1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nam đàn trong cách mạng tháng tám (1939 1945)

75 506 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nam Đàn Trong Cách Mạng Tháng Tám (1939 - 1945)
Tác giả Nguyễn Thị Phơng Thảo
Người hướng dẫn PGS – TS Nguyễn Trọng Văn
Trường học Trường Đại Học Nghệ An
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 175 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó cũng là một biến cố lịch sử vĩ đại nhất của nớc ta từ khi Quang Trung đánh đuổi xâm lợc Mãn Thanh kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do gắn liền với chủ nghĩ

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khóa luận này, chúng tôi đã nhận đợc sự quan tâm giúp đỡ của Ban tuyên giáo huyện ủy Nam Đàn, Th viện huyện Nam Đàn, ủy ban nhân dân các xã đã giúp đỡ chúng tôi về mặt t liệu Xin chân thành cảm ơn tất cả

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa và các bạn sinh viên đã động viên, góp ý và tận tình giúp đỡ Và đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ngời đã tận tình giúp đỡ, hớng dẫn cho tôi hoàn thành

khóa luận này là thầy giáo, PGS – TS Nguyễn Trọng Văn.

Tuy đã có nhiều cố gắng nhng luận văn này vẫn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của mọi ngời quan tâm

Sinh viên:

Nguyễn Thị Phơng Thảo

Trang 2

Mục lục

A Mở đầu……… 3

1. Lý do chọn đề tài……… 3

2 Lịch sử đề tài……… 4

3 Đối tợng, nhiệm vụ nghiên cứu……… 6

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu………6

5 Bố cục của đề tài……… 7

B Phần nội dung……… 8

Chơng 1 Khái quát mảnh đất con ngời Nam Đàn và phong trào cách mạng trong những năm 1930 1939– ……… 8

1.1 Đặc điểm tự nhiên……… 8

1.2 Đặc điểm lịch sử – xã hội……… 11

1.3 Khái quát phong trào cách mạng trong những năm 1930 - 1939 17 Chơng 2 Quá trình vận động chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền (1939 1945)– ……… 22

2.1 Bối cảnh lịch sử huyện Nam Đàn sau khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ (từ tháng 9/1939 – 3/1945)……… 22

2.2 Quá trình vận động cách mạng - chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền (3/1945 – 8/1945)……… 28

Chơng 3: Khởi nghĩa giành chính quyền ở Nam Đàn (16/8 23/8/ 1945)– ……… 42

3.1 Chủ trơng giành chính quyền của Việt Minh Nghệ Tĩnh……… 42

3.2 Diễn biến cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Nam Đàn (16/8 – 23/8/1945)……… 46

C Kết luận……… 69

Tài liệu tham khảo……… 74

Trang 3

A Mở đầu

1.Lý do chọn đề tài

Bàn về thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám, Trờng Chinh đã nhấn mạnh: “Cách mạng tháng Tám là kết quả của 80 năm đấu tranh không ngừng của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp Nó cũng là một biến cố lịch sử vĩ

đại nhất của nớc ta từ khi Quang Trung đánh đuổi xâm lợc Mãn Thanh

kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội đem lại: “Một cuộc đổi đời ch a từng có đối với mỗi ngời Việt Nam ” [26, 241]

Đánh giá về thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã nhận xét:

mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức các nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng

Dới sự lãnh đạo của Việt Minh liên tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nhân dân hai tỉnh trên đã nỗi dậy đấu tranh giành chính quyền Mặc dù Nghệ An giành chính quyền sau Hà Tĩnh nhng tổng khởi nghĩa ở Nghệ An đã đợc tiến hành một cách nhanh chóng và ít đổ máu

Nam Đàn – Mảnh đất giàu truyền thống của tỉnh Nghệ An, nơi đây đợc xem là “địa linh nhân kiệt

Nơi đây đã từng nổ ra phong trào chống Pháp yêu nớc của Trần Tấn và

Đặng Nh Mai, đây còn là quê hơng của chí sĩ yêu nớc Phan Bội Châu, Nguyễn

ái Quốc

Trang 4

Nam Đàn cùng cả nớc tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại Nhân dân Nam Đàn hào hứng đoàn kết một lòng, phát huy cao độ truyền thống kiên cờng bất khuất dũng cảm trong chiến đấu và cần cù sáng tạo trong lao động, tạo nên những thắng lợi to lớn trong cuộc Tổng khởi nghĩa Những thắng lợi của quân dân Nam Đàn trong tổng khởi nghĩa mùa thu tháng 8/1945 trên quê hơng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có ý nghĩa hết sức to lớn mãi mãi đợc lịch sử khắc ghi và nhân dân Nam Đàn rất tự hào Do đó việc nghiên cứu lịch sử huyện Nam

là một vấn đề rất quan trọng Qua đó giáo dục truyền thống cách mạng cho thế

hệ trẻ, nhất là thế hệ trẻ trên quê hơng Bác Hồ kính yêu

Là sinh viên chuyên ngành lịch sử Việt Nam, sinh ra và lớn lên trên mảnh

đất Nam Đàn Tôi mạnh dạn chọn đề tài: Nam Đàn trong Cách mạng tháng

Tám (1939 1945)– ” làm khoá luận tốt nghiệp Đại học với mong muốn và hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu vấn đề lớn lao trên

Trang 5

2.1 Luận án tiến sĩ: Quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở

cách hoàn chỉnh và hệ thống cuộc cách mạng tháng Tám ở Nghệ An

2.2 Sơ thảo lịch sử Đảng bộ huyện Nam Đàn tập 1 (1930 – 1945) do Ban

tuyên giáo huyện Nam Đàn biên soạn có viết về Tổng khởi nghĩa tháng Tám ở Nam Đàn, nhng còn hết sức sơ lợc

2.3 Lịch sử huyện Nam Đàn, xuất bản 1991 của tác giả Quang Đạm, có đề cập

đến vấn đề này nhng không đáng kể

2.4 Cách mạng tháng Tám (1939 1945)– của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh uỷ Nghệ An Đề cập đến quá trình tổng khởi nghĩa ở Nghệ An Về Tổng khởi nghĩa ở Nam Đàn đang còn ít t liệu song đây là một cuốn sách hay xem

nh phần lý luận chung trong việc nghiên cứu đề tài này

2.5 Lịch sử Đảng bộ các xã trên địa bàn huyện.

- Lịch sử Đảng bộ xã Nam Thanh.(1998)

- Lịch sử Đảng bộ xã Vân Diên.(2001)

- Lịch sử Đảng bộ xã Nam Trung (Sơ thảo).(2003)

- Lịch sử Đảng bộ xã Nam Kim (Sơ thảo).(2003)

- Lịch sử Đảng bộ xã Kim Liên (Sơ thảo).(2003)

2.6 Lịch sử Đảng bộ Nghệ An của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ

Trang 6

về lịch sử của Nam Đàn trong giai đoạn sôi sục cách mạng và rất oanh liệt hào hùng này.

Trong khoá luận tốt nghiệp Đại học của mình tôi cố gắng hệ thống hoá những t liệu thu thập có liên quan để tiện theo dõi nghiên cứu nhằm góp phần tái hiện lại một cách toàn diện hình ảnh về cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại của nhân dân Nam Đàn Những đóng góp của nhân dân Nam Đàn vào lịch sử dân tộc Đồng thời qua đó rút ra đợc một số đặc điểm riêng so với một số địa phơng khác trong tỉnh làm nỗi bật đợc đặc điểm tổng khởi nghĩa tháng Tám ở Nam Đàn Nó khác gì so với một số huyện trong tỉnh

Để qua đó biết đợc hoà theo dòng chảy của Cách mạng tháng Tám vĩ đại của Nghệ An và cả nớc thì nhân dân Nam Đàn khởi nghĩa giành chính quyền có gì độc đáo hơn riêng bịêt hơn

3 Đối tợng, nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài: Nam Đàn trong Cách mạng tháng Tám (1939 1945)“ – ” nhằm

nghiên cứu một giai đoạn lịch sử hào hùng của Nam Đàn giai đoạn 1939 –

1945, đặc biệt là Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám – 1945, để thấy đợc những đóng góp của nhân dân Nam Đàn trong cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc, luận văn tập trung làm rõ:

* Thứ nhất: Khái quát đặc điểm tự nhiên xã hội của huyện Nam Đàn và

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

Với đề tài: Nam Đàn trong cách mạng tháng Tám 1939 1945– ”, tôi

chủ yếu khai thác các nguồn tài liệu sau đây:

Trang 7

- ở các xã: Lịch sử Đảng bộ của những xã tiêu biểu.

- ở huyện: Lịch sử Đảng bộ huyện, lịch sử huyện Nam Đàn, Nam Đàn xa

và nay, Nam Đàn quê hơng Chủ tịch Hồ Chí Minh và rất nhiều t liệu ở Th viện huyện…

- ở tỉnh: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An, Nghệ Tĩnh hôm qua và hôm nay các t… liệu ở th viện tỉnh Nghệ An

Ngoài ra còn tìm hiểu lịch sử một số địa phơng trong tỉnh: Lịch sử huyện Hng Nguyên, lịch sử Thanh Chơng và Luận án tiến sĩ của thầy Trần Văn Thức:

Quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Nghệ An thời kỳ 1939

-“

1945”

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, phơng pháp của tôi là:

- Đọc, đối chiếu hệ thống các t liệu có liên quan đến đề tài ở các Th viện huyện, Th viện tỉnh và các tài liệu ở ủy ban nhân dân các xã tiêu biểu trên địa bàn huyện

- Điền dã lịch sử

- Sử dụng phơng pháp luận sử học Mácxit – T tởng Hồ Chí Minh

- Sử dụng các phơng pháp nghiên cứu liên ngành: nh đối chiếu, so sánh, phân tích, thống kê

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phần nội dung khóa luận đợc chúng tôi đợc trình bày trong 3 chơng:

Chơng 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội của huyện Nam Đàn và

phong trào cách mạng trong những năm 1930 - 1939

Chơng 2: Quá trình vận động chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền của

Đảng bộ và nhân dân Nam Đàn (“từ tháng 9/1939 tháng 3/1945– ”).

Chơng 3: Khởi nghĩa giành chính quyền ở Nam Đàn (tháng 3/1945 –

8/1945)

Trang 8

lý từ 18047’ vĩ bắc, 105024’ đến 105037’ kinh độ đông Cách thành phố Vinh 21km về phía Đông.

