Để làm đợc điều này, ngoài việc nắm vững mục tiêu cụ thểcủa từng loại bài học, đối tợng học sinh, điều kiện dạy học… thì điều hết sức thì điều hết sứcquan trọng là phải nắm vững đặc điểm
Trang 1trờng đại học vinh khoa: giáo dục tiểu học
Lớp: 43A2 – Tiểu học Tiểu học
Giáo viên hớng dẫn: ThS Lê Văn Minh Sinh viên thực hiện:
dẫn tận tình, chu đáo và khoa học của cô giáo hớng dẫn: THS Lê Thị Thanh
Bình Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo Lê Thị Thanh Bình cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa GDTH, các thầy cô
Trang 2giáo Trờng tiểu học Lê Lợi, nhất là các thầy cô giáo và tập thể học sinh cáclớp 2A, 2B; 3A, 3B; 4A, 4B, cũng nh gia đình,bạn bè đã tạo điều kiện cho tôihoàn thành luận văn này.
Là một sinh viên bớc đầu làm quen với công việc nghiên cứu khoa họcchắc chắn không tránh khỏi sai sót Rất mong đợc thầy cô và bạn bè đồngnghiệp đóng góp ý kiến để đề tài này hoàn thiện hơn
Đứng trớc lợng thông tin bùng nổ nh hiện nay, sự phát triển nh vũ bãocủa khoa học kỹ thuật đòi hỏi chúng ta phải biết chắt lọc lợng thông tin cầnthiết và nhanh chóng tiếp cận nền khoa học hiện đại của nhân loại Một mặtgiữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc nhng mặt khác cũng cần phải thay đổi tduy, cách nhìn nhận và nhanh chóng tiếp cận cái mới (hiện đại) để làm giàu
và phát triển nền văn hoá lâu đời của dân tộc
Sự tiến bộ, phát triển của xã hội là động lực cho sự phát triển nền giáodục nói chung, quá trình dạy học nói riêng Đồng thời quá trình phát triển củagiáo dục là động lực cơ bản, chủ yếu nhất của quá trình phát triển xã hội.Ngày nay đứng trớc thời cơ của nền kinh tế hội nhập, hệ thống nền giáo dục n-
ớc nhà đã và đang từng bớc chuyển mình, nhanh chóng tiếp cận với nền giáodục hiện đại, nhất là bậc giáo dục tiểu học
Trang 3Lý luận giáo dục và kinh nghiệm giáo dục của thế giới ngày nay đã chỉ
ra rằng, sự đổi mới của giáo dục phải xuất phát từ đổi mới của mục tiêu nộidung phơng pháp đánh giá
Hiện nay sự đổi mới của giáo dục tiểu học đang đợc tiếp cận theo quytrình đó Ngoài mục tiêu chung của giáo dục bậc tiểu học, ở từng môn học,từng phân môn cũng đợc xác định rõ ràng về kỹ năng, kiến thức và thái độ
Đối với Tiếng Việt, mục tiêu số một là: “phát triển các kỹ năng sử dụngTiếng Việt ở học sinh trên cơ sở từ những tri thức căn bản, nhằm từng b ớcgiúp các em làm chủ đợc công cụ ngôn ngữ để học tập trong nhà trờng và giaotiếp một cách đúng đắn, mạch lạc, tự nhiên, tự tin trong các môi trờng xã hộithuộc phạm vi lứa tuổi” Với t cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ởnhà trờng tiểu học, ngoài mục tiêu chung, phân môn Tập đọc còn có mục tiêuriêng đó là: cung cấp cho học sinh những kiến thức cho tự nhiên, xã hội Rènluyện các kỹ năng đọc đúng, đọc trơn, đọc hiểu và đọc diễn cảm Đồng thờigiáo dục các em lòng ham đọc sánh, thái độ yêu thích môn học
Sự thay đổi mục tiêu kéo theo nội dung, phơng pháp, đánh giá cũngthay đổi cho phù hợp, nhằm đổi mới toàn diện nền giáo dục tiểu học nói riêng,nền giáo dục nói chung Tuy nhiên điều đó không phải lúc nào cũng đáp ứng
đơc, nhất là việc đổi mới phơng pháp dạy học đang là vấn đề đợc nhiều nhàgiáo dục quan tâm Để làm đợc điều này, ngoài việc nắm vững mục tiêu cụ thểcủa từng loại bài học, đối tợng học sinh, điều kiện dạy học… thì điều hết sức thì điều hết sứcquan trọng là phải nắm vững đặc điểm của từng thể loại văn bản ứng với đặc
điểm của từng bài tập đọc cụ thể đợc sử dụng trong giờ Tập đọc Việc nắmvững đặc điểm của từng thể loại văn bản cụ thể là hết sức cần thiết, nó khôngnhững giúp giáo viên lựa chọn phơng pháp dạy học tối u nhất mà còn giúpgiáo viên tự tin, xử lý tốt các tình huống trong quá trình dạy học Tập đọc
Trong chơng trình Tiếng Việt, bài Tập đọc của học sinh tiểu học rấtphong phú và rất đa dạng, đợc lựa chọn từ nhiều loại văn bản khác nhau và đ-
ợc sử dụng đan xen trong chơng trình Mỗi một loại văn bản có những đặc
điểm khác nhau cơ bản về thể loại cũng nh nội dung, nghệ thuật của nó Đây
là cơ sở hết sức quan trọng đinh ra cho nhà giáo dục trong quá trình dạy họcphải bám sát vào đặc điểm của từng loại văn bản khác nhau để xây dựng, lựachọn phơng pháp dạy học phù hợp, nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong dạy họcTập đọc Do xuất phát từ những đặc điểm khác nhau, nên ứng dụng mỗi loạivăn bản, mỗi bài đọc phải có sắc thái giọng đọc phù hợp Đây là vấn đề hếtsức khó khăn trong quá trình dạy học Tập đọc hiện nay
Trang 4Việc nắm vững đặc điểm của từng thể loại văn bản là một trong những
điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc Trong các trờngtiểu học hiện nay, việc dạy học Tập đọc cho học sinh hiệu quả cha cao, do chatìm đợc phơng pháp dạy học phù hợp với đặc điểm của các loại văn bản Mặtkhác, cũng xuất phát từ sự trừu tợng hoá của phân môn và quá trình dạy họcTập đọc chịu tác động của yếu tố tâm lý, điều kiện ngoại cảnh (điều nàykhông chỉ tác động đến giáo viên mà cả học sinh) Vì vậy hiệu quả của giờTập đọc cha đạt đợc mục tiêu đề ra là điều khó tránh khỏi
Đứng trớc yêu cầu của thời đại và yêu cầu bậc học ngày càng cao, đòihỏi ngời giáo viên phải nắm chắc về kiến thức và vững vàng về kỹ năng Điềunày đang là vấn đề đặt ra đối với nhà quản lý giáo dục và trực tiếp tác động
đến ngời giáo viên, phải làm sao tìm ra giải pháp tối u nhất để đạt đợc mụctiêu dạy học Tập đọc trong Nhà trờng tiểu học Vì lẽ đó, chúng tôi đã chọn đềtài: “Nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc cho học sinh tiểu học phù hợp với
đặc điểm của các loại văn bản”, với mong muốn sẽ đa ra đợc một số biện phápgiúp giáo viên có thể tham khảo và vận dụng trong dạy học Tập đọc để đạt đ -
ợc hiệu quả cao nhất
2 Mục đích nghiên cứu.
Nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc ở tiểu học
3 Khách thể và đối tợng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu.
Quá trình dạy học Tập đọc ở tiểu học
3.2 Đối tợng nghiên cứu
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc cho họcsinh tiểu học phù hợp với đặc điểm của các loại văn bản
4 Giả thuyết khoa học.
Nếu đề xuất đợc các biện pháp dạy học Tập đọc phù hợp với các loạivăn bản thì có thể nâng cao hiệu quả dạy học phân môn này ở tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
5.2 Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu để làm nổi bật cơ
sở khoa học của đề tài
5.3 Đề xuất các biện pháp dạy học Tập đọc cho học sinh tiểu học phùhợp với các loại văn bản
6 Phơng pháp nghiên cứu.
6.1 Nhóm các phơng pháp nghiên cứu lý luận.
Trang 5- Phân tích tổng hợp.
- Khái quát hoá các nhận định độc lập
6.2 Nhóm các phơng pháp nghiên cứu thực tiễn.
7 Cấu trúc của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu,khoá luận có 3 chơng
Chơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề dạy học Tập đọc phù hợp với từng
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Quá trình dạy học nói chung, dạy học Tập đọc nói riêng luôn bộc lộnhững hạn chế nhất định Nhất là hiện nay việc thay sách giáo khoa theo ch-
ơng trình mới và sự đổi mới nền giáo dục đợc đặt ra trên tất cả các lĩnh vực.Một trong những vấn đề đợc nhiều nhà quản lý giáo dục và nhiều tác giả quantâm là: đổi mới phơng pháp dạy học Hiện nay, đã có nhiều cuốn sách ra đời
Trang 6nhằm đa ra những biện pháp để đáp ứng yêu cầu đổi mới phơng pháp dạy họcnói chung, đổi mới phơng pháp dạy học Tập đọc nói riêng, vấn đề này đợc cụthể trong các tài liệu sau:
- “Dạy học Tiếng Việt theo chơng trình mới” - Nguyễn Trí (Nxb Giáodục 2003), đã đề cập đến vấn đề đổi mới phơng pháp dạy học theo chơng trìnhcủa Tiếng Việt mới nói chung, và đã định hớng quá trình dạy học Tiếng Việttheo hớng hoạt động hoá của học sinh
- “Dạy học đọc hiểu ở tiểu học” – Tiểu học TS Nguyễn Thị Hạnh (Nxb GD2002), đã đề cập đến vai trò của dạy học đọc hiểu và các giải pháp rèn luyện
kỹ năng đọc hiểu trong phân môn Tập đọc cho học sinh tiểu học Trên cơ sở
đó xây dựng một số bài tập sử dụng trong quá trình dạy học đọc hiểu theo
ch-ơng trình Tiếng Việt mới
- “Dạy học Tập đọc” – Tiểu học Lê Phơng Nga (Nxb GD 2002), đã phân tích cơ
sở lý luận và thực tiễn của dạy học Tập đọc, đề ra phơng pháp và hình thức tổchức dạy học tích cực, hiệu quả nhằm nâng cao chất lợng dạy học phân mônTập đọc
Ngoài ra có một số khoá luận tốt nghiệp của sinh viên khoa GDTH ờng Đại học Vinh cũng tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quátrình dạy học Tập đọc, nhằm tìm ra những giải pháp hỗ trợ cho quá trình dạyhọc Tập đọc để nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc hiện nay
tr-Qua phân tích và tìm hiểu của tài liệu trên cho thấy vấn đề tìm ra cácphơng pháp để nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc phù hợp với đặc điểm củacác loại văn bản cho học sinh tiểu học cha đợc quan tâm, đề cập đúng mức,cha đi sâu vào việc nghiên cứu để đi đến kết luận mang tính chất khoa học vàthiết thực phục vụ cho quá trình dạy học Tập đọc Do đó, chúng tôi thiết nghĩ
đây là đề tài cấp thiết nhằm mang đến ý nghĩa tích cực để nâng cao chất l ợngdạy học phân môn Tập đọc hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản.
1.2.1 Tập đọc.
Có nhiều định nghĩa về đọc và mỗi định nghĩa thờng nhấn mạnh khía cạnhkhác nhau của đọc Tuy nhiên, định nghĩa đợc nhiều ngời công nhận là phù hợp vớidạy học Tập đọc ở tiểu học đó là: “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trìnhchuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó, là quá trìnhchuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành đơn vị nghĩa có âm thanh”
Trang 7Tập đọc với t cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở tiểu học, làmột phân môn thực hành có nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực đọccho học sinh.
