1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng dạy học chương dòng điện xoay chiều vật lí 12 ban cơ bản ở các trường THPT miền núi, tỉnh nghệ an với sự trợ giúp của máy tính và các thiết bị ngoại vi

83 566 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Chương 'Dòng Điện Xoay Chiều' Vật Lý 12 Ban Cơ Bản Ở Các Trường THPT Miền Núi, Tỉnh Nghệ An Với Sự Trợ Giúp Của Máy Tính Và Các Thiết Bị Ngoại Vi
Tác giả Nguyễn Thành Vinh
Người hướng dẫn PGS.TS. Mai Văn Trinh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy cần thiết phải có sự trợ giúp của MVT và các thiết bị ngoại vi để quay lại các thí nghiệm khó làm, mô phỏng lại các thí nghiệm mà HS khó quan sát hoặc không thể quan sát hiệntượng

Trang 1

Ở CÁC TRƯỜNG THPT MIỀN NÚI, TỈNH NGHỆ AN

VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA MÁY VI TÍNH VÀ CÁC THIẾT BỊ NGOẠI

VI

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

VINH - 2008

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện Luận văn, tôi đã nhận được sự động viên, giúp

đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn là PGS.TS.Mai Văn Trinh, tôi xin được bày tỏlòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sau Đại học và khoaVật lý trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy và chỉ bảo cho tôi trong suốtkhóa học cao học vừa qua

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luônđộng viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Vinh, tháng 12 năm 2008

Học viên:

Nguyễn Thành Vinh MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1

1. Cơ sở lý luận của việc sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi làm

Trang 3

1.1. Khái niệm về phương tiện dạy học 4

1.2.4 Chức năng của máy vi tính và các thiết bị ngoại vi trong dạy học Vật

2 Thực trạng của việc sử dụng MVT trong dạy học ở các trường THPT

2.2 Thực trạng sử dụng MVT trong quá trình dạy học của môn vật lý 30

CHƯƠNG 2

SỬ DỤNG MÁY VI TÍNH VÀ CÁC THIẾT BỊ NGOẠI VI VÀO

DẠY HỌC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT

2.6 Ứng dụng kiến thức vật lý trong khoa học kỹ thuật và đời sống 38

3 Những khó khăn trong việc dạy một số bài trong chương “Dòng điện

xoay chiều” Vật lý 12 ban cơ bản khi không có sự trợ giúp của MVT

Trang 4

3.1 Về mặt phương tiện dạy học 39

4 Đề xuất phương án dạy học một số bài trong chương “Dòng điện

xoay chiều” Vật lý 12 ban cơ bản với sự trợ giúp của MVT và các

4.1 Các hình thức sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi để dạy học một

số bài trong chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 ban cơ bản 41

4.1.1 Mô phỏng nguyên tắc hoạt động máy phát điện và động cơ không

4.1.3 Thí nghiệm có sự hỗ trợ của Camera, MVT và máy chiếu 41

4.2 Xây dựng giáo án một số bài trong chương “Dòng điện xoay chiều”

Vật lý 12 ban cơ bản có sự trợ giúp của MVT và các thiết bị ngoại vi 42

4.2.1 Giáo án bài 17: MÁY PHÁT ĐIỆN XOAY CHIỀU 42

4.2.2 Giáo án bài 18: ĐỘNG CƠ KHÔNG ĐỒNG BỘ BA PHA 49

CHƯƠNG 3

3. Khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy học 75

Trang 5

Nói chung, trong quá trình dạy học, các phương tiện kỹ thuật giảm nhẹ côngviệc của GV và giúp cho HS tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được cácphương tiện thích hợp, người GV sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trongcông tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của HS trở nên nhẹ nhàng và hấpdẫn hơn, tạo ra cho HS những tình cảm tốt đẹp với khoa học kỹ thuật nói chung và

bộ môn nói riêng Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thứcmới của HS tăng dần theo các cấp độ của tri giác: nghe - thấy - làm được, nên khiđưa những phương tiện khoa học kỹ thuật vào quá trình dạy học, GV có điều kiện

để nâng cao tính tích cực, độc lập của HS và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trìnhtiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo của HS

Môn Vật lý là môn học thực nghiệm vì vậy trong quá trình dạy học nhất thiết

GV phải sử dụng thí nghiệm Đó cũng chính là một trong những định hướng quantrọng của việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lý Trong thực tế có nhiều thínghiệm khó thực hiện thành công, có những thí nghiệm thực hiện được nhưng HSkhó có thể hoặc không thể quan sát được hiện tượng xảy ra Vì vậy cần thiết phải có

sự trợ giúp của MVT và các thiết bị ngoại vi để quay lại các thí nghiệm khó làm,

mô phỏng lại các thí nghiệm mà HS khó quan sát hoặc không thể quan sát hiệntượng được, sử dụng trong quá trình dạy học thì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn

Trang 6

Chương “Dòng điện xoay chiều” là một chương có nhiều ứng dụng trongthực tế vì vậy có thể sử dụng các đoạn video clip hình ảnh thật làm trực quan hóacác kiến thức thực tế liên quan trong quá trình dạy học.

Nhìn chung các trường THPT thuộc các huyện miền núi tỉnh Nghệ An, chưađược trang bị đầy đủ các thiết bị thí nghiệm phục vụ cho việc dạy học môn vật lý Bêncạnh đó HS chủ yếu là con em các dân tộc vùng sâu vùng xa khi học ở các trườngTHCS hầu như chưa được tiếp cận với các phương tiện hiện đại như MVT hay mạngInternet Để khắc phục những hạn chế này GV cần ứng dụng công nghệ thông tin vàodạy học vừa có thể thay thế cho các trang thiết bị thí nghiệm thiếu thốn, vừa tạo điềukiện cho HS làm quen với công nghệ thông tin mà chủ yếu là MVT

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là một hình thức dạy học manglại được sự hứng thú học tập cho HS, có sức truyền tải được nhiều thông tin

Với lý do trên tôi chọn nghiên cứu đề tài: Nâng cao chất lượng dạy học

chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 ban cơ bản ở các trường THPT miền núi tỉnh Nghệ An với sự trợ giúp của máy vi tính và các thiết bị ngoại vi.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phối hợp MVT và thiết bị ngoại vi xây dựng phương ándạy học một số bài trong chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 THPT ban cơ bản

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

MVT và các thiết bị ngoại vi trong dạy học chương “Dòng điện xoay chiều”Vật lý 12 ban cơ bản ở các trường THPT của các huyện miền núi thuộc tỉnh Nghệ An

Phương pháp dạy học có sự trợ giúp của MVT và các thiết bị ngoại vi ở cáctrường THPT của một số huyện miền núi thuộc tỉnh Nghệ An

- Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu áp dụng MVT và các thiết bị ngoại vi để dạy học chương “Dòngđiện xoay chiều” Vật lý 12 ban cơ bản cho các trường THPT của các huyện miềnnúi thuộc tỉnh Nghệ An

4 Giả thuyết khoa học

Trang 7

Có thể nâng cao chất lượng dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý

12 ban cơ bản ở các trường THPT các huyện miền núi tỉnh Nghệ An bằng việc sửdụng MVT và các thiết bị ngoại vi

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về phương tiện dạy học cụ thể là vận dụng công nghệthông tin vào dạy học Vật lý ở trường phổ thông

- Nghiên cứu các hình thức vận dụng phối hợp máy MVT và các thiết bịngoại vi để nâng cao chất lượng dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12ban cơ bản ở các trường THPT các huyện miền núi tỉnh Nghệ An

- Xây dựng một số giáo án mẫu sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi vàodạy học chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 ban cơ bản

- Thực nghiệm sư phạm

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận: Đọc các tài liệu liên quan đến đề tài luận văn

- Nghiên cứu thực tiễn: Tiến hành điều tra thực tế, làm thí nghiệm quayphim, xây dựng các thí nghiệm mô phỏng, đi thực tiến tìm hiểu quay lại các hìnhảnh thật có liên quan đến đề tài

- Sử dụng phương pháp thống kê, điều tra

- Đề xuất phương án dạy học 4 bài trong chương “Dòng điện xoay chiều”Vật lý 12 ban cơ bản có sự trợ giúp của MVT và các thiết bị ngoại vi

+ Bài 12: Đại cương về dòng điện xoay chiều

+ Bài 17: Máy phát điện xoay chiều

+ Bài 18: Động cơ không đồng bộ ba pha

Trang 8

+ Bài ôn tập chương.

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2 Cơ sở lý luận của việc sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi làm phương tiện dạy học

1.2 Khái niệm về phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học là: “Các phương tiện sư phạm đối tượng - vật chất do GV

và HS sử dụng dưới sự chỉ đạo của GV trong quá trình dạy học, tạo những điều kiệncần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học được gọi là phương tiện dạy học" [24] Chức năng chủ yếu của phương tiện dạy học là tạo điều kiện cho HS nắm vữngchính xác, sâu sắc kiến thức, phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cáchcủa HS Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học vật lý nói riêng, phương tiệndạy học đã chứng tỏ vai trò to lớn của mình ở tất cả các khâu: tạo động cơ, hứng thúhọc tập của HS; cung cấp các dữ liệu thực nghiệm nhằm khái quát hoá hoặc kiểmchứng các kiến thức về các khái niệm, định luật vật lý, mô phỏng các hiện tượng,quá trình vật lý vi mô, đề cập các ứng dụng của các kiến thức vật lý trong đời sống

và kỹ thuật; sử dụng trong việc ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá kiến thức, kỹnăng của HS; hỗ trợ việc kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng

Theo lý luận dạy học hiện đại, phương tiện dạy học hỗ trợ hoạt động của GV

và HS ở tất cả các pha của tiến trình giải quyết nhiệm vụ nhận thức

Ở pha chuyển giao nhiệm vụ, bất ổn hóa tri thức, phát biểu vấn đề, phươngtiện dạy học trước hết là công cụ hỗ trợ cho GV xây dựng tình huống vấn đề, tạohứng thú nhận thức và động cơ hoạt động của HS Khi đã nhận nhiệm vụ, phươngtiện dạy học lại là công cụ để HS hoạt động giải quyết nhiệm vụ được giao Trongquá trình giải quyết nhiệm vụ, nếu HS gặp trở ngại thì chính phương tiện dạy họclại có tác dụng hỗ trợ để HS ý thức được vấn đề cần giải quyết Chẳng hạn, GV cóthể sử dụng các thiết bị quen thuộc giao cho HS tiến hành các thí nghiệm đơn giản,

có tính nghịch lý chỉ ra các hiện tượng, quá trình vật lý mới mẻ mà HS không thấytrong cuộc sống hàng ngày để kích thích tính tò mò tự nhiên của HS Các vật thật,

Trang 10

mô hình vật chất, tranh ảnh, các thí nghiệm định tính mở đầu mô tả một quá trìnhvật lý, một hiện tượng vật lý nào đó trái với quan niệm ban đầu của HS có thể được