Thời Hùng Vơng, nơi đây là trung tâm của bộ Việt thờng nớc Văn Lang -

Âu Lạc Dới thời cai trị của quân xâm lợc nhà Đờng (Trung Quốc) Vùng Nhạn Tháp (nay là xã Hồng Long – huyện Nam Đàn) là trụ sở Hoan Châu, thuộc An Nam đô hộ phủ của chúng

Đến thế kỷ XV, thời vua Lê Thánh Tông vùng Thịnh Lạc (nay là xã Hùng Tiến) là trụ sở phủ Anh Đô của Thừa Tuyên Nghệ An – huyện Nam Đờng là một trong hai huyện của phủ Anh Đô nằm ở tả ngạn sông Lam, có địa giới từ Rạng (giáp Đô Lơng) đến xã Tràng Cát (giáp Hng Nguyên)

Đến thời Nguyễn lúc đầu vẫn giữ nguyên tổ chức hành chính nh vậy, đến

1822 đổi phủ Anh Đô thành phủ Anh Sơn, phủ lỵ đặt tại làng Hà Nam (Vân Diên ngày nay) Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) cắt 4 tổng của Nam Đờng và một số tổng của huyện Thanh Chơng lập thành huyện Dơng Sơn (2) Do phủ Anh Sơn kiểm lý Huyện Dơng Sơn là đất của Anh Sơn và Đô Lơng hiện tại Năm 1886 vì tránh gọi tên huý của vua Đồng Khánh là Nguyễn Phúc Đờng, huyện Nam Đờng đợc đổi tên là huyện Nam Đàn

Trang 9

Năm 1911, thời vua Duy Tân, địa giới của 2 huyện Nam Đàn và Thanh Chơng đợc sắp xếp lại Tổng Nam Hoa (sau đổi là Nam Kim) của huyện Thanh Chơng ở hữu ngạn sông Lam về huyện Nam Đàn Hai tổng Đại Đồng và Xuân Lâm của huyện Nam Đàn ở tả ngạn sông Lam sát nhập vào huyện Thanh Ch-

ơng Huyện Nam Đàn lúc này có 4 tổng: Hai tổng ở tả ngạn là Xuân Liễu và Lâm Thịnh, hai tổng ở Hữu Ngạn là Xuân Khoa và Nam Kim

Cho đến trớc 1945 Nam Đàn có 4 tổng và 83 xã, thôn Sau Cách mạng tháng Tám bỏ cấp tổng Năm 1948 Nam Đàn chia thành 10 xã lớn, năm 1954 có

33 xã và một thị trấn Năm 1968 sắp lại là 23 xã và một trấn nh ngày nay

ở tỉnh Nghệ An hai dãy núi lớn có tiếng Đại Huệ và Thiên Nhẫn nằm trên

đất Nam Đàn Dãy Đại Huệ chạy dọc địa giới phía Bắc từ Đông sang Tây Dãy Thiên Nhẫn chạy dọc địa giới phía Tây từ bắc đến nam, các dãy núi Đụn, núi Thung, Ngũ Liên Châu nằm sát đầu phía Tây Bắc cùng với hàng trăm con…núi xếp trùng điệp dới chân Đại Huệ và Thiên Nhẫn nh những đàn voi, ngựa ruỗi rong quanh bức tờng thành che chắn, bảo vệ cho vùng đất thân yêu của Tổ quốc Ngoài các dãy núi trên đây, huyện Nam Đàn có hàng chục hòn núi nhỏ nằm rải rác xen lẫn với ruộng đồng, làng mạc và lấn ra cả hai bên bờ sông Lam Dới chân núi đồi là hàng trăm bàu, đầm, ba ha trở lên Lớn nhất là bàu Nón rộng tới hàng trăm ha nằm trên địa phận 5 xã Nam Anh, Nam Xuân, Xuân Hoà, Vân Diên, Nam Thanh

Sông Lam là con sông lớn nhất của tỉnh, bắt nguồn từ nớc Lào chảy qua các huyện phía Tây đến cuối huyện Thanh Chơng nhận thêm nớc nhánh sông Rào Gang từ phía Tây Bắc ra lách vào hai mõm núi Đụn và Thiên Nhẫn, từ đó

mở rộng dòng theo hớng Tây Đông uốn lợn quanh co trên 16km ở phía Nam huyện Nam Đàn rồi đổ xuống hạ lu Ngoài sông Lam từ 1936 trở đi huyện Nam

Đàn có thêm con sông đào dẫn nớc sông Lam từ Bara thị trấn Sa Nam lên phía Bắc và Đông Bắc huyện, thông sang huyện Hng Nguyên về cầu Cửa Tiền thành phố Vinh

Trang 10

Sông Lam và đờng tỉnh lộ 49 Vinh - Đô Lơng là hai tuyến giao thông thuỷ

bộ huyết mạch của huyện Nam Đàn Hai tuyến giao thông này đã tạo điều kiện cho Nam Đàn mở rộng việc giao lu các huyện trong tỉnh, cả với thành phố Vinh, cảng Bến Thuỷ và nớc Lào anh em Sông, núi đã điểm tô cho cảnh quan Nam Đàn thêm hùng vĩ:

Song sông núi cũng tạo ra ở Nam Đàn một địa hình hết sức phức tạp và đa dạng

Nam Đàn là một huyện tơng đối nhỏ hẹp so với các huyện trong tỉnh, diện tích tự nhiên của Nam Đàn là 29 688ha trong đó 14 234ha đất nông nghiệp 8 395ha đất lâm nghiệp, còn lại là sông bàu đồi núi ao hồ, địa hình ở đây rất đa dạng vừa đồng bằng vừa bán sơn địa Đất chủ yếu là đất pheralytich và pheriminh chiếm 37.9% Đất thờng xuyên bị úng chiếm 8,3% diện tích do vậy

có ảnh hởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và các công tác khác Khoáng sản thì

có mỏ Mangan ở núi Thiên Nhẫn, mỏ Coóc xít ở núi Đại Huệ, mỏ đá ong ở hầu khắp chân đồi núi, cát, sỏi làm vật liệu xây dựng rất phong phú Đất sét làm gạch ngói có ở nhiều nơi

Thời tiết và khí hậu Nam Đàn khá khắc nghiệt, chịu ảnh hởng tác động lớn của khí hậu gió mùa Nằm trong vùng tiểu khí hậu Hàng năm có mùa khô hanh, mùa nắng và mùa ma Mùa hanh khô từ tháng 1 đến tháng 3 có gió mùa

Đông Bắc ẩm ớt, mùa nắng từ tháng 4 đến tháng 8, có gió Tây Nam quần quật suốt ngày đêm, nóng bức có lúc lên tới 390c Mùa ma từ tháng 9 đến tháng 12

và lợng ma năm cao nhất là 2.228 mm, thấp nhất là 1.402 mm, trung bình là 14,28 mm, bão lụt thờng xuyên xảy ra vào tháng 9 tháng 10 dơng lịch Mỗi khi

có lũ, nớc sông và nớc trong ruộng đồng đều dâng nhanh, rất chậm, gây úng lan rộng kéo dài và gây lũ lụt trên diện tích rộng, có lúc kéo dài trong một thời gian Hoàn cảnh thiên nhiên đó đã hun đúc truyền thống của con ngời thuộc vùng xứ Nghệ cam chịu gian khổ, dám đơng đầu với thiên nhiên

Trang 11

Huyện Nam Đàn bị phân chia bởi con sông Lam chạy qua huyện có chiều dài 16 km phân chia địa giới huyện làm hai: bên kia sông là 9 xã (nay là 5 xã) còn gọi là vùng 9 nam, còn bên này sông là các xã còn lại và thị trấn Nam Đàn Sông Lam đã cung cấp nớc tới cho nông nghiệp và sinh hoạt, cung cấp thực phẩm cho dân c vùng ven bờ Ngoài sông Lam, từ 1936 Nam Đàn còn có thêm con sông đào dẫn nớc từ Bara Nam Đàn đến phía Bắc và Đông Bắc của huyện thông sang huyện Hng Nguyên Ngoài ra còn có nhiều con sông nhỏ do sức dân

đào ra để phục vụ cho công tác sản xuất nông nghiệp

Sông Lam và tỉnh lộ 49 là 2 tuyến giao thông thuỷ bộ quan trọng của huyện Nam Đàn Nối Nam Đàn – Vinh – Thanh Chơng Tuyến đờng sắt Bắc – Nam qua Nam Đàn dài trên 8km Nam Đàn có tuyến đê 42 dài hàng chục

km nối liền Sa Nam với huyện Hng Nguyên tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giao thông vận tải Đờng quốc lộ 15A đi qua trên địa phận Nam Đàn dài hơn 30km và quốc lộ 30 từ Đô Lơng qua Truông Bồn xuôi Nam Đàn Đây chính là mạch máu giao thông vô cùng quan trọng của cả nớc trong lĩnh vực vận tải quốc phòng Ngoài ra Nam Đàn còn có hệ thống đờng giao thông liên huyện, liên xã, liên thôn đợc xây dựng và ngày càng đợc củng cố, tạo nên mạng lới giao thông vận tải thông suốt trong toàn huyện

1.2 Đặc điểm lịch sử xã hội

Do điều kiện tự nhiên tác động và chi phối đã tạo cho ruộng đất canh tác ở Nam Đàn mỗi vùng một khác, nhng nhìn chung c dân Nam Đàn chủ yếu là trồng lúa, dựa vào di tích mà ngành khảo cổ học đã khai quật, thu lợm ở núi Trăn (Nam Xuân), núi Đai (Vân Diên) đã cho thấy văn minh lúa nớc ở vùng quê Nam Đàn đã phát triển khá sớm Từ buổi đầu dựng nớc c dân trên lãnh thổ này

đã chung lng đấu cật, khai phá đất hoang, mở mang diện tích canh tác, từng bớc xây dựng nên những cánh đồng thuần thục và những làng xã đông đúc

Bên cạnh trồng lúa là chủ yếu, c dân ở đây đã sớm mở mang các loại cây trồng khác nh: ngô, khoai, sắn, đỗ, vừng, mía, lạc Ngoài ra dân c… ven các dãy núi lớn còn làm vờn trên núi, khai thác lâm thổ sản…

Trang 12

Nam Đàn là một vùng quê có nhiều nghề truyền thống, hầu hết các làng trong huyện đâu đâu cũng có nghề riêng nh: dệt vải, đan lát, mộc, rèn, thợ nề, trồng dâu nuôi tằm, làm gạch ngói, làm tơng, bánh đúc Ngoài ra còn có một…

số nghề chống bè, chống nốc thuê của những chàng trai thuộc xã Xuân Lâm

có thể nói rằng ở Nam Đàn ai ai cũng có một nghề phụ để kiếm sống

Dân c ở đây luôn đoàn kết gắn bó với nhau bằng tính cộng đồng cao, hình

ảnh quen thuộc của mỗi làng xóm là cây đa, bến nớc, sân đình hầu nh đâu đâu cũng có Ngời dân Nam Đàn luôn biết yêu thơng đùm bọc lẫn nhau, tạo nên sự bền vững trong mối liên hệ tình làng nghĩa xóm dù trong bất cứ hoàn cảnh nào,

dù cho thiên nhiên khắc nghiệt, xã hội có nhiều biến động những ngời dân Nam

Đàn không bao giờ tuyệt vọng mà luôn lạc quan, dám coi thờng mọi gian khổ, chấp nhận mọi hy sinh đấu tranh không khoan nhợng với thiên nhiên và kẻ thù.Nam Đàn là một trong nhiều địa phơng ở Nghệ An nổi tiếng hiếu học đã

cống hiến cho đất n

cháo họ cũng góp tiền, góp gạo nuôi thầy cho con cháu đợc học hành tử tế Trong các kỳ thi Nam Đàn đã có nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng nh trạng nguyên Trơng Xán đời Trần, thám hoa Nguyễn Hữu Giao và Nguyễn Đức Đạt thời Nguyễn Gia đình ông Vơng Hữu Phu ở làng Long Vân (Vân Diên) cha đỗ

cử nhân, anh đỗ phó bảng, em đỗ đầu tiến sĩ Vào cuối thế kỷ XIX ở Nam Đàn

có 4 nhà nho học đợc giới nho sỹ tôn là “tứ hổ” thông minh bất nh song, uyên bác bất nh san, tài hoa bất nh quý, cờng ký bất nh lơng (nghĩa là không ai không minh bằng Nguyễn Quý Song, không ai uyên bác bằng Phan Văn San (tức Phan Bội Châu), không ai tài hoa bằng Vơng Thúc Quý và không ai có trí nhớ bằng Trần Văn Lơng) [13, 20]