1.2.2 Dạy học Tập đọc.
Đứng trên mỗi phơng diện, góc độ khác nhau thì có những cách hiểukhác nhau về khái niệm dạy học Tập đọc Tuy nhiên xét về phơng diện mụctiêu và nhiệm vụ của phân môn có thể khái quát: “Dạy học Tập đọc bao gồmhoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, có nhiệm vụ hình thành kỹnăng đọc: đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức và đọc hay; giáo dục lòng ham
đọc sách, hình thành phơng pháp và thói quen làm việc với sách cho học sinh;làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh”
1.2.3 Văn bản.
Với nghĩa rộng: văn bản là một bản ghi bằng chữ viết hoặc chữ in, mộtphát ngôn hoặc một thông báo ngôn ngữ; phơng diện tri giác cảm xúc của tácphẩm đợc biểu đạt và ghi nhận bằng các ký hiệu ngôn ngữ; đơn vị nhỏ nhất t-
ơng đối của giao tiếp bằng ngôn từ
Với nghĩa hẹp: văn bản là môt chỉnh thể nghĩa, một khối thống nhất có
tổ chức của các thành tố hợp thành, một thông báo mà tác giả gửi tới ngời đọc,ngời xem Nghĩa của văn bản đợc xác định bởi quan hệ của nó với thực tại bênngoài văn bản, với các văn bản khác, với từng cá nhân, ký ức và các phẩm chấtkhác nhau của ngời khác và ngời nhận thông báo
Văn bản thực hiện ba chức năng chính là: truyền thông tin, chế biếnthông tin mới và bảo quản thông tin
1.3 Đặc điểm của các loại văn bản đợc sử dụng trong dạy học Tập đọc ở tiểu học.
Có thể nói văn bản đợc sử dụng trong dạy học Tập đọc ở tiểu học rấtphong phú, gồm nhiều thể loại khác nhau Trải qua nhiều giai đoạn của quátrình chỉnh lý, đến nay chơng trình Tiếng Việt mới đã lựa chọn đợc một hệthống văn bản sử dụng trong dạy học Tập đọc hết sức cơ bản với ba thể loạichính là: truyện kể, thơ và văn miêu tả Ba thể loại này đã cấu thành và đợc sửdụng đan xen nhau trong các tuần, các chủ điểm của phân môn Tập đọc trongsuốt cả bậc học tiểu học
1.3.1 Đặc điểm của văn bản truyện kể trong dạy học Tập đọc ở tiểu học.
1.3.1.1 Khái niệm truyện “ ”
ở văn học hiện đại “truyện” là khái niệm không thật xác định Một mặt
nó vẫn đợc dùng để chỉ mọi loại tác phẩm tự sự có cốt truyện nói chung, mặtkhác lại có lối dùng nó nh thuât ngữ chỉ dung lợng tác phẩm tự sự
Trang 8ở truyện, bản thân việc mở rộng cái thế giới mà nhân vật đi vào, theodòng chảy của một cuộc đời, hoặc sự đổi thay các ấn tợng về những cảnh vàngời mà nhân vật tiếp xúc ở truyện “chất giọng” của tác giả (hoặc nhân vật
kể chuyện) có vai trò lớn trong việc truyền tải nội dung của truyện
Nhờ phơng thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vicon ngời làm cho tác phẩm truyện kể trở thành một câu chuyện về ai đó hay
về một cái gì đó, cho nên các cốt lõi của “truyện” là cốt truyện Gắn liền vớicốt truyện là hệ thống các nhân vật đợc khắc hoạ đầy đủ nhiều mặt hơn hẳnnhân vật trữ tình và kịch ở truyện, cốt truyện đợc triển khai, nhân vật đợckhắc hoạ nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng, bao gồmchi tiết sự kiện xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết tínhcách, chi tiết nội thất, ngoại cảnh, lại còn có cả những chi tiết liên tởng, tởngtợng, hoang đờng đan xen mà không nghệ thuật nào tái hiện đợc Đó là nét
đặc thù về nghệ thuật của truyện
1.3.1.2 Một số thể loại truyện thờng đợc dùng làm ngữ liệu để dạy học đọc trong chơng trình Tiếng Việt ở bậc tiểu học.
Trong chơng trình Tiếng Việt ở tiểu học có nhiều thể loại văn bảntruyện kể đợc sử dụng trong dạy học Tập đọc Mỗi thể loại có đặc trng và tácdụng giáo dục khác nhau Có các thể loại cơ bản đó là: truyện cổ tích, truyệnngắn, truyện cời dân gian,… thì điều hết sức trong đó đợc sử dụng nhiều hơn cả từ lớp 1 cho
đến lớp 5 là truyện cổ tích Do hạn chế về thời gian nên khoá luận chỉ tậptrung vào việc tìm hiểu thể loại truyện cổ tích
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm truyện cổ tích và các thểloại của nó Theo giáo s Hoàn Tiến Tựu trong giáo trình văn học dân gian ViệtNam (Nxb GDH 1990) xác định: “Truyện cổ tích là một loại truyện kể dângian ra đời từ thời kỳ cổ đại, gắn liền với quá trình tan rã của chế độ công xãnguyên thuỷ, hình thành của gia đình phụ truyền và phân hoá giai cấp trong xãhội nó hớng vào những vấn đề cơ bản, những hiện tợng có tính phổ biến trong
đời sống nhân dân, đặc biệt là xung đột có tính chất riêng t giữa ngời với ngờitrong phạm vi gia đình và xã hội… thì điều hết sức Nó dùng một thứ tởng tợng và h cấu riêng,kết hợp với thủ pháp nghệ thuật đặc thù phản ánh mơ ớc và đời sống của nhândân, đáp ứng nhu cầu nhận thức thẩm mỹ, giáo dục, giải trí của nhân dântrong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp”
1.3.2 Đặc điểm của văn bản thơ đợc sử dụng trong dạy học Tập đọc
ở tiểu học.
1.3.2.1 Khái niệm thơ.
Trang 9Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện nhữngtâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh vànhất là có nhịp điệu Bàn về thơ, Sóng Hồng viết: “Thơ là một hình thái nghệthuật cao quý, tinh vi Ngời làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt Thể hiện sựnồng cháy trong lòng Nhng thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuầnnhuyễn và có nghệ thuật… thì điều hết sức”.
Thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu
và những đặc trng cơ bản của thơ Nhịp điệu ở thơ đợc tạo ra do sự phân chiadòng ngôn ngữ từ tác phẩm thành những ngữ đoạn vốn không trùng hợp vớingôn ngữ từ theo quy tắc cú pháp So với văn xuôi, thơ có tính hàm súc cao;từng câu thơ đều có tính độc lập nội tại, hớng tới tính chất và cấu trúc củanhững cách ngôn Câu thơ tổ chức chất liệu ngữ âm một cách toàn diện, làmcho ngôn từ mang tính hoàn thiện trọn vẹn về nhịp điệu Cách tổ chức ngônngữ đặc biệt ở câu thơ cũng tạo cho nó khả năng trở nên đa nghiã Thơ có khảnăng tái tạo giọng nói sống động và sắc thái cá nhân của tác giả; điều nàycũng đợc “vật chất hoá” trong kiến tạo của câu thơ
1.3.2.2 Đặc điểm của văn bản thơ đợc sử dụng trong dạy học Tập
đọc ở tiểu học.
Văn bản thơ đợc sử dụng trong dạy học Tập đọc ở bậc tiểu học chiếm
số lợng khá cao và đợc tăng dần lên ở các lớp học: lớp 2 có 15 bài, lớp 3 có 27bài, lớp 4 có 15 bài Trong đó chiếm số lợng nhiều nhất là thể thơ 4 chữ, thơ 5chữ và thơ lục bát ở lớp 2, lớp 5 thơ 4 chữ chiếm số lợng nhiều nhất, còn ởlớp thơ lục bát chiếm số lợng nhiều hơn Ngoài ra rải rác suốt bậc tiểu học còn
có các bài thơ thuộc thể loại thơ tự do, thơ 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ với số lợng ít
Các bài thơ đều có kết cấu đơn giản, giàu tính cảm xúc, cô đọng, tínhnhạc điệu cao và dung lơng ngắn Nội dung của các bài thơ đợc các tác giảphản ảnh hết sức sinh động về thiên nhiên, cuộc sống và con ngời hết sức gầngũi, quen thuộc đối với các em Thông qua đó nhằm giáo dục các em tình yêuthiên nhiên, đất nuớc và con ngời Việt Nam, nhiều bài thơ nhằm giáo dụctruyền thống lao động cần cù, sáng tạo và tinh thần chống giặc ngoại xâm anhdũng… thì điều hết sứccủa dân tộc ta Nhiều bài thơ diễn tả cuộc sống hết sức sinh động củalứa tuổi thơ đầy ngộ nghĩnh và dễ thơng Với những hình tợng nghệ thuật thơphong phú và gần gũi với các em nh cỏ cây, con vật, sự vật; những biện pháp
tu từ nghệ thuật nh so sánh, nhân hoá, ẩn dụ đặc sắc các văn bản thơ đợc sửdụng trong dạy học đợc các em rất thích đọc và dễ nhớ, dễ hiểu, gây ấn tợnggiáo dục mạnh đối với trẻ
Trang 101.3.3 Đặc điểm của văn bản miêu tả đợc sử dụng trong dạy học Tập đọc ở tiểu học.
1.3.3.1 Khái niệm văn miêu tả.
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, con ngời,của vật để giúp ngời nghe, ngời đọc hình dung đợc các đối tợng ấy
Văn miêu tả là một thể loại văn học sử dụng ngôn từ xây dựng nên, đợcphân chia thành những câu, những đoạn vốn có ở lời nói thờng ngày nhng đã
đợc tu chỉnh lại
Ngôn từ của văn miêu tả có một xu hớng tách khỏi khẩu ngữ sinh hoạt,hớng tới sự cách điệu chỉ với sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực, những đặctính của ngôn từ văn miêu tả nh tính “tự nhiên”, “giản dị” mới tạo thành tiêuchí thẩm mĩ; sự tuân thủ các tiêu chuẩn này cũng khó không kém so với việcxây dựng các dạng phức tạp của ngôn ngữ thơ ca Trong văn miêu tả, ngôn từmang tính tạo hình cao, nó ít tập trung vào chính nó; trong khi đó ở thơ ca thìkhông tách khỏi ngôn từ ở văn miêu tả, ngôn từ còn trở thành đối tợng miêutả, nó nh là “lời của kẻ khác”, không trùng với lời của tác giả
1.3.3.2 Đặc điểm của văn bản văn miêu tả đợc sử dụng trong dạy học Tập đọc ở tiểu học.
Cũng là một thể loại văn miêu tả nên ngoài những đặc điểm chung, cácvăn bản văn miêu tả sử dụng trong dạy học Tập đọc ở tiểu học còn có nhữngnét riêng biệt Các bài văn miêu tả chủ yếu sử dụng ở lớp 4, lớp 5, một số bài
đợc đa vào ở lớp 2, lớp 3 Các bài văn tập trung miêu tả phong cảnh non nớchữu tình của quê hơng gắn với cỏ cây, chim muông, với những vẻ đẹp làngquê bình dị đợc gợi cảm bằng những hình ảnh giản dị và quen thuộc nh cánhdiều, con trâu, ánh trăng… thì điều hết sức và những bài văn miêu tả những cảnh sinh hoạt,lao động với những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc ta
Đa số các bài văn đều có dung lợng ngắn, nội dung phong phú, đợctruyền tải bằng nghệ thuật miêu tả hết sức tinh tế với những từ ngữ gợi tả đặcsắc Ví dụ: ở bài “Đờng đi Sa Pa” (TV4- T2) có đoạn “… thì điều hết sứcphong cảnh ở đâythật đẹp Thoắt cái lá vàng rơi trong khoảng khắc mùa thu Thoắt cái, trắnglong lanh một cơn ma tuyết trên những cành đào, lê, mận Thoắt cái gió xuânhây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm quý Sa Pa
là món quà diệu kỳ mà thiên nhiên dành cho nớc ta” Khi đọc chúng ta phảinhấn mạnh các từ “thật đẹp”, “thoắt cái”, “trắng long lanh”, “hây hẩy nồngnàn”… thì điều hết sứcđể thể hiện vẻ đẹp độc đáo của Sa Pa Ngôn ngữ của các bài văn đợc
Trang 11gọt rũa và lựa chọn kỹ càng, vừa cô đọng, dễ hiểu, vừa gần gũi với t duy củatrẻ, lại vừa mang tính thẩm mĩ văn học.
