1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề cơ bản trong đời sống lí luận văn học việt nam sau 1985

87 923 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Cơ Bản Trong Đời Sống Lí Luận Văn Học Việt Nam Sau 1985
Tác giả Trương Thị Mai Hoa
Người hướng dẫn PGS. TS Trương Đăng Dung
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Thuyết Và Lịch Sử Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2002
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 275 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là các vấn đề : Mối quan hệ giữavăn học với chính trị, văn học với hiện thực, vấn đề chủ nghĩa hiện thực xã hộichủ nghĩa, vấn đề đánh giá thành tựu văn học cách mạng...Đồng thời nhóm

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo

trờng đại học vinh

Trang 2

Lời cảm ơn !

Luận văn này đợc hoàn thành dới sự hớng dẫn tận tình, nghiêm

túc của PGS TS Trơng Đăng Dung Nhân dịp hoàn thành đề tài , tác

giả luận văn xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, PGS TS

Trơng Đang Dung - Ngời đã giúp đỡ tôi rất ân tình và với

tinh thần trách nhiệm cao.

Đề tài Một số vấn đề cơ bản trong đời sống lí luận văn học Việt

Nam đợc hoàn thành đúng thời hạn cũng nhờ sự giúp đơc nhiều mặt

của Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, Khoa ngữ văn trờng Đại học

Vinh ; Ban giám hiệu, Phòng tổ chức, Khoa xã hội nhân văn trờng

CĐSP Hà Tĩnh cùng bạn bè đồng nghiệp gần xa Tác giả luận văn xin

chân thành cảm ơn !

Tác giả luận văn Trơng thị mai hoa

Mục lục

Mở đầu Trang 1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi của đề tài 7

5.Phơng pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp mới của luận văn 9

7 Cấu trúc luận văn 9

Trang 3

Chơng 1

Một số đặc điểm của lí luận văn học trớc 1985

1.1 Lí luận văn học trong bối cảnh đời sống văn học ba mơi năm chiến tranh 11

1.1.1 Những chặng đờng phát triển 11

1.1.1.1 Chặng 1946-1954 12

1.1.1.2 Chặng 1955-1975 2o 1.1.2 Những đặc điểm chính 23

1.2 Lí luận văn học trớc hoà bình đế trớc thời kì đổi mới đất nớc 25

1.3 Lí luận văn học trớc 1985 - Thành tựu và một số vấn đề cần suy nghĩ 28

1.3.1 Thành tựu 28

1.3.2 Một số vấn đề cần suy nghĩ 29

Chơng 2 Những vấn đề lí luận văn học cơ bản đợc trao đổi trong thời kì đổi mới đất nớc 2.1 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với sự chuyển biến của t tởng văn nghệ 33

2.2 Về một số vấn đề lí luận văn học cơ bản đợc trao đổi trong thời kì đổi mới 37

2.2.1 Văn học phản ánh hiện thực 37

2.2.2 Mối quan hệ giữa văn nghệ với chính trị 42

2.2.3 Đánh giá thành tựu văn học cách mạng ( 1945 - 1975 ) 48

Chơng 3 Lí luận văn học trớc nhu cầu giao lu hội nhập 3.1 Giao lu, hội nhập - Một biểu hiện tất yếu của quá trình đổi mới lí luận văn học Việt Nam

56 3.2 Lí luận văn học Việt Nam với sự gặp gỡ những tinh hoa lí luận thế giới

57 3.2.1 Dịch các tác phẩm lí luận văn học tiêu biểu của nớc ngoài 57

3.2.2 Giới thiệu khái quát các trờng phái lí luận văn học tiêu biểu của nớc ngoài 60

3.2.3 Sự xuất hiện những công trình lí luận văn học trong nớc có tính chất ứng dụng lí thuyết văn học nóc ngoài 66

3.3 Những đóng góp mới của lí luận văn học sau 1985 72

3.3.1 Những quan niệm mới 72

3.3.1.1 Vị trí, chức năng của lí luận văn học trong hệ thống các khoa học văn học 72 3.3.1.1.1 Vị trí của lí luận văn học 73

3.3.1.1.2 Chức năng của lí luận văn học 78

3.3.1.2 Đối tợng của lí luận văn học 82

3.3.1.3 Tác phẩm văn học 84

3.3.2 Những khả năng mới của lí luận văn học 95

Kết kuận 97

T liệu tham khảo 101

Trang 4

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài.

1.1 Lí luận văn học sau 1985 có một vị trí quan trọng trong tiến trình phát triểncủa nền văn học Việt nam hiện đại Công cuộc đổi mới đất nớc do Đảng cộngsản Việt nam khởi xớng và lãnh đạo với khẩu hiệu “ cởi trói ” cho văn nghệ sỹ ,nhìn thẳng vào sự thật, nói thẳng sự thật và đánh giá đúng sự thật đã đáp ứng mộtcách thích đáng những nhu cầu bức xúc của sự nghệp đổi mới văn học nghệthuật trong đó có lí luận văn học Dù đang trong dòng vận động, đang trong thếphát triển song nhìn chung thời điểm sau 1985 đánh dấu một bớc phát triển mớitrong đời sống lí luận văn học nớc nhà Những khởi sắc của lí luận văn học giai

đoạn này đợc bắt đầu từ ý thức nhìn nhận lại một số vấn đề thuộc bản chất, chứcnăng của nền văn nghệ cách mạng trên tinh thần đổi mới t duy và vận dụng ph-

ơng pháp luận khoa học một cách nghiêm túc ở một hớng khác lí luận văn họctrong bối cảnh đất nứớc mở cửa giao lu với các nớc trên thế giới về mọi lĩnh vực

đã nắm lấy cơ hội này để tiếp thu những tinh hoa lí luận thế giới mà chủ yếu nhấtvẫn là Phơng Tây đơng đại, trang bị thêm cho mình những công cụ mới nhằm tạo

ra khả năng theo sát sự phát triển của đời sống muôn màu muôn vẽ của văn học

và có thể mở rộng hơn nữa phạm vi tiếp cận văn học theo cả bề rộng lẫn chiềusâu Thời điểm sau 1985 ghi dấu những nổ lực, những tìm tòi, khám phá mới củacác cây bút lí luận chuyên nghiệp trong việc đi sâu vào nhiều vấn đề thuộc dạngnguyên lí của văn chơng và nhất là các vấn đề thuộc về phơng pháp luận nghiêncứu văn học Tìm hiểu một giai đoạn phát triển có ý nghĩa nh vậy đối với nền líluận văn học Việt Nam thiết nghĩ là một việc nên làm và cần làm , nó cũng cốthêm niềm tin và nhận thức của chúng ta rằng : “ Dân tộc ta không giàu truyềnthống triết học nên di sản mỹ học nói chung, thành tựu lí luận phê bình văn họcnói riêng tha mỏng Tuy nhiên không giàu nhng có và có hấp thu nhng khôngphải không có những sáng tạo độc đáo” ( Phơng Lựu ) Vâng ! chúng ta thiếumột truyền thống mỹ học, triết học, nên những nổ lực đổi mới t duy lí luận vănhọc sau năm 1985 là đáng ghi nhận Những nổ lực ấy rõ ràng xuất phát trên cơ

sở đòi hỏi của một nền văn học trớc nhu cầu hiện đại hoá

Trang 5

1.2 Thế kỉ XX đã khép lại, một thiên niên kỉ mới đang bắt đầu Yêu cầutổng kết về sự phát triển của văn học nghệ thuật nói chung, lí luận văn học nóiriêng trong một thế kỉ qua đặc biệt là ở giai đoạn kế cận là một vấn đề quantrọng và cấp thiết đối với giới nghiên cứu văn học Một thái độ xem xét kháchquan- toàn diện- lịch sử- cụ thể không những giúp cho lí luận văn học tìm ra đợcmột định hớng mới , một động lực mới thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của lí luậnvăn học trong thế kỉ tới mà còn đặt nó đúng vào vị trí xã hội - nghề nghiệp củamình Bởi vì muốn thiết kế một ngôi nhà mới tất yếu phải soát xét lại quy trình,cách thức xây dựng ngôi nhà trớc đó ra sao, xem thử đâu là cái cần kế thừa đâu

là cái nên sữa đổi, bổ sung Nghiên cứu một số vấn đề lí luận văn học cơ bản qua

đó khái quát thành tựu và triển vọng mới của chặng đờng này, luận văn bớc đầugóp thêm một cái nhìn mang tính hệ thống, từ đó có thể góp phần soi sáng một

số vấn đề mà sáng tác văn học hôm nay đặt ra

1.3 Tính từ sau năm 1985 văn học Việt Nam đã thực sự có đợc một giai

đoạn phát triển mới Hơn 15 năm qua có rất nhiều công trình đã đi sâu vàonghiên cứu và tổng kết những thành tựu sáng tác của chặng đờng này nhng riêngvới lĩnh vực lí luận văn học thì cha đợc nghiên cứu đầy đủ Trong thực tế đờisống lí luận văn học giai đoạn này lại diễn ra sôi động với nhiều trăn trở đểchuyển mình, với những khởi động ban đầu và những “ cú huých ” thực sự Nghiên cứu những vấn đề lí luận văn nghệ cơ bản của chặng đờng này sẽ gópphần soi sáng nhiều vấn đề trực tiếp liên quan đến chơng trình lí luận văn học ởbậc Đại học và Phổ thông trung học Điều này càng có ý nghĩa hơn khi ngời ta

đang đặt vấn đề cần phải đổi mới chơng trình bộ môn lí luận văn học trong nhàtrờng

1.4 Khảo sát Một số vấn đề cơ bản trong đời sống lí luận văn học Việt

nam từ sau 1985 cũng góp phần soi sáng nhiều vấn đề của văn học sử Kết quả

nghiên cứu của công trình có thể trở thành tài liệu hữu ích và thiết thực chonhững ai quan tâm đến lí luận văn học hiện đại đặc biệt là những ngời giảng dạyvăn học - một nghề mà thiếu lí luận mới thì khó mà đổi mới kiến thức và phơngpháp giảng dạy

Với những ý nghĩa thiết thực trên chúng tôi đã tìm đến với đề tài Một số

vấn đề cơ bản trong đời sống lí luận văn học việt nam sau năm 1985 và thực

Trang 6

sự bị thuyết phục bởi nó, dẫu không phải chúng tôi không ý thức đợc rằng đây làmảnh đất còn lắm chuyện tranh cãi.

2 Lịch sử vấn đề

Trong phạm vi t liệu hiện có chúng tôi có thể khẳng định ngay từ đầu rằng:cho

đến nay hầu nh cha có một công trình khoa học nào đặt vấn đề quan tâm đến bứctranh toàn cảnh đời sống lí luận văn học Việt Nam sau 1985 với những ách tắc

và tiến triển mới của nó ở những năm cuối của thế kỉ XX và những thập niên

đầu của thế kỉ XX, xuất hiện nhiều công trình khoa học mang tính chất tổng kếtquá trình phát triển của văn học Việt Nam trong suốt một thế kỉ, tiêu biểu là các

công trình Nhìn lại một thế kỉ văn học do Viện văn học xuất bản năm 2001,

Văn học Việt nam trên hành trình thế kỉ của Phong Lê ( Nxb ĐHQGHN, năm

1997 ) Ngoài ra còn có các bài viết ngắn trên các tờ tạp chí nh Những bớc tổng

hợp mới trong văn học Việt nam thế kỉ XX của Phan Cự Đệ ( Tạp chí văn học

số 10, năm 2001 ) , Nghĩ về văn học việt nam thế kỉ XX của Trịnh Đình Khôi ( Tạp chí văn học số10, năm 2001 ), Thế kỉ XX với đờng lối phát triển văn hoá

văn nghệ của Đảng của Thành Duy ( Tạp chí văn học , số9, năm 2001 ) Tuy

nhiên khi khái quát lại cả một chặng đờng dài phát triển của văn học Việt Namcác nhà nghiên cứu văn học chủ yếu đi vào các thành tựu sáng tác với những cộtmốc đáng nhớ mà cha dành một sự quan tâm thỏa đáng nào đến các vấn đề líluận văn học mặc dầu chúng ta vẫn luôn thừa nhận với nhau rằng Lí luận văn học

là một bộ phận của văn học Ngay cả công trình có tầm cở nh Nhìn lại một thế

kỉ văn học cũng cha dành sự quan tâm thỏa đáng nào đến tiến trình phát triển

của lí luận văn học hoặc nếu có cũng chỉ là một vài bài viết ngắn đề cập đến một

số vấn đề lí luận cụ thể, nó cha đủ sức gợi nên một cách tổng quát đôi nét về bứctranh lí luân văn học thế kỉ qua đặc biệt là ở giai đoạn đợc xem là khởi sắc nhất -giai đoạn từ sau 1985 Phải chăng vì đây là chặng đờng mà lí luận văn học đangtrong dòng vận động, đang trong thế phát triển nên sẽ là quá sớm để đa ra mộtlời nhận xét , đánh giá cụ thể nào Nhng cũng có thể lí giải tình trạng này theo

nh cách nói của nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thuý là “ ở Việt Nam ai cũng hamthích lí luận vậy mà ngời làm lí luận lại ít Phải chăng xa nay chúng ta thiếu một

truyền thống lí thuyết, nên thích thì thích đấy nhng ngại làm ”

Trang 7

Mặc dù cha đợc nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc với t

cách là một đối tợng riêng, độc lập nhng trong thực tế vấn đề này không phải đãhoàn toàn bị lảng quên Trong phạm vi và tính chất nhất định của nó đã có một

số công trình khoa học, một số bài viết đề cập đến Tiêu biểu là công trình khoa

học cấp bộ đợc nghiêm thu vào giữa những năm 1993 Về một số vấn đề lí luận

văn nghệ cơ bản đang đợc tranh luận qua công cuộc đổi mới ( 1987- 1992 )

của nhóm tác giả : Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Từ Đức Trinh, Lê Quang Hng, LêVăn Dơng, Lê Hồng Vân Trong công trình này nhóm tác giả đã tổng kết mộtcách có hệ thống những quan điểm, những ý kiến khác nhau về một số vấn đề líluận văn nghệ đợc tranh luận trong hơn 5 năm kể từ sau khi có chủ trơng đổi mới

đất nớc của Đảng đến những năm 1992 Đó là các vấn đề : Mối quan hệ giữavăn học với chính trị, văn học với hiện thực, vấn đề chủ nghĩa hiện thực xã hộichủ nghĩa, vấn đề đánh giá thành tựu văn học cách mạng Đồng thời nhóm tácgiả cũng đề xuất đợc một số kiến giải riêng về các vấn đề trên góp thêm mộttiếng nói vào các cuộc tranh luận đó Có thể nói ở vào thời điểm khi mà các cuộctranh luận xoay quanh các vấn đề này đang diễn ra sôi nỗi trên báo chí , trongcác cuộc hội thảo với nhiều ý kiến khác nhau thậm chí đối lập nhau sự xuất hiệncủa công trình có một ý nghĩa lớn Tuy nhiên do phạm vi công trình chỉ dừng lạikhảo xét những vấn đề lí luận văn nghệ trong một khoảng thời gian nhất định ( từ