Tuy: “Sáng khoai, tra khoai, tối khoai, khoai ba bữa” song vẫn “ông đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà” nh gia đình ông cử Trần, đợc nhân dân ca ngợi

Làm trai có chí thì nên Học trần đói khổ mà nghiền kinh thi

Trang 13

áo sách đổi lấy võng điều Nón mê đổi lấy chữ đề vua ban”

Nhng sự kết tinh cho truyền thống thông minh hiếu học, đó là vị lãnh tụ kính yêu Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay

Trong suốt tiến trình của lịch sử dân tộc, mọi biến động của đất nớc đều tác động ảnh hởng đến Nam Đàn Từ thời Hùng Vơng dựng nớc và tiếp đó là

An Dơng Vơng với đất nớc mang tên Âu Lạc Nam Đàn là trung tâm của bộ Việt Thờng

Trong một ngàn năm Bắc Thuộc, Nam Đàn là nơi thờng có lỵ sở của các triều đại phong kiến phơng Bắc từ Hán đến Đờng Nơi đây chứng kiến với những thử thách ác liệt gian nan hơn bất cứ nơi nào sức sống mãnh liệt, tinh thần bất khuất quật cờng của ngời dân Nam Đàn đợc thể hiện chính bằng cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722 chống lại ách áp bức đô hộ của nhà Đ-ờng Ông đã chọn thung lũng giữa núi Đụn và núi Vệ ở Sa Nam – Vùng quê của mình làm nơi xây dựng căn cứ của cuộc khởi nghĩa Tại đây, ông xây thành Vạn An, chiêu tập nghĩa binh, dựng đồn đắp luỹ, sắm sanh vũ khí, cử ngời đi thuyết phục các châu trong nớc và các nớc láng giềng cùng liên kết hành động, nhân tài khắp nơi kể cả những nớc lân cận nh Lâm ấp (Chăm Pa) ở phía Nam, Chân Lạp ở phía Tây và Kim Lân (tức Malayxia ngày nay), đã hởng ứng và quy

tụ dới ngọn cờ lãnh đạo của ông Sau khi làm chủ đợc đất Hoan Châu, ông đem quân chiếm các châu phía Bắc bao vây thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay) là thành trì của An Nam Đô Hộ phủ Trớc khí thể nổi dậy và hởng ứng sôi nổi,

đồng đều của các châu trong nớc và sự tấn công ào ạt của nghĩa quân Quang Sở Khách cùng bọn quan quân nhà Đờng phải bỏ chạy về Trung Quốc Đất nớc đ-

ợc giải phóng, Mai Thúc Loan lên ngôi hoàng đế, thành lập nớc Vạn An, ban bố chính lệnh

Xây dựng nền độc lập tự chủ trên toàn bộ lãnh thổ thân yêu của tổ quốc, lấy thành Vạn An làm thủ đô của nớc nhà Tuy chỉ tồn tại 5 năm nhng cuộc

Trang 14

khởi nghĩa này có ý nghĩa lớn lao không thể phai mờ trong lịch sử đấu tranh giải phóng đất nớc của nhân dân ta.

Năm 983 Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng mở

ra một thời kỳ mới của dân tộc ta, thời kỳ xây dựng độc lập tự chủ Tiếp nối các triều đại: Đinh, Tiền Lê, Nam Đàn là phên dậu vững chắc của nớc nhà

Sang thời kỳ nhà Lý (1010 – 1225) quốc gia phong kiến đợc củng cố và phát triển, kinh tế đợc chú trọng hơn năm 1041, Lý Thái Tổ cho con trai thứ 8 của mình là Lý Nhật Quang vào Nghệ An mở mang bờ cõi Tại đây ông đã tổ chức đắp đê, đắp đập dọc sông Lam, chính ngời dân Nam Đàn đã góp phần to lớn công sức của mình vào việc đắp đê để phát triển kinh tế và ngời dân Nam

Đàn đã “nhiều lần góp sức đánh tan quân Chăm Pa sang quấy nhiễu” [11,53], bảo vệ bờ cõi của đất nớc, ra sức xây dựng quê hơng, dựng nhiều chùa miếu có giá trị

Nhà Trần thay nhà Lý (1226 – 1400) lịch sử oanh liệt chống ngoại xâm Nguyên Mông của dân tộc đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của quân dân ta để

đảm bảo nền độc lập cho xã tắc non sông, đó là sức mạnh đoàn kết gắn bó, quật cờng của cả dân tộc mà vó ngựa Mông Cổ không thể khuất phục đợc

Cũng nh nhân dân Hoan Diễn xa – Nam Đàn là hậu phơng lớn vững mạnh của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm oanh liệt

Cuộc khởi nghĩa của Hồ Quý Ly rồi tiếp đến Lê Lợi chống giặc Minh Nam Đàn là căn cứ của cuộc khởi nghĩa, góp phần to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lợc, xây dựng thành lũy Hồ Vơng ở chân núi Đại Huệ làm căn cứ kháng chiến

1409 Trần Quý Khoáng lên làm vua lấy niên hiệu là Trùng Quang và chọn

đất Nam Hoa (Nam Kinh) – huyện Nam Đàn làm nơi xây dựng hành dinh phất

cờ khởi nghĩa Từ đây cuộc kháng chiến lan rộng ra cả nớc Nghệ An nói chung, Nam Đàn nói riêng lại trở thành căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa Trùng Quang kéo dài gần 5 năm

Trang 15

Cuộc khởi nghĩa của Trùng Quang chấm dứt, cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi bùng nổ Theo kế hoạch của Nguyễn Chích, Lê Lợi và Nguyễn Trãi chuyển trung tâm cuộc khởi nghĩa từ vùng căn cứ Lam Sơn (Thanh Hoá) vào Nghệ An

là nơi “hiểm yếu, đất rộng ng ời đông” để làm bàn đạp tiến lên giải phóng dân

tộc Sau khởi nghĩa Trùng Quang 10 năm, nhân dân Nam Đàn lại kề vai sát cánh với nhân dân trong tỉnh tham gia tích cực vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Vùng núi Thiên Nhẫn đợc ông chọn làm nơi xây dựng thành Lục Niên, chỉ huy

sở của nghĩa quân Tháng 2/1425 Lê Lợi, Nguyễn Trãi chuyển đại bản doanh từ

Đỗ Gia (Hơng Sơn) ra thành Lục Niên ở Nam Kim Nam Đàn Nhân dân ở đây

già trẻ đem trầu r

Nhà Lê suy yếu, đất nớc rơi vào cảnh binh đao khốc liệt của cuộc chiến tranh, của 2 tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn (1527 – 1592) mảnh đất Nam Đàn lại là nơi xuất phát, nơi “đứng chân” của nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân trong giai đoạn này Tiếp đó là cuộc chiến tranh Đàng Ngoài - Đàng Trong khốc liệt làm cho đời sống nhân dân hết sức cực khổ điêu đứng, ngời dân Nam

Đàn liên tiếp đứng dậy khởi nghĩa, năm 1661 do Nguyễn Hạo lãnh đạo năm

1742 cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Diên bùng nổ lấy vùng Hơng Lâm (Vân Diên) huyện Nam Đàn làm căn cứ tập hợp lực lợng kháng chiến chống chính quyền phong kiến Lê - Trịnh Tiếp đến là cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật cũng chọn Nam Đàn làm đồn trại kéo dài cuộc khởi nghĩa Mặc dù cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật bị thất bại, song nhân dân Nam Đàn vẫn cha chịu khuất phục.Sau khi tích cực đóng góp sức ngời và sức của phục vụ cho cuộc hành quân thần tốc ra Bắc của ngời anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung, góp phần làm nên chiến công hiển hách này của dân tộc ta tiêu diệt tập đoàn phong kiến chúa Trịnh Căn cứ Đàng Ngoài rồi tiến lên quét sạch 29 vạn quân Thanh làm chủ đất nớc thống nhất non sông

Dới chế độ phong kiến nhà Nguyễn, chính sách tô thuế nặng nề và sự hà khắc của luật lệ phong kiến làm cho đời sống nhân dân thêm cực khổ Do vậy nhiều cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuấn (1818) của Lê Chấn (1813 – 1823) đ-

Trang 16

ợc đông đảo nhân dân Nam Đàn tham gia đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt và quật cờng của ngời dân nơi đây.

Năm 1858 thực dân Pháp xâm lợc nớc ta triều đình phong kiến nhà Nguyễn đầu hàng giặc bằng các hiệp ớc 1862, 1883 và hiệp ớc Patanốt (1884)

đa nớc ta trở thành nớc thuộc địa nửa phong kiến

Mặc cho quan quân nhà Nguyễn đầu hàng giặc nhân dân ta đã vùng dậy chống kẻ thù xâm lợc Cũng nh ngời Nam Kỳ lục tỉnh anh dũng Năm 1874 trên đất Nam Đàn nổ ra cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Nh Mai chống “cả triều lẫn Tây” đợc đông đảo nhân dân ủng hộ mạnh mẽ.

Thời Pháp thuộc, phong trào cần vơng rầm rộ diễn ra trên đất Nam Đàn, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Vơng Thúc Mậu ở Rú Chung đã gây cho thực dân Pháp nhiều phen kinh hoàng

Nhất là đến những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, đặc biệt là trong cao trào

1930 – 1931 đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh với sự ra đời của Xô Viết nông dân huyện Nam Đàn đã góp phần chứng minh và làm nỗi bật vai trò lãnh đạo của Đảng Nam Đàn xứng đáng là một trong những đỉnh cao của cao trào…

Chính những truyền thống, những cốt cách ấy tạo nên sức mạnh to lớn cho nhân dân Nam Đàn bớc vào cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 với những chiến thắng rất vẻ vang

1.3 Khái quát phong trào cách mạng trong những năm 1930 - 1939

Ngày 3/2/1930 Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đánh dấu bớc ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đờng lối và

Trang 17

giai cấp lãnh đạo Mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam thời kỳ

đấu tranh dới sự lãnh đạo của Đảng

Dới tác động của sự kiện lịch sử trọng đại này thì ở Nam Đàn và Nghệ Tĩnh tiểu tổ Hội thanh niên và Đảng Tân Việt cũng cơ bản chuyển thành những thành viên của một Đảng tiền phong thống nhất – Đảng Cộng Sản Việt Nam.Ngày 25/4/1930 tại làng Kim Liên, phái viên xứ uỷ Trung Kỳ là Nguyễn Xuân Thành (tức Chắt Bảy) công nhân Trờng Thi về chủ trì hội nghị thành lập