Nét đặc trng của nghệ thuật miêu tả trong các bài văn đơc sử dụng trongdạy học Tập đọc ở tiểu học là sử dụng nhiều động mạnh để lột tả nội dung cầntruyền tải đến ngời đọc Ví dụ: trong bài “Thắng biển” (TV4-T2) có đoạn “… thì điều hết sứcMột tiếng ào dữ dội Nh một đàn cá voi lớn, sóng trào qua những cây vẹt caonhất, vụt vào thân đề rào rào Một cuộc vật lộn dữ dội diễn ra Một bên làbiển, là gió trong môt cơn giận dữ điên cuồng Một bên là hàng ngàn ngời vớihai bàn tay và những dụng cụ thô sơ, với tinh thần quyết tâm chống giữ”… thì điều hết sứcBằng những động từ mạnh nh “ào dữ dội”, “sóng trào qua”, “vụt vào thân đêrào rào”, “vật lộn dữ dội”, “giận dữ điên cuồng”… thì điều hết sức tác giả đã tái hiện trớc mắtngời đọc cuộc tấn công giữ dội mạnh nh vũ bão của cơn bão biển trớc con đêmỏng manh và hàng ngàn ngời với hai bàn tay trắng Vì vậy, khi đọc chúng taphải nhấn mạnh các từ ngữ này để thấy đợc nét đặc tả của bài văn
Một đặc điểm nữa của các bài văn đợc sử dụng trong dạy học Tập đọc
là nhiều bài văn có ranh giới phân đoạn rõ ràng về cả nội dung cũng nh hìnhthức bên ngoài Tuy nhiên có một số bài văn không có ranh giới phân đoạn vềmặt hình thức cũng nh nội dung của nó Cách mở bài, kết bài hết sức tự nhiên
và hấp dẫn Ví dụ trong bài “Hoa học trò” (TV4-T2) tác giả mở bài rất t nhiên
“phợng không phải là một đoá, không phải là vài cành… thì điều hết sứccả một góc trời đỏrực… thì điều hết sức” hoặc trong bài “Sầu riêng” (TV4-T2) tác giả kết bài hết sức hấp dẫn, từviệc miêu tả hơng vị độc đáo của quả sầu riêng, đến việc miêu tả quá trình rahoa, kết quả của Sầu riêng, tác giả đã chuyển đổi cảm giác: từ khứu giác, thịgiác đến sự cảm nhận bằng vị giác để kết bài tạo ra cảm giác háo hức muốn đ-
ợc thởng thức hơng vị của Sầu riêng một cách mãnh liệt
Những đặc trng nh vậy của văn bản miêu tả ở tiểu học, ngoài những đặc
điểm chung của văn miêu tả, nó có những đặc trng riêng Vì vậy trong quátrình dạy học Tập đọc, việc nắm vững các đặc trng này là điều hết sức cầnthiết và quan trọng Nó không những giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc bài văn
mà còn giúp chúng ta khai thác sâu nội dung của bài văn
Tóm lại, mỗi thể loại khác nhau có những đặc điểm khác nhau rất cơbản Việc nắm vững đặc điểm của từng loại văn bản là vấn đề hết sức cầnthiết Nếu trong văn bản truyện, yếu tố đặc trng của nó là cốt truyện và hệthống các nhân vật; thì đối với thơ lại là kết cấu, nghệ thuật (nhân hoá, sosánh… thì điều hết sức) và ngôn ngữ có nhạc điệu; còn đối với văn miêu tả lại là nghệ thuậtmiêu tả với những từ ngữ đặc sắc và sử dụng nhiều động từ mạnh cũng nh tính
Trang 12từ khi miêu tả Do đó trong quá trình dạy học Tập đọc phái chú ý tới đặc điểmthể loại của bài đọc Từ đó tìm ra giải pháp hữu hiệu cho từng bài đọc cụ thểnhằm đạt đợc mục tiêu của bài học.
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học.
Học sinh tiểu học thuộc lứa tuổi 6-12 tuổi, lứa tuổi này có sự thay đổichuyển biến mạnh mẽ về mặt tâm lý Điều này xuất phát từ những hoạt độngnhận thức của học sinh và ảnh hởng tích cực của sự thay đổi môi trờng sống.Nếu ở giai đoạn lứa tuổi mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo thì bớc vàolớp 1, hoạt động học tập trở thành hoạt động chủ đạo Hoạt động học tập ởgiai đoạn này diễn ra trong điều kiện của các quá trình nhận thức mang màusắc điển hình của lứa tuổi
ở giai đoạn này bộ phận phát âm của trẻ cha hoàn thiện, đang ở giai đoạnphát triển Lồng ngực hẹp, các phế nang trong phổi ít, hoạt động cha nhịp nhàng
và cha ổn định nên lợng không khí ít, kết hợp với phế quản và thanh quản chaphát triển hoàn chỉnh Do đó, khi đọc bài, các em thờng gặp phải rất nhiều khókhăn trong việc đọc các câu dài, các em thờng ngắt nghỉ theo khả năng của lợngkhông khí phát ra, nhất là đối với học sinh lớp 1, lớp 2 ở lớp 1, do khả năng giảimã chữ thành âm diễn ra chậm, cộng với khả năng tri giác chậm và lợng hơitrong phổi đa ra ít nên các em đọc ấp úng, chậm và xẩy ra nhiều hiện tợng đọc
nh nói là rất phổ biến, cha chú ý tới việc ngừng nghỉ đúng chỗ Trong quá trình
đọc bài các em thờng biểu hiện cảm xúc của mình, dễ hồi hộp, dễ bị các yếu tốngoại cảnh tác động đến năng lực đọc của các em Điều này xuất phát từ đặc
điểm hệ thần kinh của các em cha ổn định, dễ gây xúc động
Cùng với sự phát triển của nhận thức, quá trình đọc của học sinh ở giai
đoạn này cũng từng bớc phát triển ở giai đoạn học vần (lớp 1) là sự phân tíchcác chữ cái và đọc từng tiếng theo các âm Giai đoạn tổng hợp thì đọc cả từtrọn vẹn, trong đó sự tiếp nhận các từ bằng thị giác và phát âm hầu nh trùng vớinhận thức về mặt ý nghĩa Tiếo theo sự thông hiểu ý nghĩa của từ trong cụm từhoặc câu đi trớc sự phát âm, tức là đọc đợc thực hiện trong sự đoán các nghĩa B-
ớc sang lớp 2, lớp 3, học sinh bằt đầu đọc tổng hợp Trong những năm học cuốicấp, đọc ngày càng đợc tự động hoá, nghĩa là khi đọc các em ít quan tâm đến quátrình đọc mà chú ý nhiều đến việc chiếm lĩnh bài đọc
ở lứa tuổi học sinh tiểu học, khả năng tri giác của các em mang tínhtổng thể, ít đi sâu vào chi tiết và không chủ động Do đó khả năng phân biệt
đối tợng của các em cha chính xác và cha có ranh giới rõ ràng Vì vậy các emthờng đọc một giọng nh nhau cho các thể loại văn bản khác nhau và ngaytrong một bài đọc các em cũng đọc với một giọng nh nhau xuyên suốt toàn
Trang 13bài, cũng nh cho tất cả lời của các nhân vật, lời dẫn truyện… thì điều hết sứcĐến cuối bậc tiểuhọc (lớp 4,lớp 5), sự tri giác của các em đã đợc nâng lên rõ rệt, các em đã biết
đi sâu vào cái chi tiết, cái bộ phận, bớc đầu đã biết phân loại đối tợng ở mức
độ sơ giản Vì vậy các em đã bớc đầu diễn cảm bài văn và hiểu đợc ý nghĩa,nội dung của bài đọc, tức là đã cảm nhận cái hay, cái đẹp của bài đọc Tuynhiên, đối với những đối tợng có nhiều nét tơng đồng học sinh khó phân biệt
đơc bản chất của nó, vì vậy học sinh quy chúng về một nhóm đối tợng nhnhau Ví dụ, khi đọc các bài đọc là thơ các em thờng đọc với một giọng đọc
nh nhau cho các tiểu loại thơ khác nhau
T duy của trẻ em đến trờng là t duy cụ thể mang tính hình thức bằngcách dựa vào những đặc điểm bên ngoài của đối tợng và hiện tợng cụ thể Nhàtâm lý học nổi tiếng J.Piagiê (Thuỵ Sỹ) cho rằng t duy của trẻ từ 7-10 tuổi vềcơ bản còn ở giai đoạn thao tác cụ thể, trên cơ sở đó có thể diễn ra quá trình
hệ thống hoá các thuộc tính, tài liệu trong kinh nghiệm trực quan
Nhờ tác động tích cực của việc học tập, ở các bậc tiểu học học sinh dầndần chuyển từ nhận thức các dấu hiện bên ngoài đến nhận thức đợc nhữngthuộc tính và dấu hiệu bản chất của hiện tợng vào t duy Hoạt động phân tích– Tiểu học tổng hợp còn sơ đẳng, học sinh các lớp đầu bậc tiểu học chủ yếu tiến hànhhoạt động phân tích – Tiểu học trực quan – Tiểu học hành động khi tri giác trực tiếp đối t ợng.Học sinh cuối bậc học này có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khíacạnh khác nhau của đối tợng giới dạng ngôn ngữ Việc dạy học Tiếng Việt nóichung và dạy học Tập đọc nói riêng sẽ giúp học sinh biết phân tích và tổnghợp Khi học Tập đọc học sinh sẽ biết cách phân tích giọng đọc của từng câu,từng đoạn sau đó tổng hợp thành giọng đọc chung cho cả bài
Tóm lại, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh ở giai đoạn này cha có ýnghĩa tuyệt đối, mà chỉ có ý nghĩa tơng đối Vì vậy quá trình dạy học TiếngViệt ở tiểu học phải có nhiệm vụ từng bớc làm thay đổi nhận thức của các em
Đây vừa là mục đích, vừa là động cơ để nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việtnói chung, dạy học Tập đọc nói riêng Nh vậy, quá trình dạy học Tập đọc ởtiểu học phải tìm ra đợc các giải pháp để nâng cao chất lợng dạy học trên cơ
sở những hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý học sinh ở giai đoạn này
Chơng 2:
Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
2.1 Nhận thức của giáo viên tiểu học về dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản.
Trang 142.1.1 Nhận thức của giáo viên về bản chất của dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản.
Dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản là vấn đề hết sức cầnthiết, nó là cơ sở để nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc cho học sinh tiểu học.Tuy nhiên điều này không phải giáo viên nào cũng nhận thức đúng đắn về nó.Thông qua một số kết luận giáo dục của Nhà trờng tiểu học, xin ý kiến trựctiếp từ phía giáo viên và qua dự giờ phân môn Tập đọc ở nhà trờng tiểu học cóthể nhận thấy nhận thức của giáo viên tiểu học về dạy học Tập đọc phù hợpvới các loại văn bản nh sau:
Kết quả giáo dục cho thấy rằng, đối với phân môn Tập đọc để đạt đợckết quả nh mong muốn với từng bài đọc là rất khó khăn Nó đặt ra không ítkhó khăn đối với giáo viên và học sinh Một mặt xuất phát từ tính đặc trng củamôn học, mặt khác cũng xuất phát từ năng lực nhận thức của giáo viên là chủyếu Do cha nhận thức đúng đắn về phân môn Tập đọc trong nhà trờng nênmục tiêu đặt ra cho từng bài học giáo viên cha đáp ứng đợc yêu cầu trên thựctế
Thông qua xin ý kiến trực tiếp từ một số giáo viên trờng tiểu học Lê Lợi– Tiểu học Thành phố Vinh ở các lớp 2,3,4 cho thấy nhận thức của giáo viên về dạyhọc Tập đọc phù hợp với các loại văn bản là rất hạn chế Cùng một nội dung:
“thầy cô hiểu về dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản” nhng có rấtnhiều ý kiến khác nhau Trong số 16 giáo viên đợc hỏi có 4 giáo viên (chiếm
tỷ lệ 25%) hiểu đúng đắn về dạy học Tập đọc với các loại văn bản Số giáoviên này cho rằng dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản là quá trìnhdạy học mà giáo viên phải căn cứ vào đặc trng cơ bản của từng loại văn bản đ-
ợc sử dụng làm ngữ liệu cho giờ Tập đọc để tìm ra các phơng pháp dạy họckhác nhau phù hợp với các thể loại văn bản đó, nhằm đạt hiệu quả dạy họccho từng bài học đã đề ra Đây là cách hiểu đúng đắn nhất, đầy đủ nhất nhng
số ý kiến hiểu đợc nh vậy còn rất ít Còn lại 11 ý kiến (chiếm 75%) cho rằngdạy học Tập đọc phù hơp với các loại văn bản là quá trình dạy học mà giáoviên phải có giọng đọc phù hợp với văn bản đợc sử dụng, thực sự hoà nhập vàobài đọc, tìm ra đợc dụng ý của tác giả về văn bản đó và khai thác sâu nội dungcủa từng bài đọc Với ý kiến này cho thấy giáo viên chỉ chú ý vào năng lực
đọc của mình, sự tập trung cao độ của ngời dạy và việc cảm thụ sâu sắc củamình về văn bản đó Nh vậy, họ cho rằng việc dạy học Tập đọc phù hợp vớicác loại văn bản là phụ thuộc chủ yếu vào tố chất của ngời giáo viên về giọng
đọc, về sự chú ý và hiểu biết của giáo viên về nội dung bài đọc Do đó có thể
Trang 15khẳng định số giáo viên cha hiểu đúng đắn bản chất của dạy học Tập đọc phùhợp với các loại văn bản là rất phổ biến Cũng có ý kiến cho rằng dạy học Tập
đọc phù hợp với các loại văn bản là không cần thiết, bởi việc dạy học Tập đọcthì bài nào cũng dạy nh nhau đều có cấu trúc bài dạy nh nhau là:
Hoạt động 1: Luyện đọc
Hoạt động 2: Tìm hiểu bài
Hoạt động 3: Luyện đọc nâng cao
Mặc dù số giáo viên quan niệm nh vậy không nhiều nhng cũng thấyrằng có những giáo viên cha thực sự hiểu đợc vấn đề của việc dạy học Tập đọcphù hợp với các loại văn bản Đây là những cách hiểu rất đáng tiếc, bởi ứngvới mỗi loại văn bản thì có những đặc trng riêng cho từng thể loại Trong khi
đó, ở tiểu học các bài đọc rất phong phú và đa dạng về thể loại Với cách hiểu
nh vậy đã mắc phải sai lầm cơ bản, điều đó sẽ dẫn đến mục tiêu của bài họckhó đạt đợc nh mong muốn
Đồng thời qua thực tế dự giờ chúng tôi thấy rằng rất nhiều giáo viênthực hiện bài dạy của mình một cách gợng ép, rập khuôn, cha chú ý đến bảnchất của bài đọc, chỉ chú trọng hoàn thành bài dạy mà cha chú ý đến chất lợngbài dạy Điều đó cho thấy rằng, nhận thức của giáo viên về các loại văn bản đ-
ợc sử dụng làm bài đọc cho dạy học Tập đọc còn hạn chế, cha hiểu đợc đặc
tr-ng của văn bản đó là gì và cần khai thác chútr-ng bằtr-ng cách nào
Nh vậy qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng giáo viên tiểu học hiểu đúngbản chất của dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản vẫn cha nhiều
2.1.2 Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản.
