Xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam - Lý luận, thực trạng và Giải pháp.
Trang 1Lời mở đầu
Trong vòng gần hai thập kỉ trở lại đây, sự phát triển nh vũ bão của công nghệ thông tin, sự tơng tác giữa tin học, vi điện tử và sinh học đã tạo
ra những tiến bộ thần kì trong kinh tế Những tiến bộ đó sẽ tiếp tục cung cấp nguyên liệu cho sự tăng trởng của thế giới trong vòng 20 hoặc 30 năm tới Sự phát triển không ngừng có tính bùng nổ của lực lợng sản xuất trong
đó tri thức đóng vai trò nh lực lợng sản xuất chủ yếu đã dẫn đến sự hình thành một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức (Knowledge Based Economy hay Knowledge Economy) Xu hớng chung trong sự phát triển kinh tế của các nớc trên thế giới là phát triển kinh tế tri thức Việt Nam cũng không phải ngoại lệ
Những năm gần đây, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, chúng ta nghe nói rất nhiều đến xây dựng và phát triển kinh tế tri thức Một nhà kinh tế không thể không trang bị cho mình những kiến thức về kinh tế tri thức Đó là một trong những hành trang đa đất nớc phát triển, bớc vào hội nhập toàn diện với khu vực và thế giới Chính vì vậy em
chọn đề tài xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Lý“xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Lý
luận, thực trạng và giải pháp ” cho đề án kinh tế chính trị của mình Đề án góp phần luận giải những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp cơ bản nhất trong việc xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Mặc dù em đã rất cố gắng, nhng do thời gian tìm hiểu và kiến thức còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận đợc sự góp ý của cô giáo để bài tiểu luận đợc hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Nội dung
I Những vấn đề lý luận chung về kinh tế tri thức
1 Khái niệm
Trang 2Năm 1996, tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD đa ra định nghĩa: “xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Lýkinh tế tri thức là những nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức thông tin”
Năm 2000, OECD và APEC đã điều chỉnh lại: “xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Lýkinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó có sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành kinh tế” Định nghĩa này cho thấy nhận thức mới: kinh tế tri thức là
động lực chủ yếu nhất chứ không phải là chỗ dựa trực tiếp Điều này nhằm tránh t tởng cực đoan trớc đây chỉ tập trung phát triển các ngành công nghệ cao dựa nhiều vào tri thức
Ông Andrew Steer, nguyên giám đốc World Bank tại Việt Nam, từng
lu ý: kinh tế tri thức không đồng nghĩa với công nghệ cao, kinh tế tri thức chỉ là một phần của xã hội tri thức, trong đó mọi ngời đều có khả năng tiếp cận và sử dụng các tri thức chung của nhân loại để phục vụ cho công việc
và cuộc sống của mình, chẳng hạn nh ngời nông dân có thể vào th viện hoặc lên mạng tìm hiểu thị trờng, áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật vào việc đồng áng, chứ không thuần túy dựa vào kinh nghiệm nữa
Nh vậy, để trả lời cho câu hỏi kinh tế tri thức là gì, đã có nhiều định nghĩa khác nhau Hiện nay, dễ chấp nhận nhất là định nghĩa của OECD đa
ra năm 1995: “xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Lýkinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng kinh tế tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lợng cuộc sống”
Với định nghĩa trên, có thể hiểu kinh tế tri thức là trình độ phát triển cao của lực lợng sản xuất xã hội, mà trong quá trình lao động của từng ngời lao
động và toàn bộ lao động xã hội, trong từng sản phẩm và trong tổng sản phẩm quốc dân thì hàm lợng lao động cơ bắp, hao phí lao động cơ bắp giảm
đi trong khi hàm lợng tri thức, hao phí lao động trí óc tăng lên
Trang 3
2 Đặc điểm
2.1 Tri thức trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, là vốn quý nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu, quyết định sự tăng trởng và phát triển kinh tế.
