nay đã khác, chương trình SGK cũng đã thay đổi do đó những nội dung cáctác giả nêu ra trong công trình ít nhiều không còn phù hợp.Năm 2007, Trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam trong nh
Trang 2M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1 Khái niệm văn học trung đại Việt Nam 5
1.1.1 Tên gọi 5
1.1.2 Một số đặc điểm của văn học trung đại 5
1.2 Vị trí của phần văn học Việt Nam trung đại trong chương trình Ngữ văn ở THCS hiện nay 7
1.3 Thống kê, phân loại các văn bản văn học Việt Nam trung đại được dạy học 8
1.4 Một số ghi nhận về thực trạng của việc dạy học văn học Việt Nam trung đại ở THCS 9
Chương 2 VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI Ở THCS HIỆN NAY 15
2.1 Một số vấn đề của thể loại văn học trung đại Việt Nam liên quan đến việc dạy học 15
2.2 Vấn đề nâng cao chất lượng dạy học văn học Việt Nam trung đại ở THCS hiện nay 33
2.2.1 Dạy học văn học Việt Nam trung đại theo đặc trưng thể loại 34
2.2.2 Kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy đọc - hiểu phần văn học Việt Nam trung đại ở THCS, phát huy tính tích cực của học sinh 62
2.2.3 Dạy học phần văn học Việt Nam trung đại theo hướng tích hợp 83
Chương 3 THỰC NGHIỆM 88
Trang 33.1 Mục đích thực nghiệm 88
3.2 Địa bàn thực nghiệm 88
3.3 Nội dung thực nghiệm: 88
3.4 Đối tượng thực nghiệm 88
3.5 Thiết kế giáo án thực nghiệm 89
3.6 Kết quả thực nghiệm 133
3.6.1 Kết quả thực nghiệm bài Qua Đèo Ngang - Ngữ văn 7 133
3.6.2 Kết quả thực nghiệm bài Hịch tướng sĩ - Ngữ văn 8 133
3.6.3 Kết quả thực nghiệm bài Kiều ở lầu Ngưng Bích - Ngữ văn 9 133
3.6.4 Tổng hợp kết quả thực nghiệm 134
3.7 Nhận xét kết quả thực nghiệm 134
KẾT LUẬN 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học Việt Nam trung đại là một trong những phần chủ yếu củachương trình Ngữ văn ở THCS Nó được bố trí thời lượng lớn, ở tất cả các lớpcủa cấp học này Chất lượng dạy học phần này còn có ảnh hưởng đến việcdạy học văn học Việt Nam trung đại ở cấp sau
1.2 Văn học Việt Nam trung đại gồm những văn bản ra đời cách đây đãlâu so với hiện nay, trong hoàn cảnh có những điểm khác biệt lớn Nhữngđiều này tạo nên những khó khăn đáng kể khi dạy học văn học Việt Namtrung đại ở trung học cơ sở (THCS) hiện nay
1.3 Hiện tại nhận thức và tình cảm của người dạy và người học về phầnvăn học Việt Nam trung đại đang có những thay đổi theo cả hướng có lợi vàbất lợi, bởi vậy việc dạy học phần này đang đặt ra những vấn đề cần phải giảiquyết để nâng cao chất lượng dạy học
1.4 Việc dạy học văn học Việt Nam trung đại nói riêng và dạy học Ngữvăn ở THCS nói chung đang ngày càng được sự hỗ trợ của các phương tiệndạy học hiện đại Bên cạnh những kết quả khả quan cũng còn có những vấn
đề cần phải nghiên cứu thêm để phù hợp với tính chất của văn học Việt Namtrung đại Nghiên cứu đề tài này góp phần thiết thực vào việc đổi mới phươngpháp dạy học Ngữ văn
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề phương pháp dạy học văn nói chung và dạy văn học trung đạiViệt Nam nói riêng đã được nhiều nhà giáo học pháp và nhiều nhà nghiên cứuquan tâm
Phương pháp dạy học văn của nhóm tác giả Phan Trọng Luận, Trương
Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt (1988) đã trình bày những vấn đề
lí luận chung về bộ môn, khoa học về phương pháp dạy học văn và phươngpháp dạy học bộ môn Có thể nói đây là công trình đầu tiên nghiên cứu mộtcách tổng thể, toàn diện về phương pháp dạy học văn Cuốn sách đã đưa racác phương pháp dạy học văn ở trường phổ thông: gợi mở, nghiên cứu, táitạo, nêu vấn đề Các tác giả đã đề cập đến vai trò của người học Cuốn sáchcũng đưa ra những phương pháp cụ thể khi dạy một thể loại Hoàn cảnh hiện
Trang 5nay đã khác, chương trình SGK cũng đã thay đổi do đó những nội dung cáctác giả nêu ra trong công trình ít nhiều không còn phù hợp.
Năm 2007, Trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam trong nhà trường,
tác giả Phạm Tuấn Vũ đã đề cập tới một số vấn đề thuộc một số thể loại vănhọc trung đại Việt Nam, trong đó tác giả chú trọng tới một số tác phẩm vănhọc trung đại được dạy học ở trường phổ thông Các bài viết trong cuốn sáchđược sắp xếp theo bốn nhóm: về phú, về thơ, về văn tế, về văn chính luận.Đây là tài liệu tham khảo rất có ích cho giáo viên dạy văn ở trường phổ thôngbởi tập sách đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết về các thể loại nóitrên, thế nhưng chưa mang lại cách thức tiếp cận cụ thể cho từng thể loại
Trong cuốn Để dạy tốt học tốt tác phẩm văn chương (phần trung đại) ở
trường phổ thông (2007), tác giả Nguyễn Thanh Hương đã đưa ra các phương
pháp dạy học văn học trung đại như: Hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm, dạyhọc văn học trung đại thông qua cắt nghĩa, dạy thơ trung đại thông qua chúgiải sâu… Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại, tác giảcho rằng văn học trung đại có các kiểu đọc như đọc đúng, đọc kỹ, đọc hay,đọc chéo, đọc có định hướng, mục đích, đọc bổ sung, đọc diễn cảm, kèm theonhững giải thích cụ thể về các kiểu đọc và đưa ra ví dụ cụ thể về cách đọchịch, đọc cáo…Những vấn đề mà tác giả nêu lên trong cuốn sách chưa thực
sự là phương pháp mà thực ra đó chỉ là những biện pháp, thủ pháp hơn nữanhững kiểu đọc mà tác giả đưa ra không phải chỉ riêng cho văn học trung đại
mà văn học dân gian hay văn học hiện đại cũng có thể áp dụng
Công trình nghiên cứu Văn chính luận Việt Nam thời trung đại (2010)
của tác giả Phạm Tuấn Vũ đã phân tích khá cụ thể các văn bản chính luậntrung đại được dạy học ở trường phổ thông và thực tế dạy học các văn bảnchính luận ấy Từ đó tác giả đã đưa ra những cách thức cụ thể để người dạyngười học có thể tiếp cận tốt với thể loại văn chính luận Những kiến thức màtác giả trình bày trong cuốn sách đã giúp ích rất nhiều cho giáo viên dạy ngữvăn Tuy nhiên tác giả nghiên cứu chỉ giới hạn ở phần văn chính luận
Phương pháp dạy học ngữ văn ở trường phổ thông theo hướng tích hợp và tích cực của Đoàn Thị Kim Nhung phục vụ dạy học Ngữ văn THCS
đã đưa ra những định hướng về đổi mới phương pháp dạy học theo quanđiểm tích hợp và tích cực, xây dựng được mô hình thiết kế giáo án phù
Trang 6hợp Cuốn sách đã cung cấp cho giáo viên dạy ngữ văn THCS những kiếnthức lí luận, thực tiễn, có được những định hướng đổi mới, phương phápdạy học phù hợp với từng phân môn Thế nhưng phương pháp dạy học từngphần văn học cụ thể: văn học dân gian, văn học trung đại và văn học hiệnđại chưa được đề cập tới
Đổi mới phương pháp dạy học văn được bắt đầu bằng việc thay
đổi chương trình SGK Bộ SGK Ngữ văn đã định hướng cho giáo viên
và học sinh khám phá phân tích tác phẩm bằng hệ thống câu hỏi hướngdẫn học bài, bằng yêu cầu cần đạt và ghi nhớ ở đầu và cuối mỗi bài học.Phần yêu cầu cần đạt giúp giáo viên xác định được trọng tâm kiến thứccủa bài học, giúp học sinh kiểm tra việc dạy của giáo viên và việc tiếpthu kiến thức của mình Phần hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài giúp
HS từng bước khám phá, tiếp cận văn bản và đồng thời hướng dẫn giáoviên tổ chức giờ học
Các tài liệu khác là sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng và các tàiliệu tham khảo khác đều trình bày cụ thể, chi tiết các văn bản Ngữ văn đượcgiảng dạy trong nhà trường, trong đó có các văn bản Ngữ văn thuộc phần vănhọc trung đại Tuy nhiên các kiến thức được trình bày riêng rẽ với từng vănbản cụ thể, chưa có cái nhìn khái quát, hình thành nên những cách thứcphương pháp cụ thể để tiếp cận với từng loại văn bản thuộc những thể loạikhác nhau trong chương trình văn học trung đại ở trường phổ thông
Xuất phát từ lí do, mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận văn, do hạnchế về thời gian và nguồn tư liệu tham khảo, chúng tôi không thể xem xét tất
cả các công trình nghiên cứu của các tác giả Chúng tôi thấy đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về phương pháp dạy môn Ngữ văn nói chung, giảng dạy vănhọc trung đại nói riêng trong nhà trường THCS với những quy mô và hướngtiếp cận khác nhau Giới nghiên cứu đã đề cập đến nhiều vấn đề, thể loại củavăn học trung đại để đưa ra những cách thức tiếp cận các văn bản văn họctrung đại giúp người dạy người học có thể thâm nhập vào thế giới hình tượng
để từ đó hiểu được tác phẩm Dạy học các tác phẩm văn học trung đại vẫn
còn nhiều vấn đề phải bàn luận Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài Một số
vấn đề của dạy học văn học Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở hiện nay để nghiên cứu
Trang 73 Mục đích nghiên cứu
3.1 Nhận thức thêm về vị trí của phần văn học Việt Nam trung đại vànhững thuận lợi, khó khăn của dạy học phần văn học này trong chương trìnhNgữ văn THCS
3.2 Đánh giá và lý giải chất lượng dạy học phần văn học Việt Nam trungđại ở THCS hiện nay
3.3 Đề xuất một số ý kiến để việc đổi mới việc dạy học văn học ViệtNam trung đại ở THCS đúng thực chất và việc huy động các phương tiện dạyhọc hiện đại phù hợp với bộ phận văn chương này
4 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu việc dạy học và đọc thêm các văn bản văn học Việt Namtrung đại trong chương trình Ngữ văn THCS hiện nay về các phương diệnnhận thức văn bản, phương pháp dạy học
- Nghiên cứu đặc điểm của người dạy và người học văn học Việt Namtrung đại ở THCS hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu Ngữ văn: thống kê phân loại, tổng hợp - phân tích, đối sánh… kết hợp với sử dụng các phươngpháp nghiên cứu khoa học giáo dục: phương pháp quan sát, phương pháp điềutra, phương pháp thực nghiệm
-6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn được trình bày
Trang 8Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái niệm văn học trung đại Việt Nam
1.1.1 Tên gọi
Thuật ngữ “Văn học trung đại” được dùng khá phổ biến ở Việt Namtrong mấy thập kỷ gần đây Văn học trung đại là là khái niệm dùng để chỉvăn học viết của Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
Trước đây người ta gọi thời kỳ văn học này bằng nhiều tên gọi khácnhau Trước Cách mạng tháng Tám Dương Quảng Hàm, Phạm Thế Ngũ gọi
theo triều đại; bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn
đã dùng thuật ngữ văn học cổ điển Trong Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam
nhà nghiên cứu Trường Tửu gọi đây là văn học cổ điển Các bộ giáo trình lịch
sử văn học Việt Nam của đại học sư phạm, Đại học tổng hợp Hà Nội hoặc gọitheo niên đại hoặc gọi văn học thời phong kiến Có nhà nghiên cứu gọi là Văn
học Hán – Nôm Đến cuốn Đặc điểm có tính quy luật của lịch sử văn học Việt
Nam xuất bản nội bộ ở trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh năm
1984, người viết chuyên luận này mới dùng thuật ngữ văn học trung đại đểgọi tên cho thời kỳ văn học dân tộc từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX Cách gọi này