Cũng trên số giáo viên đợc hỏi ở các lớp 2,3,4 Trờng tiểu học Lê Lợithành phố Vinh khi hỏi về việc: thầy cô đánh giá nh thế nào về ý nghĩa củadạy học Tập đọc với các loại văn bản Chúng tôi thấy rằng hầu hết các giáoviên đều cho rằng hiệu quả của giờ học đợc nâng cao; phát huy đợc tính tíchcực, sáng tạo của ngời dạy và ngời học, giờ học sôi động, học sinh tiếp thu bàinhanh,… thì điều hết sứcNh vậy, đa số giáo viên đều đánh giá cao ý nghĩa, tác dụng của việcdạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản để nâng cao hiệu quả dạy họcTập đọc cho học sinh tiểu học Tuy nhiên, một số giáo viên cha ý thức đợc ýnghĩa, tác dụng của việc dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản Sốgiáo viên này cho rằng việc dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản làkhông cần thiết bởi quy trình dạy học một bài Tập đọc là nh nhau; họ cho rằngtốn nhiều thời gian, giáo viên phải chuẩn bị bài công phu; chỉ đi sâu vào việc
Trang 16tìm hiểu đặc điểm của văn bản mà không đi sâu vào việc khai thác nội dungcủa bài đọc và áp đặt học sinh,… thì điều hết sứcĐiều đó cho thấy nhận thức của giáo viên về
ý nghĩa dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản rất khác nhau, khôngphải khi nào giáo viên cũng nhận thức đợc ý nghĩa và tác dụng của nó
Bên cạnh việc đánh giá cao ý nghĩa của dạy học Tập đọc phù hợp vớicác loại văn bản, song ngợc lại việc áp dụng vấn đề này vào dạy học nh thếnào và bằng cách nào thì trong thực tế nhiều giáo viên lại không lý giải đợc Qua dự giờ chúng tôi thấy rằng số giáo viên áp dụng vấn đề này vào dạyhọc là rất hạn chế, ngay cả những giáo viên hiểu đúng bản chất và đánh giácao ý nghĩa của vấn đề dạy học phù hợp với các loại văn bản Phần lớn giáoviên đều tổ chức giờ dạy Tập đọc nh nhau đối với tất cả các loại văn bản Vìvậy hiệu quả dạy học Tập đọc ở tiểu học là cha cao
2.2 Thực trạng dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản.
2.2.1 Thực trạng dạy học Tập đọc ở tiểu học.
Thông qua việc khảo sát chơng trình SGK Tiếng Việt, cụ thể là phânmôn Tập đọc hiện nay có hai quan niệm về mục tiêu dạy học khác nhau Theochơng trình CCGD, xác định mục tiêu: dạy học Tập đọc trên cơ sở cung cấpkiến thức làm nòng cốt, việc rèn luyện kỹ năng đọc chỉ nhằm hỗ trợ cho việclĩnh hội, tiếp thu nội dung bài đọc Khắc phục hạn chế của chơng trình CCGD,chơng trình Tiếng Việt mới đã đợc xây dựng trên quan điểm lấy mục tiêu rènluyện kỹ năng đọc là nhiệm vụ trung tâm
Tuy nhiên, việc tồn tại song song hai chơng trình (chơng trình CCGD vàchơng trình mới) nên vẫn chịu ảnh hởng của phơng pháp dạy học truyềnthống Trong khi chơng trình mới xây dựng trên quan điểm lấy mục tiêu rènluyện kỹ năng đọc làm nhiệm vụ trung tâm thì việc lựa chọn phơng pháp chotừng bài cụ thể lại lấy phơng pháp dạy học truyền thống áp dụng cho việc dạyhọc chơng trình mới, tập trung vào việc khai thác nội dung bài đọc nhiều hơn
là hình thành kỹ năng đọc cho học sinh, nhất là kỹ năng đọc hiểu cha đợc chútrọng đúng mức
Mặc dù dạy chơng trình mới, nhng phần lớn giáo viên vẫn sử dụng quytrình dạy học Tập đọc theo chơng trình cũ Do đó cha đạt đợc mục tiêu dạyhọc là điều dễ hiểu Giáo viên vẫn sử dụng phơng pháp dạy học truyền thốngtheo lối thầy giảng trò nghe, cha phát huy đợc tính tích cực, sáng tạo của họcsinh Các bài dạy rập khuôn theo mô típ giống nhau, cha phân loại đợc các bài
đọc để phân loại cách dạy phù hợp Trong khi xuất phát từ tính đa dạng củabài Tập đọc giáo viên phải có nhiều biện pháp, hình thức để tổ chức giờ dạy
Trang 17sao cho có hiệu quả thì giáo viên lại đa ra mẫu số chung cho các giờ dạy Tập
đọc của mình
Thực tế cho thấy rằng, giáo viên tiểu học còn lúng túng khi dạy Tập
đọc Điều này thể hiện trong cả quá trình dạy học, từ việc xác định mục tiêucho đến phơng pháp, đánh giá kết quả Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằngnhiều giáo viên không có hứng thú cao với việc dạy phân môn Tập đọc, nănglực cảm thụ tác phẩm còn nhiều hạn chế ở một số giáo viên Đa số giáo viêntiểu học đều cho rằng Tập đọc là một phân môn khó, bởi nó không cụ thể,không có công thức chung nào mà mỗi bài dạy là một vẻ riêng Giáo viên gặpphải rất nhiều khó khăn khi soạn bài cũng nh khi lên lớp, nhất là dối vớinhững bài mà chơng trình mới đợc đa vào và những bài có dung lợng dài, chatìm ra đợc con đờng đi thích hợp cho từng loại bài cụ thể
Cũng qua dự giờ phân môn Tập đọc cho thấy nhiều giáo viên quan niệmcha đúng về khái niệm “Tập đọc” nên trong quá trình lên lớp chỉ tính xem giờhọc có bao nhiêu học sinh đợc đọc, còn kết quả đọc nh thế nào lại ít quan tâm.Một số giáo viên lại có xu hớng khai thác nội dung bài đọc bằng việc đặtnhiều câu hỏi xoay quanh việc đa ra nội dung chính của bài đọc Khi lên lớpgiáo viên chỉ làm việc với những học sinh khá giỏi, còn những học sinh yếu,kém cha thực sự hoà nhập vào bài học, gần nh đứng ngoài cuộc Đa số các bàiTập đọc giáo viên đều có cách dạy bổ ngang bài học để tập trung vào khaithác nội dung Trong khi đó nhiều bài văn, bài thơ lại có kết cấu theo chiềudọc về mặt nội dung Nh vậy, đối với những bài đọc mà nội dung của nóxuyên suốt toàn bài thì giáo viên lại gợng ép, tìm cách chia đoạn theo một dấuhiệu nào đó để bổ ngang bài học Điều đó, đã làm mất đi tính lôgic và làm mất
đi tính độc đáo của bài đọc, làm sai lệch ý đồ của tác giả gửi gắm qua bài đọc.Bên cạch việc giáo viên quá tập trung vào khai thác nội dung của bài đọc, thìmột số giáo viên lại quá chú trọng việc giải nghĩa một số từ trong bài, trongkhi đó đây không phải là nhiệm vụ chính của phân môn Tập đọc Vì vậy, giáoviên đã làm mất thời gian dành vào phần luyện đọc, đặc biệt là luyện đọc nângcao
Ngoài ra cũng cần thấy rằng giáo viên quá thiên về tìm hiểu nội dungbài đọc mà quên đi việc khai thác vẻ đẹp nghệ thuật của bài đọc Trong khi
đó, hình thức nghệ thuật là phơng tiện hữu hiệu để tác giả thể hiện nội dungcủa bài đọc Nh vậy, vô hình dung giáo viên đã làm mất đi một vẻ đẹp độc đáocủa tác phẩm mà tác giả muốn gửi gắm tới các em học sinh Vì vậy, có thể nóibài học cha đạt mục tiêu Việc xác dịnh giọng đọc cho từng bài còn mang tính
Trang 18áp đặt của một số giáo viên, cha thực sự chú ý đến giọng đọc của từng nhânvật, từng đoạn… thì điều hết sức đã làm cho bài đọc trở nên khô khan, dễ gây nhàm chán chohọc sinh trong đọc bài.
2.2.2 Thực trạng dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản.
Do cha nhận thức đúng đắn về vấn đề dạy học Tập đọc phù hợp với cácloại văn bản nên trong thực tế giáo viên cha áp dụng vào quá trình dạy họcTập đọc ở tiểu học
Qua tìm hiểu và dự giờ chúng tôi thấy rằng hầu hết giáo viên đánh giácao ý nghĩa của vấn đề này trong quá trình dạy học Tập đọc Tuy nhiên, để đi
đến áp dụng nó vào dạy học đang còn là vấn đề Thực tế khi chuẩn bị bài cũng
nh khi lên lên lớp giáo viên cha chú ý tới đặc điểm của văn bản mà mình sẽlàm việc là văn bản thuộc thể loại nào, chúng có đặc điểm gì nổi bật… thì điều hết sức Mặc
dù các văn bản sử dụng làm ngữ liệu của bài Tập đọc rất phong phú, đa dạng,mỗi thể loại có những đặc trng khác nhau; thế nhng trong quá trình dạy họcgiáo viên đều có một cách dạy giống nhau, áp dụng cho tất cả các bài
Khi dạy các bài thơ, giáo viên về cơ bản đã xác định đợc nhịp điệu củabài thơ Tuy nhiên, việc cảm nhận bài thơ thì chủ yếu sa vào tìm hiểu nộidung, cha chú ý tới việc khai thác từ ngữ, hình ảnh, những biện pháp nghệthuật đặc sắc Chẳng hạn khi dạy bài “Khúc hát ru những em bé trên lng mẹ”(TV4 -T2) của Nguyễn Khoa Điềm, trong đoạn:
Em cu Tai / ngủ trên l
Em ngủ cho ngoan,/ đừng rời lng mẹ //
Mẹ dã gạo / mẹ nuôi bộ đội //
Nhịp chày nghiêng / giấc ngủ em nghiêng //
Mồ hôi mẹ rơi / má em nóng hổi //
Vai mẹ gầy / nhấp nhô làm gối //
Lng mẹ đa nôi / và tim hót thành lời //”Khi dạy bài thơ này thì đoạn trích dẫn trên giáo viên đều có cách ngắtnhịp nh trên là đúng và đã nhấn giọng các từ “nuôi”, “nóng hổi”, “nhịp chày”,
“nhấp nhô”… thì điều hết sức Khi tìm hiểu đoạn thơ này giáo viên chỉ xoay quanh câu hỏi:Ngời mẹ làm những công việc gì? Những công việc đó có ý nghĩa nh thế nào?
mà ch
… thì điều hết sức a khai thác đợc hình ảnh câu thơ “Nhịp chày nghiêng giấc ngủ emnghiêng” Câu thơ này vừa tả thực, vừa rất hình ảnh, thể hiện hoàn cảnh em bélớn lên và hình ảnh những ngời mẹ miền Tây Thừa Thiên những năm đánh Mỹ
đợc khắc họa chân thực và cảm động: em lớn lên cùng gian lao kháng chiến,
em lớn lên trong tình cảm thiêng liêng đối với bộ đội, với cách mạng Đây làmột thiếu sót rất đáng tiếc nếu giáo viên bỏ qua khi tìm hiểu đoạn thơ này, chakhai thác đợc những hình ảnh độc đáo của bài thơ mà đây mới thực sự là cái
Trang 19hồn của bài thơ, cái mà tác giả gửi gắm tới ngời đọc về một khung cảnh cuộcsống của những em nhỏ trong thời kỳ đầy gian nan của cuộc kháng chiếnchống Mỹ.
