Vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trang 11.1 Quan niệm về kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường
1.1.2 Kinh tế thị trường định hướng XHCN
1.2 Quan niệm về kinh tế nhà nước ở nước ta
1.2.1 Khái niệm kinh tế nhà nước
1.2.2 Vai trò của kinh tế nhà nước
2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
2.1 Thực trạng vai trò mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tếkhác
2.2 Thực trạng vai trò đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xãhội
2.2 Thực trạng là lực lượng vật chất để nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô
3 PHƯƠNG HƯỚNG CẢI CÁCH NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
3.1 Nắm giữ lĩnh vực then chốt trọng yếu của nền kinh tế
3.2 Nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước
3.3 Tổ chức, sắp xếp lại kinh tế nhà nước
3.4 Đổi mới cơ chế quản lý của nhà nước
Trang 21 LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Quan niệm về kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế – xã hội, trong đó quátrình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng đều được thực hiện thôngqua thị trường Vì thế kinh tế thị trường không chỉ là "công nghệ", là
"phương tiện" để phát triển kinh tế – xã hội, mà còn là những quan hệ kinh
tế – xã hội, nó không chỉ bao gồm các yếu tố của lực lượng sản xuất, mà còn
cả một hệ thống quan hệ sản xuất Như vậy, chứng tỏ không có và không thể
có một nền kinh tế thị trường chung chung, thuần túy, trừu tượng tách rờikhỏi hình thái kinh tế – xã hội, tách rời khỏi chế độ chính trị – xã hội củamột nước Do đó, để phân biệt các nền kinh tế thị trường khác nhau, trướchết phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêu kinh tế – xã hội mà nhà nước
và nhân dân lựa chọn làm định hướng, chi phối sự vận động phát triển củanền kinh tế đó
1.1.2 Kinh tế thị trường định hướng XHCN
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổchức nền kinh tế – xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật củakinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa
xã hội Bởi vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có hai nhómnhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau Đó
là, nhóm nhân tố của kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của xu hướng mớiđang vận động, đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó,nhóm thứ nhất đóng vai trò "động lực" thúc đẩy sản xuất xã hội phát triểnnhanh, hiệu quả; nhóm thứ hai đóng vai trò "hướng dẫn", "chế định" sự vậnđộng của nền kinh tế theo những mục tiêu đã xác định, bổ sung những mặttích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường, hoàn thiện mô hình chủnghĩa xã hội.Có thể nói rằng: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 3ở nước ta vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừamang tính đặc thù, đó là định hướng xã hội chủ nghĩa Tính định hướng xãhội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh
tế thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ởnước ta với các nước khác
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có bađiểm rất cơ bản là: lấy chế độ công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu làmnền tảng và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo nền kinh tế quốc dân; kếthợp nhiều hình thức phân phối, trong đó phân phối chủ yếu theo kết quả laođộng và hiệu quả kinh tế, thực hiện tốt các chính sách xã hội; Nhà nước xãhội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân, vì dân thực hiện chức năng quản
lý nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Cóthể luận giải ba điểm trên như sau:
Thứ nhất, chế độ đa sở hữu và đa thành phần kinh tế Cốt lõi của kinh
tế thị trường là sản xuất hàng hóa, trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ trênthị trường theo quy luật thị trường Sản xuất và trao đổi chỉ xảy ra khi mọichủ thể tham gia vào nền kinh tế thị trường độc lập với nhau, và vì vậymuốn thỏa mãn nhu cầu xã hội thì phải trao đổi sản phẩm gọi là hàng hóa.Các chủ thể, bởi thế, phải ý thức rõ ràng về sở hữu vật đem trao đổi, cũngnhư lợi ích từ việc trao đổi đó Người lao động có thể là một người lao động
cá thể hay một người lao động tổng thể Xét trên phạm vi cả xã hội thì chỉthông qua trao đổi lao động tư nhân mới biểu hiện thành lao động xã hội,mới chứng tỏ lao động tư nhân đó được xã hội thừa nhận
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dựa trên nhiều hìnhthức sở hữu, như: sở hữu toàn dân mà nhà nước là đại diện chủ sở hữu, sởhữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp, song chế độ sở hữu côngcộng (công hữu, toàn dân) về tư liệu sản xuất chủ yếu đóng vai trò nền tảngcủa nền kinh tế quốc dân Từ các hình thức sở hữu cơ bản hình thành nhiều
Trang 4thành phần kinh tế với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng,đan xen, hỗn hợp.
