Tình hình chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thực hiện cải cáchhành chính Nhà nước của huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An...50 Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đội
Trang 1LÊ HỢP HUYÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ HỢP HUYÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: LL&PPDH BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thế Định
NGHỆ AN, 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ, cho phép tôi xin gửi lời cảm ơn chânthành và sâu sắc tới: Trường Đại học Vinh, Phòng Sau Đại học, Khoa Giáodục Chính trị Trường Đại học Vinh, quý Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạylớp Cao học chuyên nghành LL&PP dạy học bộ môn Giáo dục Chính trị,khóa 18, tổ chức tại Trường Đại học Vinh
Tôi trân trọng cảm ơn tình cảm sâu sắc tới Thầy giáo Tiến sĩ Đinh ThếĐịnh, Trưởng khoa Giáo dục Chính trị Trường Đại học Vinh, người trực tiếphướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Thường vụ Thị uỷ - UBND thị xã TháiHoà; Ban Thường vụ Huyện ủy - UBND huyện và các Phòng, Ban, cơ quan,
xã, thị trấn huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; gia đình, bạn bè trong và ngoàilớp đã nhiệt tình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi và động viên tôi kịp thời trongsuốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn !
Trang 4B NỘI DUNG 8 Chương 1: Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong cải cách hành chính Nhà nước 8
1.1 Đội ngũ cán bộ, công chức trong cải cách hành chính nhà nước 81.2 Mục đích, yêu cầu, nội dung của cải cách hành chính nhà nước 161.3 Vai trò và sự cần thiết nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứcđáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước 29
Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong cải cách hành chính Nhà nước ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An 38
2.1 Giới thiệu chung về huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An 382.2 Tình hình chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thực hiện cải cáchhành chính Nhà nước của huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An 50
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay 62
3.1 Những quan điểm cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứcđáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước ở huyện Quế Phong, tỉnhNghệ An 623.1.1 Những quan điểm của Đảng về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước 623.1.2 Những quan điểm của Tỉnh ủy Nghệ An xây dựng, nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước .65
Trang 5chính Nhà nước 673.2 Những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứcđáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước ở huyện Quế Phong, tỉnhNghệ An 693.2.1 Đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyệnQuế Phong, tỉnh Nghệ An về công tác cán bộ và nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ, công chức trong cải cách hành chính 693.2.2 Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; trình độ lý luận chính trị chocán bộ, công chức đáp ứng với yêu cầu cải cách hành chính 713.2.3 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức;trong đó chú trọng đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ là người dân tộc thiểu số 753.2.4 Đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị cho cán bộ, công chứclàm việc 81
C KẾT LUẬN 84
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
E PHỤ LỤC
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cán bộ là khâu then chốt, là nhân tố quyết định sự thành, bại của sựnghiệp cách mạng nước ta Trong quá trình huấn luyện và dùng cán bộ, Chủtịch Hồ Chí Minh luôn coi “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng,của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đemtình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặtchính sách cho rõ” [28; 309] Vì thế trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng
ta khẳng định, cán bộ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, vấn đề cán bộ vàcông tác cán bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựngĐảng, xây dựng hệ thống chính trị Mỗi giai đoạn cách mạng cần có một độingũ cán bộ phù hợp, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của giai đoạn cách mạng đó
Trải qua hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng, nước ta đangchuyển sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bảntrở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Vì vậy, nhiệm vụ cáchmạng trong giai đoạn mới hết sức nặng nề, khó khăn, phức tạp, vừa là thời cơvừa là thách thức đan xen nhau, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải có bảnlĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn phù hợp với yêu cầucủa cách mạng trong giai đoạn mới
Thực tế cho thấy đội ngũ CBCC của huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ Anhiện nay nói chung đa số trưởng thành từ phong trào thực tiễn, nhất là cán bộ
cơ sở ít được đào tạo bài bản, chính quy về trình độ chuyên môn, lý luậnchính trị, đội ngũ này nặng về kinh nghiệm; trình độ, chuyên môn, lý luậnchính trị hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của địa phương Trongkhi đó, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở chính là những người trực tiếp cụ thể hoá cácchủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước để tổ chức thực hiệntrong nhân dân Vì vậy, xây dựng được một đội ngũ cán bộ ngang tầm, góp
Trang 8phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa thì một trong những yêu cầu đặt ra đối với côngtác cán bộ là phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
Cùng với cả nước, hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị BanChấp hành trung ương 3 (khoá VIII) và các Nghị quyết trung ương 5 (khoáIX), trung ương 6 (khoá X), về công tác cán bộ Tỉnh Nghệ An đã đạt đượcmột số kết quả bước đầu có ý nghĩa rất quan trọng Trong những năm qua độingũ cán bộ Nghệ An nói chung, huyện Quế Phong nói riêng được quan tâmđào tạo, bồi dưỡng kiến thức nhiều mặt, nhất là kiến thức quản lý nhà nước.Năng lực lãnh đạo, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ của cán bộ khôngngừng được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của tình hình vànhiệm vụ mới, góp phần tạo nên chuyển biến trên tất cả các mặt đời sống kinh
tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng, an ninh trên địa bàn huyện
Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giaiđoạn mới, đội ngũ CBCC của huyện Quế Phong hiện nay còn nhiều bất cập
Do những hạn chế, nên trong quá trình quản lý, điều hành gặp những tìnhhuống, những vụ việc không đề ra được phương án giải quyết tối ưu; đội ngũcán bộ cấp xã chưa qua đào tạo cơ bản, chủ yếu là qua các lớp bồi dưỡngngắn ngày Những lúng túng, vi phạm trong thực thi nhiệm vụ là điều khótránh khỏi Bên cạnh những hạn chế do trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ,một bộ phận không nhỏ cán bộ do tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thịtrường, đã có biểu hiện suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, sống xadân, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, mất dân chủ, tham nhũng, lãng phí, lợidụng chức quyền làm trái các nguyên tắc quản lý, bán và sang nhượng đất tráiphép, tiếp tay cho “lâm tặc” chặt phá rừng; thậm chí bớt xén tham ô tiền củaNhà nước, gây tổn hại không nhỏ đến uy tín và làm giảm sút lòng tin củanhân dân đối với Đảng và Nhà nước Bên cạnh đó, hoạt động của các đại biểu
Trang 9HĐND các cấp còn nhiều hạn chế Năng lực, trình độ của các đại biểu HĐNDchưa đáp ứng kịp yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.
