LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực, số liệu được thu thập qua các cuộc khảo sát do nhóm thực hiện dự án “Mức độ hài lòng c
Trang 1L
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực, số liệu được thu thập qua các cuộc khảo sát do nhóm thực hiện dự
án “Mức độ hài lòng của nông dân đối với dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp” Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu này là công trình do tôi thực hiện với
sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Ngọc Lân Các kết quả nghiến cứu này chưa từng công bố trong bất kỳ chương trình nghiên cứu nào
Vinh, ngày 22 tháng 5 năm 2010
Tác giả
Phan Thị Hồng Thơm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài này tôi đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ quý báu từ các thầy giáo, cô giáo Khoa Nông – Lâm – Ngư trường Đại học Vinh, Trung tâm Môi trường và Phát triển, bạn bè, người thân
Xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Ngọc Lân người đã tận tình chỉ dẫn cho tôi hoàn thành đề tài này
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Nông – Lâm – Ngư trường Đại học Vinh đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập
Xin trân trọng cảm ơn Trung tâm Môi trường và Phát triển đã tạo điều kiện cho tôi cùng tham gia thực hiện dự án “Mức độ hài lòng của nông dân đối với dịch
vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp”
Và qua đây tôi cũng xin được chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Vinh, ngày 22 tháng 5 năm 2010
Tác giả
Phan Thị Hồng Thơm
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACSI Chỉ số thỏa mãn khách hàng của Mỹ
CCSI Chỉ số thỏa mãn khách hàng của Trung Quốc
CSI Chỉ số quốc gia về hài lòng khách hàng trên thế giớiDV1 Dịch vụ giống cây trồng nông nghiệp
DV9 Dịch vụ khuyến nông – lâm – ngư
NCSB Chỉ số thỏa mãn khách hàng của Nauy
VCS Chỉ số thỏa mãn khách hàng Việt Nam
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thực tế đã khẳng định nông nghiệp là một trong những hoạt động kinh tế chủ chốt của nước ta Hiện nay, 70% dân số Việt Nam sinh sống dựa vào nông nghiệp Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh, thương mại
và dịch vụ nông nghiệp đặc biệt là xuất khẩu các mặt hàng nông sản đã đem lại giá trị cao cho thu nhập quốc dân Tuy nhiên nông nghiệp, nông thôn Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, thu nhập của người nông dân còn thấp, đời sống của người nông dân vẫn còn chật vật, khó khăn Sự biến động thị trường, lạm phát đã gây ra những hậu quả trong tiến trình phát triển mà đối tượng ảnh hưởng nặng nề nhất là người nông dân Giá cả nhiều loại hàng hoá leo thang, chi phí cho các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như ăn, uống, chữa bệnh, tái sản xuất sức lao động, cho con em học hành đều tăng làm mất cân bằng giá trị đầu vào
và đầu ra trong quá trình sản xuất nông nghiệp
Đổi mới nông nghiệp, phát triển nông thôn là vấn đề cấp thiết đang đặt ra cho nước ta hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực cho phát triển nông nghiệp
có hạn, ngành nông nghiệp nước ta đang đuối sức trong cuộc cạnh tranh toàn cầu [1] Trước thực tế khách quan đó, để tăng lực cho cộng đồng nghề nông thì việc chính yếu cần làm là cải thiện dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để cải thiện, đem lại sự hài lòng cho người nông dân khi sử dụng dịch vụ nông nghiệp và đáp ứng được nhu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả, sản xuất hàng hoá ?
Để làm được điều này thì nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý cũng như doanh nghiệp nhà nước và tư nhân cần biết được mức độ hài lòng, nguyện vọng,
đề xuất của người dân đối với các dịch vụ nông nghiệp Nhất là ở những nơi cung ứng dịch vụ không hiệu quả thì người dân có thể thông báo cho các cấp chính quyền về vấn đề này và thúc ép họ phải cải tiến Do đó, các cơ quan công quyền buộc phải có trách nhiệm hơn trong việc lắng nghe tiếng nói của người dân và phản hồi kịp thời, đầy đủ trước các yêu cầu đó Điều này lại càng trở nên cấp
Trang 8thiết hơn đối với các đồng bào dân tộc vùng cao, vùng xa ít được tiếp cận dịch vụ thuỷ lợi, tín dụng, dịch vụ vật tư nông nghiệp, phương tiện thông tin, và cực kỳ khó khăn trong việc xâm nhập thị trường Lợi ích đầy đủ của tăng trưởng kinh tế vẫn chưa đến được tới vùng này Xa xôi địa lý, cách trở ngôn ngữ, văn hoá là những rào cản chính.
Xã Châu Hạnh và xã Châu Tiến huyện Quỳ Châu thuộc vùng cao tỉnh Nghệ
An, là nơi có các đồng bào dân tộc Thái, Kinh sinh sống Xã Châu Hạnh là trung tâm tiểu thủ công nghiệp vừa và nhỏ, các loại dịch vụ thương mại của huyện Quỳ Châu Phát triển nghề truyền thống làm hương trầm, các dịch vụ chế biến nông - lâm sản, buôn bán hàng dịch vụ tổng hợp giải quyết đầu vào, đầu ra cho bà con các vùng sâu, vùng xa Đặc điểm nổi bật của xã Châu Tiến là vùng trọng điểm lúa của huyện áp dụng các biện pháp khoa học – kỹ thuật vào sản xuất nhằm ổn định nguồn lương thực tại chỗ, làm “bàn đạp” cho phát triển kinh tế rừng, phát triển du lịch văn hoá, sinh thái trên toàn huyện
Xuất phát từ thực tế cấp thiết đó, được sự phân công của tổ Bộ môn Khuyến Nông &PTNT Khoa Nông Lâm Ngư Trường Đại học Vinh và được sự đồng ý của Trung tâm Môi trường và Phát triển (CED), dự án “Mức độ hài lòng của người nông dân đối với dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp”, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Mức độ hài lòng của người nông dân đối với dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Quỳ Châu tỉnh Nghệ An”.
