Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng, vai trò của đội ngũ trí thức cũngnhư công tác đào tạo con người mới trong xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, cùngvới việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng ch
Trang 1Trêng §¹i häc Vinh Khoa gi¸o dôc chÝnh trÞ
Trang 2Trêng §¹i häc Vinh Khoa gi¸o dôc chÝnh trÞ
Gi¶ng viªn híng dÉn: ThS Bïi ThÞ CÇn
Sinh viªn thùc hiÖn : TrÇn V¨n Tïng
Vinh, th¸ng 5 n¨m 2011
Trang 3Lời cảm ơn
Trong quá trình làm khoá luận này, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của Hội đồng khoa học khoa Giáo dục chính trị, các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh; Sự khích lệ, động viên, chia sẻ của gia đình, bạn bè và của người thân; Đặc biệt là sự dẫn
dắt chu đáo, nhiệt tình của cô giáo, Ths.Bùi Thị Cần - người trực tiếp giúp tôi
làm khoá luận này Chính sự hướng dẫn nhiệt tình và những tình cảm quý báu
đó đã động viên, thôi thúc, giúp đỡ tôi có thể hoàn thành tốt khoá luận của mình.
Chính vì thế, nhân dịp này cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành tới Hội đồng khoa học của khoa Giáo dục chính trị, các thầy cô giáo trong
khoa, tới gia đình, bạn bè, người thân và đặc biệt là cô giáo, Ths.Bùi Thị Cần.
Trong quá trình thực hiện khoá luận, mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn có những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo và góp ý của các thầy cô giáo, bạn bè để khoá luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Trần Văn Tùng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 05
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức 12
1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về trí thức 12
1.2 Nội dung xây dựng đội ngũ trí thức theo quan điểm của Hồ Chí Minh 22
Chương 2: Xây dựng đội ngũ trí thức huyện Quảng Xương - Thanh Hoá dưới sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh 43
2.1 Tinh hình xây dựng đội ngũ trí thức huyện Quảng Xương - Thanh Hoá 43
2.2 Định hướng và một số giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức Quảng Xương - Thanh Hóa hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 62
Kết luận 80
Danh mục tài liệu tham khảo 83
Phụ lục 84
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức là một nội dung quan trọng trong
hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giárất cao vai trò của đội ngũ trí thức Người luôn quan tâm đến công tác giáo dục,bồi dưỡng và tạo điều kiện để trí thức tham gia tích cực và có hiệu quả vào sựnghiệp cách mạng Theo Người: “Trí thức không bao giờ thừa, chỉ có thiếu tríthức mà thôi”[26; 36] Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng
cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên mục tiêu, nội dung của công tác xây dựng,bồi dưỡng đội ngũ trí thức cho phù hợp Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh,hơn 80 năm qua, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng xây dựng và phát triển độingũ trí thức Đảng ta khẳng định: “Trong mọi thời đại, trí thức luôn là nền tảngtiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá trithức”[04; 81]
Trước tình hình thế giới đang có những biến chuyển nhanh chóng, phứctạp Khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, quá trình quốc tế hoá và toàncầu hoá diễn ra ngày một nhanh chóng, luôn đặt ra những thuận lợi cơ bản vànhững thách thức to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia - dântộc Ở nước ta, toàn Đảng, toàn dân đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước, phát triển nền “kinh tế tri thức”, xem khoa học - côngnghệ, giáo dục - đào tạo là thành phần quan trọng, quyết định trong chiến lượcphát triển đất nước nhanh và bền vững Tình hình đó đặt ra yêu cầu ngày càngcao về chất lượng nguồn nhân lực nói chung và yêu cầu, trách nhiệm của mỗi tríthức đối với sự nghiệp đổi mới đất nước lại trở nên bức thiết hơn bao giờ hết
Đảng ta nhận định: “Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng củacách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lựcđặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược pháttriển”[04; 81] Chính vì vậy, một trong những mục tiêu cơ bản Đảng ta đề ra
Trang 6thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầuphát triển đất nước, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức cácnước trong khu vực và trên thế giới Gắn bó vững chắc giữa Đảng và Nhà nướcvới trí thức, giữa trí thức với Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kếttoàn dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông - trí”[04; 90]
Hưởng ứng và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước, trong thời gian qua, công tác xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức tạihuyện Quảng Xương - Thanh Hoá luôn được các cấp, các ngành, các tổ chứcquan tâm thực hiện và đã đạt được những kết quả quan trọng Tuy nhiên, côngtác xây dựng đội ngũ trí thức ở huyện Quảng Xương - Thanh Hoá trước yêu cầucủa sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá còn có nhiều vấn đề cần đượcquan tâm nghiên cứu, tìm hiểu: một số cán bộ đảng và chính quyền chưa nhậnthức đúng về vai trò, vị trí của trí thức, đánh giá sử dụng trí thức không đúngnăng lực và trình độ, coi trọng vốn tiền, vật chất mà chưa coi trọng nguồn nhânlực có trình độ cao… Đồng thời, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứukhoa học đồng bộ về công tác xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức huyệnQuảng Xương - Thanh Hoá Vì vậy mà việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vềxây dựng và phát triển đội ngũ trí thức chưa đúng với tiềm năng, chưa đầy đủ,không thường xuyên, thiếu sáng tạo và có khi mang tính chất hình thức
Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng, vai trò của đội ngũ trí thức cũngnhư công tác đào tạo con người mới trong xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, cùngvới việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau trong tư tưởng Hồ Chí Minh,xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ mới của các h mạng, từ chủ trương của Đảng vàNhà nước thì việc học tập, quán triệt sâu sắc và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minhvào xây dựng đội ngũ trí thức Quảng Xương - Thanh Hóa nhằm đáp ứng yêucầu mới của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước có ý nghĩa lýluận, thực tiễn, cấp thiết và lâu dài
Với những lý do cơ bản trên, tôi chọn vấn đề: “Nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức ở huyện Quảng Xương (Thanh Hoá) hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận của mình.
Trang 72 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ trí thức đãđược nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới những góc độ, khía cạnhkhác nhau Tuy nhiên, mục tiêu chung nhất, cơ bản nhất của các công trìnhnghiên cứu đều hướng tới vấn đề xây dựng con người xã hội chủ nghĩa với sứmệnh lịch sử: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc nướcViệt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay và mai sau Đó cũng chính là việc chăm loxây dựng và phát triển thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước Cáccông trình đều đề cập đến nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xâydựng và phát triển đội ngũ trí thức, đặc biệt là về giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ
và thanh niên Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển độingũ trí thức, trên cơ sở thực tiễn trí thức Việt Nam ngày nay chủ yếu là thế hệtrẻ đang còn trong môi trường học đường, đồng thời cũng là vì mục tiêu sâu xahơn là muốn xây dựng được đội ngũ trí thức chất lượng tốt thì phải chuẩn bị vàbắt đầu sớm nhất có thể, từ khâu đơn giản nhất đến phức tạp nhất trong quá trìnhhình thành, trưởng thành của mỗi trí thức, tức là bắt đầu từ những cấp học nhưmầm non, tới trung học cơ sở, trung học phổ thông cho tời đại học và sau đạihọc Do đó, việc nghiên cứu về xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức về cơ bảnnhất vẫn là nằm trong việc giáo dục và phát triển thế hệ trẻ và thế hệ thanh niênViệt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vềđội ngũ trí thức với nhiều góc độ, quy mô khác nhau, với các hình thức khácnhau như các luận văn, luận án, sách, các bài nói, tài liệu, tạp chí… trong đó cómột số công trình khoa học đã đề cập đến các nội dung mà khóa luận cần nghiêncứu, tham khảo và kế thừa:
Bác Hồ với sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ trẻ, Kỷ yếu Hội thảo khoa học,
nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 1995
Nguyễn Văn Tùng, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh
Trang 8 Thành Duy, Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người
Việt Nam phát triển toàn diện, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
Nguyễn Đình Hoà, Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau, Tạp chí Cộng sản số 775/2007.
PGS.TS.Phan Thanh Khôi, Bài học từ những quan điểm của chủ nghĩa
Mác về trí thức, trong cuốn “Học thuyết Mác với sự nghiệp đổi mới ở Việt
Nam”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003
Trí thức trong khối liên minh công - nông - trí vì sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay, Tạp chí Cộng sản, tháng 11/1999.
Trịnh Quốc Tuấn, Quan điểm và chính sách của V.I.Lênin đối với trí thức
trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nghiên cứu lý luận, số 4/1995.
Bài học từ những quan điểm của Hồ Chí Minh về trí thức, Tạp chí Lịch sử
đó, các tác giả đưa ra các giải pháp, kiến nghị để xây dựng và phát triển đội ngũtrí thức Việt Nam
Ngoài ra, còn có các tác phẩm khác như:
Đỗ Mười, Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất
nước, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
GS.Phạm Tất Dong, Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; Định hướng phát triển đội ngũ trí
Trang 9thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001
PTS.Nguyễn Quốc Bảo - Đoàn Thị Lịch, Trí thức trong công cuộc
đổi mới đất nước, nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 1998.
