1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý nghĩa của việc quy định đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự

15 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 90,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm đại diện Theo quy định tại khoản 1 Điều 139 BLDS 2005 thì: “Đại diện là việc một người sau đây gọi là người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người khác sau đây gọi là người

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

1 Lý luận chung 1

1.1 Khái niệm đại diện 1

1.2 Đặc điểm của quan hệ đại diện 1

1.3 Ý nghĩa của việc quy định đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự 2

1.4 Quy định của pháp luật về đại diện 3

2 Các quy định của BLDS 2005 về đại diện 3

2.1 Các hình thức đại diện 3

2.2 Phạm vi đại diện 6

2.3 Chấm dứt đại diện 8

3 Đánh giá chung về các quy định của pháp luật hiện hành về đại diện 10

KẾT LUẬN 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 2

MỞ ĐẦU

Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng ngoài cá nhân còn có pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Và không phải lúc nào các chủ thể đó cũng có thể tự mình tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, lúc đó cần phải có một người thay mặt chủ thể thực hiện các giao dịch dân sự đó Chính vì vậy mà Bộ luật dân sự Việt Nam đã dành một chương để quy định về đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Để làm rõ vấn đề này, em chọn đề số 14 trong danh mục đề bài tập

học kì: “Đánh giá các quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 về đại

diện”

NỘI DUNG

1 Lý luận chung

1.1 Khái niệm đại diện

Theo quy định tại khoản 1 Điều 139 BLDS 2005 thì: “Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện”

Như vậy, có thể thấy rằng đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự bao gồm hai bên chủ thể là người đại diện và người được đại diện Quan hệ đại diện còn là căn cứ làm phát sinh thêm quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba theo ý chí của người được đại diện và vì lợi ích của người được đại diện Mọi cá nhân đều có quyền xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người khác Tuy nhiên với những giao dịch mà pháp luật quy định cá nhân phải tự mình xác lập, thực hiện thì không được phép đại diện như không được ủy quyền cho người khác thực hiện các công việc liên quan đến yếu tố nhân thân

Trang 3

1.2 Đặc điểm của quan hệ đại diện.

Quan hệ đại diện cũng mang đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự nói chung Đó là: Thứ nhất có sự đa dạng về chủ thể tham gia gồm cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Thứ hai, các chủ thể tham gia luôn quan tâm đến những lợi ích vật chất hoặc tinh thần nhất định Thức ba, quyền và nghĩa

vụ của các chủ thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Thứ tư, trách nhiệm pháp luật mà các chủ thể phải gánh chịu liên quan đến tài sản Ngoài những đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự nói chung, quan hệ đại diện còn có các đặc điểm riêng sau đây:

Đại diện làm phát sinh hai mối quan hệ cùng tồn tại song song: quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện (quan hệ bên trong) và quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba (quan hệ bên ngoài) Trên thực tế vẫn tồn tại mối quan hệ về lợi ích và trách nhiệm giữa người được đại diện với người thứ ba (còn gọi là mối quan hệ gián tiếp)

Người đại diện là người nhân danh người được đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba Người được đại diện là người tiếp nhận các hậu quả pháp lý

từ quan hệ do người đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm quyền đại diện Người được đại diện có thể là cá nhân không có năng lực hành vi dân sự, chưa đủ năng lực hành vi dân sự nên theo quy định của pháp luật, phải có người đại diện trong quan hệ pháp luật Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự có thể ủy quyền cho người khác là đại diện theo ủy quyền của mính Các chủ thể khác của quan hệ pháp luật dân sự là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác đều hoạt động thông qua hành vi của những người nhất định có thẩm quyền đại diện cho chủ thể đó

Mục đích của người đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba là vì lợi ích của người được đại diện Còn lợi ích của người đại diện, trong quan hệ đại diện theo ủy quyền, họ có thể được hưởng tiền thù lao nếu có thỏa thuận, còn