Nghiên cứu của chúng tôi tập trung đánh giá mức độ hài lòng của người dân ở xã Châu Hạnh và xã Châu Tiến đối với dịch vụ công phục sản xuất nông nghiệp giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ và người nông dân hiểu rõ nhu cầu của nhau, tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ công để phát triển nông nghiệp nông thôn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 92.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở dẫn liệu khoa học đánh giá mức độ hài lòng của người dân xã Châu Hạnh và xã Châu Tiến đối với dịch vụ nông nghiệp nhằm phát hiện và đưa ra các giải pháp để các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ quan tâm đến hiệu quả dịch vụ và trở nên thân thiện, thoả mãn nhu cầu của người nông dân trên địa bàn nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Cung cấp dẫn liệu khoa học và thực tiễn về mức độ hài lòng của nông dân đối với dịch vụ nông nghiệp cho các cơ quan công quyền, tổ chức cá nhân thuộc lĩnh vực nông nghiệp địa phương
- Phản ánh thực trạng hoạt động và nhận thức của người dân về các dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
- Bổ sung dẫn liệu trong công cuộc đổi mới dịch vụ công ở Việt Nam, đặc biệt là cải cách dịch vụ công trong lĩnh vực nông nghiệp
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trang 101.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Chỉ số hài lòng
Chỉ số hài lòng là một công cụ lấy ý kiến phản hồi của người dân, tạo điều kiện nâng cao khả năng tương tác giữa người dân và chính quyền, người dân được nói lên tiếng nói của mình để qua đó các cơ quan và các nhà lãnh đạo đưa ra các định hướng thiết thực
Công cụ chỉ số hài lòng hỗ trợ đắc lực cho việc hoàn thiện dịch vụ công và thoả mãn được nhu cầu của người dân trong nhận xét, đánh giá và đề xuất những nguyện vọng của mình đối với cơ quan cung cấp dịch vụ công
(*) Mô hình lý thuyết chỉ số quốc gia về hài lòng khách hàng trên thế giới
Từ thập kỷ 70 của thế kỉ XX, nhiều nhà nghiên cứu về hành vi khách hàng
ở các nước phát triển đã bắt đầu có những nghiên cứu chuyên sâu về sự thỏa mãn của khách hàng như Oliver (1977), Churchill và Suprenant (1982), Olshavsky (1993) Năm 1989, Fornell và các đồng nghiệp của ông ở Đại học Michigan đã giúp Thụy Điển thiết lập hệ thống đo lường sự thỏa mãn của khách hàng đầu tiên trên thế giới ở cấp độ quốc gia (SCSB - Swedish Customer Satisfaction Barometer) (Fornell, 1992) và đây là cơ sở cho việc thiết lập chỉ số hài lòng khách hàng sau này
Năm 1994, chỉ số thỏa mãn khách hàng của Mỹ cũng được công bố - American Customer Satisfaction Index (ACSI) (Fornell, 1996) Mô hình ACSI được công bố đã đánh dấu bước phát triển của hệ thống CSI khi giới thiệu các biến
số nguyên nhân của sự thỏa mãn khách hàng, đó là sự mong đợi, chất lượng cảm nhận và giá trị cảm nhận của khách hàng Kết quả của việc nghiên cứu sự hài lòng khách hàng chính là việc phát hiện lòng trung thành hoặc những phàn nàn của họ đối với sản phẩm nhằm hoạch định những chiến lược thích hợp
Cho đến nay, đã có 10 quốc gia công bố về mô hình CSI của quốc gia mình,
đó là Thụy Điển - Swedish Customer Satisfaction Barometer (SCSB) (năm 1989), Đức - German Barometer (năm 1992), Mỹ - American Customer Satisfaction Index (ACSI) (năm 1994), Nauy - Norwegian Customer Satisfaction Barometer
Trang 11(NCSB), Thụy Sĩ - Swiss Index of Customer Satisfaction (SWICS), Hàn Quốc - Korean Customer Satisfaction Index (KCSI), New Zealand và Đài Loan (năm 1996), Trung Quốc - China Customer Satisfaction Index (CCSI) và Malaysia-Malaysian Customer Satisfaction Index (MCSI) (năm 1999) Riêng mô hình ECSI
đã triển khai đồng loạt tại 12 quốc gia thành viên EU vào năm 1999
ACSI - Mô hình Chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ được phát triển dựa trên mô hình của Thụy Sĩ ACSI được phát triển bởi Claus Fornell (Fornell và cộng sự, 1996) thuộc trung tâm nghiên cứu chất lượng quốc gia thuộc Đại học Michigan như một chỉ số thông dụng và một phương thức đo lường sự thỏa mãn của khách hàng với hàng loạt nhãn hiệu mang lại lợi ích cho khách hàng ACSI đo lường được trong 10 lĩnh vực kinh tế, ở 41 ngành Trong mô hình chỉ số hài lòng của Mỹ (ACSI), giá trị cảm nhận chịu tác động bởi chất lượng cảm nhận và sự mong đợi của khách hàng, khi đó, sự mong đợi của khách hàng có tác động trực tiếp đến chất lượng cảm nhận (hình 1.1)
Hình 1.1 Mô hình chỉ số quốc gia về hài lòng khách hàng của Mỹ - ACSI
ECSI (European Customer Satisfaction Index) - Mô hình chỉ số thỏa mãn khách hàng của các quốc gia Châu Âu được xây dựng dựa trên các chương trình của một số nước trong khu vực EU và quốc gia sáng lập nên chương trình này là Thụy Điển Mô hình ECSI có một số khác biệt nhất định so với mô hình của Mỹ, ở chỗ hình ảnh của sản phẩm, thương hiệu có tác động trực tiếp đến sự mong đợi của khách hàng và sự hài lòng của khách hàng là sự tác động tổng hòa của bốn nhân tố hình ảnh, giá trị cảm nhận, chất lượng cảm nhận về cả sản phẩm hữu hình
và vô hình (hình 1.2)
Trang 13Chỉ số hài lòng khách hàng của Malaysia về bản chất được sử dụng như một phương thức chuẩn cho mọi ngành, hoàn toàn không tồn tại trọng số cho bất
cứ ngành hay lĩnh vực nào MCSI cung cấp những thông tin có tính chiến lược về
sự thỏa mãn khách hàng và đánh giá cả về chất lượng dịch vụ
Hình 1.4 Mô hình chỉ số quốc gia về hài lòng khách hàng của Malaysia - MCSI
Mô hình CityU-HKCSI đã được công bố năm 1997 bởi Uỷ ban Quản lý khoa học của Hồng Kông, với mục đích đo lường các cấp độ thỏa mãn của người tiêu dùng về các hàng hoá được tiêu thụ trong nước (hàng nội địa) Hiện nay, các
dữ liệu và phương pháp ứng dụng của CityU-HKCSI đã được giảng dạy và nghiên cứu phổ biến tại Uỷ ban Quản lý khoa học của Hồng Kông (hình 1.5)
Hình 1.5 Mô hình chỉ số quốc gia về hài lòng khách hàng của Hồng Kông
(*) Mô hình lý thuyết chỉ số quốc gia về hài lòng khách hàng của Việt Nam
Theo Lê Văn Huy, Nguyễn Thị Hà My (2004), Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng, xây dựng mô hình lý thuyết và phương pháp đo lường chỉ số
Trang 14khách hàng ở Việt Nam Theo kinh nghiệm của các mô hình thành công đã có (như ACSI, ECSI, NSCB, SWICS, CCSI, MCSI ) thì CSI là một mô hình bao gồm các biến số nguyên nhân - kết quả: hình ảnh nhãn hiệu, chất lượng mong đợi, chất lượng cảm nhận, giá trị cảm nhận, sự thỏa mãn của khách hàng và lòng trung thành Sự thỏa mãn của khách hàng (CS) được đặt trong mối tương quan giữa biến nguyên nhân và kết quả của mô hình.