GV thiết kế thành nhiệm vụ nhận thức giao cho HS tiến hành nhằm tạo ra cho HSnhu cầu tìm hiểu, giải thích

Sau khi HS đã ý thức được vấn đề, trong pha hành động độc lập, tự chủ,phương tiện dạy học đóng vai trò quyết định đến sự thành công của HS trong hoạtđộng tìm tòi giải quyết vấn đề đó Trong quá trình hoạt động, HS sử dụng cácphương tiện truyền thống để lập phương án thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ và bố tríthí nghiệm, tiến hành đo đạc, thu thập, xử lý số liệu thực nghiệm nhằm xây dựng vàkiểm tra giả thuyết Thông qua việc quan sát HS hoạt động tự chủ với các phươngtiện dạy học, GV có thể phát hiện được những khó khăn trở ngại mà HS gặp phải đểđộng viên kịp thời và đưa ra những định hướng cần thiết giúp HS vượt qua Khi cầnthiết, các phương tiện dạy học có tác dụng hỗ trợ để GV đưa ra những định hướng

có hiệu quả cao Đối với việc xây dựng những kiến thức không thể tiến hành thínghiệm thực, mô hình vật chất có vai trò rất quan trọng trong hoạt động nhận thứccủa HS Trong dạy học, GV tổ chức cho HS xây dựng mô hình, thao tác với môhình để xây dựng và kiểm tra giả thuyết nhằm hình thành kiến thức mới

Trong pha tranh luận, thể chế hóa và vận dụng tri thức mới, phương tiện dạyhọc là công cụ để HS trình bày, tranh luận và bảo vệ kết quả hoạt động của mìnhhoặc của nhóm Đặc biệt là ở khâu vận dụng tri thức mới, phương tiện dạy học đóngmột vai trò quan trọng như trong các bài tập thí nghiệm, các bài thí nghiệm thựchành Cũng trong quá trình vận dụng tri thức mới vừa xây dựng được với việc sửdụng các phương tiện thực nghiệm sẽ tiếp tục làm nảy sinh vấn đề mới và đi đếnmột nhiệm vụ nhận thức tiếp theo của tiến trình dạy học[9]

Tóm lại, ở tất cả các pha của tiến trình dạy học giải quyết vấn đề, các phươngtiện dạy học truyền thống đều đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hoạt độngnhận thức của HS cũng như hoạt động của GV Tuy nhiên, theo lý luận dạy họchiện đại về tổ chức hoạt động nhận thức của HS thì các phương tiện truyền thốngbộc lộ nhiều nhược điểm:

Trang 11

- Khi cần tái hiện lại một hiện tượng, quá trình vật lý phức tạp hoặc có diễnbiến nhanh thì các phương tiện truyền thống không thực hiện được Ví dụ như khinghiên cứu các dạng chuyển động nhanh trong cơ học, chỉ bằng một thí nghiệm đơngiản về chuyển động rất nhanh của một vật (như chuyển động rơi tự do, chuyểnđộng ném ngang, ném xiên, va chạm, sóng ) thì bằng mắt thường HS khó có thểquan sát được những biến đổi tọa độ theo thời gian của chuyển động đó, vì vậy màcũng không thể tạo được một động cơ thích hợp cho hoạt động của HS Để giúp HStrong việc quan sát các quá trình có diễn biến nhanh như trên, các phương tiện nghenhìn hiện đại như phim video có một vai trò lớn Nhờ các đoạn phim quay chậmquá trình rơi tự do của một vật, HS có thể sơ bộ nhận thấy được sự chuyển độngnhanh dần của nó, qua đó mới tạo cho HS nhu cầu muốn nghiên cứu cụ thể quy luậtchuyển động của nó, xem đó có phải là chuyển động nhanh dần đều hay không.Cũng nhờ phim video quay chậm lại sự va chạm giữa hai vật mà HS có thể thấyđược sự biến đổi chuyển động của chúng sau va chạm, nảy sinh động cơ nghiên cứuquy luật của sự biến đổi ấy Tuy nhiên, tác dụng của đoạn phim quay chậm còn rấthạn chế và không có khả năng hỗ trợ để HS hoạt động tự chủ khám phá quy luật đó.

- Với những quá trình cơ học biến đổi nhanh thì việc thiết kế và tiến hành thínghiệm với các dụng cụ truyền thống gặp nhiều khó khăn, nhiều khi không thực hiện được.Đối với các quá trình có thể tiến hành thí nghiệm thì lại đòi hỏi nhiều thời gian thu thập sốliệu, tính toán, vẽ đồ thị và thời gian kiểm tra sự đúng đắn của các giả thuyết Trong thờigian của tiết học, HS không có đủ thời gian để tiến hành các hoạt động tư duy như dựđoán, đề xuất giả thuyết Giải pháp sử dụng phim video quay chậm thì HS chỉ chủ yếuđược quan sát lại quá trình một cách định tính mà không được tham gia vào quá trình hoạtđộng xây dựng kiến thức Nhằm giải quyết những khó khăn đó, hiện nay trong dạy họcngười ta đã sử dụng ngày càng nhiều hơn sự hỗ trợ của MVT với các phần mềm

1.2 Phân loại PTDH

1.2.1 Cơ sở phân loại

Có nhiều cách phân loại phương tiện dạy học khác nhau, dựa vào các dấuhiệu khác nhau của các phương tiện dạy học Dựa vào cấu tạo của các phương tiệnchúng tôi đã lấy dấu hiệu này làm cơ sở cho việc phân loại của mình Trên cơ sở đó

Trang 12

các phương tiện dạy được chia thành hai loại đó: Các phương tiện truyền thống và

các phương tiện hiện đại.

1.2.2 Các phương tiện truyền thống

Tranh ảnh dạy học giúp cho GV tiết kiệm được thời gian trên lớp (thời gian

vẽ hình), nhờ đó GV có thể truyền đạt nhanh hơn hoặc khi cần có thể bỏ qua lượngthông tin không cần thiết cho việc dạy và học Tranh, ảnh dạy học tạo điều kiện choviệc tổ chức thảo luận tập thể ở lớp, cho phép cả lớp trao đổi nội dung bài học dướidạng tình huống nêu vấn đề Nhờ có tranh, ảnh dạy học GV có thể truyền đạt lượngtin về những đối tượng hoặc quá trình khó quan sát trực tiếp

Tranh, ảnh dạy học có thể dễ dàng sử dụng phối hợp với những phương tiệndạy học khác

1.2.2.2 Phiếu ghi

Phiếu ghi là các phiếu trên đó đã in sẵn các bài học rút gọn, bản vẽ, sơ đồ,các bài tập mà HS cần giải quyết Phiếu ghi thực hiện hai chức năng Thứ nhất,phiếu ghi giúp cho HS tự học để nắm những kỹ năng, kỹ xảo khác nhau Các bài tậptrên phiếu ghi cũng có thể sắp xếp theo độ khó khác nhau để phân biệt khả năngcủa HS Thứ hai, phiếu ghi có thể được dùng để kiểm tra kiến thức của toàn lớp

Phiếu ghi tạo điều kiện cho HS thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức đãbiết với kiến thức mới, mối liên hệ giữa các môn học và áp dụng được cho mọi hìnhthức hoạt động trong và ngoài lớp

1.2.2.3 Thuật toán (algorithms)

Thuật toán là một bản hướng dẫn chi tiết các bước phải tuân theo để giảiquyết một nhiệm vụ học tập nhất định Đó có thể là các bước để giải một dạng bàitập, các bước vận hành một máy móc, thiết bị

Trang 13

Thuật toán hướng chú ý của HS theo con đường tối ưu, đề phòng những saisót và các thử nghiệm thừa

Việc áp dụng thuật toán trong quá trình dạy học tạo khả năng thực hiện đượcviệc truyền thụ một khối lượng kiến thực lớn và đạt được mức độ chính xác caotrong cùng một lúc

Muốn nắm vững thuật toán, HS phải áp dụng thuật toán liên tục

Sử dụng bài trắc nghiệm trong dạy học, người GV sẽ tiết kiệm được thờigian chấm bài, trả bài, đồng thời phát hiện nhanh những lỗ hổng kiến thức của HS

Do đó, GV có thể cho HS làm nhiều bài trắc nghiệm hơn so với những hình thứckiểm tra khác Tuy vậy, việc viết ra bộ câu hỏi cho phù hợp với các yêu cầu trongbài trắc nghiệm không phải là một vấn đề đơn giản GV phải đầu tư nhiều công sức

và tích lũy nhiều kinh nghiệm mới có thể soạn ra được những bộ câu hỏi hoàn toànkhách quan và phù hợp với mục đích, nội dung chương trình học của HS

Nhờ sử dụng bài trắc nghiệm, GV có thể thu được cùng lúc nhiều thông tinphản hồi từ phía HS, dễ dàng nắm được kết quả tiếp thu của HS trong các giờ học

Các bài trắc nghiệm cũng có thể dùng cho HS trong dạy học chương trìnhhóa hoặc môdun hóa

1.2.2.5 Phiếu hướng dẫn và phiếu công nghệ

Phiếu hướng dẫn là các phiếu có nội dung chỉ dẫn cho HS trong quá trìnhlàm thí nghiệm hoặc trong giờ học sản xuất để HS có thể tự nghiên cứu Nhờ cóphiếu hướng dẫn HS có thể tự giải bài tập mà không cần sự giúp đỡ của người khác

Trang 14

Phiếu công nghệ là các phiếu hướng dẫn HS thực hiện một qui trình côngnghệ trong học tập hay sản xuất Phiếu công nghệ tạo cơ sở cho hoạt động địnhhướng của HS, góp phần áp dụng một cách sáng tạo các kiến thức đã học trong quátrình sản xuất và tự đánh giá một cách khách quan chất lượng công việc thực hiện.