TS.Đoàn Minh Duệ, Trí thức Nghệ An trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, nhà in Báo Nghệ An, 2005…
Đây là các công trình nghiên cứu khá công phu, sâu sắc về đội ngũ trí thứcViệt Nam Từ lý luận đến thực tiễn, các tác giả đã đi sâu phân tích quan niệmhiện đại về “trí thức”, nghiên cứu đội ngũ trí thức Việt Nam qua các thời kỳ lịch
sử, khái quát tình hình biến đổi của trí thức Việt Nam trong công cuộc đổi mới,phân tích những hạn chế, ưu điểm của trí thức Việt Nam: thực trạng, số lượng,
cơ cấu đến tâm trạng, nguyện vọng của đội ngũ trí thức Trên cơ sở đó, các tácgiả đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát triển đội ngũ trí thức đáp ứng yêucầu và nhiệm vụ cách mạng ở nước ta giai đoạn hiện nay
Bên cạnh đó, có một số luận văn, luận án đã nghiên cứu về vị trí, vai trò,đặc điểm, động lực sáng tạo của trí thức trong quá trình cách mạng Việt Namnhư:
Phạm Việt Dũng, Vị trí và vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá
độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sỹ Triết học, Hà Nội,
1988; Trịnh Quang Cảnh, Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong
công cuộc đổi mới, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội, 2001; Nguyễn Đình
Minh, Phát huy vai trò nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong
quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội, 2003;
Nguyễn Xuân Phương, Vai trò của trí thức thủ đô Hà Nội trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội, 2004…
Tuy nhiên, trên thực tế, chưa có một đề tài khoa học, một công trìnhnghiên cứu cụ thể về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng đội ngũ tríthức Quảng Xương - Thanh Hóa giai đoạn hiện nay
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận
Mục đích:
Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức
và thực trạng phát triển của đội ngũ trí thức Quảng Xương - Thanh Hóa, Khóaluận nêu lên những quan điểm và giải pháp để xây dựng và phát huy vai trò củađội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện QuảngXương - Thanh Hóa giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ:
Trình bày khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng độingũ trí thức đáp ứng mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của đấtnước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Phân tích những đặc điểm cơ bản, thực trạng của đội ngũ trí thức QuảngXương - Thanh Hóa và xu hướng vận động của đội ngũ này trong tiếntrình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chung nhằm xây dựng và pháthuy vai trò đội ngũ trí thức Quảng Xương - Thanh Hóa trong giai đoạnhiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận
Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu nội dung cơ
bản tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức và nghiêncứu đội ngũ trí thức huyện Quảng Xương - Thanh Hóa, nhất là đặc điểm, vai tròcủa đội ngũ này trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu cơ bản trong phạm vi tư
tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và nghiên cứu về quá trình xây dựng và pháttriển đội ngũ trí thức ở Quảng Xương - Thanh Hóa trong thời gian từ 2005 đến2010
Trang 115 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận: Khóa luận được triển khai trên cơ sở các quan điểm củachủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về xây dựng đội ngũ trí thức
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương phápcủa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp lịch sửvới logic, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra thực tế để thựchiện Khóa luận này
6 Đóng góp khoa học của khóa luận
Khóa luận góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống những nội dung cơbản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức, từ
đó nhận định đúng đắn, khách quan về công tác xây dựng đội ngũ trí thức tạihuyện Quảng Xương - Thanh Hóa, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng công tác xây dựng đội ngũ trí thức về chất lượng cũng như số lượng củađội ngũ trí thức Quảng Xương - Thanh Hóa hiện nay theo tư tưởng Hồ ChíMinh
Khóa luận cung cấp thêm những luận cứ khoa học giúp cho các cấp,ngành liên quan trong việc xây dựng đội ngũ trí thức, góp phần làm luận cứkhoa học cho việc xây dựng chính sách đối với đội ngũ trí thức Quảng Xương -Thanh Hóa Khóa luận có thể dùng làm tài liệu hữu ích giúp cho những người cóyêu cầu và mối quan tâm cần nghiên cứu được thuận lợi và sát thực, cũng nhưviệc nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề liên quan đến trí thức trong cácmôn lý luận chính trị Mác-Lênin
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TRÍ THỨC1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về trí thức
1.1.1 Khái niệm trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Đại hội VII (1991) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra khái niệmkhoa học và toàn diện về tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một
hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạngViệt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủnghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lêninvào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa văn hoá dântộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóngcon người”[14; 19] Trong hệ thống quan điểm toàn diện đó, tư tưởng về xâydựng, phát triển đội ngũ trí thức cũng như sử dụng, quản lý, lôi cuốn trí thức vào
sự nghiệp đấu tranh cách mạng chung của dân tộc có vị trí, vai trò quan trọngkhông chỉ về mặt lý luận mà còn về thực tiễn trong Cách mạng dân tộc dân chủnhân dân và đặc biệt là trong Cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếuhọc, ông ngoại của Bác là một cụ Đồ thanh bạch mở lớp dạy học trong làng.Thân phụ Bác Hồ là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, đồng thời cũng là ngườithầy khai tâm cho Bác Người lại được học từ các thầy giáo nổi tiếng trong vùng
về trình độ học vấn và tư cách đạo đức như thầy Vương Thúc Độ, Vương ThúcQuý, Hoàng Văn Quỳnh…
Cùng với đó là truyền thống hiếu học của miền quê xứ Nghệ, cộng vớinhững ảnh hưởng to lớn có tính định hướng hành động cứu nước của cả một hệtrí thức cuối thế kỷ XIX ngay trên quê hương Nghệ - Tĩnh với các nhà tư tưởnglớn như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cùng các bạn đồng tâm, đồng chínhư Đặng Thái Thân, Đặng Nguyên Cẩn… Tất cả đã giúp cho cậu học sinhNguyễn Sinh Cung từ rất sớm đã gắn với học vấn, với trí thức, có điều kiện nhận
Trang 13thức đúng đắn về tư cách và đạo đức cũng như vai trò của người trí thức chânchính đối với dân, với nước.
Sau này, khi vào Huế (1906) học các trường Pháp - Việt do thực dân Pháp
mở với mục đích đào tạo một đội ngũ công chức, nhân viên hợp tác trung thànhvới chúng trong việc đàn áp, bóc lột nhân dân ta, Người lại có thêm cơ hội đểkiểm nghiệm giá trị của người trí thức nói chung và người trí thức dân tộc nóiriêng Trái với âm mưu đen tối của thực dân phong kiến và tay sai, ngay trongcác nhà trường này, không hiếm gì những thầy giáo tuy hoàn cảnh bó buộc phảilàm việc cho kẻ thù cướp nước mà vẫn giữ tư cách, phẩm chất người trí thứcchân chính gắn bó với dân, với nước qua công việc hàng ngày của mình Dưới
sự kiểm soát ngặt nghèo của kẻ thù và bè lũ tay sai, các thầy vẫn âm thầm tìmcách hâm nóng tinh thần yêu nước thương nòi, lòng căm giận bè lũ cướp nước
và bán nước, nuôi dưỡng trong tâm hồn đám học sinh non trẻ của mình ý thứctrách nhiệm đối với vận mệnh đất nước, số phận nhân dân Gương sáng của thầygiáo Lê Văn Miến, một trí thức tây học ở Pháp về dạy ở trường Quốc học Huế,
đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các học sinh, trong đó có Nguyễn Tất Thành.Người càng thêm củng cố nhận thức về chức năng, vai trò của người trí thứcchân chính gắn bó mật thiết với nhân dân, với đồng bào, hết lòng phấn đấu chohạnh phúc của nhân dân, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Để rồi trên đườngvào Nam (1910), khi dừng chân một thời gian ở Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành
đã bước đầu thực nghiệm đảm nhiệm vài trò của một trí thức dân tộc khi dạyhọc tại trường Dục Thanh (Phan Thiết)
Năm 1911, bắt đầu xuất dương bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã códịp làm quen, kết bạn và cùng hoạt động với rất nhiều trí thức tiến bộ khắp nămchâu bốn biển, ngay cả tại nước Pháp thực dân Người đã đến với chủ nghĩaMác-Lênin và Người đã nhận biết được rằng, các nhà kinh điển Mácxít cũng đãdành rất nhiều thời gian và trí tuệ để nghiên cứu, chỉ rõ vai trò quan trọng của tríthức đối với phát triển xã hội nói chung và đối với sự nghiệp cách mạng nói
Trang 14Người đã học tập, thấm nhuần những quan điểm khoa học cơ bản của cácnhà Mácxít khi nghiên cứu về đội ngũ trí thức như: “Tôi dịch người trí thức,tầng lớp trí thức theo nghĩa Đức là Literatliteratentun, bao gồm không chỉ cácnhà văn hoá học mà tất cả những người có văn hoá, những người làm nghề tự donói chung, những người đại biểu trí óc, để phân biệt với những đại biểu lao độngchân tay”(V.I.Lênin)[15; 309], trí thức “…bao hàm không chỉ những nhà trướctác mà thôi, mà còn bao hàm mọi người có học thức, các đại biểu của nhữngnghề tự do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc”(V.I.Lênin)[15; 372],
“Người trí thức đấu tranh, tuyệt nhiên không phải là bằng cách dùng thực lựctheo lối này hay lối khác, mà bằng cách dùng những lý lẽ Vũ khí của họ chính
là sự hiểu biết của cá nhân họ, những năng lực của cá nhân họ, lòng tin của cánhân họ Họ chỉ nhờ vào những phẩm chất của cá nhân họ, cho nên mới có thểđóng được một vai trò nào đó Vì vậy, đối với họ, quyền được hoàn toàn tự dobiểu hiện bản chất cá nhân của mình là điều kiện đầu tiên để công tác được kếtquả Với tư cách là một bộ phận trong toàn thể, họ chỉ phục tùng toàn thể đó mộtcách miễn cưỡng, phục tùng vì bắt buộc chứ không phải tự nguyện Họ chỉ thừanhận kỷ luật là cần thiết đối với quần chúng chứ không phải đối với những nhânvật được lựa chọn Dĩ nhiên là họ xếp mình vào hàng ngũ những nhân vật đượclựa chọn”[15; 373]
Bên cạnh đó, theo chủ nghĩa Mác-Lênin, đội ngũ trí thức là “tầng lớp xãhội đặc biệt, là một bộ phận tiêu biểu nhất trong lực lượng lao động trí óc Họ lànhững người lao động trí óc phức tạp và sáng tạo, chủ yếu về mặt lý thuyết vàtinh thần Nhưng những giá trị lý thuyết và tinh thần đó lại càng được ứng dụngvào sản xuất vật chất và tinh thần của xã hội, quy định năng suất, chất lượnghiệu quả của tốc độ sản xuất kinh tế đời sống xã hội, xã hội càng hiện đại, đặcbiệt là xây dựng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, vai trò của trí thứcngày càng quan trọng Và trên thực tế, trí thức ngày càng gắn bó với nền sảnxuất hiện đại, với giai cấp công nhân”[29; 166]
Trang 15Trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tinh hoa văn hoá dân tộc và thời đại, HồChí Minh đưa ra định nghĩa về trí thức: “Trí thức là hiểu biết Trong thế giới chỉ
có hai thứ hiểu biết: Một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản Khoa học tự nhiên
do đó mà ra Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội Khoa học xãhội do đó mà ra Ngoài hai cách đó, không có tri thức nào khác Một người họcxong đại học, có thể gọi là trí thức Song, y không biết cày ruộng, không biếtlàm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác Nói tóm lại:Công việc thực tế, y không biết gì cả Thế là y chỉ có trí thức một nửa Tri thứccủa y là tri thức học sách, chưa phải là trí thức hoàn toàn Y muốn thành mộtngười trí thức hoàn toàn, thì phải biết đem tri thức đó áp dụng vào thực tế”[24; 235]
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa toàn diện và sâu sắc
về trí thức Trong định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí thức được phản ánhmang tính chất toàn diện nhất, đảm bảo tính khoa học, tính tiên tiến của thời đại
Về lý luận, trí thức phải có hiểu biết (có tri thức) Hai lĩnh vực về hiểu biết màChủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra mang tính chất toàn diện: từ khoa học tự nhiên đếnkhoa học xã hội; về thực tiễn, trí thức chỉ thực sự là trí thức khi vận dụng đượcnhững tri thức mình có vào thực tiễn đấu tranh cho phát triển khoa học - kỹthuật, đấu tranh cho dân tộc và cho tiến bộ, phát triển xã hội, tức là cải tạo tựnhiên, cải tạo xã hội; giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng conngười
1.1.2 Vai trò và vị trí của trí thức theo quan điểm của Hồ Chí Minh 1.1.2.1 Vai trò và vị trí của trí thức trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, vai trò của trí thứcrất lớn C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trên cơ sở tổng kết lịch sử xã hội loàingười và thực tiễn đấu tranh cách mạng của phong trào cộng sản và công nhânquốc tế, đã đánh giá cao vai trò, vị trí của đội ngũ trí thức đối với phong tràocách mạng Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, giai cấp công
Trang 16với các giai cấp và tầng lớp lao động khác mà trước hết là với giai cấp nông dân,đội ngũ trí thức và lãnh đạo họ tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng.