Đảng bộ Nam Đàn và thay mặt tỉnh uỷ chỉ định một ban Huyện uỷ lâm thời Toàn Đảng bộ huyện bao gồm bốn tổng là: Lâm Thịnh, Xuân Liễu, Xuân Khoa

và Nam Kim, mỗi liên chi bộ tơng ứng với một số làng xã trong tổng Mấy tháng sau, ban chấp hành huyện ủy Nam Đàn đợc bầu chính thức do Đặng Chánh Kỷ (tức Năng), ngời làng Hoành Sơn làm Bí th Chẳng bao lâu Đặng Chánh Kỷ đợc đa lên phụ trách ban tuyên truyền của Tỉnh ủy, thì Phan Đình

Đồng đợc Tỉnh ủy phân công làm bí th huyện Nam Đàn Do sự chính thức thành lập Đảng bộ huyện, những ngời trong hội quần chúng vốn đã từng tham gia hội thanh niên và Đảng Tân Việt, hoặc đã từng tỏ rõ nhiệt tình ủng hộ hai tổ chức

ấy đều đợc Huyện ủy tiếp xúc và tìm hiểu kết nạp vào Đảng bộ

Trong quá trình diễn ra bớc tiến vọt của phong trào vô sản, về mặt tổ chức

nh trên, thì ngày 9/2/1930 Việt Nam Quốc Dân Đảng tiến hành một cuộc nổi dậy ở Yên Bái và một số địa phơng trên miền Bắc Thực dân Pháp đã nhanh chóng dập tắt ngọn lửa khởi nghĩa Những nhà cách mạng lãnh đạo cuộc bạo loạn đã dũng cảm và hiên ngang biểu thị tinh thần vì nớc hy sinh và hô vang tiếng nói chính nghĩa trên pháp trờng

Từ đó, ngọn cờ của Đảng Cộng Sản Việt Nam là ngọn cờ đại nghĩa duy nhất lãnh đạo sự nghiệp vĩ đại chung của toàn thể dân tộc và nhân dân Kẻ thù tung mọi thủ đoạn tàn bạo nhất, thâm độc nhất đối phó với Đảng Cộng Sản, bọn thực dân Pháp và bè lũ phong kiến phản động làm tay sai cho chúng, chúng điên cuồng tính chuyện nhanh chóng quật ngã địch thủ mới, lần đầu tiên lên vũ đài Nhng thời thế không ủng hộ chúng, sự tăng cờng đàn áp bóc lột làm cho mâu

Trang 18

thuẫn đối kháng giữa chúng với Tổ quốc ta, đồng bào ta ngày càng thêm gay gắt

đến cực độ Cuộc khủng hoảng kinh tế trong toàn thế giới t bản chủ nghĩa tiếp tục đẩy chúng vào thế bí Sự thống trị của chúng, xét về mọi mặt là không còn

có thể duy trì nh trớc nữa

Ngọn lửa khởi nghĩa bị dập tắt ở Yên Bái, song không thể bị dập tắt trong chí khí dân tộc Việt Nam ta và trong thực tiễn chiến đấu của nhân dân Việt Nam Huyện Nam Đàn có Đảng bộ của huyện cũng nhìn rõ chân lý hơn và chiến đấu chống địch kiên cờng hơn Báo chí bí mật của xứ ủy trung kỳ nh tờ

“công, nông, binh” tờ “ngời lao khổ” sau đổi tên là “Vô sản” của Tỉnh ủy Nghệ

An nh tờ “Nghệ An đỏ” và tờ “tiến lên” của thị ủy Vinh – Bến Thủy nh tờ

“sóng cách mạng” đều là những nguồn trí thức và cách mạng thờng ngày đến ngời cộng sản ở Thanh Thủy và Kim Liên, Xuân Hồ, Đan Nhiễm, Trung Cần và Hoành Sơn Đôi khi có những đồng chí từ xứ ủy ra hoặc từ ph… ơng xa đến truyền đạt những điều rất cơ bản, và cũng cố những trờng hợp có sự bổ sung lực lợng cho Nam Đàn

Tình cảnh đói khổ và nỗi lòng căm phẫn của đông đảo nhân dân lao động hàng ngày thúc đẩy những ngời lãnh đạo Từ nhiều nơi, trong Nam ngoài Bắc vang tới những tiếng giục giã hành động

Ngày 3/2/1930 trùng với sự kiện thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, 5.000 công nhân Phú Riềng bãi công, 22 ngày sau đó 25/3, 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định bãi công, 25 ngày sau nữa 19/4, 400 công nhân nhà máy diêm và nhà máy ca Bến Thủy ở ngay đất Vinh bãi công Rồi kể từ ngày quốc tế lao động 1/5 năm ấy là bắt đầu bốc lên cao trào cách mạng 1930 – 1931 phát triển tới quy mô to lớn trên khắp ba kỳ Phong trào đấu tranh của Đảng bộ và nhân dân Nam Đàn, gồm có hơn 600 ngời kéo lên huyện lỵ phản đối sự khủng

bố của thực dân Pháp đối với anh chị em công nhân Vinh – Bến Thủy Những ngời biểu tình cũng đã nêu ra những yêu sách sau đây:

1 Hoãn thu thuế thân, thuế điền đến tháng 10

2 Bỏ lệ tuần canh

Trang 19

3 Bồi thờng cho các gia đình những ngời bãi công, biểu tình bị bắn chết trong các cuộc đấu tranh nhân ngày quốc tế lao động 1/5.

4 Thả các tù chính trị và những ngời mới bị bắt trong các cuộc bãi công biểu tình

Một hiện tợng đặc biệt trong đời sống nông thôn vùng đất Lam Hồng là sự

ra đời của các Xô viết xã giữ vai trò chủ yếu Trên thực tế, nông hội hoàn toàn nắm giữ quyền hành giải quyết các vấn đề, các công việc quan trọng đều đa ra bàn bạc giữa đình, mọi ngời đều đến dự, thực hiện việc trịch thu ruộng đất của

địa chủ phú nông để chia cho dân làng nghèo, thiết lập tòa án cách mạng để xử bắn bọn “trí, phú, địa, hào” coi nh có tội với cách mạng Theo nhận định của cấp trên, trong một bản thông báo của trung ơng Đảng nh thế là “vấn đề chính quyền và thổ địa cách mạng đã đợc giả quyết” [8, 30].

Ngày 12/9/30, trên dới tám trăm nông dân Nam Đàn, Hng Nguyên kéo nhau tiến hành cuộc biểu tình lớn trên địa bàn Hng Nguyên Chính phủ Pháp cho máy bay từ Hà Nội mang bom vào, ném xuống đám biểu tình làm 217 ngời chết Ngay tối hôm đó, theo sự phát động của huyện ủy Nam Đàn, nhân dân Sa Nam, Thanh Thủy, Xuân Hồ, Xuân Liễu, Đan Nhiễm tập hợp tại huyện lỵ…biểu tình phản đối tri huyện Nguyễn Tuy mới đến thay tri huyện Lê Khắc Tởng

đã ra lệnh cho lính bắn vào dân chúng, làm chết 12 ngời

16 ngày sau, phản đối thực dân Pháp tàn sát, nông dân ở Thái Lão – Hng Nguyên, 2000 nhân dân Nam Đàn tập trung tại rú Tán và truông Cồn Đọi rồi kéo lên huyện lỵ biểu tình Tri huyện Nguyễn Tuy một lần nữa ra lệnh cho chính quyền nổ súng trấn át làm 17 ngời chết, bị thơng 22 ngời, bị bắt 36 ngời Vì thế mà cách mạng có những cao trào và những thoái trào, không phải một chiều tiến lên thẳng tắp

Đợc rèn luyện trong thực tiễn chiến đấu, Nguyễn Tiềm con ngời lãnh đạo tuổi mới 20 và lần đầu tiên ra trận đã tỏ rõ khí phách và bản lĩnh ngời chiến sĩ cách mạng vô sản qua những tháng ngày tham gia xây dựng cơ sở, phong trào ở quốc học Vinh và ở huyện Nam Đàn, rồi tiến tới đảm nhiệm những trọng trách

Trang 20

do Đảng Cộng Sản Việt Nam giao phó Tháng 6 năm 1930, Nguyễn Tiềm đợc Trung ơng Trung kỳ chỉ định vào ban chấp hành tổng bộ lâm thời Nghệ An và phụ trách công tác tuyên truyền Tháng 10 năm 1930, một tháng sau vụ giặc Pháp ném bom ngày 12 tháng 9, tại đại hội đại biểu của Đảng bộ tỉnh Nghệ An họp ở làng Đông Liệt huyện Nam Đàn để bầu ra ủy ban chấp hành tỉnh Nghệ

An Nguyễn Tiềm đợc bầu làm Bí th Tỉnh ủy, làm việc cực kỳ vất vả và trong những điều kiện hết sức gay go, Nguyễn Tiềm lâm bệnh rồi bị địch bắt Trải qua hàng năm bị giam cầm tra tấn tại sở mật thám và trong nhà lao Vinh rồi đến những ngày tháng cuối cùng bị đọa đày trong nhà tù Lao Bảo theo chế độ man

rợ đối với tù chung thân và tử hình Ngời bí th Tỉnh ủy Nghệ An đầu tiên đồng thời là ủy viên thờng vụ Xứ ủy Trung Kỳ của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã từ trần ngày 11/10/1932 vào lúc tuổi đời mới 20 đã để lại lòng tiếc thơng vô hạn của những ngời con Nam Đàn, từ đó họ quyết tâm chiến đấu, đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng tiến lên

Đầu năm 1933, kẻ địch lại gây thêm một mối thù nữa đối với những ngời yêu nớc và cách mạng của Nghệ Tĩnh, Nam Đàn đó là vụ chúng giết Lê Hồng Sơn - ngời chiến sĩ Nam Đàn Góp phần vào tội ác man rợ của toàn quyền và khâm sứ viện cơ mật Nam triều còn ra lệnh hủy diệt xã Thanh Thủy, một xã anh hùng đấu tranh liên tục từ buổi đầu văn thân cho đến những trận quyết liệt cuối cùng của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh Bọn địch cay cú đối phó với Thanh Thủy mà chúng coi là “Sào huyệt cộng sản” [8,125], nhng chúng đã thất bại hoàn toàn

Cách mạng Nam Đàn từ 1935 đến 1939 đã bớc đi những bớc thăng trầm theo dòng chảy của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, thế giới có nhiều chuyển biến, tháng 7 năm 1936, Hội nghị trung ơng Đảng diễn ra, Đảng bộ Nam Đàn

đã thu đợc một số thành quả cần thiết cho thời kỳ mới Cơ sở Đảng cấp xã đợc phục hồi, nhiều tổ chức mới đợc xây dựng Chính những sự biến chuyển ấy là tiền đề để nhân dân Nam Đàn bớc vào một giai đoạn mới giành chính quyền khi những biến chuyển trên thế giới có lợi Đó chính là giai đoạn tiếp theo của cách

Trang 21

mạng thời kỳ 1939 – 1945 vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Nam

Đàn

Trang 22

ấy đã mở ra cơ hội mới cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

Cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, cũng là lúc phong trào cách mạng ở Nghệ An, Hà Tĩnh nói chung và Nam Đàn nói riêng bị dập tắt vừa đợc

2 tháng thì Trung ơng đã họp Hội nghị nhận định tình hình và đề ra những chủ trơng mới Trung ơng dự đoán: "Trớc sau phát xít Nhật cũng xâm chiếm