Như vậy phiếu hướng dẫn và phiếu công nghệ là những phương tiện dạy học

có tính sư phạm cao, tạo điều kiện cho HS phát huy năng lực cá nhân, thể hiện mức

độ tiếp thu bài giảng, giúp GV quản lý chất lượng và đánh giá HS nhanh hơn, tiếtkiệm được thời gian và công sức của GV trên lớp

Chức năng sư phạm chính của chương trình luyện tập là hình thành thói quen

tự học, làm việc độc lập, tạo cho HS khả năng thực hiện việc tự kiểm tra một cáchthường xuyên, trên cơ sở đó HS tự điều chỉnh việc học tập của mình

1.2.2.7 Sách giáo khoa, tuyển tập các bài tập, sách tra cứu và sách khoa học phổ

thông

Lượng tin trong những phương tiện dạy học này được truyền đạt qua các bàikhóa, hình vẽ, đồ thị Các loại phương tiện này có nhiều điểm giống nhau, có thểtruyền đạt được các lượng tin bất kỳ nào từ các hiện tượng bên ngoài đến các diễnbiến phức tạp bên trong các quá trình và các qui trình sản xuất

+ Sách giáo khoa

Ở hệ giáo dục tại trường, sách giáo khoa được xem như là phương tiện phục

vụ cho công việc tự học của HS để nắm kiến thức ngoài thời gian lên lớp

Ở hệ thống giáo dục hàm thụ, sách giáo khoa là cơ sở cung cấp toàn bộ kiếnthức HS dùng sách giáo khoa để nắm kiến thức lý thuyết, làm các bài tập theo cácbài mẫu và có thể nghiên cứu các vấn đề khoa học được áp dụng trong thực tế

Trang 15

Sách giáo khoa phải đạt được yêu cầu quan trọng là dễ hiểu và rõ ràng

Sách giáo khoa đặc biệt cần thiết khi ra bài tập làm ở nhà, khi cần địnhhướng chú ý của HS vào những khía cạnh cơ bản của các hiện tượng và đối tượnghọc tập

+ Tuyển tập các bài tập

Phương tiện này được HS sử dụng trong quá trình thực hiện các bài tập thực

tế ở lớp cũng như ở nhà GV có thể dùng tuyển tập bài tập để lập các phiếu ghi, rabài tập cho từng cá nhân, kiểm tra và giao việc cho HS tự làm

Trong tuyển tập thường có những bài giải mẫu giúp HS có thể tự làm các bàitập tương tự khác Dùng tuyển tập này HS được làm quen với cách tra cứu tài liệu,giúp họ tự giải quyết các nhiệm vụ công nghệ nhất định trong quá trình thực hiệncác công nghệ sản xuất

+ Tài liệu khoa học phổ thông

Tài liệu khoa học phổ thông đóng vai trò rất lớn trong việc tích lũy kiến thứckhoa học ngoài giờ học của HS HS sử dụng các tài liệu này để chuẩn bị các đềcương báo cáo, hội thảo khoa học kỹ thuật

Tài liệu khoa học kỹ thuật có nét đặc trưng là tính dễ hiểu và sự hấp dẫn Nótruyền lượng tin về các hiện tượng khoa học kỹ thuật phức tạp bằng cách diễn giải

dễ hiểu, phù hợp với trình độ hiểu biết của HS, giúp HS làm quen với các môn khoahọc kỹ thuật mà họ sẽ học và mở rộng tầm nhìn của mình

1.2.2.8 Vật thật

Vật thật được dùng trong quá trình dạy học là những máy móc, thiết bị, bộphận, chi tiết máy có thể sử dụng trong thực tế sản xuất Tính chất đặc trưng củaloại phương tiện này là tính xác thực và nguyên bản Chúng có thể được sử dụngtrên lớp với danh nghĩa là phương tiện chung hoặc cá biệt tùy theo công dụng củachúng

Phương tiện này bao gồm các thiết bị thí nghiệm, trang thiết bị của xưởngtrường, mẫu các chi tiết máy, bộ sưu tập khoáng sản, bộ mẫu thực - động vật

Trang 16

Vật thật, nếu được sử dụng như phương tiện cung cấp thông tin, giúp cho HS

dễ dàng chuyển tiếp từ hình ảnh cụ thể đến tư duy trừu tượng Vật thật có thể đượcquan sát bao lâu tùy ý và từ những góc nhìn khác nhau HS sẽ có khái niệm đúngđắn về hình dáng, màu sắc và kích thước của vật

Trong mọi trường hợp sử dụng làm việc với vật thật, HS phải được sự hướngdẫn của GV hoặc làm việc với phiếu ghi hoặc phiếu công nghệ

Các vật thật được bổ cắt là các phương tiện được sử dụng khá rộng rãi Cácphương tiện loại này không những chỉ được chế tạo từ những máy móc, thiết bị cũ

mà ngay cả từ máy móc thiết bị mới, hiện đại Mục đích của việc bổ cắt là làm cho

HS có thể quan sát được các chi tiết bên trong máy trong kết cấu và hoạt động thực

và tác động qua lại giữa các bộ phận trong mô hình

Mô hình cần phải phản ánh được những đặc điểm cơ bản của vật thật mà nóthay thế Một số mô hình phẳng làm bằng vật liệu trong suốt có thể được sử dụngnhư phương tiện dùng để chiếu lên màn ảnh

Mô hình thường được sử dụng với danh nghĩa là nguồn thông tin để diễn giải tàiliệu và kiểm tra kiến thức Mô hình không thể dùng để rèn luyện kỹ năng, kỹ xảocho HS

Trong thực tế quá trình giảng dạy, sử dụng mô hình cũng có hiệu quả tươngđương với sử dụng vật thật Tuy nhiên vì chế tạo mô hình thường rất phức tạp và

Trang 17

đắt tiền nên người ta chỉ sử dụng mô hình trong trường hợp không có phương tiệnnào khác để thay thế.

1.2.2.10 Máy luyện tập

Máy luyện tập là những phương tiện để hình thành những kỹ năng kỹ xảonghề nghiệp ban đầu theo chương trình đã được ấn định trước Máy luyện tập tạocho HS khả năng điều hành chế độ làm việc bình thường của máy, quán sát và điềuchỉnh các quá trình đôi khi gặp trong điều kiện sản xuất và sự nguy hiểm có thể xảy

ra đối với con người

Làm việc trên máy luyện tập gắn liền với những cơ sở kiến thức lý thuyếtchuyên môn và góp phần củng cố kiến thức, phát triển tư duy logic và nâng cao hoạtđộng giao cảm

Thực tế đã chứng minh rằng những HS đã được đào tạo trên máy luyện tậpthao tác mau thành thục và có tốc độ làm việc nhanh hơn Việc áp dụng máy luyệntập trong quá trình dạy học cho phép tạo điều kiện tiếp cận sản xuất và thuận lợitrong việc đào tạo HS làm việc trên các thiết bị công nghiệp Máy luyện tập còn chophép ghi lại nững sai sót của HS, nhờ vậy GV có thể quan sát, theo dõi nhiều HScùng một lúc Ngoài ra, những thiết bị báo lỗi còn giúp cho HS tự điều chỉnh cácthao tác nhằm đạt được kỹ năng kỹ xảo cao và GV có thể uốn nắn kịp thời nhữngthao tác không đúng của HS

Tuy nhiên cần chú ý rằng máy luyện tập không phải là thiết bị vạn năng.Hiệu quả của nó chỉ đạt được khi nào những hoạt động cụ thể nhằm điều khiển máymóc và các thiết bị được mô hình hóa

Máy luyện tập rất cần thiết cho việc đào tạo các nghề đòi hỏi phải thao tácnhiều thời gian trên máy, chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu cao và máy móc thiết bịđắt, quí hiếm hoặc quá trình điều khiển sử dụng máy dễ gây nguy hiểm cho HS

1.2.2.11 Các loại bảng dạy học

Bảng dạy học là một phương tiện hỗ trợ cho GV để truyền thụ kiến thức cho

HS Ngày nay, tuy đã có nhiều phương tiện khác như máy chiếu, slide, video bảng

Trang 18

dạy học vẫn được sử dụng rộng rãi trong lớp học, phòng diễn thuyết và các phòngthí nghiệm.

Do hình vẽ trên bảng có nhiều ưu điểm đối với quá trình nhận thức của HS

và chỉ được sử dụng khi có sự có mặt của GV nên bảng dạy học là một phương tiệnđặc biệt cần thiết để dạy ngôn ngữ, khoa học cơ bản, kỹ thuật Sử dụng bảng dạyhọc là một nghệ thuật, giúp cho buổi dạy thêm sinh động, giúp cho HS tiếp thu bàigiảng dễ dàng và tập trung

1.2.3 Các phương tiện hiện đại.

Các phương tiện dạy học hiện đại chủ yếu là các phương tiện nghe nhìn, cácphương tiện nghe nhìn được đánh giá là các phương tiện dạy học có hiệu quả cao

Sử dụng phương tiện nghe nhìn trong giờ học tạo điều kiện cho HS tiếp thubài học tốt hơn, nhớ bài lâu hơn nhờ sử dụng nhiều nguồn kích thích sự chú ý của

HS (hình ảnh, âm thanh, hình ảnh động ) Phương tiện nghe nhìn có thể được GV

sử dụng ở lớp như là một công cụ minh họa làm sáng tỏ nội dung bài học Phươngtiện nghe nhìn cũng có thể được HS sử dụng để tự học (truyền hình dạy học, băng

+ Phương tiện nghe nhìn giúp cho việc giảng dạy các kiến thức thực tế tốt hơn vàlàm cho HS nhớ lâu hơn các kiến thức đã tiếp thu Phương tiện nghe nhìn giúp cho

HS có những kinh nghiệm ban đầu bằng nhiều con đường khác nhau và đôi khi còntạo điều kiện cho HS tham gia vào quá trình truyền đạt thông tin Do đó, phươngtiện nghe nhìn không những chỉ giúp cho việc mở mang nguồn từ ngữ mà còn cóthể giúp cho HS nhớ các thao tác công nghệ tốt hơn

Trang 19

+ Phương tiện nghe nhìn là nguồn tin thay thế có hiệu quả trong các giờ học Thaycho việc cho HS tiếp xúc trực tiếp với môi trường vật lý và xã hội, HS được tiếpxúc với một môi trường được tạo ra bởi các phương tiện nghe nhìn (phim ảnh, buổiphát thanh, truyền hình ) Phương tiện nghe nhìn giúp chúng ta vượt qua giới hạnvật lý của không gian và thời gian để đưa vào lớp học những sự kiện, quá trình xảy

ra ở rất xa hoặc rất lâu trong quá khứ

+ Phương tiện nghe nhìn tác động lên nhiều cơ quan xúc cảm của HS do đó gây sựchú cao cho HS và HS nhớ lâu hơn các kiến thức đã được học Với phương tiệnnghe nhìn thích hợp, GV dễ dàng làm thay đổi thái độ của HS đối với môn học.Phương tiện nghe nhìn gây hứng thú cho HS khi nghe giảng và do đó sự tiếp thukiến thức sẽ diễn ra thoải mái hơn Các bộ phim, băng ghi hình, slide được chuẩn bịtheo các yêu cầu cao về sư phạm và thẩm mỹ kích thích sự chăm chú theo dõi củaHS

+ Phương tiện nghe nhìn cung cấp các cơ sở cụ thể để suy nghĩ và nhận thức làmtăng ý nghĩa của các quan niệm Phương tiện nghe nhìn trình bày các kiến thức trừutượng bằng các hình thức khác nhau

Dưới đây là một số phương tiện nghe nhìn đã được sử dụng trong dạy học:

1.2.3.1 Các phương tiện nghe

a Truyền thanh

Thông thường người ta truyền đạt các bài học văn học, lịch sử hoặc ngoạingữ qua đài truyền thanh hoặc phát thanh Truyền thanh là phương tiện tốt để hìnhthành trí tưởng tượng, tư duy trừu tượng

Việc truyền thanh thường được tiến hành ngoài thời gian lên lớp, do đó mà

HS mở rộng được tầm nhìn và hoàn thiện kiến thức của mình Các buổi truyềnthanh có thể không gắn liền với chương trình học tập một cách trực tiếp nhưngchúng gián tiếp hỗ trợ cho việc tiếp thu kiến thức

Với hình thức đào tạo từ xa, các chương trình giảng dạy qua vô tuyến truyềnthanh là những phương tiện chủ yếu mang nguồn tin đến cho HS, qua đó, HS tiếpthu được kiến thức mà họ có yêu cầu

Trang 20

b Băng ghi âm

So với truyền thanh, phạm vi truyền thụ kiến thức của băng ghi âm trong dạyhọc ít đa dạng hơn và do đó có hạn chế về khả năng áp dụng Tuy nhiên người GV

có thể nghiên cứu sử dụng băng ghi âm một cách tùy ý theo yêu cầu sư phạm cụ thể.Nhờ có băng ghi âm, GV có thể tác động đến HS một cách đa dạng hơn trong quátrình dạy học

Trong một số môn học, băng ghi âm có thể được sử dụng như là nguồn thôngtin mà qua đó HS có thể rèn luyện kỹ năng kỹ xảo (học ngoại ngữ, chẩn đoán bệnh,chẩn đoán sự cố của máy móc )

Băng ghi âm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi và nhận thôngtin ngược từ HS GV có thể sử dụng băng ghi âm trong các cuộc phỏng vấn, trongcác buổi luyện tập hoặc làm thí nghiệm sau đó phân tích nội dung băng ghi âm đểrút ra những kết luận sư phạm cần thiết

Băng ghi âm có thể được HS dùng ở nhà trong quá trình tự học, khi đó âmnhạc đi kèm (nếu có) sẽ nâng cao khả năng làm việc của HS ở mức độ nào đó.Băng ghi âm có thể được dùng kèm với phim câm, slide để tạo nên hiệu quả cao

1.2.3.2 Các phương tiện nhìn

a Hình phóng trên giấy

Hình phóng trên giấy là những hình ảnh được in hay vẽ bằng tay có liên quanđến nội dung bài học và được chiếu phóng to trên một màn ảnh lớn nhờ máy chiếuphản xạ

Do được chiếu trên màn ảnh nên hình phóng trên giấy cũng có những chứcnăng như hình vẽ in sẵn Tuy nhiên do được phóng to lên trên một màn ảnh nênhình chiếu có thể được sử dụng để khảo sát chi tiết một nội dung nào đó

Hình phóng trên giấy có thể được dùng trong nhiều giai đoạn khác nhau để thảoluận về một vấn đề trong bài học hoặc có thể dùng như các tài liệu tham khảo đểđưa vào những thông tin mới, tiên tiến mà trong sách giáo khoa và các tài liệu dạyhọc chưa cập nhật được

Trang 21

Nội dung của hình phóng trên giấy có thể là bài tập kiểm tra, bài tập mẫu,thuật toán cần thiết cho việc học tập thể Tùy theo công dụng mà trên hình vẽ cóthêm chú thích hoặc không có chú thích.

b Hình phóng trên màn mỏng (transparency)

Tương tự với hình phóng trên giấy, hình phóng trên màn mỏng là những hìnhảnh, sơ đồ, nội dung tài liệu được chế tạo trên giấy trong suốt bằng phương phápcông nghiệp hay thủ công Những hình này phải được sử dụng kèm với máy chiếu

Để trình bày những thông tin phức tạp và có tính cấu trúc thì nên dùng hình

vẽ trên nhiều tờ, mỗi tờ một số thông tin theo nhóm chức năng hoặc theo cấu tạo.Sau đó lần lượt xếp chồng các hình này lên nhau để biểu diễn kết cấu đầy đủ

Sử dụng các hình vẽ phóng trên màn mỏng, GV có thể thêm các thông tincần thiết bằng một loại bút đặc biệt Trong khi làm bài tập hoặc hướng dẫn HS họctập theo một thuật toán, GV có thể dùng hình phóng với những nội dung còn trống

để cùng HS điền vào sau khi đã thảo luận chung ở lớp

Các hình phóng chế tạo tại trường có thể được chuẩn bị cho từng tin ngẫunhiên Nội dung của hình phóng không nên phức tạp lắm và phải chú ý làm sao cho

HS có thể sao lại vào trong vở Nếu cần phải dựng lại quá trình động học thì chỉchuẩn bị những hình vẽ cơ bản còn các chi tiết được vẽ thêm trong giờ giảng

Nguồn thông tin của hình phóng trên màn mỏng có thể bao gồm các bài họchay các dạng bất kỳ của bài kiểm tra

Về phương diện điều khiển quá trình dạy học thì hình phóng trên màn mỏng

có khả năng lớn hơn so với hình vẽ trên bảng và hình phóng trên giấy Tuy vậy, việc

sử dụng các thiết bị đi kèm (máy chiếu, màn ảnh, giấy vẽ ) thường phức tạp và tốnkém nên nếu có thể sử dụng bảng và phấn để giải quyết nhiệm vụ sư phạm thìkhông nên dùng hình phóng trên màn mỏng Để đơn giản hóa việc sử dụng bảngtrong thì ở nhiều nơi người ta sơn tường bằng sơn trắng không bóng và dùng luôntường làm màn ảnh

c Phim dương bản

Phim dương bản được sử dụng để truyền đạt lượng tin theo hình ảnh, đồ họa,

sơ đồ tượng trưng cho bài khóa Nhờ có máy chiếu dương bản tự động, chúng ta cóthể điều khiển, thay thế hình ảnh liên tục hoặc trở lại những hình ảnh đã xem Kích

Trang 22

thước phóng đại đáng kể trên màn ảnh cho khả năng xem xét từng bộ phận; cường

độ sáng lớn của máy chiếu cho phép sử dụng trong điều kiện ánh sáng bình thường,không cần phòng tối

Phim dương bản cung cấp được nhiều thông tin phức tạp và tương đối đadạng Lượng tin chứa trong phim được sử dụng theo ý muốn của GV theo bất kỳtrình tự nào Trong các hàng loạt hình ảnh, GV chỉ chọn ra một vài hình ảnh cầnthiết đối với bài giảng

Phim dương bản giúp cho GV có thể giới thiệu cho HS những thiết bị khôngthể đưa vào trong lớp học và hướng HS vào những chi tiết khó thấy trong điều kiệnthực tế

d Phim slide

Phim slide là một hệ thống phim dương bản gắn liền với một cốt truyện vàđược thể hiện trên một cuộn phim (hiện nay đã có nhiều loại máy chiếu slide dùngphim rời như phim dương bản) Người làm phim đã xác định một cách nghiêm ngặt

sự phụ thuộc về nội dung của những hỉnh ảnh trong phim do đó GV khó lòng có thểthay đổi được Để cải thiện sự cứng nhắc ấy người ta đã sản xuất ra nhiều phimslide rời từng hình nhưng khi chiếu phải xếp vào trong ổ nạp phim tự động

Ngày nay, nhờ tiến bộ của kỹ thuật các phim slide được chế tạo với màu sắc

và lượng tin phong phú Điều đó làm cho phím slide càng có tác dụng tốt đối vớiquá trình dạy học

e Phim vòng

Phim vòng là các dải phim dài từ 1,5 đến 10 m được nối lại thành một vòngkhép kín để chiếu Nội dung của phim vòng thường là các quá trình lặp lại theo chutrình kín Các quá trình này có thể được tái hiện bao nhiêu lần tùy theo sự điềukhiển của GV khi cần có sự giải thích tỉ mỉ

Đặc điểm của phim vòng là ngắn gọn và cụ thể Do đó phim vòng rất dễthích nghi với bài giảng và được các GV sử dụng rộng rãi

1.2.3.3 Các phương tiện nghe nhìn

a Phim dạy học

Trang 23

So với các phương tiện dạy học khác, phim dạy học có nhiều khả năng rộnghơn Nó có thể truyền đạt lượng tin bất kỳ nào về các đối tượng, các quá trình vàđộc lập với phương pháp giảng dạy vì tất cả những gì được nghe thấy và nhìn thấyđều có thể ghi lại trên phim Tuy vậy về mặt sư phạm và hiệu quả kinh tế, người tachỉ chọn đưa vào phim những tài liệu nào mà các phương pháp khác không thể lột

Tính hoạt động là một đặc trưng quan trọng của phim dạy học: các đốitượng, hiện tượng, quá trình được chiếu lên màn ảnh theo những chuyển độngphát triển Phim dạy học có thể trình các hoạt động bên trong của các đối tượngtĩnh Trong phim dạy học, HS như được tham gia cùng người quay phim xem xétđối tượng theo những khía cạnh khác nhau, so sánh những cái được nhìn thấy, quansát mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố riêng trong một kết cấu chung của đối tượngnghiên cứu Do đó, phim dạy học góp phần rèn luyện cho HS thói quen và cáchquan sát thế giới xung quanh Tính hoạt động của phim dạy học còn thể hiệnphương pháp cung cấp lượng tin về đối tượng

Phim dạy học góp phần phát triển tư duy trừu tượng tốt hơn các phương tiệndạy học khác Xem phim, HS có thể quan sát kỹ các quá trình trừu tượng, chuyển từhình ảnh cụ thể đến mô hình, phản ánh hiện thực tương ứng Do khả năng có thểlược bỏ những yếu tố phụ, không có bản của sự vật nên phim có thể đơn giản hóacác quá trình, chỉ ra được chuyển tiếp từ hình ảnh cụ thể đến các khái niệm trừutượng, phản ánh cơ cấu và nội dung tài liệu học tập làm cho HS dễ hiểu hơn

Nhờ có phim dạy học HS có thể quan sát những quá trình, sự vật hiện tượng

mà họ không có điều kiện quan sát trực tiếp Hơn nữa, đối với những quá trình xảy

ra quá nhanh hoặc quá chậm, hoặc các đối tượng quan sát quá nhỏ, quá lớn thì

Trang 24

phim dạy học giúp cho HS làm chậm, nhanh quá trình hoặc phóng to, thu nhỏ đốitượng

Do phim dạy học cung cấp kiến thức theo hai kênh (tiếng và hình) nên điềukiện làm việc của GV và HS có thay đổi Trước khi xem phim GV cần chuẩn bị,hướng dẫn cho HS và sau khi xem phim GV củng cố những tin đã truyền đạt bằngphim và chuyển tiếp đến việc truyền đạt kiến thức mới tiếp theo