Trang 4

trong quan hệ đại diện theo pháp luật thì đó là nghĩa vụ của người đại diện và không được hưởng các lợi ích vật chất cụ thể từ quan hệ này

Quan hệ đại diện có thể được xác định theo quy định của pháp luật, có thể được xác định theo ý chí của các chủ thể tham gia thông qua giấy ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền Trong phạm vi thẩm quyền đại diện, người đại diện xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, đem lại quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện

1.3 Ý nghĩa của việc quy định đại diện trong quan hệ pháp luật dân

sự

Đại diện là một công cụ pháp lý hữu hiệu để các chủ thể thực hiện được tất cả các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình một cách linh hoạt và hiệu quả nhất Bởi không phải lúc nào chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự cũng có thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định Có thể do nguyên nhân khách quan như chưa đủ độ tuổi luật định, hay bị mắc bện tâm thần làm mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dấn sự Khi đó hình thức đại diện theo pháp luật sẽ là một giải pháp giúp họ vẫn được hưởng các quyền và lợi ích từ các giao dịch thông qua người đại diện của họ Ngoài ra, một số người có đủ năng lực hành vi dân sự để tham gia vào các giao dịch nhưng họ lại muốn người khác thay họ thực hiện vì lý do thời gian, sức khỏe hay kinh nghiệm hiểu biết trong lĩnh vực giao dịch đó thông qua việc ký kết hợp đồng ủy quyền Còn đối với các chủ thể pháp lý (pháp nhân,

hộ gia đình, tổ hợp tác) mà quyền lợi mang tính cộng đồng thì việc tham gia giao dịch dân sự bắt buộc phải thông qua hành vi của con người Do đó chế định đại diện sẽ tạo điều kiện và đem lại lợi ích tốt nhất cho các chủ thể khác ngoài cá nhân

Như vậy, chế định đại diện không chỉ thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự mà còn là công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát quan hệ đại diện theo một trật tự chung

Trang 5

1.4 Quy định của pháp luật về đại diện.

Chế định đại diện đã được quy định ngay từ Bộ luật Dân sự đầu tiên của nước ta – Bộ luật Dân sự 1995 Trong BLDS 1995 thì chế định đại diện được quy định trong chương VI, phần thứ nhất của bộ luật bao gồm 10 điều từ Điều

148 đến Điều 157

Đến BLDS 2005 thì chế định đại diện được quy định trong chương VII, phần thứ nhất của bộ luật, vẫn bao gồm 10 điều từ Điều 139 đến Điều 148 Trong đó Điều 140 (đại diện theo pháp luật) và Điều 141 (đại diện theo ủy quyền) là vẫn giữ nguyên so với quy định tương ứng tại BLDS 1995 Các điều còn lại đều đã được sửa đổi, bổ sung

2 Các quy định của BLDS 2005 về đại diện

2.1 Các hình thức đại diện.

Đại diện theo pháp luật:

Theo Điều 140 BLDS 2005 quy định “Đại diện theo pháp luật là đại diện

do pháp luật quy định hoặc do cơ quan nhà nước quyết định”

Căn cứ hình thành: Do ý chí của nhà nước Pháp luật quy định mối quan

hệ đại diện được xác lập dựa trên các mối quan hệ tồn tại sẵn có chứ không phụ thuộc vào ý chí hay sự định đoạt của các chủ thể

Người đại diện theo pháp luật theo Điều 141 quy định bao gồm:

- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên

- Người giám hộ đối với người được giám hộ

- Người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

- Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình

Trang 6

- Tổ trưởng tổ hợp tác đối với hộ gia đình.