Trước bối cảnh trên, cần có một sự nghiên cứu toàn diện về chất lượngđội ngũ cán bộ ở huyện Quế Phong để có giải pháp nâng cao trình độ, năng
lực của đội ngũ cán bộ Với ý nghĩa đó, chúng tôi chọn vấn đề: “Nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” để làm Luận văn Thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác cán bộ đóng vai trò và vị trí rất quan trọng trong sự nghiệpxây dựng Đảng và bảo vệ đất nước, vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu
và đề cập đến vấn đề này Tiêu biểu là các công trình: PGS.TS Trần Đình
Hoan (chủ biên): “Đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản
lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2009; TS Nguyễn Duy Hùng (chủ biên): “Luận cứ khoa học và một
số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường hiện nay”, Nxb,
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007; Cao Khoa Bảng (chủ biên),“ Xây dựng đội
ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị cấp tỉnh, thành phố (qua
kinh nghiệm của thành phố Hà Nội), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008;
Trần Hương Thanh, (chủ biên),“ Các biện pháp tâm lý nâng cao tính tích cực
lao động của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010; Luận văn Thạc sĩ quản lý hành
chính công: “ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Vĩnh Phúc
trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Nguyễn Văn Linh, Hà Nội, 2007; Luận văn
Thạc sĩ khoa học Giáo dục: “Xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 3 (khoá VIII)”, tác giả
Phan Thị Phương Thoa, Đại học Vinh, 2003; Luận văn Thạc sĩ Khoa học
Trang 10Giáo dục: “Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công
chức hành chính Trường Đại học Vinh trong giai đoạn mới”, tác giả Hà Văn
Ba, Đại học Vinh, 2004; Luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục:“ Đảng bộ
huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ theo tinh thần Nghị quyết lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII)”, tác giả Trần Thị Duyên, Đại học Vinh, 2005; Đề tài Khoa học Công
nghệ trọng điểm cấp trường “Cải cách hành chính Nhà nước ở huyện Quế
Phong, tỉnh Nghệ An – Thực trạng và giải pháp”, công trình nghiên cứu khoa
học của Tiến sĩ Đinh Thế Định, Đại học Vinh, 2011
Trong các công trình nêu trên, nhiều tác giả đã đề cập và bàn đến vaitrò, vị trí, chức năng, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ trong công cuộc xâydựng và bảo vệ đất nước; trong đề tài các tác giả cũng nêu lên thực trạng và
đề ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, góp phầnthực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Về vấn đề cán bộ, ngày 18 tháng 6 năm 1997, Ban Chấp hành trungương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết trung ương 3 (khoáVIII) “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoáđất nước” Chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức Nhà nước giai đoạn I (2001-2010), được Thủ tướng Chính phủ phêduyệt vào ngày 17/09/2001 đã triển khai thực hiện, bước đầu đem lại hiệu quảcăn bản Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi năm 2003), đến năm
2008 Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam (khoá XII ) chính thức ban hành và có hiệu lực thực thi trong quátrình triển khai thực hiện trên phạm vị cả nước
Căn cứ vào đường lối, chủ trương của Trung ương, của Chính phủ,Tỉnh uỷ Nghệ An đã nhanh chóng ban hành các văn bản có tính quy phạmpháp luật trong lĩnh vực công tác cán bộ trên địa bàn Nghệ An như: Chỉ thị số05-CT/TU ngày 11/01/1997 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Nghệ An “Về việc
Trang 11xây dựng, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý từ nay đến năm 2010
và những năm tiếp theo”; Quyết định số 66/2008/QĐ-UBND ngày14/10/2008 của UBND tỉnh Nghệ An “Về việc ban hành quy chế bổ nhiệm,
bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo”;Quyết định số 724/QĐ-UBND ngày 15/3/2012 của UBND tỉnh Nghệ An “Vềviệc phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã thuộc tỉnhNghệ An giai đoạn 2012-2020 theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ” Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Nghệ An đãban hành Quy định số 314-QĐ/TU ngày 26/5/2011 “Về việc tuyển dụng, tiếpnhận và điều động cán bộ, công chức cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể chính trị - xã hội”; ngày 13/3/2012 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnhNghệ An ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TU “Về phát triển và nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực giai đoạn 2012-2020” Quyết định số 268-QĐ/HU ngày04/5/2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An vềviệc ban hành Đề án “Nâng cao năng lực cán bộ, công chức huyện Quế Phonggiai đoạn 2011-2015 và những năm tiếp theo” Tiếp đó UBND huyện QuếPhong, tỉnh Nghệ An ra Quyết định số 60/QĐ-UBND ngày 08/02/2012 “Vềviệc ban hành Chương trình cải cách hành chính Nhà nước huyện Quế Phonggiai đoạn 2012 - 2020”
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệthống, toàn diện về năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở mộthuyện miền núi thuộc diện Chương trình 30a của Chính phủ trong bối cảnhcải cách hành chính Nhà nước Vì vậy, đề tài nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước ở huyện QuếPhong, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay là vấn đề có ý nghĩa lý luận vàthực tiễn cấp bách Công trình nghiên cứu không trùng lắp với các đề tài khoahọc đã được công bố
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ
3.1 Mục đích
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cảicách hành chính Nhà nước, ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An trong giai đoạnhiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là một phạm trù có nội dung rấtrộng, bao gồm nhiều khía cạnh, góc độ và lĩnh vực, nội dung khác nhau Vìvậy trong phạm vi luận văn này tác giả xin tập trung nghiên cứu về vấn đềchất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chínhNhà nước ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Để giải quyết tốt vấn đề trên, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu việc nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hànhchính Nhà nước ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nayqua các yếu tố như: Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trình độ lý luậnchính trị, trình độ quản lý Nhà nước, trình độ tin học, trình độ ngoại ngữ
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng Công sản ViệtNam về công tác cán bộ, về cải cách hành chính Nhà nước và xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Mác Đề tài sử dụng các phương pháp: điều tra, khảo sát, thống kê, so sánh,phân tích, tổng hợp,vv
6 Giả thiết khoa học
Nếu các giải pháp của luận văn đề xuất được triển khai đồng bộ sẽ gópphần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở huyện Quế Phong, tỉnhNghệ An trong điều kiện cải cách hành chính Nhà nước
7 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước ở huyệnQuế Phong, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu bổ ích cho các cấp uỷđảng, chính quyền địa phương, hệ thống trường Chính trị vận dụng trongnghiên cứu, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
đề tài có cấu trúc gồm 3 chương 7 tiết:
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức trong cải cách hành chính Nhà nước
Chương 2 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong cải
cách hành chính Nhà nước ở huyện Quế phong, tỉnh Nghệ An
Chương 3 Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước ở huyệnQuế phong, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
Trang 14B NỘI DUNGChương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1.1 Đội ngũ cán bộ, công chức trong cải cách hành chính Nhà nước
1.1.1 Khái niệm về cán bộ, công chức
Tại Điều 4: Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008, định nghĩa vềcán bộ, công chức như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phêchuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan củaĐảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương,
ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ởhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện),trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vàongạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công annhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máylãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sựnghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đốivới công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lậpthì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quyđịnh của pháp luật
Trang 15Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dânViệt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ Thường trực Hội đồngnhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thứ, Phó Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổchức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyểndụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp
xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước” [35; 8-9]
Theo định nghĩa này, cán bộ, công chức là những người hoạt độngtrong hệ thống chính trị từ trung ương cho đến địa phương Trong đó, gồm cócán bộ chủ chốt và cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ, chuyên mônkhông chỉ trong cơ quan Nhà nước mà ở cả trong hệ thống chính trị
1.1.2 Phân loại cán bộ, công chức hành chính
Việc phân loại cán bộ, công chức có ý nghĩa quan trọng đối với việcxây dựng, đổi mới nền công vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức trong CCHC Tại Điều 34, Luật cán bộ, công chức 2008 cho rằng “Căn
cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại như sau:
- Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên caocấp hoặc tương đương;
- Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viênchính hoặc tương đương;
- Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặctương đương;
- Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặctương đương và ngạch nhân viên
* Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau:
- Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;
- Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý” [35; 25]
* Phân loại công chức theo ngành chuyên môn:
+ Công chức hành chính;
Trang 16+ Công chức ngành lưu trữ;
+ Công chức tài chính;
+ Công chức ngành Ngân hàng;
+ Công chức ngành Thanh tra;
+ Công chức ngành Thuế, Hải quan;
+ Công chức ngành Kiểm lâm,vv
- Phân loại công chức theo vị trí công tác, tính chất lao động:
Hiện nay trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, công chức đượcphân loại theo công việc đảm nhiệm, chứ không phân loại công chức theokiểu xếp hạng các cá nhân đảm nhiệm công việc đó Ví dụ ở các nước pháttriển như Mỹ: Các chức vụ về văn phòng, hành chính, tài chính được xếpthành 18 hạng, mỗi hạng từ 5 đến 7 bậc
Ở nước ta thì việc phân loại công chức theo vị trí công tác, tính chất laođộng như sau:
+ Công chức lãnh đạo
+ Công chức chuyên môn (không có quyền ra mệnh lệnh, quyết địnhhành chính)
+ Công chức thực hành nghiệp vụ và kỷ thuật (thư ký, đánh máy)
- Phân loại theo ngạch công chức:
Ngạch công chức là khái niệm chỉ rõ vị trí công tác, tiêu chuẩn nghiệp
vụ, trình độ chuyên môn Cán bộ, công chức muốn nâng ngạch thì phải tiếptục nâng cao trình độ chuyên môn, văn bằng, chứng chỉ, năng lực công tác.Theo Quyết định số 414/TCCP-VP ngày 25/9/1993 của Ban Tổ chức cán bộChính phủ (nay là Bộ Nội vụ), công chức được phân loại thành:
+ Chuyên viên cao cấp;
+ Chuyên viên chính;
+ Nhân viên kỹ thuật;
+ Nhân viên văn thư;
Trang 17+ Nhân viên phục vụ;
+ Cán sự;
+ Kỹ thuật viên đánh máy;
+ Lái xe cơ quan;
+ Nhân viên bảo vệ
Việc phân loại theo cách, (chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính,chuyên viên kỷ thuật) có ưu điểm:
Tạo ra tiêu chuẩn thống nhất và khách quan trong việc tuyển chọn và
1.1.3 Các tiêu chí, yếu tố cơ bản đánh giá chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức hành chính
- Tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong lối sống và thái
độ, tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ:
Luật cán bộ, công chức năm 2008 yêu cầu “Cán bộ, công chức phảithực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ”[35; 16] Do đó mà yêu cầu mỗi cán bộ, công chức phải ra sức thường xuyênrèn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị, nâng cao đạo đức lối sống Chủ tịch
Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ phải rèn luyện phẩm chất chính trị cáchmạng “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” [32; 557] Đội ngũ cán bộ phảihết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Tăng cường học tập vàlàm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi CBCC phải có lối sống trongsáng, thuỷ chung với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, vì nhân mà phục vụ
Có thể nói rằng, phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng là một trong
Trang 18những yếu tố quan trọng nhất của của người CBCC trong giai đoạn cáchmạng hiện nay Trước thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên tham nhũng,tha hoá biến chất, đi ngược lại với lợi ích của Đảng cách mạng, của dân tộc,của nhân dân; vì thế nhiệm vụ của đội ngũ CBCC là phải cương quyết thựchiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị trung ương 4 (khoá XI) của Đảng “Một
số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”[12]
- Tiêu chí về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ:
Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ làyêu cầu hàng đầu để đáp ứng trong thực thi công vụ Công tác quản lý hànhchính đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng,nghiệp vụ nhất định phù hợp với yêu cầu công tác Vì vậy, mỗi cơ quan hànhchính phải phân công, bố trí cán bộ, công chức đảm nhiệm công vụ theo trình
độ chuyên môn được đào tạo theo từng lĩnh vực, theo từng công việc nhấtđịnh; nếu cán bộ, công chức vừa yếu về chuyên môn, nghiệp vụ và thiếu về sốlượng thì hiệu quả thực thi công vụ không cao, ảnh hưởng đến chất lượngcông việc của cơ quan Thực tế đội ngũ cán bộ, công chức đã được đào tạochuyên môn ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Tuynhiên, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi mỗiCBCC phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyện môn, nghiệp vụ
để thực hiện tốt chức trách được giao
Chỉ tiêu:
+ 100% cán bộ, công chức cấp huyện có trình độ chuyên môn là đạihọc, cao đẳng, (trong đó trình độ đại học chiếm trên 70%)
Trang 19+ 100% cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn có trình độ chuyên môn từtrung cấp trở lên, (trong đó 50% có trình độ đại học).
- Tiêu chí về trình độ ngoại ngữ, tin học:
Trước bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ ngày càng sâu rộng, ngoạingữ, tin học là công cụ hữu hiệu trong hợp tác quốc tế, qua đó tiếp thu cácthành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới Muốn vậy, mỗi
cá nhân phải có tri thức toàn diện, trong đó có trình độ ngoại ngữ, tin học nhấtđịnh để làm công cụ, chìa khoá mở cửa kho tri thức của nhân loại, nâng caonăng lực thu nhận và xử lý thông tin, quyết định hành động nhằm đạt đượcmục tiêu nhanh và bền vững Xuất phát từ tầm quan trọng đó, yêu cầu đội ngũCBCC ngày nay phải đảm bảo về tiêu chí trình độ ngoại ngữ và trình độ tinhọc, để thực thi công vụ đạt hiệu quả cao
Chỉ tiêu:
+ 100% cán bộ lãnh đạo các cơ quan cấp huyện có trình độ ngoại ngữ.+ 100% cán bộ, công chức từ huyện đến cơ sở có trình độ tin học và sửdụng thành thạo máy vi tính
- Tiêu chí về sức khoẻ, (thể lực):
Sức khoẻ là vốn quý của mỗi con người khi được sinh ra và lớn lên, đặcbiệt đối với những người lao động, trong đó những người lao động trí óc lạicần có đủ sức khoẻ để làm việc Vì vậy, sức khoẻ đối với CBCC cực kỳ quantrọng, dù có trình độ, năng lực giỏi đến mấy mà không có sức khoẻ thì khônghoàn thành được nhiệm vụ, ngược lại có sức khoẻ, cộng với trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ thì CBCC sẽ đảm nhận công việc và có khả năng hoàn thànhnhiệm vụ cao hơn Như vậy để đội ngũ CBCC có đủ sức khoẻ thực thi công
vụ, trước hết đòi hỏi mỗi cá nhân phải tích cực rèn luyện thể lực, tự bảo vệ,chăm sóc sức khoẻ cho mình; bên cạnh đó Nhà nước cần tiếp tục có chế độchăm lo đời sống tinh thần, vật chất cho CBCC và nhân dân ngày một tốt hơn
Trang 20- Tiêu chí về trình độ lý luận và hiểu biết thực tiễn:
Đội ngũ CBCC cần nhận thức một cách sâu sắc về lý luận chính trịtrong thực thi công vụ hiện nay Với vai trò là “Công bộc của nhân dân” đòihỏi mỗi cán bộ, công chức phải nhận thức và thấm nhuần chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xãhội của nước ta, từ đó quyết tâm cống hiến trí, lực cho cách mạng, chung tayxây dựng đất nước Hồ Chí Minh cho rằng “Thống nhất giữa lý luận và thựctiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có
lý luận dẫn đường thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận không có thực tiễn là
lý luận suông” [31; 496]
Về quan điểm gắn lý luận với thực tiễn trong học tập lý luận chính trị,Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Việc học tập của các đồng chí không phảinhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm thếnào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là các đồng chí phải học tinhthần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học lập trường, quan điểm, phương pháp củachủ nghĩa Mác - Lênin, để áp dụng lập trường, quan điểm, phương pháp ấy
mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng củanước ta Như thế chúng ta học lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế Học lýluận là nhằm mục đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận,hoặc vì tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng.Không phải học để thuộc lòng từng câu từng chữ, đem kinh nghiệm các nướcanh em áp dụng máy móc, nhưng chúng ta phải học chủ nghĩa Mác - Lênin để
Trang 21phân tích và giải quyết những vấn đề củ thể của cách mạng nước ta; cho phùhợp với điều kiện đặc biệt của nước ta” [31; 497].