Phim dạy học có khả năng tổ chức sự chú ý của HS vào trọng tâm cần thiết

để nắm nội dung bài học Khác với khi quan sát trực tiếp, lượng tin trong phim đượcxây dựng theo một chủ đề với một mục tiêu rõ ràng nên nó hướng chú ý của HS vàonhững khía cạnh cơ bản của đối tượng, hiện tượng hay quá trình Bằng kỹ xảo điệnảnh và thủ pháp đạo diễn phim dạy học có thể nhấn mạnh các yếu tố cơ bản, chỉ ranhững chi tiết nhỏ nhất bằng cách quay cận cảnh, phân chia những yếu tố cơ bảnđiển hình cần phải nắm vững

Phim dạy học sẽ phát huy hết khả năng của nó nếu được xây dựng bằng cách

sử dụng hợp lý toàn bộ khả năng của điện ảnh (luân chuyển cảnh, di chuyển máyquay, thay đổi tốc độ truyền đạt thông tin ) Khi cần thiết phải xem xét kỹ đốitượng, hiện tượng, quá trình thì tần số truyền đạt thông tin phải nhỏ, chậm rãi,không luân chuyển cảnh nhiều Nếu cần tạo ấn tượng căng thẳng thì tần số truyềnđạt phải lớn hơn, chuyển cảnh nhiều hơn Nếu có thể thì thu thêm âm nhạc nền đểtạo không khí thoải mái, nhẹ nhàng

Phim dạy học có ý nghĩa đặc biệt ở giai đoạn định hướng trong giờ học GVchuẩn bị dạy bài mới hoặc giới thiệu cho HS làm quen với những khái niệm mới.Việc gây được ấn tượng ban đầu có thể mang ý nghĩa quyết định với việc học tập.Chính nhờ có phim dạy học với cách đạo diễn tỉ mỉ và các kiểu quay phim đặc biệt,

sử dụng thêm hoạt hình và các kỹ xảo làm phim khác mà GV có thể tạo được ấntượng ban đầu cho các hoạt động tiếp thu kiến thức có kết quả của HS

Trong quá trình thực hành của HS, việc quan sát đóng một vai trò quantrọng Kỹ năng quan sát các thao tác thực tế có ảnh hưởng rõ ràng đến các hoạt

Trang 25

động thực hành ban đầu của HS vì thế, phim dạy học có thể giúp đỡ GV dạy thựchành rất nhiều trong việc hình thành những thói quen này cho HS.

Phim dạy học còn đóng vai trò to lớn trong công tác hướng nghiệp Nó làmgiúp cho việc giáo dục ở HS niềm tự hào nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệmtrong công việc

Tóm lại, phim dạy học là một trong những phương tiện phát triển HS mộtcách toàn diện Trong công tác ngoại khóa, phim dạy học thường được sử dụng đểcủng cố và làm sâu sắc thêm kiến thức đã tiếp thu được trên lớp, mở rộng tầm nhìnchính trị, văn hóa và nghề nghiệp, kể cả việc giải trí cho HS

Phim dạy học cần phải tuân theo các nguyên tắc của lý luận dạy học để nângcao hiệu quả sử dụng của nó trên lớp Phim dạy học ở bất cứ mức độ nào cũngkhông ngăn trở việc áp dụng những phương tiện khác ở trên lớp Ngược lại, nó phảithực hiện chức năng của mình một cách đồng bộ với các phương tiện khác nhằmnâng cao hiệu quả của truyền thụ kiến thức của GV và HS

Trong một vài trường hợp đặc biệt GV có thể tự làm lấy phim dạy học Giátrị của phim tự làm là ở chỗ lượng tin chứa đựng trong đó được xây dựng nên bằng

tư liệu tại chỗ mà HS đều biết

b Truyền hình dạy học

Cùng với sự phát triển của ngành truyền hình người ta đã sử dụng rộng rãitruyền hình trong dạy học Truyền hình được sử dụng như một phương tiện có hiệuquả cao nhất vì có được những ưu điểm:

+ Có tất cả các ưu điểm của phim dạy học

+ Làm băng ghi hình rẻ và dễ dàng hơn làm phim nhựa rất nhiều

+ Dễ dàng bổ sung những tư liệu mới vào băng ghi hình

+ Sử dụng truyền hình trong dạy học đơn giản, không cần phòng tối, có thể điều.khiển từ xa và thay đổi hình và tốc độ chuyển hình theo ý muốn của GV

Truyền hình dạy học được sử dụng theo hai cách: truyền hình dạy học không

có sự điều khiển trực tiếp của GV và truyền hình dạy học tại lớp và có sự hướng dẫncủa GV

Trang 26

- Truyền hình dạy học không có sự điều khiển trực tiếp của GV.

Đó là các buổi phát hình của trung tâm truyền hình của thành phố, khu vựchay của trung tâm phát hình của trường phát đi Nội dung của các buổi phát hình cóthể là truyền thực tiếp hoặc phát lại những giờ dạy của các GV dạy giỏi, các chuyêngia hay các thợ lành nghề

Các buổi truyền hình rất thuận lợi cho việc tiến hành các bài giảng thuyếttrình HS nghiên cứu trước các tài liệu Trong buổi truyền hình người ta tổng kết vàgiới thiệu cho HS một cách trực quan các đối tượng và quá trình mà HS không thểtìm hiểu ngay tại lớp Các trung tâm truyền hình có thể sử dụng kho lưu trữ quốc gia

để cung cấp cho HS những tư liệu mà nhà trường không thể có được

Các buổi truyền hình thường được sử dụng trong công tác ngoại khóa Cácbuổi truyền hình này giúp cho HS thực hiện các bài tập về nhà, ôn tập, củng cố vàvận dụng kiến thực đã tiếp thu ở lớp đồng thời mở rộng và hiểu sâu hơn các kiếnthức đó

Ngoài ra, các buổi truyền hình còn được sử dụng để giáo dục hướng nghiệpcho HS, giúp HS xác định hướng đi trong tương lai, giáo dục nhân cách cho HS,tình yêu lao động, tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm, tác phong công nghiệp

Các buổi truyền hình dạy học còn có ý nghĩa rất lớn trong việc phổ biến cáckinh nghiệm sư phạm tiên tiến, hướng dẫn GV làm quen với những phương tiện dạyhọc mới và phương pháp sử dụng chúng

Hiện nay với truyền hình và các phương tiện của công nghệ thông tin người

ta đã giải quyết nhiều vấn đề về dạy học từ xa, hội thảo từ xa giữa các nhà khoa học

ở các lục địa khác nhau mà không cần phải tập trung tại một địa điểm

- Truyền hình dạy học có sự điều khiển trực tiếp của GV

Sự phát triển của kỹ thuật video đã giúp cho GV có một phương tiện nghe nhìn cóhiệu quả sử dụng cao trong dạy học trên lớp Khác với các buổi truyền hình, ở đây

GV có thể chủ động hơn trong việc cung cấp các thông tin cần thiết cho bài giảngtại những thời điểm thích hợp xen kẽ với bài giảng của GV và sự thảo luận của HS

Trang 27

Trên băng hình có thể cho HS quan sát đối tượng cả về bề ngoài lẫn về cấutạo bên trong và quá trình hoạt động của đối tượng Trong giờ dạy thực hành băngghi hình giúp cho GV hướng dẫn cho HS từng thao tác đơn giản, phân tích hoạtđộng của người thợ và máy móc để HS nắm vững kỹ năng, kỹ xảo làm việc

Đối với những quá trình xảy ra quá nhanh thì nhờ kỹ thuật video GV có thểcho tạm dừng để quan sát một giai đoạn cụ thể nào đó Đặc biệt, trong các thínghiệm vật lý thì video có thể thay thế cho việc chụp ảnh hoạt nghiệm và dùng làmnguồn cung cấp số liệu từ các thí nghiệm

Băng ghi hình còn được sử dụng trong việc theo dõi, đánh giá HS và pháthiện những sai sót mà họ mắc phải trong quá trình thực hành, thảo luận

Do không đòi hỏi nhiều về điều kiện vật chất nên video đang trở thànhphương tiện dạy học có hiệu quả cao

- MVT và phần mềm dạy học

Cùng với sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin, MVT đã và đang thâmnhập vào nhà trường Trong dạy học, MVT có thể được xem là một phương tiện đachức năng thể hiện rõ nhất ở chức năng của một phương tiện nghe nhìn có tương táccao

MVT và những phần mềm dạy học tương ứng đóng vai trò là nguồn cungcấp thông tin cho HS trong quá trình nhận thức Thông tin cung cấp từ MVT có thểđến từ nhiều nguồn khác nhau và được thể hiện dưới nhiều dạng (văn bản, tranhảnh, hoạt hình, phim, âm thanh )

Nếu được sử dụng hợp lý thì MVT đóng vai trò quan trọng trong việc cá biệthóa chương trình và nội dung học tập Từng HS có thể tham gia vào hoạt động họcvới máy tính và làm việc với máy tính theo một cách thức và con đường riêng,không ai giống ai

Sử dụng MVT trong học tập, HS được làm quen với một môi trường học tậpmới trong đó họ có nhiều điều kiện hơn để ôn tập, củng cố, tự kiểm tra kiến thức hoặc "dạy" cho máy tính làm một công việc cụ thể (thông qua lập trình hoặc cácchương trình hệ tác giả) Ví dụ, HS có thể tạo ra các mô hình về đối tượng mà mình

Trang 28

đã học, trên cơ sở đó có thể tiến đến việc sáng tạo ra những mô hình mới với nhữngcấu trúc nội tại khác hẳn các mô hình đã có.