- Những người khác theo quy định của pháp luật

Về điều kiện đối với người đại diện và người được đại diện:

Người được đại diện nếu là cá nhân thì phải là người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mắc bệnh tâm thần hoăc bệnh khác mà không nhận thức và làm chủ hành vi của mình, người bị Tòa án ra quyết định hạn chế năng lực hành vi dân sự Đây là những đối tượng mà bản thân họ không thể trực tiếp tham gia vào bất kỳ giao dịch nào nên pháp luật quy định sẵn những chủ thể có nghĩa vụ bảo về quyền lợi của họ trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự Các chủ thể còn lại là một tổ chức nên khi tham gia vào các giao dịch dân sự bắt buộc phải thông qua người đại diện cụ thể

Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Và để nhận biết quan hệ đại diện theo pháp luật phải dựa vào các căn cứ:

- Đối với con chưa thành niên căn cứ vào giấy khai sinh

- Đối với người được giám hộ căn cứ vào xác nhận của Ủy ban nhân dân

xã, phường nơi người giám hộ cư trú

- Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự căn cứ vào quyết định của Tòa án khi tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

- Đối với pháp nhân căn cứ vào Đăng ký kinh doanh, Điều lệ hay Quyết định thành lập pháp nhân

- Đối với hộ gia định căn cứ vào Sổ hộ khẩu

- Đối với tổ hợp tác căn cứ vào hợp đồng hợp tác có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường

Đại diện theo ủy quyền:

Khoản 1 Điều 142 BLDS 2005 quy định “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện”

Trang 7

Căn cứ xác lập: dựa trên ý chí của hai bên chủ thể, người đại diện và người được đại diện tự thỏa thuận với nhau về nội dung ủy quyền, phạm vi thẩm quyền đại diện và trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền

Điều kiện của chủ thể tham gia quan hệ đại diện theo ủy quyền: hai bên chủ thể của quan hệ đại diện theo ủy quyền đều phải có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 BLDS “Người từ đủ

15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện” Đây là một điểm khác biệt so với BLDS 1995, trong BLDS 1995 quy định “Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo uỷ quyền”

Đại diện theo ủy quyền có hai loại: đại diện theo ủy quyền của cá nhân

và đại diện theo ủy quyền của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Đối với đại diện theo ủy quyền của cá nhân thì trong trường hợp vì lý do chủ quan hay khách quan, cá nhân có thể thông qua một cá nhân khác hoặc một pháp nhân

để đại diện cho họ xác lập các giao dịch dân sự Đại diện theo ủy quyền của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác: Đối với pháp nhân, theo khoản 1 Điều 143 BLDS 2005 thì “Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể

ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” Đối với hộ gia đình, theo khoản 1 Điều 107 BLDS “…Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện cho hộ trong quan hệ dân sự” Đối với tổ hợp tác, khoản 1 Điều 113 BLDS quy định “Tổ trưởng tổ hợp tác có thể ủy quyền cho tổ viên thực hiện một số công việc nhất định cần thiết cho tổ” Như vậy, đối với hộ gia đình và tổ hợp tác thì người được ủy quyền chỉ có thể là thành viên trong hộ gia đình và tổ hợp tác Còn đối với pháp nhân thì phạm vi những người được ủy quyền cho pháp nhân không được quy định rõ

Trang 8

Về hình thức ủy quyền: khoản 2 Điều 142 BLDS 2005 quy định “Hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc

ủy quyền phải được lập thành văn bản” Hình thức ủy quyền là do các bên tự thỏa thuận với nhau Đó có thể là hình thức viết tay thông qua hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền, có thể là hình thức miệng So với BLDS 1995 thì BLDS 2005 quy định hình thức ủy quyền rộng hơn, nó không bắt buộc phải lập thành văn bản như khoản 2 Điều 151 BLDS 1995 Tuy nhiên để đảm bảo cho việc ủy quyền có hiệu lực và được công nhận và để cho Tòa án có căn cứ giải quyết các tranh chấp xảy ra thì các bên phải chứng minh quan hệ ủy quyền đó Đối với hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền thì phải có công chứng, chứng thực Đối với ủy quyền bằng miệng thì phải có căn cứ chứng minh quan hệ ủy quyền đó tồn tại hoặc tất cả các bên quan hệ đều phải thừa nhận có quan hệ ủy quyền