1987 đến 1992 ) nên không có khả năng bao quát đợc bức tranh toàn về đời sống

lí luận văn học sau 1985 với cả mặt bất cập và thành tựu mới của nó Đặc biệtmối quan tâm chính của công trình chỉ là các vấn đề lí luận văn nghệ đợc tranhluận nên để ngoài việc đi sâu thống kê, đánh giá các công trình lí luận tiêu biểu,những cây bút lí luận tiêu biểu từ đó tái hiện đợc một khuôn diện mới cho lí luậnvăn học sau 1985

Vấn đề lí luận văn học sau 1985 cũng đợc đề cập đến trong một số bài viếtmang tính chất tổng hợp quá trình phát triển của lí luận văn học trong một thế kỉ

nh Lí luận phê bình văn học nhìn từ sau một thế kỉ của tác giả Nguyễn Hoà

đăng trên Tạp chí nhà văn, số 4, năm 2002, Hành trình nghiên cứu lí luận phê

bình văn học Việt nam thế kỉ XX của Lê Dục Tú đăng trên Tạp chí văn học, số

7, năm 2002 Nội dung của các bài viết này nh tiêu đề của nó mách bảo là cáinhìn khái quát cả chặng đờng phát triển của lí luận văn học trong suốt thế kỉ XX.Tuy nhiên việc điểm tình hình trên diện rộng đã khiến cho những vấn đề đặt rakhông tránh khỏi sự sơ lợc

Trang 8

Trong phạm vi của một bài viết đăng trên tờ tạp chí văn học với vỏn vẹn có

5 trang giấy Lê Dục Tú đã chỉ ra đợc quá trình hình thành, phát triển của lí luậnphê bình văn học thế kỉ XX từ những bớc “ khai phá ” ban dầu non nớt, thô vụng

đến một ý thức khoa học cao về nghề nghiệp Tác giả cũng dừng lại khá lâu ởchặng đờng phát triển mới của lí luận văn học sau 1985, chỉ ra ý thức đổi mới tduy lí luận văn học của nó qua sự xuất hiện đồng loạt các công trình nghiên cứu

vận dụng thành công lí thuyết văn học nớc ngoài Đó là các công trình nh : Suy

nghĩ mới về nhật kí trong tù ( Nhiều tác giả ), Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học ( Nhiều tác giả ) , Kí hiệu, nghĩa và phê bình văn học (Hoàng Trinh ),

Đi tìm chân lí nghệ thuật và Khảo luận văn chơng ( Hà Minh Đức ), Thi pháp thơ Tố Hữu và Những thế giới nghệ thuật thơ ( Trần Đình Sử ) Tuy nhiên các

vấn đề ở đây chỉ mới đợc nêu ra dới dạng các luận điểm chứ cha có sự phân tíchthỏa đáng , đặc biệt bài viết cha đặt vấn đề nghiên cứu lí luận văn học nh là một

đối tợng riêng

Ngoài ra còn có nhiều bài viết có tính chất đánh giá từng thời điểm pháttriển cụ thể của lí luận văn học sau 1985 ở khuynh hớng khẳng định những đàosâu, tìm tòi , những hớng tiếp cận mới khi nghiên cứu các hiện tợng và các chỉnhthể văn học

Nhìn chung qua một số công trình nghiên cứu, một số bài viết các tác giả đãchỉ ra đợc đời sống lí luận văn học sau 1985 diễn ra hết sức sôi động với sựchuyển mình kịp thời để đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nớc và nhu cầu phát triểnnội tại của bản thân văn học Tuy nhiên vấn đề này chỉ đợc nêu ra dới dạng cácluận điểm chứ cha có một sự phân tích đánh giá cụ thể nào, cha có công trìnhnào tổng kết một cách dù sơ bộ các vấn đề lí luân văn học cơ bản của thời kì này,khẳng định thành tựu và những khả năng mới của nó Đây là những chổ trống màngời thực hiện đề tài có thể đi vào tìm hiểu và nó hứa hẹn sẽ đa lại nhiều kết quảkhả quan

3 nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện đề tài Một số vấn đề cơ bản trong Đời sống lí luận văn học Việt

Nam sau năm 1885 luận văn hớng tới các nhiệm vụ cụ thể sau :

3.1 Tìm bức tranh chung của đời sống lí luận văn học sau 1985 qua từng

sự kiện, từng chặng đờng cụ thể, dừng lại mô tả, phân tích và đánh giá những

Trang 9

công trình lí luận văn học tiêu biểu, các cây bút lí luận tiêu biểu để tái hiện gơngmặt mới của lí luận văn học sau1985.

3.2 Có ý thức đối sánh với lí luận văn học truyền thống đặc biệt là ở chặng

đờng phát triển gần gũi nhất của nó (1945- 1975 ) để làm nổi rõ hơn tính chất

đổi mới của lí luận văn học giai đoạn này

3.3 Chỉ ra đợc những khả năng mới của lí luận văn học sau 1985 vào

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1.Đối tợng nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài, đối tợng nghiên cứu của luận văn

là toàn bộ hoạt động lí luận văn học diễn ra từ sau 1985 Lí luận văn học giai

đoạn này đợc thể hiện bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng Bao gồm nhữngbài viết trên các sách báo, các ý kiến phát biểu trực tiếp trong các hội nghị tranhluận, trao đổi giữa các cá nhân và những công trình nghiên cứu chuyên sâu vàocác vấn đề thuộc nguyên lí văn chơng và phơng pháp luận nghiên cứu văn học

Lí luận văn học sau 1985 cũng đợc bộc lộ trên nhiều phơng diện khác nhau củamột nền văn học đang tìm kiếm hớng đi mới Giai đoạn này sự hình thành ýthức văn học có sự tham gia tích cực của những cây bút lí luận sáng tác , định h-ớng của các nhà lãnh đạo văn nghệ song chiếm vai trò chủ lực vẫn là những nhà

lí luận chuyên nghiệp

Xác định sơ bộ nh vậy đề tài hớng tới đối tợng nghiên cứu chính là sự vận

động, đổi mới của lí luận văn học vừa nh là quá trình tự ý thức của bản thân vănhọc, của lí luận văn học vừa do những tác động của hoàn cảnh lịch sử

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu bức tranh chung về đời sống lí luận văn học sau 1985 là mong muốn

lớn của ngời thực hiện đề tài Tuy nhiên khi bắt tay vào công việc chúng tôi gặpphải nhiều mà khó khăn lớn nhất vẫn là vấn đề t liệu Bởi vậy chúng tôi tự giớihạn phạm vi nghiên cứu của luận văn ở một số vấn đề cơ bản trong đời sống líluận văn học sau 1985 Cụ thể là các vấn đề lí luận thu hút sự quan tâm chú ý ,

sự tranh luận của giới sáng tác và nghiên cứu văn học nh : vấn đề văn học phản

ánh hiện thực, mối quan hệ giữa văn nghệ với chính trị, vấn đề chủ nghĩa hiệnthực xã hội chủ nghĩa cùng những đóng góp mới của lí luận văn học sau 1985trong lĩnh vực nghiên cứu về vị trí, chức năng, đối tợng của lí luận văn học

Trang 10

5 Phơng pháp nghiên cứu

5.1 Phơng pháp chung

- Vận dụng quan điểm duy vật lịch sử để xem xét lí luận văn học trong mốiliên hệ mật thiết với sự vận động, chuyển mình của xã hội Việt nam trong và saucông cuộc đổi mới Những đổi thay trong t duy lí luận văn học thời kì này xuấtphát trên những đòi hỏi của bản thân một nền văn học đang phát triển với những

tố chất mới nhng cũng không tách rời biệt lập với những thay đổi lớn lao trong

đơi sống xã hội Việt Nam

- Xem xét các vấn đề lí luận văn học sau 1985 với một thái độ nghiên cứunghiêm túc, khách quan và trung thực

5.2 Phơng pháp cụ thể: Theo sát mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra từ

đầu luận văn sử dụng các phơng pháp cụ thể sau:

Phơng pháp so sánh

Phơng pháp phân tích - tổng hợp

Phơng pháp kết hợp mô tả lịch sử với khái quát lí luận

6 Đóng góp mới của luận văn.

6.1 Bớc đầu trình bày một cách có hệ thống về một số vấn đề lí luận văn

học cơ bản của giai đoạn naỳ nh là một sự bổ sung cho thành tựu văn học nớcnhà

6.2 Kết quả của luận văn hy vọng sẽ là tài liệu hữu ích cho việc nghiêncứu, giảng dạy bộ môn lí luận văn học trong nhà trờng phổ thông và Đại học

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm có 3 chơng :

Chơng 1 : Một số đặc điểm của lí luận văn học Việt nam trớc 1985

Chơng 2 : Những vấn đề lí luận văn nghệ cơ bản đợc trao đổi trong thời kì đổimới

Chơng 3 : Lí luận văn học trớc nhu cầu giao lu, hội nhập

Trang 11

Chơng 1 Một số đặc điểm của lí luận văn học trớc 1985

Mặc dù cha có một cuộc hội thảo rộng rải và cha đi tới một sự tổng kết

nh-ng nhìn chunh-ng các nhà nhà lí luận văn học đều có xu hớnh-ng xem thời gian từ sau

1985 đến nay là một thời kì mới trong văn học Việt nam hiện đại Công cuộc đổimới đất nớc do Đảng Cộng Sản Việt nam khởi xớng và lãnh đạo đã thổi mộtluồng gió mới đầy sinh khí vào đời sống xã hội Việt nam Là bộ phận nhạy cảmnhất của xã hội, văn học nghệ thuật ở vào thời điểm ấy đã có một sự chuyểnmình kịp thời : Từ bình diện sang bình diện đời sống cá nhân, từ thế giới vĩ môqua thế giới vi mô Nếu văn học của 30 năm chiến tranh là thứ văn học gắn chặtvới phong trào đấu tranh cách mạng và là vũ khí của cuộc đấu tranh cách mạngthì giờ đây sứ mệnh vũ khí đó đã kết thúc, văn học trở về với đời sống nghệ thuậtmuôn thủa của mình giống nh ngời chiến binh sau chiến tranh trút bỏ bộ quânphục cùng súng đạn đeo bên mình để tiếp tục cuộc sống đời thờng với muôn mặtphồn tạp Đặc biệt văn học chú ý đi sâu vào thế giới con ngời với bao dáng vẽtâm linh khác nhau, những nổi đau, những số phận không ai giống ai và “ mỗingời không thể trùng khít với chính mình, với bộ áo xã hội của nó” ( Bakhatin ) Quá trình đổi mới văn học sau 1985 không ngẫu nhiên mà có, nó gắn liềnvới sự tự ý thức, tự giác ngộ của văn học về vai trò của mình trong xã hội, ýnghĩa của nó với đời sống con ngời Nghị quyết V về văn hoá văn nghệ của Bộchính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam (1987 ) đã mở ra một cách nhìn mới về vị trí,chức năng của văn nghệ, văn học giờ đây không còn đợc hiểu một cách giản đơnchỉ nh một công cụ chính trị, một vũ khí t tởng, một phơng tiện tuyên truyền,

Trang 12

giáo dục quần chúng mà là “ bộ phận trọng yếu của cách mạng t tởng văn hoá, là

bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hoá thể hiện khát vọng của con ngời về Chân

- Thiện -Mỹ, có tác dụng bồi dỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh củacác thế hệ công dân, xây dựng môi trờng đạo đức trong xã hội ”[45-T33]

Định hớng đổi mới về văn hoá văn nghệ của Đảng cũng tạo điều kiện thuận lợi

để lí luận văn học phát triển mang những tố chất mới khác với thời kì trớc Dù

đang trong dòng vận động, đang trong thế phát triển song có thể thấy thời điểmsau 1985 đánh dấu một bớc phát triển mới trong đời sống lí luận văn học nớcnhà Sự vận động, phát triển của lí luận văn học sau 1985 dĩ nhiên không tách rờibiệt lập với những thay đổi lớn lao trong đới sống lịch xã hội Việt nam thời kì

đổi mới nhng cũng có một điều dờng nh đã trở thành quy luật là bất cứ sự đổithay nào cũng đợc chuẩn bị từ trớc đó Sự vận động, phát triển của lí luận vănhọc sau 1985 do đó nó có mầm mống, những thử nghiệm và bài học kinh nghiệmrút ra từ nhiều năm trớc, nếu không thấy đợc tính chất phong phú, đa dạng cùngnhững mặt bất cập trong ý thức văn học giai đoạn trớc thì sẽ không đủ sức lí giải

đầy đủ, sâu sắc những vấn đề lí luận cơ bản và tính chất đổi mới của lí luận vănhọc sau 1985

1.1 Lí luận văn học trong bối cảnh đời sống văn học 30 năm chiến tranh

1.1.1 Những chặng đờng phát triển

Lí luận văn học 30 năm chiến tranh có một vị trí quan trọng trong tiến trìnhphát triển của nền văn học mới Việt nam sau cách mạng Tháng Tám Ba mơinăm, một khoảng thời gian không ngắn nhng lí luận văn học lại phát triển trongmột bối cảnh đời sống không bình thờng: Đời sống chiến tranh Điều đó tất yếu

sẽ hạn chế phần nào sự phát triển của t duy lí luận văn học kháng chiến Mặtkhác cũng trong chiến tranh nhiều vấn đề thuộc về bản chất, chức năng của mộtnền văn nghệ mới đã đợc đặt ra và giải quyết khá thấu đáo, kể cả những vấn đềphức tạp thuộc bề sâu của ý thức văn học hiện đại cũng đợc đặt ra từ đây Chiếntranh kéo dài suốt 30 năm, những vấn đề ấy không có điều kiện đợc nhìn nhậnlại, đến bây giờ khi đất nớc trở lại hoà bình, nhu cầu đổi mới văn học đòi hỏi ng-

ời ta ngoái lại chặng đờng đã qua thì lập tức những vấn đề ấy bổng nhiên cựamình sống dậy và lập tức trở thành đề tài tranh luận gay gắt trong đời sống líluận văn học những năm gần đây

Trang 13

Tìm hiểu lí luận văn học trong bối cảnh đời sống văn học 30 năm chiến tranh

là đặt vấn đề tìm hiểu mối quan hệ mật thiết giữa lí luận văn học với hoàn cảnhlịch sử cụ thể đã sản sinh ra và là môi trờng phát triển của nó Bớc chuyển mìnhcủa lí luận văn học thời kì này trớc hết bắt nguồn từ sự chuyển mình của lịch sử