Với hệ thống trò chơi đa dạng, phong phú, HS có thể học tập thông qua tròchơi, vận dụng những kiến thức vật lý, toán học để giải quyết một nhiệm vụ "ảo"trên máy tính Trong một số chương trình khác, HS có thể tự nghiên cứu một vi thếgiới với những định lý, định luật hoàn toàn như thế giới vật lý thực sự xung quanhmình nhưng ở một góc độ khác hẳn HS có thể thay đổi các tham số, yếu tố cấuthành của thế giới (ví dụ như bỏ hẳn ma sát giữa các mặt tiếp xúc)

1.2.4 Chức năng của MVT và các thiết bị ngoại vi trong dạy học Vật lý ở trường THPT[18]

1.2.4.1 MVT và các thiết bị ngoại vi làm phương tiện nghe nhìn

Trong quá trình dạy học vật lý có nhiều thí nghiệm vật lý, hiện tượng vật lýxẩy ra mà HS khó quan sát hoặc không thể quan sát được Vì vậy mà HS khônghiểu rõ bản chất vật lý của các hiện tượng thông qua việc mô tả bằng lời, tranh vẽcủa GV

MVT với khả năng đồ họa phong phú, xử lý dữ liệu nhanh chính xác và đadạng, thêm vào đó lại có rất nhiều chương trình mô phỏng minh họa vì vậy có thểxây dựng các phim dạy học trên MVT như các vi deo thí nghiệm, các đoạn phim môphỏng các hiện tượng vật lý, biểu diễn đồ thị của các chuyển động, tranh ảnh…Thông qua đó mà HS quan sát được các sự kiện, hiểu rõ hơn bản chất vật lý của cáchiện tượng Như vậy MVT có khả năng trực quan hóa cao do đó giúp HS hiểu hơn

về bản chất của các quá trình và đặc biệt giúp HS nắm vững các khái niệm có tínhtrừu tượng So với các phương tiện trực quan truyền thống khác đã được sử dụngrộng rãi trong dạy học thì MVT tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn nhờ có khả năng phốihợp nhiều phương tiện nghe nhìn khác, nhờ khả năng truy cập thông tin nhanh,chính xác tới kho dữ liệu, nhờ khả năng lặp tùy ý, nhờ khả năng làm chậm dần,nhanh dần, phóng to thu nhỏ sự vật, hiện tượng vật lý

1.2.4.2 Lưu trữ, truyền dẫn và xử lý thông tin

Trang 29

MVT có khả năng lưu trữ thông tin rất lớn, các văn bản, hình ảnh tĩnh, động.Các bảng biểu, các sơ đồ, các đồ thị… có thể nói tất cả các dữ liệu liên quan đếnquá trình dạy học có thể được số hóa và lưu trên các thiết bị nhớ của MVT như đĩa

từ, băng từ, đĩa CD – ROM, USB, ổ cứng… Đặc biệt khi MVT được kết nối mạngInternet thì thông tin được lưu trữ trên mạng càng phong phú và đa dạng hơn rấtnhiều

Ngoài việc lưu trữ thông tin MVT còn có thế mạnh là xử lý các thông tin từcác ngân hàng dữ liệu có sẵn một cách nhanh chóng chính xác Nếu GV sử dụngthích hợp các chương trình các phần mềm thích hợp thì từ các thông tin rời rạc chưamang ý nghĩa có thể tập hợp sắp xếp kết nối thành dữ lựu mang nội dung vật lý, từcác số liệu thu tập được sẽ được xử lý và cho kết quả… Các thông tin đã được xử lýnày có thể phục vụ cho việc đặt vấn đề, xây dựng tri thức mới, luyện tập củng cốkiến thức đã học

Các thông tin đã được xử lý “làm giàu” khi đưa vào phục vụ giảng dạy thìngười GV cần phải sử dụng đến MVT và các thiết bị khác để truyền dẫn các thôngtin này đến người học là HS Các thông tin được truyền dẫn có thể ngay tại phònghọc thông qua máy chiếu, MVT, màn hình ti vi, loa… hoặc các thông tin có thểđược truyền dẫn đi xa hơn thông qua hệ thống mạng Internet theo kiểu đào tạo từ

xa Cũng nhờ khả năng truyền dẫn thông tin mà nhà trường, GV, HS có thể biếtđược hoạt động dạy học của các cơ sở đào tạo khác Xử lý các thông tin phản hồigiúp GV điều chỉnh nhịp độ dạy học, cải tiến phương pháp dạy học, giúp HS xácđịnh đúng những phần kiến thức cần phải bổ sung ôn lại

1.2.4.3 Thiết kế các mô hình, thí nghiệm ảo vật lý

Trong quá trình dạy học vật lý có nhiều thí nghiệm mà GV không thể tiếnhành được hoặc không đủ điều kiện để tiến hành thí nghiệm, có nhiều mô hình chitiết máy mà HS không quan sát được phía trong vì vậy cần phải có sự hỗ trợ củaMVT Hiện nay có rất nhiều phần mềm giúp GV thiết kế lắp ráp các thí nghiệm ảo,các mô hình để vận dụng trong quá trình dạy học Như phần mềm Flash thiết kế cácthí nghiệm ảo, các mô hình chuyển động, các video… phần mềm Crocodile Physics

Trang 30

dùng lắp ghép các thí nghiệm, phần mềm Java, Flash xây dựng và thiết kế các thínghiệm ảo, phần mềm PowerPoint có thể mô phỏng các chuyển động, hoặc các thínghiệm đơn giản, phần mềm Auto CAD hỗ trợ thiết kế các chi tiết máy…

Thiết kế xây dựng các mô hình, thí nghiệm ảo để phục vụ dạy học vật lý GVcần chú ý đến tính chính xác, nếu các mô hình thì phải được mô tả đúng với vậtthật

1.2.4.4 Tự động hóa các thí nghiệm vật lý

Vật lý là môn khoa học thực nghiệm vì vậy trong quá trình giảng dạy người

GV nhất thiết phải sử dụng các thí nghiệm thật MVT có khả năng kết nối đựơc vớicác thí nghiệm thật để chuyển các tín hiệu về dao động điện, các chuyển động cơthành các tín hiệu số sau đó xử lý và cho kết quả Như vậy MVT có thể dùng để đođạc các đại lượng vật lý, tính toán các đại lượng vật lý liên quan thông qua các côngthức toán học, biểu diễn các định luật vật lý, biểu diễn các quỹ đạo chuyển động củacác vật thể, xử lý số liệu tính toán sai số… Đặc biệt đối với các thí nghiệm nguyhiểm, đắt tiền, khó thực hiện bằng thủ công thì ta có thể viết chương trình choMVT để điều khiển tự động thí nghiệm mà con người không phải trực tiếp tiến hànhthí nghiệm Như vậy thông qua các thí nghiệm tự động hóa cũng giúp HS làm quenvới hệ thống điều khiển tự động đang được ứng dụng rộng rãi trong các ngành côngnghiệp hiện nay

1.2.4.5 Hỗ trợ HS trong ôn tập

Ôn tập là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học giúp HS củng cố vàkhắc sâu kiến thức đã học MVT có khả năng hỗ trợ tích cực cho việc ôn tập của HSnhờ các phần mềm ôn tập cho một bài, một chương, một phần được cài sẵn trênMVT để HS ôn tập kiến thức của mình Trong chương trình ôn tập có thể phối hợpcác dạng biểu diễn thông tin phong phú nhằm giúp HS có thể nắm vững kiến thức

đã học, phát triển khả năng khái quát hóa, năng lực tổng hợp các vấn đề, các sựkiện HS cũng có thể giải các bài tập khác nhau trên MVT thông qua đó mà hiểusâu sắc hơn các kiến thức đã học Đặc biệt, có thể đưa vào chương trình ôn tập

Trang 31

những sự kiện thực tiễn tạo cơ hội cho HS gắn hoạt động học tập trong nhà trườngvới thực tế ứng dụng của đời sống xã hội

1.2.4.6 Kiểm tra, đánh giá kiến thức HS

Kiểm tra đánh giá kiến thức của HS, đây là một thế mạnh của MVT và được

áp dụng rộng rãi trong các nhà trường Bằng các hình thức như trác nghiệm kháchquan trên MVT, hệ thống câu hỏi, đáp án, thang điểm được GV chuẩn bị sẵn trênmáy, HS tiến hành trả lời trực tiếp trên máy bằng cách chon đáp án đúng MVT thựchiện việc cho điểm, đánh giá một cách chính xác và khách quan

Ngoài ra MVT còn hỗ trợ GV trong công việc tính điểm xếp loại các mômhọc, cả năm học, thống kê, lựa chọn, tính phần trăm học lực, hạnh kiểm rất nhanhchóng và chính xác

1.2.5 Các hình thức sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi trong quá trình dạy học Vật lý ở trường THPT[22].

1.2.5.1 MVT và các thiết bị ngoại vi làm phương tiện giảng dạy của GV

Với hình thức này GV dùng MVT và các thiết bị ngoại vi làm phương tiện

hỗ trợ cho việc giảng dạy để truyền đạt tri thức cho HS Bên cạnh các lĩnh vực sửdụng thường thấy trong các môn học khác như: ôn tập, kiểm tra đánh giá và xử lýkết quả bằng máy… MVT còn được sử dụng chủ yếu trong giảng dạy vật lí ở cáclĩnh vực quan trọng như sau:

+ Sử dụng MVT trong mô phỏng các đối tượng vật lí nghiên cứu của vật lí

+ Sử dụng MVT hỗ trợ việc xây dựng các mô hình toán học (đồ thị, biểu thức,phương trình) của các hiện tượng, quá trình vật lí

+ Sử dụng MVT hỗ trợ các thí nghiệm vật lí

+ Sử dụng MVT hỗ trợ việc phân tích băng hình ghi quá trình vật lí thực

1.2.5.2 MVT làm phương tiện luyện tập và mở rộng kiến thức của HS

Hình thức này HS có thể độc lập sử dụng MVT để ôn tập củng cố, tìm kiếm

và mở rộng kiến thức hoặc HS được sự hướng dẫn của GV để luyện tập với cáchình thức chủ yếu sau:

+ Làm các bài tập trắc nghiệm trên MVT

Trang 32

+ Tiến hành thí nghiệm có sự trợ giúp của MVT được GV hướng dẫn hoặc không.+ Học tập và mở rộng kiến thức bằng việc sử dụng MVT tìm kiếm trên mạngInternet.

1.2.6 Các yêu cầu khi sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi trong dạy học vật lý

ở trường THPT

Phương tiện dạy học nói chung, MVT và các thiết bị ngoại vi nói riêng có tácdụng làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức của HS, giúp cho HS thu nhận đượckiến thức về đối tượng thực tiễn khách quan Tuy vậy, nếu không sử dụng MVT vàcác thiết bị ngoại vi một cách hợp lý, thì hiệu quả sư phạm của nó không nhữngkhông tăng lên mà còn làm cho HS khó hiểu, rối loạn, căng thẳng Do đó khi sửdụng MVT và các thiết bị ngoại vi vào quá trình dạy học các GV phải chú ý các yêucầu đó là đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường độ, đảm bảo tính trực quan, tính chínhxác khoa học

1.2.6.1 Sử dụng đúng lúc

Sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi có ý nghĩa là đưa phương tiện dạy họchiện đại vào lúc cần thiết, lúc HS mong muốn nhất (mà trước đó thầy giáo đã dẫndắt, nêu vấn đề, gợi ý ) và được quan sát, gợi nhớ trong trạng thái tâm sinh lýthuận lợi nhất

Hiệu quả của MVT và các thiết bị ngoại vi được nâng cao rất nhiều nếu nóxuất hiện đúng vào lúc mà nội dung, phương pháp của bài giảng cần đến nó Cầnđưa phương tiện vào theo trình tự bài giảng, tránh việc trưng ra hàng loạt phươngtiện trong một tiết học hoặc biến phòng học thành phòng trưng bày, triển lãm.Phương tiện dạy học phải được đưa ra sử dụng và cất giấu đúng lúc