đã được dùng khá phổ biến trong mấy chục năm qua, đã đi vào sách giáo khoaphổ thông, giáo trình đại học, các chuyên đề giảng dạy ở bậc cao học
Các cách gọi tên này đều có những điều hợp lí và những bất hợp lí Cáchgọi tên theo triều đại Lí Trần, Hậu Lê, Lê Trung Hưng… là cách gọi theo tiếntrình lịch sử không xuất phát từ văn học Cách gọi theo niên đại từ thế kỷ nàyđến thế kỷ khác là cách gọi lấy những mốc thời gian để đánh dấu sự chuyểnbiến trong văn học Gọi tên văn học phong kiến hay văn học thời phong kiến
là để phân biệt với văn học dân gian truyền miệng và với văn học thời hiệnđại Thuật ngữ văn học trung đại xuất hiện từ những năm 80 đến nay, đây làtên gọi phù hợp và có cơ sở khoa học nhất
1.1.2 Một số đặc điểm của văn học trung đại
Văn học trung đại Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn học nướcnhà Trong mười thế kỷ phát triển, văn học trung đại gắn liền với nền tảng mỹ
Trang 9học thời phong kiến Do đó văn học Việt Nam trung đại có những đặc điểmriêng
1.1.2.1 Quan niệm văn học
Văn học trung đại được sáng tác trên cở sở ý thức: Nho - Phật - Lãotrong đó chủ yếu là đạo Nho Ảnh hưởng của các học thuyết này đã dẫn đếnviệc hình thành những nét đặc thù trong quan niệm của con người trung đại vềbản chất vũ trụ, không gian, thời gian, thiên nhiên, con người Những quanniệm này có quan hệ đến việc hình thành những đặc trưng về nội dung vàhình thức nghệ thuật của văn chương trung đại Vì vậy lí giải được những vấn
đề thuộc về bản chất của văn học trung đại, tìm hiểu được cái hay, cái đẹp củamỗi tác phẩm tất yếu phải dựa vào những quan niệm nghệ thuật đặc thù về thếgiới và đời sống con người ở thời trung đại Văn học trung đại là sản phẩmcủa các thế hệ trí thức dân tộc đương thời Các tầng lớp tri thức ấy luôn chịuảnh hưởng của Nho học, từ lâu Nho gia đã gắn với đạo “ văn sở dĩ tải đạo dã”.Quan niệm trên coi văn là cái hình thức, cái để chứa, để chuyên chở đạo lí
Có lúc đạo ấy được hiểu là đạo lí của thánh hiền, cũng có khi hiểu cái đạo lí
ấy là đạo lí của nhân dân, mang tư tưởng thân dân Do vậy văn trở đạo ở đây
là chuyên trở đạo yêu nước thương dân Từng nghe trong Bình Ngô đại cáo
Nguyễn Trãi đã khẳng định:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Hay lời Nguyễn Đình Chiểu trong Than đạo:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Người xưa đòi hỏi tác phẩm văn học phải thật sự chân thành, phải làtiếng nói phát ra từ đáy lòng Nội dung ấy phải được thể hiện thống nhất trongmột hình thưc đẹp để phục vụ để làm cho nội dung thêm hay Với nhận thứcvăn là dùng để biểu hiện các chân lí phổ biến, là hình thức đẹp để chuyển tải
nội dung Ngôn nhi vô văn, hành chi bất viễn (Khổng Tử) nên phạm vi của
văn học được quan niệm rất rộng Từ công việc chép sử, luận triết học, viếtchế, chiếu, biếu, cáo, hịch… Đều trau chuốt hình thức câu văn sao cho ý đẹplời hay Văn được dùng để chuyên trở đạo lí nên văn chương rất được ngườixưa coi trọng Nó có chức năng giáo hóa (giáo dục làm thay đổi nhân cáchcon người theo hướng tốt đẹp) và di dưỡng tinh thần (giúp bản thân con người
Trang 10thanh lọc tâm hồn, gạn đục, khơi trong, bày tỏ tấm lòng trung quân ái quốc,nuôi dưỡng nhân cách chính nhân quân tử).
Nhìn chung văn học trung đại quan niệm văn trở đạo đã ảnh hưởng rất rõđến mục đích viết văn, phạm vi đề tài và hình thức thể hiện Tuy nhiên các tácgiả càng tách rời khỏi những giáo điều của Nho gia càng gần với thực tế cuộcsống dân tộc thì càng phát huy được mặt tích cực của quan niệm đó, thành công
ấy ta có thể thấy trong những tác phẩm của Hồ Xuân Hương, của Nguyễn Du
1.1.2.2 Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân
Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân có liên quan mật thiết đến quanniệm văn chương thời trung đại Khái niệm văn gần như đồng nhất với vănhiến, văn hóa, với học thuật nói chung Mặt khác hiện tượng trên cũng bắtnguồn từ quan niệm văn dĩ tải đạo, văn dĩ quán đạo, văn dĩ minh đạo, thi dĩngôn chí
Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân thể hiện trong phạm vi văn xuôi rõnét hơn Trong loại hình văn xuôi các thể loại của nó có thể chia làm hai bộphận: bộ phận thứ nhất là những thể loại thuộc văn chính luận thì hiện tượngVăn - Sử - Triết bất phân trở thành đặc trưng thể loại
1.1.2.3 Hệ thống ước lệ thẩm mỹ cổ điển
Ước lệ là thuộc tính của văn học vì các hiện tượng được phản ánh trongvăn học không như nó vốn tồn tại mà đã được tổ chức lại theo những phươngthức nào đó, nhằm những mục đích nào đó Trong văn học trung đại, tính ước
lệ được thể hiện phổ biến, lâu dài, sâu sắc
1.2 Vị trí của phần văn học Việt Nam trung đại trong chương trình Ngữ văn ở THCS hiện nay
Văn học trung đại Việt Nam là thời kỳ văn học đầu tiên và dài nhất, làmột di sản văn học quý báu của dân tộc Nó không chỉ để lại cho đời saunhững giá trị thẩm mỹ lớn lao, chứa đựng trong đó biết bao giá trị văn hóa,những vui buồn trăn trở, tâm tư của người xưa gửi gắm đến đời sau Để duytrì tiếp nối, phát huy truyền thống cha ông không thể bỏ qua chiếc cầu nối vănhọc này Chính vì vậy dạy học văn học trung đại được coi là nội dung quantrọng trong chương trình Ngữ văn phổ thông ở bậc THCS với sự phân bố thờilượng khá lớn Thể loại văn học trung đại được đưa vào dạy học trong chươngtrình Ngữ văn THCS khá đầy đủ
Trang 111.3 Thống kê, phân loại các văn bản văn học Việt Nam trung đại được dạy học ở THCS
TT Tên tác phẩm Tác giả
Loại văn Hình thức văn bản Văn tự Hình thức học
Sổ tiết Lớp
Văn chương thẩm mỹ
Văn học chức năng
Văn xuôi Vănvần
Văn biền ngẫu Hán Nôm
Dạy học Đọc thêm
Trang 12Toàn bộ phần văn học trung đại Việt Nam được dạy học trong chươngtrình là 22 bài, sắp xếp trong 26 tiết trên tổng số 595 tiết của chương trìnhNgữ văn ở THCS.
Văn học trung đại ở bậc THCS được dạy học cả: Văn học chức năng vàvăn chương thẩm mỹ, trong đó các văn bản được bố trí, sắp xếp theo thể loại
từ dễ đến khó, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh ở từng cấp lớp.Văn chương thẩm mỹ gồm các thể loại văn bản: truyện ngắn, truyện truyệntruyền kỳ, thơ, tiểu thuyết chương hồi, tùy bút; Các văn bản thuộc thể loại vănhọc chức năng cũng đa dạng: hịch, cáo, chiếu, tấu Các văn bản thuộc loại vănchương thẩm mỹ được dạy học ở lớp 6.7.9 Các văn bản thuộc loại văn họcchức năng được dạy học ở lớp 8 Hình thức văn bản cũng rất đa dạng từ vănxuôi, văn vần đến văn biền ngẫu Văn bản được dạy học có cả bằng chữ Nôm
và chữ Hán Hình thức dạy học: từ dạy chính khóa đến hướng dẫn học thêm,đọc thêm, với thời lượng phân bố khá hợp lí cho từng văn bản thuộc từng thểloại bài học
1.4 Một số ghi nhận về thực trạng của việc dạy học văn học Việt Nam trung đại ở THCS
Môn Ngữ văn là một trong những môn học chính trong nhà trường, đượchọc ở mọi lớp học với thời lượng lớn Trong chương trình Ngữ văn THCSphần văn học trung đại là một trong những trọng tâm Và dù ở trong chươngtrình cải cách hay chương trình sách giáo khoa hiện hành thì phần văn họctrung đại cũng có vị trí đó Tuy nhiên so với chương trình văn học được họctrong bộ sách giáo khoa từ năm 2002 trở về trước, phần văn học trung đạiđược tập trung trong SGK văn học lớp 9 tập 1 với 30 bài học chính thức và 17đọc thêm Các tác phẩm được sắp xếp theo trình tự phát triển của lịch sử vănhọc trung đại Sự sắp xếp này một mặt tạo ra cho người học có được cái nhìntổng quan, dễ dàng nắm bắt được tiến trình phát triển của nền văn học trungđại, mặt khác số lượng tác phẩm mà học sinh phải học lại quá nhiều đó là điềuhết sức nặng nề Như vậy sẽ dẫn đến tình trạng học sinh biết nhiều nhữngkhông thể hiểu sâu So với SGK cũ các văn bản văn học trung đại Việt Namtrong SGK hiện hành lại nằm rải đều trên cả bốn khối lớp với số lượng vănbản cũng được giảm tải, mang tính chọn lọc hơn, chỉ còn 21 bài gồm cả chínhthức và đọc thêm Mức độ khó của văn bản cũng được nâng dần lên theo từng
Trang 13khối lớp cân đối, phù hợp với trình độ sự phát triển của học sinh Những tácphẩm ấy được sắp xếp theo thể loại và cùng chủ đề cụ thể là: Lớp 6 học thểloại truyện trung đại; lớp 7 chủ yếu học các thể loại thơ trung đại; lớp 8 tậptrung học các tác phẩm nghị luận trung đại; Lớp 9 có sự đa dạng hơn về thểloại nhưng trọng tâm đổ dồn chủ yếu là thể loại truyện Từ truyện truyền kỳđến truyện thơ Nôm Sự sắp xếp và giảm tải chương trình như vậy tạo ra rấtnhiều điều kiện thuận lợi cho cả người dạy và người học, nó phù hợp với trình
độ nhận thức, tâm lí lứa tuổi của học sinh SGK hiện hành xây dựng chươngtrình theo hướng tích hợp, chú trọng đến việc rèn luyện cả bốn kĩ năng: nghe,nói, đọc, viết cho học sinh Dạy học các văn bản văn học phải đảm bảo sự tíchhợp với kiến thức của hai phân môn Tập làm văn và Tiếng Việt trong cụm bàihọc Điều đó đòi hỏi người dạy và người học phải có những cách thức mớitrong việc dạy và học Chính vì vậy cùng với sự thay đổi chương trình SGKmới việc đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn đã được tiến hành trên diệnrộng và khá triệt để Người dạy được trang bị thêm những kiến thức lí luận vàthực tiễn qua các buổi tập huấn, học tập chuyên đề, và qua thực tế giảng dạy,vững vàng hơn trong việc áp dụng chuyên môn vào quá trình giảng dạy,người học cũng có thái độ tích cực, tự giác hơn trong việc tiếp cận tác phẩmtrước khi nhận được sự hướng dẫn tận tình của người dạy
Cấu trúc chương trình cho thấy văn học Việt Nam trung đại được dạyhọc trong nhà trường một cách có hệ thống Những văn bản văn học trung đạiđược tuyển chọn dạy học chính thức cũng như đọc thêm không nhiều nhưngđều là những tác phẩm ưu tú thuộc những thể loại khác nhau có đóng góp lớncho văn học dân tộc Về mặt nội dung, những văn bản này đều thể hiện nộidung tư tưởng tốt đẹp, có những biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước và chủnghĩa nhân đạo, chứa đựng những khát vọng vươn tới lí tưởng, thể hiện tìnhyêu quê hương đất nước, tinh thần yêu hòa bình, phản đối chiến tranh, tìnhbạn, tình yêu thiên nhiên và cái đẹp Đây là những giá trị trị trường tồn gắnkết người xưa với hôm nay và làm cho người dạy người học văn học ViệtNam trung đại thấy gần gũi với di sản này Về mặt nghệ thuật, các văn bảnnày đều có những đặc sắc về nghệ thuật Những giá trị văn chương này đãđược thử thách trong thời gian dài, được lựa chọn thích hợp với tình hình mới.Mặt khác cũng phải thấy được những văn bản văn học trung đại được tuyển
Trang 14chọn dạy học trong chương trình là tác phẩm của những tác giả ưu tú mànhiều người trong số họ là những anh hùng dân tộc hoặc danh nhân văn hóađược nhân dân tôn sùng và kính trọng, lòng kính yêu tác giả cũng là động lựctích cực cho việc tiếp nhận các văn bản văn chương từ cả hai phía người học