Cũng như những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, Chủ tịch Hồ Chí Minhnhận biết rõ tầm quan trọng của nhận thức, học vấn, sự hiểu biết của con ngườinói chung và của trí thức nói riêng đối với tiến trình phát triển của xã hội, đặcbiệt với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội và giải phóng con người
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Trí thức Việt Nam là tầnglớp có học thức, kiến thức, hiểu biết, có tinh thần yêu nước nồng nàn và có ýthức dân tộc cao, trí thức Việt Nam là một bộ phận trong lực lượng cáchmạng”[27; 216] Theo Người: “Trí thức Việt Nam trước đây tuy được đào tạodưới chế độ cũ và tuy xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau, nhưng trí thứcnói chung đều bị đế quốc và phong kiến áp bức Vì vậy, trí thức Việt Nam có ócdân tộc và đầu óc cách mạng Vì có đầu óc dân tộc và vì có học thức nên xemđược sách, biết được dân chủ, biết được lịch sử cách mạng, nhất là lịch sử cáchmạng Pháp nên dễ hấp thu tinh thần cách mạng… Cũng vì vậy, lúc đã hiểu biết,trí thức ta dễ theo cách mạng, và vì vậy, Đảng cách mạng phải dìu dắt giúp đỡtrí thức của ta dựa vào phe cách mạng, phe công nông”[26; 34]
Hơn nữa, ở vào giai đoạn lịch sử cụ thể của những thập niên đầu thế kỷ
XX, trí thức yêu nước Việt Nam cũng như trí thức tiến bộ trong các nước thuộcđịa và nửa thuộc địa đã vươn lên trở thành những chiến sỹ tiên phong trongphong trào cách mạng Chính Quốc tế Cộng sản cũng đã nhận định, ở các nướcthuộc địa, tầng lớp trí thức hạng nhỏ và hạng trung thường là một bộ phận đảmnhận sứ mệnh lịch sử là tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin
Do đó mà Nguyễn Ái Quốc luôn quan tâm, nâng đỡ, đào tạo và tạo điềukiện thuận lợi nhất cho trí thức tham gia hiệu quả vào sự nghiệp cách mạngchung của toàn dân tộc Đánh giá đúng và tin tưởng vào tầng lớp trí thức ViệtNam, ngày 11/11/1924, với danh nghĩa là phái viên của Quốc tế Cộng sản,Người từ nước Nga đến Quảng Châu (Trung Quốc) để thực hiện mục đích đào
Trang 17tạo lớp cán bộ trí thức và cán bộ công nông cho cách mạng Việt Nam; chuẩn bị
về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của một đảng cách mạng chân chính
ở Việt Nam Đầu năm 1925, Người mở lớp huấn luyện chính trị Phần lớn họcviên là những người Việt Nam yêu nước, xuất thân từ học sinh trí thức, một sốngười là tú tài nho học Trong chương trình học, Người đã đề cập tới phong tràocách mạng thế giới; phong trào cách mạng Việt Nam; phương pháp vận độngcách mạng Trong phương pháp vận động cách mạng, Người nêu phương phápvận động nông dân, công nhân, trí thức Đối với trí thức, Người nhấn mạnh đếnvai trò, đặc điểm, tâm lý của trí thức Việt Nam và cách sử dụng trí thức Với kếtquả hơn 200 học viên được đào tạo, đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp cáchmạng nước ta lúc đó với tên tuổi của các nhà trí thức - cách mạng như: TrầnPhú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu, Phạm Văn Đồng…
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dựa trên thực tiễn xã hội Việt Nam, một đấtnước, một xã hội mà trong đó chủ nghĩa yêu nước là truyền thống quý báu củadân tộc, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước và đượcđánh dấu bằng nhiều sự kiện lịch sử oai hùng, điều đó đã khẳng định về tinhthần, lòng tự hào, truyền thống dân tộc của trí thức Việt Nam; Chủ tịch Hồ ChíMinh đã sớm chỉ ra rằng: “Giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp,giải phóng xã hội, mà giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội ở Việt Nam chính
là giải phóng nông dân vì nông dân nước ta chiếm khảng 95% dân số” Bởi vậy,Bác nói: “Công nông là gốc của cách mạng,… Nhưng cách mạng cũng cần cólực lượng trí thức…, trong sự nghiệp cách mạng lao động trí óc có một vai tròquan trọng và vẻ vang”[19; 78]
Chứng minh vai trò của trí thức trọng thực tiễn cách mạng, Người nói:
“Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức ViệtNam đã chung một phần quan trọng Một số thì tham gia vào công việc khángchiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội, nhân dân Một số thìhăng hái giúp đỡ ở ngoài”[24; 156], “… Chúng ta có quyền tự hào rằng, những
Trang 18Chính vì vậy, khi chủ trì việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa ra Sáchlược vắn tắt của Đảng, Người nhấn mạnh nhiệm vụ của Đảng là: “Phải hết sứcliên lạc với tiểu tư sản trí thức…để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”; Chươngtrình tóm tắt của Đảng khẳng định: “Đảng lôi kéo tiểu tư sản trí thức… về phíagiai cấp vô sản”[09; 32] Đặc biệt, sau khi sáng lập Việt Nam độc lập đồng minh
hội (Việt Minh, 1941), trong 10 chính sách Việt Minh và trong Kính cáo đồng
bào, Nguyễn Ái Quốc đã đưa các “Hiền nhân, chí sĩ” lên hàng đầu Trong Thư gửi đồng bào toàn quốc (10/1944), Người nhấn mạnh tới tầm quan trọng của đại
đoàn kết dân tộc: “Phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết
và hoạt động nhất trí của toàn thể quốc dân ta”[22; 505] Cơ cấu đó đã bao gồm
cả tầng lớp nhân sỹ trí thức Vì: “Không có những trí thức tham gia cách mạng,tham gia kháng chiến thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều…”[24; 235].Người đã lập nhiều tổ chức của trí thức như: Hội văn hoá cứu quốc Việt Nam(1944); Đảng dân chủ Việt Nam (1944)… để tập hợp, lôi kéo và hướng trí thứcvào phục vụ cách mạng
Từ thế kỷ XI, trên Bia văn miếu Quốc tử giám đã ghi: “Hiền tài lànguyên khí quốc gia”, và dĩ nhiên, nguyên khí mạnh thì đất nước thịnh, nguyênkhí yếu thì đất nước suy Vai trò của trí thức dân tộc không những đã được lịch
sử hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước chứng minh và được Chủ tịch Hồ ChíMinh vận dụng sáng tạo trong xây dựng và lôi kéo trí thức phục vụ cho cáchmạng nước nhà Điều đó càng chứng minh cho lý luận, tầm nhìn xa tài trí củaNgười Trong thế kỷ XX, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam đối với cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân không chỉ được khẳng định bởi thắng lợi củacách mạng tháng Tám 1945, mà còn khẳng định hơn nữa trong thắng lợi cuốicùng vào mùa Xuân năm 1975, đánh dấu một bức ngoặt lịch sử quan trọng trongtiến trình phát triển đất nước
1.1.2.2 Vai trò và vị trí của trí thức trong kháng chiến kiến quốc và cách mạng xã hội chủ nghĩa
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí thức không những có vai trò to lớn trongkháng chiến, mà trong kiến thiết đất nước, trong xây dựng xã hội chủ nghĩa, vai
Trang 19trò của trí thức cần được chú trọng và phát huy thêm nhiều Người viết: “Kháng
chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên chủ nghĩa xã hội càng cần, tiến lên chủ nghĩacộng sản lại càng cần”[23; 359]
Sau khi cách mạng tháng Tám (1945) thành công, trong lời kêu gọi
“Nhân tài và kiến quốc” và “Chỉ thị tìm người tài đức”, Người viết: “Sau 80
năm bị thực dân Pháp giày vò, nước Việt Nam ta cái gì cũng kém cỏi, chỉ cólòng sốt sắng của dân là rất cao Nay muốn giữ vững nền độc lập thì chúng taphải đem hết lòng hăng hái đó vào con đường kiến quốc Kháng chiến phải điđôi với kiến quốc Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công, Kiếnquốc có chắc chắn thành công, kháng chiến mới mau thắng lợi Kiến thiết cần cónhân tài Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm, nhưng nếu chúng ta khéo lựachọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêmnhiều…
Nay chúng ta đã giành được quyền độc lập Một trong những công việcphải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí Bây giờ xây dựng kinh
tế, không có cán bộ không làm được Không có giáo dục, không có cán bộ thìcũng không nói gì đến kinh tế - văn hóa”[23; 36] Vì: “… để hoàn thành nhiệm