1.1.1.1 Lí luận văn học trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954 )

Cột mốc đầu tiên và cũng là cột mốc quan trọng nhất đánh dấu sự chuyểnmình của ý thức văn học giai đoạn này là cuộc cách mạng tháng Tám - 1945 Khó có thể nói hết đợc ý nghĩa lịch sử của bớc ngoặt vĩ đại này song có một điều

mà phàm ai đã là ngời Việt nam cũng đều thấm thía là nó đã làm thay đổi mộtcách sâu sắc nền tảng tinh thần của đời sống xã hội Việt nam: dân tộc Việt nam

từ chổ đắm chìm trong màn đêm nô lệ bổng chốc trở thành một dân tộc độc lập,

tự do; ngời lao động Việt Nam từ vị thế của những kẻ bị chèn ép, bị đè đầu cỡi

cổ đã đứng lên tự làm chủ vận mệnh của mình Trải qua kiếp sống nhục nhằncủa ngời dân nô lệ, phải đổ mồ hôi, phải sôi giọt máu trong bao năm đấu tranhgian khổ, hơn ai hết ngời dân Việt nam hiểu đợc giá trị to lớn của hai chữ “ Độclập - Tự do” Bởi thế họ chào đón cách mạng với một niềm vui bất tuyệt Cáchmạng trở thành ngày hội của quần chúng, cuốn hút hàng trăm triệu ngời từ Bắctới Nam, từ miền ngợc tới miền xuôi đi theo cờ đỏ sao vàng của chính quyềnmới

Nhng niềm hạnh phúc vô biên trớc thành công của cuộc cách mạng vĩ đạicha dứt thì tiếng súng xâm lăng của thực dân Pháp lại nổ ra trên quê hơng Việtnam Lịch sử dân tộc từ đây bớc qua một trang mới : Cách mạng và khángchiến Đáp lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nớc sôi sục lên đờng, dốcsức đồng lòng bớc vào cuộc kháng chiến trờng kì Đảng chủ trơng “kháng chiếnhoá văn hoá, văn hoá hoá kháng chiến ”, văn học nghệ thuật trong bối cảnh ấy đã

tự nguyện tập hợp dới ngọn cờ toàn quốc kháng chiến Dới sự lãnh đạo của

Đảng, những ý kiến chỉ đạo trực tiếp của chủ tịch Hồ Chí Minh, tổng bí th TrờngChinh cùng một số nhà lí luận cách mạng chúng ta đã xây dựng một nền văn học

có ý thức sâu sắc về sứ mệnh lịch sử của mình , công khai tự xác định là một thứ

vũ khí trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giai cấp, công khai tự gắn bóvới đời sống chính trị và tự nguyện phục vụ cho nhiệm vụ chính trị Văn họcnghệ thuật đến đây không còn là thứ đồ chơi của một thiểu số ngời tự tách mìnhsang bên lề của thời đại mà chính thức trở thành một mặt trận tiên phong trong

Trang 14

trận tuyến chống đế quốc Lí luận văn học trong những năm kháng chiến cũngkhông nằm ngoài khuôn khổ đó Lí luận văn học trong một lúc nào đó đã tự thay

đổi mình để trở thành một công cụ tuyên truyền cho những chủ trơng, chính sáchcủa Đảng về văn hoá văn nghệ, trực tiếp có những uốn nắn kịp thời để xây dựngmột nền văn nghệ phục vụ kháng chiến, phục vụ cách mạng, cổ vũ, động viênmỗi ngời dân Việt nam đứng lên đánh giặc cứu nớc

Những năm đầu tiên dới chế độ Việt Nam dân chủ cộng hoà ( 45-46 ) lí luận

ít có các công trình nghiên cứu chuyên sâu mà chủ yếu là các bài báo mang tínhluận chiến nhằm đấu tranh chống lại các quan điểm nghệ thuật cũ, cản trở việc

xây dựng nền văn nghệ mới đồng thời giải thích và phổ biến Đề cơng văn hoá

Việt nam năm 1943 của Đảng để hớng văn nghệ cách mạng đi theo ba phơng

châm : Dân tộc - Khoa học- Đại chúng Đi tiên phong và có nhiều đóng góp tích

cực cho việc khẳng định và phát huy ảnh hởng của Đề cơng văn hoá Việt nam

năm 1943 là các cây bút trong Hội văn hoá cứu quốc, tiêu biểu là : Trần HuyLiệu, Đặng Thai Mai, Hồng Lĩnh, Nguyễn Đình Thi

Với bút danh Thanh Bình, Đặng Thai Mai đã viết Phê bình Tơng lai văn

học Việt nam của Trơng Tửu nhằm phê phán quan điểm nghệ thuật chống lại Đề cơng văn hoá Việt nam của nhóm Hàn Thuyên Ông đặc biệt nhấn mạnh đến

chổ nguy hiểm trong khuynh hớng “ Tự do tuyệt đối ” của văn nghệ sỹ mà TrơngTửu đã nêu ra Ông viết : “ Tự do- tự do cá nhân, tự do nghệ sỹ, tự do tuyệt đối,hay lắm ! đẹp lắm ! Nhng nớc nhà cha đợc tự do thì nghệ sỹ tự do nh thế nào?Một diều chắc chắn là chữ tự do nếu bị hiểu lầm thì là một điều ngu; chữ tự donếu để cho một lũ đĩ bút mực lợi dụng để phản cách mạng thì càng nguy nữa

”[ 40- T110] Ông cũng phê phán mạnh mẽ quan niệm của Trơng Tửu khi đòitách rời văn nghệ khỏi sự lãnh đạo của Đảng : “ Đoàn tân văn nghệ sẽ khôngtheo mệnh lệnh của một Đảng nào hết mà chỉ theo nghị quyết của đại đa số đoànviên ” [ 40- T111 ] Tiếp đó, đứng trên lập trờng văn nghệ Mác xit và khuynh h-ớng văn nghệ phục vụ chính trị của thời đại Đặng Thai Mai đã chống lại khuynhhớng tách rời văn nghệ với chính trị xã hội Hàng loạt bài viết của Đặng ThaiMai trên tạp chí Tiên phong đã có tác dụng to lớn trong việc xác lập bản chất củanền văn nghệ mới sau cách mạng tháng Tám

Song song với việc đấu tranh chống lại các quan điểm nghệ thuật cũ cản trởviệc xây dựng nền văn nghệ mới, lí luận văn học thời kì này tập trung hớng vănnghệ cách mạng vào ba phơng châm : Dân tộc - Khoa học - Đại chúng Hồng

Trang 15

Lĩnh trong bài Văn học Việt nam cần nên dựa vào ba nguyên tắc : Dân

tộc-Khoa học - Đại chúng hay không ? đã cho rằng : “ Nói đến tính chất dân tộc

của văn học , nghĩa là văn học phải là một phơng pháp, một công cụ có hiệu lựcrất mạnh để đề cao tinh thần dân tộc, nâng cao lòng ái quốc của nhân dân, đểchống lại mọi xâm lăng, mu mô của phản động định kéo thụt ta trở lại chế độ nô

lệ ”[40- T591] Nguyễn Đình Thi thì khẳng định : “ Con đờng của văn nghệ tahiện nay chỉ có thể là con đờng cứu nớc ” [40; 73] Gắn với sự nghiệp cứu nớc,văn học tất yếu không thể xa rời đại chúng “ điều kiện căn bản để làm ra một tácphẩm có tinh thần chân chính đại chúng là lúc nào cũng biểu dơng ra cái tâm lí

đại chúng Không sống đời sống đại chúng thì không thể nào sản xuất đợcnhững tác phẩm nh vậy ” [40; 596] Trên phơng châm khoa học hoá, Hồng Lĩnhcho rằng : “ Cái gì tiến bộ hợp với lẽ tiến hoá của sự vật là khoa học Cái gì thoáihóa ngăn cản lẽ phát triển tự nhiên của sự vật là trái khoa học ( ) mặc dù xu h-ớng của văn học hiện nay nói chung là tiến bộ, là nhiệt liệt tán thành chế độ vàrất căm hờn chế độ cũ nhng sự tiến bộ đó luôn theo chân nối gót với sự tiến bộkhông ngừng của xã hội mới thì mới có tính chất khoa học.” [40; 593]

Có thể nói, ở thời điểm 45-46, lịch sử dân tộc với nhiều sự kiện nóng bỏng đãkhiến cho việc ra đời và khẳng định công khai dòng ý thức văn học cách mạnggặp nhiều khó khăn Việc xác lập bản chất của nền văn nghệ mới trong buổi đầulịch sử đã diễn ra trong sự đấu tranh không khoan nhợng với nhiều khuynh hớngvăn học khác nhau Tuy nhiên, do âm vang náo nức của thời đại mới và uy tínlớn lao của cuộc cách mạng tháng Tám, dòng ý thức văn học cách mạng ngàycàng trở thành trào lu lớn có xu thế lấn át nhiều khuynh hớng văn học khác cùngthời Đến ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19.12.1946 ) dòng ý thức vănhọc này chuyển qua một giai đoạn mới, vận động trong sự tìm kiếm, nhận đờngcủa các văn nghệ sỹ (47- 49 )

Bớc vào cuộc sống mới của cách mạng là giai đoạn các nhà văn có sự chuyểnmình “ lột xác ” về nhân sinh quan và thế giới quan với những câu hỏi bức xúc :Viết về ai ? Viết về cái gì ? và nhất là Viết nh thế nào ? để vừa phục vụ yêu cầutrớc mắt mà vẫn giữ đợc đặc trng thẩm mỹ của văn chơng nghệ thuật , thể hiện

đợc cá tính sáng tạo của cá nhân ngời nghệ sỹ Trong lịch sử văn học dân tộc, cóthể nói cha có một giai đoạn nào các thế hệ cầm bút lại trở trăn nhiều về quátrình nhận đờng nh ở giai đoạn này Cách mạng tháng Tám nh một cơn lốc vĩ đại

đã cuốn trôi bao cảnh đời xa cũ, những gồng xiêng nô lệ, nó không chỉ là ngày

Trang 16

hội của toàn dân mà còn có sức cuốn hút mạnh mẽ tới hàng loạt nhà văn tiểu tsản khác nhau cùng quy tụ về trên một con đờng lớn : Cách mạng và khángchiến Đối với các nhà văn, cách mạng tháng Tám là một cuộc tái sinh nhiệmmầu, là giờ phút mà mọi ngời cảm thấy dờng nh đang từng giờ từng phút đợcthay da đổi thịt Vì thế họ đi theo cách mạng với tất cả cái náo nức, tin yêu củamột ngời công dân Việt nam đợc làm chủ vận mệnh của mình Xuân Diệu ngợi

ca cách mạng một cách say sa, vui một niềm vui mãnh liệt, tràn đầy :

Việt nam ơi ! Việt nam ơi ! cờ đỏ sao vàng

Những ngực nén hít thở ngày độc lập

Ngìn lực mới bốn phơng lên tới tấp

Nếp cờ bay chen vỗ sóng bài ca

Bốn ngìn năm trông mặt mẹ không già

Chúng con vẫn giữ một lòng trẻ ấy

Ngắm tầng biếc chúng con mừng biết mấy

Thấy còn d máu đỏ để trang hoàng.

( Ngọn quốc kì )

Còn Nguyễn Tuân, ông hồn nhiên đi theo cách mạng nh đi vào ngày hội lớncủa dân tộc : “ Ngày cách mạng tháng tám, Việt minh chiếm phủ thống sứ, tôicũng khăn đóng áo the “ đi xem” đúng nh chỉ là một ngời quan sát thế thôi Tôithấy Việt minh hạ cờ quẻ lị xuống rồi treo cờ đỏ sao vàng lên Tôi nhận có một

sự đổi thay, một sự chuyển biến lớn lao thật sự Tôi cũng thú thú, thế là vào hiệucắt tóc, cạo râu, thấy con ngời mình dờng nh sáng sủa hẳn lên Tôi còn cởi bộquần áo dài ra, mặc quần áo sóc, sơ mi vải cứt ngựa, nhập vào dòng biểu tìnhchào mừng cách mạng Khi trở về nhà, bà Chu- chủ nhà hát và là tình nhân củatôi- la lên : “ ông định đi làm cách mạng đấy à ? đừng có mà đi theo họ ” kể đến

đây Nguyễn Tuân cời và đế thêm : “ Thế có chết tôi không chứ ! ” Anh lạcgiọng và nói một cách dí dỏm - nếu không có cách mạng thì tôi có thể lấy bà talàm vợ lẽ cho nên tôi phải cảm ơn cách mạng nhiêù lắm ” [1 ; 112]

Không riêng gì Nguyễn Tuân mà rất nhiều nhà văn khác cũng có nỗi bồi hồixúc động đó ở các thế hệ nhà văn ấy, con ngời công dân có phần thanh thản,nhẹ nhàng còn con ngời nghệ sỹ lại hết sức vụng về Họ bàng hoàng, cảm phục

và biết ơn cách mạng nhng phải làm gì đây để cống hiến cho cách mạng thì quả

là không biết bằng cách nào ? ở họ, trên vai nặng trĩu ba lô súng đạn, bàn chânhăm hở đi vào kháng chiến nhng tâm hồn vẫn vơng vấn quá khứ Và xét cho

Trang 17

cùng thì giữa yêu cầu, đòi hỏi của xã hội với những thói quen, quán tính trongtâm hồn, trong ý thức của các văn nghệ sỹ vào thời điểm ấy còn một khoảngcách khá lớn, nó cha thể cảm thông để cùng nhau bớc đi trên một con đờng

Từ thực tiển ấy, lí luận văn học thời điểm 47- 49 tập trung chủ yếu vào việcnhận đờng của các văn nghệ sỹ nhằm tìm ra lời giải đáp cho sự kết hợp hài hoàgiữa thực tiển kháng chiến và đời sống văn học Thực tiển kháng chiến đặt ra chocác nhà văn nhiệm vụ “ mỗi sáng tác phải là một viên đạn bắn vào đầu kẻ thù,phải nổi gió bảo lên trên từng trang viết để khơi dậy nhiệt tình tranh đấu, nhngviết gì ? vẽ gì ? sáng tác nh thế nào ? để đáp ứng đòi hỏi ấy, các nghệ sỹ còn rấtlúng túng Văn nghệ phụng sự kháng chiến nghĩa là văn nghệ phải làm nhiệm vụchính trị cứu nớc bằng chính đặc trng riêng của mình Nhng ở thời điểm đó phầnlớn các văn nghệ sỹ cha tìm thấy đợc tiếng nói hài hoà chung giữa ý thức nghệthuật và ý thức chính trị Quá trình nhận đờng do đó là một quá trình đấu tranhgian khổ, lâu dài, để đến đợc miền “ lúa vàng đất mật ”của thơ , nhà thơ phải trảgiá bằng biết bao trận giông bảo trong đời sống tâm hồn nh cách nói của ChếLan Viên :