Đông Dơng, Pháp sẽ đầu hàng Nhật, nhân dân Đông Dơng sẽ lâm vào cảnh

đói rét, chết chóc dới chế độ cai trị của bọn phát xít, mâu thuẫn giữa nhân dân Đông Dơng và đế quốc càng ngay gắt quyết liệt, vì vậy mục tiêu của cách mạng Đông Dơng và Việt Nam là trực tiếp đánh đổ đế quốc tay sai và giải phóng dân tộc làm cho các nớc Đông Dơng hoàn toàn độc lập " [10,

29] Từ đó Trung ơng quyết định: Thành lập chính quyền cộng hoà dân chủ thay cho chính quyền Xô viết công nông, thành lập mặt trận dân tộc thống nhất phản đế, thay cho mặt trận dân chủ, kết hợp vừa xây dựng các tổ chức

Trang 23

công khai hợp pháp vừa xây dựng lực lợng bí mật để tập hợp lực lợng và hớng cuộc đấu tranh vào mục tiêu trên

Ngày 11/9/1939 trong lúc phong trào đang có bớc phát triển nhng cuộc

đại chiến thế giới thứ 2 đã bùng nổ thì các đồng chí Nguyễn Gia, Phạm Nghiêm đợc tỉnh uỷ Nghệ An triệu tập đi dự cuộc họp (Nguyễn Gia lúc này là

bí th huyện Nam Đàn, Phạm Nghiêm là uỷ viên Ban chấp hành huyện uỷ) đi

dự cuộc hội nghị cán bộ toàn tỉnh họp ở làng Phù Xá huyện Hng Nguyên để bàn kế hoạch hoạt động trong tình hình mới Hội nghị vừa bế mạc thì ngày 12/9/1939 theo lệnh của toàn quyền Đông Dơng, khâm sứ Trung kỳ ra nghị

định cấm việc hội họp trong nhân dân, cấm sách báo công khai, cấm tuyên truyền về cộng sản

Ngay khi có lệnh này chính quyền thực dân pháp và phong kiến tỉnh Nghệ An, tập trung lực lợng tấn công quyết liệt phong trào cách mạng

Nghị quyết hội nghị toàn tỉnh cha kịp thực hiện thì các tổ chức Đảng đã

bị chúng đánh phá Dựa vào chỉ điểm của Đinh Văn Di, một tên phản bội nguy hiểm từng giữ các chức vụ lãnh đạo chủ chốt trong nhiều năm ở tỉnh uỷ, sở mật thám Vinh đã lần lợt bắt gần hết cán bộ lãnh đạo của Đảng từ tỉnh đến huyện Ban chấp hành Huyện uỷ Nam Đàn có 5 ngời thì 2 ngời bị chúng bắt

đó là đồng chí Nguyễn Gia, Phạm Nghiêm Tuy cha bị địch khủng bố nhng khi huyện uỷ tan vỡ, mất liên lạc với trên thì chi bộ Đảng cũng ngừng hoạt động, các phờng, hội tơng tế ái hữu đều bị bọn tổng lý đánh phá và tịch thu tài sản Cũng nh trên cả nớc cuộc vận động dân chủ ở huyện Nam Đàn kết thúc và chuyển sang thời kỳ đấu tranh mới

Tháng 11/1939, Hội nghị Bà Điểm của Trung ơng Đảng đề ra chiến lợc

và phơng pháp cách mạng nhằm đánh đổ chính quyền đế quốc và tay sai Trung ơng đã nhận định: Đông Dơng đã bị lôi cuốn vào guồng máy chiến tranh của đế quốc, chế độ cai trị của Pháp ở Đông Dơng đã trở thành phát xít, một thứ phát xít quân phiệt vô cùng tàn bạo Sang năm 1940 đế quốc Pháp đầu hàng phát xít Đức ở Châu âu và dâng Đông Dơng cho phát xít Nhật

Trang 24

Trớc tình hình đó, đầu năm 1940 xứ uỷ Trung Kỳ cử đồng chí Trần Mạnh Quỳ về thành lập và khôi phục tỉnh uỷ Nghệ An và xây dựng phong trào Tiếp đó xứ uỷ cử đồng chí Lê Tất Đắc về Nam Đàn để trực tiếp chỉ đạo, xây dựng phong trào và khôi phục đảng trong toàn huyện Ba đồng chí huyện

uỷ Nam Đàn còn sót lại sau đợt khủng bố cuối năm 1939 đã cùng với đảng viên cha bị bắt trong huyện gồm đồng chí Duy Tình, Hoàng Di, Nguyễn Thị

T họp Hội nghị bàn tình hình và thảo luận chủ trơng mới của Đảng

Trong khi đó ở trong nớc từ tháng 9/1940 đến tháng 1/1941 đã nổ ra ba cuộc khởi nghĩa: Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940), cuộc khởi nghĩa Nam

Kỳ (23/11/1940) và khởi nghĩa Đô Lơng (14/1/1941) Các cuộc khởi nghĩa ấy

đã thức tỉnh tinh thần cách mạng của nhân cả nớc và để lại nhiều kinh nghiệm quý về khởi nghĩa vũ trang đánh dấu thời kỳ cách mạng đã bắt đầu - Thời kỳ khởi nghĩa giành chính quyền Khởi nghĩa Bắc Sơn và khởi nghĩa Nam Kỳ mặc dù thất bại song đây là những hành động vĩ đại, đầy khí phách anh hùng,

nó là những phát súng đầu tiên báo hiệu một thời kỳ đấu tranh mới – thời kì khởi nghĩa giành chính quyền Nhân dân Nam Đàn tích cực ủng hộ bằng các cuộc diễn thuyết, mít tinh

Chính trong thời điểm náo nức ấy, Nam Đàn nhận đợc tin từ kinh đô Huế một tin đau thơng: ngày 29/10 ngời chiến sỹ yêu nớc và cách mạng Phan Bội Châu đã trút hơi thở cuối cùng Nhân dân cả nớc nói chung và nhân dân Nam Đàn nói riêng nghẹn ngào đau xót trớc sự ra đi của một vị anh hùng, một

đấng xả thân vì độc lập tự do của đất nớc Hơn 40 năm chiến đấu và 10 năm lăn lộn bị giam lỏng ở Huế nhng lúc nào Phan cũng hớng về tổ quốc Sào Nam

có thể tin về cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn Cuộc khởi nghĩa ấy thất bại nhng ông tin tởng chắc chắn cách mạng Việt Nam sẽ giành đợc những thắng lợi cuối cùng Nhân dân Nam Đàn - quê hơng của Phan, mặc dù rất đau xót trớc sự ra

đi của Sào Nam nhng cũng một phần vì thế mà nhân dân Nam Đàn càng quyết tâm hơn nữa để đánh đuổi kẻ thù đang giày xéo trên quê hơng Phan và cả nớc

Trang 25

Nhận thấy những dấu hiệu phát triển không bình thờng trong xã hội Việt Nam Chánh mật thám Trung Kỳ đã ra lệnh cho sở mật thám của tỉnh Trung Kỳ phải thi hành tức khắc những biện pháp đã định trong sách luật ngày 2/1/1940 (tức bắt bớ và khủng bố) Thi hành lệnh đó chính quyền thực dân Pháp và Nam Triều ở Nghệ An đã tung lực lợng đánh phá các tổ chức Đảng và cơ sở của cách mạng trong tỉnh, nhất là hai huyện Anh Sơn và Thanh Chơng là nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa Rạng - Đô Lơng Từ Thanh Chơng, bọn chúng lần mối đánh phá cả Đảng bộ Nam Đàn gây cho ta những tổn thất lớn Đến ngày 10/4/1941 hầu hết cán bộ lãnh đạo của Huyện Nam Đàn bị sa lới địch Các chi

bộ Đảng mất liên lạc với cấp trên nên tan ra dần, phong trào tạm thời lắng xuống Tháng 7/1940 mật thám ở Trung Kỳ ra mật lệnh: "Bằng mọi cách để tiêu diệt cộng sản, những ngời tình nghi cha có bằng chứng có thể bắt đi trại tập trung" [1, 114] theo lịch sử Đảng bộ huyện Nam Đàn, năm 1939- 1940,

Nam Đàn có 258 ngời bị bắt giam Một lần nữa phong trào cộng sản ở huyện Nam Đàn lại bị địch khủng bố truy lùng ráo riết, nên các chi bộ mất liên lạc ngừng hoạt động, gây tổn thất nặng nề cho Đảng cộng sản và lực lợng cách mạng của Nam Đàn Chỉ trong vòng 3 tháng, tuyệt đại đa số cán bộ lãnh đạo

đã bị địch bắt giam không liên lạc đợc với cấp trên và thờng xuyên bị địch săn lùng ráo riết, các chi bộ dần dần tan rã hầu hết

Giữa lúc kẻ thù đang ra sức khủng bố phong trào cách mạng Nghệ An nói chung và Nam Đàn nói riêng, thì Trung ơng Đảng đã họp Hội nghị Trung -

ơng lần thứ 8 vào ngày 10/5/1941 tại Pắc Pó - Cao Bằng dới sự chủ trì của Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh Hội nghị đã hoàn thiện việc chuyển hớng chỉ

đạo chiến lợc đa nhiệm vụ giải phóng dân tộc trên hết và trớc hết Trên tinh thần ấy, dới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc, Hội nghị chủ tr-

ơng thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lợng vũ trang chuẩn bị mọi mặt tiến hành tổng khởi nghĩa Ngày 22/12/1944 Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời Ngày 9/3/1945 quân phiệt Nhật tiến hành đảo chính vũ trang lật đổ thực dân Pháp Ban thờng vụ Trung ơng Đảng họp hội nghị mở

Trang 26

rộng ra chỉ thị lịch sử : "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" [8,

131] Thời cơ đang đến, toàn Đảng khẩn trơng chuẩn bị xốc tới Nam Đàn cũng tiếp ứng chỉ thị đó

Cuối năm 1944, phát xít Nhật đa hơn một vạn quân vào chiếm đóng tại Nghệ An, chúng tập trung ở Vinh - Bến Thuỷ và những nơi xung yếu khác, cầu Yên Xuân của Nam Đàn cũng có một đơn vị chiếm giữ Thực tế chúng đã thọc bàn tay tội ác và Nghệ An từ năm 1942 nhân dân ta đã bị hai tròng áp bức bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật

Ngày 9/3/1945 phát xít Nhật hất cẳng Pháp, trao trả độc lập giả hiệu cho vua Bảo Đại thành lập chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim Phát xít Nhật nêu chiêu bài: "Đại Đông á", "Đồng chủng, đồng văn" "khu vực thịnh vợng chung" - một loạt các tổ chức thân Nhật ra đời nh: "Việt Nam độc lập đoàn",

"Việt Nam quốc dân Đảng (Việt Quốc)" " Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt cách)" "Thanh niên tiền tuyến" tổ chức này là của Trần Trọng Kim

do Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Phan Anh làm bộ trởng

Sau đêm 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp Toàn quyền Đông Dơng, chúng

ra sức hoành hành, cớp bóc trắng trợn đoạ đày nhân dân để phục vụ nhu cầu chiến tranh, Nhật bắt nhân dân dọc sông Lam nhổ ngô trồng đay, chặt xoan