và người dạy
Cùng với sự đổi mới chương trình SGK, sự đổi mới phương pháp dạyhọc đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học văn nóichung, dạy và học văn học trung đại nói riêng của các nhà nghiên cứu, cácthầy cô trực tiếp đứng lớp Chính điều đó đã tạo ra nguồn tài liệu tham khảo
vô cùng phong phú, từ sách giáo viên, sách để học tốt, sách thiết kế bài giảng,sách hướng dẫn tự học đến sáng kiến kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu vớinhững quy mô lớn nhỏ khác nhau Do đó người dạy và người học có nhiềuđiều kiện thuận lợi để tìm ra cho mình những định hướng chính xác khi tiếpcận với các văn bản văn học trung đại
Trên đây là những điều kiện thuận lợi về phía chương trình, người dạy vàngười học văn học trung đại ở nhà trường THCS Việc dạy văn học trung đại
ở trường THCS cũng gặp không ít khó khăn
Văn học trung đại mang dấu ấn đậm nét của một thời một đi không trởlại và mang ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn học nước nhà Nó là nguồn độngviên tinh thần lớn lao đối với thời đại bấy giờ Việc học tập văn học trung đạikhông chỉ đơn thuần là là tìm hiểu một giá trị văn hóa tinh thần, một thànhtựu văn học nghệ thuật của dân tộc mà còn là tìm kiếm những phương tiệncách thức để khai thác và kế thừa những di sản văn hóa của cha ông Tuynhiên nền văn học này lại chủ yếu được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm - những
tử ngữ Người Việt Nam sau hơn một trăm năm dùng chữ Quốc ngữ la tinh
do đó phần đông người Việt Nam hiện tại không có khả năng tiếp xúc trựctiếp với các văn bản Hán, Nôm Những người biết chữ Hán, Nôm cũng khôngphải đều có khả năng hiểu đúng tất cả các tác phẩm văn chương Hán Nôm củangười Việt Nam các thế kỷ trước Ở đây xuất hiện một khoảng cách lớnkhông chỉ là vấn đề ngôn ngữ - văn tự mà cả về tư duy văn hóa Văn họctrung đại là sản phẩm của một không gian văn hóa khác, một không gian đãlùi hẳn vào quá khứ đồng thời cũng ít nhiều trở nên xa lạ với nhiều người,
Trang 15chính điều đó đã tạo nên những khó khăn lớn trong việc nhận thức giá trị củatác phẩm
Các tác giả văn học trung đại thường không nói hết, không nói trực tiếp ýmình mà để cho người đọc suy ngẫm cảm thụ Ngôn ngữ văn học trung đạitinh luyện hàm súc với những dư ba, lời ít ý nhiều, ý tại ngôn ngoại Bởi vậygiảng dạy văn học trung đại cho học sinh thật sự là một công việc đầy thửthách Cái khó lớn nhất là phải vượt qua hàng rào ngôn ngữ để hiểu và cảmcái hay, cái đẹp, sự thâm thúy của người xưa trong những tác phẩm Các vănbản văn học trung đại Việt Nam được dạy trong chương trình đều được viếtbằng chữ Hán, Nôm, người dạy và người học tiếp xúc với tác phẩm đều phảithông qua bản dịch nên có những khúc xạ nhất định, hơn nữa trong các vănbản văn học ấy có rất nhiều điển tích, điển cố, những từ ngữ cổ, được viếtdưới nhiều dạng thể loại văn học mà ngày nay không còn tồn tại, điều đó cũngtạo nên tâm lí ngại khó, ngại khổ trong cả người học lẫn người dạy
Văn học trung đại cách xa chúng ta vì ngôn ngữ, về cả không gian thờigian, cả phương thức tư duy nghệ thuật Người dạy văn và học văn hôm naysống trong những điều kiện khác với con người Việt Nam thời trung đại trênnhiều phương diện Có những vấn đề nhân sinh trọng yếu thời trung đại, ngàynay không còn vị trí đó nữa Và cũng có những vấn đề chưa được người xưaquan tâm lắm thì ngày nay lại trở thành vấn đề sống còn Người dạy văn vàngười học văn hôm nay đang từng bước đi vào xã hội hiện đại với điều kiệnsinh hoạt ngày càng cao và kèm theo đó là những vấn đề nhân sinh mới đượcđặt ra Quan niệm của họ về bản thân, về xã hội và các giá trị nhân sinh có ýnghĩa phổ quát có nhiều điều khác người xưa Quan niệm hiện thời về vănchương cũng có nhiều nội dung khác Đó cũng là lí do dẫn đến việc tiếp nhậncác giá trị văn chương từ các tác phẩm văn học trung đại không phải là điềuđơn giản
Nhìn ở một khía cạnh khác, hiện nay có rất nhiều phương pháp dạy họcđược áp dụng trong trường học theo tinh thần đổi mới, nhưng để đánh giáđược đầy đủ và khách quan hiệu quả của những phương pháp này thật sự cần
sự nhìn nhận về cả phía người học và người dạy Thực tế mà nói người giáoviên dạy văn có tâm huyết nào cũng mong muốn bài giảng của mình có thểgiúp học sinh nhận thức rõ cái hay, cái đẹp từ giá trị nội dung và nghệ thuật
Trang 16của tác phẩm, nhưng để làm được điều đó người giáo viên gặp không ít nhữngkhó khăn hoặc nếu như những mong muốn ấy trở thành hiện thực thì cũng chỉmang tính chất nửa vời Từ thực tế giảng dạy của bản thân và dự giờ lên lớpcủa các đồng nghiệp chúng tôi nhận thấy đa số những tiết dạy này chưa tốt.Không có một phương pháp giảng dạy cụ thể nào để có thể ứng dụng cho mọibài giảng mà cần đến sự linh hoạt xử lí của giáo viên, nhưng ngay trong việc
xử trí ấy dường như còn lúng túng rất nhiều Sự lúng túng ấy xuất phát khônghẳn từ phía giáo viên mà còn do áp lực từ chương trình, từ chuẩn kiến thức kỹnăng mà giáo viên phải hình thành cho học sinh qua bài giảng Các văn bảnvăn học trung đại được dạy trong chương trình ngữ văn THCS có những vănbản với thời lượng hợp lí, nhưng cũng có những văn bản việc bố trí thời lượngthể hiện rõ sự bất cập, chẳng hạn chỉ trong vòng 45 phút dạy hai văn bản
Sông núi nước Nam và Phò giá về kinh ; hay khi dạy hướng dẫn đọc thêm hai
văn bản Thiên trường vãn vọng và văn bản Sau phút chia li trích Chinh phụ
ngâm khúc Dù là bài học chính thức hay đọc thêm nhưng chỉ giới hạn trong
thời gian ấy giáo viên khó có thể thực hiện những yêu cầu của bài học Đó làcòn chưa đề cập đến vai trò, thái độ học tập của người học chi phối đến Khithực hiện giảng dạy tác phẩm văn học theo phương pháp đổi mới tức là coitác phẩm văn học luôn là một hệ thống mở, nó đa thanh, đa nghĩa Điều đócũng có nghĩa là cùng một tác phẩm văn học nhưng mỗi người đọc khi tiếpnhận sẽ có những cảm nhận khác nhau tùy theo tâm trạng và nhận thức của
họ Như vậy, khi áp dụng phương pháp mới học sinh cũng là một bạn đọc vàcác em cũng sẽ có những cảm nhận của riêng mình đối với tác phẩm đượchọc Học sinh là chủ thể của quá trình tiếp nhận Người giáo viên lúc này sẽgiữ vai trò là người hướng dẫn, trong giờ dạy giáo viên phải tạo ra được môitrường giao tiếp cởi mở cho học sinh để từ đó học sinh hăng hái tích cực tìmhiểu, giải mã những tín hiệu ngôn ngữ để từ đó lĩnh hội kiến thức bài học.Như vậy học sinh là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng ít nhiều đến hoạtđộng dạy của giáo viên Nếu học sinh tham gia tích cực vào bài học sẽ làmcho tiết học trở nên tốt hơn và ngược lại thì chính học sinh sẽ trở thành mộttrở ngại lớn Mà trong thực tế, khi kinh tế, xã hội phát triển, những môn họcthời thượng (Toán, Lý, Hóa, Ngoại ngữ, Tin học ) quan trọng hơn bao giờhết thì văn chương không có tính năng ứng dụng, tương lai người học không
Trang 17được đảm bảo, học sinh ngày càng xa rời văn chương Số học sinh say mê họcvăn chưa nhiều, không ít học sinh thực chất năng lực yếu kém về môn văn,khả năng phân tích cảm thụ văn học còn hạn chế, lại không có thói quenchuẩn bị bài ở nhà, mà có chuẩn bị cũng chỉ là qua loa chiếu lệ nên tỏ ra chánhọc văn, tiếp xúc với phần văn học trung đại lại có nhiều khó khăn nên đaphần các em cảm thụ bài chưa tốt Đặc biệt một thực tế mà giáo viên dạy vănnhận thấy, đó là sách tham khảo, sách hướng dẫn, sách để học tốt quá nhiều
vô hình chung đã làm cho học sinh biết đầy đủ nội dung của tác phẩm vănchương được học dựa vào bài soạn đã được chép sẵn ở nhà nhưng chưa mộtlần đọc bài văn, bài thơ trong sách giáo khoa, trả lời những phát vấn của giáoviên thì các loại sách tham khảo nghĩ hộ, nói hộ tất cả
Như vậy điểm qua về thực trạng dạy học văn học trung đại ở trườngTHCS hiện nay để thấy rằng còn rất nhiều điều chưa đạt chất lượng tốt từ cảphía người dạy và người học Đó là những thách thức, những khó khăn màngười giáo viên đứng lớp luôn trăn trở tìm kiếm hướng đi nào để có thể dunghòa được tất cả các yếu tố nói trên, từ đó thực hiện tốt vai trò của mình - vaitrò của người dẫn đường tìm kiếm những vẻ đẹp của văn chương
Trang 18Chương 2 VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI Ở THCS HIỆN NAY
2.1 Một số vấn đề của thể loại văn học trung đại Việt Nam liên quan đến việc dạy học
Thể loại của tác phẩm văn học là nhân tố cấu thành hình thức, là hình thái tồn tại cơ bản của văn bản văn học Thể loại là hình thức trừu tượng dùng
để phân loại văn bản văn học, đồng thời là phạm trù thẩm mĩ, là cách gọi chung
các loại văn bản văn học Thể loại văn học là dạng thức cụ thể và hình thái cụ
thể của tác phẩm văn học, là cơ sở để nắm bắt, nhận thức tác phẩm văn học.Đối tượng biểu hiện, miêu tả của tác phẩm, hình thức tư duy sáng tạo của nhàvăn, phương thức thể hiện tình cảm cho đến bố cục, tiết tấu của tác phẩm, đặc
điểm thủ pháp biểu hiện, vận dụng ngôn ngữ đều biểu lộ thông qua thể loại văn học Hiểu, nắm bắt một cách chính xác thể loại và đặc trưng của nó là công
việc có ý nghĩa rất quan trọng Nói như M.M Bakhtin, thể loại là nhân vậtchính của đời sống văn học Đối với văn học Việt Nam trung đại như nhiềunhà nghiên cứu đã nhận thấy, trong một thời gian dài, tác phẩm văn chươngViệt Nam thời trung đại chỉ được lĩnh hội ở phương diện nội dung, còn ởphương diện hình thức (trong đó nhất là cấp độ thể loại) chưa được chú ýđúng mức Ở tác phẩm văn chương, nội dung và hình thức không thể táchbạch được như ở nhiều sự vật hiện tượng khác nên một khi chưa nhìn nhậnđược giá trị của hình thức thì cũng không thể nhìn nhận được những giá trị nộidung theo đúng nghĩa của nó Do đó nghiên cứu văn học Việt nam thời trung đạibên cạnh ý nghĩa chung là nhận thức vai trò của phạm trù này trong đời sống vănhọc, còn có ý nghĩa nhận thức mối quan hệ thể loại văn học Việt Nam - TrungQuốc trong quá khứ vì mối quan hệ giữa văn học trung đại Việt Nam và Văn họcTrung Quốc là mối quan hệ cơ bản, góp phần quyết định số lượng và chất lượngthể loại văn học Việt Nam trung đại, mặt khác còn có ý nghĩa nhận thức rõ vaitrò của chữ Nôm, của văn học dân gian với hệ thống thể loại văn học dân tộc vàgóp phần lí giải những thành tựu văn chương cụ thể
Đã có nhiều công trình chuyên sâu đưa ra nhiều cách phân chia thế loạivăn học trung đại Việt Nam trong đó có phân chia thể loại văn học theo chức
Trang 19năng Dựa vào tiêu chí trên hệ thống thể loại văn học trung đại Việt Nam gồmhai nhóm: Nhóm thể loại thuần văn chương tiêu biểu gồm thơ, phú, truyện,truyện truyền kì, kí sự, ghi chép, và nhóm thể loại văn học chức năng tiêubiểu gồm hịch, cáo, chiếu, biểu, tấu, sớ, văn bia, văn tế, Trên hành trìnhphát triển của lịch sử văn học dân tộc, loại hình văn học chức năng ngày càngthu hẹp và mất dần vị trí, nhường chỗ cho văn học nghệ thuật.