Việc thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tếnhiều thành phần dựa trên cơ sở giải phóng sức sản xuất, động viên tối đanguồn lực bên trong và bên ngoài để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đạihóa, nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống nhân dân
Bên cạnh đó phải chủ động đổi mới, củng cố và phát triển kinh tế nhànước và kinh tế tập thể để chúng trở thành nền tảng của nền kinh tế, có khảnăng hướng dẫn các thành phần kinh tế khác phát triển theo đúng địnhhướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế nhà nước phải được củng cố và phát triển ởcác vị trí then chốt của nền kinh tế, các lĩnh vực dịch vụ xã hội cần thiếtcũng như an ninh – quốc phòng, mà các thành phần kinh tế khác không cólợi thế hoặc đầu tư không có hiệu quả Xác lập, củng cố và nâng cao địa vịlàm chủ của người lao động trong nền sản xuất xã hội, thực hiện công bằng
xã hội ngày càng tốt hơn
Thứ hai, kết hợp nhiều hình thức phân phối, trong đó phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chính; thực hiện tốt các chính sách
xã hội Muốn cho nền kinh tế thị trường không ngừng nâng cao đời sốngnhân dân, bảo đảm tốt các vấn đề xã hội và thực hiện công bằng xã hội, thìNhà nước phải chủ động thực hiện và điều tiết các quan hệ phân phối, cụ thểnhư:
Kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội Mục đích của sự kếthợp này là vừa bảo đảm cho các chủ thể tham gia kinh tế thịtrường có điều kiện đua tranh phát huy tài năng và có lợi nhuậncao, vừa tạo được điều kiện chính trị – xã hội bình thường cho
sự phát triển kinh tế
Kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của chủ nghĩa xãhội và nguyên tắc của kinh tế thị trường, như: phân phối theo lao
Trang 5động, theo vốn, theo tài năng, phân phối qua quỹ phúc lợi xãhội… trong đó, phải làm sao để quan hệ phân phối theo lao độngđóng vai trò chủ đạo Thừa nhận sự tồn tại của các hình thứcthuê mướn lao động, các quan hệ thị trường sức lao động, nhưngkhông để chúng biến thành quan hệ thống trị, dẫn đến tình trạngkhông kiểm soát được sự phân hóa xã hội thành hai cực đối lập.
Nhà nước chủ động điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư.Một mặt, Nhà nước phải có chính sách để giảm bớt khoảng cáchchênh lệch giữa lớp người giàu và lớp người nghèo, không đểdiễn ra sự chênh lệch quá mức giữa các vùng, miền, các dân tộc
và các tầng lớp dân cư, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội.Mặt khác, phải có chính sách, biện pháp bảo vệ thu nhập chínhđáng, hợp pháp cho người giàu, khuyến khích người có tài năng
Việc điều tiết phân phối thu nhập được thực hiện theo hai kênh: Nhànước xã hội chủ nghĩa là chủ thể duy nhất tiến hành tổ chức điều tiết phânphối thu nhập trên phạm vi toàn xã hội, nhằm bảo đảm công bằng xã hội; thịtrường có những nguyên tắc riêng trong điều tiết phân phối thu nhập Chế độphân phối trong xã hội là sự kết hợp giữa cơ chế thị trường và sự quản lý,điều tiết của Nhà nước
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việcthực hiện công bằng xã hội không thể chỉ dựa vào chính sách điều tiết vàphân phối lại thu nhập của các tầng lớp dân cư, mà còn phải thực hiện tốtcác chính sách phát triển xã hội, nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ xãhội, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Đối tượng của các chính sách xã hội là toàn thể nhân dân, bởi vậy cácchính sách ấy bao gồm:
Trang 6Chính sách lao động và việc làm là chính sách xã hội cơ bản Nó có
nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nguồn lao động có kiến thức, kỹ năng và lươngtâm nghề nghiệp ngày càng cao, tạo ra nhiều việc làm mới, đồng thời sửdụng hiệu quả nguồn lực ấy, giảm dần tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm,vươn tới toàn dụng lao động xã hội Đó chính là biện pháp quan trọng đểvừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa "phát triển sự phong phú của bản chấtcon người" trong lao động sáng tạo ra mọi của cải có giá trị cho bản thân,gia đình và xã hội
Chính sách xóa đói, giảm nghèo không đơn thuần chỉ là một chính
sách từ thiện, mà là một hệ thống chính sách kinh tế, xã hội, văn hóa, chínhtrị và môi trường nhằm tác động trực tiếp và gián tiếp đến các nguyên nhân