Mô hình lý thuyết chỉ số quốc gia về hài lòng khách hàng của Việt Nam (Vietnam Customer Satisfaction Index - VCSI) Mô hình VCSI có bảy biến số Các biến số nguyên nhân của mô hình gồm (1) hình ảnh thương hiệu, (2) chất lượng mong đợi, (3) chất lượng cảm nhận, (4) giá trị cảm nhận; yếu tố trung tâm là (5) sự thỏa mãn của khách hàng và biến số kết quả của mô hình sẽ là (6) sự phàn nàn và (7) lòng trung thành của khách hàng Mô hình lý thuyết VCSI được thiết lập như sau (hình 1.6)
Hình 1.6 Mô hình lý thuyết chỉ số quốc gia về hài lòng khách hàng của Việt Nam - VCSI
1.1.2 Phương pháp đo lường chỉ số hài lòng
1.1.2.1 Hài lòng và các nhân tố quyết định sự hài lòng của người tiêu dùng
Hài lòng là phản ứng của người tiêu dùng khi được đáp ứng mong muốn
(Oliver, 1997), là phản ứng của khách hàng về sự khác biệt giữa mong muốn
và mức độ cảm nhận sau khi sử dụng sản phẩm/dịch vụ (Tse và Wilton, 1988) Như vậy, hài lòng là hàm của sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng (Kotler, 2001) Parasuraman và cộng sự (1993), cho rằng giữa chất lượng dịch
vụ và sự hài lòng khách hàng tồn tại một số khác biệt, điểm khác biệt cơ bản là
Trang 15vấn đề “nhân quả” Còn Zeithalm & Bitner (2000) thì cho rằng sự hài lòng của khách hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, giá cả, yếu tố tình huống, yếu tố cá nhân
Bộ thang đo SERVQUAL nhằm đo lường sự cảm nhận về dịch vụ thông qua năm thành phần chất lượng dịch vụ, bao gồm:
1 Tin cậy (reliability): thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng hạn ngay lần đầu
2 Đáp ứng (responsiveness): thể hiện sự sẵn lòng của nhân viên phục vụ nhằm cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng
3 Năng lực phục vụ (assurance): thể hiện trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng
4 Đồng cảm (empathy): thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng
5 Phương tiện hữu hình (tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị để thực hiện dịch vụ
Theo Võ Khánh Toàn (MBA-12), Chất lượng dịch vụ, giá cả và sự hài lòng của khách hàng, chỉ rõ mối quan hệ đồng biến, cụ thể:
H 1 Khi mức độ đáp ứng được khách hàng đánh giá tăng hoặc giảm thì
mức độ hài lòng của khách hàng sẽ tăng hoặc giảm tương ứng
H 2 Khi năng lực phục vụ được khách hàng đánh giá tăng hoặc giảm thì
mức độ hài lòng của khách hàng sẽ tăng hoặc giảm tương ứng
H 3 Khi mức độ tin cậy được khách hàng đánh giá tăng hoặc giảm thì mức
độ hài lòng của khách hàng sẽ tăng hoặc giảm tương ứng
H 4 Khi mức độ đồng cảm được khách hàng đánh giá tăng hoặc giảm thì
mức độ hài lòng của khách hàng sẽ tăng hoặc giảm tương ứng
H5 Khi phương tiện hữu hình được khách hàng đánh giá tăng hoặc giảm
thì mức độ hài lòng của khách hàng sẽ tăng hoặc giảm tương ứng
H 6 Khi giá cả được khách hàng cảm nhận cao hoặc thấp thì mức độ hài
lòng của khách hàng sẽ giảm hoặc tăng tương ứng
Trang 16Hình 1.7 Mô hình chất lượng dịch vụ, giá cả và hài lòng khách hàng
1.1.2.2 Thang đo Likert
Thang đo Likert là một trong những hình thức đo lường được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng Nó bao gồm 5 cấp độ phổ biến từ 1 đến 5,
để tìm hiểu mức độ đánh giá của người trả lời Vì vậy, bảng câu hỏi được thiết kế
từ 1 là “rất không hài lòng” đến 5 là “rất hài lòng”
1.1.2.3 Phương pháp đo lường VCIS
Nghiên cứu định tính sẽ xác định các yếu tố đặc trưng cần phải đo lường (items) trong mỗi biến số, giá trị đo lường cụ thể được trình bày ở bảng sau:
Trang 17Bảng 1.1: Xác định các yếu tố cần đo lường
Các yếu tố thuộc các biến hình ảnh, sự mong đợi, chất lượng cảm nhận, giá trị cảm nhận, sự trung thành (sự than phiền) thường được “lượng hóa” thông qua thang Liket từ 1 đến 5 lựa chọn và biến số sự hài lòng của khách hàng thường sử dụng thang điểm 5
Trang 181.1.2.4 Ý nghĩa của việc đo lường CSI
Hình 1.8 Mô hình hoạch định chiến lược lấy mục tiêu thỏa mãn khách hàng làm
kỳ hoạt động, hoặc lợi ích mà một bên có thể cống hiến cho bên kia, thực chất là
có tính vô hình và dẫn đến việc không sở hữu bất kỳ món gì Việc sản xuất ra nó
có thể hoặc không thể bị ràng buộcvới một sản phẩm vật chất.”
Trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, dịch vụ được hiểu là tổng hợp của các hoạt động cung ứng lao động, khoa học kỹ thuật, vật tư hàng hoá, thông tin thị trường… nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cũng có thể xem nó như những hoạt động trợ giúp nhằm hoàn thiện và khuyếch trương hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.3.2 Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ
• Tính vô hình hay phi vật chất
• Tính không thể phân chia
• Tính không ổn định và khó xác định chất lượng
• Tính không lưu giữ được
Trang 191.1.4 Dịch vụ công
1.1.4.1 Khái niệm
Dịch vụ công (từ tiếng Anh là “public service”) có quan hệ chặt chẽ với phạm trù hàng hóa công cộng Theo ý nghĩa kinh tế học, hàng hóa công cộng
có một số đặc tính cơ bản, như (1) là loại hàng hóa mà khi đã được tạo ra thì khó
có thể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó; ( 2) việc tiêu dùng của người này không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác; (3) và không thể vứt bỏ được, tức là ngay khi không được tiêu dùng thì hàng hóa công cộng vẫn tồn tại Nói một cách giản đơn, thì những hàng hóa nào thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng thuần túy, và những hàng hóa nào không thỏa mãn cả
ba đặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng không thuần túy
Từ góc độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tượng được hưởng hàng hóa công cộng cho rằng đặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động
ấy có thể do nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm
Từ điển Petit Larousse của Pháp xuất bản năm 1992 đã định nghĩa “dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”
Dịch vụ công được hiểu là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của
xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện
Trong điều kiện Việt Nam, dịch vụ công có thể được chia thành 5 lĩnh vực: dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công, dịch vụ công ích, dịch vụ pháp
lý và dịch vụ công phục vụ sản xuất (thuỷ lợi, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, cung cấp giống, thông tin thị trường…)
Trang 201.1.4.2 Hàng hoá và dịch vụ công cốt lõi và mở rộng
Khu vực công cốt lõi bao gồm các dịch vụ (chủ yếu là hàng hoá và dịch vụ công thuần tuý – pure public and services) chính phủ là người duy nhất cung cấp
và người dân bắt buộc nhận khi có nhu cầu về chúng Chính phủ cung cấp các loại dịch vụ trên dựa trên cơ sở pháp lý và nguyên tắc quản lý nhà nước cơ bản Có thể liệt kê một số dịch vụ đó như: pháp luật, an ninh, quốc phòng, các nguồn phúc lợi
xã hội, môi trường và phòng dịch, cấp giấy sở hữu (tài sản, nhà đất), giấy tờ tuỳ thân(hộ chiếu, vía, chứng minh thư), giấy chứng nhận(khai sinh, khai tử, hô thú), đăng ký thành lập(doanh nghiêpj, hiệp hội, tổ chức)…
Khu vực công mở rộng bao gồm các dịch vụ công (chủ yếu là hàng hoá và dịch vụ công không thuần khiết- impure) mà người tham gia cung cấp có thể là nhà nước và nhiều tổ chức khác ( tư nhân, các tổ chức xã hội, cộng đồng) Sự cung cấp các loại dịch vụ này rất linh hoạt, tuỳ thuộc vào nhu cầu người tiêu dùng, không mang tính độc quyền và có thể miễn phí hoặc trả phí Đó là các dịch vụ
như: Y tế, giáo dục, giao thông đô thị, thông tin, cơ sở hạ tầng….[1]