Hai loại hình cơ bản của văn học trung đại Việt Nam
Văn học chức năng
Chức năng của một sự vật, hiện tượng là những yêu cầu kháchquan mà sự vật hiện tượng đó có thể đáp ứng Chỉ thành những chứcnăng thực sự khi có sự tồn tại đồng thời cả hai mặt chủ quan và kháchquan Từ xa xưa, khi sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần của conngười chưa phát triển, các hình thái ý thức xã hội chưa phân hóa cao thìvăn học bên cạnh đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ còn đảm nhiệm một phầnnhu cầu tổ chức xã hội một cách trực tiếp Đó là lí do trong hệ thốngthể loại văn học trung đại có những thể loại văn học chức năng như cáo,hịch, chiếu, biểu, tấu, sớ,
Văn học chức năng là loại hình văn học sáng tác ra nhằm phục vụ chomục đích tuyên truyền những tư tưởng tôn giáo chính trị hay đạo đức nào
đó Đây là loại văn học chủ yếu mang chức năng ngoài văn học
Đặc điểm của loại văn học chức năng trung đại Việt Nam
Thời trung đại các thể loại văn học thường được giao đảm nhậncác chức năng rõ ràng, nhất là các thể loại văn hành chức Tên thể loạithường gắn liền tên tác phẩm nên người đọc dễ dàng nhận diện và phânloại chức năng thể loại Hịch là để kêu gọi, thuyết phục Cáo là để tổngkết một công việc hay một chủ trương chính trị, xã hội nào đó Chiếu là
để phổ biến một mệnh lệnh nào đó của nhà vua cho thần dân biết Vănhọc chức năng Việt Nam thời trung đại là những văn bản văn xuôi hoặcvăn biền ngẫu trực tiếp viết về những vấn đề liên quan đến đời sốngchính trị của quốc gia dân tộc Lọai văn bản này có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Tác giả do nhiệm vụ hoặc tình thế buộc phải viết chứkhông chờ có cảm hứng mà viết, chẳng hạn khi người ta chép sử, lậpbia, viết hịch, viết cáo, viết văn tế, tấu, sớ đều là do tình thế quyết
Trang 20định Tác giả của các tác phẩm văn học chức năng phải gắn liền vớinhững chức danh cụ thể trong xã hội, như thiên tử, chủ soái, sứ thần
do đó văn học chức năng đều gắn với những thể loại nhất định
Thứ hai: Văn học chức năng viết cho những đối tượng nhất định,chẳng hạn viết cho vua, cho thần dân, cho tì tướng
Thứ ba: Mỗi thể loại văn học chức năng ứng với một (hoặcnhững) loại tác giả, ví dụ thể chiếu chỉ vua chúa mới được viết, để toàndân thiên hạ thực thi, biểu là thể loại mà những quan lại viết để dânglên nhà vua, chúa để tạ ơn
Thứ tư: Văn học chức năng có tính công thức, được quy định rấtchặt chẽ, về cơ bản không có sự phá cách, rất ít sự sáng tạo, chịu sức épcủa tư tưởng chính thống và quan niệm văn học chính thống, Văn họcchức năng có yếu tố sử và triết rất đậm nét
Văn học chức năng được phân chia làm hai bộ phận:Văn học chứcnăng hành chính và văn học chức năng lễ nghi
Một số thể của văn học chức năng được dạy học ở THCS
Văn học chức năng hành chính là những tác phẩm văn học mang chứcnăng thực thi công việc mang tính chất nhà nước, hành chính quốc gia Nóbao gồm các tác phẩm thuộc thể: chế, cáo, chiếu, hịch, biểu, tấu, sớ,… Chẳng
hạn như Thiên đô chiếu của Lí Công Uẩn, Dự chu tì tướng hịch văn của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyến Trãi Các loại văn bản trực tiếp
tham gia vào các lĩnh vực khác của đời sống xã hội không phải thực hiện chứcnăng đích thực của văn học mà hướng đến chức năng ngoài văn học, chứcnăng tổ chức quản lí xã hội cũng đều là các tác phẩm văn học chức năng hànhchính Chúng tôi trình bày một số thể loại cơ bản của văn học chức năng hànhchính được dạy ở chương trình Ngữ văn bậc THCS
Chiếu
Văn bản hành chính là một phần không thể thiếu trong đời sống chính trịcủa một quốc gia Chúng gắn liền với những hoạt động mang tính chất quanphương thể hiện sự chú ý của những người lãnh đạo về mọi mặt trong xã hội
Và trong hệ thống văn bản hành chính thời trung đạị, chiếu là một loại hìnhvăn bản có tầm quan trọng thiết yếu
Trang 21Chiếu là loại văn bản ghi mệnh lệnh của vua cho quan lại trongtriều hoặc toàn dân trong nước được biết.
Chiếu thường đề cập đến những vấn đề rộng lớn trọng đại như việcchọn kinh đô, việc truyền ngôi, bàn về phép tiền tệ Đây là loại vănbản được sử dụng nhiều vì ghi mệnh lệnh của vua chúa, thể hiện chủtrương, chính sách của triều đình về chính trị, kinh tế, văn hóa màtoàn thiên hạ thực hiện
Về lịch sử hình thành, phát triển của văn bản chiếu Chiếu là một loại
hình văn bản hành chính đặc biệt đã xuất hiện ở Trung Quốc từ thời cổ vàđược truyền sang các nước phương Đông thuộc vùng ảnh hưởng của văn hóaHán, trong đó có Việt Nam Sở dĩ đặc biệt vì đó là một trong những loại hìnhvăn bản hành chính có tính quan phương nhất của nhà nước đã ra đời từ rất
lâu, tồn tại trong suốt thời kì phong kiến Trong tác phẩm Lịch sử văn hóa
Trung Quốc, Đàm Gia Kiện đã viết về nguồn gốc của văn chiếu như sau: Chiếu là “cáo của triều đình ban bố gọi chung là chiếu lệnh, bắt nguồn từ thể
cáo trong Thượng thư, thời Xuân Thu gọi là mệnh, thời Chiến Quốc gọi là lệnh Sau khi Tần thống nhất, đổi mệnh thành chế, đổi lệnh thành chiếu Đầu đời Hán mệnh chia làm bốn loại, danh mục, công dụng khác nhau Chiếu là cáo với bách quan…” Như vậy, chiếu vốn được bắt nguồn từ thể cáo trong sách Thượng thư, được gọi là chiếu lệnh, trải qua các tên gọi khác nhau, đến đời Tần mới có tên gọi là chiếu như hiện nay
Về nội dung chiếu ghi mệnh lệnh của vua chúa, hình thức thì đó là sự
vận dụng phổ biến các cách diễn đạt của văn xuôi cổ thể, của biền văn, tảnvăn, trong đó phổ biến nhất là hình thức biền văn Từ ngữ được sử dụngtrong văn chiếu cũng rất đa dạng, phong phú Điều này nhằm phù hợp vớimục đích sử dụng của văn chiếu: vừa đảm bảo tính bác học vừa đảm bảo tínhphổ cập, vì phải để mọi tầng lớp nhân dân đều có thể hiểu được
Hịch
Hịch là bài văn công khai minh bạch về một nội dung nào đó cho mọingười được biết Chính vì vậy nó có tên gọi là “Minh bạch chi văn” - bài vănlàm sáng tỏ một điều gì đó Cũng chính vì điều đó nên nó còn có tên gọi làvăn lộ bố - công bố cho mọi người cùng biết
Trang 22Về mặt nguồn gốc Hịch vốn xưa là những bài diễn thuyết quân sự gọi
là “thệ sư”, tức là những lời thế trước khi xuất chinh, “thệ sư” có nguồn gốc
từ kinh thư của Trung Quốc Theo Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long, từ hịch xuất hiện lần đầu tiên là từ thời chiến quốc Hịch Tề Hoàn Công đánh Sở Ở
Việt Nam hịch là thể văn được dùng rất sớm Tương truyền khi Thi Sách bị
Tô Định giết, hai Bà Trưng đã viết bài Hịch để kể tội kẻ thù và kêu gọi mọingười đồng tâm chiến đấu
Hịch là thể văn chính luận thời xưa thường là của vua chúa tướng lĩnhhay thủ lĩnh của một phong trào, dùng để cổ vũ, kêu gọi quần chúng tham giavào một phòng trào xã hội nào đó hoặc đấu tranh chống lại một kẻ thù nào đó.Hịch có thể được viết bằng tản văn, biền văn, vận văn Hịch được truyền
ra mặt trận kêu gọi tướng sỹ khi có việc khẩn cấp thì thường được cắm theolông chim do đó còn gọi là “Vũ hịch”
Về Nội dung, một bài Hịch thì thường có hai phần chính, một phần nói
về tình hình quân địch, một phần nói về tình hình của ta Nói về kẻ thù thìvạch rõ tính chất phi nghĩa, nêu tội ác để gây lòng căm thù và tranh thủ sựđồng tình của nhân dân Nói về ta thì nêu cao tính chất chính nghĩa của ta, đềcao những gương hy sinh chiến đấu của các đời để cổ vũ tinh thần chiến đấudũng cảm và tạo niềm tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng, kết thúc là một lờikêu gọi đoàn kết chiến đấu
Về hình thức, văn hịch thường là văn nghị luận nhưng có cũng các loạivăn tự sự, miêu tả Tuy nhiên hiệu lực tổng quát vẫn là sức thuyết phục cuốnhút và cảm xúc mạnh mẽ Văn hịch phải khúc chiết, đanh thép, chính luậnphải chặt chẽ, lôgic, trữ tình
Hịch là thể văn chính luận thời trung đại tồn tại lâu dài và có ý nghĩa đốivới lịch sử văn học và lịch sử dân tộc, do chức năng của nó phù hợp với đặc
Trang 23thù lịch sử nước nhà luôn phải chống ngoại xâm và người Việt Nam luôn có ýchí thống nhất đất nước.