Cán bộ, công chức hạn chế về lý luận chính trị thì họ sẽ bị hạn chế vềhành động cách mạng, CBCC có lý luận chính trị vững vàng thì họ có thái độ
và động cơ thực thi công vụ tốt hơn Song có lý luận chính trị không thì chưa
đủ, yêu cầu CBCC phải có trình độ lý luận chính trị vững vàng và bám sát vàothực tiễn, kết hợp hài hoà giữa lý luận và thực tiễn Trong bối cảnh hiện nayyêu cầu CBCC phải tìm hiểu và phân tích nhận thức căn bản, khoa học cácquá trình kinh tế - xã hội đang diễn ra, phải thu thập các số liệu, dữ liệu kịpthời để giải quyết các tình huống đặt ra trong quá trình tác nghiệp Để làm tốtnhững nội dung nêu trên, phải khắc phục hai khuynh hướng: Một là, quá đềcao lý luận dẫn tới lý luận suông, giáo điều, quan liêu Hai là, coi thường lýluận sẽ dẫn tới tuỳ tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa trong nhận thức và hành độngcủa CBCC
Chỉ tiêu:
+ 30% cán bộ, công chức có trình độ cao cấp lý luận chính trị
+ 70% cán bộ, công chức có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên.+ 100% cán bộ, công chức các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thểcấp huyện được bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước
- Tiêu chí về kỹ năng hành chính:
Kỹ năng hành chính là năng lực công tác trong đó kết hợp giữa hệthống kiến thức và vận dụng các kỷ thuật quản lý, kinh nghiệm công tác củaCBCC vào công tác quản lý hành chính Có kiến thức mà không có kinhnghiệm, không vận dụng kinh nghiệm tự đúc rút hay học tập được thì CBCCkhó hoàn thành nhiệm vụ được giao Đòi hỏi CBCC phải không ngừng họctập tích luỹ về kỹ năng hành chính; bên cạnh đó cũng cần phân định rõ kỹnăng hành chính của CBCC ngành Tài chính khác với ngành Tư pháp, vv ,
rõ ràng không có khuôn mẫu, đáp số chung cho mọi CBCC, mọi công việc
Trang 22Vấn đề đặt ra cho mỗi CBCC là phải tích cực học tập tích luỹ kinh nghiệmtrong quá trình thực thi công vụ, nhằm hướng tới hoàn thiện về kỹ năng hànhchính công vụ của CBCC.
- Tiêu chí về kỹ năng giao tiếp:
Giao tiếp là hình thức trao đổi thông tin quản lý của CBCC Vì vậytrong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọngđồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc CBCCphải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp, công bằng, vô tư, khách quan khinhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ Khi thi hành công
vụ cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức, có tác phonglịch sự, giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp
Trang 23động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hành dân chủ và cáclĩnh vực khác trong đời sống xã hội.
Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã trải qua 26 năm.Trong khoảng thời gian đó, đồng thời với việc đổi mới về kinh tế thì CCHCcũng được tiến hành Cuộc CCHC được thực hiện từng bước thận trọng và đãthu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ Cải cách hành chính đang thể hiện
rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự nghiệp phát triển đấtnước Nền hành chính từng bước được hiện đại hóa, đem lại hiệu quả thiếtthực cho công việc quản lý Nhà nước Các dịch vụ công phục vụ đời sốngnhân dân được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, dòng chảy cải cách hành chính vẫnchưa phát huy hết những lợi thế tích cực của những yêu cầu ngày càng đòi hỏiphải thay đổi Cho nên, tác động chưa nhiều đến sự phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước, đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội đã tồn tại từ lâu vàmới nảy sinh cần phải được giải quyết tích cực và có hiệu quả Bên cạnh đó,bối cảnh toàn cầu hoá đang đặt ra cho chúng ta trước những thách thức và cơhội mới đòi hỏi phải có những cố gắng cao độ Điều đó cũng có nghĩa là, quátrình cải cách hành chính ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần đượctiếp tục giải quyết Do đó, trong những năm gần đây cải cách hành chính đượcĐảng ta xác định là nhiệm vụ trọng tâm của quá trình xây dựng và hoàn thiệnhiệu lực của bộ máy Nhà nước, với mục tiêu “Xây dựng một nền hành chínhNhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá” [8; 48]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4/2001) đã đềchủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong CCHC như; điều chỉnhchức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc Bộquản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách quản lý Nhà nướcvới hoạt động sản xuất kinh doanh, tách cơ quan hành chính công quyền với
tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp Nhà nước,tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ CBCC trong sạch, có
Trang 24đủ năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng Ngày17/9/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phêduyệt Chương trình Tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 -
2010 Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI cũng xác định phảitiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, coi đây là một trong những giải pháp
cơ bản để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, nhiệm vụthường xuyên của tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị
Đẩy mạnh cải cách hành chính hướng tới mục tiêu xây dựng cho đượcmột nền hành chính phục vụ nhân dân, phục vụ phát triển bảo đảm dân chủ,thống nhất, thông suốt, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả Đội ngũ cán bộ, côngchức có phẩm chất và trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, vì lợi íchcủa nhân dân theo đúng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa dân, do dân, vì dân Phấn đấu, đến năm 2020 hệ thống hành chính đượccải cách cơ bản phù hợp với các yêu cầu của một nền kinh tế phát triển theohướng hiện đại, xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vữngmạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theonguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo củaĐảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứngyêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Với vai trò đặc biệtquan trọng đó, cải cách hành chính ở nước ta nhằm hướng tới:
+ Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợpvới thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là các thể chế vềkinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính
+ Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạmpháp luật, khắc phục tính cục bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo các văn bản;
đề cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xây dựng thể chế; pháthuy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bảnquy phạm pháp luật
Trang 25+ Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm
rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hànhchính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân
+ Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng,nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng
+ Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc Bộquản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ môtoàn xã hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện
+ Bộ máy của các Bộ được điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõchức năng, phương thức hoạt động của các bộ phận tham mưu, thực thi chínhsách, cung cấp dịch vụ công
+ Đến năm 2020, thực hiện các quy định mới về phân cấp quản lý hànhchính Nhà nước giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyềnđịa phương; định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máychính quyền ở đô thị và nông thôn
+ Các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyệnđược tổ chức lại gọn nhẹ, thực hiện đúng chức năng quản lý Nhà nước theonhiệm vụ và thẩm quyền được xác định trong Luật Tổ chức Hội đồng nhândân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) Xác định rõ tính chất, cơ cấu tổ chức, chế
độ làm việc của chính quyền cấp xã
+ Đến năm 2020, đội ngũ CBCC có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyênnghiệp, hiện đại Tuyệt đại bộ phận CBCC có phẩm chất tốt và đủ năng lựcthi hành công vụ, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân
+ Đến năm 2020, tiền lương của CBCC được cải cách cơ bản, trở thànhđộng lực của nền công vụ, bảo đảm cuộc sống của CBCC và gia đình
+ Đến năm 2020, cơ chế tài chính được đổi mới thích hợp với tính chấtcủa cơ quan hành chính và tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công
Trang 26+ Nền hành chính Nhà nước được hiện đại hóa một bước rõ rệt Các cơquan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu quản lýNhà nước kịp thời và thông suốt Hệ thống thông tin điện tử của Chính phủđược đưa vào hoạt động.