Khi sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi cần phải có sự chuẩn bị chu đáo từtrước tránh tình trạng trong giờ học GV mới lắp ráp, sửa, tìm kiếm… nghĩa là chưa

có sự chuẩn bị từ trước, như vậy việc tiếp thu của HS thì sẽ không mang lại kết quảmong muốn, thậm chí còn làm tản mạn sự theo dõi của HS

Với cùng một phương tiện dạy học đó là MVT và các thiết bị ngoại vi cũngcần phải phân biệt thời điểm sử dụng: Khi nào thì được đưa vào trong giờ giảng, khi

Trang 33

nào thì dùng trong buổi hướng dẫn ngoại khóa, dùng trong giờ nghỉ, hay dùng trongthảo luận ở ký túc xá

Cần nghiên cứu và bố trí lịch sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi theo từngtiết học, tiết nào cần thiết thì sử dụng nếu không thì sử dụng các phương tiện khácnhư vậy mới nâng cao hiệu quả của từng loại phương tiện

1.2.6.2 Sử dụng đúng chỗ

Sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi làm phương tiện dạy học đúng chỗ tức

là phải tìm vị trí để các phương tiện, trình bày phương tiện trên lớp hợp lý nhất,giúp HS có thể đồng thời sử dụng nhiều giác quan để thiếp thu bài giảng một cáchđồng đều ở mọi vị trí trên lớp

Một yêu cầu hết sức quan trọng trong việc sử dụng MVT và các thiết bịngoại vi làm phương tiện dạy học trên lớp là phải tìm vị trí lắp đặt, điều chỉnh kíchthước, độ nét màn hình sao cho toàn lớp có thể quan sát rõ ràng, đặc biệt là hai hàng

HS ngồi sát hai bên tường và hàng ghế cuối lớp

Các phương tiện phải được sử dụng phải để ở những vị trí tuyệt đối an toàncho GV và HS trong và ngoài giờ giảng, đồng thời phải bố trí sao cho không ảnhhưởng đến quá trình làm việc, học tập của các lớp khác

Đối với các phương tiện được cất tại các nơi bảo quản, phải sắp xếp sao chokhi cần đưa đến lớp GV ít gặp khó khăn và mất thời gian

Phải bố trí chỗ cất giấu phương tiện ngay tại lớp sau khi sử dụng để khônglàm mất tập trung tư tưởng của HS khi nghe giảng

Trang 34

Việc áp dụng thường xuyên các phương tiện nghe nhìn ở trên lớp sẽ dẫn đến

sự quá tải về thông tin do HS không kịp tiêu thụ hết khối lượng kiến thức được cungcấp Sự quá tải lớn về thị giác sẽ ảnh hưởng đến chức năng của mắt, giảm thị lực vàảnh hưởng xấu đến việc dạy và học Để bảo đảm yêu cầu về chế độ làm việc củamắt chỉ nên sử dụng phương tiện nghe nhìn không quá 2-3 lần trong tuần và mỗi lầnkhông quá 20-30 phút

Những vấn đề xét ở trên chỉ mới vạch ra con đường giải quyết và những khókhăn gặp phải khi sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi làm phương tiện dạy học.Việc áp dụng có hiệu quả MVT và các thiết bị ngoại vi làm phương tiện dạy họccòn tùy thuộc vào khả năng sáng tạo, kinh nghiệm nghề nghiệp của GV

1.2.6.4 Đảm bảo tính trực quan

Khi sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi trong quá trình dạy học GV cầnchú ý đến tính trực quan của phương tiện dạy học mình sử dụng Nếu các thiết bịnày phục vụ cho việc giảng dạy thì phải đảm các nội dung đưa ra cả lớp học phảiquan sát được, các đoạn phim, tranh ảnh, các chi tiết may, hình vẽ đồ thị…phải rõràng, chi tiết nào nhỏ mắt không thể quan rát rõ thì cần phải phóng to Các thínghiệm mô phỏng hiện tượng xẩy ra phải rõ hơn thí nghiệm thật, cỡ chữ và phôngchữ cần phải rõ ràng dễ đọc những cụm từ quan trọng có thể in đậm, in nghêng,chọn màu khác làm nổi bật lên GV cần chú ý làm nổi bật để HS dễ quan sát khôngđược làm quá “bắt mắt” thu hút HS vào chi tiết đó quên mất các chi tiết khác trongbài giảng

1.2.6.5 Đảm bảo tính chính xác, khoa học

Các nội dung bài học, thí nghiệm mô phỏng, hiện tượng vật lý, quỹ đạochuyển động, đồ thị… khi đưa vào dạy học bằng MVT và các thiết bị ngoại vi đòihỏi phải chính xác phản ánh đúng thực tế không được thay đổi hình dáng kiểu cáchhay thêm bớt các chi tiết Nội dung đưa vào phải bố trí khoa học, hợp lý dễ nhìn dễtiếp thu và dễ nhận biết

Trang 35

3 Thực trạng của việc sử dụng MVT trong dạy học ở các trường THPT thuộc các huyện miền núi tỉnh Nghệ An

2.1 Cơ sở vật chất

Hiện nay tất cả các trường THPT ở các huyện miền núi thuộc tỉnh Nghệ Anđều được Sở GD & ĐT Nghệ An hỗ trợ trang bị cho một phòng học MVT gần 40chiếc kết nối mạng LAN có nhiều trường còn kết nối mạng Internet, hai đầu máychiếu, 3 đến 5 ti vi màn hình cỡ lớn, đầu đĩa CD Với cơ sở vật chất hiện có cáctrường THPT ở các huyện miền núi thuộc tỉnh Nghệ An đủ điều kiện đưa MVT vàodạy học khai thác phát huy thế mạnh của MVT nhằm nâng cao chất lượng dạy học.Nhìn chung các trường chỉ sử dụng MVT cho HS thực hành môn tin học còn cácmôn học khác chưa vận dụng MVT vào giảng dạy nếu có thì rất ít

2.2 Thực trạng sử dụng MVT trong quá trình dạy học của môn vật lý

2.2.1 Phương pháp điều tra khảo sát

Vào cuối năm học 2007 – 2008 tôi đã tiến hành điều tra thực trạng sử dụngMVT và các thiết bị ngoại vi trong dạy học môn vật lý ở ba trường THPT dân tộcnội trú Kỳ Sơn, THPT dân tộc nội trú Tương Dương và THPH dân tộc nội trú ConCuông của tỉnh Nghệ An Tôi đã phát phiếu điều tra theo mẫu [] cho các GV dạymôn vật lý ở các trường nói trên nhờ họ hoàn thành mẫu phiếu Sau đó xử lý kết quảtính phần trăm

2.2.2 Sử dụng MVT trong giảng dạy của GV

- Sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi trong giảng dạy trên lớp

Đối với môn vật lý không phải tiết nào cũng có thể sử dụng MVT và máychiếu để giảng dạy trên lớp, tuy nhiên có nhiều tiết học nếu sử dụng MVT vào giảngdạy sẽ hỗ trợ cho GV được rất nhiều, giúp HS tiếp thu bài học dễ hơn như vậy quátrình dạy học có hiệu quả hơn Tuy vậy trong thực tế GV sử dụng MVT và máychiếu trong giảng dạy thì lại rất ít Theo thống kê ba trường THPT của ba huyện KỳSơn, Tương Dương, Con Cuông của tỉnh Nghệ An trong năm học 2007 - 2008 tôithu được kết quả như sau:

Có 61,3% GV không sử dụng MVT để giảng dạy trong cả năm học

Trang 36

Có 23,5% GV sử dụng MVT để giảng dạy từ 1 đến 3 tiết trong cả năm học.

Có 12% GV sử dụng MVT để giảng dạy từ 4 đến 5 tiết trong cả năm học.Còn lại là số GV sử dụng MVT để giảng dạy trên 5 tiết trong cả năm học.Theo số liệu thống kê này thì tỷ lệ GV sử dụng MVT trong giảng dạy là quáthấp so với số tiết học vật lý có thể sử dụng MVT trong giảng dạy Lý do một phần

vì trình độ tin học của GV các trường THPH của các huỵên miền núi thuộc tỉnhNghệ An còn kém, một phần vì các GV ngại soạn giáo án điện tử vì mất nhiều thờigian, một phần nữa một số GV chưa nhận thức hết những ưu điểm mà MVT manglại trong quá trình dạy học

- Sử dụng MVT và các thiết bi ngoại vi trong hỗ trợ thí nghiệm vật lý

Đối với hình thức này theo số liệu thống kê của các trường đã nói ở trên thìkhông có một thí nghiệm vật lý nào được hỗ trợ của MVT Nguyên nhân do cơ sởvật chất của các trường này còn thiếu, nghiệp vụ về ứng dụng tin học trong các thínghiệm vật lý hầu như chưa được đào tạo (không biết sử dụng phần mềm nào, kếtnối như thế nào, cho các thí nghiệm nào)

- Sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi trong dạy học ngoại khóa

Trong dạy học ngoại khóa thì các trường đều một năm tổ chức một lần cho

cả ba khối, có trường thì cả năm không có một buổi học ngoại khóa nào cho HS.Trong các buổi ngoại khóa thì hầu như các trường đã sử dụng MVT để tổ chức buổingoại khóa song số lượng buổi ngoại khóa quá ít và làm tập trung cả trường màkhông tổ chức theo lớp hoặc theo khối Đối với môn vật lý thì GV không tổ chứccho HS học ngoại khóa lý do một số GV cho rằng trong phân phối chương trìnhkhông có tiết học ngoại khóa, một số GV trả lời do điều kiện cơ sở vật chất khôngcho phép

- Sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi trong dạy học trên mạng

Với hình thức dạy học trên mạng chưa có một GV nào ở các trường nói trên thựchiện được với nhiều lý do:

Trang 37

Thứ nhất: các trường mặc dù đã có phòng MVT được kết nối mạng LANnhưng các GV vật lý thì lại không thành thạo sử dụng mạng LAN để phục vụ chomục đích dạy học của mình.