Cáo
Nếu hịch thiên về cổ động thì cáo lại thiên về tổng kết một công việc haytrình bày thành quả của một sự nghiệp có tính cách tuyên ngôn để cho mọingười cùng biết Cáo là thể văn của vua chúa hoặc tướng lĩnh thời xưa dùng
để ban bố thành quả của một công việc, một sự nghiệp có liên quan đến vậnmệnh dân tộc, đời sống nhân dân hoặc một sự kiện trọng đại của nhà nướcphong kiến Cáo có thể được viết bằng văn xuôi hoặc văn biền ngẫu
Về nội dung, Cáo là loại văn dùng để bá cáo cho mọi người biết mộtcông việc lớn lao đã hoàn thành trong đó nêu rõ mục đích, chủ trương, quá
trình, diễn biến và thành quả của công việc Chẳng hạn bài Bình Ngô đại cáo
của Nguyễn Trãi có nội dung như sau: Phần mở đấu thì nêu lên luận đề chínhnghĩa làm cơ sở chung cho toàn bài, tiếp theo là nói về tội ác của kẻ thù, phầnchính của bài cáo là tổng kết quá trình chiến đấu và thắng lợi của quân dânĐại Việt và cuối cùng là tuyên bố về nền độc lập dân tộc cho mọi người cùngbiết
Về bố cục của bài cáo thường có bốn phần
Phần I: Luận đề chính nghĩa
Phần II: Xác định kẻ thù, bản cáo trạng tội ác
Phần III: Quá trình thực hiện công việc, hoặc quá trình chinh phạt và kếtquả
Phần IV: Tuyên bố kết thúc
Về kết cấu, một bài cáo phải có kết cấu chặt chẽ, có sự sắp xếp hệ thống
hệ thống ý tứ nội tại chặt chẽ và logic, ý trước làm tiền đề cho ý sau, ý saucủng cố và nâng cao ý trước, trên dưới thông thuận, trước sau nhất quán,không thừa ý không thiếu ý Mặt khác phải có sự liền mạch, liền hơi, liềngiọng
Về bút pháp viết cáo, cáo hướng tới cộng đồng do đó giọng phải hùnghồn trong phần kết quả và đánh giá Cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bútpháp tự sự, trữ tình và chính luận vì phải kể được quá trình tạo nên kết quả vàthể hiện cảm xúc của mình về quá trình tạo nên kết quả, nỗi đau và sự hânhoan (từ bi đến hùng) nhằm để đánh giá một cách đúng đắn về địch về ta, nêu
Trang 24bật được nguyên nhân thắng lợi Âm hưởng câu văn phải hài hòa, cân đối,phù hợp với nội dung cần biếu đạt Tư duy hình tượng sắc sảo, biến hóa phùhợp với cảm hứng của toàn bài.
Hịch, chiếu, cáo, tấu Đây là bốn thể được đưa vào giảng dạy trongchương trình Ngữ Văn THCS Từ những kiến thức đã trình bày ở trên, chúngtôi muốn có cơ sở nền tảng cho việc tìm hiểu các văn bản được đưa vào giảngdạy trong chương trình
Văn học chức năng lễ nghi – tôn giáo là những tác phẩm thực thi nghi lễmang tính chất tôn giáo hoặc tập tục tín ngưỡng Những tác phẩm thuộc loạinày là: Văn tế, chướng, câu đối, thần phả, những tác phẩm triết học tôn giáo,những bài thơ của các thiền sư Nếu những thể loại mang tính chức năng hànhchính gồm những áng văn mang phong cách hoành tráng cao thượng, thìnhững thể loại mang tính chức năng tôn giáo lại mang đậm dấu ấn tư tưởngtriết học Phật - Lão - Nho
Văn chương thẩm mỹ
Văn học nghệ thuật là những tác phẩm nhằm thỏa mãn chức năng thẩm
mỹ cho người đọc người nghe Chức năng nhận thức thẩm mỹ là thuộc tính cơbản của tác phẩm văn học nghệ thuật
Đặc điểm của văn chương thẩm mỹ
Thứ nhất, văn học nghệ thuật mang tính đa phương, nghĩa là văn họcnghệ thuật là loại hình văn học viết cho tất cả mọi người, không dành riêngcho bất cứ ai, ai cũng có thể nghe cũng có thể đọc Nói như vậy cũng có nghĩa
là bất kỳ ai cũng có thể cầm bút sáng tác, miễn là người đó có năng lực vănchương và cảm hứng sáng tạo Chẳng hạn như thể loại thơ, bất kì ai viết, ai
Trang 25đọc cũng được từ vua, quan cho đến dân thường, có thể bình phẩm hay phêphán.
Thứ hai, thể loại trong văn học nghệ thuật không có sự ràng buộc, tácgiả luôn có những khoảng trống để sáng tạo Chẳng hạn như viết văn tự sự cóthể lựa chọn nhiều hình thức thể loại: truyện ngắn hoặc tiểu thuyết, cũng cóthể lựa chọn thể truyện thơ Thể loại văn học nghệ thuật ít chịu sức ép của tưtưởng chính thống và quan niệm văn học chính thống, có sự phá cách, thểhiện rõ cá tính sáng tạo của người sáng tác Ta biết tác giả Nguyễn Trãi khi
viết Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập chịu sự chi phối của tư tưởng chính thống, nhưng khi viết Quốc âm thi tập thì chịu ít sức ép của tư tưởng
chính thống vì viết cho bản thân, cho bạn bè đọc, do đó sự phá cách sáng tạothể hiện rõ trong việc lựa chọn đề tài, trong sử dụng thể loại
Thứ ba, người viết được tư do khi cầm bút sáng tác, miễn là có cảmhứng, chứ không phải do một nhiệm vụ, một tình thế nào quy đinh
Thứ tư, ở văn học nghệ thuật, phần chủ yếu cấu tạo nên tác phẩm làbức tranh đời sống, trong đó quan trọng nhất là hình tượng nghệ thuật, do nhàvăn sáng tạo bằng hư cấu Chính vì vậy tác giả thể hiện tư tưởng tình cảm chủyếu thông qua thế giới hình tượng
Văn học chức năng công khai đề cập đến những vấn đề của quốc gia dântộc còn văn học nghệ thuật không nhất thiết như vậy Do đó trong giai đoạnđầu văn học chức năng chiếm vị trí chính thống, văn học nghệ thuật ở vị tríngoại vi Sau đó văn học nghệ thuật mới dần dần chiếm vị trí quan trọng hơnvăn học chức năng vì càng về giai đoạn sau chế độ phong kiến suy đồi khi mà
ý thức hệ chính thống không còn dủ sức kiềm tỏa các ý thức hệ khác Văn họcnghệ thuật quan tâm đến các giá trị đó, đó là các giá trị dân tộc, dân chủ vànhân đạo Các giá trị đó đã làm cho văn học nghệ thuật chiếm vị trí trung tâmcủa văn học và ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, trởthành bộ phận văn học thiết thực
Một số thể của văn chương thẩm mỹ được dạy học ở THCS
Thơ
Ở thời trung đại văn xuôi hình tượng chỉ chiếm một số lượng khiêm tốn
so với thơ ca
Trang 26Thơ ca trung đại là những sáng tác bằng chữ Hán, chữ Nôm ra đời(khoảng thời gian từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX) bộc lộ tâm tư, giãi bày tìnhcảm, suy nghĩ của thi nhân về thế giới, cuộc đời, con người và trực tiếp bày tỏhoài bão, chí khí, ý nguyện của mình
Thơ ca trung đại sáng tạo theo truyền thống thẩm mĩ đầy những ước lệtượng trưng Những tác phẩm ấy chịu sự chi phối của điều kiện lịch sử xã hội
và hệ tư tưởng của thời đại phong kiến nên có kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo,
hệ thống thi pháp đặc thù với những đặc trưng riêng khác biệt so với các tác
phẩm ở giai đoạn văn học trước và sau nó.
Thơ ca trung đại phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội vàvận mệnh dân tộc Ở thời kỳ đầu nội dung chủ yếu của thơ trung đại là thểhiện cảm hứng yêu nước Đến giai đoạn sau đó thơ trung đại lại chủ yếu tậptrung thể hiện cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa Từ việc phản ánh tinh thần yêunước, ý thức quyết chiến đấu và chiến thắng vì độc lập chủ quyền của dân tộc,phản ánh niềm tự hào đân tộc với những chiến công hiển hách oai hùng đếnchỗ hướng ngòi bút của mình vào việc phản ánh những hoàn cảnh éo le của sốphận con người nói lên tiếng nói của cảm xúc cá nhân Sự mở rộng của nộidung phản ánh ấy đòi hỏi các thi nhân trung đại luôn luôn phải không ngừngtìm tòi các hình thức thể hiện phù hợp Chính lẽ đó đã tạo nên sự phát triểnphong phú cuả hình thức thơ ca trung đại với nhiều thể loại khác nhau Dướiđây là những thể loại thơ ca trung đại được các thi nhân sử dụng để thể hiệnnhững cảm xúc của mình trước cuộc đời và thế sự
Thơ cổ phong
Thơ cổ phong còn gọi là cổ thể, cổ thi Là thể thơ ra đời trước đời Đườnghoặc trong hoặc sau nhưng không theo luật của thơ Đường Đây là thể thơ tự
do ngày xưa của Trung Quốc, không bị niêm luật ràng buộc, số chữ, số câu gò
bó Cổ phong có màu sắc tự do, phóng khoáng, có khả năng miêu tả và biểuhiện phong phú
Về số câu, số chữ trong bài thơ cổ phong không bị hạn định Có thể từbốn câu cho đến vài trăm câu, khi dài như vậy người ta gọi là cổ phongtrường thiên Số tiếng có thể là ba tiếng, năm tiếng, chín tiến, mười một tiếnghoặc nhiều hơn nữa, những ưu tiên cho những số lẻ
Trang 27Thơ cổ phong có thể dùng toàn vần bằng hoặc bằng, trắc xen kẽ có thểdùng độc vận hoặc nhiều vần thay đổi nhau, thường tránh việc sử dụng các
âm thanh, bằng, trắc, nằm trong niêm luật thơ Đường, thường sử dụng điệpthanh trắc hoặc bằng ở các chữ gần cuối câu
Cổ phong là thể thơ dùng cho tất cả mọi đề tài Đây là dạng thơ dùng để
tự sự, cũng có khi thể hiện ý chí, qua đó gửi gắm tình cảm mang tính kí thác,tâm sự nghĩa là tình cảm ấy được nâng lên thành ý chí để thể hiện Vì vậy đềtài thường là câu chuyện nào đó, cảnh sắc thiên nhiên hặc một con người, mộtcâu chuyện nào đó Do vậy yếu tố hiện thực rất nhiều, tính khách quan củahiện thực được thể hiện rất cao Tác giả thường viết về chuyện của ngườikhác đến khi kết thúc mới gửi gắm tâm sự của mình vào
Về các lối tiểu thể, Các tiểu thể nhiều, biến hóa khôn lường Người ViệtNam chỉ vay mượn bốn lối sau:
Ca
Nghĩa là bài hát bài ca Nội dung là số phận của một người nào đó, sốphận ấy làm cho ta thương cảm hoặc có nét nào đó giống với tác giả về tấmlòng, tác giả viết để thông qua đó thể hiện tấm lòng của mình Ta có thể thấythể thơ trên qua bài Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du, sau hai mươi nămgặp lại người kỹ nữ đã thay đổi qua nhiều, xúc động Nguyễn Du đã viết nên
bài ca trên Hay bài thơ Côn Sơn ca của nhà thơ Nguyễn Trãi trong chương trình Ngữ văn lớp 7 Bài thơ viết về cuộc sống trong sạch ở Côn Sơn Cảnh
Côn Sơn được Nguyễn Trãi lựa chọn để thể hiện tư tưởng ý chí quyết sốngcho thanh cao hơn của nhà thơ
Ngâm
Nghĩa là lời than thở thành thơ Nội dung là thể hiện nội tâm của nhânvật trữ tình nào đấy với hình thức khá dài thường là trường thiên Đây là thể
thơ được sử dụng trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn.