- Cuộc cải cách hành chính đặt trong khuôn khổ các quan điểm và chủtrương của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới hệ thống chính trị và cảicách bộ máy Nhà nước
Cải cách và hoàn thiện nền hành chính Nhà nước gắn liền với xâydựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảngđối với Nhà nước nói chung và nền hành chính nói riêng, nhằm giữ vững vàphát huy bản chất của giai cấp công nhân, xây dựng Nhà nước pháp quyềncủa dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
+ Nền hành chính phải được tổ chức thành một hệ thống thống nhất ổnđịnh, hoạt động thông suốt, trên cơ sở phân công, phân cấp và chế độ tráchnhiệm rành mạch, có kỷ cương nghiêm ngặt, cơ quan hành chính và cán bộ,công chức nhà nước chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân
+ Áp dụng các cơ chế, biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa những hành vimất dân chủ, tự do, tùy tiện, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hàcho nhân dân
+ Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải gắn liền chặt chẽvới bước đi của đổi mới kinh tế, với yêu cầu phát triển đất nước trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành vàhoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,giữ vững trật tự, kỷ cương trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân
+ Cải cách hành chính là nhiệm vụ rộng lớn, phức tạp đòi hỏi có tầmnhìn bao quát với những giải pháp đồng bộ, kết hợp chặt chẽ cải cách hànhchính với đổi mới hoạt động lập pháp, cải cách tư pháp
Trang 27+ Cải cách hành chính phải được tiến hành từng bước vững chắc, cótrọng tâm, trọng điểm, lựa chọn khâu đột phá trong từng giai đoạn củ thể.
Với nhận thức về tính cấp thiết đó, CCHC cần được chỉ đạo, điều hànhsát sao và dứt điểm đúng với mục đích của một nhiệm vụ đột phá, không thểcoi là một công việc bình thường làm sớm hay muộn cũng không ảnh hưởng
gì đến sự nghiệp đổi mới và phát triển, có như vậy thực hiện CCHC mới thực
sự trở thành khâu đột phá để phá bỏ các rào cản manh mún, lạc hậu, bảo thủ,trì trệ và nguyên tắc máy móc Đó cũng chính là mục đích hướng tới xâydựng một bộ máy hành chính vừa phù hợp với lòng dân, phù hợp với thực tiễncủa đất nước, phù hợp với những thay đổi của thời đại, đồng thời thể hiệnviệc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam ngàycàng khẳng định vị thế, vai trò và năng lực của Đảng, Nhà nước ta, đưa ViệtNam trở thành hình ảnh được bạn bè quốc tế biết đến là một đất nước ngàycàng phát triển đúng hướng với bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa
Như vậy, mục đích của CCHC là nâng cao hiệu suất hoạt động hànhchính, thích ứng với những thay đổi, đòi hỏi của môi trường trong nước vàquốc tế Đẩy mạnh CCHC nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền hành chính dân chủ, trongsạch, vững mạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ CBCC có đủ phẩm chất vànăng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phùhợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhậpkinh tế quốc tế; đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước
1.2.2 Yêu cầu của cải cách hành chính Nhà nước
Nhà nước pháp quyền là thiết chế của nền dân chủ, là thành quả pháttriển của nhân loại Đó là Nhà nước lấy nhân dân làm chủ thể, lấy pháp luậtlàm tiêu chí để quản lý xã hội Cốt lõi của tư tưởng, quan điểm về nhà nướcpháp quyền XHCN chính là nhà nước của dân, do dân và vì dân, quản lý xãhội và quản lý chính bản thân mình bằng pháp luật Không một thể chế Nhà
Trang 28nước và xã hội nào có thể đứng trên pháp luật và đứng ngoài pháp luật Mọi
cơ quan, tổ chức và công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định củaluật pháp Mọi quyết định của cơ quan công quyền phải hợp pháp Cán bộ,công chức trong thực thi công vụ phải lấy pháp luật làm chuẩn mực
Để tránh nguy cơ độc đoán, chuyên quyền, nhiều nước phân chia quyềnlực Nhà nước thành 3 nhánh quyền: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp, vớiphương châm dùng quyền lực kiểm tra, giám sát quyền lực Trong quá trìnhhoạt động, các cơ quan này kiểm soát lẫn nhau, bảo đảm sự cân bằng quyềnlực, tránh tình trạng lạm quyền, lấn át của quyền này đối với quyền khác
Ở nước ta, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân Ba quyền Lậppháp, Hành pháp và Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Namkhông độc lập, càng không đối lập, mà thống nhất với nhau trên cơ sở đườnglối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Về tính chất, mối quan hệ và hoạtđộng của ba quyền này là sự phân công, phối hợp để thực hiện nhiệm vụchung Vì vậy, cần có sự phân định rành mạch, khoa học để các cơ quan thựchiện các quyền phát huy tính năng động, sáng tạo, hoạt động đúng thẩmquyền, và tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ Đồng thời, có sự phối hợp,kiểm tra lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện các quyền để phát huy hiệu lựcchung của quyền lực nhà nước thống nhất Cải cách hành chính, do đó, cầnđược tổ chức triển khai toàn diện, đồng bộ, gắn kết với cải cách lập pháp vàcải cách tư pháp
Nền hành chính có chức năng thực thi quyền hành pháp - tổ chức thihành pháp luật và quản lý, điều hành mọi hoạt động trên các lĩnh vực đời sống
xã hội nhằm chuyển hoá chủ trương, đường lối của lực lượng cầm quyềnthành hiện thực, bảo đảm cho các chủ thể quan hệ pháp luật thực hiện nghiêmchỉnh, chính xác luật pháp Vì nền hành chính ra đời, tồn tại và thay đổi theo
sự hình thành, phát triển của nhà nước nên yêu cầu của CCHC là phải xuấtphát từ tính chất riêng biệt của hệ thống chính trị, từ hoàn cảnh lịch sử và thực
Trang 29tế đời sống chính trị - kinh tế - xã hội mỗi nước Mục tiêu CCHC nước ta làxây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, quản lý toàn xã hội mộtcách hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Yêucầu này đòi hỏi trước hết phải xây dựng một nền hành chính “dân chủ, phápquyền” Đó là nền hành chính có tổ chức và hoạt động theo chuẩn mực phápluật; bảo đảm, bảo vệ các quyền công dân bằng pháp luật Công dân là ngườichủ thực sự, có quyền làm những việc pháp luật không cấm và có nghĩa vụtuân theo pháp luật Nền hành chính tạo mọi điều kiện để công dân tham giatích cực vào quá trình xây dựng luật pháp Thông qua đó, các quyền tự do,dân chủ của công dân được thể chế hoá và mở rộng trên tất cả các lĩnh vựcđời sống xã hội, nền hành chính bảo đảm các quyền công dân theo luật địnhđược tôn trọng trên thực tế thông qua hệ thống lập quy và bằng các biện pháp
cụ thể Các văn bản pháp quy phải căn cứ vào pháp luật, chủ yếu là chấp hànhpháp luật; văn bản cấp dưới không trái với văn bản cấp trên Các chủ thể hànhchính tuyệt đối tuân thủ pháp luật, chỉ được làm những việc mà pháp luật chophép Đồng thời, Nhà nước pháp quyền XHCN cũng yêu cầu xây dựng mộtnền hành chính phát triển Đó là nền hành chính vì dân, coi công dân là trungtâm và đề cao chức năng phục vụ công Nền hành chính hướng tới sứ mệnhthoả mãn lợi ích chung của toàn xã hội và đáp ứng các nhu cầu chính đángcủa nhân dân một cách chất lượng, hiệu quả, kinh tế nhất Nền hành chính tạomọi thuận lợi để công dân và các tổ chức của họ tham gia thực hiện các côngviệc Nhà nước Bằng hành động thực tiễn, nền hành chính quan tâm đảm bảocác quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm côngbằng, bình đẳng, tạo điều kiện cần thiết để mọi thành viên xã hội với nhữngđịa vị, điều kiện, thể chất khác nhau nhưng có cơ hội như nhau để phát triển;