1.1.5 Dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp
1.1.5.1 Khái Niệm
Hiện nay, nước ta đang gia nhập ngày càng sâu và rộng vào WTO, đòi hỏi một nền nông nghiệp đủ mạnh mới có thể “đứng vững” trong cuộc cạnh tranh toàn cầu Do đó, sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả, sản xuất hàng hoá đang được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện rõ trong chính sách Tam Nông Cộng đồng nghề nông đang tiến vào thị trường nông sản thế giới với vai trò
là doanh nghiệp sản xuất, và các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp đang trở nên thiết yếu đối với người nông dân
Trên cơ sở đó, khái niệm dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp ra đời như là một thuật ngữ bao hàm tất cả các dịch vụ không thể thiếu trong quy trình sản xuất nông sản
Trang 211.1.5.2 Các loại hình dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp
(*) Theo quy trình sản xuất nông sản, có thể chia dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp như sau:
• Dịch vụ tiền sản xuất (vốn, vật tư, kỹ thuật…)
• Dịch vụ trong quá trình sản xuất (thuỷ lợi, phòng trừ dịch bệnh…)
• Dịch vụ sau quá trình sản xuất (bảo quản, chế biến, tiêu thụ…)
(*) Dưới góc độ chủ thể tiến hành hoạt động thì dịch vụ công gồm :
• Dịch vụ công khu vực Nhà nước đảm nhiệm thực hiên
• Dịch vụ công khu vực tư nhân thực hiện
1.1.6 Tầm quan trọng của việc đánh giá mức độ hài lòng của nông dân đối với dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp hiện nay
Nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng ở thị trường trong nước
và quốc tế, trong khi đó nghèo đói vẫn còn đang phổ biến ở các vùng nông thôn Do
đó nhu cầu về đổi mới dịch vụ công phục vụ sản xuất ngày càng cấp thiết
Thực tiễn cho thấy, có ba vấn đề chính để thoát nghèo đói khu vực nông thôn và tăng sức cạnh tranh là hệ thống dịch vụ nông nghiệp, vốn, và khoa học công nghệ tiến bộ Đổi mới, cải tiến hoạt động dịch vụ công theo hứng coi trọng chất lượng và hiệu quả sẽ là yếu tố chìa khóa giảm đói nghèo, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội chưa có
sự phân công cao, các cơ quan dịch vụ công thuộc về chính phủ và do chính phủ tổ chức điều hành Một số cơ quan cung cấp dịch vụ công thực hiện nhiệm vụ được giao theo cách thức hành chính cứng nhắc, để dẫn đến nhiễu với dân Sự hoàn thành nhiệm vụ thường được đánh giá bằng các chỉ tiêu: thời gian làm việc, hoàn thành kế hoạch, định mức khối lượng,… mà ít hoặc không quan tâm đến tính hiệu quả và chất lượng công việc, cũng như ít hoặc không quan tâm đến phản ứng của người dân sử dụng Còn một số tổ chức, doanh nghiệp tư nhân, cá nhân cung cấp dịch vụ với mục tiêu lợi nhuận đã không quan tâm đến lợi, hại mà dịch vụ mang lại cho người dân khi sử dung dịch vụ
Trang 22Trong thực tế, hoạt động của các dịch vụ công thường bị dân kêu ca, phàn nàn vì hoạt động kém hiệu quả, kém thiết thực gây nhiều khó khăn cho dân; và người dân cũng không tin tưởng là họ sẽ được lắng nghe, nhận xét đánh giá của mình được tôn trọng Nhất là người nông dân nghèo, đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa thường im lặng chịu thiệt, chưa có thói quen, ý thức nói lên ý kiến phản hồi của mình.
Trên thực tế thường không có sự thấu hiểu và thông cảm giữa hai bên: người sử dụng dịch vụ và người cung cấp dịch vụ
Do đó, khảo sát mức độ hài lòng của nông dân đối với dịch vụ công phục
vụ sản xuất nông nghiệp nhằm thu thập ý kiến, đánh giá, nguyện vọng, của người nông dân, đảm bảo xem nông dân có hài lòng về chất lượng dịch vụ được cung cấp, là tiền đề cho sự thấu hiểu và đáp ứng được nhu cầu của nhau giữa hai bên: người sử dụng dịch vụ và người cung cấp dịch vụ
1.2 Cơ sở thực tiễn
Đánh giá mức độ hài lòng của nông dân đối với dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp là một chủ đề mới, cho đến hiện nay chưa có một công trình khoa học nào công bố kết quả trong lĩnh vực này Tuy nhiên, trên thế giới và ở Viêt Nam đã có những nghiên cứu, khảo sát chỉ số hài lòng của người dân đối với dịch vụ công thành công đã là cơ sở để thực hiện đề tài này
1.2.1 Một số nghiên cứu, đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ công trên thế giới
Ra đời cách đây không lâu tại bangBangalore ở Ấn Độ và xếp hạng mức
độ hài lòng của người dân về các cơ quan dịch vụ công (xử lý nước, năng lượng, dịch vụ đô thị, vận tải, nhà ở, điện thoại, ngân hàng và các bệnh viện chỉ số hài lòng ( RC) đã trở thành một công cụ có khả năng hỗ trợ đắc lực cho việc hoàn thiện các dịch vụ công và thỏa mãn được nhu cầu của người dân trong việc nhận xét, đánh giá và đề đạt những nguyện vọng của mình đối với các cơ quan thực hiện dịch vụ
RC chính thức áp dụng lần đầu vào năm 1993 tại thành phố Bangalore của
Ân Độ do một tổ chức xã hội thực hiện Lúc đầu không được quan tâm, sau một
Trang 23thời gian mãi đến năm 1999, RC mới được các cấp chính quyền, nhiều cơ quan, tổ chức chấp nhận và áp dụng rộng rãi cho một số thành phố lớn tại Ân Độ Hiện nay
RC đang là đối tượng nghiên cứu của một số tổ chức quốc tế và các cơ quan, viện nghiên cứu về quản lý RC cũng đã được một số nước học tập và áp dụng như Bangladesh, Philippines, Ukraine, Uganda
RC giống như việc thăm dò dư luận Chỉ khác là RC không thăm dò ý kiến của người dân về một dịch vụ công và cơ quan thực hiện mà RC thăm dò về kinh nghiệm của những người đã sử dụng dịch vụ công và yêu cầu đánh giá mức độ hài lòng của họ về cơ quan thực hiện dịch vụ công đó RC lượng hóa chất lượng các dịch vụ công qua hình thức tổng hợp, đánh giá chất lượng bởi người dân Việc thực hiện RC được tổ chức một cách khoa học theo các phương pháp thăm
dò tiên tiến, từ khâu lựa chọn những vấn đề sẽ khảo sát đến chọn mẫu, xác định đối tượng, tiến hành điều tra, tổng hợp và phân tích Kết quả sau cùng của RC sẽ là những báo cáo chi tiết; phần đưa ra công khai rất ngắn gọn và chỉ nêu dịch vụ hay
cơ quan dịch vụ nào được người dân hài lòng nhất, cũng như dịch vụ, hay cơ quan dịch vụ nào mà người dân không hài lòng; xếp hạng các cơ quan theo mức độ hài lòng của người dân; so sánh, xếp hạng các dịch vụ giữa các thành phố với nhau và giữa các thời kỳ khác nhau
Việc công bố xếp hạng rất ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ làm cho các xếp hạng
từ RC được nhắc đến thường xuyên và trở thành một đánh giá chuẩn mang giá trị khoa học, tổng hợp đối với các cơ quan thực hiện dịch vụ công Phần còn lại của báo cáo là đi sâu phân tích rất chi tiết các đánh giá của người dân, qua đó cho thấy đơn vị thực hiện dịch vụ đã làm tốt và không tốt ở khâu nào; nơi nào có hiện tượng nhũng nhiễu, tham ô; cũng như tổng hợp những kiến nghị và đề đạt nguyện vọng
cụ thể Phần này được cung cấp cho chính các cơ quan thực hiện dịch vụ để họ tìm ra những vấn đề của mình
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, từ năm 2003, Ngân hàng Thế giới (WB) và Cơ quan Hợp tác phát triển Thụy Sĩ (SDC) đã giới thiệu RC cho một số địa phương, và với sự đồng
ý của các cấp chính quyền đã thử nghiệm áp dụng RC vào một số tỉnh, thành phố
Trang 24lớn Bước đầu bốn thành phố đã thực hiện khảo sát RC là TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng và Nam Định Các cuộc khảo sát có qui mô khá lớn đã được tiến hành nhằm vào các lĩnh vực giáo dục, y tế, thu gom rác, công chứng, đăng ký nhân hộ khẩu, cấp giấy phép xây dựng và giấy tờ nhà đất Kết quả khảo sát đã được tổng hợp và đang tiến hành tìm kiếm những phương pháp thích hợp để công bố kết quả.