Khi dạy các bài văn miêu tả, giáo viên đã khai thác đợc nội dung củabài đọc Tuy nhiên, giáo viên cha chú ý đến nét đặc tả của bài đọc cha chú ý
đến nghệ thuật miêu tả đặc sắc của tác giả trong việc thể hiện nội dung bài
đọc Chẳng hạn khi dạy bài “Trung thu độc lập” (TV4-T1) có đoạn: “… thì điều hết sứcTrăng
đếm nay sáng quá! Trăng mai còn sáng hơn Anh mừng cho các em vui tếttrung thu độc lập đầu tiên và anh mong ớc ngày mai đây, những tết trung thutơi đẹp hơn nữa sẽ đến với các em” Giáo viên chỉ chú ý tới việc so sánh cuộcsống hiện nay với mong ớc của anh chiến sĩ năm xa mà quên đi nét đặc tả ánhtrăng của tác giả bằng nghệ thuật so sánh “Trăng đêm nay sáng quá! Trăngmai còn sáng hơn” thể hiện ớc mong về một cuộc sống ngày càng tơi đẹp Lấyviệc miêu tả ánh trăng để nói về cuộc sống ngày mai, mơ ớc về một tơng lai t-
ơi sáng Đây mới là cái đặc sắc của đoạn văn này
Đối với các bài đọc là truyện kể, giáo viên cha thực sự đi sâu vào việcrút ra bài học của câu chuyện mà chỉ tập trung vào khai thác nội dung qua hệthống câu hỏi trong SGK Cha thực sự đi sâu vào tình tiết của cốt truyện vàxung đột của các nhân vật trong truyện Chẳng hạn khi dạy bài “Bà cháu”(TV2 – Tiểu học T1), giáo viên chỉ xoay quanh việc đặt câu hỏi để học sinh khai thác
về cuộc sống của ba bà cháu trớc khi gặp cô tiên, sau khi bà mất cuộc sốngcủa hai anh em nh thế nào và vì sao hai anh em giàu có mà không cảm thấyvui sớng? Nếu chỉ dừng lại ở đó thì cha đạt đợc mục tiêu bài học Vấn đề làqua bài này tác giả muốn gửi gắm, giáo dục các em điều gì và mơ ớc của tầnglớp nhân dân trong xã hội lúc bấy giờ là gì, làm đợc nh vậy mới đạt đợc muctiêu bài học, mới thực sự đa các em về với đích của câu chuyện Ngoài ra cần
lý giải đợc yếu tố thần kỳ trong câu chuyện, tại sao lại có phép lạ nh vậy? Và
sự xuất hiện của cô tiên có tác dụng gì?
Nh vậy chúng tôi thấy rằng thực trạng của việc dạy học Tập đọc phùhợp với đặc điểm của các loại văn bản ở tiểu học hiện nay đang là vấn đề đòihỏi nhà quản lý và nhà giáo dục phải hết sức quan tâm Trên thực tế với nhữngquan điểm cha đúng đắn về vấn đề này và với cách dạy qua phân tích nh trênthì hiệu quả dạy học Tập đọc hiện nay còn ở mức thấp Vấn đề này đặt ra chochúng ta phải tìm ra đợc giải pháp để khắc phục tình trạng dạy học nh trên màvấn đề quan trọng nhất là phải đa ra đợc các biện pháp dạy học phù hợp với
Trang 20các loại văn bản nhằm phát huy tối đa tính tích cực của học sinh là cơ sở đểnâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc.
2.3 Nguyên nhân của thực trạng.
2.3.1 Nguyên nhân chủ quan.
* Thứ nhất: Về phía giáo viên: hầu hết giáo viên đều nhận thức đợc ýnghĩa và tác dụng của dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản Vì vậy,một số giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc tổ chức dạy học Tập đọc lấy
đặc điểm của từng loại văn bản làm cơ cở cho việc lựa chọn phơng pháp dạyhọc tích cực Tuy nhiên, hiệu quả dạy học Tập đọc cha mang lại nh mongmuốn Điều đó do nhiều nguyên nhân, sau đây là những nguyên nhân cơ bản:
- Do trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên tiểu học còn hạnchế Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao còn ít, chỉ có 4/16 ngời(qua điều tra) còn lại là giáo viên đợc đào tạo qua hệ Cao đẳng, 10+3, 12+2… thì điều hết sức.Thậm chí hiện nay có những giáo viên học chuyên ngành Toán, Lý, Hoá, Sinh… thì điều hết sứcvẫn dạy tất cả các môn ở tiểu học thì đối với họ khái niệm văn bản còn xa vời, chanói đến họ hiểu cặn kẽ về đặc điểm cơ bản của các thể loại văn bản đợc dùng trongdạy học Tập đọc rất phong phú nh hiện nay Do đó có sự thiếu đồng bộ về chuyênmôn, ở một số giáo viên còn hạn chế về tay nghề s phạm, nên việc nhận thức và tổchức dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản ở tiểu học còn rất hạn chế
- Để dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản có hiệu quả, đòi hỏigiáo viên phải mất nhiều thời gian cho việc chuẩn bị bài Từ việc xác định mụctiêu cho đến việc lựa chọn phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp phảidựa trên nền tảng của việc hiểu đúng văn bản đợc sử dụng để dạy học và nắm đ-
ợc đặc trng cơ bản của từng thể loại văn bản mới khai thác bài đọc một cách hiệuquả Trong khi đó thực tế cho thấy giáo viên chỉ cố gắng hoàn thành bài dạy củamình theo đúng chờng trình, cha đầu t thời gian cho việc chuẩn bị bài cũng nhkhi lên lớp, cha thực sự chú ý đến chất lợng của giờ học
- Giáo viên cha có sự tìm tòi, học hỏi, trau dồi kiến thức, tự nghiên cứunâng cao trình độ chuyên môn của bản thân để đáp ứng xu thế của thời đạibùng nổ thông tin của nhân loại hiện nay
- Sự cảm thụ văn học của giáo viên là rất hạn chế và chênh lệch nhautrong khi đó phân môn Tập đọc lại thiên về khả năng cảm thụ văn học Nhiềugiáo viên khi khai thác bài đọc cha thoát ly đợc các tài liệu hớng dẫn nh SGV,STK… thì điều hết sức nên cha thực sự hoà nhập vào bài đọc để hoà đồng với bài đọc Việc ápdụng máy móc cho tất cả các bài dạy khác nhau, chủ yếu là sử dụng phơng
Trang 21pháp dạy học truyền thống cũng làm cho chất lợng của giờ học cha cao, chagây đợc hứng thú học tập và sự chú ý của học sinh vào bài học.
* Thứ hai: về phía học sinh: để một giờ học đạt đợc mục tiêu đề rangoài sự cố gắng của giáo viên thì học sinh đóng vai trò quan trọng cho sựthành công đó Các em vừa là đối tợng, vừa là mục tiêu, vừa là khách thể, vừa
là chủ thể của quá trình dạy học do đó tất cả các khâu của quá trình dạy học
đều phải dựa trên nền tảng của học sinh
Mặc dù có vai trò quan trọng cho sự thành công của bài dạy, tuy nhiêntrên thực tế trình độ của học sinh rất chênh lệch nhau và nhận thức của các emcòn hạn chế do đó gây không ít khó khăn cho quá trình dạy học Nhất là đối vớicác lớp đầu bậc học, năng lực đọc của các em còn yếu, sự tập trung vào bài họccha cao, khả năng cảm nhân văn học còn rất hạn chế, cũng là nguyên nhân cơbản làm cho hiệu quả của giờ học cha cao Mặc dù đến cuối bậc tiểu học nhữnghạn chế này đã đợc khắc phục nhiều song cha đạt đợc nh mong muốn
2.3.2 Nguyên nhân khách quan.
Cùng với những nguyên nhân chủ quan, quá trình dạy học nói chung,quá trình dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản nói riêng đang gặpphải những nguyên nhân khách quan:
* Thứ nhất: Xuất phát từ chính cái tên gọi của môn học, phân môn Tập
đọc là phân môn không lợng hoá đợc, nó có tính trừu tợng cao và khó đa rachuẩn để làm tiêu chí chung cho sự đánh giá năng lực đọc của học sinh ở mỗimột bài đọc là một nét riêng biệt, từ giọng đọc cho đến nội dung, nghệ thuật,… thì điều hết sức
đều mang một sắc thái, thông tin và cách thể hiện thông tin khác nhau
* Thứ hai: Về phía nhà quản lý giáo dục, mặc dù đã có nhiều biện phápkiểm tra và giám sát Tuy nhiên, thực tế ở các trờng Tiểu học việc áp dụng cácbiện pháp dạy học theo tinh thần chỉ đạo cha đợc quan đứng mức Việc bồi d-ỡng, nâng cao kiến thức, năng lực chuyên môn cho giáo viên còn ít Các buổisinh hoạt tổ chuyên môn, đa ra sáng kiến kinh nghiệm còn mang tính hìnhthức Do đó, cha tạo cho giáo viên phong trào tự học, tự nâng cao trình độchuyên môn Trong các buổi học chuyên đề, đổi mới phơng pháp dạy học thìchỉ cử đại diện, đồng thời việc vận dụng kiến thức đã thu đợc đó vào thựchành dạy học còn ít giáo viên quan tâm đến
* Thứ ba: Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học phânmôn Tập đọc còn hạn chế Chính sự thiếu thốn về trang thiết bị đồ dùng dạyhọc phục vụ cho môn học, đặc biệt là hệ thống bàn ghế không thuận tiện cho
Trang 22việc sử dụng các phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học mới cũng làm chotiết dạy Tập đọc khó thành công.
* Thứ t: Việc tuyển dụng và đào tạo giáo viên hiện nay còn cha hợp lý Để
đáp ứng đợc yêu cầu của ông thầy tổng thể thì nên chăng các trờng đào tạo giáoviên tiểu học phải thay đổi khối thi, nên chú ý vào môn năng khiếu thay vào việcthi tuyển khác khối thi A,C nh hiện nay Việc tuyển dụng giáo viên cũng cha hợp
lý, cha đáp ứng đợc yêu cầu của ngời giáo viên tiểu học
* Thứ năm: Quá trình dạy học phân môn Tập đọc chịu sự chi phối củacác yếu tố ngoại cảnh và yếu tố tâm lý của giáo viên, học sinh cũng phần nàolàm giảm đi sự tập trung và khả năng tiếp thu bài học
Những nguyên nhân chủ quan và khách quan này đã phần nào làm hạnchế chất lợng của việc dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản cho họcsinh tiểu học Chúng tôi cho rằng: Mỗi giáo viên phải đợc đào tạo đạt trình độchuẩn, có ý thức, có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề, yêu trẻ thì nhữnghạn chế trên có thể khắc phục một cách nhẹ nhàng
Kết luận chơng 2
Từ việc tìm hiểu thực trạng của việc dạy học Tập đọc phù hợp với cácloại văn bản hiên nay cho thấy nhận thức của giáo viên tiểu học về bản chấtcủa vấn đề này cha đúng đắn Mặc dù đa số giáo viên đánh giá cao ý nghĩacủa việc dạy học này, tuy nhiên lại cha tìm ra giải pháp để thực hiện và ápdụng trong dạy học Tập đọc Do nhiều nguyên nhân khác nhau (chủ quan vàkhách quan) đã làm cho quá trình dạy học Tập đọc nói chung cha đạt hiệu quảcao Đứng trớc thc trạng này mỗi chúng ta là những giáo viên trong tơng laicần phải có trách nhiêm với nghề nghiệp và chất lợng dạy học của học sinh.Phải đa ra đợc một số biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy học cho học sinhtiểu học phù hợp các loại văn bản
Chơng 3:
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc cho học sinh tiểu học phù hợp với các loại văn bản.