vụ kháng chiến, ngoài việc quân sự, ắt phải phát triển kinh tế, cho nên cầnnhững người chuyên môn thông thạo về công nghệ và nông nghiệp Cần pháttriển giao thông vận tải nên cần có những kỹ sư thông thạo việc đắp đường, bắccầu Cần giữ gìn sức khoẻ của nhân dân, cho nên cần thầy thuốc Cần đào tạocán bộ cho mọi ngành, cho nên cần thầy giáo… Do đó, lao động trí óc (trí thức)
có nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong côngcuộc hoàn thành dân chủ mới để tiến lên chủ nghĩa xã hội
Vậy chúng tôi mong rằng đồng bào ta, ai có tài năng và sáng kiến vềnhững công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch
rõ ràng cho Chính phủ Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng,
có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay”[23; 57]
Trang 20của nhân tài: “Nước nhà cần phải kiến thiết Kiến thiết cần phải có nhân tài.Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức” Và với tư cách
“Chủ tịch Chính phủ Việt Nam” lúc bấy giờ, Bác tự nhận khuyết điểm đã khôngthấy hết được các bậc hiền tài, khiến cho họ không thể xuất thân: “E vì Chínhphủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuấtthân Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”[23; 67] Tiếp đó, Bác giao nhiệm vụcho các địa phương phải nhanh chóng tìm những người tài đức và báo cáo ngaycho Chính phủ: “Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiền năng,các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm đượcnhững điều ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết”[23; 192]
Người luôn nhắc nhở Đảng và Chính phủ không những phải liên kết chặtchẽ với trí thức, lôi kéo trí thức tạo nền tảng vững mạnh công - nông - trí mà cònphải tôn trọng, trọng dụng, khuyến khích trí thức, tạo mọi điều kiện để trí thứctham gia vào sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc
Vững vàng quan điểm và lập trường của mình, sau khi cách mạng thángTám (1945) thành công, Người đã tạo mọi điều kiện và thu hút đông đảo tầnglớp nhân sỹ, trí thức theo cách mạng, hoà mình với nhân dân đấu tranh vì sựnghiệp cách mạng chung của dân tộc Nhiều chính sách lớn đã được kịp thời ban
bố nhằm mục đích tập hợp rộng rãi hơn và sử dụng ở mức cao nhất năng lực củatầng lớp các nhân sỹ, trí thức, bao gồm các giới văn nghệ sỹ, các nhà hoạt độngkhoa học trong nhiều lĩnh vực khác nhau: “Nước nhà cần phải kiến thiết, kiếnthiết cần phải có nhân tài Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đại đoànkết Đối với các vị quan lại cũ, cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, nhữngngười có tài, có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh vác việc nước”[23; 451].Người nói: “Đảng cách mạng lại càng trọng trí thức, cách mạng rất cần trí thức
và chính ra chỉ cách mạng mới biết trọng trí thức”[24; 32] Nhưng trọng trí thứcnhư thế nào? Không phải tất cả đều trọng, Người nhấn mạnh: “Trí thức đángtrọng là trí thức hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”[26; 32] Ngườiđưa ra ví dụ rất rõ ràng: “Lần đầu tiên ta có cuộc bầu các anh hùng, chiến sĩ lao
Trang 21động Trong bảy anh hùng lao động có một anh hùng trí óc là chú Nghĩa Trong
150 chiến sĩ lao động, có hơn mười chiến sĩ lao động trí óc”[26; 33]
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định xây dựng chủ nghĩa xã hội là gắn liền vớikhoa học - kỹ thuật hiện đại, cho nên Người càng nhấn mạnh thêm vai trò của tríthức, Người viết: “Ra sức đào tạo thật nhiều cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý cầnthiết cho sản xuất và phát triển Chỉ có như thế, chúng ta mới xây dựng thắng lợiChủ nghĩa xã hội”[24; 145], Người nhắc lại tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứIII của Đảng, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến kiến thức khoahọc và kỹ thuật…, ra sức đào tạo các cán bộ khoa học và xây dựng các cơ sởnghiên cứu khoa học; mở rộng hợp tác với các nước anh em trong việc nghiêncứu khoa học kỹ thuật Chính vì vậy, Người đã trực tiếp cùng với Thường vụ Bộchính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng xem xét, phê duyệt quy hoạch xâydựng phát triển trường Đại học Bách khoa Hà Nội do các chuyên gia Liên Xôgiúp ta xây dựng Ngay từ khoá tốt nghiệp đầu tiên (1961 đến năm 1968) đã balần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và làm việc với thầy trò trường Đại họcKhoa học và Công nghệ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Chínhnơi đây Người đã căn dặn: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạytốt, học tốt”[24; 155] Vì: “Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam sẽ làcùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết một nước Việt Nam mới, một nước ViệtNam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”[24; 156]
Trong bài nói chuyện tại lớp Nghiên cứu chính trị khoá I, trường Đại họcNhân dân Việt Nam, ngày 21/7/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“Lực lượng chủ chốt của cách mạng là công nhân và nông dân… Nhưng cáchmạng cũng cần có lực lượng của trí thức (chúng ta quen gọi là lao động trí óc),
… Vì lẽ đó, trong sự nghiệp cách mạng và xây dựng xã hội chủ nghĩa, lao độngtrí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang; và công - nông - trí cần phải đoànkết chặt chẽ thành một khối”, “… là một bộ phận trong lực lượng cách mạng, tríthức có nhiệm vụ thi đua phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Vì vậy, Đảng và
Trang 22Chính phủ ta rất quý trọng những người trí thức của nhân dân, vì nhân dân”[27;
đó, mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức không nằm ngoài mục tiêu xây dựng conngười xã hội chủ nghĩa, vì “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải cócon người xã hội chủ nghĩa”, tức là xây dựng một đội ngũ trí thức đầy đủ: “đức”
và “tài”; đào tạo những trí thức thật sự biết hy sinh vì Tổ quốc, tham gia tích cựcvào sự nghiệp cách mạng, góp phần xây dựng thành công xã hội Cộng sản chủnghĩa, trong đó, trí thức là người biết đưa tri thức vào thực tiễn, thực hành,phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc vì sự tồn tại và phát triển của nước nhà;xây dựng con người có mục đích và lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vữngvàng, có tư tưởng và tác phong xã hội chủ nghĩa: “Đào tạo nên những ngườithừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên, đào tạo những ngườicông dân có ích cho Tổ quốc, những người cán bộ dân tộc, những ngườicông dân tốt và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà”[20; 510]
Như vậy, người trí thức trong tư tưởng Hồ Chí Minh là người “trí thức vôsản”[12; 23] với tài - đức gắn liền, đức ở đây là đạo đức cách mạng; người tríthức phải có năng lực lí luận và phải giỏi thực hành, tức là phải biết học tập, tiếpthu tri thức, biết đem kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ và sự hiểu biết của mình
áp dụng vào thực tế nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho xã hội; trí thức phảilàm gương cho nhân dân; trí thức phải được bồi dưỡng truyền thống cách mạng,biết gắn bó chặt chẽ với công nhân, nông dân và nhân dân lao động, tạo thànhliên minh công - nông - trí để cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trí thứcphải biết phấn đấu để có cuộc sống lành mạnh, có đạo đức và có tư cách
Trang 23Chính vì vậy mà Người luôn chú ý tới công tác giáo dục cũng như bồidưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau Vì: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”,tiếp thu tinh hoa của dân tộc và thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tríthức là vốn liếng quý báu của dân tộc Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càngnhư thế ”[24;156].