Ý nghĩa: Đại diện theo ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác của quan hệ dân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có thể tham gia vào giao dịch dân sự một cách thuận lợi nhất, bảo đảm thỏa mãn nhanh chóng các lợi ích vật chất, tinh thần mà chủ thể quan tâm

2.2 Phạm vi đại diện.

Phạm vi đại diện là giới hạn quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong việc nhân danh người được đại diện xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với một người thứ ba

Phạm vi đại diện được quy định trong Điều 144 BLDS 2005, theo đó tùy thuộc vào quan hệ đại diện là đại diện theo pháp luật day đại diện theo ủy quyền mà phạm vi đại diện là khác nhau:

Đại diện theo pháp luật: “Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện” (khoản

1 Điều 144) Như vậy, pháp luật cho phép người đại diện theo pháp luật có

Trang 9

quyền chủ động tối đa trong việc lựa chọn, xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến người được đại diện nhưng phải xuất phát từ lợi ích của người được đại diện Trong trường hợp đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, chính vì người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng nên người đại diện chỉ đóng vai trò giám sát, đồng ý hay không đồng ý cho xác lập giao dịch dân sự

Đại diện theo ủy quyền: “Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền” (khoản 2 Điều 144) Phạm vi thẩm quyền của người đại diện theo ủy quyền được xác định trong chính văn bản ủy quyền Người đại diện theo ủy quyền chỉ được thực hiện các hành vi pháp lý trong khuôn khổ văn bản ủy quyền quy định

Để bảo vệ lợi ích chính đáng cho người thứ ba, là người xác lập giao dịch dân sự với người đại diện, khoản 4 Điều 144 BLDS quy định nghĩa vụ của người đại diện phải thông báo cho người thứ ba biết về phạm vi thẩm quyền đại diện của mình Để ngăn ngừa và loại trừ những giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện có thể đem lại hậu quả bất lợi cho người được đại diện thì “Người đại diện cũng không được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” (khoản 5 Điều 144)

Ý nghĩa của việc xác định phạm vi đại diện: Việc xác định phạm vi đại diện không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được đại diện mà còn bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba xác lập giao dịch dân sự với người đại diện Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người được đại diện với người thứ

ba chỉ phát sinh khi người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện của mình Ngoài ra đây còn là căn cứ để xem xét tính hiệu lực của một số giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện Trường hợp không có thẩm quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện thì người đại diện phải tự chịu trách nhiệm

Trang 10

Trường hợp không có thẩm quyền đại diện và vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện:

Như chúng ta đã biết, giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện chỉ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện trong phạm

vi đại diện Còn đối với trường hợp giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện thì thì hậu quả pháp lý của nó được quy định trong Điều 145, Điều 146 BLDS 2005

Giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện: Theo khoản 1 Điều 145 BLDS thì giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời trong thời gian ấn định Nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện

Tuy giao dịch dân sự đó không có giá trị đối với người được đại diện nhưng giao dịch dân sự đã xác lập có giá trị thi hành hay không phụ thuộc vào quyết định của người đã giao dịch với người không có thẩm quyền đại diện Nếu người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện

mà vẫn xác lập giao dịch thì giao dịch đó không có hiệu lực Còn nếu người

đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc không có thẩm quyền đại diện thì: Người đã giao dịch có thể chấp nhận giao dịch đã xác lập với người không có thẩm quyền đại diện và có quyền yêu cầu người không có thẩm quyền đại diện thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng đối với mình Người không

có thẩm quyền đại diện vẫn phải chịu trách nhiệm đối với giao dịch mà mình

đã xác lập Hoặc người đã giao dịch có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch đã xác lập và yêu cầu người không có thẩm quyền đại diện bồi thường thiệt hại cho mình (khoản 2 Điều 145)

Ngày đăng: 20/07/2021, 22:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w