1.2.2.1 Tại thành phố Hồ Chí Minh
Với ý nghĩa thiết thực như trên, được sự chỉ đạo của Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân Thành phố, Viện Kinh tế TP đã phối hợp với Cục Thống Kê TP
và Ban chỉ đạo cải cách hành chính TP xây dựng đề án “Khảo sát chỉ số hài lòng của người dân về chất lượng dịch vụ công năm 2006” và tiến hành đợi khảo sát lấy
ý kiến các hộ dân Đợt khảo sát tiến hành từ tháng 9/2006, đến nay đã hoàn tất, Viện Kinh tế Thành phố xin báo cáo kết quả “khảo sát chỉ số hài lòng của người dân về chất lượng dịch vụ công năm 2006” Báo cáo này sử dụng phương pháp
đánh giá chỉ số hài lòng rất đơn giản nhưng hiệu quả
Phương pháp đánh giá chỉ số hài lòng: Phương pháp đánh giá chỉ số hài lòng được thực hiện qua 2 phương pháp:
1 Tính % mức độ hài lòng của người dân trong tổng số Ví dụ: trong 505 người được hỏi ý kiến hài lòng về chất lượng dịch vụ cấp phép xây dựng có 405 người trả lời ”hài lòng” thì múc độ hài lòng sẽ là 405/505 x 100 = 80,29% Theo cách tính này, mức độ hài lòng được thể hiện bằng %
2 Tính bằng công thức về chỉ số hài lòng với 3 cấp độ được cho điểm, bao gồm:
Trang 25hài lòng của các hộ dân đối với các lọai dịch vụ này vẫn ở mức cao hơn Điều này cho thấy sự quan tâm của chính quyền thành phố trong việc tập trung cải cách hành chính cho các loại hình dịch vụ hành chính công trong thời gian qua là đúng
hướng Qua ý kiến phản ánh của các hộ dân trong đợt khảo sát cho thấy người dân nhìn nhận sự nỗ lực cũng như kết quả của cải cách hành chính mang lại trong 2-3 năm qua
Báo cáo này mới chỉ đưa ra được tỉ lệ phần trăm về mức độ hài lòng mà chưa nói được mối tương quan giữa các biến nguyên nhân chặt chẽ ra sao? Và ảnh hưởng như thế nào đố với đánh giá mức độ mức độ hài lòng
31/2007/QĐ-cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ cung ứng dịch vụ hành chính công và công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp, các ngành Đồng thời, kết quả khảo sát được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng (cơ quan báo đài, các trang thông tin điện tử ) để tổ chức, công dân tham gia phản hồi, kiến nghị
Trang 26Chương 2.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà đề tài tập trung nghiên cứu là người nông dân vùng cao với vai trò là khách hàng sử dụng các dịch vụ công phục vụ nông nghiệp
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá mức độ hài lòng của người dân xã Châu Hạnh và xã Châu Tiến đối với các dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp Trong khuôn khổ đề tài, tôi tiến hành đánh giá các dịch vụ sau: (1) Dịch vụ cấp giống cây trồng nông nghiệp,(2) Dịch vụ cấp phân bón,(3) Dịch vụ cấp thuốc bảo vệ thực vật, (4) Dịch
vụ thuỷ lợi, (5) Dịch vụ cấp giống vật nuôi, (6) Dịch vụ cấp thức ăn chăn nuôi , (7) Dịch vụ thú y, (8) Dịch vụ giống cây lâm nghiệp, (9) Dịch vụ khuyến nông, (10) Dịch vụ thu mua nông sản, (11) Dịch vụ tín dụng, (12) Dịch vụ thủ tục hành chính liên quan đến nông nghiệp
- Phân tích, tổng hợp số liệu nhằm đưa ra giải pháp phù hợp trong việc nâng cao hiệu quả dịch vụ công để phát triển nông nghiệp, nông thôn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nguồn số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo thống kê định kỳ, báo cáo tổng kết hàng năm của Phòng Thống kê huyện và UBNN huyện Quỳ Châu;
Trang 27Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn 300 hộ thuộc 2 xã Châu Hạnh và xã Châu Tiến.
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống.
a) Khung mẫu là danh sách các hộ nông dân của 2 xã Châu Hạnh và xã Châu Tiến được tập hợp từ các trưởng bản
b) Kỹ thuật chọn mẫu
Tổng số hộ dân của 2 xã là 2999, trong đó số hộ dân xã Châu Hạnh là 1990,
số hộ dân xã Châu Tiến là 1009
Với mức độ tin cậy là 99,7 %, sai số không vượt quá 10 %
Áp dụng công thức:
Cho kết quả dung lượng mẫu là: n = 209
Căn cứ vào dung lượng mẫu n và kích thước tổng thể N, áp dụng công thức
Trang 28(ii) Thảo luận nhóm, mỗi nhóm gồm 10 người, mỗi xã có 3 nhóm có tính đại diện cho đặc điểm dân cư của xã.
(iii) Phỏng vấn sâu, mỗi xã 30 người được chọn từ các phiếu trả lời chất lượng nhất, có tính đại diện nhất
2.3.5 Phương pháp chuyên gia khuyên bảo
Là phương pháp tham vấn ý kiến thầy cô, cán bộ am hiểu về lĩnh vực đang nghiên cứu và các tác nhân cung ứng dịch vụ công phục vụ nông nghiệp địa ở địa phương
Phương pháp này được tiến hành trước và sau khi thu thập thông tin từ người nông dân Nhằm mục đích để có thêm hiểu biết về lĩnh vực và địa bàn nghiên cứu; khẳng định lại chất lượng thông tin đã thu được từ phỏng vấn dân; xin
ý kiến, giải pháp cho những tồn tại trong việc cung ứng và sử dụng dịch vụ nông nghiệp ở địa phương
2.3.6 Phương pháp đo lường chỉ số hài lòng
Là việc áp dụng các mô hình lý thuyết, thang đo chỉ số hài lòng đối với các dịch vụ công phục vụ sản xuất nông nghiệp địa phương
Phương pháp này sử dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu Nhằm xác định đúng các yếu tố quyết định sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công trong một lĩnh vực có tính đặc thù là sản xuất nông nghiệp Qua việc áp dụng phương pháp này giúp cho đề tài đi hướng đúng mục tiêu đã đặt ra Chỉ số hài lòng được tính theo giá trị trung bình của mức thang 5 điểm
2.3.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
2.3.7.1 Phương pháp định tính
Là phương pháp tiếp cận nhằm mô tả và phân tích đặc điểm sản xuất và kinh doanh của hộ điều tra Phân tích định tính, cung cấp thông tin toàn diện về đặc điểm kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu Phương pháp này được áp dụng để giải thích, phân tích những yếu tố liên quan tới vấn đề nghiên cứu dựa trên các yếu tố không thể đo lường được về định lượng Ví dụ chất lượng sản phẩm là tốt, trung bình, kém
Trang 29Phương pháp phân tích nhóm mong muốn, đề xuất của nông dân được áp dụng phương pháp định tính.