đâu đốt lấy than nộp cho chúng, bắt dân cày nộp thuế theo đầu mẫu ruộng, mộ phu đi khai thác mỏ Mangan tại rú Thiên Nhẫn - Nam Đàn Bọn Nhật nắm độc quyền thu mua thóc, ngô, lạc, vừng để phục vụ chiến tranh, chính sách bóc lột vơ vét của Nhật- Pháp vô cùng tàn ác và hiểm độc

Tại Nam Đàn có lần ở cầu Yên Xuân, ngựa của Nhật ăn phải cám bị chết, bọn chúng đã bắt ngời bán cám chặt đầu, mổ bụng ngựa nhét đầu vào để chôn với ngựa, tội ác của giặc Nhật cùng với bọn tay sai không kể xiết, chúng vơ vét nhân tài vật lực của ta để giết nhân số còn sống sót thì đói khát kiệt sức, khó lòng nổi dậy chống lại chúng Hậu quả chính sách trên của Nhật- Pháp đã

đẩy nhân ta lâm vào cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945 (ất dậu) cha từng

Trang 27

có, ngời ăn xin gầy còm tay gậy, tay bị, nhan nhản khắp thành thị, thôn quê,

đầu đờng xó chợ, ngời chết đói hàng loạt, la liệt khắp nơi hết sức rùng rợn, từng xe kéo nhặt ngời chết và ngời sắp chết chôn một hố chung, không quần

áo, hòm ván Chỉ tính riêng 2,3 tháng đầu năm 1945 tại Bắc và Trung Kỳ đã có hơn hai triệu ngời chết đói Trong đó huyện Nam Đàn có 1929 ngời chết, 138 gia đình bị xoá sổ vì đói (trong đó xã Vân Diên có 350 ngời chết, 5- 7 ngời trong một gia đình chết hết, xã Nam Trung- Nam Đàn 422 ngời chết, trong đó

có 43 hộ chết cả nhà) Nạn đói và chết gây một không khí rùng rợn từ nông thôn đến thành thị, nhng cũng làm cho nhân dân Nam Đàn và cả nớc ta căm thù bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật cùng bọn phong kiến tay sai đến tột

độ

Vấy máu tội ác với nhân dân ta nhng miệng lỡi bọn Nhật vẫn quảng cáo rùm beng cho chính sách "đồng chủng, đồng văn", ngời da vàng thơng ngời da

vàng, chính sách "Đại Đông á"của chúng, bọn quan Nhật cho tay sai về các

nơi lập ra các tổ chức nh "Thanh niên tiền tuyến" "Bảo an đoàn" "Việt Nam ủng hộ độc lập đoàn" để đánh lừa nhân dân ta và tập hợp lực lợng làm chỗ

dựa cho chúng

Do mâu thuẫn giữa Pháp và Nhật sau vụ hất cẳng Pháp đêm 9/3/1945, nhân lúc bọn cai ngục của chính quyền Pháp hoang mang bối rối vì sự “thay thầy đổi chủ”, một số tù chính trị ở các trại giam đã trốn thoát, số còn lại thì

đấu tranh đòi trả tự do - nhằm đánh lừa d luận và tuyên truyền độc lập giả hiệu, bọn Nhật đã mở các nhà tù, thả hết những tù nhân do Pháp bắt giam Rời nhà tù đế quốc trở về, các đồng chí cán bộ, đảng viên đã đợc rèn luyện thử thách qua các thời kỳ cách mạng, lại bắt tay làm nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, quyết định vận mệnh của đất nớc

Có thể nói Nam Đàn từ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ (1/9/1939) đến khi Nhật đảo chính Pháp có những biến động lớn, nó tác động

ảnh hởng đến sự phát triển của phong trào cách mạng huyện nhà, có thể thấy

rõ bối cảnh đó, có thể dự đoán cách mạng nhất định sẽ bùng nổ và giành thắng

Trang 28

lợi Từ trong khói lửa của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914- 1918)

đã đẻ ra nớc Nga xô viết thì trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ 2 này nhất

định sẽ đẻ ra hàng loạt nớc XHCN Trong đó sự thắng lợi cách mạng tháng 8, mùa thu cách mạng ở Việt Nam đã thành lập nớc XHCN đầu tiên ở Đông Nam châu á

Lênin đã từng nói: "Bất cứ một cuộc cách mạng nào xảy ra đều có nguyên nhân của nó", và chính bối cảnh lịch sử trong nớc và quốc tế nói

chung và bối cảnh thực tế ở huyện Nam Đàn nói riêng là những nguyên nhân dẫn tới cách mạng

Vậy trớc những biến động của bối cảnh ấy, ban lãnh đạo Việt Minh liên tỉnh và ban lãnh đạo Việt Minh huyện Nam Đàn đã chuẩn bị gì cho cuộc cách mạng sắp tới giành đợc những thắng lợi

2.2 Quá trình vận động cách mạng - chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền

Cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ đã làm tình hình thế giới, trong nớc và đặc biệt ở Nam Đàn có nhiều biến đổi Trớc tình hình đó Trung -

ơng Đảng họp Hội nghị nhận định tình hình và đề ra chủ trơng mới Đồng thời Trung ơng đặt trách nhiệm cho các cấp uỷ đảng nhanh chóng củng cố, khôi phục tổ chức Đảng những nơi vừa bị địch phá vỡ

Tháng 1 năm 1940, Tỉnh ủy Nghệ An đợc khôi phục Tháng 8 năm đó

đợc đồng chí Tất Đắc cán bộ xứ uỷ trực tiếp giúp đỡ, số uỷ viên Huyện uỷ Nam Đàn còn sót lại sau đợt khủng bố của địch cuối năm 1939 nh các đồng chí Nguyễn Duy Hiếu, Nguyễn Hiệu, Lê Quang Thông đã cùng một số đảng viên trong huyện là Nguyễn Duy Tình, Hoàng Duy, Nguyễn Thị T, họp Hội nghị thảo luận tình hình và chủ trơng của Đảng trong thời kỳ mới, cuộc họp đ-

ợc tổ chức trên con thuyền ông Vợng ở bến đò Bắc Châu thuộc địa phận xã

D-ơng Liễu (Nam Trung- Nam Đàn) Bến đò này đã bị lở, dốc đứng, bên trên bờ lại có nhiều cây dứa gai rậm rạp, do đó ban đêm bọn tuần phu khó phát hiện

Trang 29

Nói thêm về chiếc thuyền ông Vợng ở bến đò Bắc Châu: " ông Vợng tức ông Phạm Tý Vợng xóm Trung Chính là quần chúng cảm tình của Đảng, tham gia hoạt động cách mạng nhờ sự tuyên truyền thuyết phục của chị Nguyễn Thị Mời là vợ đồng chí Nguyễn Hà Sâm Ông bán một nhà ngang lợp ngói lấy tiền góp vốn với chị Mời mua một chiếc thuyền gỗ để đi các huyện miền núi mua lơng thực (lúa, ngô, sắn, khoai) để hợp pháp đi lại và làm nơi hội họp và in ấn cất dấu tài liệu và liên lạc với đồng chí San đang hoạt động ở Tân Kỳ Đã nhiều lần đồng chí Lê Tất Đắc về chỉ đạo phong trào tại Nam Đàn đã đi lại ăn ở trên chiếc thuyền này Do hoạt động lâu ngày nên đã bị lộ bọn mật thám và tuần phu đã nhòm ngó tới và chúng báo cho ông lý Sen để vây bắt, nhân buổi đi chợ về chị Mời đi ngang cổng nhà

ông lý Sen ông này nói với chị Mời: " Trời sắp ma liệu về che cất lúa ngô trong thuyền kẻo ớt" Chị Mời hiểu ý và báo ngay cho ông Vợng cất dấu tài liệu, nhng không kịp, bọn lính và tuần phu đã cùng ông lý Sen ra khám xét trong thuyền, chị Mời nhanh ý đã quẳng dụng cụ in ấn xuống sông phi tang,

số truyền đơn và phiếu chỉ giả, bọn chúng tìm thấy trên mui thuyền, chúng

đ-a toàn bộ truyền đơn giấy tờ cho ông lý Mđ-ay mà bọn lính và tuần phu không biết chữ nên ông lý xem xong nói với bọn chúng: " Đây là giấy tờ mua bán Ngô, lúa họ con nợ của chị chủ nốc, ông cất đi kẻo mất lại không biết đâu

mà đòi và nói với ông Vợng :"Cất cận thận, không đợc để lung tung " Có lần chúng lục soát gặp đồng chí Lê Tất Đắc, chị Mời đã trả lời: "Đây là con

ông cậu trên Hoành Sơn tôi mớn để đi chống thuyền với ông Vợng Sau cùng chúng đã bắt toàn bộ thuyền và giải lên huyện, chị Mời bị bắt giam nhờ có

ông Sen và anh ruột là ông Nguyễn Từ Tuân (ở Nam Hoành) lên bảo lãnh nên chúng mới cho về Còn đồng chí Lê Tất Đắc bị chúng bắt giam, ông V- ợng bị quản thúc " [10, 30 – 31] Còn chiếc thuyền bị chúng kéo lên trên

bờ và úp sấp trên cạn

Trang 30

Trong cuộc họp này các đồng chí Đảng viên của Nam Đàn và Nam Trung đã nghe đồng chí Lê Tất Đắc phổ biến, truyền đạt ý kiến của xứ uỷ về

đẩy mạnh và nhanh chóng khôi phục lại các chi bộ, tiếp đó đồng chí Đắc diễn

đạt bài thơ:

"Lập mau mặt trận Đông Dơng Phản đế cứu quốc mở đờng tồn sinh

Đả đảo hẳn chiến tranh đế quốc Cùng những tuồng thảm khốc ,điêu linh Nêu cao khẩu hiệu đấu tranh :

Tự do, cơm áo hoà bình cho dân Diệt trừ hết những quân xâm lợc Cùng những loài phản quốc việt gian

Đông Dơng độc lập hoàn toàn Giải phóng, giải phóng Việt Nam dân mình."