Cho đến đợc lúa vàng đất mật

Phải trên lòng bao trận gió ma qua

Những trang nhật kí thấm đợm suy t của Nam Cao, Nguyễn Huy Tởng,Nguyễn Đình Thi ở thời điểm ấy còn lại đến bây giờ là những nhân chứngsống về một thời trăn trở “ nhận đờng ” đau xót đến quặn lòng Trên hành trìnhkhổ ải ấy, một số nhà văn không tán thành với chế độ mới đã rút lui về vùng tự

do hoặc vùng địch, một số khác đi theo cách mạng nhng khi vừa giáp mặt vớigian khổ , hi sinh đã không chịu nỗi đành rút lui Phần lớn các nghệ sỹ đã tr ởngthành từ trớc cách mạng nh Nguyễn Tuân, Nam Cao, Hoài Thanh, XuânDiệu đã cùng sát cánh với các thế hệ mới miệt mài trong những chuyến ra trận,vào vùng địch, về hậu phơng làm văn nghệ kháng chiến và nhiều ngời đã ngãxuống trong cuộc kháng chiến trờng kì của dân tộc

Hai bài Tranh tuyên truyền và hội hoạ của Tô Ngọc Vân và tiểu luận

Nhận đờng của Nguyễn Đình Thi đã mở đầu cho một cuộc nhận đờng đầy đau

xót nhiều năm Đặc biệt cuộc tranh luận sôi nổi giữa Nghệ thuật và tuyên

truyền, Nghệ thuật và quần chúng do Tô Ngọc Vân khởi xớng và đã trở thành

một sự kiện nổi bật trong đời sống lí luận văn học những năm này Trong ý thứcsâu xa của mình Tô Ngọc Vân luôn phân biệt rạch ròi nghệ thuật và tuyên

Trang 18

truyền, nghệ thuật và chính trị , ông cho rằng : “ Tranh tuyên truyền không phải

là hội hoạ vì nó biểu lộ một dụng ý chính trị, nêu lên những khẩu hiệu chính trị,vạch ra con đờng chính trị cho quần chúng theo, phô bày những cảnh tợng đểgây ở họ một thái độ chính trị ” còn hội họa đích thực, nghệ thuật chân chính thìhớng tới “ biểu hiện một tâm hồn cá nhân, một thái độ của con ngời đối với sựvật, kể lể tình cảm của con ngời hơn là lí luận về một vấn đề nào đó ” Cuối cùngTô Ngọc Vân đi tới kết luận “ Hội hoạ có giá trị vĩnh cửu còn tranh tuyên truyềnchỉ có giá trị nhất thời ” [36 ; 83]

Trong xu thế không gì cỡng lại đợc của quan niệm “ Văn nghệ phụng sự kháng chiến” quan điểm của Tô Ngọc Vân vừa nêu ra đã bị phê phán triệt để.

Đặng Thai Mai cho rằng : Sáng tạo nghệ thuật của ngời nghệ sỹ đều có tính chấttuyên truyền cho một t tởng nào đó Giá trị chân chính của nghệ thuật đứng vềphơng diện chính trị xã hội mà nói là phải phục vụ cho một mục đích tiến bộ,chính đại quang minh Đứng về phơng diện nghệ thuật nó phải đi đến chổ độc

đáo Đặng Thai Mai đi đến kết luận : “ cho rằng nghệ thuật không đi đôi vớituyên truyền là một quan niệm nông nổi ” [36; 184-185]

Đứng từ góc độ sáng tạo của ngời nghệ sỹ Tô Ngọc Vân tỏ ra rất khó chịu vàphản ứng quyết liệt lại quan điểm của nhà nghiên cứu họ Đặng Cuộc tranh luậnnày kéo dài một năm mà không đi tới ngã ngũ Do vậy đến Hội nghị văn hóatoàn quốc lần II ( Tháng 7- 1949 ) Trờng Chinh đã dành một phần bản báo cáo

Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt nam để giải quyết vấn đề này Trờng Chinh

viết : “ Bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào cũng có ít nhiều tính chất tuyên truyền.Nhng nói nh thế không phải có thể kết luận rằng : nghệ thuật và tuyên truyền chỉ

là một Tuyên truyền cao tới một mức nào đó thì tuyên truyền trở thành nghệthuật, nghệ thuật thiết thực tới một mức nào thì nghệ thuật có tính chất rõ rệt làtuyên truyền Cho nên có thể có những ngời tuyên truyền không phải hoặc chaphải là nghệ sỹ, nhng không thể có những nghệ sỹ hoàn toàn không phải là tuyêntruyền ” ý kiến của Trờng Chinh rõ ràng rất có sức thuyết phục nhng ở thời

điểm đó Tô Ngọc Vân cha chịu, phải đến Hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việtbắc ( Tháng9 - 1949 ) thì cuộc nhận đờng về cơ bản mới kết thúc Hội nghị tranhluận văn nghệ tại Việt Bắc đánh dấu sự kết thúc thời kì nhận đờng, xác lập quan

điểm Mác Xit, đa văn nghệ vào phục vụ cách mạng lâu dài, do đó nó có một ýnghĩa và âm vang khá đặc biệt đối với sự chuyển biến của ý thức văn học thời kìnày

Trang 19

Sau thời kì nhận đờng, từ những năm 1950-1954 lí luận văn học tập trungchủ yếu vào cuộc đấu tranh để xác lập ý thức giai cấp vô sản cho những nghệ sỹmới mà trớc hết là hớng về quần chúng Nó ít đi vào các hiện tợng cụ thể của sựvân động nội tại trong ý thức văn học mà tập trung vào giải quyết các vấn đề lậptrờng t tởng, quan điểm giai cấp và quán triệt đờng lối cách mạng ý thức vềquần chúng, ý thức về giai cấp vô sản đã trở thành nội dung cơ bản của ý thứcvăn học thời kì này Đây là thời kì mà các nhà văn có thói quen viết xong mộttác phẩm thờng đa ra đọc cho tập thể nghe để tập thể sữa chữa, nếu tập thể đồng

ý thì viết tiếp và in, nếu phản đối thì sữa lại hoặc bỏ luôn Vũ Ngọc Phan trong

hồi kí Những năm tháng ấy kể lại rằng : “ Viết xong một bài thì đa cho tập thể

góp ý kiến, không cần thiết cái tập thể ấy có chuyên môn hay không Do đó, vềtruyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ Tinh ngời ta góp ý kiến : phải tô vẽ cho bộ mặtThuỷ Tinh thật hung dữ ; về truyện Tấm Cám ngời ta góp ý: quần chúng nhândân chủ yếu nông dân rất hiền từ nhân đức, không làm gì có chuyện con Cám bịchết vì nớc nóng, không có chuyện làm mắm ghê gớm ấy Nh vậy phải bỏ những

đoạn ấy mới đúng “ quan điểm quần chúng” , mới đúng lập trờng Do đó tậptruyện cổ tích tôi viết ở Việt Bắc và đa in lần đàu tiên năm 1955 ở Hà nội là tậptruyện viết rất máy móc bây giờ đọc lại vẫn thấy đỏ tai ” [37; 413] Có thể nóitrong đời sống ý thức văn học kháng chiến 1946-1954, chặng đờng 1950-1954bên cạnh những thành tựu, những đóng góp còn bộc lộ khá nhiều hạn chế Do

ảnh hởng của t tởng văn nghệ Diên An cùng sự bất cập trong quá trình giác ngộ

ý thức giai cấp của một số nhà văn nên đã để lại cho lí luận văn học chặng nàynhững cách hiểu máy móc, ấu trỉ về văn học, có ảnh hởng đến văn học nớc tanhiều năm sau

Nh vậy trong gần một thập niên hình thành vận động theo định hớng Đề

c-ơng văn hoá Việt nam 1943 của Đảng, ý thức văn nghệ kháng chiến đã đi trọn

chặng đờng đầu tiên của tiến trình xây dựng nền văn nghệ mới từ sau 1945 ởchặng này, đời sống lí luận văn học diễn ra không kém phần sôi động và phứctạp so với giai đoạn trớc Lí tởng cứu nớc cao đẹp kết hợp với sự chân thành củacác nghệ sỹ kháng chiến đã tạo nên gơng mặt độc đáo trong buổi đầu hình thành

ý thức văn học một thời đại mới

1.1.1.2 Lí luận văn học từ 1955-1975

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc đợc hoàn toàn giải phóng,hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ chuyển sang cách mạng xã hội chủ

Trang 20

nghĩa Văn nghệ cũng chuyển từ phục vụ kháng chiến, cải cách ruộng đất sangphục vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đồng thời hớng tới phục vụ sựnghiệp đấu tranh dành thống nhất Tổ quốc Có một điều dờng nh đã trở thànhquy luật là mỗi khi lịch sử sang trang, mỗi khi tình hình trong nớc và thế giới cónhiều biến động to lớn, mỗi khi cuộc đấu tranh trên các mặt trận chính trị, kinh

tế trở nên găy gắt thì trên lĩnh vực văn nghệ cũng nổi lên sóng gió to lớn Nhữngnăm sau kháng chiến chống Pháp đến những năm 60, đời sống lí luận văn học lạixáo động lên bằng cuộc Hội thảo đánh giá lại tập Việt Bắc của Tố Hữu và cuộc

đấu tranh chống nhóm Nhân văn giai phẩm ở đây ta không nhắc lại những gì

đúng, những gì sai bởi mọi điều đã đợc làm sáng tỏ bằng thời gian, nhng bài họcrút ra từ những cuộc tranh luận và cuộc đấu tranh t tởng trên là biểu hiện về sựnhận thức vấn đề một cách khách quan và biện chứng Sự vận động của đời sốngsáng tác nhiều khi không theo ý muốn chủ quan của nhà văn mà bắt nguồn từhiện thực khách quan , bởi vậy ngời làm công tác lí luận phê bình văn học hơn aihết phải là ngời nhạy bén, sáng suốt để có những nhận định đúng mực, mọi sựquy chụp vội vàng sẽ làm tàn lụi sự phát triển của văn học

Bớc vào những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, đời sống lí luận phêbình văn học nói chung “ nh một dòng sông hiền hòa không có bờ thác dữ dội”nhng lí luận đã làm tròn nhiệm vụ của nó là đi sát sáng tác để biểu dơng kịp thờinhững cố gắng mà các sáng tác đạt đợc nh : Tính chiến đấu, tính thời sự, chủnghĩa anh hùng cách mạng, hớng tới xây dựng “ một nền văn nghệ xã hội chủnghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức ” Song cũng vì thế lí luận phê bìnhthời kì này nghiêng nhiều về hớng động viên, cổ vũ, tuyên truyền yếu tố nộidung t tởng của tác phẩm đợc đặt lên hàng đầu để xem xét, đánh giá, chức năngcủa lí luận phê bình văn học dờng nh thiếu đi một vế là đa ra lời dự báo cho mộttác phẩm văn học tơng lai với những phẩm chất nghệ thuật mang tính thẩm mỹcao, có giá trị vĩnh cửu Việc đề cao giá trị nội dung t tởng của tác phẩm nhằmphục vụ kịp thời cuộc đấu tranh của dân tộc đã làm nảy sinh một kiểu lí luận phêbình quá chú trọng đến tiêu chí chính trị xã hội và yêu cầu phản ánh hiện thực,một kiểu nhìn tác phẩm dới góc độ xã hội học Tình hình đó đã làm cho lí luậnphê bình văn học một thời rơi vào trạng thái bằng phẳng, ít sáng tạo Tuy vậynếu nhìn vào từng thời điểm cụ thể thì giai đoạn này cũng sản sinh ra một số

công trình đợc bạn đọc chú ý Tiêu biêu là các công trình : Tiểu thuyết Việt nam

hiện đại ( Nxb ĐHvà THCN, 1972, 2tập ) của Phan Cự Đệ , Thơ và mấy vấn đề

Trang 21

trong thơ Việt nam hiện đại (Nxb KHXH, 1974 ), Đờng vào thơ (Nxb Văn học,

1969 ) của Hà Minh Đức , Bàn về những cuộc đấu tranh t tởng trong lịch sử

văn học Việt nam hiện đại (Nxb KHXH,1971 ) của Vũ Đức Phúc, Mấy vấn đề văn xuôi Việt nam 1945-1975 (NXB KHXH,1972 ) của Phong Lê Điểm qua

một số công trình trên ta có thể dễ dàng nhận thấy, so với thời kì trớc thì t duy líluận văn học thời này đã có bớc phát triển bằng việc mở rộng vùng quan tâm,nghiên cứu của mình, đi sâu vào những vấn đề thuộc nguyên lí văn chơng Nókhông chỉ đóng khuôn trong những biểu hiện về tính Đảng, tính dân tộc và tínhgiai cấp, không chỉ là một thứ công cụ minh họa, tuyên truyền cho những chínhsách, đờng lối văn hoá văn nghệ của Đảng, không chỉ có duy nhất một giọng :giọng mệnh lệnh, yêu cầu mà thực sự chú ý đến những vấn đề thuộc về bản chất,

đặc trng của lí luận văn học nh : Thể loại văn học, phong cách nghệ thuật của

sáng tác Đáng chú ý nhất vẫn là hai công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ và Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại của Hà

Minh Đức

Với Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Phan C Đệ đã tổng kết quá trình hình

thành và phát triển tiểu thuyết Việt Nam hiện đại từ đầu thế kỷ đến những năm

70 Tác giả đã chỉ ra “ Những khuynh hớng tiểu thuyết hiện đại trớc cách mạngtháng Tám và sự phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết hiện thực xã hội ” đồng thờinêu lên những đặc trng nghệ thuật của tiểu thuyết hiện đại là vấn đề điển hìnhhoá trong tiểu thuyết, từ đó nêu lên những nét đặc trng và khác biệt giữa vấn đề

điển hình hoá trong các tiểu thuyết lảng mạn, tiểu thuyết hiện thực phê phán và

tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa Cuốn Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt

Nam hiện đại của Hà Minh Đức từ việc xác định một quan niệm đúng đắn về

thơ tác giả quan tâm đến “ Những yếu tố tạo nên chất thơ trong đời sống văn học

”, đặc biệt đã dừng lại đi sâu và khảo sát thơ trữ tình, một thể loại tiêu biểu củathơ ca Việt Nam hiện đại ở đây Hà Minh Đức đã chỉ ra mối quan hệ giữa nhàthơ và cái tôi trữ tình cũng nh những phơng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình.Ngoài ra tác giả cũng đi sâu nghiên cứu một số vấn đề quan trọng khác của thơ

nh : Phản ánh hiện thực, cảm xúc và suy nghĩ trong thơ, hình thức câu thơ, ngônngữ và nhịp điệu trong thơ

Công trình nghiên cứu về tiểu thuyết và thơ của Phan Cự Đệ và Hà Minh

Đức còn có những điều sau này cần đợc bổ sung do sự phát triển của bản thânthể loại nhng nhìn chung đó là những công trình mang ý nghĩa thực tiển và lý