Nhìn vào sự phát triển kinh tế của loài ngời, có thể phân biệt 3 giai
đoạn phát triển của lực lợng sản xuất xã hội:
- Giai đoạn đầu, lực lợng sản xuất xã hội dựa trên lao động chân tay với kỹ thuật thủ công Giai đoạn này kéo dài từ xa xa cho đến đầu thế kỉ XVIII Phù hợp với lực lợng sản xuất này là nền kinh tế tự cung tự cấp
- Giai đoạn thứ hai, lực lợng sản xuất xã hội dựa trên lao động thể lực
là chủ yếu, với khoa học kĩ thuật cơ khí Giai đoạn này diễn ra từ cuối thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XX Thích ứng với lực lợng sản xuất này là nền kinh
tế thị trờng dựa vào khai thác tài nguyên làm nguồn lực chủ yếu
- Giai đoạn thứ ba, lực lợng sản xuất xã hội dựa trên lao động trí lực,
mở đầu từ thập kỉ 70 của thế kỉ XX, hình thành nền kinh tế thị trờng dựa trên tri thức Trong tất cả nguồn lực của nền kinh tế này, nguồn lực trí tuệ trở thành nguồn lực chủ yếu
Ngân hàng World Bank (2000) đánh giá “xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Lý đối với các nền kinh tế tiên phong trong nền kinh tế thế giới, cán cân giữa hai yếu tố tri thức và các nguồn lực đang nghiêng về tri thức Tri thức thực sự đã trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định mức sống Các nền kinh tế phát triển nhất về công nghệ ngày nay thực sự đã dựa vào tri thức”
2.2 Cơ cấu tổ chức và phơng thức hoạt động kinh tế có những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng Trong đó, các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ ngày càng tăng và chiếm đa số.
2.3 Công nghệ thông tin đợc ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực và thiết lập đợc các mạng thông tin đa phơng tiện phủ khắp nớc, nối với hầu hết các tổ chức, các gia đình Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng nhất của ngành kinh tế
Kinh tế tri thức, đặc biệt là công nghệ thông tin là xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài ngời trong tơng lai
Nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ có tốc độ tăng trởng kinh tế 4,1% năm 2000, công nghệ thông tin chỉ chiếm khoảng 8,3% GDP, nhng đã đóng góp gần 1/3 tăng trởng của nền kinh tế và 1/2 sự tăng năng suất của nớc này
từ 1995 đến 1999 Số ngời làm việc liên quan đến Internet tăng gấp đôi
Trang 4trong năm 1999 và thu nhập của ngành này tăng 74% Có thể khẳng định sự dẫn đầu trong công nghệ thông tin đã tạo ra cơ hội ngàn vàng cho các doanh nghiệp Mỹ chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh Các doanh nghiệp công nghệ thông tin, mà phần lớn là của Mỹ nh Yahoo, Nescape, Dell, đã phát triển nhanh chóng, trở thành những công ty khổng lồ với tài sản hàng chục tỷ USD trong vòng cha đầy một chục năm, vợt xa những công ty công nghiệp truyền thống
Một ví dụ điển hình khác là chuỗi siêu thị lớn nhất và thành công nhất nớc Mỹ và thế giới là WalMart đã sử dụng hệ thống thông tin để quản lý và phân phối các mặt hàng với tổng chi phí lu thông là 10% trong khi các đối thủ cạnh tranh khác phải chịu mức chi phí này là 25% Điều này góp phần giải thích sự lớn mạnh của WalMart trong vòng gần 15 năm qua WalMart cũng đi đầu trong việc bán hàng thông qua Internet với việc xây dựng một siêu thị ( Cyber Mall ) trên mạng
2.4 Nguồn nhân lực nhanh chóng đợc tri thức hóa Sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành yêu cầu thờng xuyên đối với mọi ngời và phát triển con ngời trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội.
2.5 Mọi hoạt động đều có liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa kinh tế,
có tác động tích cực hoặc tiêu cực sâu rộng đến nhiều mặt của đời sống xã hội trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới.
Trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hóa đợc dùng để chỉ các tác động của thơng mại nói chung và tự do hóa thơng mại nói riêng Đó là một xu thế khách quan, có tác động tơng hỗ đến tất cả các mặt của đời sống xã hội, cả
về chính trị, văn hóa và xã hội
- Tác động tích cực: toàn cầu hóa thúc đẩy sự phát triển và xã hội hóa các lực lợng sản xuất, đem lại sự tăng trởng kinh tế cao; thúc đẩy quá trình
tự do hóa thơng mại; làm gia tăng các nguồn chuyển giao vốn và công nghệ; củng cố và tăng cờng các thể chế quốc tế, thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc
Toàn cầu hóa làm tăng nhanh tổng sản phẩm của thế giới, với giá trị tính đến 2003 ớc tính khoảng 30.000 tỷ USD, gấp 23 lần giá trị tổng sản phẩm thế giới vào cuối những năm 50 của thế kỉ XX Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu có những thay đổi cơ bản Nếu năm 1960, nông, lâm, thủy sản chiếm 10,4%; cây công nghiệp chiếm 28,1% và dịch vụ chiếm 50,4% thì đến 1990, cơ cấu GDP của thế giới tơng ứng là 4,4%; 21,4% và 62,4%
- Tác động tiêu cực: toàn cầu hóa mở rộng thêm khoảng cách giàu nghèo trong từng nớc và giữa các nớc; tạo nên sự thách thức mới đối với nền độc lập, chủ quyền quốc gia, làm xói mòn quyền lực của nhà nớc dân tộc; làm cho nhiều mặt hoạt động và đời sống của con ngời trở nên kém an toàn
Trang 5Hiện nay, trên thế giới vẫn còn hơn 1 tỷ ngời nghèo Chênh lệch giữa thu nhập của 20% dân số thuộc tầng lớp ngời giàu nhất và của 20% dân số thuộc tầng lớp ngời nghèo nhất trên thế giới trong năm 1960 là 30 lần, đến
1990 lên tới 60 lần và 1997 là 74 lần Các nớc phát triển với 1/5 dân số thế giới chiếm 86% GDP toàn cầu, 4/5 thị trờng xuất khẩu, 1/3 vốn đầu t nớc ngoài; trong khi đó, các nớc nghèo nhất với 1/5 dân số thế giới chỉ tạo ra
đ-ợc 1% GDP thế giới
Rõ ràng, toàn cầu hóa không chỉ có tác động thuận lợi mà còn có những tác động tiêu cực đối với các nớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam Do đó, cần phải có chiến lợc hội nhập phù hợp với thực tiễn, để tranh thủ đợc mặt thuận lợi, khắc phục, hạn chế đợc các mặt tiêu cực
3 Kinh tế tri thức và chủ nghĩa Mác - Lênin
Vào thời đại của Các Mác, mới chỉ có một vài nớc đang xây dựng nền kinh tế công nghiệp, cha xuất hiện kinh tế tri thức Nhng những điểm mà Các Mác rút ra từ việc phân tích sự phát triển của hệ thống máy móc rất phù hợp với những đặc trng cơ bản của kinh tế tri thức hiện nay
- Khi nghiên cứu về t bản cố định, Các Mác đã chỉ rõ: hệ thống máy
móc biểu hiện ra là một hình thức thích hợp nhất của t bản cố định và sự phát triển của t bản cố định lại là chỉ số của sự phát triển sức sản xuất, là
th-ớc đo mức độ phát triển của sự giàu có dựa trên phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa
Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực sự trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lợng lao động mà phụ thuộc ngày càng nhiều vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất Tính chất của lao động cũng thay đổi Con ngời là ngời kiểm soát và điều tiết bản thân quá trình sản xuất
Những luận điểm trên hoàn toàn phù hợp với những đặc trng cơ bản của kinh tế tri thức Trong đó các nguồn lực của truyền thống sản xuất và tăng trởng nh đất đai, lao động cơ bắp lùi xuống hàng thứ yếu, còn tri thức trở thành nhân tố sản xuất quan trọng hàng đầu, quyết định lợi thế so sánh của một nớc, khoa học và công nghệ đóng vai trò trung tâm trong tăng tr-ởng kinh tế, số việc làm có hàm lợng tri thức cao ngày càng chiếm u thế, càng đẩy lao động giản đơn ra khỏi quá trình sản xuất