Thứ hai: Phần lớn các GV chưa thiết kế được trang Web dạy học để có thểđưa vào giảng dạy trên mạng nội bộ của nhà trường

Thứ ba: Trình độ tin học của HS các huyện miền núi thuộc tỉnh Nghệ An cònhạn chế nên việc sử dụng MVT một cách độc lập để học tập là rất khó, GV khôngthể hướng dẫn từng em trong một tiết học được

- Sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vi trong kiểm tra đánh giá

Phần lớn các GV chỉ sử dụng MVT trong công việc soạn đề thi trắc nghiệm

và tính điểm cho HS chứ chưa có hình thức thi trắc nghiệm và đánh giá trực tiếptrên MVT Nguyên nhân ở một số trường mặc dù đã có phòng MVT nhưng các GVvật lý gặp khó khăn rất nhiều trong việc sử dụng các phần mềm thi trắc nghiệm trựctiếp trên MVT như công việc soạn ngân hàng câu hỏi, kết nối với máy chủ, cáchtính điểm…

2.2.3 Sử dụng MVT trong học tập của HS

- Sử dụng MVT để giải bài tập vật lý

Do điều kiện HS của các trường THPT của các huyện miền núi thuộc tỉnhNghệ An phần lớn đều là con em dân tộc vùng sâu vùng xa nên điều kiện kinh tếcòn rất khó khăn, các em chưa có MVT riêng để học ở nhà vì vậy việc sử dụngMVT để học nói chung và để học vật lý nói riêng là hầu như không có Chỉ có một

số ít HS gia đình có điều kiện mới có MVT nhưng thực tế các em vẫn chưa khaithác hết các ưu điểm của MVT với nhiều lý do khác nhau, có thể các em không biếtcác đĩa CD tự học vật lý hay các phần mềm dạy học vật lý, các trang Web vật lý

- Sử dụng MVT để tìm kiếm thông tin vật lý

Bây giờ hầu như ở huyện nào cũng có các quán Internet song phần lớn HSvào quán chỉ để chơi điện tử hoặc Chat, một số rất ít HS tìm kiếm thông tin phục vụcho việc học nói chung và học vật lý nói riêng Nguyên nhân một phần vì các emquan niệm chỉ cần học trong SGK là đủ, thậm chí học chưa hết, một phần vì các em

Trang 38

chưa được sự hướng dẫn của các GV nên chưa biết cách khai thác tìm kiếm thôngtin trên mạng để phục vụ cho việc học của mình.

3 Kết luận chương 1

Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng MVT và các thiết bịngoại vi làm phương tiện dạy học và thực tiễn sử dụng MVT và các thiết bị ngoại vilàm phương tiện dạy học trong các trường THPT nói chung và các trường THPT ởcác huyện miền núi thuộc tỉnh Nghệ An nói riêng chúng tôi thấy rằng:

- MVT và các thiết bị ngoại vi góp phần kích thích tạo động cơ học tập cho HS Cácphần mềm dạy học, các hình ảnh minh họa, mô phỏng… giúp tăng cường tính trựcquan trong học tập làm cơ sở cho việc phát triển các năng lực tư duy của HS Họctập với MVT và các thiết bị ngoại vi sẽ tạo ra cho HS hứng thú học tập ở mức độcao, kích thích và duy trì sự chú ý của họ vào hoạt động học tập MVT và các thiết

bị ngoại vi cũng tạo ra cho HS sự tò mò, lòng ham muốn tìm tòi hiểu biết cái mới

do đó sẽ tạo ra được một tình huống học tập tích cực

- Học tập với MVT và các thiết bị ngoại vi đòi hỏi HS phải huy động tối đa đồngthời nhiều giác quan: mắt nhìn, tai nghe, óc nghĩ do đó sẽ tích cực hóa được việchọc tập Thông qua hoạt động các giác quan mà HS được rèn luyện, củng cố, hoànthiện các hành vi của mình để hình thành kỹ năng kỹ xảo, các tri thức khoa họcđược HS ghi nhớ nhanh hơn, bền vững hơn

- MVT có thể sử dụng ở mọi giai đoạn của quá trình dạy học Có thể sử dụng MVT

để nêu vấn đề nghiên cứu, sử dụng MVT để làm phương tiện minh họa, mô phỏnghoặc tiến hành các thí nghiệm để hình thành tri thức mới cho HS, sử dụng các phầnmềm dạy học để ôn tập hệ thống hóa kiến thức đã học, hoặc sử dụng MVT trongviệc kiểm tra đánh giá kiến thức của HS

- Về mặt hình thức sử dụng MVT có thể được tính hành dưới các dạng: GV sửdụng, HS sử dụng độc lập, HS sử dụng có sự trợ giúp các GV Các hình thức này cóthể sử dụng dưới nhiều cách khác nhau như lồng ghép, phối hợp với các phươngtiện dạy học khác

Trang 39

- Các trường THPT ở các huyện miền núi HS phần lớn là con em các dân tộc vùngsâu vùng xa năng lực nhận thức, khả năng tư duy, óc tưởng tượng có phần hạn chếhơn so với HS ở các vùng dưới xuôi Vì vậy để HS có thể hiểu, ghi nhớ một lượngkiến thức nào đó thì đòi hỏi GV phải tạo điều kiện cho HS nghe được, thấy được vàđặc biệt là làm được.

Với điều kiện kinh tế như vậy thì các trường không thể trang bị đầy đủ cácphương tiện dạy học cho tất cả các môn học nói chung và môn vật lý nói riêng GVgiảng dạy thường là dạy “chay” thiếu trang thiết bị thí nghiệm Bên cạnh đó GV sửdụng MVT và các thiết bị ngoại vi vào quá trình dạy học con rất ít làm nội dung dạyhọc trở nên khó hiểu, khó tiếp thu đối với HS, dẫn đến hạn chế khả năng tư duy,tính sáng tạo của HS rất nhiều, không đáp ứng được yêu cầu đổi mới GD hiện naycủa nước ta

Trang 40

CHƯƠNG 2

SỬ DỤNG MÁY VI TÍNH VÀ CÁC THIẾT BỊ NGOẠI VI VÀO DẠY HỌC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT LÝ 12 BAN CƠ BẢN

1 Nội dung cơ bản của chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 ban cơ bản

Trước khi giảng dạy một phần, một chương hay một bài nào đó GV cần phảinắm rõ nội dung của phần đó, chương đó, bài học đó Từ đó xác định mục đích củaphần, của chương, của bài học đó và vận dụng phương pháp hợp lý cho từng nộidung bài học cụ thể

Khi đã biết mục đích dạy học, và hơn nữa những dạng của nội dung cũngnhư những cách thức lĩnh hội chúng, ta sẽ có thể xác định được đặc tính của hoạtđộng cả của thầy lẫn của trò trong mỗi cách thức lĩnh hội, nghĩa là đặc trưng củamỗi phương pháp dạy học

Theo quan điểm của dạy học giải quyết vấn đề thì nội dung dạy học phảiđược sắp xếp thành từng chuỗi các vấn đề nhận thức Trong điều kiện của tài liệudạy học hiện nay muốn thực hiện dạy học giải quyết vấn đề GV cần phải căn cứmục tiêu, nhiệm vụ và yêu cầu của chương trình và một logic nhất định để vừa đảmbảo nội dung dạy học theo yêu cầu của chương trình vừa tạo nội dung dạy học nhằmphát triển năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề cho HS[9]

Nội dung và tiến trình dạy học cuối chương được chúng tôi thể hiện chi tiếttrong sơ đồ 1 (phần phụ lục)

2 Dấu hiệu chung để nhận biết các bài học cần có sự trợ giúp của MVT và các thiết bị ngoại vi

2.1 Những khái niệm vật lý trừu tượng

Vật lý là một môn khoa học có nhiều khái niệm trừu tượng mà HS không sờđược, không nhìn thấy, không nghe được, không ngửi được Ví dụ như khái niệmĐiện trường, Từ trường… HS rất khó hình dung, tưởng tượng, hình dạng, các tínhchất của những đại lượng đặc trưng cho các khái niệm này Dẫn đến HS hiểu mộtcách mơ hồ, không chính xác về các khái niệm này Vận dụng MVT và các phần

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên kiêm chủ biên) (2006), Vật lý 10, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 10
Tác giả: Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên kiêm chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2006
2. Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên) (2007), Vật lý 11, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 11
Tác giả: Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2007
3. Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên) (2008), Vật lý 12, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 12
Tác giả: Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2008
4. Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên) (2008), Sách GV Vật lý 12, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách GV Vật lý 12
Tác giả: Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2008
5. Hoàng Chúng (1983), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học và giáo dục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học và giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
6. M.A. Đanilôp (1980) (Chủ biên), Lý luận dạy học ở trường phổ thông (Đỗ Thị Trang dich), Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học ở trường phổ thông
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
7. Vn – Guide (2005), 20 đề tài thưch hành Flash, Nxb Thống kê, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 đề tài thưch hành Flash
Tác giả: Vn – Guide
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005
8. Trần Thúy Hằng (2008), Thiết kế bài giảng Vật lý 12 Tập 1, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Vật lý 12 Tập 1
Tác giả: Trần Thúy Hằng
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
9. Hồ Chí Hòa (2003) (Chủ biên), Tự học và thực hành Macromedia Flash MX, Nxb Thống kê, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học và thực hành Macromedia Flash MX
Nhà XB: Nxb Thống kê
11. Hà Hùng, Trần Toàn (1997), TN vật lý phổ thông – ĐHSP Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: TN vật lý phổ thông
Tác giả: Hà Hùng, Trần Toàn
Năm: 1997
12. Nguyễn Quang Lạc (?), Lý luận dạy học hiện đại ở trường phổ thông, Bài giảng chuyên đề cho học viên cao học, Trường ĐH Vinh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại ở trường phổ thông
13. Robert J. Marzano (2005), Các phương pháp dạy học hiệu quả ( Hồng Lạc dịch), Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp dạy học hiệu quả
Tác giả: Robert J. Marzano
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2005
14. Pitaget – Tuyển tập tâm lý học (1996), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tâm lý học
Tác giả: Pitaget – Tuyển tập tâm lý học
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
15. Vũ Quang (Tổng chủ biên) (2004),Vật lý 6, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 6
Tác giả: Vũ Quang (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2004
16. Vũ Quang (Tổng chủ biên) (2008), Vật lý 7, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 7
Tác giả: Vũ Quang (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2008
17. Vũ Quang (Tổng chủ biên) (2007), Vật lý 8, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 8
Tác giả: Vũ Quang (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2007
18. Vũ Quang (Tổng chủ biên) (2008), Vật lý 9, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 9
Tác giả: Vũ Quang (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2008
19. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế (2002), Phương pháp dạy học ở trường phổ thông, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2002
22. Mai Văn Trinh (Chủ nhiệm đề tài) (2005), Ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển phương tiện dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học vật lý, Đề tài cấp bộ, Trường ĐH Vinh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển phương tiện dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học vật lý
Tác giả: Mai Văn Trinh (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2005
28. Website, http://thuvienvatly.com.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân phối thực nghiệm: Số HS đạt điểm  d i - Nâng cao chất lượng dạy học chương  dòng điện xoay chiều vật lí 12 ban cơ bản ở các trường THPT miền núi, tỉnh nghệ an với sự trợ giúp của máy tính và các thiết bị ngoại vi
Bảng 1 Phân phối thực nghiệm: Số HS đạt điểm d i (Trang 74)
Bảng 3: Lũy tích: Số % HS đạt điểm  ≤ d i - Nâng cao chất lượng dạy học chương  dòng điện xoay chiều vật lí 12 ban cơ bản ở các trường THPT miền núi, tỉnh nghệ an với sự trợ giúp của máy tính và các thiết bị ngoại vi
Bảng 3 Lũy tích: Số % HS đạt điểm ≤ d i (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w