1.2.2 Tiêu chuẩn của trí thức theo quan điểm của Hồ Chí Minh 1.2.2.1 Trí thức phải đem lý luận vào thực tiễn
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí thức nếu chỉ có hiểu biết lý luận thì mớichỉ là trí thức một nửa Người trí thức chỉ thực sự là trí thức khi đem lý luận gắnliền với thực tiễn Nghĩa là phải có năng lực lí luận và phải giỏi thực hành nhằmđem lại hiệu quả cao nhất cho xã hội Theo Người: “Lý luận phải đem ra thựchành, thực hành phải nhằm theo lý luận Lý luận cũng như cái tên (hoặc nhưviên đạn), thực hành cũng như cái đích để bắn, có tên mà không bắn, hoặc bắnlung tung, cũng như không có tên Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế Chỉ họcthuộc lòng, để loè thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích”[24; 238]
Phê phán những hạn chế của một số trí thức là sách vở, giáo điều, xa rờilao động… Đặc biệt với bộ phận trí thức cũ, Người khẳng định trí thức cũ
“không khỏi ảnh hưởng của thực dân và phong kiến”; Với trí thức đã và đangtham gia cách mạng, Người nói: “…Người trí thức tham gia cách mạng, thamgia kháng chiến rất quý báu cho Đảng Không có những người trí thức đó thìcách mạng khó khăn thêm nhiều Nhưng có đôi người trí thức vì thế mà kiêungạo, lên mặt Chứng kiêu ngạo, lên mặt rất có hại cho họ Nó ngăn trở họ tiếnbộ”[24; 357] Do đó, Người yêu cầu “…trí thức phải khiêm tốn, chớ kiêu ngạo,phải ra sức làm các việc thực tế… phải cố gắng học, học thì phải hành”[25; 204]
Vì “Biết lý luận mà không thực hành là lý luận suông Học để áp dụng vào việclàm Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậmchạp vừa hay vấp váp Có lý luận thì mới hiểu được mọi việc trong xã hội, trongphong trào để chủ trương cho đúng, làm cho đúng”[25; 47]
Trang 24Theo Hồ Chủ tịch, mục đích của học là để thực hành, để phát triển, đểsống… Hành (thực hành) là điều kiện để cũng cố và nâng cao kiến thức đượctiếp thu, rèn luyện kỹ năng và hình thành những phẩm chất cần có của người laođộng mới Theo Người, học và hành là hai khâu của quá trình nhận thức gắn bókhăng khít với nhau Hành không chỉ là vận dụng những điều đã học mà còn lànguồn gốc của tri thức mới, là biện pháp rèn luyện con người một cách toàndiện
Bên cạnh đó, một chuẩn mực quan trọng mà người trí thức phải có, chuẩnmực đó càng có ý nghĩa thiết thực đối với trí thức trong thời kỳ quá độ hiện nay
ở nước ta, đó là: Người trí thức phải không ngừng học hỏi, tự đào tạo, tự rènluyện và trau dồi tri thức Người viết: “Trường huấn luyện đã giúp anh em biếtphương hướng, biết nhằm mục đích mà đi Như vậy, anh em học ít nhưng bổ íchnhiều… rồi sau anh em còn phải học nữa, học mãi trong khi đi làm việc”[23; 101]
Tự học là nhiệm vụ quan trọng của mỗi trí thức: “Học hỏi là một việc phải tiếptục suốt đời Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế Không ai có thể
tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân tangày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ cùngnhân dân”[27; 215]
Tự học là nhiệm vụ thường xuyên, suốt đời, đòi hỏi mỗi trí thức phải tựgiác học tập, tu dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng, củacuộc sống đang đặt ra Tự học là công việc hết sức khó khăn, vì cuộc sống muônhình, muôn vẻ đòi hỏi mỗi trí thức phải có ý chí, bản lĩnh, lập trường kiên định
để chiến thắng chủ nghĩa cá nhân trong bản thân mình, không thoả mãn dừnglại; không tự kiêu, tự đại, dấu dốt, mà phải học thường xuyên, liên tục, suốt đời
để tu dưỡng phẩm chất đạo đức và năng lực công tác
1.2.2.2 Trí thức phải có đạo đức cách mạng, thật lòng phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức là vấn đề tiên quyết trong xây dựngcon người mới Do đó, người trí thức phải thấy tầm quan trọng của việc tu
Trang 25dưỡng đạo đức và năng lực để có đủ đức, đủ tài phục vụ cách mạng Người viết:
“Có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại
đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn cóhại cho xã hội nữa Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gìnhưng cũng không lợi gì cho loài người” Người đặc biệt quan tâm tới việc giáodục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng: “Trung với nước - hiếu với dân” cho tríthức Theo Người, trí thức phải lấy tinh thần yêu nước làm nền tảng phát triển sựnghiệp, lấy việc phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc làm mục tiêu phấn đấu suốtđời của mình Muốn thế, trí thức phải có đạo đức cách mạng Vì: “…đạo đứccách mạng trước hết đòi hỏi mỗi người trí thức phải có lòng yêu nước nồng nàn,tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với giai cấp công nhân; phải căm thù sâu sắc
lũ giặc cướp nước và bè lũ phản động bán nước; phải quyết tâm phấn đấu vì sựnghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc, đặt lợi ích của Đảng, củagiai cấp công nhân, của dân tộc lên trên hết, trước hết Có đạo đức cách mạnglàm nền tảng, trí thức mới hoàn thành được nhiệm vụ hiện tại và nhiệm vụ cáchmạng trong tương lai”[19; 325]; “…Vì làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành
xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rấtnặng nề, một cuộc đấu tranh phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánhđược nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nềntảng mới hoàn thành nhiện vụ cách mạng vẻ vang”[28; 283] Người nhấn mạnh:
“Phải có cái đức để đi đến cái trí Vì khi đã có cái trí, cái đức chính là cái đảmbảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa Mác-Lênin và đưa nó vàotrong cuộc sống Con người thực sự có đạo đức thì bao giờ cũng khiêm tốn, chịukhó học tập, phấn đấu để bồi dưỡng năng lực, nâng cao tài năng, trí tuệ của mình
để hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó”[19; 328] Hồ ChíMinh chỉ rõ: “Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc rất quan trọng, nếukhông có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng Đạo đức cách mạng làtriệt để trung thành với cách mạng, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân”[19;
Trang 26của dân tộc thì mới dám dũng cảm hy sinh quên mình vì nghĩa lớn; mới quyếttâm rèn luyện mình theo lẽ sống cao cả và tình cảm cách mạng thật sự “tận trungvới nước, tận hiếu với dân” Người căn dặn: “Yêu Tổ quốc là việc gì trái vớiquyền lợi của Tổ quốc, chúng ta kiên quyết chống lại Yêu nhân dân là việc gìhay người nào phạm đến lợi ích của nhân dân, chúng ta kiên quyết chống lại”[20;398] Mặc dù Người đề cao nhiệm vụ của người trí thức là phải học tập thật tốt
để nâng cao nhận thức, để nắm bắt khoa học kỹ thuật, nắm vững chuyên mônnghiệp vụ, nhưng mục đích cuối cùng của trí thức phải là nhằm phụng sự Tổquốc, phụng sự nhân dân
Người viết: “Trí thức có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gươngcho dân trong mọi việc Dân ta đã đấu tranh rất dũng cảm Lẽ tất nhiên giới tríthức phải hy sinh đấu tranh, dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân”[19; 135]
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến khoa học, kỹthuật Việt Nam (18/05/1963), Người nói: “ các đồng chí phải là những chiến sỹtrên mặt trận tư tưởng, văn hoá và khoa học, kỹ thuật; phải góp tài, góp sức đểcải tiến bộ mặt xã hội của nước ta, làm cho nhân dân ta công tác và sản xuấttheo khoa học và đời sống của nhân dân ta văn minh, tức là khoa học, lành mạnh
và vui tươi Đó là nhiệm vụ nặng nề mà cũng rất vẻ vang”[19; 78 - 79]
Với trí thức văn hóa - nghệ thuật, Người nói: “Văn hóa nghệ thuật cũng làmột mặt trận và văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy” “Ngòi bút của các bạncũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em vănhoá và trí thức phải làm cũng như là những chiến sỹ anh dũng trong công cuộckháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”[24; 131]
“…để làm tròn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sỹ cần phải rèn luyện đạođức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân; giữ gìn thái độ khiêm tốn;phải thực sự hoà mình với quần chúng, cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghềnghiệp, phải hết lòng giúp đỡ thanh niên, làm cho văn nghệ nước nhà ngày càngthêm trẻ, thêm xuân”[18; 647]
Trang 27Với cán bộ ngành y, Người căn dặn: “Phải thương yêu bệnh nhân, ngườibệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú Chính phủ phó thác cho các
cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào Đó là một nhiệm
vụ rất vẻ vang Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh
em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn “Lương y phảinhư từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng”[26; 476]
Với những người làm nghề giáo dục, Người nói: “… Các thầy giáo, các
cô giáo phải gần gũi dân chúng Các thầy giáo cũng như các trí thức khác là laođộng trí óc Lao động trí óc phải biết sinh hoạt của nhân dân, nếu chỉ dở sáchđọc thì không đủ Phải yêu dân, yêu học trò, gần gũi nhau, gần gũi cha mẹ họctrò Giáo dục ở trường và ở gia đình có quan hệ với nhau Các chú, các cô phảithi đua trao đổi kinh nghiệm”[27; 225] Người viết: “Các nhà giáo là những anhhùng vô danh, có sứ mệnh cao cả “trồng người”; “Vì lợi ích mười năm thì phảitrồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Với các trí thức làm nghề báo chí, Người nói: “… Cán bộ báo chí cũng làchiến sỹ cách mạng Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ Để làm trònnhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cáchmạng, cố gắng trau dồi tư tưởng nghiệp vụ văn hoá; chú trọng học tập chính trị
để nắm bắt chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đisâu vào quần chúng lao động”[18; 616]
Với trí thức là cán bộ, công nhân xây dựng, Người căn dặn: “Thiết kế vàxây dựng phải làm cho chắc, cho kỹ, tránh làm ẩu rồi phải chữa đi chữa lại, vừalãng phí sức người, sức của, vừa không tốt cho sản xuất Phải tiết kiệm nguyênliệu, vật liệu Phải giữ gìn tốt máy móc, vì đó là mồ hôi máu mủ của nhân dân ta
mà ra”[19; 384]
Với trí thức là cán bộ, Người nói: “Đạo đức là nền tảng, có ý nghĩa quyếtđịnh thái độ, lập trường chính trị, tư tưởng của người cán bộ và quyết định mụctiêu, lý tưởng mà họ phấn đấu Đạo đức cách mạng của người cán bộ có thể tóm
Trang 28dân Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cáchmạng, hay là không”[26; 480] Không những thế, Người yêu cầu Đảng và Nhànước phải ra sức đào tạo cán bộ trở thành cán bộ có tri thức là công việc quantrọng và cơ bản
Với trí thức là đảng viên, Người chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng của ngườiđảng viên là bất kỳ khó khăn nào đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chínhsách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng Mọi đảng viênphải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa
và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân”[28; 288] Theo Hồ Chí Minh, chuẩnmực đạo đức cách mạng của đảng viên gồm 5 đức tính: Nhân, nghĩa, trí dũng, liêm
Trên trang đầu Sổ vàng truyền thống Trường Nguyễn Ái Quốc Trungương còn ghi rõ lời dạy của Người: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ.Học để phụng sự đoàn thể: Giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại Muốnđạt được mục đích thì phải: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”[24; 684]
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức và tài năng là hai mặt không thể thiếu được ởmỗi con người, những giữa hai mặt đó thì đạo đức là gốc, là nền tảng, là điềucần có trước Mặt khác, xét trong mỗi người thì đạo đức là yếu tố xuyên suốtcuộc đời, từ lúc ấu thơ cho đến khi từ biệt cõi đời, còn tài năng chỉ có thể traudồi, thành đạt trong một khoảng thời gian nhất định Do đó, người trí thức muốnđược tự hào, vinh dự đứng vào hàng ngũ trí thức dân tộc, trí thức chân chính, tríthức nhân tâm và thân dân, để xứng đáng là người trí thức vô sản thì phải liêntục được bồi dưỡng, giáo dục, tu dưỡng đạo đức và hết lòng phụng sự nhân dân,phụng sự Tổ quốc, phải lấy đó làm mục tiêu phấn đấu suốt đời của mình