Trang 23Trên cơ sở tính đa dạng, phong phú của các thể loại văn bản đ ợc sửdụng trong dạy học Tập đọc hiện nay, đòi hỏi giáo viên phải có những biệnpháp dạy học phù hợp với các loại văn bản đó là việc làm hết sức cần thiết.Việc lựa chọn các biện pháp và hình thức tổ chức dạy học phải đảm bảo nhữngnguyên tắc nhất định Nó đòi hỏi giáo viên phải xuất phát từ lý luận dạy họccho đến thực tiễn dạy học đang diễn ra đáp ứng đợc mục tiêu của quá trìnhdạy học nói riêng, quá trình giáo dục nói chung Việc tuân thủ các nguyên tắc
nh : Nguyên tắc mục tiêu, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc khả thi, nguyên tắchiệu quả… thì điều hết sứcMột mặt giúp chúng ta không đi lệch với mục tiêu chung của quátrình dạy học, mặt khác là cơ sở giúp chúng ta đạt đợc mục tiêu cao nhất chotừng bài học cụ thể Sau đây là một số nguyên tắc chỉ đạo cơ bản:
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp.
Dạy học Tập đọc phù hợp với các loại văn bản nhằm mục đích nâng caohiệu quả dạy học Tập đọc cho học sinh tiểu học Để vấn đề dạy học này thực sự
có hiệu quả đòi hỏi quá trình đề xuất các biện pháp dạy học phải dựa trên nhữngnguyên tắc nhất định Sau đây là những nguyễn tắc cơ bản chỉ đạo toàn bộ quátrình đề xuất các biên pháp dạy học Tập đọc phù hơi với các loại văn bản
3.1.1 Nguyên tắc mục tiêu:
Ngoài mục tiêu chung của môn Tiếng Việt, phân môn Tập đọc trongNhà trờng tiểu học có mục tiêu: “Cung cấp cho học sinh những kiến thức về tnhiên, xã hội rèn luyện các kỹ năng đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễncảm và phát triển năng lực t duy Đồng thời giáo dục các em lòng ham đọcsách, thái độ yêu thích môn học”, trong đó mục tiêu số 1 là rèn luyện và hìnhthành năng lực đọc cho học sinh Vì vậy việc đề xuất các biện pháp dạy họcTập đọc để nâng cao hiệu quả dạy học cho học sinh phải xuất phát từ mục tiêucủa môn học Coi mục tiêu vừa là cơ sở và là cái đích hớng tới của việc đềxuất và sử dụng các biện pháp trong dạy học Ngoài ra cần phải căn cứ vàomục tiêu cụ thể của từng bài học làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp mộtcách có hiệu quả, góp phần thực hiện đợc mục tiêu của môn học cũng nh việcmục tiêu giáo dục của bậc tiểu học là: Giúp học sinh hình thành những cơ sởban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản
3.1.2 Nguyên tắc hệ thống.
Nguyễn tắc hệ thống đòi hỏi việc đề xuất các biện pháp phải đặt vào sự
đổi mới toàn diện của quá trình dạy học, xuất phát từ mục tiêu, nội dung,
ph-ơng pháp và kết quả để quá trình dạy học đạt đợc hiệu quả cao nhất Mặt khác
Trang 24nguyên tắc này cũng chỉ ra rằng việc đề xuất các biện pháp không đợc tản mạn,rời rạc, xa rời với bài học mà phải đặt vào mối quan hệ với mục đích cụ thể củatừng bài học cũng nh với các môn học khác Quá trình dạy học là một quá trìnhphức tạp do đó phải đi từ đơn giản đến phức tạp và phải đảm bảo sự liên tục Vìvậy việc đề xuất các biện pháp cũng không nằm ngoài nguyên tắc này.
3.1.3 Nguyên tắc hiệu quả.
Hiệu quả của giờ học nó phản ánh quá trình dạy học đã đi đúng hớnghay cha đúng hớng Đây là vấn đề mà ngời dạy học phải đạt đợc bằng biệnpháp này hay biện pháp khác, nó đợc thể hiện ở sự lĩnh hội của học sinh saugiờ học và có thể lợng hoá đợc Vì vậy nguyên tắc này chỉ đạo việc đề xuấtcác biện pháp phải tính đến hiệu quả đạt đuợc của khi áp dụng các biện phápnày, nó có phù hợp với đối tợng và từng bài học cụ thể cũng nh điều kiện dạyhọc hay không
3.1.4 Nguyên tắc khả thi.
Nguyên tắc này chỉ ra rằng việc đề xuất các biện pháp dạy học phù hợpvới các loại văn bản phải áp dụng rộng tãi phù hợp với điều kiện của các tr-ờng, các lớp cụ thể Các biện pháp đề xuất, dễ hiểu, dễ thực hiện và đạt hiệuquả cao Không đợc quá khó, mà phải phù hợp với trình độ của giáo viên, khảnăng tiếp thu của học sinh và phải hiện đại
3.2 Một số biện pháp.
3.2.1 Dạy học văn miêu tả
Để dạy đọc văn miêu tả có hiệu quả, đòi hỏi phải có sự cảm nhận sâu
sắc về bài văn đó Trên cơ sở tìm hiểu kỹ càng bài văn, lựa chọn những biện
pháp tối u nhất để để bài dạy đạt đợc mục tiêu đề ra Sau đây là một số biệnpháp có thể giúp giáo viên tháo rỡ những khó khăn khi dạy đọc văn miêu tả
a Làm chủ giọng đọc của bài văn.
Làm chủ giọng đọc của bài văn là yêu cầu hết sức cần thiết đối với ngời
đọc Để làm đợc điều đó, đòi hỏi trong quá trình dạy học giáo viên phải có
ph-ơng pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp và linh hoạt
*Thứ nhất: Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân, yêu cầu các em kýhiệu giọng đọc của bài văn và gạch chân dới những từ ngữ đặc tả mà khi đọc
ta cần nhấn mạnh Ví dụ khi đọc đoạn 2 của bài “Thắng biển” (TV4 – Tiểu học T2) taphải nhấn giọng các từ “dữ dội, trào qua, vật lộn dữ dội, vụt vào thân đê ràorào, dận dữ điên cuồng… thì điều hết sức” để thể hiện đợc sức mạnh của cơn bão biển
*Thứ hai: Tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm, tìm các câu đặc biệt vàthể hiện giọng đọc của các kiểu câu đó Trong văn xuôi miêu tả thờng có
Trang 25nhiều kiểu câu khác nhau, mỗi kiểu câu có sắc thái biểu đạt khác nhau, vì vậykhi đọc phải thể hiện đúng sắc thái của từng kiểu câu Ví dụ, trong bài “Hoahọc trò”(TV4– Tiểu họcT2) có câu “Lòng câu học trò phơi phới làm sao!” Khi đọcphải đọc thành hơi nâng giọng thể hiện tâm trạng của lứa tuổi học trò khi thấyhoa phợng nở Khi đọc những câu miêu tả ta đọc cái giọng nhẹ nhàng, chậm rãithể hiện vẻ đẹp của lá phợng “ Lá ban đầu xếp lại, còn e ấp, dần dần xoè ra chogió đa đẩy… thì điều hết sức” Hoặc khi đọc câu hỏi, phải đọc với giọng cao hơn giạng đọc củacâu miêu tả, chẳng hạn khi đọc câu “Hoa nở lúc nào mà bất ngờ vậy?” để thểhiện đợc sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên của học trò khi hoa phợng nở.
*Thứ ba: Tổ chức cho học sinh luyện đọc theo tổ để các thành viêntrong tổ tự sửa giọng đọc cho nhau dới sự giám sát của giáo viên
*Thứ t: Tổ chức cho học sinh luyện đọc nối tiếp theo tổ để giáo viêncùng cả lớp sửa lỗi cho bạn nếu đọc sai
*Thứ năm: Tổ chức cho học sinh thi đọc diễn cảm bài văn để các emthể hiện giọng đọc của mình và giúp giáo viên kiểm tra đợc khả năng của cácem
Nh vậy để làm chủ đợc giọng đọc của bài văn, không đòi hỏi chỉ làmchủ đợc về tốc độ, cờng độ, cao độ mà điều quan trọng là phải làm chủ đợcngữ điệu của từng bài văn cụ thể
b Tìm hiểu bài thông qua việc tìm hiểu nét đặc sắc của nghệ thuật ngôn từ.
Trong văn xuôi miêu tả, ngôn từ không chỉ dừng lại ở bản thân nó mà
nó nh là lời của kẻ khác Một trong những đặc điểm của thể loại văn miêu tả lànghệ thuật ngôn từ Vì vậy, dạy đọc văn miêu tả giáo viên phải tổ chức chohọc sinh tìm hiểu nội dung bài đọc thông qua việc tìm hiểu những từ ngữ đặctả của bài văn Để làm đợc điều đó giáo viên cần phải:
*Thứ nhất: Tổ chức cho học sinh thảo luận tự tìm ra các từ ngữ, hình
ảnh miêu tả mà các em cho là hay nhất
Ví dụ: Khi dạy bài Tập đọc “Thắng biển” (TV4-T2), giáo viên yêu cầuhọc sinh tìm ra những từ ngữ, hình ảnh miêu tả của bão biển học sinh có thểtìm các từ: giữ dội, rào rào, dận giữ điên cuồng, ầm ĩ, nuốt tơi con đê… thì điều hết sứcviệcnày, giáo viên không tự áp đặt cho học sinh mà phải tổ chức cho các em tự tìmtòi, phát hiện tuỳ theo khả năng hiểu biết của mình để tạo cho các em sự thâmnhập cần thiết vào bài văn
*Thứ hai: Tổ chức cho học sinh trình bày hiểu biết của mình về những
từ ngữ, hình ảnh vừa tìm đợc Thờng học sinh chỉ hiểu đợc nghĩa tờng minhcủa từ ngữ và hình ảnh mà ít đi sâu vào nghĩa hàm ẩn của nó Nh vậy cha khai
Trang 26thác sâu ý đồ của tác giả Yêu cầu học sinh diễn tả ngôn ngữ đặc tả của vănchơng dới dạng ngôn ngữ sinh hoạt để thấy đợc nét độc đáo của nghệ thuậtngôn từ trong văn miêu tả.
*Thứ ba: Cho học sinh so sánh, đối chiếu với các từ ngữ hình ảnh khácmang tính đối lập để thấy đợc sự tài tình trong miêu tả của tác giả và hiểu đợc từngữ, hình ảnh đó một cách sâu sắc đi đến sự đồng cảm với ý đồ của tác giả
*Thứ t: Cho học sinh thực hiện thao tác hồi đáp bài đọc qua việc hiểubài đọc theo ý của học sinh, tức là những từ ngữ hình ảnh đó giúp các em cảmnhận đợc điều gì Vấn đề này theo một trật tự mang tính hệ thống từ việc hiểu
từ đến hiểu đợc câu, đến đoạn và toàn bài Trên cơ sở đó đi từ tìm ý của từng
đoạn đến việc rút ra đợc nội dung của bài văn Ví dụ: Cũng đối với bài Tập
đọc “Thắng biển” sau khi các em tìm đợc các từ ngữ hình ảnh miêu tả cơn bãobiển, giáo viên sử dụng phiếu bài tập yêu cầu học sinh hồi đáp văn bản qua hệthống bài tập lựa chọn chẳng hạn: Từ những từ ngữ, hình ảnh đó, giúp emcảm nhận đợc điều gì về cơn bão biển?