Trang 22

luận cao Nó đánh dấu một bớc phát triển mới trong việc nghiên cứu về thể loại

so với giai đoạn trớc Từ những năm 1951, Hoài Thanh trong Nói chuyện thơ

kháng chiến đã đặt vấn đề tìm hiểu thể loại nhng ông lại cha nhìn thể loại đúng

với đặc trng thẩm mỹ của nó Trả lời câu hỏi thế nào là thơ hay? Hoài Thanh chorằng : “ Trong hoàn cảnh của nớc ta bây giờ, nói đợc cảm xúc của ngời dânkháng chiến là hay và cảm xúc ấy càng gắn liền với quyền lợi thiết thực củanhân dân càng thúc đẩy đợc hoạt động đánh giặc dựng nớc của nhân dân thì cànghay một câu thơ hay phải là một lợi khí có thể giúp ta bớc thêm một bớc trong

sự cố phục vụ, cố gắng cải tạo chúng ta ” [42; 138] Sự ra đời hai công trình củaPhan Cự Đệ và Hà Minh Đức đã cho thấy từ thực tiển sáng, các nhà nghiên cứu

đã đúc kết đợc những vấn đề lí luận thiết thực và những vấn đề lí luận đó sẽ tiếptục phục vụ trở lại sáng tác, định hớng sáng tác Nh vậy, ngay cả trong hoàncảnh chiến tranh, lí luận văn học có lúc đã tự tách mình ra khỏi yêu cầu thời đại,những vấn đề thuộc về nguyên lí Mác - Lê Nin để đi sâu vào đặc trng của mình,

Khác với giai đoạn trớc, lí luận văn học trong bối cảnh ba mơi năm chiếntranh nhìn chung vận động dới sự chi phối mạnh mẽ và xuyên suốt của ý thứcvăn nghệ Mác Xít, theo những định hớng trực tiếp của Đảng mà cụ thể là sự chỉ

đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh và tổng bí th Trờng Chinh thông qua những bức

th, những ý kiến phát biểu và nhất là bản Đề cơng văn hoá Việt Nam 1943 và

Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam (1948)

Về đội ngũ, lí luận văn học trong suốt ba mơi năm kháng chiến đã thực sự

có một đội ngũ Trớc 1955, lực lợng lí luận chủ yếu là các cây bút lớp cũ nh :

Đặng Thai Mai, Hoài Thanh và một số nhà văn tự “ kiêm nhiệm”, “ tự túc ” lấycông việc lí luận phê bình nh Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao Sau

1955, xuất hiện hàng loạt cây bút, hoặc của lớp cũ trở lại nghề nghiệp của mình

Trang 23

nh : Nh Phong, Trờng Chinh, Vũ Ngọc Phan, Trần Thanh Mại hoặc thuộc lớpmới Lực lợng này khá đông đảo, thờng là những cán bộ giảng dạy ở khoa văncác trờng Đại học, hoặc công tác tại các sở nghiên cứu khoa học xã hội, Ban biêntập các Nhà xuất bản và báo chí văn học Có những ngời đã viết từ thời kỳ trớc,nay vẫn tiếp tục viết, viết nhiều và viết khoẻ nh Đặng Thai Mai, Hoài Thanh,Xuân Diệu, Hà Xuân Trờng, Hoàng Trung Thông Những cây bút mới ngàycàng chiếm vai trò chủ lực, một mặt vì họ đông và xông xáo hơn, mặt khác họ có

điều kiện tiếp thu những tinh hoa lí luận thế giới, những phơng pháp mới mộtcách nhạy bén hơn Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách công bằng thì có thểthấy đội ngũ lí luận văn học thời kỳ này đã đông nhng cha mạnh, những cây bút

có uy tín thật sự đối với giới sáng tác và công chúng còn ít

Về hình thức của lí luận văn học thời kỳ này rất phong phú, đa dạng ởthời kỳ đầu phổ biến nhất là hình thức tranh luận, phát biểu miệng bằng lời nóirất thẳng thắn, chân thành Thờng khi đứng trớc một vấn đề nào đó, mọi ngờichân thành phát biểu, vừa trình bày quan điểm, vừa băn khoăn nghĩ tiếp Ngoài

ra nó cũng xuất hiện dới hình thức tự phê bình của các nhà văn, hoặc những bàigiảng trong các lớp huấn luyện Văn nghệ nhân dân Càng về cuối chặng đờng bamơi năm phát triển của lí luận văn học này, hình thức làm lí luận dới dạng cácbài viết trên sách báo, các công trình nghiên cứu chuyên sâu vào những vấn đềthuộc về đặc trng của văn học chiếm u thế Chính nhờ đặc điểm này mà đời sống

ý thức văn học kháng chiến chặng 45 - 75 rất cởi mở, tự do

Từ sau năm 1975, cáh mạng chuyển sang một thời kỳ mới Hàng loạt vấn

đề lại đợc đặt ra trớc ngời sáng tác và các nhà lí luận văn học, do đó lí luận vănhọc phát triển với những đặc điểm riêng so với thời kỳ 45 - 75

1.2 Lí luận văn học từ sau 75 đến trớc thời ký đổi mới đất nớc

Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi đã đa tới một sự đổi thay lớn laotrong đời sống xã hội Việt Nam Từ cuộc sống thời chiến chuyển sang cuộc sốngthời bình xã hội có nhiều sự đổi thay Nếu trong chiến tranh vận mệnh mỗi cánhân gắn chặt với vận mệnh chung của toàn dân tộc, một khi vận mệnh dân tộc

đang bị đặt trong thử thách cam go nhất thì con ngời không còn thiết nghĩ đến sựsống của riêng mình thì bớc vào cuộc sống thời bình con ngời lại phải đối diệnvới những vấn đề của cuộc sống đời thờng đầy biến động, phức tạp, những nhucầu bản năng, những khao khát riêng t một thời bị bó nén, bị lãng quên đi trongkhúc ca hoành tráng của cả một dân tộc đi đánh giặc Do vậy, từ chiến tranh

Trang 24

sang hoà bình văn học có sự chuyển mình đáng kể : Nếu văn học của ba mơinăm chiến tranh là thứ văn học gắn chặt với phong trào đấu tranh cách mạng, là

vũ khí đấu tranh cách mạng thì giờ đây sứ mệnh vũ khí đã kết thúc, văn học trở

về đời sống nghệ thuật muôn thủa của mình Từ sự nhận thức lại vấn đề đã quadới một góc nhìn mới văn học mở ra tầm quan tâm cuộc sống trong sự đa diện,

đa chiều đặc biệt cố gắng đi sâu vào những mặt khuất tối của cuộc sống và tâmhồn con ngời

Nếu trong sáng tác một luồng gió mới đang thổi tới thì trong đời sống líluận văn học cũng bắt đầu có một sự đổi thay với những dấu ấn đáng ghi nhậnqua hàng loạt cuộc tranh luận văn nghệ về chặng đờng văn học cách mạng đãqua Các ý kiến tỏ ra không thuần nhất Bên cạnh những ý kiến khẳng định mạnh

mẽ thành tựu của văn học cách mạng, văn học xã hội chủ nghĩa còn non trẻ ở

n-ớc ta còn có một vài âm điệu lạ thoáng chút nghi ngờ về những thành tựu đó.Một số ngời từ những chổ đứng khác nhau đã tỏ ra cực đoan khi phủ nhận cả mộtnền văn chơng đã có nhiều đóng góp cho cuộc kháng chiến thần thành của dântộc Mở đầu cho sự “ đặt ngợc ” vấn đề này là bài viết của Nguyễn Minh Châu

với nhan đề Viết về chiến tranh ( Đăng trên Tạp chí văn nghệ quân đội số 11,

năm 1978), Trong bài viết này Nguyễn Minh Châu đã bộc lộ một số suy nghĩ,trăn trở gan ruột của mình : “ Hình nh trong ý niệm sâu xa của ngời Việt Namchúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại

mà là cái hiện thực mà mọi ngời đang mơ ớc ” [Dẫn theo 49 ;14] Trên cáchnghĩ ấy sau này Nguyễn Minh Châu đã tha thiết “ Đọc lời ai điếu ” cho cả mộtnền văn học minh họa Từ những gợi ý ban đầu đó của Nguyễn Minh Châu,

Hoàng Ngọc Hiến trong bài Về một đặc điểm văn học nghệ thuật nớc ta trong

giai đoạn vừa qua ( Đăng trên báo Văn nghệ, số 28, ngày 09/ 03/ 1979) đã đi

đến kết luận : “ Nhìn chung trong sáng tác hiện nay sự miêu tả cái phải tồn tạilấn át sự miêu tả cái đang tồn tại ” và trên phơng diện cái “phải tồn tại” nhà vănnói riêng ( Nghệ sỹ nói chung ) dễ bị cuốn theo xu hớng miêu tả cuộc sống saocho “ phải đạo ” ( hơn là miêu tả cho chân thực ) nên đã sản sinh ra những tácphẩm gọi là “ Chủ nghĩa hiện thực phải đạo ” Sự lấn của “ cái phải tồn tại ” vớicái “đang tồn tại” là một đặc trng của cái cao cả nh một phạm trù mỹ học Ôngcho rằng : Văn học của nớc ta giai đoạn vừa qua mang dấu ấn của cái cao cả và

điều đó đẻ ra chủ nghĩa minh hoạ

Trang 25

Với những thuật ngữ là nh “ Phải đạo ” “ Chủ nghĩa hiện thực phải đạo”,

“ Chủ nghĩa minh hoạ ” bài viết của Hoàng Ngọc Hiến đã gây một chấn độnglớn cả trong giới sáng tác văn học lẫn ngời làm công tác nghiên cứu lí luận phêbình văn học Do vậy sau khi nó đợc đăng tải đã có hàng chục bài trao đổi lạicủa các tác giả Hà Xuân Trờng, Trần Độ, Tô Hoài, Chế Lan Viên, Kiều Vân,Hoàng Trinh, Nội dung của các bài viết này là tập trung phê phán những quan

điểm của Hoàng Ngọc Hiến trên các phơng diện : Lập trờng t tởng, phơng pháp

t duy, khuynh hớng mỹ học và xu hớng phủ nhận Nhìn chung các ý kiến đềucho rằng : Hoàng Ngọc Hiến đã có những sai lầm dáng tiếc khi vận dụng lí luận

về mỹ học nên đã hiểu sai và hạ thấp giá trị của cái cao cả của mỹ học chủ nghĩa,

áp dụng những chuẩn mực của cái cao cả trong mỹ học chủ nghĩa vào phạm trùcái cả trong thực tiển văn học cách mạng nớc ta điều này đã dẫn đến sai lầm khidùng nó để lí giải thực tiển văn học nớc ta giai đoạn qua

Từ việc phê phán quan điểm của Hoàng Ngọc Hiến các bài viết trao đổi lạicủa các tác giả Phan Cự Đệ, Hà Xuân Trờng, Trần Độ, Ngô Thảo, Nguyễn ĐăngMạnh, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà tập trung lại đều đánh giá thực chất của nềnvăn học nớc ta thời gian qua với những câu hỏi bức xúc đặt ra : Có phải đó làmột nền văn học nặng về xu hớng cái cao cả “ quan tâm đến sự phải đạo nhiềuhơn là tính chân thật ” nh Hoàng Ngọc Hiến đã kết luận hay là một nền văn ch-

ơng “ mang đậm tính minh hoạ ” cần đọc lời ai điếu nh Nguyễn Minh Châu từngnghĩ Các tác giả đều cho rằng : Sự phủ nhận sạch trơn những thành tựu văn họcquá khứ sẽ rơi vào cực đoan, phiến diện song cũng nên đánh giá đúng mựcnhững thành tựu đó trên tinh thần khách quan, khoa học

Từ những cuộc tranh luận văn nghệ xoay quanh bài viết của Hoàng NgọcHiến và Nguyễn Minh Châu chúng ta có thể hình dung đợc phần nào đời sống líluận văn học ở một giai đoạn với những ách tắc và tiến triển của nó Có ý kiếncho rằng đây có thể coi là “ Cuộc nhận đờng lần thứ ba của văn học đơng đại thế

kỷ XX ” Cũng nh hai cuộc nhận đờng lần trớc, cuộc nhận đờng lần này cũng cónhững bài học đợc rút ra nhng quan trọng hơn là sau cuộc nhận đờng bao giờcũng là sự nâng cấp tầm nhìn

1.3 Lí luận văn học trớc 1985 - Thành tựu và một số vấn đề cần suy nghĩ

1.3.1 Thành tựu

Trang 26

Thực tế cho thấy sự hiện diện của lí luận văn học trong đời sống văn họchiện đại là hết sức cần thiết ở một chừng mực nào đó, nó đã đóng vai trò đại diệncho ý thức của nền văn học mới Lí luận văn học trớc 85 trải qua hai chặng đờngphát triển cơ bản : Ba mơi năm chiến tranh và mời năm sau hoà bình đến trớcthời kỳ đổi mới, nó đã có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển của vănhọc nói chung, lí luận văn học nói riêng.

Thành tựu nổi bật nhất của lí luận văn học giai đoạn 1945 - 1975 là đã tậptrung lí giải và làm sáng tỏ mối quan hệ thống nhất giữa văn nghệ và chính trịtheo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin ý thức văn nghệ Mác Xít lần đầutiên đợc xác lập dứt khoát và có hệ thống trong hoạt động lí luận văn học ở ViệtNam đã có ảnh hởng đến sáng tác văn học thời kỳ ấy Ba phơng châm : Dân tộc -Khoa học - Đại chúng đã đợc lí luận văn học từng bớc cụ thể hoá, làm sáng tỏtạo tiền đề cho sự hình thành và khẳng định đợc các nguyên lí về tính dân tộc,tính hiện thực và tính nhân dân trong văn học Lí luận văn học trong suốt 30 nămchiến tranh đã góp phần đấu tranh có hiệu quả bảo vệ những nguyên tắc cơ bảncủa mỹ học Mác - Lê Nin, đờng lối văn ng hệ của Đảng để xây dựng một nềnvăn học xã hội chủ nghĩa với những nguyên lí cơ bản : Nội dung xã hội chủnghĩa và hình thức dân tộc, có tính Đảng, tính nhân sâu sắc,vận dụng phơng phápsáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, phản ánh chận thực cuộc sống mới, con ngờimới lí luận văn học bằng những hoạt động cụ thể, thiết thực đã đa văn nghệcách mạng thực sự trở thành “ bánh xe nhỏ ” “ đinh về nhỏ ” trong toàn bộ sựnghiệp cách mạng của Đảng

Lí luận văn học 30 năm chiến tranh cũng đã góp phần đa tuyệt đại bộ phậnvăn nghệ sỹ vào con đờng cách mạng khắc phục những biểu hiện sai trái của bảnthân, vứt bỏ bệnh xa rời quần chúng để mau chóng hoà nhập với cuộc sống chiến

đấu của dân tộc Đặc biệt ở giai đoạn cuối của chặng hành trình này lí luận vănhọc đã có một sự trở mình để đi sâu vào những vấn đề thuộc về nguyên lí văn ch-