1.2.2.3 Trí thức phải được công nông hoá
Mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, vai trò và nhiệm vụ của đội ngũ tríthức là không giống nhau với các đặc điểm cũng khác nhau nhất định Tuỳ vàotừng thời kỳ cách mạng với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng cụ thể, Chủ tịch HồChí Minh đưa ra việc xây dựng đội ngũ trí thức với nội dung khác nhau cho phùhợp với thực tiễn lịch sử Song, tất cả quá trình cách mạng nước ta vẫn là vận
Trang 29dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Lênin, đồng thời cũng là phục vụ cho cuộc cách mạng lâu dài tiến tới thắng lợicuối cùng là xây dựng thành công xã hội Xã hội chủ nghĩa và tiến lên xã hộiCộng sản chủ nghĩa
Mác-Do đó, Người nêu lên con đường hình thành và phát triển đội ngũ trí thứcmới là: “Đào tạo trí thức mới, cải tạo trí thức cũ Công nông trí thức hoá, trí thứccông nông hoá”[26; 203] Người giải thích: “Công nông trí thức hoá Trí thứccông nông hoá” nghĩa là “công nông cần học tập văn hoá để nâng cao trình độtri thức của mình, trí thức cần gần gũi công nông và học tập tinh thần, nghị lực,sang kiến và kinh nghiệm của công nông”[25; 204] Vì giai cấp công nhân nếukhông có đội ngũ trí thức của mình và nếu bản thân công - nông không đượcnâng cao kiến thức, không dần dần được trí thức hoá thì không thể xây dựngđược chủ nghĩa xã hội Bên cạnh đó, người trí thức xã hội chủ nghĩa phải họctập những phẩm chất, năng lực, kỹ năng cũng như lý tưởng cách mạng củangười công nhân Vì nếu người trí thức với vai trò to lớn đối với sự ngiệp cáchmạng của dân tộc và là những công dân, những chủ nhân tương lai của nướcViệt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh mà thiếu hụt hay chưa đầy đủ tác phong,tinh thần, nghị lực, lý tưởng của con người xã hội chủ nghĩa thì cũng không thểxây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Ngay từ năm 1928, Người đã phát động phong trào vô sản hoá Nhữngngười trí thức nhiệt, tình yêu nước học xong lớp huấn luyện chính trị của ViệtNam cách mạng thanh niên, khi về nước hoạt động đều có nghĩa vụ đi vào quầnchúng công nhân và nông dân vừa tuyên truyền, phổ biến chủ nghĩa Mác-Lênin
mà họ đã được trang bị, mặt khác chính trong quá trình xâm nhập vào quầnchúng, cùng ăn, cùng ở, cùng làm, họ đã được rèn luyện, củng cố, nâng caothêm quan điểm lập trường vô sản Sau này, trong kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ, cũng như trong xây dựng hoà bình, yêu cầu đối với tầng lớp trí thứcvẫn là tranh thủ đi vào quần chúng tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của quần
Trang 30đạo đức, tác phong lao động, lý tưởng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở đó, người tríthức xác định nhiệm vụ cho mình là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương kết hợp giữa cải tạo đội ngũ trí thức
cũ với đào tạo và phát triển lực lượng trí thức mới, trong đó, việc đào tạo độingũ trí thức xuất thân từ công nhân và nông dân là đặc biệt quan trọng Trongviệc cải tạo đội ngũ trí thức cũ để họ có thể đóng góp phần tích cực nhất vào sựnghiệp cách mạng của toàn dân, cũng như việc đào tạo lực lượng trí thức mới,trong đó trí thức xuất thân từ công nhân và nông dân là nòng cốt
Ngay trong kháng chiến, ở vùng tự do, một số trường đại học đã được xâydựng, như Khu học xá ở Nam Ninh (Trung Quốc) và gửi một số lưu học sinh đihọc ở một số nước xã hội chủ nghĩa Sau 1954, ở miền Bắc, giáo dục phổ thôngphát triển nhanh chóng, các trường bổ túc công nông và phổ thông lao động hìnhthành ở nhiều địa phương nhằm tạo nguồn để đông đảo con em lao động vào học
ở các trường đại học trong và ngoài nước Từ đó, nâng cao chất lượng và sốlượng đội ngũ trí thức nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của toàn thể dântộc
Trong hệ thống tư tưởng toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉriêng về xây dựng đội ngũ trí thức, chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đờisau, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên… hay đào tạo con người xã hộichủ nghĩa - chủ nhân tương lai của đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa (nóichung), Người đặc biệt quan tâm, chú trọng tới vai trò, vị trí của công tác giáodục và đào tạo Giáo dục và đào tạo được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định làquốc sách hàng đầu và được thể hiện xuyên suốt, nhất quán trong tất cả các phátbiểu, quan điểm, tư tưởng của Người kể từ những ngày đầu đất nước mới giànhđược độc lập đến lúc Người đi xa
Trong thư gửi học sinh nhân ngày tựu trường đầu tiên dưới chính thể ViệtNam dân chủ cộng hoà, người gửi gắm niềm tin: “…Non sông Việt Nam có trởnên tươi đẹp hay không, đất nước Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh
Trang 31vai với cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ phần lớn ở cônghọc tập của các em…”
Chủ tịch Hồ Chí Minh xem mù chữ và sự dốt nát được như là một thứgiặc, một quốc nạn: “Giặc đói, giặc dốt là bạn đồng minh của giặc ngoại xâm”
Vì theo Người: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[23; 08] Do đó, không chỉtrong cách mạng, mà trong bất kỳ hoàn cảnh nào và dù khó khăn, gian khổ đếnmấy, Hồ Chủ tịch vẫn luôn dành một sự quan tâm sâu sắc cho sự nghiệp giáodục Người coi giáo dục là quốc sách, là vấn đề trọng tâm thường xuyên cầnphải chăm lo Bởi suy cho cùng, niềm hạnh phúc lớn lao nhất mà Đảng và Chínhphủ có thể đem lại cho mọi người, chính là giúp họ tự giải phóng họ khỏi nghèonàn, áp bức bằng con đường lao động sáng tạo, lao động có hiệu quả, và chỉ cóthông qua giáo dục Vì theo Người, giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việccải tạo con người cũ, xây dựng con người mới; góp phần đắc lực vào công cuộcbảo vệ và xây dựng đất nước; góp phần xóa bỏ ảnh hưởng giáo dục nô dịch củathực dân còn sót lại; đào tạo con người xã hội chủ nghĩa, tạo ra được nhữngngười lao động mới và nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân
1.2.3 Lãnh đạo và quản lý trí thức
Trong lịch sử nhân loại, từ khi có nhà nước thì việc dùng người luôn luônđược đặt ra, nó quyết định sự thành bại của mọi chế độ chính trị, quyết định sựnghiệp của từng nhà chính trị, tướng lĩnh Trong hệ thống tư tưởng chính trị vàvăn hoá Hồ Chí Minh, phép dùng người là một bộ phận đặc sắc và quan trọngnhất, trong đó, tư tưởng về sử dụng trí thức nổi lên về một số đặc điểm sau:
- Đảng và Nhà nước phải có quan điểm đúng đắn trong vấn đề nhậnthức đối với vai trò, vị trí và tầm quan trọng của đội ngũ trí thức trong cáchmạng cũng như trong phát triển đất nước
Trong một bức thư trả lời một nữ sinh Việt Nam ngày 27/09/1925, Ngườiviết: “Các vua quan, thư lại, thông ngôn, theo chị là những người phản cáchmạng Chị đã nhầm rồi, bạn thân mến, bởi vì một ông vua có thể suy nghĩ và
Trang 32của ông; vì vậy, ông ta thà làm một người dân bình thường còn hơn trị vì mộtdân tộc nô lệ… Với quan lại, thư ký, thông ngôn, họ miễn cưỡng phục vụ ngườiPháp Bị chìm đắm trong bóng tối ngu dốt từ nhỏ, họ không bao giờ có thể tựtrau dồi kinh điển hay tri giác được những tiến bộ của nhân loại qua việc đọcbáo chí Họ không biết vì sao có kẻ sung sướng, lại có kẻ nô lệ khổ sở Họ giốngnhư những con gà què chỉ ăn quẩn cối xay; họ không có chút nỗ lực nào, nênđành lòng với thứ thức ăn mà kẻ khác đem cho họ Vậy nhiệm vụ của chúng ta
là phải hướng họ theo lý luận cách mạng”[21; 442]
Quan điểm trên chỉ cho chúng ta trong việc nhìn nhận trí thức, không nên
“nhốt tất cả trí thức vào chung một rọ”, mà phải có sự phân biệt rõ ràng về từngloại trí thức Bởi vì, trong thực tế cuộc sống muôn màu, muôn vẻ, có những tríthức trong hàng ngũ đối phương lại rất yêu nước và cách mạng; đương nhiên,nhiều trí thức trong hàng ngũ này lại cam tâm làm việc cho chính quyền thựcdân Người yêu cầu việc nhìn nhận, đánh giá trí thức phải rất minh bạch, rõ rang
- Phải có chính sách cụ thể trọng dụng trí thức, trọng dụng nhân tài,tạo mọi điều kiện từ ưu đãi vật chất đến chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng độingũ trí thức cách mạng Theo Người, lao động trí óc cần được khuyến khíchgiúp đỡ, phát triển tài năng Với Hồ Chí Minh, nhân dân, con người không baogiờ là phương tiện của các nhà chính trị mà ngược lại nhà chính trị, đảng chínhtrị… phải nhất quán trong nhận thức và hành động rằng nhân dân là người chủ
sở hữu của quyền lực chính trị, con người vừa là mục đích vừa là động lực vàsức mạnh của mọi sự nghiệp chính trị: “…nhiều khi đường lối, chính sách đúngnhưng hoặc chưa làm được, hoặc làm được nửa chừng rồi lại nguội, vì chúng taquên một lẽ rất giản đơn dễ hiểu, tức là vô luận việc gì đều do con người làm ra
và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”[24; 97] Công việc của Đảng, Nhànước bao gồm nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, công chức tốt đểthi hành công vụ Tức là cần phải có một lực lượng cán bộ tốt, đồng thời phảibiết tin tưởng và đặt người dân nói chung, trí thức nói riêng vào trung tâm, địnhhướng và giáo dục cho họ đi theo con đường của Đảng và của nhà nước
Trang 33- Dùng trí thức vì chính lợi ích của mọi người Động cơ thôi thúc
Hồ Chí Minh là tiến hành sự nghiệp vĩ đại - giải phóng dân tộc, giải phóng giaicấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người Trong đó, độc lập cho Tổ quốc,
tự do, hạnh phúc cho đồng bào là trên hết Chính động cơ ấy đã trở thành triết lýnhân sinh, thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ chính sách dùng người của HồChí Minh Động cơ mang tính lý tưởng, khắc đậm chủ nghĩa nhân văn Hồ ChiMinh đã gặp gỡ những mong mỏi và lợi ích đời thường của mọi người lao khổnói chung và đội ngũ trí thức yêu nước - người trí thức nhân tâm và thân dân nóiriêng, nên họ đã tập hợp dưới ngọn cờ của Lãnh tụ, phấn khởi tự hào được làlính Cụ Hồ, tuân theo sự điều khiển của Lãnh tụ, bởi họ tin vào tấm lòng thiếttha, thật sự cầu hiền của Người Sau Cách mạng tháng Tám, trong bối cảnhChính phủ gặp muôn vàn khó khăn, vận mệnh đất nước như “ngàn cân treo sợitóc”, Người đã tin tưởng, trao những cương vị quan trọng trong Chính phủ chotrí thức, cả những trí thức đã từng làm việc cho chính quyền cũ Vì họ đã thực sự
bị thuyết phục, bởi lòng yêu thương con người, sự hi sinh vô bờ bến của Người
vì một mục đích cao cả là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, đồng bào
ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành
Người viết: “Việt Minh định tổ chức một Chính phủ rộng rãi, gồm tất cảcác nhân tài trong nước để gánh vác việc quốc gia Lúc đó có người nghĩ rằngcác nhân sĩ có danh vọng chưa chắc vui lòng hợp tác với Việt Minh Song, vìViệt Minh đặt quyền lợi Tổ quốc và dân tộc lên trên hết, và lấy lòng chí công vô
tư mà làm việc, cho nên các bậc có tài đức, danh vọng đều vui lòng hợp táctrong Chính phủ”[24; 412]
Trên thực tế, Người đã cải tạo, phát hiện, cảm hoá trọng dụng nhiều tríthức hiền tài như: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, GS.Hồ Đắc Di, GS.TônThất Tùng, GS.Đặng Văn Ngữ, GS.Trần Hữu Tước, GS.Tạ Quang Bửu,GS.Nguyễn Xuyến, GS.VS.Nguyễn Khánh Toàn Huỳnh Thúc Kháng tâm sự:
“…chí thành, năng động, tấm lòng thành của Cụ Hồ đã làm đá cũng phải chuyểnhuống là tôi” Còn Phan Anh thì “rất xúc động và cảm kích trước tấm lòng nhân
Trang 34Trần Trọng Kim thân Nhật làm điều, mà vẫn cho tôi là một trí thức yêu nước vàtrọng dụng”[01; 01].