Kết hợp hai phương pháp định tính và định lượng
2.3.7.2 Phương pháp định lượng
Số liệu được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel, GenStat
Thông qua mô tả, giải thích cho kết quả định tính
2.4 Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế xã hội huyện Quỳ Châu
2.4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên
Huyện Quỳ Châu nằm ở phía Tây Bắc Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 160 km theo quốc lộ 48 Với toạ độ địa lý là 19006’ đến 19047’ vĩ độ Bắc;
1040542’ đến 105019’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Quế Phong và tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp huyện Quỳ Hợp và huyện Con Cuông, phía Đông giáp huyện Nghĩa Đàn và tỉnh Thanh Hoá, Phía Tây giáp huyện Quế Phong và huyện Tương Dương
2.4.2 Địa hình
Quỳ Châu là huyện có địa hình tương đối hiểm trở, nhiều núi cao bao bọc tạo nên những thung lũng nhỏ và hẹp nằm trong địa bàn các đới kiến tạo: Đới nâng Phù Hoạt, phù nếp lõm sông Hiếu, nên địa hình có nhiều nếp lượn sóng theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ Tây Nam xuống Đông Nam
Địa hình được phân thành các dạng như sau:
- Dạng địa hình thung lũng bằng phẳng phân bố ở các bãi bồi dọc theo các sông suối chiếm 1,1 % diện tích tự nhiên
- Dạng địa hình đồi phân bố chủ yếu dọc theo quốc lộ 48 và ở triền núi, phần lớn là đồi lượn sóng có độ cao 170-200m, chiếm khoảng 20,45 diện tích tự nhiên của huyện
- Dạng địa hình núi chiếm 78,5% diện tích tự nhiên, phần lớn là núi thấp từ 170-740m (chiếm 21,5%), núi trung bình từ 750-1.700m (chiếm 60,8%), núi cao trên 1.700m (chiếm 17,7%)
Nhìn chung, địa hình Quỳ Châu chủ yếu là núi cao, độ dốc tương đối lớn Các dòng sông hẹp và dốc gây khó khăn cho phát triển vận tải đường sông và hạn
Trang 30chế khả năng điều hoà nguồn nước mặt trong các mùa phục vụ cho canh tác nông nghiệp Tuy nhiên, hệ thống sông ngòi có độ dốc lớn, với nhiều thác lớn nhỏ là tiềm năng rất lớn cần được khai thác để phát triển thuỷ điện.
Chế độ mưa
Là huyện có lượng mưa trung bình so với các huyện khác ở vùng miền núi Tây Bắc Lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 800-1200 mm/năm, chia làm hai mùa rõ rệt:
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa 212,7 mm chỉ chiếm 12-15% lượng mưa cả năm
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa 1.453,8 mm chiếm 85-90% lượng mưa cả năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, tháng 9 có lượng mưa thừ 220-540mm/tháng, mùa này thường kèm theo gió bão
Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí có sự chênh lệch giữa các tiểu vùng theo mùa Độ ẩm không khí trung bình năm dao động 85-90% Chênh lệch giữa độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng cao nhất cao từ 2-5%, vùng có độ ẩm cao nhất là phía Bắc, vùng có độ ẩm thấp nhất là phía Tây của huyện Lượng bốc hơi bình quân hàng năm từ 300-400 mm
Chế độ gió
Trang 31Nằm trong vùng chịu ảnh hưởng một phần gió tây nam từ tháng 4 đến tháng
8, gây ra khô nóng một số khu vực trong huyện, là huyện có tốc độ gió thấp nhất
so với các huyện trong tỉnh, ít bị ảnh hưởng của bão mà chỉ có lốc xoáy cục bộ
Nhìn chung, thời tiết khí hậu Quỳ Châu tương đối ôn hoà, nhiệt lượng ánh sáng dồi dào, thường có lũ ở các sông suối, không bị úng , nước rút nhanh, nhờ độ che phủ lớn nên lượng bốc hơi thấp, độ ẩm cao hơn các vùng khác trong tỉnh Điệu kiện khí hậu như trên thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi, nhưng đồng thời cũng là môi trường dễ phát sinh sâu bệnh, gây hại cho sản xuất Nếu không duy trì và phát triển thảm thực vật thì các yếu tố thuận lợi về khí hậu sẽ bị suy giảm nhanh chóng
2.4.4 Thuỷ văn và nguồn nước
Quỳ Châu có mạng lưới sông suối với mật độ 5-7 km/km2 Các sông suối lớn nhỏ đều có nguồn nước dồi dào, thế năng lớn, đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất và dân sinh Quỳ Châu có 2 con sông lớn là sông Hiếu và sông Hạt
Sông Hiếu bắt nguồn từ Quế Phong, diện tích lưu vực đoạn qua huyện 2.470 km2, tổng lượng nước 1,51 tỷ m3
Sông Hạt là nhánh sông lớn của sông Hiếu, bắt nguồn từ các dãy núi cao của huyện Thường Xuân (Thanh Hoá), đổ vào sông Hiếu tại Châu Tiến, dài 60 km, diện tích lưu vực 110 km2, lưu lượng 8,7 m3 Sông Hạt có tầm quan trọng là cung cấp nước tưới cho vùng lúa trọng điểm của huyện
Ngoài ra còn có hàng chục sông nhỏ, khe suối trong mạng lưới của sông Hiếu như Nậm Cướm, Nậm Cam, Nậm Chai tạo thành hệ thống cấp nước tự nhiên cho sản xuất và sinh hoạt cư dân, nhất là các bản vùng cao
Tổng nguồn nước mặt khoảng 1,7 tỷ m3
Sông suối ở đây nhiều thác ghềnh nên khả năng vận chuyển đường thuỷ về mùa khô rất hạn chế
Nguồn nước ngậm của huyện mới được điều tra sơ bộ song được đánh giá
là khá phong phú, khả năng nước ngầm ở các vùng trên địa bàn cơ bản đều đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt
2.4.5 Đất đai
Trang 32Quỳ Châu có diện tích tự nhiên 105.765,63 ha Trừ diện tích sông suối, núi
đá còn 2.064,95 ha, quỹ đất còn lại 103.700,86 ha
* Thổ nhưỡng: Trên diện tích 102.128 ha được điều tra thổ nhưỡng, Quỳ Châu
có 5 nhóm đất sau đây:
- Đất phù sa được bồi đắp hàng năm 250 ha
- Đất lúa vùng đồi núi 1.464 ha, trong đó đất feralit biến đổi do trồng lúa nước 82 ha; đất dốc tụ 102 ha; đất phù sa suối ngòi 1.280 ha
- Đất feralit đỏ vàng vùng đồi 27.684 ha, trong đó đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá vôi 3.605 ha; đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá biến chất 2.583 ha; đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét 2.217 ha
- Đất feralit đỏ vàng vùng núi thấp 58.738 ha, trong đó đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá biến chất 18.779 ha; đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét 5.540 ha; đất feralit vàng xám phát triển trên đá cát kết 20.046 ha; đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá macma axit 14.373 ha