ơng và đã tạo ra đợc một số công trình lí luận chuyên sâu có giá trị khoa học

Và mặc dù hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, đất nớc bị chia cắt, giao lu văn hoávới nớc ngoài hết sức hạn chế song từ những năm 70 một số cây bút lí luận n ớcnhà đã cố gắng tìm kiếm những công cụ mới nhằm bổ sung vào những hệ thống

lí luận nớc nhà : Nh vận dụng kí hiệu học, thi pháp học, phong cách học vàonghiên cứu lí luận văn học Việc trang bị thêm những công cụ lí luận mới nàynhằm đáp ứng nhu cầu theo sát sự phát triển đời sống văn học

Trang 27

ở chặng đờng vận động 10 năm sau hoà bình (75 - 85) dấu ấn đáng ghinhận nhất trong đời sống lí luận văn học là ý thức nhìn nhận lại văn học quá khứtrên tinh thần đổi mới, khách quan và khoa học Nó tránh đợc cách nghĩ khá giản

đơn một chiều và có xu hơng “ tô hồng ” trong t duy lí luận gia đoạn trớc Dù cónhững vấp váp, những mặt thiên lệch song ở chặng đờng phát triển khá ngắn này

đã ghi dấu những cựa quậy, những nổ lực mới để đổi mới t duy lí luận văn học

n-ớc nhà Đây có thể xem là giai đoạn khởi động nhằm tạo ra tiền đề để lí luận vănhọc có thể làm nên cú huých thực sự ở giai đoạn sau (1986)

1.3.2 Một số vấn đề cần suy nghĩ

Thành tựu của lí luận văn học 30 năm chiến tranh là không thể phủ nhận.Tuy nhiên, trên con đờng đi tới những thành tựu đó, ý thức văn nghệ cách mạngkhông tránh khỏi những lệch lạc, non kém Do trình độ lí luận văn học một thờicha phát triển, lại đợc hình thành trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt, những hạnchế nói trên là tất yếu Song ở thời điểm hôm nay những hạn chế ấy cần đợcphân tích một cách thấu đáo, trên cơ sở đó tìm ra một hớng đi mới cho lí luậnvăn học ở giai đoạn sau và để nó có thể tự tin bớc vào thế kỷ XXI

Lí luận văn học 45 - 75 do sự chi phối của đời sống chiến tranh ít nhiềumạng tính minh họa Nó cha phải là lí luận văn học xét từ bản chất, đặc trngcủa bộ môn này Nhiệm vụ đánh giặc cứu nớc đòi hỏi văn học phải vơn tớinhững phẩm chất sao cho nó có thể góp phần cổ vũ toàn dân chiến đấu cho sựnghiệp lớn đồng thời góp phần xây dựng một nền văn hoá mới đã đặt ra nhữngyêu cầu có ý nghĩa xã hội trực tiếp, vì thế lí luận văn học cũng nghiêng về cáctiêu chí chính trị, xã hội nhiều hơn Mô hình lí luận 45 - 75 là mô hình lí luậnhiện thực xã hội chủ nghĩa ảnh hởng từ Xô Viết Trong quá trình tiếp thu và vậndụng lí luận Mác Xít chúng ta đã tạo ra đợc những tác phẩm phục vụ trực tiếpcho đất nớc trên tinh thần chủ nghĩa xã hội nhng lại cha tạo ra đợc một nền vănhọc đích thực Lí luận văn nghệ Mác Xít thờng lẩy ra những vấn đề cấp thiết cókhả năng hớng văn học tới những mục đích xã hội thực tiễn Nh vậy, mục đíchthực tiễn đã quy định đối tợng nghiên cứu lí luận của văn học và làm cho lí luậnvăn học phải từ bỏ bản chất, đặc trng của mình, trở nên “ năng động” ,“ xôngxáo ” nh phê bình văn học để nhanh chóng trả lời cho những vấn đề bức xúc của

đời sống văn học Chính sự nhập nhằng, hoà lẫn giữa hai lĩnh vực lí luận văn học

và phê bình văn học giai đoạn này là một nguyên nhân cơ bản khiến cho t duy líluận không phát triển đợc

Trang 28

Với lí luận văn học 45 - 75 ý thức văn học Mác Xít lần đầu tiên đợc vậndụng vào Việt Nam, tuy nhiên chúng ta tiếp nhận vẫn một cách chung, cha thật

sự có hệ thống nên nói lí luận Mác xít nhng cha nói đến nơi đến chốn Một khi

định lí giải vấn đề nào đó của văn học nghệ thuật ngời ta có thói quen viện dẫn ýkiến của Mác - Lê Nin, đấy là một việc là cần thiết nhng cha đủ vì mỹ học Mácxít là một hệ thống trong đó ngoài các ý kiến của Mác - Ănggen - Lê Nin bàn vềvăn học nghệ thuật còn có các tác phẩm chính thức của các nhà mỹ học Hơnnữa, nhìn một cách khách quan thì không phải tất cả các quan điểm của Mác -

Ănggen - Lê Nin đều là chân lí cuối cùng liên tiếp nhận nó một cách máy móc,

bỏ qua những giới hạn lịch sử với mục đích biến nó thành “Kim chỉ nam” củamọi thời đại dễ khiến ta trở thành giáo điều và làm xơ cứng t duy mỹ học Mácxít - một lĩnh vực luôn cần đến sự sáng tạo không ngừng

Từ những năm 70 của thế kỷ trớc, lí luận văn học đã có nhu cầu mở rộngtầm nhìn, mở rộng phạm vi tiếp cận văn học cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, nhucầu trang bị thêm những công cụ lí luận mới nhằm tạo ra khả năng theo sát sựphát triển của đời sống văn học, ngôn ngữ học, thi pháp học, Song các hoạt

động này chủ yếu diễn ra một cách tự phát, bên cạnh những tác giả ý nhiều thànhcông, ta còn thấy do cha có một quan niệm đúng đắn, khoa học, một vài tác giả

tỏ ra cực đoan, tuyệt đối hoá lí thuyết mới mà không bận tậm dù có giá trị đến

đâu các lí thuyết cũng chỉ là một trong những phơng cách khách nhau để tiếp cậnmột phơng diện nào đó của văn học ở một số cây bút sự viện dẫn kiến thức

Đông tây, Kim cổ chắp vá cốt chỉ để trang sức hơn là để soi sáng một vấn đề gì

ở chặng đờng 10 năm sau hoà bình đến trớc thời kỳ đổi mới của đất nớc,

do sự chuyển đổi mau chóng của lịch sử đã làm thay đổi cách nghĩ của con ngờimột cách đột ngột, thời gian để đo độ chín trong việc nhìn nhận các hiện tợngvăn học cha đủ nên đã để lại cho t duy lí luận văn học có một số biểu hiện thiênkiến, cực đoan Do bị cuốn vào những cuộc tranh luận kéo dài xoay quanh cácvấn đề nh : Mối quan hệ giữa văn học với chính trị, văn học với hiện thực nên có

ít những công trình nghiên cứu chuyên sâu đi vào những vấn đề thuộc nguyên lívăn chơng, phơng pháp luận

Nhìn chung trớc 1985, lí luận văn học cha có đợc một uy tín cao đối vớigiới sáng tác và công chúng Tầm t tởng, tầm văn hoá, trình độ lí luận của nó cha

đảm bảo niềm tin của nhà văn và ngời đọc, cha xứng đáng đợc xem là “ ý thứctriết học ” của thời đại mới hay là “ Mỹ học vân động ” (Biêlinxky) Do vậy hơn

Trang 29

bao giờ nh ở thời điểm này, lí luận văn học cần nhìn nhận lại chính mình, ý thức

rõ hơn vai trò, chức năng, phơng pháp của nó nhằm tìm ra một đinh hớng mới,một động lực mới Ngay từ bây giờ cần có sự “ lột xác ” bắt đầu phải từ gốc gácvấn đề là phơng thức t duy, cách thức nhìn nhận lí luận văn học đúng đặc trng,bản chất, trên cơ sở đó kế thừa những thành tựu đã có, tiếp tục bổ sung, hoànthiện hệ thống lí luận văn học, đa nó vào quỷ đạo khoa học chân chính và đợctôn trọng Đây chính là nguyên nhân sâu xa là động lực quan trọng tạo ra bớcphát triển mới của lí luận văn học sau thời kỳ đổi mới của đất nớc Sự vận động,

đổi mới trong t duy lí luận văn học Việt Nam chặng đờng này tuy không tách rờibiệt lập với những đổi thay lớn lao trong đời sống lịch sử xã hội song ở bề sâu nólại bắt nguồn từ chính nhu cầu cần đổi mới của bản thân lí luận văn học

Trang 30

Chơng 2

Những vấn đề lí luận văn học cơ bản đợc trao đổi

trong thời kỳ đổi mới

2.1 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với sự chuyển biến t tởng văn nghệ

Từ sau chiến thắng mùa xuân 1975, lịch sử văn học nớc ta trong chừngmột thời gian 6-7 năm vẫn tiếp tục chảy trôi theo quán tính của mình Chúng ta

đã quen với một cơ chế quan liêu, bao cấp trong mọi lĩnh vực của đời sống xãhội : Kinh tế, chính trị, văn hoá văn nghệ Nhng từ đầu những năm 80, nhữngmầm mống của t tởng đổi mới đã bắt đầu nảy sinh, trớc hết là trong sáng tác vănhọc sau đó đến nghiên cứu lí luận phê bình Tuy vậy, tạo đợc bớc ngoặt trong sựnghiệp đổi mới văn học nghệ thuật phải chờ đến đại hội VI - 1986 Với đại hội

VI, vấn đề đổi mới, chống quan liêu bao cấp, thực hiện dân chủ trở thành khẩuhiệu chính thức, khẩu hiệu lớn nhất của toàn Đảng, toàn dân ta Đặc biệt vấn đề

đổi mới trở trở thành “ Yêu cầu bức thiết ” “ Vấn đề có ý nghĩa sống còn ”, yêucầu đổi mới đã trở thành nếp sống, nếp nghĩ của mọi ngời, mọi ngành ở mọimiền Tổ quốc Hơn 15 năm qua dới sự lãnh đạo của Đảng, đất nớc ta đã duy trì

đợc thế ổn định trong cơn thử thách, từng bớc phấn đấu cực kỳ gian nan để thoátkhỏi sự khủng hoảng và từng bớc đi lên dành nhiều thành tựu quan trọng, bớc

đầu khẳng định vị thế của mình trớc thế giới trên một số lĩnh vực

Cùng với trào lu đổi mới về chính trị, kinh tế, xã hội, t tởng văn nghệ cũng

có sự đổi thay: Từ t tởng giáo điều, huý kỵ chuyển dần sang coi trọng thực tiển,nhìn thẳng vào sự thật và nói thẳng sự thật, nói hết những điều từng ràng buộcbây lâu để bắt tay vào một thời kỳ sáng tạo mới; từ một hệ t tởng khép kínchuyển dần sang cái nhìn rộng mở, hớng ra thế giới và nhân loại Nghị quyết TW

V của Bộ chính trị ĐCS Việt Nam (1987) - Nghị quyết duy nhất dành riêng chovăn nghệ từ trớc tới lúc đó đã mở ra một cách nhìn mới về vị trí, chức năng củavăn nghệ, từ đó cũng mở ra một hớng đi mới cho văn nghệ Đối với ngời sángtác, vai trò chủ thể sáng tạo đợc đặt lên hàng đầu đã kích thích những suy nghĩmới, những tìm tòi mới trong giới văn nghệ sỹ để có những tác phẩm hay, đápứng sự nghiệp đổi mới chung của đất nớc Là bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội,văn học nghệ thuật ở vào thời điểm ấy đã có một sự chuyển mình kịp thời Văn

Trang 31

học đang dần tự biến đổi mình để có thêm những tác giả, tác phẩm mới vớinhững đặc điểm về phong cách và nội dung khác với thời kỳ trớc Thời điểm sau

1985 đã đánh dấu một thời kỳ mới trong văn học Việt Nam hiện đại Tính chất

đổi mới của văn học dĩ nhiên không chỉ ở vấn đề số lợng sách báo đợc in ranhiều cả sách dịch lẫn sáng tác trong nớc mà chính là ở cảm hứng mới về hiệnthực, quan niệm mới về con ngời Đó là sự trở lại của văn học với đời thờng đểviết về những mảnh vỡ của số phận, những khoảnh khắc nh vô nghĩa vụt trôi quacủa đời ngời, đặc biệt nó cố gắng đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá quátrình tự ý thức, những dáng vẽ tâm linh phong phú, phức tạp với cái đa sự, đa

đoan của nó Bằng việc viết về cái bình thờng, những mặt khuất lấp của cuộcsống, cỏi vi tế trong đời sống tâm hồn con ngời văn học đã tự làm cân bằng lạichính mình sau mấy chục năm chiến tranh chỉ miêu tả cái chung, cái anh hùng,

cao cả Trong hàng loạt các tác phẩm nh Cỏ lau, Phiên chợ giát ( Nguyễn Minh Châu ), Mùa lá rụng trong vờn ( Ma Văn Kháng ), Sao đổi ngôi ( Chu Văn ),

Thời Xa Vắng ( Lê Lựu ), tập truyện Bi kịch nhỏ( Lê Minh Khuê ) cuộc đời

con ngời đợc miêu tả chân thực hơn, đa chiều, đa diện hơn : ở đó không chỉ cóhạnh phúc, niềm vui mà còn có cả nổi đau, sự mất mát, huy sinh Sự đổi mớicủa cảm hứng sáng tác không chỉ thể hiện trong những sáng tác viết theo cáchnhìn tiểu thuyết mà còn ở những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, ngời lính -

một mảnh đất bấy lâu nay vốn đợc viết theo cảm hứng sử thi nh : Ăn mày dĩ

vảng, Vòng tròn bội bạc ( của Chu Văn ), Cỏ lau ( của Nguyễn Minh Châu )

Cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc đã đi qua gần 30 năm, nhng d âm vềmột thời đạn lửa vẫn còn vang vọng mãi Một nén nhang trên tấm bịa mộ, mộtdấu tích để lại trên thân thể ngời lính sẽ vẫn mãi làm nhức nhối lơng tâm thời

đại Nguyễn Minh Châu tuy không phải là ngời đầu tiên chú ý đến đề tài chiếntranh song ông đã khai thác mảnh đất này với nhiều chủ đích, trở trăn và làmrung lên những nốt bi kịch thực sự Chiến tranh, lấy gì để nói trớc đợc mọi điều.Trong chiến tranh niềm tin là có thật nhng nổi đau cũng là có thật Có những “Cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ ” thì cũng có sự trở về ví nh ngày về của Lực Sự

đoạ đày về thân xác những năm tháng đấu tranh gian khổ tởng đã ghê ghớm lắm

rồi nhng sự chia cắt tâm hồn, tình yêu mới thật là tận cùng nổi đau đớn Cỏ lau

kể về mối tình của Lực- Ngời vệ quốc đoàn và Thai - một thiếu nữ nông thônxinh đẹp Cới nhau đợc 8 ngày Lực theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc lên