bù đắp cho những người được hưởng lợi ít nhất; quan tâm giúp đỡ, cung cấpdịch vụ cho nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn vànhững nhóm đối tượng yếu thế, có vị thế bất lợi trong nền kinh tế thị trường
Trang 30Trong suốt tiến trình phát triển từ khi Nhà nước Việt Nam kiểu mới rađời năm 1945, bản chất nhân dân của Nhà nước được khẳng định trong cácHiến pháp 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm2001) Tuy nhiên, trong tiềm thức của không ít cán bộ, công chức vẫn cònđậm tính công quyền, cưỡng chế của Nhà nước Nhân dân là đối tượng chịu
sự quản lý, cai quản thay vì là “khách hàng” mà nền hành chính phải phục vụ.Hoạt động quản lý công trong nhiều trường hợp bị “hành chính hoá”, quá chútrọng thực hiện mệnh lệnh, chấp hành chỉ đạo của cấp trên, tuân theo quytrình, thủ tục, hơn là nêu cao trách nhiệm phục vụ, linh hoạt thoả mãn nguyệnvọng của nhân dân một cách hiệu quả nhất Do đó, yêu cầu đặt ra ở đây là,cần tiếp tục cải cách, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nền hành chính vàcông dân Công dân uỷ quyền cho công chức “công bộc” của mình cung ứngnhững dịch vụ có chất lượng theo pháp luật Nền hành chính không có mụcđích tự thân mà phải vì nhân dân phục vụ, phải đặt lợi ích của nhân dân lênhàng đầu nhưng không có nghĩa là thực hiện một cách qua loa, mà thực hiệntrên cơ sở phù hợp với những yêu cầu của công việc, của nhiệm vụ, phù hợpvới thực tiễn Cơ quan công vụ là các thiết chế phục vụ xã hội, phục vụ nhândân Cán bộ, công chức gương mẫu chấp hành pháp luật, thực thi công vụ mộtcách phi vụ lợi, đặt lợi ích của xã hội, của công dân lên trên hết Nhân dân làđối tác chính trong xây dựng và triển khai chính sách, tạo mọi điều kiện đểchủ động tham gia vào quá trình quản lý, cung ứng dịch vụ công; giám sáthoạt động của các cơ quan công quyền, và có thể thông qua các đại biểu củamình bãi miễn chức vụ của cán bộ, công chức không đủ uy tín, năng lực, với
cơ chế thuận tiện, khả thi
Để làm được điều đó, phải chú trọng nâng cao dân trí, phát huy mạnh
mẽ quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước Cần thể chế hoá cácquy định liên quan tới quyền và nghĩa vụ công dân một cách rõ ràng, cụ thểnhằm đảm bảo cho công dân thực sự được hưởng quyền và nghĩa vụ Thực
Trang 31hiện đầy đủ nguyên tắc công khai, dân chủ trong tổ chức và hoạt động củanền hành chính, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướngđơn giản hoá nhằm xoá bỏ mầm mống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng Nềnhành chính cần tạo lập các cơ sở pháp lý để bảo đảm công khai, minh bạchthông tin cho xã hội; lắng nghe, tiếp thu ý kiến và sẵn sàng tiếp nhận sự kiểmtra, giám sát và phê bình của nhân dân Các cơ quan phải chủ động xây dựngnhững kênh phù hợp cho mọi tầng lớp nhân dân tiếp cận và phản hồi thông tin
về hoạt động quản lý của mình nhằm phát huy vai trò phản biện chính sáchcủa xã hội và nâng cao trách nhiệm giải trình của bộ máy hành chính Tăngcường các hình thức dân chủ trực tiếp; qua đó, động viên được nhân dân thamgia sâu rộng, thực chất hơn vào các hoạt động chính trị - xã hội
Nền hành chính thực hiện quản lý Nhà nước thông qua việc tác độngbằng tổ chức, quyền lực để điều hành các quan hệ xã hội Yêu cầu đặt ra ởđây là, nền hành chính phải có cơ cấu tổ chức hợp lý và cơ chế vận hành phùhợp để hoạt động có hiệu quả, hiệu lực, tổ chức gắn liền với đổi mới phươngthức quản lý, lề lối làm việc là một trọng tâm CCHC Cần tiếp tục phân địnhhợp lý, rành mạch thẩm quyền, trách nhiệm giữa các ngành, các cấp, các cơquan, đơn vị và cá nhân để tạo cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực; đồngthời, bao quát hết nhiệm vụ, đảm bảo thực thi có chất lượng các công việc nhànước ngày càng đa dạng, phức tạp Trong đó, xác định hợp lý chức năng,nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, đơn vị từ Trung ương đến địaphương, định rõ trách nhiệm, quyền hạn từng vị trí, chức danh công tác sẽ gópphần đảm bảo trật tự pháp luật hành chính Yêu cầu của CCHC bao gồm mộtloạt các nhóm giải pháp, cần được thực hiện đồng bộ:
Thứ nhất, phân định chức năng công quyền với quản lý sự nghiệp, cung
ứng dịch vụ công, với quản trị sản xuất - kinh doanh, trong đó có nội dungquản trị tập đoàn kinh tế Tách chức năng quản lý vĩ mô với các hoạt động
Trang 32chuyên môn, tác nghiệp, theo hướng tăng cường năng lực định hướng, hoạchđịnh thể chế, chính sách của Chính phủ, các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh.
Thứ hai, xây dựng cơ cấu công chức theo yêu cầu công tác của từng cơ
quan, theo chiến lược phát triển và nhiệm vụ ưu tiên của tổ chức trong từnggiai đoạn; trong đó, mô tả rõ yêu cầu, tiêu chuẩn đối với từng chức danh vàcác mối quan hệ phối hợp dọc, ngang giữa các vị trí công tác Bộ máy hànhchính do đó được tổ chức tinh gọn, sát thực tế, rõ thẩm quyền và trách nhiệm
Thứ ba, hoàn thiện chế độ Thủ trưởng, đề cao vai trò người đứng đầu
các cấp trong hệ thống hành pháp Tăng cường thẩm quyền và xác định tráchnhiệm cá nhân người đứng đầu Chính phủ, người “tổng tư lệnh” một ngànhhay một lĩnh vực trong phạm vi cả nước, hay người Thủ trưởng trong từng cơquan, đơn vị để phát huy tính quyết đoán, sáng tạo, dám làm, dám chịu tráchnhiệm trong nền hành chính
Thứ tư, đẩy mạnh phân cấp trung ương, địa phương và xã hội hoá cung
ứng dịch vụ công để nền hành chính gần dân hơn
Thứ năm, tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các
văn bản đã ban hành và sử dụng các chế tài pháp luật để xử lý vi phạm nhằmchấn chỉnh trật tự, kỷ cương hành chính
Thứ sáu, đi đôi với việc xây dựng một chiến lược bao gồm các giải
pháp tổng thể phát triển nguồn nhân lực hành chính công trong thời kỳ mới,chúng ta cần khẩn trương cải cách chế độ, chính sách cán bộ, khuyến khíchcông chức có năng lực tâm huyết làm việc trong nền hành chính
Thứ bảy, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin và các quy trình quản
lý chất lượng tiên tiến vào quá trình hiện đại hoá công sở theo tiêu chuẩn ViệtNam (ISO 9001-2000), đổi mới tổ chức lao động nhằm nâng cao hiệu quả làmviệc của cán bộ, công chức
Trong quá trình CCHC, phải kết hợp nhuần nhuyễn nguyên tắc xâydựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp phù hợp với từng nhóm cán bộ, công
Trang 33chức; áp dụng hệ thống đánh giá công tác một cách khách quan, khoa học, sátthực; chấn chỉnh việc chấp hành pháp luật, kỷ luật ở mọi cấp, mọi ngành; tạo
cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật trong các cơ quan và trongnhân dân; trừng trị nghiêm theo pháp luật những hành vi vi phạm pháp luậtcủa cán bộ, công chức ở bất kỳ cương vị nào Thực tế đang đòi hỏi phải nângcao ý thức đạo đức, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức; tăng cườnggiáo dục pháp luật cho công dân, tạo lòng tin và nếp sống làm việc theo phápluật của CBCC cũng như của các tầng lớp nhân dân; phát huy vai trò của các
cơ quan truyền thông, báo chí để không chỉ là phương tiện phổ biến thông tinmột cách chính xác, kịp thời mà phải trở thành công cụ hữu hiệu để phân tích,