- Đất feralit mùn vàng trên núi 13.992 ha
* Tính chất, đặc điểm của một số loại đất chính
- Đất đỏ vàng phát triển trên đá axit
Diện tích khoảng 14.373 ha, phần lớn đất đỏ vàng trên đá axit có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dinh dưỡng, bị xói mòn rửa trôi mạnh, độ chua lớn (PH < 4), ít có ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp
- Đất feralit đỏ vàng vùng đồi núi cao và vùng núi thấp Loại đất này chiếm phần lớn diện tích thổ nhưỡng Tuy có độ phì cao song khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp bị hạn chế do tập trung ở núi cao, địa hình dốc và bị chia cắt mạnh Đây là nơi thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp
Tóm lại, các loại đất ở Quỳ Châu được hình thành và phân bố trên nền địa hình phức tạp, hơn 74% diện tích là đồi núi, trong đó nhiều nơi có độ dốc lớn Chiếm diện tích chủ yếu là nhóm đất địa thành, loại đất này phù hợp với việc phát triển các loại cây trồng sau: vùng núi cao phát triển cây lâm nghiệp, cây đặc sản, cây dược liệu và nông lâm kết hợp; vùng núi thấp là địa bàn chính để phát triển
Trang 33cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả; quỹ đất này để phát triển lâm nghiệp, cây ăn quả còn rất lớn, đây là một tiềm năng lớn cần được khai thác
Rừng đựơc phân bố thành các giải rừng lớn
+ Dải rừng phía Đông Bắc
+ Dải rừng Tây Nam
+ Dải rừng thuộc trung tâm huyện
Về trữ lượng, rừng Quỳ Châu vẫn còn là nguồn nguyên liệu khá lớn cho khai thác lâm nghiệp và phát triển các ngành công nghiệp dựa trên tài nguyên rừng Trữ lượng gỗ hiện còn khoảng 4,1 triệu m3, trữ lượng tre, nứa,mét có khoảng trên 170 triệu cây
2.4.7 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.4.7.1 Dân số
Dân số của huyện tăng bình quân 0,53%/năm trong cả thời kì 2001-2010 (trong đó giai đoạn 2001-2005 tăng 1,23%) Mức tăng này cao hơn so với mức tăng bình quân của cả tỉnh (0,87%) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện có xu hướng giảm đi trong những năm gần đây Tổng dân số huyện Quỳ Châu tính đến 12/2008 là 51.592 người, xếp thứ 18 trong 20 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh
Tỷ lệ nam nữ của huyện không biến động nhiều trong những năm qua và dân số nữ thường cao hơn nam, tuy nhiên mức chênh lệch không cao, năm 2008 dân số nam chiếm 49,8% và nữ chiếm 50,2%
Trang 34Dân số nông thôn chiếm trên 95% dân số, tỷ lệ này tương đối cao so với số trung bình của tỉnh (75,4% dân số nông thôn và 24,65 dân số thành thị)
Cơ cấu dân số phi nông nghiệp cao hơn hẳn so với dân thành thị (gần gấp 3 lần về cơ cấu), điều này chứng tỏ mặc dù tốc độ đô thị hoá của huyện tuy còn chậm nhưng tiềm ẩn sẽ tăng nhanh trong giai đoạn tiếp theo
Quỳ châu có 2 dân tộc cùng sinh sống là Thái và Kinh năm 2008 người Thái có 43.485 người (chiếm 84,3%) dân tộc Kinh 8.107 người (chiếm 15,7%) Dân cư phân bố không đồng đều, ở các xã vùng miền núi cao dân cư thưa thớt, trong khi đó ở thị trấn và một số xã gần thị trấn mật độ dân cư cao hơn nhiều Mật độ dân cư toàn huyện 2008 là 51,3 người/km2 trong đó cao nhất là Thị Trấn 2.687người/km2, thấp nhất là Diên Lãm 16 người/km2
2.4.7.2 Lao động
Lực lượng lao động làm việc trong các ngành kinh tế huyện ngày càng tăng
và tăng nhanh hơn tốc độ phát triển của lực lượng lao động, điều này chứng tỏ tỷ
lệ thất nghiệp của huyện ngày càng giảm, theo số liệu của huyện thì hàng năm huyện tạo thêm khoảng 400 việc làm mới nên tỷ lệ thất nghiệp của huyện tương đối thấp, khoảng 5-6%
Năm 2008 số lao động đang làm việc là 27.127 người chiếm 82,8% trong
độ tuổi lao động, trong đó lực lượng lao động nông lâm ngư nghiệp tuy có tăng so với các năm trước đó nhưng tỷ trọng trong tổng lao động đang làm việc lại giảm dần từ 79,8% năm 2005 xuống 76,5% vào năm 2008, lao động trong khối phi nông nghiệp tăng lên cả về tỷ trọng lẫn số lượng so với năm 2007, đến năm 2008 là 6.362 người (tăng 1.038 người) và tỷ trọng chiếm 23,5% (tăng 1,5%)
2.4.7.3 Hoạt động sản xuất nông lâm ngư nghiệp
Nông lâm thuỷ sản tuy không phải là ngành tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế, nhưng là một địa phương có trên 95% dân số sống ở nông thôn và cơ cấu kinh tế chiếm trên 50% Sự tăng trưởng của ngành này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội
Nếu tính theo giá cố định năm 1994 thì năm 2008 giá trị sản xuất toàn huyện đạt 110.195 triệu đồng, ước năm 2010 là 120.115 triệu đồng Giai đoạn
Trang 352006 - 2010 bình quân đạt 6,10 % tăng 4,80 % so với giai đoạn 2001-2005 trong
đó thủy sản tăng cao nhất 6.19 %
Giá trị gia tăng (GTGT) ngành nông lâm thuỷ sản có sự tăng trưởng qua các năm, đạt bình quân 3,19%/năm trong cả giai đoạn 2001-2010, trong đó giai đoạn
2001 - 2005 là 1,63%, giai đoạn 2006-2010 là 6,16% trong đó lâm nghiệp tăng mạnh nhất giai đoạn 2006 - 2010 là 6,24%
Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp có xu hướng giảm trong tất cả các giai đoạn, đồng thời các ngành lâm nghiệp và thủy sản lại tăng Điều đó có nghĩa là huyện đã thành công trong việc tăng diện tích nuôi trồng thủy sản và diện tích trồng các loại cây lâm nghiệp đồng thời tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp
* Trồng trọt
Giá trị sản xuất trồng trọt liên tục phát triển với tốc độ tăng bình quân/năm
là 3,02% trong đó giai đoạn 2001-2005 là 1,01%, giai đoạn 2006-2010 là 5,08% Giá trị gia tăng theo giá so sánh 1994 đạt từ 32.571 triệu đồng (năm 2000) lên 34.250 triệu đồng (năm 2005) và ước 43.869 triệu đồng năm 2010
- Cây lương thực: Cây lúa là cây lương thực chủ yếu và được chia làm 3 mùa vụ chính trong năm, sản lượng lương thực tăng trưởng khá ổn định và tăng đều qua các năm, nâng sản lượng lương thực bình quân đầu người từ 264 kg năm