* Thứ năm: Trên cơ sở hiểu đợc nội dung bài học, giáo viên tiếp tục tổchức cho học sinh luyện đọc nâng cao để thể hiện cảm xúc của mình đối vớibài đọc Nh vậy, qua đây giáo viên nắm bắt đợc khả năng tiếp thu bài của họcsinh qua việc các em thể hiện giọng đọc của mình Giúp các em củng cố vànâng cao sự hiểu biết của mình về bài đọc, thực sự hoà mình vào bài đọc và h-ớng tới bài học giáo dục cần thiết
Thực tế dạy học cho thấy rằng giáo viên chỉ chú ý đến kết quả cuốicùng thông qua hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời nh : Vẻ đẹp đó có gì đặcbiệt? Đoạn văn giúp các em cảm nhận điều gì hoặc bài văn này muốn nói vớichúng ta điều gì?… thì điều hết sứcmà không chú ý đến quá trình học sinh đi đến kết quả đó,không biết các em gặp khó khăn ở khâu nào để có biện pháp giúp đỡ kịp thờicho dù kết quả của nó là tốt đi chăng nữa nhng có chăng đó cũng là ngẫunhiên và chủ yếu chỉ thực hiện đợc đối với học sinh khá giỏi Để khắc phụctình trạng này khi dạy học văn xuôi giáo viên phải chú ý tới đặc điểm nghệthuật ngôn từ của nó, từng bớc tổ chức cho học sinh khai thác nội dung bàivăn qua việc tìm hiểu những nét đặc sắc của nghệ thuật tả ngôn từ Biện pháphiệu quả nhất là xây dựng các phiếu bài tập để học sinh phát huy tính tích cựccủa mình Đối với trình tự nêu nh trên ta có thể xây dựng thành các phiếu bàitập nh ở phần phụ lục (Phiếu bài tập số 1)
c Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu qua trình tự miêu tả của bài văn.
Trang 27Cùng với ngôn ngữ, trình tự thời gian và không gian miêu tả của bài văn
là nét riêng biệt tạo nên sự độc đáo của văn xuôi miêu tả Một mặt nó thể hiện
óc quan sát tinh tế của tác giả về sự thay đổi của thời gian, mặt khác nó thểhiện cảm nhận sâu sắc của tác giả về những góc nhìn một sự vật hiện tợng ởnhiều thời điểm khác nhau Vì vậy khi dạy đọc phải hiểu bài văn miêu tả, giáoviên cần phải chú ý nét độc đáo này
Trớc hết, giáo viên phải đọc toàn bài, nắm đợc diễn biến của toàn bộ bàivăn, đi từ điểm xuất phát cho đến sự kết thúc của sự vật hiện tợng đợc miêu tả.Việc nắm đợc trình tự thời gian của bài văn giúp giáo viên làm chủ đợc đối t-ợng miêu tả của bài văn cùng với những chuyển biến tinh tế của đối tợng theothời gian và không gian xác định Qua đó, giáo viên cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp
độc đáo của bài văn qua ngòi bút miêu tả tài tình của tác giả
Tiếp theo, trên cơ sở xác định chủ đề của bài văn, lựa chọn đối tợngmiêu tả chính của bài văn và xác định trình tự miêu tả bằng nhiều dấu hiệukhác nhau Khi đó giáo viên đã xác lập đợc mối quan hệ giữa các chi tiết, các
đặc điểm của đối tợng biểu hiện thông qua ngôn ngữ và hình ảnh giàu sứcbiểu cảm Vấn đề này tuỳ thuộc vào bài văn cụ thể có thể xác định trình tựthời gian theo đoạn,theo các dấu hiệu ngôn ngữ, hoặc theo dấu hiệu nội dungcủa đối tợng miêu tả Nh vậy giáo viên đã làm chủ đợc về mặt nghệ thuậtmiêu tả đặc sắc của bài văn
Sau đó, tổ chức cho học sinh tự xác lập trình tự miêu tả của bài văn Đi
từ tìm những từ ngữ biểu hiện trình tự miêu tả theo một trật tự nhất định và sắpxếp theo cách hiểu của học sinh Trên cơ sở đó tổ chức cho học sinh thảo luận
và rút ra đợc nội dung chính theo một trình tự thời gian để thấy đợc sự quansát, miêu tả tinh tế của tác giả, thấy đợc sự vận động về mặt t tởng của tác giả.Tuỳ thuộc vào yêu cầu cụ thể của từng bài văn mà giáo viên tổ chức dới cáchình thức khác nhau, có thể đặt câu hỏi, có thể xây dựng thành các bài tập tìnhhuống, bài tập trắc nghiệm, bài tập điền thế,… thì điều hết sức Nhằm giúp học sinh tiếp cậnnhanh nhất t tởng của tác giả
Nếu chỉ dừng lại ở đây thì cha đi đến cái đích của việc đọc hiểu bài văn
Mà trên cơ sở đó tổ chức cho học sinh hồi đáp văn bản thông qua việc rút ra
đ-ợc t tởng hay nội dung chính của bài văn mà tác giả đa đến cho ngời đọc Vấn
đề này giáo viên không đặt các câu hỏi mang tính áp đặt học sinh mà dùngcâu hỏi để kiểm tra sự cảm nhận khác nhau của học sinh về bài đọc Qua đóthấy đợc sự sáng tạo, tích cực về hoạt động nhận thức của các em và có biện
Trang 28pháp định hớng kịp thời giúp các em có cách cảm nhận đúng đắn về t tởng củabài văn.
Tóm lại, mỗi bài đọc có một cách thể hiện khác nhau, tuỳ thuộc vào sựquan sát tinh tế của tác giả Mỗi bài văn là một cách vận động t tởng khácnhau của tác giả Vì vậy, để dạy đọc văn miêu tả có hiệu quả, giáo viên phảinắm đợc sự vận động t tởng của tác giả và tổ chức cho học sinh tìm tòi, pháthiện ra sự vận động đó trên các thao tác khác nhau của học sinh
d) Tìm hiểu bài theo lối bổ dọc bài văn.
Phần lớn các bài tập đọc ở tiểu học đợc kết cấu theo chiều ngang, mỗi
đoạn có sự độc lập tơng đối về nội dung Tuy nhiên, có những bài văn lại kếtcấu theo chiều dọc, ứng với mỗi đoạn không trình bày một nội dung tiêu biểu,
có những đoạn lại có nhiều nội dung thông báo khác nhau Với những bài nhthế thì không thể dạy theo chiều cắt ngang mà có thể tìm hiểu bài theo lối bổdọc Có thể tiến hành nh sau:
- Tổ chức cho học sinh tìm hiểu chủ đề của bài văn Đối với văn miêutả, chủ đề thờng gắn với tên nội dung của bài văn, nó có ý nghĩa định hớngcho toàn bộ bài văn Việc tìm hiểu chủ đề của bài văn giúp học sinh nắm đợc
t tởng chính của bài văn cũng nh nội dung của nó Vấn đề đặt ra là xây dựngbài tập cho học sinh xác định chủ đề, nội dung chính của bài nh thế nào Vớinhững bài văn có tên gọi không gợi ra chủ đề, ta có thể yêu cầu học sinh đặtlại tên khác Có những bài có tên gọi phù hợp với chủ đề, tên bài hay, có nhiều
ý nghĩa thì yêu cầu học sinh chỉ ra những ý nghĩa này bằng cách đặt tên bàitrong thế đối lập với những tên bài khác
- Việc làm này sẽ giúp học sinh nhận ra cái hay, điều thú vị của tên vànắm đợc t tởng của bài văn
- Tổ chức cho học sinh tìm những từ ngữ, những câu quan trọng của bàivăn thông qua hệ thống câu hỏi hoặc phiếu bài tập Điều này, nhất là đối vớivăn miêu tả có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi trong văn miêu tả ngôn ngữ từnghệ thuật kết lại thành hình ảnh lung linh sắc màu của bài tập đọc Chính vìvậy, khi xác định những từ ngữ, chi tiết hoặc những câu quan trọng, không thểkhông đi tìm những hình ảnh, chi tiết nghệ thuật tiêu biểu nhất Giáo viênkhông tự áp đặt cho học sinh mà định hớng cho các em tự phát hiện và đi đếnthống nhất để lựa chọn, tránh sự hời hợt, ngoài cuộc của các em đối với bài đọc
- Làm rõ cái hay của việc dùng từ ngữ, hình ảnh để giúp học sinh tiếpcận với nội dung của bài đọc Để làm đợc điều này, trớc hết phải tổ chức chohọc sinh hiểu đợc nghĩa của các từ ngữ, hỉnh ảnh, đây là cơ sở để nắm đợc nét
Trang 29đặc sắc của nghệ thuật và nắm đợc nội dung chính của bài đọc Để chỉ ra đợccái hay của các hình ảnh nghệ thuật, giáo viên phải tổ chức cho học sinh “giảimã” chúng, tức là làm rõ nội dung mà các hình ảnh này biểu đạt Để thực hiệnnhiệm vụ này, học sinh phải nêu đợc những điều mình cảm nhận đợc qua hình
ảnh Nh vậy, ứng với mỗi từ ngữ hình ảnh, câu văn biểu hiện một nội dungtiêu biểu của toàn bộ bài văn Qua đây học sinh đã thâm nhập vào bài văn theocách diễn đạt của tác giả
- Tổ chức cho học sinh rút ra đợc nội dung chính của bài văn Việc đọchiểu chỉ đợc xem là hoàn tất khi học sinh đã nắm nội dung chính của văn bảnmột cách trọn vẹn Lúc này học sinh phải hiểu đợc nội dung của toàn bộ vănbản nh một chỉnh thể Để làm đợc điều này, học sinh phải trải qua thao tácnhóm gộp các nội dung biểu đạt tìm hiểu đợc các từ ngữ, câu, chi tiết, hình
ảnh đặc sắc của bài văn thành một chỉnh thể Đó chính là t tởng, là nội dungchính mà tác giả đa đến cho ngời đọc Trên cơ sở đó tổ chức cho học sinh thựchiện thao tác hồi đáp văn bản
Khi dạy bài “Con Sẻ” (TV4-T2) giáo viên có thể khai thác bài học theolời bổ dọc bài văn Trớc hết yêu cầu học sinh nắm đợc con chó đã nhìn thấygì? Khi nhìn thấy nó đã có hành động gì? Khi con chó lại gần con Sẻ non thìchuyện gì sẽ xẩy ra? Trớc hành động của con Sẻ già, con chó đã làm gì? Kếtquả ra sao? Từ đó rút ra bài học giáo dục Thông qua hệ thống câu hỏi này,giáo viên xây dựng các phiếu bài tập đa dạng nh: tự luận, điền thế, lựa chọn,… thì điều hết sức
Để đặt học sinh vào các tình huống cụ thể để yêu cầu các em bộc lộ suy nghĩcủa bản thân (Phiếu bài tập kèm theo ở phần phụ lục), (Phiếu số 2)
Nh vậy, việc dạy đọc chỉ thực sự đạt hiệu quả khi chúng ta có hình thức
tổ chức dạy học phù hợp Đối với day đọc văn xuôi để hiệu quả của giờ họccao, một mặt cần tuân thủ quy trình lên lớp của dạy học Tập đọc, điều quantrọng là phải tìm ra các biện pháp đặc trng của thể loại Với những biện pháp
đề xuất nh trên sẽ giúp giáo viên dạy đọc văn miêu tả có hiệu quả Tuy nhiênvấn đề đặt ra là áp dụng nh thế nào thì đòi hỏi giáo viên không nên cứng nhắc,rập khuôn mà cần căn cứ vào mục tiêu cụ thể của bài học và đặc biệt là chú ývới trình độ của học sinh để lựa chọn, xác định biện pháp và hình thức tổ chứcdạy đọc có hiệu quả cao
3.2.2 Dạy đọc thơ.
Nếu trong văn miêu tả nét đặc trng của nó là sự vận động t tởng của tácgiả thì ở thơ là cảm xúc của tác giả Do thiên về cảm xúc nên trong các tácphẩm thơ rất giàu tính nhạc điệu Đặc biệt là các bài thơ đợc dùng trong dạy
Trang 30học Tập đọc ở tiểu học nhạc điệu của bài thơ là điều tác giả rất quan tâm Điềunày khiến cho học sinh rất thích thú khi đọc thơ, giúp các em dễ nhớ, dễthuộc Bên cạnh đó chúng ra cũng thấy rằng trong thơ tác giả rất quan tâm tớicác biện pháp tu từ nghệ thuật Vì vậy, để dạy học thơ có hiệu quả, giáo viêncần nắm vững những nét đặc trng này để có biện pháp tổ chức dạy học phùhợp Có thể sử dụng một số biệp pháp sau:
a Nâng cao hiệu quả luyện đọc lấy nhạc điệu làm cơ sở.