- Việc hệ thống máy móc tự động thay thế lao động giản đơn, làm
giảm lao động trực tiếp không hề có ý nghĩa là giảm vai trò nhân tố con
ng-ời trong lao động sản xuất Bởi vì, nh Các Mác đã khẳng định: “xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Lý thiên nhiên không chế tạo ra máy móc…Tất cả những cái đó đều là sản phẩm lao động của con ngời…đều là sức mạnh đã vật hóa của tri thức…”
Trang 6Những điều nói trên hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của kinh tế tri thức hiện nay: hệ thống máy móc phát triển cùng với sự tích lũy những tri thức xã hội và nói chung, sự tích lũy sức sản xuất Mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ, sản xuất ngày càng trở nên chặt chẽ Tri thức, khoa học trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp
- Trong nền kinh tế tri thức, sự sáng tạo, đổi mới thờng xuyên là động
lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển sức sản xuất Muốn thắng trong cạnh tranh, phải luôn luôn tìm đợc công nghệ mới Các Mác đã chỉ rõ: “xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Lýphát minh trở thành một nghề đặc biệt, và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một trong những yếu tố
có tính chất quyết định và kích thích”
- Các Mác đã dự đoán rằng, việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất sẽ nâng cao năng suất lao động xã hội Cơ sở chủ yếu của sản xuất
và của cải không phải là lao động trực tiếp do chính con ngời thực hiện, không phải là thời gian trong đó anh ta lao động, mà là sự chiếm hữu sức sản xuất của chính con ngời, là nhận thức của con ngời về giới tự nhiên và
sự thống trị giới tự nhiên do sự tồn tại của con ngời với t cách là một cơ thể mang tính xã hội
Tóm lại, có thể vận dụng những dự đoán trên của Các Mác vào phân tích xu hớng vận động của nền kinh tế tri thức, và qua đó, có thể thấy đợc rằng sự phát triển của kinh tế tri thức hoàn toàn phù hợp với định hớng xã hội chủ nghĩa, với thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Với những đặc điểm
và vai trò ngày càng to lớn của kinh tế tri thức, Báo cáo chính trị tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: “xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Lýtranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nớc ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
II Thực trạng xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay
Một ngành kinh tế đợc coi là trở thành kinh tế tri thức khi giá trị do tri thức tạo ra chiếm tỉ lệ áp đảo ( khoảng 70%) trong tổng giá trị sản xuất của ngành đó Một nền kinh tế đợc coi là đã phát triển đến trình độ kinh tế tri thức khi tổng sản phẩm các ngành kinh tế tri thức chiếm khoảng 70% tổng sản phẩm trong GDP
Trên thế giới hiện nay, ở các nớc thuộc tổ chức OECD, các ngành kinh
tế tri thức đã đóng góp trên 50% GDP ( Mỹ 55,3% ; Nhật Bản 53% ; Canada 51% ) Nhiều nền kinh tế công nghiệp mới và các nớc đang phát triển cũng đang hớng mạnh vào kinh tế tri thức, tập trung nỗ lực để phát
Trang 7triển nhanh một số ngành kinh tế tri thức nh công nghệ thông tin, Internet, thơng mại điện tử, công nghệ phần mềm…
Đất nớc ta đang trong thời kỳ đầu xây dựng và phát triển kinh tế tri thức Sau đây là những đánh giá trên một số phơng diện cơ bản:
Trang 81 Môi trờng kinh tế và thể chế