đờng ra trận Sắc màu hạnh phúc cha kịp lóe lên thì cái ảm đạm của chiến tranh

Trang 32

đã phủ trùm tất cả Một ngày kia Thai hay tin Lực đã hy sinh, nàng chôn xácchồng trong màn đêm hải hùng của chiến tranh rồi lặng lẽ đi bớc nữa bằng mộtcuộc hôn nhân không tình yêu với Quảng Lực đột ngột trở về khi Thai đã yên bềgia thất Bi kịch tình yêu vì thế thêm nhiều xót xa, đau đớn Giá nh tình yêu củaThai với Lực đã chết theo cái chết của Lực ngày trớc mà Thai lầm tởng thì mọi

sự trở về sẽ vẫn là bình yên Đằng này tình yêu vẫn sống, một sức sống dị thờngtựa hồ nh ngọn lửa cứ cháy âm ỉ qua tháng ngày Lực và Thai có thể vẫn sống,vẫn đi tiếp phần đời còn lại của mỗi ngời nhng vấn đề là họ sẽ sống nh thế nàokhi trái tim ngời này chỉ dành riêng cho ngời kia Lực đã từng đau đớn nhận ra “Chiến tranh nó nh một nhát giao phạt ngang mà hai nữa cuộc đời bị chặt lìa thậtkhó hàn gắn lại nh cũ ” Dù tình yêu vẫn sống nhng lơng tâm của một ngời línhkhông cho phép Lực trở thành tác nhân gây ra sự đổ bể của một gia đình yên ấm

Đành rằng, trong chiến tranh tất cả mọi điều đều có thể xảy ra nhng sao tôi vẫnthấy thân phận tình yêu ở đây quá xót xa mà lịch sử hẳn còn mang nợ với nó

Với Cỏ lau ta không thấy một Nguyễn Minh Châu say sa hát mãi bản tình ca về

một thời đạn lửa nh trớc nữa mà ông đã kịp nhận ra rằng sau những tấm huân

ch-ơng, những chiếc bằng khen là những nổi đau, những bi kịch trong quy luật khắcnhiệt của cuộc sống mà những nh Lực nh Thai phải ghánh chịu

Cũng trên hành trình kiếm tìm sự thật cuộc đời trong tính toàn vẹn, tácphẩm của Ma Văn Kháng báo hiệu những bi kịch gia đình và xã hội trớc nguy cơsụp đổ của những giá trị đạo đức truyền thống trong sự tác động của mặt trái

nền kinh tế thị trờng qua một loạt tác phẩm: Mùa lá rụng trong vờn, Đám cới

không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời, Trăng soi sân nhỏ Nói về Mùa lá rụng trong vờn chính tác giả đẫ tâm sự : “ Cuốn tiểu thuyết xoay quanh

chủ đề gia đình, một chủ đề liên quan mật thiết với những điều thờng ngày,những câu chuyện tởng nh tầm thờng, tẻ nhạt nhng thực ra đã chứa đựng những

điều sâu xa, những diễn biến rối rắm, phức tạp của con ngời Viết Mùa lá rụngtrong vờn tôi băn khoăn trở về một câu hỏi : Gia đình, tế bào của xã hội liệu cóvững vàng trong cuộc sống bề bộn này [25 ; 48] Còn tác phẩm của Nguyễn HuyThiệp với cảm hứng bóc trần sự thật là lời cảnh báo cho sự khủng hoảng , trì trệcủa đời sống con ngời về phơng diện văn hoá

Cái nhìn mới về hiện thực nói trên cũng làm thay đổi quan niệm nghệthuật về con ngời Nếu trong chiến tranh con ngời đợc nhìn nhận trong tơng quanvới cả cộng đồng dân tộc nên đậm chất sử thi thì giờ đây nó là con ngời của

Trang 33

những vấn đề đạo đức thế sự, con ngời cá nhân luôn luôn đợc đặt trong sự bộn bềcủa cuộc sống, những khát khao, ớc vọng một thời bị bóp nén Con ngời trongtác phẩm Nguyễn Khải mới mẻ, sắc sảo với cách ứng xử thấu đáo và những suynghĩ sâu sắc Còn với Nguyễn Huy Thiệp con ngời vừa mang vẽ lạnh lùng lạitàn nhẫn và bản năng trong hành động Dới ngòi bút của Nguyễn Thị Thu Huệ,

Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo, con ngòi đợc đặt trong sự khủng hoảng về giới nênhiện ra với số phận cá nhân ít nhiều mang tính bi kịch

Về sáng tác là thế, còn trong lĩnh vực nghiên cứu lí luận phê bình văn họcnhững biểu hiện đổi mới thờng đến chậm và dè dặt hơn nhng không vì thế màkém phần sôi động Đây là một vấn đề lớn và khó Lí luận khi đã trở thành giáo

điều, cứng nhắc sẽ là mớ dây trói kiên cố đối với ý thức của ngời cầm bút Bởivậy trong đời sống văn học muốn đổi mới không thể không giải quyết một sốvấn đề lí luận

Sau 1985, đời sống lí luận văn học đã có sự đổi sắc thay da bắt đầu bằngnhững cuộc tranh luận văn nghệ xoay quanh một số vấn đề lí luận văn học cơbản nh : Bản chất, chức năng của văn nghệ, mối quan hệ giữa văn học với chínhtrị , vấn đề văn học phản ánh hiện thực, đánh giá thành tựu văn học cách mạng1945- 1975 Nhu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nói thẳng sự thật và đánh giá đúng

sự thật thể hiện rõ qua những cuộc tranh luận văn nghệ nói trên đã làm cho đờisống lí luận văn nghệ đợc dân chủ hoá thêm một bớc Mà dân chủ thực sự là điềuquan trọng nhất đối với việc giải quyết các vấn đề lí luận Chỉ khi nào các nhà líluận không phải sợ điều gì ngoài chân lí khoa học thì lí luận văn học mới có đợc

sự phát triển Thông qua nghiên cứu nghiêm túc, tranh luận dân chủ, chân lí dầndần sẽ đợc làm sáng tỏ

2.2.Về một số vấn đề lí luận văn nghệ đợc trao đổi qua công cuộc đổi mới

2.2.1 Văn học phản ánh hiện thực

Trong không khí tranh luận chung có rất nhiều vấn đề lí luận văn học đợc

đa ra trao đổi, nhận thức lại, đặc biệt là những vấn đề trớc đây đã đợc nêu ra,thảo luận sôi nổi nhng cha có lời giải đáp cuối cùng Văn học phản ánh hiện thực

là một vấn đề nh thế Tuy nhiên mối quan tâm chính của lí luận văn học sau

1985 không phải là đi tìm lời giải thích cho câu hỏi bức xúc: Có phải nền vănhọc cách mạng nặng về xu hớng cao cả, quan tâm đến sự “ phải đạo ” nhiều hơn

là “ tính chân thật ” nh Hoàng Ngọc Hiến đã đặt ra từ những năm đầu đổi mới

Trang 34

mà nó đặt vấn đề : Phản ánh hiện thực là thuộc tính hay nhiệm vụ của văn học,vai trò chủ thể trong sáng tạo văn học là nh thế nào ?

Hai sự kiện nổi bật trong đời sống lí luận văn học, đánh dấu sự trở lại với

vấn đề này là bài viết của Lê Ngọc Trà với nhan đề Về vấn đề văn học phản

ánh hiện thực đăng trên báo văn nghệ số 20, năm 1988 và cuộc hội thảo Phản

ánh hiện thực là chức năng hay thuộc tính của văn học do Viện văn học tổ

chức vào đầu năm 1989

Trong bài viết của mình Lê Ngọc Trà cho rằng : Phản ánh hiện thực làthuộc tính chứ không phải là chức năng của văn học Ông chứng nhận điều nàytrên cả hai bình diện: Trên bình diện phản ánh luận thì “ Toàn bộ nội dung tácphẩm văn học - kể cả t tởng - tình cảm của nhà văn và hiện thực đợc mô tả trong

đó xét đến cùng chỉ là phản ánh đời sống xã hội ở đây phản ánh hiện thực làthuộc tính chứ không phải là nhiệm vụ của văn học” 19 ; 134], còn trên bìnhdiện lí luận nghệ thuật ( khác bình diện lí luận phản ánh ) “ Văn học trớc hếtkhông phản ánh hiện thực mà là sự nghiền ngẫm về hiện thực Tác phẩm nghệthuật thể hiện cách nhìn của nhà văn về cuộc sống, sự khao khát công lí xã hội,

nó là lời tâm sự hay sám hối, là tiếng nói của tình yêu, cái đẹp không đạt đợc, làgánh nặng của u t về lẽ đời, lẽ còn mất của nhân sinh và vũ trụ Văn học chủ yếukhông phải là ghi chép, mô tảvề hiện thực mà là hành động tự nhận thức của nhàvăn ” [19;140] Cuối cùng dờng nh tránh hiểu lầm ông viết “ Văn học khôngphải không phản ánh, mô tả hiện thực nhng đừng nên xem đây là nhiệm vụ quantrọng nhất, nhiệm vụ hàng đầu và bao trùm của nó ” [19; 140] Nội dung của tácphẩm văn học, vì vậy cũng chứa đựng trớc hết không phải hiện thực đợc phản

ánh mà là t tởng tình cảm của nhà văn

Từ cách hiểu đó, ông phê phán những lệch lạc, sai lầm của lý luận nhữngnăm qua là quá nhấn mạnh đến bản chất phản ánh và nhiệm vụ mô tả về hiệnthực : “ Từ mấy chục năm nay, không hiểu chính xác là bắt đầu từ lúc nào ,chúng ta luôn nhắc đi nhắc lại một mệnh đề: Văn học là sự phản ánh hiện thực,nhiệm vụ chủ yếu của văn học là phản ánh hiện thực, vinh dự lớn lao nhất củanhà văn là phản ánh cho đợc đời sống chiến đấu và sản xuất của nhân dân’’ [19;130] Theo ông, chính việc khuyếch đại nhiệm vụ mô tả hiện hực đã đa tới ba hệquả cho nền văn học nớc ta

Thứ nhất : Nó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình

trạng nghèo nàn Suy t tởng” của khá nhiều tác phẩm văn học Nghĩa là tác

Trang 35

phẩm không có đợc chất triết học, chiều sâu của sự khái quát, khả năng vơntới những t tởng có tầm nhân loại cũng nh cách lý giải hiện thực độc đáo, bộc lộbản lĩnh và cách nhìn riêng của nhà văn về thế giới.

Thứ hai : Nó đã sản sinh cho chúng ta một nền văn học không chỉ “ nghèo

nàn về nội dung” mà còn “ đơn điệu và nhợt nhạt về phơng diện hình thức ” Bởi

vì khi ngời ta sáng tác bị ám ảnh bởi tâm lý về “ Hiện thực lớn” thì sẽ hạn chế sựtìm tòi về hình thức trong tác phẩm văn học

Thứ ba : Việc đề cao quá mức đặc tính phản ánh và nhiệm vụ mô tả hiệnthực của văn học “ đã dẫn đến chổ hiểu lệch lạc bản chất hoạt động sáng tạonghệ thuật, coi nhẹ sự tìm tòi t tởng và thể hiện những suy nghĩ của cá nhân nghệ

sỹ trong tác phẩm”

Với những suy nghĩ táo bạo, những lời lẽ khá mạnh mẽ, quyết đoán bài viếtcủa Lê Ngọc Trà ngay lập tức trở thành một điểm nóng, thu hút sự chú ý và sựtranh luận của nhiều ngời với những phản ứng không đồng nhất Bởi vậy việnvăn học đã tổ chức một cuộc hội thảo dành riêng cho vấn đề Tại cuộc hội thảonày có nhiều ý kiến tỏ thái độ không đồng tình với Lê Ngọc Trà chủ yếu trên hai

Vũ đã bắt đầu từ cách hiểu thế nào là “ Hiện thực” thế nào là “phản ánh” dựatrên quan niệm của Hê Ghen, phân biệt hiện thực với thực tiển Theo Lê Xuân

Vũ khái niệm “ Hiện thực ” ở đây không nên hiểu chỉ là các sự kiện, hiện tợng,chi tiết ngẫu nhiên, hoạt đông bên ngoài của con ngời mà phải hiểu là “ Cuộcsống của con ngời với tất cả sự phong phú, đa dạng của nó, bản chất và qui luậtphát triển của nó.” Còn khái niệm “phản ánh” ở đây cũng không phải là saochép, phản chiếu lại hiện thực nh một tấm gơng mà là phản ánh theo lí luận phản

ánh của Lê Nin tức là phản ánh có sáng tạo Bằng cách đặt vấn đề nh vậy rỏ ràng

Lê Xuân Vũ đã tỏ ra không đồng tình với quan điểm trên của Lê Ngọc Trà Cũngtrên tinh thần ấy Phan Cự Đệ giải thích thêm rằng: Khi chúng ta chủ trơng nghệthuật phải phản một cách trung thực, sinh động hiện thực khách quan thì đã baohàm trong đó ý nghĩa là sự phản ánh một cách tích cực, chủ động thông qua vai

Trang 36

trò sáng tạo của nhà văn chứ hoàn toàn không phải là sự phản ánh thụ động, chếtcứng Nghĩa là khi nói văn học phản ánh hiện thực thì đã bao hàm trong đó cả sự

“ Nghiền ngẫm ”về hiện thực nên không thể tách rời “ Phản ánh” và “ Nghiềnngẫm” ra thành hai quá trình độc lập cũng không thể đối lập hai quá trình này

nh Lê Ngọc Trà từng nghĩ

Nh một đối cực với những quan điểm nêu trên, một số ngời lại tỏ ra rất tâm

đắc với Lê Ngọc Trà Hoàng Ngọc Hiến không ngần ngại mà khẳng định: “ Bàiviết của Lê Ngọc Trà là những nổ lực đáng chú ý để xác lập chân lý khoa học ”.Nguyễn Huệ Chi bày tỏ sự đồng tình của mình bằng việc “ thanh minh ” cho LêNgọc Trà rằng: Trong bài viết của mình Lê Ngọc Trà không phủ nhận triệt đểchức năng phản hiện thực của văn học mà ông vẫn thừa nhận chức năng phản

ánh, chỉ có điều không muốn xem đấy là chức năng duy nhất “ đi xa hơn ôngmuốn nghĩ hiện thực nh là một thuộc tính của văn học ” Còn Trơng Đăng Dung

trong một bài nhân bàn Về đặc trng phản ánh nghệ thuật trong mỹ học

C.Caudwell và G lukacs cũng cho rằng: “ Hiện thực không tự dng mà vào tác

phẩm nhng một khi chúng ta đã thừa nhận lí thuyết phản ánh thì rõ ràng phản

ánh nghệ thuật là một thuộc tính mà bất kỳ ngời nghệ sỹ nào cũng có ” [7;116]

Có thể nói sự tranh luận sôi nổi giữa hai luồng ý kiến trên của các nhànghiên cứu lí luận phê bình, giới sáng tác và công chúng độc giả về vấn đề vănhọc phản ánh hiện thực đã làm cho đời sống lí luận văn học nớc nhà những năm