Yêu người, kính cẩn, thành tín và khoan dung Ngay sau khi Nhà nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới Uỷ bannhân dân các cấp, phê phán thói kiêu ngạo của một số cán bộ, đảng viên, tưởngmình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi, coi khinh dân gian, cử chỉ lúcnào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên; không biết rằng, thái độ kiêu ngạo đó
sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến uy tín của Chính phủ Người căn dặncán bộ, công chức các cấp: việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh Chúng tayêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta Hồ Chí Minh là ngọn cờ tập hợpmọi tầng lớp nhân dân; Người không những có sức cảm hoá, thu phục đượcnhững người cùng chí hướng, những tầng lớp, giai cấp cách mạng và nhữngngười có cảm tình với cách mạng mà còn cả những người không cùng chínhkiến, quan điểm, thậm chí cả kẻ thù của mình Sở dĩ như vậy là bởi vì, ở Ngườiluôn toát lên sự thẳng thắn, trung thực, tôn trọng lẽ phải, tôn trọng con người vàluôn ứng xử với “lý lẽ phân minh, nghĩa tình đầy đủ”, luôn luôn giải quyết côngviệc “có lý, có tình”, xuất phát từ đời sống hiện thực Và tất nhiên, trong “nhândân” ở đây, bao gồm cả trí thức Ở Người, phong cách ứng xử chứa đựng nhữnggiá trị nhân bản của con người, đó là yêu thương, quý mến, trân trọng con người,hướng con người tới cái chân - thiện - mỹ Khi cần nhắc nhở, Người không quênchỉ bảo tận tình; khi cần phê bình, Người rất nghiêm khắc nhưng cũng rất độlượng, bao dung mà không bao che, nhằm nâng con người lên chứ không hạthấp, vùi dập con người Người nói: “Phương pháp giáo dục thì theo nguyên tắc
tự nguyện tự giác, giải thích, bàn bạc, thuyết phục chứ không gò bó đối với tríthức trong học tập và trong công tác Hướng dẫn trí thức cách thật thà tự phêbình và thành khẩn phê bình để cùng nhau tiến bộ không ngừng, đoàn kết chặtchẽ để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân”[27; 161]
- Hiểu mình và hiểu người Xưa nay các vĩ nhân làm nên sự nghiệplớn đều có chung một tư tưởng: “biết mình, biết người”, “biết địch, biết ta”
“Biết, chính là bí quyết của sự thành công” Tiếp thu và vận dụng tư tưởng đó,
Trang 35Hồ Chủ tich chỉ ra một số căn bệnh cơ bản làm cho người cán bộ không tự biếtđược mình như cậy thế kiêu ngạo, ưa người phỉnh nịnh mình, tư túi, kinhnghiệm chủ nghĩa, máy móc, giáo điều Và nếu người cán bộ lãnh đạo, quản lýmắc những bệnh tật ấy, thì không hiểu được chính cái mạnh, cái yếu của mình;không hiểu được mình thì không thể hiểu được người khác, tựa như mắt đãmang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mìnhtrông Do đó, theo Hồ Chí Minh, muốn biết rõ cán bộ, trí thức hay muốn đối đãimột cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm củamình Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ, xem xét người kháchay xem xét trí thức… càng đúng Trên cơ sở tự hiểu mình, cần phải có phươngpháp xem xét để hiểu mọi người một cách thấu đáo, không nên chỉ xét ngoàimặt, chỉ xét một lúc, một việc mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc Hiểu tâm lýtrí thức yêu nước, người trí thức chân chính, Người viết: “Hễ là người Việt Nam
ai cũng có lòng yêu nước, vấn đề là biết khơi gợi, khuyến khích được lòng yêunước trong mỗi con người để họ tự nguyện đóng góp sức của mình vào côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[27; 297] Hiểu mình và hiểu người, tư tưởngnày không những được Hồ Chí Minh vận dụng trong quản lý, sử dụng trí thức,
mà Người vận dụng rất đa dạng, phong phú với rất nhiều đối tượng, trong nhiềuhoàn cảnh khác nhau
- Phải khéo dùng người Theo Hồ Chí Minh, muốn dùng người,dùng cán bộ hay trí thức đúng thì người cán bộ lãnh đạo cần phải: một là, mìnhphải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với người, với việc một cách chí công
vô tư, không có thành kiến, khiến cho trí thức, cán bộ không bị bỏ rơi Hai là,phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa Ba
là, phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí, nhữngcán bộ, những trí thức còn kém, giúp cho họ tiến bộ Bốn là, phải sáng suốt, mớikhỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa, hiểu nhầm người tốt Năm là, phải cóthái độ vui vẻ thân mật, các đồng chí, cán bộ hay trí thức mới vui lòng gần gũimình Khéo dùng người, dùng trí thức phải xuất phát từ việc tập hợp được sức
Trang 36người, dùng cán bộ hay trí thức mà để họ hoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất ứchoặc cộng tác không hợp, chắc không thành công được Vì vậy, muốn người làmđược việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc, phải thực hànhnhững việc sau: làm cho người trí thức mạnh dạn dám nghĩ, dám nói, dám đềxuất ý kiến; làm cho trí thức có tinh thần chủ động, dám phụ trách (làm chủ)trong công việc; phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ, trí thức; phải chú ý tới chuyênngành đào tạo của họ.
Theo Hồ Chí Minh, cách dung người tốt nhất là giao việc đúng với trình
độ, khả năng của họ Người viết: “Phải xem người ấy xứng với việc gì Nếungười có tài mà không dùng đúng tài của họ, cũng không được việc”[20; 18] Do
đó, Người yêu cầu phải đổi mới và đan xen các thế hệ trí thức, xây dựng và tintưởng trao cho trí thức những trọng trách, những công việc đúng với lĩnh vực vàchuyên ngành của trí thức được đào tạo Vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi tríthức sinh ra và trưởng thành trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau, mỗingười đều có những sở trường và sở đoản, cái mạnh và cái yếu nhất định, tuyệtnhiên không ai giống ai Hồ Chí Minh nhắc nhở: phải thấy cái giới hạn khắcnghiệt của thời gian để tạo nguồn thay thế, bổ sung cho tổ chức những lớp ngườimới, đủ sức lực và tài năng đảm đương nhiệm vụ theo những yêu cầu mới TheoNgười, cần trí thức nhiều kinh nghiệm, trí thức già, đồng thời rất cần nhiều tríthức trẻ; công việc ngày càng nhiều, càng mới Một mặt, Đảng phải đào tạo, dìudắt trí thức trẻ, mặt khác, trí thức già phải cố gắng mà học Việc đổi mới cán bộ,trí thức phải rất khách quan, công minh, cần lấy việc hoàn thành nhiệm vụ làmcăn cứ; phải tổng kết từ phong trào thực tiễn, phát hiện những nhân tố mới,những cán bộ, trí thức trẻ có đức, có tài để trao nhiệm vụ cho họ Mặt khác cũngcần tạo điều kiện cho số cán bộ, trí thức lớn tuổi, đã công tác quá lâu trong cácvăn phòng có điều kiện thâm nhập thực tế để khỏi lạc hậu với thực tế
- Vun trồng lòng tự trọng, tự tin cho trí thức, giúp họ sửa chữa sailầm, khuyết điểm Hồ Chí Minh cho rằng: ai cũng có lòng tự trọng, tự tin; không
có lòng tự trọng, tự tin là vô dụng Vì vậy phải xem xét kỹ trước khi cất nhắc;giúp đỡ, vun trồng, khuyên gắng, khích lệ lòng tự tin, tự trọng; kiểm tra, uốn nắn
Trang 37thường xuyên không để “tích tiểu thành đại” Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họsửa chữa ngay, để vun trồng các thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ.Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ Làm thế khôngphải làm cho họ kiêu căng mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức.Phải vun đắp chí khí của trí thức, để đi đến chỗ “bại cũng không nản, thắng cũngkhông kiêu”.