cơ bản dẫn đến đói nghèo, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người Đó là cácchính sách giao quyền sử dụng đất, tạo vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, hỗtrợ về giáo dục và y tế, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu, phát huyquyền làm chủ cho người nghèo và cộng đồng nghèo để giúp họ tự vươn lênthoát nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về thu nhập vàmức sống giữa các tầng lớp dân cư, các thành phần dân tộc, các vùng miềntrong cả nước
Chính sách an sinh xã hội phải từng bước tạo ra "mạng lưới" gồm
nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều hình thức phong phú về bảo hiểm xã hội, cứutrợ xã hội, ưu đãi xã hội nhằm bảo đảm cuộc sống xứng đáng cho nhữngngười về hưu, người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, người gặp rủi
ro bất hạnh và đặc biệt là những người có công với nước
Chính sách phòng chống các tệ nạn xã hội phải kết hợp sử dụng
nhiều biện pháp giáo dục, hành chính và pháp luật để giữ vững sự ổn định,
an toàn của một xã hội có kỷ cương; xây dựng lối sống lành mạnh theo quyphạm đạo đức và chuẩn mực xã hội tiến bộ, văn minh, có tác dụng cảm hóanhững người lầm lỗi, tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập cộng đồng
Trang 7Thứ ba, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân, vì
dân thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Cơ chế quản lý và vận hành nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Thực hiện cơ chế
đó sẽ bảo đảm tính định hướng, điều khiển hướng tới đích xã hội chủ nghĩacủa nền kinh tế theo phương châm: nhà nước điều tiết vĩ mô, thị trườnghướng dẫn doanh nghiệp
1.2 Quan niệm về kinh tế nhà nước ở nước ta
1.2.1 Khái niệm kinh tế nhà nước
Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu toàndân về tư liệu sản xuất Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhànước, ngân hàng nhà nước, ngân sách nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia,các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài nguyên quốc gia, các tài sản thuộc sởhữu của nhà nước có thể dựa vào chu chuyển kinh tế
1.2.2 Vai trò của kinh tế nhà nước
Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa vai trò đó được thể hiện như sau:
Một là, kinh tế nhà nước có vai trò mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác Kinh tế Nhà nước kiểm soát các thị trường của
hoạt động vốn và thị trường tiền tệ để đảm bảo khả năng ổn định kinh tế vĩ
mô của Nhà nước Các công cụ tài chính tiền tệ, tín dụng là công cụ chínhyếu của Nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế
Thành phần kinh tế Nhà nước thể hiện vai trò chủ đạo chi phối cácthành phần kinh tế khác, làm biến đổi các thành phần kinh tế khác theo đặctính của mình, tạo cơ sở hạ tầng cho mỗi kinh tế hàng hóa, chiếm giữ cácngành then chốt và trọng yếu xã hội, làm đòn bẩy nhanh tăng trưởng kinh tế
Trang 8gắn với công bằng xã hội Đóng góp phần lớn vào tổng sản phẩm quốc nội(GDP) của toàn xã hội.
Quy hoạch, chiến lược phát triển ngành, vùng, sản phẩm của bản thân kinh
tế nhà nước cũng như của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trên cơ sở đó, cácthành phần kinh tế khác có thêm luận cứ để xây dựng chiến lược kinh doanhcủa mình
Cung cấp cơ sở hạ tầng và những dịch vụ công cộng với chất lượngcao, giá cả rẻ cho các thành phần kinh tế khác ở những lĩnh vực mà Nhànước muốn khuyến khích họ đầu tư
Hai là, Làm đòn bẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội
Để nền kinh tế nước ta phát triển một cách nhanh chóng thì cần phải
có những bước tăng trưởng Do vậy, cần có một lực lượng có sức mạnh kinh
tế làm đòn bẩy để thúc đẩy các lực lượng khác cùng phát triển Doanhnghiệp Nhà nước hiện nay chưa đủ khả năng chi phối toàn bộ nền kinh tếnhưng có một thực lực to lớn nên chỉ có doanh nghiệp Nhà nước mới có thểthực hiện được chức năng đòn bẩy
Những vấn đề xã hội đang là một vấn đề hạn chế của nước ta Muốnphát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước phải giải quyết triệt để những vấn đề
đó Để thực hiện được điều này chúng ta cần có thực lực về kinh tế Trongđiều kiện nền kinh tế nhiều thành phần như hiện nay thì chỉ có thành phầnkinh tế Nhà nước mới có thể đảm nhận được vai trò làm lực lượng chủ đạocho Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội
Ba là, Làm lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô
Nhà nước sử dụng chung tất cả các biện pháp có thể can thiệp vàokinh tế nhằm hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường, tạo môitrường kinh doanh lành mạnh, phân bổ nguồn lực tối ưu và thúc đẩy tăng
Trang 9trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hòa phù hợp với giá trị truyềnthống và văn hóa đất nước.