Hội nghị đã thảo luận nội dung thành lập mặt trận phản đế cứu quốc của

Đảng đợc diễn đạt trong một bài ca do đồng chí Lê Tất Đắc phổ biến Nội dung bài ca này đã chỉ cho mọi ngời thấy rõ tình hình nguy ngập tàn khốc của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai,trong đó Đông Dơng sẽ không tránh khỏi cảnh "máu tràn, xơng xây", đồng thời kêu gọi thành lập mặt trận Đông Dơng phản đế, nêu cao khẩu hiệu đấu tranh diệt trừ hết quân xâm lợc cùng việt gian

để giải phóng dân tộc đem lại hạnh phúc cho nhân dân, thôi thúc tinh thần đấu tranh của quần chúng Trớc tình hình diễn biến phức tạp các Đảng viên dự cuộc họp này khẩn trơng về các nơi để củng cố các phong trào và thúc đẩy các hoạt động của các tổ chức quần chúng cách mạng

Hởng ứng hội nghị trên, quân dân Nam Đàn hăng hái quyết tâm xây dựng lực lợng, đồng thời củng cố khôi phục lại những cơ sở đã bị tàn phá Các cán bộ ra sức cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ của mình là xây dựng phong trào, lúc này đồng chí Trần Đình San ở Nam Trung đợc tỉnh uỷ Nghệ An phân

Trang 31

công xây dựng phong trào các huyện ở phía tây của tỉnh Tháng 10/1940 đồng chí Trần Đình San đã triệu tập hội nghị thành lập lại huyện uỷ Nam Đàn Tại nhà đồng chí Văn Bá Đạt ở làng Đông Liệt ( nay là xã Thanh Khai- huyện Thanh Chơng ) hội nghị đã diễn ra, hội nghị đã phân tích, đánh giá tình hình

đồng thời cử ra ban chấp hành huyện uỷ gồm có năm đồng chí :

đợc củng cố trở lại hoạt động, các đoàn thể phản đế cũng lần lợt xây dựng

Lúc bấy giờ tình hình trên thế giới có nhiều thay đổi Pháp đầu hàng nhanh chóng phát xít Đức, đó là một thời cơ thuận lợi cho phát xít Nhật nhảy vào ĐôngDơng, ngày 14/6/1940 Pari- thủ đô của nớc Pháp lọt vào tay quân

Đức thì ngày 18/6/1940 Nhật gửi tối hậu th cho toàn quyền Catơru đòi Pháp phải đóng cửa biên giới Việt-Trung, đình chỉ việc vận tải tiếp tế xăng dầu, ph-

ơng tiện chiến tranh cho Tởng Giới Thạch theo đờng Hải Phòng-Vân Nam, Pháp không thể chống lại và buộc phải chấp nhận những điều khoản trên Ngày 2/8/1940 Nhật lấn thêm một bớc đòi Pháp phải để cho quân đội nhật vào

Đông Dơng, sử dụng các sân bay để tấn công Trung Quốc và đặt nền kinh tế

Đông Dơng vào nền kinh tế Nhật những cuộc đàm phán, giữa chính phủ Pêtanh và chính phủ Nhật đã đa đến việc kí hiệp định chính trị Tô ki ô ngày 30/8/1940, trong đó vấn đề cơ bản Pháp phải chấp nhận những yêu sách đó của Nhật Ngày 22/9/1940 trớc sự chần chừ của Đờ Cu trong việc thi hành

Trang 32

hiệp định Tô ki ô-Nhật lại gửi tối hậu th cho Pháp đe dọa sẽ đa quân Nhật vào

Đông Dơng dù Pháp muốn hay không đến ngày 23/9/1940 Nhật đã tràn vào xâm lợc Đông Dơng với mục đích đoạt lấy một bộ phận thuộc địa thuộc loại giàu có nhất của Pháp, chiếm những của cải, nguyên liệu dồi dào để cung cấp cho chiến tranh, dùng Đông Dơng làm căn cứ quân sự tấn công miền nam Trung Quốc và làm bàn đạp để mở rộng xâm lợc ra khắp các vùng Đông Nam

á Vậy là trên thực tế nhân dân Đông Dơng giờ đây đã "một cổ đôi tròng nô lệ

" Trớc tình hình nh vậy hội nghị Trung ơng lần 7 (tháng 11/1940) đã nhận

định: Nguy cơ của các dân tộc Đông Dơng giờ đây đã "một cổ đôi tròng nô lệ

", bị hai bọn đế quốc phát xít Nhật- Pháp giày xéo, kẻ thù chính của nhân dân

Đông Dơng lúc này là đế quốc phát xít Nhật- Pháp, do đó nhiệm vụ trớc mắt là lãnh đạo nhân dân Đông Dơng chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang đánh đổ phát xít Nhật- Pháp dành chính quyền về tay nhân dân, các Đảng bộ trong cả nớc đang khẩn trơng chuẩn bị cho công cuộc dành chính quyền

Những cuộc khởi nghĩa bùng nổ liên tiếp , cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940) Cuộc khởi nghĩa này chỉ tồn tại cha đầy một tháng nhng đã đem lại nhiều bài học có ý nghĩa lớn cho việc chỉ đạo cách mạng và điều đặc quan trọng là trong khói lửa của cuộc khởi nghĩa đó đội du kích Bắc Sơn đã ra đời Tiếp đó là cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940) Những sự kiện lịch sử dồn dập ấy kích thích mạnh mẽ tinh thần đấu tranh giải phóng của nhân dân ta, các cấp uỷ Đảng trong tỉnh, kể cả số Đảng viên đang bị cầm tù đều nóng lòng h-ớng vào công cuộc khởi nghĩa ngày 14/2/1940 đồng chí Trần Văn Quang trốn thoát khỏi nhà lao Vinh nối liên lạc với tỉnh uỷ Nghệ An Đồng chí đợc tỉnh

uỷ giới thiệu lên hợp lực với đồng chí Trần Đình San xây dựng cơ sở Thanh Chơng- Anh Sơn trong đó, đặc biệt nhất là huyện Nam Đàn chuẩn bị hậu cứ cho phong trào cách mạng trong tỉnh

Đến Nam Đàn, đồng chí Trần Văn Quang đã cùng với huyện uỷ Nam

Đàn họp hội nghị tại một lò gạch, cạnh cầu Rào gang để trao đổi tình hình và

Trang 33

bàn việc thành lập các đoàn thể phản đế cứu quốc, chuẩn bị cho công cuộc khởi nghĩa

Phối hợp hành động với phong trào chung, huyện uỷ Nam Đàn họp hội nghị tại nhà ông cũng ở làng Phủ Xá, Hng Nguyên bàn việc phát truyền đơn kêu gọi phản đối phát xít Nhật - Pháp, tiêu diệt bọn việt gian thân Nhật, thân Pháp kêu gọi nhân dân

Trong không khí sục sôi cách mạng của cả nớc nhân dân Nam Đàn lại chứng kiến một sự kiện lịch sử ngày13/1/1941 cuộc khởi nghĩa Rạng- Đô L-

ơng bùng nổ nhng đã bị thực dân Pháp và phong kiến Nam triều tập trung lực lợng đàn áp Mặc dù thất bại nhngđó là những tiếng báo hiệu cuộc khởi nghĩa toàn quốc, nhân dân Nam Đàn dới sự lãnh đạo của huyện uỷ đã họp hội nghị tại nhà đồng chí Nguyễn Ngọc (ở làng Phu xá- huyện Hng Nguyên) bàn việc phát đơn , truyền đơn kêu gọi nhân dân "Phản đối bọn xâm lợc Pháp - Nhật, tiêu diệt bọn việt gian thân Pháp, thân Nhật, phản đối tăng thuế và lạc quyên" [13] và đặc biệt là việc tổ chức mít tinh hởng ứng các cuôc khởi nghĩa

và binh biến nói trên các cuộc khởi nghĩa, nổi dậy của nhân dân Bắc Sơn, Nam Kỳ và Đô Lơng cuối năm 1940, đầu năm 1941 liên tiếp dội về huyện uỷ chỉ đạo, chi bộ xã Nam Trung đã vận động nhân dân và các đòan thể tích cực hởng ứng và ủng hộ, chi bộ đã vận động quần chúng phối hợp với nhân dân làng Quang Thái ( chi bộ Phù Long) cùng nhân dân trong vùng dự cuộc mít tinh tại chợ liễu (Nam Giang) vào sáng ngày 22/1/1941 (tức sáng 25 tháng chạp âm lịch) vì là phiên chợ gần tết cho nên lực lợng dự mít tinh rất đông mà

kẻ địch không phát hiện đợc, các hội viên nông hội cùng tự vệ, thanh niên, học sinh giả làm ngời đi chợ, ngời cầm đòn gánh, ngời cầm ống giang Giữa buổi khi dân tập trung đông nhất thì cuộc mít tinh bắt đầu, một Đảng viên của Hng Nguyên lên diễn thuyết kêu gọi đồng bào hởng ứng và ủng hộ các cuộc khởi nghĩa Tiếp đó kêu gọi nhân dân đoàn kết đấu tranh phản đối các cuộc đàn áp, chính sách tăng thuế của bọn thực dân phong kiến, đả đảo chiến tranh thế giới

Trang 34

do bọn đế quốc gây nên Nhân dân chăm chú lắng nghe và nhiệt liệt hởng ứng các chủ trơng của Đảng Sau cuộc binh biến và khởi nghĩa Đô Lơng ngày 13/1/1941 bọn địch tập trung đánh phá ở tất cả các nơi, trong đó cán bộ đảng viên ở Nam Đàn đến ngày 10/4/1941 đều bị sa lới địch, các chi bộ mất liên lạc và tan rã dần, các đồng chí Nguyễn Duy Tình, Nguyễn Hà Sâm, Trần Đình San đều bị chúng bắt và tù đày ở nhiều nơi, trong đó đồng chí Tình bị chúng đ-

a vào giam tại nhà tù Buôn Ma Thuột Qua nhiều cuộc đàn áp vây bắt và khủng bố bọn thực dân Pháp và phong kiến tay sai phần đông cán bộ Đảng viên của xã Nam Trung và một số xã khác trên địa bàn huyện đều bị bắt và cầm tù số không bị bắt hoặc đã ra tù phần do kém năng lực phần giảm sút ý chí chiến đấu trớc sự thất bại tạm thời của cách mạng nên từ giữa năm1941

Đảng lại bị tổn thất và phong trào cách mạng một lần nữa bị tan rã

Giữa lúc kẻ thù đang ra sức khủng bố phong trào cách mạng Nghệ An thì hội nghị Trung ơng lần thứ 8 vào ngày 10/5/1941 hội nghị đã hoàn thiện việc chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc, đa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết và trớc hết Trên tinh thần đó, dới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn ái Quốc, hội nghị chủ trơng thành lập mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lợng vũ trang chuẩn bị tiến hành tổng khởi nghĩa

Mặt trận Việt Minh ra đời đã thu hút đông đảo nhân dân vào các đoàn thể cứu quốc Tổ chức măt trận Việt Minh các cấp lần lợt ra đời ở nhiều tỉnh, thành phố miền bắc và một số tỉnh miền trung

Riêng ở Nghệ An, do chính sách khủng bố trắng của kẻ thù trong những năm 1930- 1931, 1939- 1940 các tổ chức Đảng từ tỉnh đến huyện lị tổn thất nặng nề, nhiều cán bộ bị cầm tù, bên cạnh nhiều đồng chí vẫn trung kiên với cách mạng, còn có một số không ít dao động, nằm im nên việc phong trào diễn ra rất khó khăn, do vậy việc tiếp thu và triển khai các chủ trơng công tác của Đảng bị chậm trễ, cho nên trong thời điểm này ở Nghệ An từ tỉnh đến cơ

sở cha tổ chức đợc mặt trận Việt Minh

Trang 35

Cuối năm 1944, phát xít Nhật đa hơn một vạn quân vào chiếm đóng tại Nghệ An, chúng đóng tập trung ở Vinh- Bến Thuỷ và những nơi xung yếu khác trong đó Nam Đàn cũng bị chúng chiếm đóng, ở cầu Yên Xuân cũng có một đơn vị canh giữ chúng thực hiện chính sách bóc lột tàn bạo đối với nhân dân Nghệ An nói chung và nhân dân Nam Đàn nói riêng hết sức thậm tệ Trớc tình hình nh vậy Đảng ta đã dự đoán trớc đợc diễn biến của tình hình nên ngày 7/5/1944 tổng bộ Việt minh đã ra chỉ thị: Sửa soạn khởi nghĩa",“ nhấn mạnh phải đẩy mạnh cao trào cứu nớc, đa quần chúng từ đấu tranh, dành quyền sống hàng ngày nh chống trng thu, trng mua thóc gạo chống phá màu trồng đay, chống tăng thuế.v.v Tiến lên đấu tranh giành chính quyền, mau chóng tổ chức các đoàn thể cứu quốc khắp các đoàn xã, đẩy mạnh tổ chức đội tự vệ đỏ.