Tác giả đã thể hiện được dòng tâm trạng, cảm xúc của người phụ nữ có chồng
đi chinh chiến
Trang 28Du, cuối bài thơ Nguyễn Du lên án chế dộ phong kiến Ai vẽ bức tranh này/
Dâng lên nhà vua rõ Sa hành đoản ca của Cao Bá Quát thể hiện ý chí vươn
lên mọi khó khăn của nhà thơ khi lâm vào cảnh cùng đường
Từ
Nghĩa là lời hát.Nội dung thể hiện là những câu chuyện về tư tưởng, trítuệ mang tính nghệ thuật Đó là những bài ca về trí tuệ, đạo đức, lí tưởng Thể
thơ này được sử dụng trong Hành lạc từ của Nguyễn Du - bài thơ nói về
chuyện ăn chơi
Trên đây là bốn tiểu thể thơ cổ phong được sử dụng trong văn họctrung đại Việt Nam Thơ cổ phong tạo ra nhiều thành tựu nhất vào thời xã hộiphức tạp, vì hiện thực xã hội có nhiều điều cần thể hiện mà thể thơ trên nhìnchung tự do hơn cả trong việc thể hiện cảm xúc, tư tưởng tình cảm của thinhân trước thời cuộc đáp ứng được nhu cầu diễn đạt của thi nhân
Thơ Đường luật
Là thể thơ vay mượn của Trung Quốc, thể thơ ra đời từ thời nhà Đường,
nó đòi hỏi chặt chẽ về số câu, số chữ, cách gieo vần về đối Đây là thể thơđược sử dụng nhiều trong thời kỳ trung đại
Trong quá trình hình thành Luật thơ Đường được định hình người ta chiathơ Đường thành ba tiểu thể và hai hình thức chung gọi là ba lối hai dạng.Thơ Đường là lối thơ cách luật, nếu kể số câu trong bài thì có ba lối: Bát cú,bài thơ có tám câu); Tuyệt cú (Bài thơ có bốn câu); Bài luật (bài thơ kéo dàigồm 10 câu thơ trở lên) Trong ba lối ấy bát cú là lối cơ bản thường được cáctác giả văn học trung đại sử dụng Nếu kể số chữ trong câu thì có hai dạng:Ngũ ngôn (năm chữ); Thất ngôn (Bảy chữ)
Về cách gieo vần, thơ Đường luật chỉ gieo một vần là vần bằng Vầnnằm ở các câu: 1, 2, 4, 6, 8 Riêng chữ cuối ở câu thứ nhất thơ ngũ ngôn cóthể gieo vần hoặc không
Về cách đối, Đối là đặt hai dòng song đối với nhau cho lời và ý cânxứng Về nguyên tắc các từ đối nhau phải cùng từ loại, vế đối thường xuấthiện ở liên thứ hai (hai dòng là một liên) và liên thứ ba
Về luật Thơ Đường luật buộc phải theo sự quy định về thanh bằng,thanh trắc trong từng câu và cả bài
Trang 29Về niêm, Theo hệ thống dọc giống nhau về thanh (bằng, trắc) ở từng đôi1- 8; 2 - 3; 4 - 5; 6 - 7.
Về thanh điệu, phối hợp vần niêm luật làm cho bài thơ thành một chỉnhthể có nhạc điệu, âm hưởng hài hòa Câu có thể có hai nhịp: 4/3, 2/5; ba nhịp:2/2/3
Về kết cấu, thất ngôn bát cú thường gồm bốn phần: đề, thực, luận, kết Thểthất ngôn tứ tuyệt thì có kết cấu dạng: khai - thừa - chuyển - hợp
Thơ trung đại trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở chủ yếu ởdạng thất ngôn bát cú
Trong lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại, thể thơ Đường luật rấtphổ biến Thơ Đường luật là một thành tựu khá lớn của văn học thời trungđại Trong quá trình sử dụng thể thơ này, các nhà thơ Việt Nam cũng đã cónhững cố gắng đóng góp đáng kể trong sự cách tân, Việt hóa thể thơ
Các thể thơ trình bày trong phần trên đây là những thể thơ vay mượn từTrung Quốc, dưới đây luận văn xin được trình bày về các thể thơ dân tộc Đặctính chung của các thể thơ dân tộc là vừa có vần chân, vừa có vần lưng, đượclàm theo điệu số chẵn tức là số câu trong bài, số chữ trong câu đều là số chẵn,
sự thể hiện tiết tấu, nhạc tính của câu thơ dựa hoàn toàn vào số chẵn Ra đờidựa sâu vào ngôn ngữ đời sống do đó nó gắn với văn hóa Bao gồm các thể:Thể nói lối, Lục Bát, Song thất lục bát Luận văn xin được trình bày hai dạng
cơ bản được sử dụng
Thơ lục bát
Là thể thơ dân tộc, theo lối cách luật và các thể thức được tập trung thểhiện trong một khổ gồm hai dòng với số tiếng cố định Dòng sáu tiếng gọi làcâu lục, dòng tám tiếng gọi là câu bát Nó có thể diễn đạt một ý khái quát Thểlục bát thuộc điệu số chẵn
Về cách gieo vần, thể lục bát vừa theo vần chân, vừa theo vần lưng, tiếngcuối câu bát gieo vần xuống tiếng cuối câu lục tiếp theo Sự phát triển về vầnđều đặn diễn đạt sự việc một cách thong thả do đó thể lục bát có thể sử dụngđược trong cả hai phương thức tự sự và trữ tình
Về luật bằng trắc: Chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu, thứ tám của dòng sáu vàtám phải theo luật nhất định: chữ thứ hai vần bằng, chữ thứ tư vần trắc, chữthứ sáu và tám vần bằng
Trang 30Về nhịp, thường sử dụng là nhịp số chẵn 2/2/2;2/2/2/, những khi cần diễn
tả điều trắc trở hoặc một sự bất ổn nào đó thì có sử dụng nhịp số lẻ
Về đối, lục bát cũng có sử dụng đối, thường là đối ngay trong câu thơchẳng hạn
Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Thể lục bát là một trong những thể thơ ra đời do sự thể hiện cách luậtdân tộc, linh hoạt về thanh điệu, uyển chuyển về nhịp điệu, nhiều sắc tháithẩm mỹ, có khả năng trữ tình lại giàu khả năng tự sự nên được nhiều tác giả
sử dụng đặc biệt trong việc viết truyện thơ
Về vần và nhịp, Hai câu thất theo nhịp của thể thơ thất ngôn Việt Nam:3/4; Hai câu lục bát theo nhịp của thơ lục bát
Về đối, tuân theo các cách: Tiểu đối (đối trong câu), đối cách cú (hai câuđối nhau), đối cách đoạn (hai đoạn đối với nhau) Tiểu đối là cách đối thôngthường và phổ biến trong từng câu của một khổ Đối cách cú là lối đối kháđặc trưng vì chúng làm đẹp cho thơ song thất lục bát Đối cách đoạn làm tăngthêm vẻ mỹ lệ cho từng đoạn
Về dung lượng, thể song thất lục bát có khả năng mở rộng, không hạnđịnh về số câu, nhất là đặc điểm về nhịp điệu, vừa chậm, lại vừa có những chu
kỳ láy đi láy lạ, thích hợp trong việc diễn tả tâm trạng buồn, ít phát triển Vìvậy thể song thất lục bát được dùng chủ yếu để viết các khúc ngâm bày tỏ tâmtrạng của nhân vật trữ tình
Truyện
Truyện là thể loại cơ bản của phương thức tự sự, phản ánh được mộtphạm vi cuộc sống rộng lớn, sâu sắc trong quá trình vận động, diễn biến phức
Trang 31tạp Hình tượng chủ yếu của thể này là hình tượng nhân vật được xây dựng,phát triển trong một khung cảnh sinh động với hàng loạt sự việc, vì thế nhânvật hiện ra với tất cả các khía cạnh toàn vẹn, biện chứng Truyện là thể loạivăn tự sự, kể chuyện, trình bày sự việc Truyện có cốt truyện, nhân vật, quy
mô của truyện cũng lớn hơn thơ nhất là thơ trữ tình Truyện phần lớn viếtbằng văn xuôi Khác với thơ thiên về cái đẹp, xúc cảm và sự cô đọng thìtruyện có khả năng đi sâu vào những khía cạnh, ngóc ngách phức tạp của
cuộc sống và tâm hồn con người Theo Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo
dục, 1996, tr.264, truyện là sáng tác văn học “phản ánh hiện thực qua các sựkiện, biến cố và hành vi của con người làm cho tác phẩm trở thành một câuchuyện về ai đó hay về một cái gì đó Cho nên tác phẩm truyện bao giờ cũng
có cốt truyện Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc họađầy đủ nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình và kịch Trong tác phẩm truyện,cốt truyện được triển khai, nhân vật được khắc họa nhờ một hệ thống chi tiếtnghệ thuật phong phú, đa dạng, bao gồm chi tiết sự kiện, chi tiết nội tâm,ngoại hình của nhân vật, chi tiết tính cách, chi tiết nội thất, ngoại cảnh, phongtục đời sống, văn hóa, lịch sử, lại còn có cả những chi tiết liên tưởng, tưởngtượng , hoang đường mà không nghệ thuật nào tái hiện được ”
Truyện trung đại, lẽ dĩ nhiên sẽ thuộc về một thể loại truyện nói chung
nhưng nó cũng có những nét riêng mà SGK Ngữ văn 6 tập I ghi nhận như sau:
Các truyện trung đại ở Việt Nam nói trên đều được viết bằng văn xuôichữ Hán Bên cạnh truyện văn xuôi chữ Hán có truyện Nôm
Truyện trung đại tồn tại và phát triển trong môi trường văn học trungđại có quy luật Văn - Sử - Triết bất phân Do đó trong truyện vẫn thường có
sự đan xen giữa yếu tố văn và yếu tố sử, yếu tố triết; sự đan xen giữa hai kiểu
tư duy hình tượng và tư duy luận lí Truyện thường vẫn pha tính chất kí, mặc
dù đã là truyện thì ít nhiều cũng có cốt truyện và nhân vật
Trong truyện trung đại, cốt truyện giữ một vị trí quan trọng, mặc dù trình
độ xây dựng cốt truyện nhìn chung còn đơn giản Cách kết cấu truyện thường
là đơn tuyến về trật tự thời gian (trước, sau) Trong cốt truyện có nhân vậtnhưng tính cách của nhân vật hiện lên chủ yếu qua lời kể của người dẫnchuyện và qua hành động ngôn ngữ đối thoại của nhân vật Sự phân tích thếgiới nội tâm, ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật, nhìn chung còn hiếm
Trang 32Về chi tiết nghệ thuật: bên cạnh loại chi tiết chân thực lấy từ cuộc sống,truyện trung đại thường hay sử dụng loại chi tiết li kì, hoang đường
Dựa vào những yếu tố cơ bản trên, các loại truyện trung đại Việt Namđược đưa vào giảng dạy trong chương trình ngữ văn THCS được chia thànhcác dạng sau:
Truyện ngắn trung đại
Truyện ngắn thường đi sâu phản ánh một mặt nào đó của của đời sốnghiện thực, chủ đề có thể lớn nhưng giải quyết không toàn diện, thấu đáo nhưtruyện dài, thường miêu tả một hoặc vài nhân vật chính Truyện ngắn trungđại ghi chép một câu chuyện có thật hoặc hư cấu nhằm thể hiện một tư tưởngchủ đề nhất định, câu chuyện thường ngắn và mang tính chất trí tuệ, tư tưởngtriết lí được thể hiện khá thâm thúy và sâu sắc Truyện ngắn trung đại có cácđặc điểm: Được viết bằng văn xuôi chữ Hán, có nội dung phong phú vàthường mang tính chất giáo huấn; Có cách viết không giống hẳn với truyệnhiện đại, vừa có loại truyện hư cấu, vừa có loại truyện gần với kí và sử; Cócốt truyện hầu hết còn đơn giản, nhân vật thường chủ yếu được miêu tả quangôn ngữ trực tiếp của người kể chuyện, qua hành động và ngôn ngữ đối thoạicủa nhân vật nghĩa là chưa có miêu tả tâm lí nhân vật Tác phẩm được học
thuộc thể loại trên trong chương trình Ngữ văn THCS có hai văn bản: Con hổ
có nghĩa và Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng.