1988 - 1989 sôi động hẳn lên Sau thời kỳ sôi động, các cuộc hội thảo lại tạmthời lắng xuống, nhiều vấn đề lí luận đợc đa ra tranh luận trong đó có vấn đề vănhọc phản ánh hiện thực hầu nh vẫn còn bỏ ngỏ trong sự đối lập gay gắt Mãi cho

tới nữa năm sau 1992, khi cuốn Lí luận và văn học của Lê Ngọc Trà đựoc tặng

giải thởng của hội nhà, nhân lúc thẩm định giá trị của cuốn sách, vấn đề văn họcphản ánh hiện thực có phải là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của văn học haykhông đợc đa ra bàn luận Cũng nh trớc đây,các cuộc tranh luận lần này vẫn diễn

ra trong sự cọ xát giữa hai luồng ý kiến đối lập Một số ngời tỏ ra khó chịu vì LêNgọc Trà đã đồng nhất phản ánh với sao chép, mô phỏng hiện thực, đồng nhấthiện thực với những sự kiện bên ngoài Theo họ đó là một quan niệm thô thiển,sơ lợc Những ngời theo quan điểm này cho rằng: Phản ánh nghệ thuật bị chiphối bởi qui luật “ Vật ngã đồng nhất ” tức con ngời thổi hồn mình vào đối tợng,phản ánh hiện thực là phản luôn cả mình trong đó Vì vậy lẽ đơng nhiên phản

ánh hiện thực là sự phản ánh sáng tạo Từ lập luận ấy Lã Nguyên trong bài Lí

Trang 37

luận văn học phải trở thành lí luận lịch sử, đăng trên báo Văn nghệ số 23 ,

năm 1992, đã phản ứng khá quyết liệt với những lời lẽ nặng nề “ Bác bỏ quanniệm xem văn học là nghệ thuật phản ánh hiện thực để tuyên bố văn học là sự “nghiền ngẩm” về hiện thực Lê Ngọc Trà chẳng những không đề xuất đợc điều gìmới mẻ mà trái lại còn tạo ra sự hỗn loạn, tuỳ tiện trong việc sử dụng các kháiniệm phạm trù vốn có nội dung khoa học khoa học nghiêm chỉnh ” [19; 35] Ôngkết luận : Lập luận của Lê Ngọc Trà là “ lập luận mang tính chủ quan, t biện, là

sự mở đờng về phơng diện lí luận để gán ghép tuỳ tiện cho sáng tác những chứcnăng xa lạ với bản chất của nó ” Còn Đỗ Văn Khang thì đặt câu hỏi : nếu chối

từ nhiệm vụ phản ánh hiện thực, văn học không còn là văn học nữa mà chỉ lànhững ấn tợng chủ quan của nghệ sỹ

Ngợc lại, một số ngời lại tỏ ra đồng tình, bảo vệ cho quan điểm của Lê

Ngọc Trà Đỗ Lai Thuý trong bài Tôi muốn mình mau chóng bị vợt qua, cho

rằng : Những luận điểm của Lê Ngọc Trà là một cách đặt lại vấn đề theo một ớng khác, tích cực hơn Còn Nguyên Ngọc lại tâm đắc với Lê Ngọc Trà ở chổ

h-ông đã xác lập đợc “ các khái niệm vừa có tính khoa học, chính xác, vừa có tínhlung linh, uyển chuyển ” [19 ;36] Nguyễn Việt Thắng bảo vệ quan điểm của tác

giả bài viết Văn học phản ánh hiện thực bằng cách “ thanh minh” cho ông : Lê

Ngọc Trà chẳng ngây thơ đến mức lại đặt vấn đề “ Văn học có nhiệm vụ phản

ánh hiện thực hay không ” ? mà chỉ đặt vấn đề vì sao văn học ta vừa qua mắcbệnh “ suy t tởng ”

Vấn đề văn học phản ánh hiện thực có phải nhiệm vụ hàng đầu của vănhọc không, cho đến những năm 90 và cả ở thời điểm này đang còn là một câuhỏi đợc các nhà lí luận phê bình văn học trả lời khác nhau Điều này cũng là dễ

hiểu Trong cuốn Văn học và hiện thực Phó giáo s Trơng Đăng Dung đã có một

bài viết quan trọng bàn về đặc trng của mỹ học của C.Caudwell và G.lukacs,thông qua việc so sánh, chỉ ra những quan điểm tơng đồng và khác biệt cơ bảntrong lí luận phản ánh của hai nhà lí luận Mác Xít tác giả đã cho ta một lời giải

đáp đầy thú vị : Rằng ngay trong bản thân một hệ thống lí luận vốn đã có sựkhác biệt rồi thì sự khác nhau trong cách nhìn nhận của các nhà lí luận về mộtvấn đề nào đó là có thể chấp nhận

2.2.2 Mối quan hệ giữa Văn nghệ và chính trị

Trớc đây do yêu cầu của thời đại, đòi hỏi của lịch sử, xu hớng văn họcphục vụ chính trị trở thành một hiện tợng hợp quy luật, một phẩm chất đặc trng

Trang 38

của văn học cách mạng Khẳng định đợc mối quan hệ giữa văn học và chính trị

đợc xem là một đóng góp lớn của lí luận văn học kháng chiến Thậm chí có lúcngời ta đã đồng nhất văn nghệ với chính trị, hiểu văn nghệ phục vụ chính trị mộtcách đơn giản, thô thiển thế nhng ở vào thời điểm trở dạ của lịch sử, nhất là thời

kỳ đổi mới của đất nớc, cách nhìn nhận của thế giới nghiên cứu lí luận phê bình,giới sáng tác và cả công chúng độc giả về vấn đề này lại có sự đổi thay Một sốngời tỏ ra hoài nghi, một số khác cực đoan hơn đi đến phủ nhận hoàn toàn mốiquan hệ này, cho rằng văn học làm nhiệm vụ chính trị thì văn học không còn

đúng với bản chất, đặc trng của nó, đó chỉ là thứ “ Văn học minh hoạ ” mà thôi.Ngay cả những ngời nh Nguyễn Minh Châu - một cây bút nhiều năm lăn lộntrong thực tiễn đấu tranh cách mạng và đã từng có đợc những tác phẩm đỉnh cao

của văn học cách mạng khi vừa bớc qua chiến tranh đã tha thiết Đọc lời ai điều

cho một giai đoạn vặn học minh họa ”, cự tuyệt với cả những đứa con tinh thần

một thời mình từng mang nặng đẻ đau

Nhận thấy hai hệ thống quan điểm trên đều có chổ cực đoan, phiến diện, líluận văn học thời kỳ này trên tinh thần đổi mới đã khẳng định một cách kháchquan : Giữa văn học và chính trị có mối quan hệ thống nhất nhng không đồngnhất Thống nhất ở chổ “ ý thức chính trị và ý thức văn học là những ngời bạn

đồng hành trên con đờng nhân loại đi tìm hạnh phúc Tiếng nói chính trị và tiếngnói nghệ thuật bổ sung cho nhau, là thăng bằng đời sống tinh thần của xã hội ”[19;119] Cả Phong Lê và Nguyễn Văn Lu đều cho rằng sự gắn bó thống nhấtgiữa văn nghệ và chính trị là ở “ Mục tiêu nhân đạo ”, “ Mục đích vì con ng ời ”bởi vì hạnh phúc của con ngời luôn là nơi gặp gỡ, “ điểm hẹn ” giữa văn nghệchân chính, văn nghệ tiến bộ cách mạng và chính trị dân chủ, vì con ngời Hồ

Ngọc trong bài viết Cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa văn nghệ và

chính trị trên báo văn nghệ số 47, 48, năm 1987 chỉ rõ sự thống nhất này ở chổ.

- Văn nghệ tiến bộ, cách mạng thờng thống nhất với chính trị tiến bộ, cáchmạng

- Văn nghệ tiến bộ cách mạng thờng mâu thuẫn, đối lập với chính trị lạchậu, phản động

- Văn nghệ lạc hậu, phản động thờng mâu thuẫn, đối lập với chính trị tiến

bộ, cách mạng

Có thể thấy rằng dù cả văn nghệ và chính trị đều chận chính, đều có những lítởng cao cả thì chúng cũng không phải là một bởi mỗi hình thái ý thức có một

Trang 39

phơng tồn tại riêng, vai trò và sức mạnh riêng Sự không đồng nhất của văn học

và chính trị đã đợc Lê Ngọc Trà đề cập đến trong bài viết Văn nghệ và chính

trị: “ Trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt nh chiến tranh, cách mạng, ý thức

chính trị trở thành nội dung cơ bản của ý thức xã hội, bao trùm lên các ý thứckhác Lúc đó tiếng nói văn nghệ trùng với tiếng nói nghệ thuật nhng còn nhữngngày bình thờng chính trị và văn học không hát chung một bè trong bản đồng camột giọng mà mỗi thứ đảm nhận một bè khác nhau trong bản giao hởng phức

điệu, thống nhất và đa dạng của cuộc sống ” [19;119] Tác giả bài viết đã chỉ ra

sự không đồng nhất này trên nhiều phơng diện :

- “ ý thức chính trị biểu hiện nhận thức của con ngời về cái tất yếu củalịch sử, thể hiện quyền lợi chung về giai cấp, tập đoàn xã hội hay quốc gia dântộc, thể hiện quan điểm về thái độ đối với các vấn đề kinh tế, quyền lãnh đạo xãhội, vấn đề tự do và quyền lực ” Còn ý thức văn nghệ “ Tuy không tách khỏinhững mối quan hệ có tính chất chính trị vẫn có những nội dung riêng Nghệthuật là tiếng nói về số phận con ngời, là câu chuyện về đời ngời Đó là tiếng nói

về cái gì rất riêng đôi khi nh ngẫu nhiên vô cớ ” [19;116]

- Chất văn khác chất chính trị : “ Nhà văn không phải là nhà chính khác.nghệ sỹ mà đi hoạch định đờng lối kinh tế xã hội thì phải coi chừng ” [19;117]

- T duy chính trị cũng không phải là t duy văn nghệ “ Nghệ thuật là khátvọng về lí tởng ”, là “ tiếng nói chia sẽ, an ủi, động viên đến với riêng từng ngời

” còn chính trị lại là “ lợi ích của số đông ” Nhà chính trị thờng “ chú ý đến cáitất yếu, đến cái logic, cái cần phải làm ” còn mối quan tâm các nghệ sỹ lại là

“những gì xảy ra đằng sau cái lo gic ấy ” [19;118]

Cũng có thể lí giải tính không đồng nhất giữa hai lĩnh vực này bằng nhiềucách khác nhau, nh “ Mục đích của chính trị là vì lợi ích trực tiếp, nghệ thuật thìlại vô t Chính trị là pháp quyền là một cơ chế quan phơng chính thống Nghệthuật lại là ý thức phi quan phơng ” (Lã Nguyên); “ Hoạt động chính trị mangtính thực tiển, hoạt động văn nghệ mang tính sáng tạo ” (Nguyễn Văn Hạnh) haytheo cách nói của Phơng Lựu thì chính trị là thứ “ Thực tiễn - Tinh thần ” cònnghệ thuật là thứ “ Tinh thần - Thực tiễn ”

Nh vậy chính trị và văn nghệ là hai hình thức ý thức tồn tại độc lập nhng lạigắn bó chặt chẽ với nhau Không thể đồng nhất văn nghệ với chính trị cũng nhkhông thể phủ nhận sạch trơn mối quan hệ giữa chúng Sự khác nhau giữa chínhtrị và văn nghệ đã đợc các nhà lí luận nói trên đề cập đến một cách cụ thể, rõ

Trang 40

ràng ở đây chúng tôi muốn lu ý thêm về ý kiến của Trần Đình Sử trong cuốn

Những thế giới nghệ thuật thơ Ông viết : “ Hứng thú của thơ là hứng thú của

tâm hồn, sự rung động vô t trớc những giá trị thẩm mỹ của hiện thực, hứng thúchính trị là hứng thú thực tiển, vụ lợi ích thiết thực Thơ phản ánh đời sống mangnội dung chính trị, còn chính trị thì biến đổi đời sống theo mục đích thực tiển.Chủ thể sáng tạo thi ca là một các nhân còn chủ thể hoạt động chính trị là giaicấp dân tộc, đảng phái, tập đoàn xã hội Cảm hứng tâm hồn là chất kích thíchcủa sáng tạo thi ca Chất men của hoạt động chính trị là những bức xúc về các lợiích căn bản của đời sống Phút bùng cháy của tâm hồn là hành vi sáng tạo thơ ca,phút bùng nổ chính trị là xuống đờng chiến tranh cách mạng” [38;94] Tuynhiên không phải vì những sự khác biệt trên mà ta có đủ căn cứ để khẳng định sựkhông thể hoà hợp đợc giữa thơ ca nói riêng, văn nghệ nói chung với chính trị

Đó là cha kể chất chính trị trong văn học vốn có từ lâu đời Mác nhận xét tácphẩm của etsin, arixtôphan, thời cổ đại cũng nh của ĐăngTơ, Xecvantec, Silethời trung cận đại đều có phần hài hoà chung với thơ chính trị của những ngờicách mạng tháng chạp ở Nga Còn ở Phơng Đông thơ các nhà nho từ lâu đã thấmnhuần t tởng chính trị, biểu hiện ở ý thức lo trớc, vui sau, ở lí tởng phò vua giúpnớc, ở thái độ quyết đứng về phía trung chống lại phía nịnh Từ mối quan hệ tựnhiên lâu đời giữa văn nghệ với chính trị đó trong những thời điểm lịch sử khi

mà cả xã hội cùng chung một số phận trong cơn phong ba của lịch sử thì vănnghệ phục vụ chính trị, văn nghệ làm nhiệm vụ chính trị trở thành một hiện tợng

hợp quy luật Khi đời sống tinh thần của cả dân tộc đều hớng về “ Tất cả cho chiến đầu và chiến thắng , ” khẩu hiệu “Yêu nớc và căm thù giặc ” trở thànhphơng châm hoạt động của văn nghệ sỹ cả một thời đại thì quan điểm văn nghệ

đi cùng chính trị, văn nghệ gắn với nhiệm vụ tuyên truyền là hợp với quy lật vận

động của lịch sử ở đây tính ích dụng của nghệ thuật đợc phát huy mạnh mẽ.Nói đến thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ không thể không nói đến công lao to lớn của văn học nghệ thuật vớinhững vần thơ đã đốt lên và nuôi dỡng ngọn lữa lí tởng để con ngời có thể vợtqua mọi thử thách ác liệt, với những áng văn có thức thôi thúc nh tiếng kèn xungtrận Bởi vậy tại đại hội Đảng lần thứ IV - Ban chấp hành Trung ơng đã nhận

định văn học 45 - 75 “ Xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nềnvăn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay ”

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w