Trong kinh tế, mỗi đơn vị kinh doanh là một chủ thể kinh tế, trực tiếpđối mặt với thị trường để quyết định các vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cáigì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợinhuận Điều này tất yếu là dẫn đến kết cục là ở đâu, khi nào, đối với mặthàng nào có thể đem lại lợi nhuận cao thì ở đó, khi đó các doanh nghiệp cókhả năng sẽ đổ xô vào sản xuất và kinh doanh mặt hàng đó Ngược lại, nếu
ở đâu, khi nào và đối với mặt hàng nào không có lời hoặc lỗ vốn thì ở đó,khi đó sẽ có nhiều doanh nghiệp có khả năng sẽ rút khỏi thị trường sản xuất
và kinh doanh mặt hàng đó Do sự hạn chế của mỗi dịch vụ về việc thu thậpcũng như xử lý các thông tin cần thiết về thị trường để quyết định có thamgia hay rút bớt khỏi một thị trường nào đó, tất cả sẽ dẫn đến nguy cơ có thểphát sinh mâu thuẫn giữa cung và cầu ở mọi lúc, mọi nơi và đối với mọi mặthàng Để chống lại nguy cơ đó Nhà nước phải thực hiện chức năng điều tiếtbằng nhiều công cụ khác nhau Trong đó doanh nghiệp Nhà nước được coi
là một công cụ
Với tư cách là công cụ điều tiết luôn được Nhà nước thực hiện theophương châm: ở đâu, khi nào nền kinh tế quốc dân đang được mở rộng sảnxuất kinh doanh một mặt hàng cụ thể nào đó mà các doanh nghiệp dândoanh hoặc không có đủ sức kinh doanh hoặc từ chối thì ở đó và khi đó cần
sự có mặt của doanh nghiệp Nhà nước Đến lúc nào đó, khi các doanhnghiệp dân doanh đủ sức đáp ứng nhu cầu thị trường, doanh nghiệp Nhànước có thể rút khỏi thị trường đó, nhường chỗ cho các doanh nghiệp dândoanh Quá trình diễn ra liên tục, lặp lại ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốcdân hình thành vai trò điều tiết của doanh nghiệp Nhà nước Chức năng nàycòn thể hiện ở trong phạm vi từng vùng, đặc biệt quan trọng với các vùngsâu, vùng xa
Trang 10Như vậy, chức năng điều tiết nền kinh tế quốc dân đòi hỏi Nhà nướcphải sử dụng doanh nghiệp Nhà nước như một công cụ cần thiết bảo đảmcho nền kinh tế hoạt động một cách thông suốt, đảm bảo lợi ích xã hội.