Truyện thơ Nôm
Truyện thơ Nôm là loại truyện viết bằng chữ Nôm, thể thơ lục bát Mỗitruyện có một cốt truyện bao gồm một hệ thống các tình tiết, sự kiện cấu trúc,
tổ chức tác phẩm hoàn chỉnh, có khả năng thể hiện cuộc sống phong phú bềbộn
Truyện Nôm ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVI và được sáng tác bằng
thể thơ Đường, nên gọi là truyện Nôm Đường Luật (Vương Tường, Lâm
truyền kì ngộ) Về sau thể thơ lục bát là hình thức phù hợp nhất đảm nhận
chức năng tự sự, xây dựng thể loại truyện Nôm Đến thế kỷ XVIII truyệnNôm được định hình thành một thể loại văn học và được chia ra thành haikiểu thể loại là truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học
Truyện Nôm viết bằng thơ ca nên có hạn chế nhất định trong việc miêu
tả cụ thể lịch sử đời sống xã hội, nhưng lại có ưu thế về nhịp điệu, âm thanh,
Trang 33hình ảnh nên giàu khả năng trữ tình và phong phú sắc thái ngôn ngữ thơ ca.Đỉnh cao của thể loại này là tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn
Du, tiếp nữa ta có thể kể đến truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
trong chương trình Ngữ văn bậc THCS có đưa vào giảng dạy một số đoạntrích của hai tác phẩm trên
Về ngôn ngữ nghệ thuật, sáng tác bằng ngôn ngữ dân tộc đặc biệt tácphẩm xuất sắc như truyện Kiều, ngôn ngữ thơ đã đạt đến mức độ mẫu mực,trong sáng
Truyện Nôm đã đưa thể thơ lục bát của dân tộc thể hiện được khả năng
đa dạng thích ứng với tất cả các chức năng biểu đạt hiện thực Truyện Nôm làthể loại có nội dung hiện thực nhân văn sâu sắc Những sáng tác này thỏa mãnđược nhu cầu hiểu biết, thể hiện và lí giải những vấn đề liên quan đến cuộcsống của quần chúng Là một trong ba thể loại được viết bằng ngôn ngữ dântộc nhưng giữ vị trí hàng đầu bởi quy mô, số lượng, thành tựu nội dung cũngnhư giá trị thẩm mỹ của hệ thống tác phẩm
Tiểu thuyết chương hồi
Tiểu thuyết chương hồi là một thể văn xuôi tự sự dài hơi có nguồn gốc từTrung Quốc ra đời vào thời Minh, Thanh
Tiểu thuyết chương hồi ở Việt Nam bắt đầu bằng tác phẩm Nam triều
công nghiệp diễn chí do Nguyễn Khoa Chiêm soạn vào năm 1719 ở đàng
trong, sau đó tiểu thuyết chương hồi chuyển dần ra bắc với Thiên Nam liệt
truyện, Hoàng Lê nhất thống chí, Hoàng Việt Long hưng chí Hoàng Lê nhất thống chí là thành tựu xuất sắc nhất, hội tụ tinh hoa của các tiểu thuyết
chương hồi Việt Nam thời trung đại
Dù có nguồn gốc từ Trung Quốc những các tác phẩm tiểu thuyết chươnghồi Việt Nam vẫn có những sáng tạo riêng trên cơ sở điều kiện thực tế xã hội
và truyền thống văn học nước nhà Tiểu thuyết chương hồi Việt Nam hầu nhưkhông đề cập đến đề tài tình yêu mà chỉ liên quan đến đề tài lịch sử, khác vớitiểu thuyết chương hồi Trung Quốc, trong các tác phẩm tiểu thuyết chươnghồi ở Việt Nam không đề cập đến vấn đề lịch sử thuộc thời quá khứ mà chỉ đềcập đến những vấn đề lịch sử thời đương đại Ta có thể thấy điều này được
thể hiện trong Hoàng Lê nhất thống chí, tác phẩm phản ánh về giai đoạn đặc
biệt trong chế độ phong kiến Việt Nam, giai đoạn đánh dấu sự suy tàn, sụp đổ
Trang 34của chế độ phong kiến và tinh thần quật khởi của quần chúng nhân dân, giaiđoạn đầy những biến động, đầy kịch tính, vừa đau thương, vừa hào hùng Khiphản ánh về giai đoạn lịch sử này các tác giả hướng ngòi bút vào việc phảnánh 27 năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, từ khi Thịnh Vương TrịnhSâm say mê Đặng Thị Huệ (1776 đến khi Gia Long đánh bại phong trào TâySơn lập nên nhà Nguyễn (1802) Trong đó các tác giả lại đặc biệt tập trungvào khoảng thời gian từ năm 1782 đến 1789 Nguyễn Huệ hành binh ra Bắcđại phá quân Thanh, dẹp tan bè lũ vua quan bán nước hại dân Lê ChiêuThống Như vậy tính thời sự, chính trị của những bộ tiểu thuyết chương hồi làrất cao, đó là những bức tranh lịch sử mang hơi thở của thời đại.
Tiểu thuyết chương hồi Việt Nam không bắt đầu từ sáng tác thoại bản
mà thuần túy là sáng tác của văn nhân, thể hiện khuynh hướng và tư tưởngnghệ thuật của tác giả một cách rõ ràng
Về mặt hình thức, các yếu tố thời gian, bình luận, cách tả người, giớithiệu nhân vật, miêu tả chiến trận… trong các tác phẩm chương hồi Việt Namcũng tạo ra những nét riêng khác biệt so với tiểu thuyết chương hồi TrungQuốc
Sự ra đời của tiểu thuyết chương hồi đánh dấu bước chuyển biến quantrọng về tư duy nghệ thuật của dòng văn xuôi tự sự Việt Nam không chỉ ở
dung lượng tác phẩm (Hoàng Lê nhất thống chí gồm 17 hồi với nhiều tác giả)
mà còn ở tầm khái quát nghệ thuật, khả năng kết cấu miêu tả các sự kiện, xâydựng nhân vật, trình độ ngôn ngữ Chính điều đó đã đưa tiểu thuyết chươnghồi Việt Nam trở thành đỉnh cao nhất của văn xuôi tự sự thời trung đại, đồngthời chuẩn bị mọi điều kiện cho sự ra đời của tiểu thuyết hiện đại sau này
Truyện truyền kỳ
Truyện truyền kỳ là thể loại văn học Trung Quốc du nhập vào nước ta,
có nội dung truyền thuật những câu chuyện kỳ là Đặc điểm lớn nhất chi phốicác đặc điểm của truyện truyền kỳ chính là tính chất khác lạ của con người,
sự vật, hiện tượng được phản ánh Truyện truyền kỳ sử dụng nhiều thủ pháp
để tạo ra cái kỳ, quy tựu lại đó là việc xóa nhoà những ranh giới mà con ngườiđịnh ra, đảo ngược những tính chất của sự vật hiện tượng vẫn được hình dungtheo lẽ phải thông thường, chẳng hạn như việc con người có thể có khả nănggiao tiếp với thế giới siêu nhiên, với các lực lượng siêu hình huyền bí Chính
Trang 35vì vậy thủ pháp nghệ thuật mà truyện truyền kỳ sử dụng nhiều đó là nhân hóa,
cỏ cây, ma quỷ, muông thú, thần linh đều được nhân hóa tạo thành một thếgiới phi nhân, thế giới ấy có khi hòa hợp, cũng có khi đối địch với cuộc sốngcon người Truyện truyền kỳ được xây dựng bằng sự kết hợp đan xen giữayếu tố thực và yếu tố siêu thực (cái hư) Trong đó cái thực luôn được hư hóa,cái hư luôn được thực hóa
Về nhân vật, tác giả truyền kỳ thường dụng công biểu hiện thế giới nộitâm nhân vật Sự dụng công ấy ta có thể cảm nhận trong diễn biến tâm trạng
của nàng Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của
Truyền truyền kỳ có kết cấu chặt chẽ, lời văn chọn lọc, từ ngữ phân tíchtâm lí, cú pháp đa dạng, lời nói độc thoại, đối thoại gián tiếp, trực tiếp đều có,yếu tố miêu tả, tự sự, trữ tình nghị luận, phẩm bình đã tăng lên đan cài vàonhau cốt dựng lại cuộc sống sinh động, phong phú để làm nổi bật được nộidung của tác phẩm Trong phương pháp sáng tác, hai tính chất hiện thực vàsiêu thực cũng lồng vào nhau một cách chặt chẽ Tất cả tạo thành hình thứcthuận lợi để chuyên chở cho được nội dung phê phán đối với hiện thực, vớigiai cấp thống trị
Tùy bút
Là thể văn xuôi tự do (tản văn), viết theo cảm xúc Tùy bút là một loạithuộc loại hình ký, rất gần với bút ký, ký sự, nhưng điểm nổi bật là qua việcghi chép những con người và sự kiện cụ thể, có thực, tác giả đặc biệt chútrọng đến việc bộc lộ cảm xúc, suy tư, đánh giá, nhận thức của mình về conngười và cuộc sống hiện tai
Thể loại này phục vụ cho việc ghi chép những nội dung ngắn nhỏ Vềhình thức, chúng chính là những ghi chép ngắn, có tính riêng tư của từng nhàvăn xưa Tác giả thường hay đem đời mình, chuyện mình kể vào trong đó.Tác giả đóng vai là người quan sát sự việc, chiêm nghiệm lịch sử và phát biểu
Trang 36về thái độ cảm xúc cùng những tâm trạng của mình trước sự việc, cuộc đời.tuy nhiên tác giả không biến mình thành thành nhân vật.