Ngoài việc tổ chức cho học sinh xác định nhịp của bài thơ, cách ngắtnghỉ cũng nh những từ ngữ cần nhấn mạnh, chúng ta không thể không chú ýtới nhạc điệu của bài thơ Nó không chỉ giúp chúng đọc đúng giọng điệu củabài thơ mà còn giúp chúng ta đọc đúng ngữ điệu Để làm đợc điều đó đòi hỏigiáo viên cần phải:
- Tổ chức cho học sinh thảo luận tìm ra giọng đọc phù hợp đối với bàithơ Sau khi thống nhất với nhau về giọng đọc, giáo viên yêu cầu học sinh đọcdới nhiều hình thức khác nhau để thể hiện giọng đọc của mình Ví dụ: khi dạybài Tập đọc “Quạt cho bà ngủ” ta đọc với giọng nhẹ nhàng, chậm, suy t để thểhiện tình cảm của cháu đối với bà Sau khi thống nhất đợc giọng đọc, giáoviên yêu cầu học sinh luyện đọc nối tiếp theo theo tổ và cá nhân
- Yêu cầu học sinh nhận xét về cách kết thúc ở các tiếng cuối cùng củacác dòng thơ có gì giống nhau Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc “Vàm cỏ đông”(TV3-T1) giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét về cách kết thúc tiếng cuốicùng của dòng thơ thứ nhất với dòng thơ thứ ba, cũng nh cách kết thúc củadòng thơ thứ hai với dòng thơ thứ t ở các khổ thơ có gì đặc biệt (lặp lại cácvần) việc đa ra nhận xét phải dựa trên cách kết thúc cụ thể của các bài thơ vàphải đi đến cụ thể giống nhau nh thế nào Qua đó yêu cầu học sinh liệt kê cácvần giống nhau của các dòng thơ và đọc các tiếng có chứa các vần đó
- Cho học sinh đọc các vần thơ có sự hiệp vần, nhằm mục đích giúp các
em bớc đầu hoà nhập vào bài thơ Sau đó yêu cầu các em lắp các dòng thơ vào
đoạn (nếu có) và toàn bài thơ Khi đó giáo viên sẽ kiểm tra đợc mức độ thâmnhập của học sinh vào bài thơ qua giọng đọc
- Yêu cầu học sinh nhận xét về mối quan hệ của các dòng thơ hiệp vần
và của đoạn hoặc bài thơ Tức là học sinh đã tiếp cận đợc tác dụng của việc sửdụng các dòng thơ có sự hiệp vần và khi đọc các dòng thơ này ta phải đọc vớigiọng nh thế nào Giáo viên yêu cầu học sinh thể hiện giọng đọc theo đoạn(khổ thơ) hoặc toàn bài thơ để sửa kịp thời cho các em Trên cơ sở đó giáoviên khái quát tính nhạc điệu của bài thơ và tác dụng của nó để đi đến thốngnhất bài thơ đọc với giọng nh thế nào
Trang 31- Nh vậy, việc xác định nhạc điệu của bài thơ không chỉ giúp học sinhtìm ra giọng đọc phù hợp của bài thơ mà qua đó còn giúp học sinh tiếp cận vớiviệc hiểu bài thơ, đó là cơ sở cho việc đọc hiểu bài thơ một cách hiệu quả,giúp các em dễ học thuộc bài thơ
b Dạy đọc hiểu qua các biện pháp tu từ.
Mỗi bài thơ đều mang đến cho trẻ triết lí sống, một nhân sinh quanquan trọng, nó đợc truyền tải bằng nhiều nội dung khác nhau Trong đó, nộidung giáo dục của mỗi bài thơ đối với các em không nói nhiều bằng ngôn ngữ
mà đợc thể hiện hết sức cô đọng qua các biện pháp tu từ nghệ thuật (nhân hoá,
so sánh, ẩn dụ… thì điều hết sức) với những hình ảnh rất gần gũi, quen thuộc với cuộc sốngcủa trẻ thơ Vì vậy việc tìm hiểu các biện pháp tu từ nghệ thuật đó sẽ giúp họcsinh nâng cao hiệu quả đọc hiểu của mình
- Trớc hết, tổ chức cho học sinh thảo luận, tìm các từ ngữ hình ảnh đặcsắc của bài thơ Dựa vào khả năng cảm thụ của mình, học sinh tìm đợc các từngữ, hình ảnh mà các em cho là đặc sắc và hay nhất.Vì sao? Và yêu cầu họcsinh đọc các câu thơ có chứa từ ngữ hình ảnh đó
- Cho học sinh diễn tả hoặc thay thế những từ ngữ, hình ảnh đặc sắc đóbằng ngôn ngữ và hình ảnh thực trong cuộc sống để học sinh đối chiếu và cáccủa từ ngữ và hình ảnh đặc sắc của tác giả để thấy đợc cái hay, cái độc đáo,tác dụng của việc sử dụng
- Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: Để nói lên điều đó, tác giả đã sửdụng biện pháp nghệ thuật gì? Tuỳ theo những hình ảnh đặc sắc trong bài màhọc sinh nêu lên biện pháp nghệ thuật của bài thơ Sau đó giáo viên khái quátcác biệp pháp nghệ thuật cùng với tác dụng của nó, để học sinh có biểu tợng
đúng về các hình ảnh đặc sắc của bài
- Tiếp theo yêu cầu học sinh đọc lại câu thơ, khổ thơ, hoặc bài thơ, chú
ý nhấn mạnh các hình ảnh đợc sử dụng các biện pháp nghệ thuật để thấy đợctác dụng của nó trong việc thể hiện, miêu tả đối tợng Từ đó rút ra nội dungchính của bài thơ Nh vậy học sinh đã thực sự hiểu đợc nội dung của bài thơ.Trên cơ sở đó yêu cầu học sinh rút ra đợc bài học giáo dục của mình và đi đếnkết luận của giáo viên về nội dung cũng nh bài học giáo dục của bài thơ.Chẳng hạn khi giọng bài thơ “Hai bàn tay em” (TV2-T2) để thấy đợc vẻ đẹphai bàn tay của bé ta có thể tiến hành theo trình tự nh sau: Giáo viên yêu cầuhọc sinh đọc thầm khổ thơ và những từ ngữ đặc sắc miêu tả vẻ đẹp hai bàn taycủa bé (nh hoa đầu cành – Tiểu học hoa hồng nở nụ – Tiểu học cánh trên ngón xinh) Sau đóyêu cầu học sinh trình bày cách hiểu của mình về từ ngữ hình ảnh đó Vậy để
Trang 32miêu tả vẻ đẹp hai bàn tay của bé, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nghệthuật gì? ( Nghệ thuật so sánh) Sau đó khái quát cái hay cái đẹp của việc sửdụng biện pháp tu từ nghệ thuật đó để học sinh hiểu đợc tác dụng của nó Đểcho giờ học sôi nổi, gây hứng thú học tập cho học sinh, giáo viên thiết kế nộidung này thành các phiếu bài tập để phát huy tính tích cực của các em Chẳnghạn chúng ta có thể tham khảo phiếu bài tập kèm theo ở phần phụ lục (phiếu
số 3)
- Có thể nói việc tổ chức cho học sinh tìm hiểu nghệ thuật tu từ của bàithơ là cơ sở để các em tiếp cận và hiểu đợc nội dung bài thơ một cách sâu sắc.Trong quá trình tổ chức, giáo viên có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau,
có thể xây dựng các bài tập để giúp học sinh phát hiện nhanh và đúng các biệnpháp nghệ thuật cũng nh tác dụng của nó Việc tìm hiểu các biện pháp nghệthuật không chỉ giúp học sinh hiểu đợc nội dung bài thơ mà còn là cơ sở đểrèn luyện và nâng cao kỹ năng đọc cho các em
c Sự khác biệt trong dạy đọc các thể thơ.
Trong chơng trình tiểu học, thể loại thơ đợc dùng trong dạy học Tập
đọc rất đa dạng và phong phú với nhiều thể loại khác nhau: thơ 4 chữ, 5 chữ, 6chữ, thơ lúc bát, thơ tự do, và có cả bài thơ thể 7 chữ, 8 chữ, nh ng nhiều nhất
là thơ 4 chữ và 5 chữ Mỗi thể loại có kết cấu khác nhau, do đó khi dạy đọccác thể loại này cần chú ý những vấn đề sau:
Đối với thể thơ 4 chữ, chủ yếu khi đọc ta ngắt nhịp 2/2, trọng âm thờngrơi vào hai tiếng đầu của dòng thơ Vì vậy, khi đọc ta thờng đọc nhấn mạnhhai tiếng đầu của dòng thơ Tốc độ đọc của thể thơ này hơi nhanh hơn so vớicác thể thơ khác Hầu hết các bài thơ này đọc với giọng vui tơi, phấn khởi, nộidung chủ yếu xoay quanh miêu tả những vấn đề gần gũi với cuộc sống của trẻthơ bằng các hình tợng hết sức quen thuộc với các em Ví dụ: Khi dạy họcsinh đọc khổ thơ thứ nhất trong bài “Vẽ quê hơng” (TV3-T2) yêu cầu học sinhxác định giọng đọc và cách ngắt nhịp nh sau:
Trang 33lên vấn đề để sự giải quyết vấn đề sẽ nhẹ nhàng khi ta đọc trùng (thấp) xuống
ở cuối dòng thơ Và đối với thể thơ này ta đọc chậm hơn thể thơ bốn chữ đểcảm nhận đợc ngữ điệu mềm dẻo của bài thơ và hiểu nội dung của bài thơ Vídụ: Khi đọc khổ thứ ba của bài thơ “Ngày khai trờng” (TV3-T2) ta xác địnhgiọng đọc nh sau:
Nhìn các thầy / các cô //
“
Ai cũng nh / trẻ lại //
Sân trờng / vàng nắng mới //
Lá cờ bay / nh reo //”
Đối với thể thơ 6 chữ, 7 chữ và 8 chữ trong chơng trình có số lợng ít,việc xác định nhịp của bài thơ phải dựa trên hiểu nghĩa của từng từ, cụm từtrong dòng thơ, tức là chú ý tới ngữ pháp trong câu Ta có thể ngắt nhịp 2/2/2,4/2, 3/3… thì điều hết sứcĐối với thơ 7 chữ chủ yếu ngắt nhịp 4/3 Một số câu đặc biệt ngắtvới nhịp 3/4, đối với thơ 8 chữ thờng ngắt nhịp 3/5 hoặc 4/4… thì điều hết sức Ví dụ: Khi dạyhọc sinh đọc khổ thơ cuối của bài “Vàm cỏ đông” (TV3-T2) yêu cầu học sinhngắt nghỉ và xác định giọng đọc nh sau:
Đây con sông/ nh
“ dòng sữa mẹ//
Nớc về / xanh ruộng lúa / vờn cây//
Và ăm ắp / nh lòng ngời mẹ//
Chở tình thơng/ trang trải đêm ngày //”
Đối với thơ lục bát, chiếm số lợng khá nhiều trong chơng trình Mỗi câuthơ có hai dòng, một dòng 6 chữ và một dòng 8 chữ, dòng thơ thứ nhất vàdòng thơ thứ hai có mối quan hệ chặt chẽ về mặt nghĩa và ở cuối câu thơ có sự
độc lập tơng đối về nghĩa Khi đọc đối với dòng thơ 6 chữ ta thờng ngắt nhịp2/4 đối với dòng thơ 8 chữ ta ngắt nhịp 4/4 và đặc biệt giữa hai dòng trongmột câu thơ hoặc giữa các câu thơ có sự hiệp vần cao tạo nên tính nhạc điệucủa câu thơ, đồng thời cần chú ý đọc nhấn giọng ở câu thơ đề và đọc nhẹnhàng ở câu thơ phá đề để thấy đợc mối quan hệ chặt chẽ của sự gieo vần củacâu thơ
Đối với thể thơ tự do, trong chơng trình có số lợng ít, thể thơ này có đặc
điểm riêng so với các thể thơ khác là nó không tuân thủ một nguyên tắc nào
về mặt ngữ pháp cũng nh cú pháp Ngôn ngữ của các bài thơ này đợc diễn tảrất gần gũi với văn xuôi Ví dụ: Bài “Khi mẹ vắng nhà”(TV2-T2), bài “Tiểu
đội xe không kính” (TV4-T2), bài thơ “Bộ đội về làng” (TV3-T2), thực tế đốivới thể thơ này giáo viên cha tìm đợc giọng đọc phù hợp nhất đúng với giọng
đọc của bài thơ Khi đọc các bài thơ này ta phải thay đổi giọng đọc liên tục