Nền kinh tế nớc ta đã và đang có những chuyển biến tích cực, tạo môi trờng thuận lợi cho phát triển kinh tế tri thức Đất nớc đã thoát khỏi khủng hoảng và bớc vào thời kì tăng trởng ổn định Tốc độ tăng GDP năm 2001 là 6,79%, 2002 là 6,89%, 2003 là 7,08%, năm 2004 là 7,69%, năm 2005 là 8,4%, năm 2006 là 8,2% và năm 2007 là 8,4% Sự hình thành và phát triển của các vùng kinh tế trọng điểm ở cả ba vùng Bắc, Trung, Nam với phạm vi ngày càng mở rộng, ngành nghề đa dạng, thu hút nhiều dự án đầu t trong và ngoài nớc… đã trở thành động lực thúc đẩy nền kinh tế cả nớc theo hớng chuyên môn hóa, hợp tác và liên kết kinh tế
Từ khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2006, Việt Nam đã đạt đợc thành tựu ngoạn mục trên nhiều lĩnh vực Kinh tế Việt Nam đang phát triển
đúng hớng, thể hiện sự tăng trởng ở các ngành quan trọng nh công nghiệp, thơng mại…Giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành năm 2007 đạt 574.046,8 tỷ đồng, tăng 17,5% so với năm 2006; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 48,4 tỷ USD, tăng 21,5%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ớc đạt 726.113 tỷ đồng, tăng 23% Bên cạnh đó, Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh và ban hành nhiều chính sách, luật pháp trong nớc theo h-ớng ngày càng phù hợp hơn với các quy tắc, luật lệ thơng mại quốc tế và cam kết gia nhập WTO Chính vì vậy mà môi trờng đầu t và kinh doanh của Việt Nam đã đợc cải thiện theo hớng thông thoáng và minh bạch, tạo đợc niềm tin của các nhà đầu t nớc ngoài và góp phần tăng cờng thu hút đầu t Trong năm 2007, vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam đạt mức kỉ lục 20,3 tỷ USD, tăng 69,2% so với 2006
Tuy vậy, về thể chế, đây là yếu kém đặc biệt của Việt Nam Quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả bị vi phạm nghiêm trọng do những sơ hở trong quản lý và luật pháp, cải cách thủ tục hành chính còn chậm và cha thật
đồng bộ… là những rào cản không nhỏ cho sự phát triển kinh tế tri thức
2 Vấn đề phát triển con ngời
Về nguồn lao động: vấn đề chất lợng nguồn lao động ngày càng đợc chú trọng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trờng Lực lợng lao
động có chuyên môn kĩ thuật tiếp tục gia tăng cả về số lợng và tỉ lệ Năm
2007, cả nớc có 8.844.000 lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật, chiếm 21% trong tổng lực lợng lao động nói chung, tăng 9,7% so với 2006 Trong
đó, số ngời có trình độ công nhân kĩ thuật trở lên chiếm 11,8% so với tổng lực lợng lao động So với 2006, tỉ lệ lao động có chuyên môn kĩ thuật của lực lợng lao động ở nông thôn tăng 1,7% nhanh hơn so với thành thị (tăng 1,4%)
Trang 9Tuy nhiên, trình độ chuyên môn kĩ thuật của lực lợng lao động giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn tiếp tục có sự khác biệt lớn Lao động
có trình độ ở nông thôn chiếm 13,3% lực lợng lao động trong khu vực, ở thành thị, tỉ lệ này là 45%, gấp gần 3,5 lần nông thôn Ngành nông nghiệp chiếm 60,5% tổng số lao động của cả nớc nhng chỉ chiếm 3,8% số ngời đợc
đào tạo nếu không có cơ chế chính sách và giải pháp đủ mức cần thiết để khắc phục tình trạng này thì khu vực nông thôn sẽ ngày càng gặp khó khăn trong việc khai thác nguồn nhân lực tại chỗ để phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa
Về giáo dục đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế tri thức Cùng với chủ trơng nâng cao chất lợng giáo dục, Đảng