Tùy bút giúp người ta thể hiện thái độ đối với hiện thực khách quan, ítnhiều người viết thể hiện quan điểm về cuộc sống, về chính trị Chính vì vậy
nó mang tính hiện thực cao Trong các thể văn xuôi đây là thể văn tự do vàobậc nhất
Tác phẩm nổi tiếng trong thể loại này là Vũ trung tùy bút (tùy bút viết
trong những ngày mưa) của tác giả Phạm Đình Hổ, mà chương trình Ngữ vănbậc THCS có đưa vào giảng dạy một trích đoạn trong lớp 9
Như vậy qua những vấn đề được trình bày ở trên, ta thấy hai loại hìnhvăn học: văn học chức năng và văn học nghệ thuật cùng tồn tại trong nền vănhọc trung đại Sự phân định như trên chỉ mang tính chất tương đối vì thực tếthường không có tác phẩm văn học lại thuần túy thuộc loại một loại hình vănhọc chức năng hay văn học nghệ thuật Văn học Việt nam trung đại tồn tạiqua 10 thế kỷ, trải qua nhiều chặng đường phát triển nhưng luôn gắn liền vớiđời sống dân tộc vì thế nó mang những đặc trưng riêng thể hiện rõ bản sắcvăn hóa dân tộc Việt Nam Song bên cạnh những đặc trưng mang đậm tínhdân tộc văn học trung đại Việt Nam còn chụi ảnh hưởng của văn học kiến tạovùng, do đó nó mang một số đặc điểm chung của nền văn học phương Đông.Người nghiên cứu giảng dạy cần hiểu được những đặc điểm nói trên của vănhọc trung đại Việt Nam, để từ đó tạo ra được những tiền đề thuận lời để tiếpcận được những giá trị đích thực của mỗi tác phẩm văn học trung đại
2.2 Vấn đề nâng cao chất lượng dạy học văn học Việt Nam trung đại ở THCS hiện nay
Nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề cấp thiết của giáo dục Việt Namtrong giai đoạn hiện nay Hiện đang có những biện pháp đổi mới mạnh mẽ vềnội dung và phương pháp dạy học Chất lượng dạy học sẽ được nâng cao khihoạt động dạy và hoạt động học đi vào trúng quỹ đạo của nó, tức là cả ngườidạy và người học đều đi đúng hướng, có những phương pháp và biện pháp để
đi đến đích của hoạt động dạy và hoạt động học Trong những năm vừa qua
đã có biết bao nhiêu tìm tòi, sáng tạo của biết bao nhiêu nhà nghiên cứu, nhàgiáo dục học cho công cuộc đổi mới phương pháp dạy học Về phía người dạycũng đã không ngừng nỗ lực học tập, nghiên cứu để tìm ra hướng đi đúng
Trang 37thực hiện tốt vai trò của người dẫn đường giúp học sinh tìm đến tri thức Vềphía người học ít nhiều cũng đã chuẩn bị được những tâm thế nhất định trongvai trò làm chủ hoạt động, hoạt động khá tích cực và từ giác để lĩnh hội kiếnthức bài học Thế nhưng kết quả thu được vẫn chưa khả quan, chất lượng dạy
và học vẫn là vấn đề nhức nhối Nằm trong sự chi phối chung ấy môn Ngữvăn ở nhà trường phổ thông nói chung THCS nói riêng cũng không tránh khỏinhững hệ lụy nói trên Là người giáo viên dạy văn ở bậc THCS cũng nhưnhững giáo viên ở các cấp học khác, thuộc các bộ môn khác nhau, chúng tôicũng luôn băn khoăn, trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng, hiệu quảhoạt động dạy và học môn học mà mình đảm trách Những băn khoăn trăn trở
ấy đã tạo ra những tiền đề cho rất nhiều những công trình, đề tài, sáng kiếnkinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy và học Ngữ văn nói chung, dạy vàhọc từng phân môn, từng phần trong một phân môn
2.2.1 Dạy học văn học Việt Nam trung đại theo đặc trưng thể loại
Mỗi tác phẩm văn học thường được tồn tại trong một thể loại nhất định
và chịu sự tác động không nhỏ của thể loại ấy Thể loại của tác phẩm văn họcthể hiện một cách nhìn, một cách tư duy, cách cảm nhận đời sống và sáng tạotác phẩm Thể loại là yếu tố hình thức lớn, chi phối các yếu tố hình thức khác,góp phần tạo nên một diện mạo cụ thể cho tác phẩm văn học Mỗi tác phẩmvăn học đều tồn tại dưới hình thức một loại thể nhất định, do đó cần có mộtphương pháp, cách thức giảng dạy phù hợp Vì vậy đối với người giáo viên dạyNgữ văn, sự hiểu biết thấu đáo về đặc trưng thể loại sẽ là cơ sở quan trọng để
có thể hiểu, cảm thụ, định hướng phân tích tác phẩm một cách chính xác, sâusắc và toàn diện Dạy học văn nói chung, dạy học phần văn học Việt Namtrung đại nói riêng trong chương trình Ngữ văn bậc THCS theo thể loại thựcchất là thực hiện hoạt đông dạy học tác phẩm văn học trong sự thống nhất giữanội dung và hính thức, đúng với quy luật và bản chất của văn học Đó cũng làmột nguyên tắc mang tính đặc thù của việc dạy văn.Vậy dạy phần văn học ViệtNam trung đại ở bậc THCS như thế nào để theo đúng được đặc trưng thể loại,luận văn xin được trình bày những vấn đề như sau
2.2.1.1 Dạy các tác phẩm văn học thuộc loại văn chương nghệ thuật 2.2.1.1.1 Dạy học thơ trung đại trong chương trình Ngữ văn THCS
Trang 38Các tác phẩm thơ trung đại chiếm một vị trí khá quan trọng trongchương trình Ngữ văn THCS, bao gồm những sáng tác viết bằng chữ Nôm Vàchữ Hán
Xét về mặt nội dung và nghệ thuật, các bài thơ trung đại này có nhiềuđiểm tương đồng Các tác phẩm đều phản ánh một cách toàn diện xã hội đươngthời, thể hiện quan niệm nhận thức, tâm tư, tình cảm của con người một cáchsâu sắc Nội dung phong phú được thể hiện bằng hình thức thơ hoàn mỹ Các tácphẩm thi ca Việt Nam thời kì này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nghệ thuậtcủa thơ Đường, thi pháp thơ rất đa dạng, phong phú, phức tạp và sâu sắc: ngônngữ rất hàm súc, nói ít gợi nhiều,ý tại ngôn ngoại, vừa có tính ước lệ, cổ kính,trang nghiêm, vừa có tính chặt chẽ niêm luật của thể loại Vì vậy khi giảng dạycác tác phẩm thơ trung đại giáo viên cần chú ý tới các vấn đề sau
Đặt bài thơ trong mối liên hệ với tác giả và hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Thực hiện yêu cầu này là giáo viên phải nắm vững các kiến thức về vănhọc sử, có kiến thức lịch sử, hiểu biết về tác giả và tác phẩm Đây là yêu cầuchung trong dạy văn đối với giáo viên, với việc dạy thơ trung đại quan trọng.Tất cả các yếu tố nói trên đều rất thiết thực trong dạy đọc hiểu văn bản vì nólàm cho việc cảm nhận bài thơ có tính xác thực, sâu sắc hơn và bài dạy được
mở rộng từ nhiều chiều, nhiều hướng Bản thân một bài thơ bao giờ cũngmang dấu ấn thời đại, tư tưởng, tình cảm, phong cách tác giả Nó là kết quảcủa sự tổng hòa các yếu tố ấy
Tác giả chính là người cha tinh thần của tác phẩm Mỗi tác giả có mộttạng tâm hồn riêng, một quan niệm, sở thích cũng như phong cách thể hiệnriêng và điều đó in hằn vào tác phẩm văn chương của họ Đặc biệt đối với thơ,thể loại văn học mà ở đó tính chủ quan trở thành nguyên tắc sáng tạo chủ đạothì mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm càng cần sự chú ý đặc biệt Nhữnghiểu biết về cá tính, tâm hồn cũng như cuộc đời của nhà thơ tạo điều kiệnthuận lợi cho ta hiểu rõ hơn về tác phẩm Tiếp cận tác phẩm từ những yếu tốngoài văn bản là một hướng tiếp cận có hiệu quả Do đó phần giới thiệu về tácgiả bao giờ cũng được SGK nêu ra trong phần chú thích sao, nhưng chỉ góigọn ở đó xem ra còn hạn chế, người giáo viên khi dạy văn bản cần tìm hiểusâu kỹ hơn từ nhiều tài liệu có liên quan và từ đó thực hiện phần giới thiệu tác
Trang 39giả trong bài dạy phải đặt trong mối quan hệ với văn bản Đây là những tiền
đề có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp cận tác phẩm vậy giáo viên sẽ giớithiệu những điều gì về tác giả, ở đây giáo viên cần đưa ra những thông tinchính về cuộc đời của tác giả bào gồm năm sinh, năm mất, những sự kiện,những biến cố lớn trong cuộc đời tác giả có ảnh hưởng đến sự nghiệp sángtác, đặc điểm tâm hồn, cá tính và sự nghiệp văn chương của tác giả đó lànhững chặng đường sáng tác, những đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệthuật, những tác phẩm tiêu biểu Đây là mảng tri thức văn học sử về tác giảgiáo viên cung cấp trong phần đầu bài giảng khi giới thiệu về tác giả tácphẩm, nhưng có những thông tin giáo viên có thể kết hợp nói thêm trong quátrình hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản
Khi nói về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, người ta thường đề cập tớihoàn cảnh lớn – hoàn cảnh lịch sử chính trị xã hội và hoàn cảnh nhỏ - cuộcsống, cá tính của tác giả và hoàn cảnh cảm hứng của tác phẩm trong mối liên
hệ mật thiết với nhau Hoàn cảnh cảm hứng của tác phẩm là hoàn cảnh cụ thểlàm bùng cháy tình cảm, cảm xúc tiềm tàng chất chứa trong lòng tác giả.Hoàn cảnh lớn hoàn cảnh nhỏ có ảnh hưởng đến khuynh hướng tư tưởng củatác phẩm thì hoàn cảnh cảm hứng lại tác động trực tiếp tới việc hình thànhmột trạng thái tình cảm nhất định gắn liền với một hệ thống hình tượng nhất
định Chẳng hạn khi hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ Qua Đèo Ngang của
bà Huyện Thanh Quan, giáo viên cần cho học sinh thấy rõ được hoàn cảnh rađời tác tác phẩm Thứ nhất là những thông tin về tác giả: Bà Huyện ThanhQuan tên thất là Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỷ XI, chưa rõ năm sinh, nămmất, quê ở làng Nghi Tàm nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội Chồng bà là trihuyện huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình do đó mà bà có tên gọi là bà HuyệnThanh Quan Bà là người có hiểu biết sâu rộng được mời vào cung làm giáotập Thứ hai là những thông tin về hoàn cảnh lớn, phần thông tin giáo viên cóthể nói trong quá trình hướng dẫn học sinh phân tích hai câu luận khi nói đếntâm trạng nhớ nước, thương nhà của nữ sĩ, lí giải được tâm trạng nói trên phảihiểu được hoàn cảnh lớn tức hoàn cảnh lịch sử ra đời tác phẩm Nhớ nước ởđây là nhớ về thời kỳ vàng son với bao chiến công oanh liệt và cảnh thái bìnhthịnh trị thời nhà Lí Trần, Lê, vì khi nhà Lê suy tàn, đất nước xảy ra bao cuộcnội chiến liên miên Nguyễn Huệ dẹp giặc Thanh thống nhất đất nước nhưng
Trang 40chưa trị vì được bao lâu thì đột ngột qua đời Nguyễn Ánh trước kia cầu cứuXiêm rồi lại cầu cứu Pháp, lợi dụng cơ hội chiếm triều đình Năm 1802 lênngôi, hiệu là Gia Long chuyển kinh thành vào Huế Đến đời vua Minh Mạng
1820 (con trai Nguyễn Ánh) mời ông Lưu Nguyên Ôn (chồng bà HuyệnThanh Quan) vào làm quan, còn mời bà vào làm giáo tập Và chính từ hoàncảnh lịch sử này mới nảy sinh hoàn cảnh cảm hứng của tác phẩm Trên đường
đi vào cung qua địa phận đèo Ngang, cảnh hoang sơ heo hút với tâm trạng củangười lữ thứ , tức cảnh sinh tình bà đã viết nên bài thơ Như vậy việc phântích hoàn cảnh ra đời của tác phẩm giúp chúng ta có định hướng ban đầu tạođiều kiện thuận lợi để hiểu đúng, hiểu sâu về tác phẩm Tuy nhiên cũng nênlưu ý bởi vì thời lượng dạy một văn bản có hạn nên khi giới thiệu về hoàncảnh lịch sử giáo viên phải biết chọn lọc những thông tin có tác dụng thiếtthực tránh lan man
Phân tích mạch cảm xúc chủ đạo của bài thơ qua hình tượng nhân vật trữ tình và bức tranh đời sống được mô tả
Phân tích hình tượng nhân vật trữ tình
Thơ ca, xét đến cùng bản chất của nó là tiếng nói trữ tình Bởi vậy khidạy thơ cần quan tâm đặc biệt đến nội dung trữ tình của tác phẩm được thểhiện qua cảm hứng chủ đạo Có thể hình dung cảm hứng chủ đạo này như mộtdòng chảy xuyên suốt bài thơ tạo nên nội dung giá trị của bài thơ Nó khôngphải bao giờ cũng liền mạch mà có khi đứt quãng, có những khúc lặng, nó thểhiện tiếng nói nội tâm phức tạp trong những hình thức ngôn ngữ thi ca khácnhau Mạch cảm xúc chủ đạo này bị chi phối bởi hình tượng chủ thể và hìnhtượng khách thể trong bài thơ Hình tượng chủ thể thông thường và chủ yếu
là là hình tượng tinh thần, nội cảm được biểu hiện thành nhân vật trữ tìnhtrong thơ Hình tượng khách thể có thể là các sự kiện biến cố các bức tranhthiên nhiên hoặc con người chúng đóng vai trò kích thích, gợi mở chuyểndẫn những cảm xúc suy tư của nhân vật trữ tình Như vậy cảm xúc chủ đạotrong thơ được nảy sinh từ sự tương tác giữa chủ thể và khách thể Do đóphân tích được mạch cảm xúc chủ đạo trước hết phải tìm hiểu hình tượng chủthể thông qua nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình trong thơ trung đại là ngườiđứng ra ký thác tâm sự, bày tỏ quan niệm nhân sinh thế sự, để tỏ chí Cần chú
ý rằng trong nhiều trường hợp nhân vật trữ tình có những đặc điểm đồng nhất