- Gương mẫu Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạng đến vai trò của cán
bộ cấp trên trong việc dung người nói chung và trí thức nói riêng Người nhiềulần nhắc nhở đảng viên, cán bộ: muốn lãnh đạo và quản lý mọi người hay cán bộcấp dưới thì người lãnh đạo phải làm gương trước Bởi vì: “thượng bất chính, hạtắc loạn” Nếu cán bộ cấp trên không gương mẫu thì làm sao có thể bảo ban,hướng dẫn được cấp dưới, làm sao duy trì được kỷ luật Đảng và trật tự kỷ cươngphép nước Hồ Chí Minh đã kịch liệt phê phán thói nể nang, bênh che cho nhau.Người đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ rằng mình làm cách mạng
là để phục vụ nhân dân, phải luôn ghi tạc trong lòng: lo toan công việc chungtrước mọi người, hưởng thụ sau mọi người
Người nói với các cán bộ trong Chính phủ: “… Các bạn là những ngườiphụ trách thi hành pháp luật Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương:
“Phụng công, Thủ pháp, Chí công, Vô tư” cho nhân dân noi theo”[24; 382] “…
Các bạn là viên chức của Chính phủ cộng hoà mà các bạn đã giúp xây dựng nên.Chính thể dân chủ cộng hoà của ta tuy còn trẻ tuổi, nhưng đã chiến thắng nhiềucuộc thử thách, nó đã chứng tỏ rằng quả thật là đầy tương lai Do đó, nhiệm vụcủa các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ”[24; 380] Chỉ cónhư vậy mới thu phục, cảm hoá, giáo dục được cấp dưới và mọi người
- Đổi mới cách lãnh đạo để dùng người, vì việc mà dùng người.Công việc xây dựng và bảo vệ đất nước luôn luôn đổi mới, phát triển Do đó,phải không ngừng đổi mới cách lãnh đạo để dùng người Để lãnh đạo được thìphải học hỏi quần chúng nói chung, trí thức nói riêng Người trí thức có trình độ,
có óc sáng tạo, có tư duy lý luận khoa học, người trí thức xuất thân và có trong
Trang 38nên hiểu thấu”, “một giây, một phút không thể giảm bớt mối liên hệ giữa mìnhvới quần chúng nhân dân, mà đặc biệt là đội ngũ trí thức”, “phải biết lắng nghe ýkiến của những người không quan trọng”.
- Thực hiện dân chủ, tự do tư tưởng, tự do sang tạo đối với trí thức.Dân chủ và thực hành dân chủ rộng rãi là nét đặc sắc trong phương pháp vàphong cách Hồ Chí Minh sử dụng, lãnh đạo và quản lý trí thức Dân chủ đầu tiên
là quyền làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh dân tộc của mình Người luônluôn khơi dậy ý thức làm chủ của người trí thức ở xã hội mới và trách nhiệmcông dân trong xây dựng đất nước vì chính hạnh phúc của mình Người nói:
“Nhà nước ta ngày nay là của tất cả những người lao động Vậy công nhân,nông dân, trí thức cách mạng cần nhận rõ rằng: Hiện nay nhân dân lao động lànhững người làm chủ đất nước ta chứ không phải là người làm thuê cho giai cấpbóc lột như thời cũ nữa Chúng ta có quyền và có điều kiện để tự tay mình xâydựng đời sống tự do, hạnh phúc cho mình Nhân dân lao động là những ngườichủ tập thể, của tất cả những của cải vật chất và văn hoá, đều bình đẳng vềquyền lợi và nghĩa vụ”[18; 310]
Dân chủ gắn liền với đoàn kết Dân chủ của ta là sự phản ánh thành côngcủa chiến lược đại đoàn kết Thực hiện dân chủ thì đoàn kết càng tăng Đoàn kếtrộng rãi, vững chắc thì càng có điều kiện phát huy dân chủ Chủ tịch Hồ ChíMinh cho rằng, để xây dựng, phát huy dân chủ và phát huy sáng tạo của trí thứccần phải đưa họ vào với phong trào cách mạng, đi sâu vào đời sống nhân dân.Người gọi đó là “một trường học rất rộng, rất tốt” để trí thức vươn lên, học liên
hệ với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn mà trưởng thành
Tự do tư tưởng, tự do sáng tạo của trí thức là điều rất nhạy cảm, lại là mộtvấn đề ở tầm cốt lõi trong mối quan hệ với trí thức Nó là hòn đá thử trước hết
về trình độ và thái độ của kẻ cầm quyền trong xã hội đối với hoạt động tinh thần
Nó cũng là hòn đá thử đối với một nền dân chủ, một xã hội muốn vươn lên tìmcon đường phát triển của chân - thiện - mỹ Khoa học, nghệ thuật có phát triểnkhông? Việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội có tiến bộ hay trì trệ? Liêm chínhhay tham nhũng, dân trí, đạo đức và văn hóa của xã hội, của đất nước có thăng
Trang 39hoa hay không? … còn tùy thuộc ở thái độ đối với vấn đề tư do tư tưởng, tự dosáng tạo của trí thức như thế nào Có một thời, có nơi, có người, do không tin tríthức, sợ trí thức đến nỗi bế môn tỏa cảng không cho đi học, không cho giao lưuđối với lĩnh vực khoa học xã hội, nhân văn và kinh tế Hậu quả là khoa học xãhội, nhân văn và quản lý kinh tế lạc hậu.
Do đó, Hồ Chí Minh đã nêu ra vấn đề Tự do tư tưởng “Tự do tư tưởng làmọi người có quyền tự do phát biểu ý kiến của mình” về mọi vấn đề của khoahọc, văn hóa, của chính trị - xã hội để “Tự do tư tưởng hóa ra là tự do phụctùng chân lý” Nghĩa là chân lý tìm thấy rồi, được chỉ ra rồi thì tự do phụctùng, là tự do phục tùng chân lý đồng dạng với tự do không phục tùng ngụy lý
Hồ Chí Minh đã chỉ ra cái làm nền của tự do, đó là người ta có quyền nghĩ đúng
và làm đúng và cũng có quyền không nghĩ theo cái sai và làm cái sai Do đó, đểquản lý cũng như sử dụng trí thức, Hồ Chí Minh đặc biệt quán triệt Đảng và Nhànước phải thực hiện dân chủ với trí thức, phải để cho trí thức được tự do tưtưởng, tự do sáng tạo, có như thế mới khám phá và tập trung được tối đa nguồnlực trí thức vào sự nghiệp cách mạng chung của toàn thể dân tộc
Kết luận chương 1
Quan điểm Hồ Chí Minh về trí thức và cầu hiền tài đem lại một sức mạnh
to lớn trong giai đoạn củng cố chính quyền lúc trứng nước, trong hai cuộc khángchiến và bước đầu xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chủtịch Hồ Chí Minh với trí tuệ và tầm nhìn kiệt xuất, thiên tài của mình đã đưa ramột hệ thống, quan điểm khoa học, toàn diện về vấn đề trí thức, từ khái niệm tríthức đến việc lôi kéo, tập hợp, sử dụng, lãnh đạo và quản lý trí thức trong cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa Tư tưởng, lýluận đó cũng đã được kiểm nghiệm, chứng minh trên thực tiễn và tiếp tục pháthuy giá trị lý luận, thực tiễn mạnh mẽ, là ngọn đèn soi sáng cho Đảng và Nhànước xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức, tạo được liên minh công - nông - trívững chắc, góp phần đảm bảo cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng thành công xã hội Xã hội chủ nghĩa củatoàn Đảng và toàn dân trong giai đoạn hiện nay và tương lai, đưa đất nước ta
Trang 40CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC HUYỆN QUẢNG XƯƠNG - THANH HOÁ DƯỚI SỰ VẬN DỤNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH2.1 Tình hình xây dựng đội ngũ trí thức ở huyện Quảng Xương - Thanh Hoá 2.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, đặc điểm và vai trò của đội ngũ trí thức Quảng Xương - Thanh Hóa
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Huyện Quảng Xương từ lâu đã là vùng đất nghèo ở ven biển phía Namtỉnh Thanh Hóa, nước mặn đồng chua, thời tiết khắc nghiệt, cồn đống ngổnngang… người khắp nơi do thiếu đất đã tìm về đây mở đất Trải qua hàng nghìnnăm, nhân dân sống trên đất này, biết bao gian nan khổ cực, mới xây nên đồngruộng tươi tốt, làng mạc đông vui Tạo nên các đặc điểm riêng biệt không phải ởđịa phương nào cũng có như: “Người đi học và người cày ruộng nhiều, ngườilàm thơ đi buôn cũng có, nhưng không nhiều mấy”[29; 09] Nghĩa là ngườiQuảng Xương có nhu cầu kinh tế luôn luôn đi đôi với nhu cầu văn hóa, khôngchờ kinh tế phát triển mới nghĩ đến văn hóa Đặc biệt, tinh thần đấu tranh chốngchọi với thiên nhiên, đấu tranh xã hội, đấu tranh cách mạng của nhân dân QuảngXương rất cao Trong thời kỳ hiện đại, tuy chưa phải là huyện kinh tế giàu, vănhóa cao, nhưng lĩnh vực nào Quảng Xương cũng đạt thành tựu xứng đáng, hứahẹn nhiều tiềm năng và triển vọng
Phía Bắc huyện Quảng Xương là là thành phố Thanh Hóa và huyệnHoằng Hóa Phía Tây là huyện Đông Sơn và huyện Nông Cống Phía Nam,Quảng Xương giáp với huyện Tỉnh Gia và Nam huyện Nông Cống Với cáctuyến đường quốc lộ chạy qua địa bàn huyện là: Quốc lộ 1A, quốc lộ 45, 47,tỉnh lộ số 4, tạo thuận lợi cho giao lưu kinh tế - văn hóa của huyện với các huyệnbạn và khu vực khác Đặc biệt, Quảng Xương đã “có mối liên hệ kinh tế - xã hộichặt chẽ với thành phố Thanh Hóa, thị xã du lịch Sầm Sơn và Khu kinh tế độnglực Nghi Sơn (Tỉnh gia), nên huyện có điều kiện để phát triển kinh tế đa dạng,hội nhập thị trường thuận lợi”[10; 03]