và Nhà nớc đã có những chính sách nhằm đa nền giáo dục nớc nhà bắt kịp với các nớc trong khu vực và trên thế giới Nhà nớc tiếp tục dành u tiên cho giáo dục ( hơn 20%)
Về chất lợng cuộc sống, kết quả điều tra mức sống dân c do tổng cục thống kê thực hiện cho thấy theo tiêu chuẩn mới, tỉ lệ hộ nghèo của nớc ta năm 2004 là 18,1% nhng đến năm 2006 con số đó chỉ còn 15,47% và năm
2007 giảm xuống còn 14,87% Đây là một cố gắng lớn của Đảng và Nhà
n-ớc ta trong việc thực hiện chính sách xã hội Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã về đích trớc 10 năm so với mục tiêu xóa đói giảm nghèo trong thực hiện mục tiêu thiên niên kỉ
Bên cạnh đó cũng còn không ít những khó khăn đòi hỏi chúng ta cần phải vợt qua Giá cả tăng cao: chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 12/2007 tăng 12,63% so với tháng 12/2006 Riêng tháng 2/2008 chỉ số này đã tăng tới mức kỉ lục 3,56% so với tháng trớc Tình trạng nhập siêu lớn (năm 2007 khoảng 12 tỉ USD) Nông nghiệp phát triển khó khăn do thiên tai dịch bệnh Cơ cấu kinh tế nhiều điểm cha hợp lí Chất lợng tăng trởng kinh tế cha đều
và cha bền vững
Trang 103 Kết cấu hạ tầng thông tin
Những năm gần đây có thể nói công nghệ thông tin đã thực sự bùng nổ
ở Việt Nam Qua đánh giá và phân tích cho thấy, vị thế công nghệ thông tin Việt Nam trên bản đồ thế giới đã đợc cải thiện đáng kể và hiện dần một bức tranh sáng sủa hơn so với những năm trớc Theo bảng xếp hạng mới nhất hàng năm về các tiêu chí liên quan đến công nghệ thông tin - viễn thông của các tổ chức quốc tế, chỉ số tri thức (KI) của Việt Nam xếp thứ 95/132 quốc gia, vùng lãnh thổ và chỉ số nền kinh tế tri thức (KEI) xếp ở vị trí 99/132- đều tăng 14 bậc so với năm trớc đó Đánh giá về mức độ phát triển công nghệ thông tin cũng cho thấy Việt Nam rất khả quan khi đứng ở vị trí 111/183, tăng 5 bậc Đối với chỉ số sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử, Việt Nam xếp ở vị trí 65/69, tăng 1 bậc
Bên cạnh một vài chỉ số thăng hạng, có một số chỉ số bị tụt hạng: chỉ
số đánh giá sự phát triển công nghệ thông tin - truyền thông tụt 3 bậc (126/181), chỉ số đánh giá mức độ chuẩn bị để tham gia hởng lợi từ các phát triển của công nghệ thông tin tụt xuống đến 7 bậc (82/122), chỉ số tỷ lệ
vi phạm bản quyền phần mềm tụt thêm 1 bậc (98/102) Một trong những nguyên nhân là những chỉ riêu nh xuất khẩu công nghệ cao, môi trờng pháp luật, cơ sở hạ tầng cha thực sự đáp ứng đợc yêu cầu phát triển
Tình hình xuất nhập khẩu công nghệ thông tin của Việt Nam trong năm
2006 đều tăng: xuất khẩu tăng 18,3%, nhập khẩu tăng 13,9%, nhng nhìn chung nhịp độ chậm lại so với những năm trớc đó (59% và 36%) Riêng phần mềm xuất khẩu vẫn duy trì ở mức tăng trởng tốt, năm 2006 tiếp tục tăng 50%, vợt ngỡng 100 triệu USD; tơng tự phần mềm nhập khẩu cũng tăng đáng
kể từ 18 triệu USD năm 2005 lên 30 triệu USD năm 2006
Một con số tăng trởng trong năm 2006 là thị trờng công nghệ thông tin
ở Việt Nam đạt con số 1 tỷ 15 triệu USD, cao hơn mức tăng GDP và vợt mức tăng trởng bình quân của châu á cũng nh thế giới
Về phát triển Internet tại Việt Nam trong năm qua đã tăng 25%, đứng thứ 17 thế giới về số lợng ngời sử dụng Internet, nhng thứ 93 thế giới về tỉ
lệ ngời dùng Internet So với năm trớc thì số ngời sử dụng Internet tăng tr-ởng nhng không cao
Nh vậy, kết cấu hạ tầng thông tin ở Việt Nam tuy đang trong giai đoạn
đầu của sự phát triển nhng đã đạt đợc những kết quả đáng mừng, tạo điều kiện dể xây dựng và phát triển kinh tế tri thức
4 Toàn cầu hóa
4.1 Thời cơ và thách thức