dự báo, phản biện chính sách cho xã hội và là diễn đàn để nhân dân trao đổi,bày tỏ ý kiến tham gia quản lý Nhà nước, “cán bộ phải thực hành chữ liêmtrước, để làm kiểu mẫu cho dân”, tạo niềm tin và hình ảnh tốt đẹp về cơ quancông vụ
Vì vậy, CCHC thời gian tới cần tập trung tăng cường năng lực cán bộ,công chức đáp ứng yêu cầu thực tế công tác; thiết lập mối quan hệ phối hợpchặt chẽ giữa các cơ sở nghiên cứu, giáo dục, đào tạo hành chính với các cơquan quản lý, sử dụng cán bộ; nâng cao đạo đức công chức gắn với đẩy mạnhgiáo dục công dân, bồi dưỡng ý thức làm chủ của người dân; mở rộng cáchoạt động hợp tác công, tư; huy động mọi nguồn lực tham gia hoàn thiện nềnhành chính dân chủ, pháp quyền, đáp ứng có hiệu quả các nhu cầu của nhândân Dự thảo Chương trình Tổng thể CCHC Nhà nước giai đoạn 2011-2020
đề ra 10 mục tiêu cụ thể với các mốc thực hiện đến năm 2015, 2017 và 2020.Trong đó, có mục tiêu đến năm 2015, phấn đấu mỗi năm giảm trung bình10% chi phí mà người dân và doanh nghiệp phải bỏ ra khi giải quyết các thủtục hành chính với cơ quan hành chính; giảm 1/3 thời gian giải quyết côngviệc của người dân tại cơ quan hành chính Nhà nước Sự hài lòng của ngườidân với dịch vụ công ở lĩnh vực y tế, giáo dục đạt 85% Cơ cấu tổ chức Chính
Trang 34phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ đến năm 2020 giảm từ 30 đầu mối như hiện
nay xuống dưới 15 đầu mối
1.2.3 Nội dung của cải cách hành chính Nhà nước
Kể từ ngày 01/01/2007 Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chứcthương mại thế giới (WTO) Việc tiếp tục hoàn thiện thể chế của nền kinh tếthị trường định hướng XHCN, sẽ là cơ sở cho việc xây dựng đồng bộ nềnhành chính mới của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân,
vì dân, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, phấn đấu tới năm 2020 Việt Nam trở thành một nước công nghiệpphát triển theo hướng hiện đại Để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ to lớntrong thời kỳ cho tới năm 2020, việc tiếp tục CCHC được Đảng và Nhà nướccoi là nhiệm vụ chính trị quan trọng Dự thảo báo cáo tổng kết thực hiệnChương trình Tổng thể CCHC Nhà nước giai đoạn 2001-2010, cho thấy sau
10 năm triển khai thực hiện CCHC, trên hầu hết các lĩnh vực đều đã được ràsoát, sửa đổi, ban hành mới theo hướng đơn giản hóa, thuận tiện cho ngườidân, bước đầu tạo được niềm tin cho người dân Dự thảo báo cáo của Bộ Nội
vụ cũng thẳng thắn nhìn nhận, đó là dù đã được cải cách từ nhiều năm naynhưng nhìn chung CCHC ở nhiều bộ phận vẫn phức tạp, phiền hà cho ngườidân Vẫn còn tồn tại xu hướng cơ quan hành chính giành thuận lợi về chomình, đẩy khó khăn về cho người dân, vẫn còn rườm rà, chồng chéo, hợppháp nhưng không hợp lý, chưa phù hợp với thực tế, quy định Từ những kếtquả và tồn tại trên, Bộ Nội vụ đã đưa mục tiêu phương hướng, nhiệm vụCCHC Nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, củ thể:
Nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn này là, xác định rành mạch chứcnăng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan hành chính từChính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tới Uỷ bannhân dân các cấp Thực hiện xong về cơ bản việc phân cấp chức năng và thẩmquyền về quản lý Nhà nước giữa trung ương và địa phương; giữa các cấp
Trang 35chính quyền địa phương Đổi mới cơ chế hoạt động và quản lý tài chính côngđối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp Thực hiện xong về cơ bảnviệc cải cách chế độ tiền lương cán bộ, công chức theo tinh thần Nghị quyếtĐại hội XI của Đảng Để thực hiện có hiệu quả Chương trình cải cách hànhchính Nhà nước, Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ đãnhấn mạnh khâu quan trọng là “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức Đến năm 2020, đội ngũ CBCC, viên chức có sốlượng cơ cấu hợp lý, đủ trình độ năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân
và phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước” [3; 4] Đến năm 2020 về cơ bảnCCHC tạo động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, hoàn thiện từng bước cácmục tiêu mà Đại hội Đảng XI đề ra, tạo nền tảng để thực hiện các mục tiêuđưa CCHC làm điều kiện tiền đề cùng với phát triển kinh tế - xã hội để đếnnăm 2020 Việt Nam về cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển theohướng hiện đại
1.3 Vai trò và sự cần thiết nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước
1.3.1 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong cải cách hành chính Nhà nước
Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng.V.I.Lênin chỉ rõ: “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành đượcquyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mìnhnhững lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức vàlãnh đạo phong trào” [21; 473]
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi côngviệc” [32; 269] Cán bộ tốt, đủ sức gánh vác nhiệm vụ được giao là điều kiệntiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi Về vấn đề cán bộNgười dạy cán bộ và dùng cán bộ, Người nói “Công việc thành công hoặcthất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [28; 313]
Trang 36Có thể khẳng định rằng đội ngũ CBCC đóng một vai trò quyết định đếnhiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý Nhà nước; hoạt động quản lý hànhchính là hoạt động chấp hành và điều hành tác động sâu rộng đến mọi lĩnhvực, mọi quan hệ xã hội Hoạt động này là biện pháp chủ yếu, quan trọng nhất
để thực thi pháp luật, đảm bảo cho pháp luật Nhà nước được thực thi có hiệulực Chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước được thực hiện thông qua thựcthi công vụ theo chức trách của mỗi cá nhân của CBCC trong hệ thống quản
lý hành chính Do vậy, mỗi CBCC là một tế bào cấu tạo nên cơ quan quản lýhành chính, tạo nên cả “cơ thể sống” bộ máy quản lý hành chính Sự tồn tại vàhoạt động của CBCC, cũng như cả đội ngũ CBCC liên quan trực tiếp đến chấtlượng, hiệu quả hoạt động của mỗi cơ quan quản lý hành chính, ảnh hưởngđến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý hành chính Nhà nước
Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý hành chínhNhà nước được thể hiện một cách khá rõ như sau:
Một là, đội ngũ cán bộ, công chức là lực lượng hoạch định, xây dựng
các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành có hiệu quả của Nhànước đội ngũ CBCC đầu ngành là lực lượng trực tiếp tham mưu và hoạchđịnh chiến lược, xây dựng kế hoạch của công tác quản lý hành chính, hoạchđịnh chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính cácchiến lược, kế hoạch này sẽ quyết định chặng đường phát triển trước mắtcũng như lâu dài của quốc gia
Hai là, đội ngũ CBCC chính là lực lượng trực tiếp triển khai thực hiện
pháp luật, trực tiếp tác nghiệp quản lý hành chính, thực hiện các kế hoạch,chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của đất nước
Với chức năng quản lý toàn diện, mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội đấtnước, bộ máy quản lý hành chính là công cụ chính để Đảng, Nhà nước vànhân dân ta quản lý xã hội và tổ chức xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
Trang 37XHCN Đa số các chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc đồ sộ đặt ratrước bộ máy quản lý hành chính đều do đội ngũ CBCC tổ chức thực hiện.