2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
2.1 Thực trạng vai trò mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh
tế khác
Để thực hiện vai trò mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phầnkinh tế khác nhà nước tập trung làm tốt các chức năng vĩ mô như địnhhướng bằng các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch, cơ chế, chính sách có chấtlượng trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường; tạo môi trường chocác chủ thể phát huy tối đa các nguồn lực; hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội; bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối vĩ mô…;
- Nhà nước tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế, chínhsách và các công cụ kinh tế;
- Thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sựcan thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp;
- Tách chức năng quản lý hành chính của Nhà nước ra khỏi chức năngquản lý kinh doanh của doanh nghiệp, xoá bỏ “chế độ chủ quản”;
- Tách hệ thống hành chính ra khỏi hệ thống các cơ quan đơn vị hoạtđộng sự nghiệp;
Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế như : Những hướng dẫn này nhiềukhi không rõ ràng khiến cho việc áp dụng chúng gặp nhiều khó khăn và đôikhi hướng dẫn trên giấy tờ là một chuyện còn khi thực hiện lại không như đãnói.Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhà nước giờ đây không còn c chỉ hoạtđộng trong lĩnh vực then chốt của mình mà thay vào đó là mở rộng ra các
Trang 11lĩnh vực bất động sản, xây dựng cơ bản, ngân hàng tài chính, chứng khoán,
… Tuy nhiên, một câu hỏi cần được đặt ra là liệu các Tập đoàn có đủ mạnh
để có thể vươn rộng cánh tay của mình như thế không khi bản thân các côngviệc cốt lõi không thực hiện được
Trong năm 2009, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã buộc phảituyên bố ngưng đầu tư 13 dự án phát triển điện do không bố trí được vốnvay, hay việc Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy (Vinashin) với vấn đề sửdụng nguồn vốn trái phiếu ngoại tệ của Chính phủ,…
Cũng không ít các đơn vị trong nhóm này đã thành lập mới các công
ty con và công ty liên kết nhằm hoàn chỉnh các khâu trong hoạt động sảnxuất kinh doanh, từ đầu tư xây dựng đến sản xuất, vận hành và kinh doanh.Khi mà kinh tế nhà nước không có sự tập trung nhất định cho lĩnh vực thenchốt của mình thì việc giúp đỡ cũng như định hướng cho các thành phần
kinh tế khác cũng ít nhiều ảnh hưởng không tốt.
2.2 Thực trạng vai trò đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tiến bộ
xã hội
KTNN đã và đang thực hiện vai trò này của mình bằng các biện phápchính sách nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phầnkinh tế khác cũng như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hôi như:
- Ưu đãi về vay vốn, lãi suất, thuế, tiền thuê đất cho hoạt động củacác thành phần kinh tế
- Tìm kiếm và mở rộng thị trường, bao gồm cả thị trường đầu vào lẫnthị trường đầu ra cho các thành phần kinh tế
- Trợ giá hàng xuất khẩu cho các thành phần kinh tế khác khi cầnthiết
Trang 12- Hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế đổi mới công nghệ vàđào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cạnh tranh
Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường hơn 20 năm đổi mới chothấy, Nhà nước ta đã có nhiều tác động tích cực trong việc bảo đảm địnhhướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển nền kinh tế này Việc từngbước hoàn thiện hệ thống chính sách về chế độ sở hữu và cơ cấu thành phầnkinh tế đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch theo hướng tạo động lực và điềukiện thuận lợi hơn cho khai thác các tiềm năng trong và ngoài nước để pháttriển kinh tế- xã hội Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhìn chung, khôngngừng được nâng cao: thời kỳ 1986 – 1990, tăng trưởng GDP bình quân đạt4,5%/năm; 1996 – 2000: 7%/năm; 2001 – 2005: 7,5%/năm; năm 2007 đạt8,48% Năm 2008, dù phải đối mặt với không ít khó khăn, nhưng Việt Namvẫn đạt mức tăng trưởng GDP là 6,23 kích thích cạnh tranh bình đẳng giữacác thành phần kinh tế
Bên canh các kết quả đạt được thì KTNN vẫn còn những yếu kém khithực hiện vai trò này đó là:
Tài sản cố định
Về giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp, tổng giá trị tài sản cố địnhcủa doanh nghiệp đã tăng lên 3,51 lần trong thời kỳ 2000-2006, trong đóDNNN tăng hơn 3,53 lần, doanh nghiệp tư nhân trong nước tăng hơn 8,8 lần
và doanh nghiệp FDI tăng gần 2,3 lần Tuy vậy, giá trị tăng thêm về tài sản
cố định của DNNN trong thời kỳ nói trên vẫn chiếm hơn hơn một nửa số giátrị tăng thêm về tài sản cố định của các doanh nghiệp và cao gấp hơn 2 lần
so với doanh nghiệp tư nhân trong nước
Về cơ cấu giá trị tài sản cố định, trong thời kỳ 2000-2006, tỷ trọng củaDNNN giảm nhẹ sau đó lại tăng lên nhưng hầu như không thay đổi; trongkhi đó, tỷ trọng của doanh nghiệp tư nhân trong nước đã tăng mạnh từ 8,3%năm 2000 lên 20,7% năm 2006; và tỷ trọng của doanh nghiệp FDI giảmtương ứng từ 35,9% xuống còn 23,3% trong cùng thời kỳ