2005 lên 390 kg năm 2008 Do được tập trung đầu tư thâm canh tăng năng suất nên sản lượng lúa tăng, năng suất lúa cũng tăng từ 41,6 tạ/ha năm 2005 lên 49,7 tạ/ha năm 2008
- Cây công nghiệp hàng năm: Cây mía là cây trồng chính có diện tích và sản lượng lớn nhất, chủ yếu trồng nhiều ở các xã Châu Hội, Châu Bình, Châu Hạnh ,các loại cây khác như sắn, lạc do nhu cầu thị trường nên diện tích cũng đã được mở rộng, đưa giống năng suất cao vào sản xuất nên sản lượng và năng suất tăng nhanh
* Chăn nuôi
Trong những năm qua ngành chăn nuôi tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng đàn, tổng số đàn trâu, bò tăng lên hàng năm (năm 2008 bò có 7.259 con và trâu có 18.542 con) Đàn gia cầm tăng nhanh nhất tốc độ tăng bình quân 5 năm
Trang 36(2001-2005) là 10%, dự kiến 2006-2010 tăng 15,27% Số lượng gia cầm tăng từ 115.454 con (năm 2005) lên 221.887 con (2008) dự kiến 2010 là 235.000 con trong đó Vịt bầu cũng có tốc độ tăng nhanh từ 24.005 con (năm 2005) lên 29.584 con (năm 2008) và ước 2010 đạt 44.650 con Tuy nhiên ngành chăn nuôi chưa phát huy hết lợi thế, đàn vịt bầu đặc sản là một lợi thế về xuất khẩu của huyện, số lượng đàn tăng nhanh trong thời gian qua nhưng giá trị xuất khẩu còn thấp
* Lâm nghiệp
Tính đến năm 2008, diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 76.189,99 ha chiếm 72% diện tích tự nhiên Trong đó đất rừng sản xuất 44.411,49 ha chiếm 58,3%, đất rừng phòng hộ 21.452 ha chiếm 28,2% và rừng đặc dụng 10.326,5 ha chiếm 13,6%
Trong tổng số 97.348 ha đất lâm nghiệp gồm có:
* Thuỷ sản
Quỳ Châu tuy có thế mạnh nhiều sông, hồ rất thuận tiện cho nuôi trồng thuỷ sản nhưng do phương thức nuôi trồng vẫn ở dạng quảng canh nên năng suất thấp Hơn nữa, diện tích nuôi trồng tăng chậm vì điều kiện tự nhiên, môi trường, sinh thái ít phù hợp, muốn phát triển nghề này phải có đầu tư lớn Tuy vậy, trong những năm qua nuôi trồng thuỷ sản đã có bước phát triển đáng kể Giá trị sản xuất
Trang 37thuỷ sản tăng bình quân hàng năm 9,76% trong cả thời kì 2001-2010 Giá trị tổng sản lượng năm 2008 đạt 2.531 triệu đồng và năm 2010 ước đạt 3.616 triệu đồng Tổng sản lượng thuỷ sản năm 2008 đạt 362 tấn, trong đó sản lượng khai thác đạt
134 tấn (chủ yếu là cá) và sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 228 tấn
2.4.7.4 Công nghiệp ,dịch vụ, xây dựng và cơ sở hạ tầng
* Công nghiệp- xây dựng
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp xây dựng tăng bình quân bình quân/năm
thời kì 2001-2010 là 13,10% Riêng Giá trị sản xuất ngành công nghiệp, trong cả thời kì 2001-2010 tăng bình quân 11,75%; còn phân ngành công nghiệp - TTCN đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong thời kì 2001-2010 là công nghiệp khai thác (12,06%) và công nghiệp chế biến (11,7%) Giá trị sản xuất của 2 ngành này tăng trưởng tương ứng 11,56% và 11,2/5 trong cùng thời kì; Ngành công nghiệp- TTCN đã tạo ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh ở trong tỉnh, như sản xuất phi kim loại, dệt thổ cầm, chế biến Hương trầm, sản xuất đồ mộc, chế biến gỗ
Các làng nghề tiểu thủ công nghiệp bước đầu hình thành và phát triển hiệu quả điển hình là làng nghề dệt thổ cầm (Hoa Tiến-Châu Tiến) và nghề làm Hương trầm
Số cơ sở sản xuất công nghiệp tăng nhanh từ 343 cơ sở năm 2000 lên 985
cơ sở năm 2008
Công nghiệp khai thác và sản xuất VLXD
Công nghiệp khai thác có tốc độ tăng trưởng nhanh (12,06%) trong cả thời
kì 2001-2010 (giai đoạn 2001-2005 là 11,79%), ước 2006-2010 là 12,33% Giá trị sản lượng công nghiệp khai thác từ 676 triệu đồng (năm 2000) lên 1.720 triệu đồng (năm 2008), và ước 2010 đạt 2,110 triệu đồng Sản lượng khai thác đá xây dựng tăng từ 14.000 m3 năm 2000 lên 50.966 m3 và ước đạt 60.612 m3 năm 2010; khai thác cát sỏi tăng tương ứng 4.320 m3 lên 36.191 m3 và 40.617 m3 Gạch nung các loại tăng 1.450 nghìn viên lên 8.452 nghìn viên (năm 2008) và ước đạt 13.619 nghìn viên (năm 2010)
Công nghiệp chế biến
Trang 38Năng lực công nghiệp chế biến ngày càng được mở rộng, sản phẩm phong phú, góp phần quan trọng vào tăng trưởng ngành công nghiệp nói riêng và tăng trưởng của huyện nói chung Một số sản phẩm chủ lực đã được hình thành và có chỗ đứng trên thị trường như: Dệt thổ cầm, chế biến Hương trầm, gỗ đồ mộc các loại.
Các sản phẩm của công nghiệp chế biến tăng nhanh qua các năm: Sản lượng chế biến lương thực thực phẩm tăng từ 5.100 tấn năm 2000 lên 13.006 tấn năm 2008 và ước đạt 16.235 tấn năm 2010; Hàng may mặc tăng tương ứng 22.640 lên 40.345 sản phẩm và ước đạt 45.790 sản phẩm; sản phẩm cửa sắt, cửa xếp và đồ sắt nông cụ tăng từ 2.218 sản phẩm lên 17.671 sản phẩm và ước năm 2010 đạt 24.170 sản phẩm
Làng nghề
Huyện Quỳ Châu đã xây dựng được 2 làng nghề: Làng nghề dệt thổ cầm (Hoa Tiến xã Châu Tiến) và làng nghề sản xuất hương trầm khối 1,2 Thị Trấn Tính đến 2008 đã có hơn 400 lượt người đựơc đào tạo nghề dưới nhiều hình thức Giá trị sản xuất công nghiệp và TTCN tăng nhanh từ 5.009 triệu đồng năm
2000 lên 9.678 triệu đồng năm 2008 và ước đạt 15.208 triệu đồng năm 2010; tốc
độ tăng bình quân 11,75%/năm trong thời kì 2010 trong đó giai đoạn
2001-2005 là 8,46% và giai đoạn 2006-2010 là 15,31% Nhiều mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả đã xuất hiện
* Dịch vụ
Dịch vụ vận tải: Năng lực vận tải được nâng lên đáng kể trong những năm gần đây, nhất là vận tải đường bộ Đường quốc lộ 48 đi qua địa bàn đã được nâng cấp một bước, cho phép các phương tiện vận tải hoạt động được dễ dàng Tính đến cuối năm 2008 toàn huyện có trên 32 cơ sở kinh doanh dich vụ vận tải đường bộ Khối lượng hàng hoá vận chuyển tăng rất nhanh qua các năm; bình quân 37,65% cả thời kì 2001-2010, trong đó giai đoạn 2001-2005 tăng 37,38% và giai đoạn 2006-2010 tăng 37,93% Khối lượng hành khách vận chuyển tăng tương ứng 10,11%; 9,68% và 10,53% Khối lượng hàng hoá luân chuyển và hành khách luân chuyển tăng tương ứng 23,39%; 19,93%; 26,96%