Ba là, đội ngũ CBCC là lực lượng lao động xã hội có chất lượng cao,
góp phần rất quan trọng vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đội ngũ cán bộ, công chức cùng với các lực lượng lao động trực tiếptạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân và xây dựng đấtnước, đội ngũ CBCC thông qua tác nghiệp quản lý hành chính là lực lượngquan trọng đảm bảo môi trường, điều kiện ổn định, thuận lợi cho công cuộcthực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cho sự nghiệp xây dựngphát triển toàn diện đất nước
Quan điểm của Đảng ta về vị trí, vai trò cán bộ được xác định trongnhiều Nghị quyết, trong đó có Nghị quyết Hội Nghị lần thứ 3 Ban Chấp hànhtrung ương Đảng khoá VIII khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sựthành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước vàchế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [6; 66] Vai trò củacán bộ, công chức cơ sở Trước hết, là vai trò của cán bộ chủ chốt Trên tinhthần Nghị quyết trung ương 3 (khoá VIII), đó là những cán bộ lãnh đạo theonghĩa rộng với các đặc trưng: “Giữ chức vụ và có trách nhiệm cao trong một
tổ chức, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, của bộ máy, có vai tròtham gia định hướng, điều khiển hoạt động của cả bộ máy” [7; 35]
Hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý được gắn liền, đan xen vớinhau Cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện chức năng quản lý, cán bộ quản lýcũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo nên khó có thể phân biệt rạch ròi đâu
là người lãnh đạo, đâu là người quản lý
Tuy vậy, cần phải phân biệt: hoạt động lãnh đạo mang tính định hướng,hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận hành Hoạt động quản lý là sựtiếp nối của hoạt động lãnh đạo Phân biệt như vậy là cơ sở cần thiết cho việcxây dựng tiêu chuẩn từng loại cán bộ, xác định chức năng, nhiệm vụ, xây
Trang 38dựng quy chế hoạt động tránh sự chồng chéo, trùng lặp giữa cơ quan lãnh đạo
và quản lý
- Vai trò cán bộ, công chức nói chung; cán bộ, công chức cấp huyện nóiriêng giữ vị trí trung tâm định hướng trong lãnh đạo, quản lý, điều khiển hoạtđộng của Đảng bộ, chính quyền huyện, tác động trực tiếp và quyết định đến
sự phát triển trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng; Chủ trìtoàn bộ các công việc của cấp uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, cácđoàn thể chính trị - xã hội; Trực tiếp nắm các khâu trọng yếu, trọng tâm,những vấn đề mới nảy sinh; Có vai trò trung tâm đoàn kết trong Đảng bộhuyện và cơ sở, mà trực tiếp là Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhândân huyện; là nguồn bổ sung cán bộ cho cấp trên
Cán bộ cấp huyện trên cơ sở những quan điểm, đường lối, chủ trươngchung của Đảng và Nhà nước, đồng thời xuất phát từ tri thức của mình, từ sự
am hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện, của xã, thị trấn, họ lànhững người đầu tiên nêu ra phương hướng nhiệm vụ để tập thể có thẩmquyền ở địa phương quyết định và họ là những người chủ trì tổ chức thực hiệnphương hướng, nhiệm vụ đó theo chức trách
Bí thư, Phó Bí thư, Uỷ viên Thường vụ Huyện uỷ, Đảng uỷ, Chủ tịch,Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện, HĐND xã; Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷban nhân dân huyện, UBND xã có trình độ, năng lực tốt, đồng đều thì BanChấp hành Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện sẽ mạnh.Nhưng nếu trình độ, năng lực không tương ứng với yêu cầu nhiệm vụ thì cácquyết định dù mang tính chất cá nhân hay thay mặt tập thể cũng sẽ rơi vàoduy ý chí, thiếu cơ sở khoa học, thậm chí áp đặt ý kiến không đúng, sẽ dẫnđến làm suy yếu sức mạnh của tổ chức
Mặt khác, tập thể cấp uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đủmạnh thì cũng có tác dụng nhất định đối với từng cán bộ chủ chốt, đó là điềukiện để họ có thêm sức mạnh của mình trong tổ chức
Trang 39Cán bộ là người tuyên truyền, tổ chức, hướng dẫn, duy trì các hoạtđộng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện Chính các phong tràohoạt động thực tiễn ấy lại là môi trường rèn luyện, thử thách, phát triển vàsàng lọc cán bộ.
- Đối với đội ngũ CBCC nói chung, trong mối quan hệ đối với Đảng,Nhà nước và nhân dân phải: Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợiích quốc gia Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽvới nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; chấp hànhnghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật củaNhà nước Trong thi hành công vụ phải: Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu tráchnhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Có ý thức tổchức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức,đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luậttrong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật Nhà nước; chủ động và phốihợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức,đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước đượcgiao; chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định
đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết
định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải cóvăn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm vềhậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người raquyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vềquyết định của mình; Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
1.3.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước
Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang chuyển chức năng,nhiệm vụ cai trị và trấn áp của bộ máy Nhà nước sang thực hiện những chức
Trang 40năng, nhiệm vụ tổ chức xây dựng cung cấp dịch vụ công Trước những thayđổi mang tính chất thời đại đó, công tác quản lý Nhà nước và quản lý hànhchính Nhà nước, tổ chức và hoạt động nền công vụ nước ta cũng không nằmngoài yêu cầu khách quan cần được đổi mới, cải tiến Công tác quản lý hànhchính ngày nay đòi hỏi trong tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý hànhchính, của nền công vụ phải hướng tới xây dựng một bộ máy Nhà nước, nềncông vụ khoa học, hiện đại, trong đó các chủ thể quản lý hành chính phảiđược tổ chức, sắp xếp lại và vận hành thật khoa học, hợp lý, việc thực thicông vụ của mỗi cán bộ, công chức hành chính phải được thực hiện ở trình độcao để có thể hoàn thành những chức năng, nhiệm vụ mới ngày càng nặng nềtrước nhân dân và Nhà nước Xuất phát từ yêu cầu trên trong thời gian tớiphải đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có nănglực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII của Đảng đã xác định “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo,điều hành, quản lý Nhà nước” [5; 252] Vì vậy, Nhà nước ta phải xây dựng,đổi mới tổ chức và hoạt động nền công vụ trong đó nội dung trọng tâm là đổimới, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC hành chính Nhà nước; lực lượngnày là người trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý hành chính Nhànước Hơn nữa, trước thực trạng hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước nóichung, hiệu lực hiệu quả quản lý hành chính, tổ chức và nền công vụ nước tacòn nhiều hạn chế, bất cập, yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bô, công chức hành chính Nhà nước lại càng đặt ra cấp bách
Để đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính thì nhất thiết chúng ta phải đổimới, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốclần thứ VIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Mọi cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộlãnh đạo chủ chốt phải có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ
lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn” [5; 140]