Giữa năm 1944 đồng chí Nguyễn Hữu Thái đã liên lạc đợc với đồng chí Trần Văn Quang (phái viên của tỉnh uỷ cũ) Nghệ An đang ở Nam Đàn bàn kế hoạch xây dựng cơ sở chuẩn bị hậu cứ của tỉnh Dới sự lãnh đạo của đồng chí Trần Văn Quang ngày 10/4/1944 các đồng chí Nguyễn Hữu Thái, Phạm Hữu Chơng, Bùi Danh Toản, Bùi Danh Trứ, Đinh Hữu Liên, Nguyễn Bá Kiệu đã họp tại chùa Viên Quang Đội tự vệ đỏ gồm các đồng chí Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Đình Thuy, Bùi Hữu Lâm, Bùi Trọng Thành đợc giao nhiệm vụ bảo vệ cuộc họp Hội nghị đã bàn kế hoạch phát triển phong trào để kịp thời đáp ứng với tình hình

Thực hiện nghị quyết Hội nghị, công tác chuẩn bị khởi nghĩa đợc đẩy mạnh Theo yêu cầu của đồng chí Trần Văn Quang, các đồng chí Đảng viên trong chi bộ đã giới thiệu 4 thanh niên học sinh tiến bộ là Nguyễn Hữu Hai (Thái Hải), Bùi Danh Châu, Bùi Danh Ba, Nguyễn Quý Vỹ tham gia đội tuyên truyền tự vệ Đồng thời đã tổ chức đợc một đội tự vệ gồm có các đồng chí Nguyễn Hữu Thái, Phạm Hữu Trọng, Đinh Hữu Năm, Vơng Thúc Biếng Do

đồng chí Nguyễn Hữu Thái làm đội trởng

Cuối năm 1944 chính quyền Nam triều đã đề ra chủ trơng mua lơng thực để phục vụ nhu cầu chiến tranh của Nhật, bộ kinh tế đã đặt chỉ trng mua

Trang 36

cho xã Thanh Thuỷ 9 tấn nhng khi thực hiện tri huyện Nam Đàn cấu kết với lý hơng Thanh Thuỷ nâng chỉ tiêu trng mua lên 24 tấn

Nhân dịp thợng th bộ kinh tế Nam triều ra kinh lý Nam Đàn các Đảng viên đã cử ra ba nông dân tích cực là Nguyễn Trọng Triều, Bùi Danh Dật và Nguyễn Hữu Nghiêm làm đơn lên khiếu nại, tri huyện Nam Đàn tự tiện nâng chỉ tiêu trng mua thóc đối với nhân dân Thanh Thuỷ Ba ông đã giả dạng chức sắc của xã ra huyện gặp cấp trên nên đã chuyển đợc tờ trình lên bộ thợng th kinh tế Nhng sau đó về xã đợc biết lý trởng và hơng hào các thôn đang họp để phân bố chỉ tiêu Không để mất cơ hội các đồng chí lãnh đạo đã giao nhiệm vụ cho ông Bùi Danh Dật đến cuộc họp của xã đánh cắp cuốn sổ "cái" phân bố chỉ tiêu trng mua lơng thực của từng thôn với uy tín cá nhân của mình, ông Bùi Danh Dật đã qua mắt đợc các đoàn phu gác cuộc họp của xã lấy cắp đợc cuốn

sổ đó Khi phát hiện đợc cuốn sổ bị mất thì từ lý hơng đến đoàn phu vô cùng hoảng sợ, chúng bủa ngời đi tìm nhng không bắt đợc ông Bùi Danh Dật Cuối cùng chúng phải trình "quan huyện" xử lý "Quan huyện" cho lính vào xã bắt tạm giam ba ông Nguyễn Trọng Triều, Bùi Danh Dật và Nguyễn Hữu Nghiêm

Trong thời gian bị giam giữ tri huyện Nam Đàn đã trực tiếp đánh đập khảo tra các ông rất dã man nhng không khai thác đợc gì Các đồng chí Đảng viên (cũ) đã tổ chức làm đơn gửi lên tỉnh kiện tri huyện Nam Đàn ngoại tội tự tiện nâng chỉ tiêu trng mua thóc của xã Thanh Thuỷ còn phạm tội đánh phạm nhân

Kết quả tri huyện Nam Đàn thua kiện bị cách chức, con ba ông Nguyễn Trọng Triều, Bùi Danh Dật và Nguyễn Hữu Nghiêm đợc trả tự do Thế là phe

"hộ" thắng kiện, nhân dân rất phấn khởi Lúc này ở Nghệ An và Hà Tĩnh các cấp bộ Đảng cha đợc khôi phục, để khắc phục tình trạng đó, một số chính trị phạm ở hai tỉnh đứng đầu là Nguyễn Xuân Linh đã chủ trơng thành lập ban vận động Việt Minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh

Ngày 9/3/1945 Nhật hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dơng Trong lúc này bọn cai ngục hoang mang vì sự "đổi chủ thay thầy" nên một số tù chính trị

Trang 37

trốn thoát khỏi nhà lao Một số đấu tranh đòi trả tự do phát xít Nhật dơng khẩu hiệu " Độc lập" giả hiệu để đánh lừa d luận Chúng tha hết những tù nhân bị Pháp bắt giam.

Nhân dịp này các Đảng viên qua các thời kỳ cách mạng của Đảng ra tù toả về quê nhà tiếp tục làm nhiệm vụ trong giai đoạn mới

Ngày 19/5/1945 đồng chí Nguyễn Xuân Linh (Xuân Lâm) và đồng chí Phan Đình Đồng (Nam Tân) là những Đảng viên hoạt động sôi nổi trong cao trào cách mạng năm 1930- 1931 đã liên kết đợc với các cựu chính trị phạm của hai tỉnh Nghệ An- Hà Tĩnh đang lu trú tại Vinh đã lập ra ban Việt Minh liên tỉnh Nghệ An- Hà Tĩnh Hội nghị đợc tổ chức tại nhà ông Mời Uyển thành phố Vinh, Hội nghị đã quyết định xây dựng :

các cấp bộ Việt Minh ở cơ sở để lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống thủ

đoạn cớp bóc trắng trợn của Nhật và chuẩn bị lực lợng khởi nghĩa giành chính quyền Sau đó đồng chí Phan Đình Đồng về Nam Đàn xây dựng cơ sở Việt Minh huyện, đồng chí đã liên lạc với một số đảng viên, cán bộ của các thời kỳ vừa mới ra tù họp hội nghị để bàn việc vận động thành lập ban vận động Việt Minh huyện vào ngày 25/5/1945 ban Việt Minh huyện đợc thành lập gồm các

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Ban chấp hành Đảng bộ xã Nam Thanh (1998), Lịch sử truyền thống của Đảng bộ và nhân dân Nam Thanh, tập 1 (1930 – 1946), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử truyền thống của "Đảng bộ và nhân dân Nam Thanh
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ xã Nam Thanh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
[2]. Ban chấp hành Đảng bộ – HĐND – UBND – UBMTTQ xã Vân Diên (2001), Lịch sử đảng bộ và nhân dân xã Vân Diên, Nxb. Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộ và nhân dân xã Vân Diên
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ – HĐND – UBND – UBMTTQ xã Vân Diên
Nhà XB: Nxb. Nghệ An
Năm: 2001
[3]. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An (1966), Cách mạng tháng Tám (1939 1945) – , Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng tháng Tám (1939 1945)
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An
Năm: 1966
[4]. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An (1967), Sơ thảo lịch sử tỉnh Đảng bộ Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử tỉnh "Đảng bộ Nghệ An
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An
Năm: 1967
[5]. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh (1987), Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam Tỉnh Nghệ Tĩnh, sơ thảo tập 1 (1925 – 1954), Nxb Nghệ Tĩnh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ "Đảng cộng sản Việt Nam Tỉnh Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh
Năm: 1987
[6]. Ban nghiên cứu lịch sử trung ơng (1967), Tìm hiểu Cách mạng tháng Tám. Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Cách mạng tháng Tám
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử trung ơng
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1967
[7]. Bớc đầu tìm hiểu lịch sử huyện Nam Đàn (1990). Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bớc đầu tìm hiểu lịch sử huyện Nam Đàn
Tác giả: Bớc đầu tìm hiểu lịch sử huyện Nam Đàn
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1990
[8]. Quang Đạm (1991), Lịch sử huyện Nam Đàn. Ban đồng hơng huyện Nam Đàn tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử huyện Nam Đàn
Tác giả: Quang Đạm
Năm: 1991
[10]. Đảng ủy xã Nam Trung (2003), Lịch sử Đảng bộ Nam Trung sơ thảo tập 1 (1930-1945) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Nam Trung sơ thảo tập 1
Tác giả: Đảng ủy xã Nam Trung
Năm: 2003
[11]. Ninh Viết Giao (1998), Nam Đàn quê h – ơng Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Nxb khoa học và xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Đàn quê h"– "ơng Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb khoa học và xã hội
Năm: 1998
[12]. Trần Văn Giàu (1997), Sự phát triển của t tởng Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của t tởng Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[14]. Nghệ Tĩnh hôm qua và hôm nay (1986), Nxb sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ Tĩnh hôm qua và hôm nay
Tác giả: Nghệ Tĩnh hôm qua và hôm nay
Nhà XB: Nxb sự thật
Năm: 1986
[15]. Nhiều tác giả (2000), Nam Đàn xa và nay, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Đàn xa và nay
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
[16]. Phạm Hồng Phong (2003), Lịch sử xã Nam Kim, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử xã Nam Kim
Tác giả: Phạm Hồng Phong
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
[22]. Văn Tạo (1995), Cách mạng tháng Tám một số vấn đề lịch sử – , Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng tháng Tám một số vấn đề lịch sử
Tác giả: Văn Tạo
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 1995
[23]. Nguyễn Thành (1984), Báo chí cách mạng Việt Nam (1925 – 1945), Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí cách mạng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thành
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 1984
[24]. Trần Văn Thức (2003), Quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Nghệ An thời kỳ 1939 1945 – , Luận án tiến sĩ, Viện sử học, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Nghệ An thời kỳ 1939 1945
Tác giả: Trần Văn Thức
Năm: 2003
[25]. Tiểu ban nghiên cứu lịch sử đảng Tỉnh ủy Nghệ An (2000), Xô viết Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xô viết Nghệ Tĩnh
Tác giả: Tiểu ban nghiên cứu lịch sử đảng Tỉnh ủy Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2000
[26]. ủy ban khoa học xã hội Việt Nam (1989), Lịch sử Việt Nam tập 2, Nxb khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam tập 2
Tác giả: ủy ban khoa học xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 1989
[9]. Đảng Cộng Sản Việt Nam Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nam Đàn (1990), Lịch sử huyện Nam Đàn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w