1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc trong môn gđc ở trường THPT (thông qua khảo sát một số trường THPT trên địa bàn nghệ an)

90 701 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc trong môn GDBGD ở trường THPT (Thông qua khảo sát một số trường THPT trên địa bàn Nghệ An)
Tác giả Nguyễn Thị Hiền
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ Giáo dục và Đào Tạo Trờng Đại Học Vinhnguyễn thị Hiền Một số phơng pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc trong môn GdCd ở trờng Do tác

Trang 1

Bộ Giáo dục và Đào Tạo Trờng Đại Học Vinh

nguyễn thị Hiền

Một số phơng pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc trong môn GdCd ở trờng

Do tác động của cơ chế thị trờng, một bộ phận thanh niên hiện nay có

xu hớng chạy theo lối sống thực dụng, thiên về hởng thụ vật chất mà saonhãng những giá trị tinh thần tốt đẹp đã đợc lu giữ hàng ngàn năm của dântộc Một con số khiến chúng ta phải giật mình: kết quả điều tra gần 2.000thanh niên ở T.p Hồ Chí Minh, có tới 70% không biết tên 5 di tích lịch sử vănhoá trên địa bàn thành phố, không kể đợc tên 5 danh tớng dân tộc(6; 54; 55).Chính điều đó đã minh chứng cho thực trạng xuống cấp về đạo đức trong thế

hệ trẻ nói chung Trong đó, sự thờ ơ quay lng với những truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc của một bộ phận không nhỏ thanh niên hiện nay đã khiến cho

Trang 2

những ngời tâm huyết với vấn đề này, những ngời tâm huyết với sự nghiệpgiáo dục phải trăn trở

Đặt trong xu hớng quốc tế hoá, toàn cầu hoá thì giáo dục truyền thốngcàng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển bền vững củamỗi quốc gia Thực tế cho thấy, những quốc gia phát triển bền vững trớc hết lànhững quốc gia có nền kinh tế phát triển, trên cơ sở nền móng của một nềnvăn hoá đợc gìn giữ và phát huy tốt nhất bản sắc của dân tộc mình: Trong thời

đại ngày nay, t tởng trên càng có ý nghĩa to lớn khi mà nguồn gốc của sự giàu

có và phát triển của một đất nớc không chỉ là tài nguyên, vốn, kỹ thuật mà yếu

tố ngày càng trở nên quyết định chính là nguồn lực con ngời” Cũng có nghĩa

là, trong hội nhập, các giá trị truyền thống trở thành “thẻ thông hành, thànhchứng minh th ” để giúp cho các dân tộc có thể hoà nhập, phát triển mà không

bị hoà tan

Những giá trị truyền thống của dân tộc là sự tiếp nối văn hoá vềnhững quan điểm tập tục và thể chế xã hội nên nó cũng đồng nghĩa với việctruyền lại những thông tin, tín ngỡng và tập quán từ thế hệ này sang thế hệkhác Nh vậy, trớc hết truyền thống là quá khứ nhng nó không dừng lại ở đó

mà nó còn có cả hiện tại và tơng lai Vì vậy, việc giáo dục truyền thống chothế hệ trẻ là một việc làm thờng xuyên, liên tục tuyệt đối không phải trongmột khoảng thời gian nhất định nào đó mà hoàn thành đợc

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc giáo dục truyền thống cho thế hệtrẻ, Đảng và Nhà nớc ta luôn quan tâm đúng mức đến vấn đề này Có thể nhậnthấy điều ấy trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX khi Đại hội

đề ra phơng hớng cụ thể, nhằm phát huy những giá trị truyền thống của dântộc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là : “Bồi dỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu n-

ớc, yêu quê hơng, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tởng xã hội chủ nghĩa, lòngnhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệpkhông cam chịu nghèo hèn" (2,49) Đặc biệt trong lĩnh vực văn hoá xã hội làphải kế thừa các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoavăn hoá của loài ngời, tăng sức đề kháng chống văn hoá đồi truỵ, độc hại Nằm trong xu hớng chung của việc áp dụng phơng pháp dạy học mới theohớng tích cực: Đổi mới và hiện đại hoá phơng pháp giáo dục, chuyển từ việctruyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang hớng dẫn ngời học phơngpháp tự học, tăng cờng tính chủ động tự chủ của học sinh trong quá trình học

Trang 3

tập điều ấy đòi hỏi môn GDCD nói chung và mảng giáo dục truyền thống nóiriêng phải có những phơng pháp mới, những cách thức mới để thu hút đợc ng-

ời học, nâng cao chất lợng giáo dục, giúp các em chủ động áp dụng những trithức vào thực tế của đời sống

Nghệ An là một vùng đất giàu truyền thống Lớp lớp con cháu xứNghệ, từ đời này qua đời khác luôn ý thức rất rõ việc giữ gìn và phát huytruyền thống tốt đẹp của quê hơng, đất nớc Tuy vậy, không thể phủ nhậnrằng, trong thời gian gần đây, một bộ phận không nhỏ thanh niên Nghệ An có

t tởng lơ là thậm chí không quan tâm đến việc học tập những giá trị truyềnthống Bên cạnh đó, nội dung của giáo dục truyền thống còn chung chung nêncha thu hút và gây hứng thú đợc cho thế hệ trẻ Có thể nói, công tác giáo dụccha thật sự tơng xứng với tiềm năng và tầm quan trọng của vấn đề Vì vậy, tôichọn đề tài “Một số phơng pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, giáo dụccác giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong môn Giáo dục công dân ở tr-ờng THPT”, mong muốn góp một tiếng nói chung vào việc nghiên cứu và đề

ra một số phơng pháp cụ thể nhằm góp phần giảng dạy các giá trị truyềnthống của dân tộc cho đối tợng học sinh trong nhà trờng THPT

2 Tình hình nghiên cứu.

Các vấn đề có liên quan đến giáo dục truyền thống, kế thừa các giá trịtruyền thống tốt đẹp của dân tộc đã và đang thu hút đợc sự quan tâm của nhiềunhà nghiên cứu, nhiều nhà khoa học, xã hội học, dân tộc học trong và ngoài n-

ớc Vì vậy đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn

đề giáo dục truyền thống Tất nhiên, tuỳ vào từng lĩnh vực nghiên cứu mà tácgiả đã đề cập đến những góc độ khác nhau nh vai trò, đặc điểm, nội dung củatruyền thống ứng với những vấn đề mà mình nghiên cứu Nghị quyết Hội nghịlần thứ 5, BCHTW Đảng khoá VIII về "Xây dựng và phát triển nền văn hoáViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" đã đánh giá thực trạng và đề ranhững giải pháp nhằm xây dựng nhân cách con ngời Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc Tác phẩm “Truyền thống và hiện đại trong văn hoá” doLại Văn Toàn chủ biên, xuất bản năm 1999 phản ánh quá trình tìm kiếm sựkết hợp truyền thống và hiện đại trong văn hoá của các nớc có nền kinh tế pháttriển Các tác phẩm “Tìm hiểu tính cách dân tộc” của G.S Nguyễn HồngPhong (Nxb Khoa học, Hà nội,1963), “Đạo đức mới” do G.S Vũ Khiêu chủbiên (Nhà XB Khoa học xã hội , Hà nội 1974), “ Về vấn đề xây dựng con ngời

Trang 4

mới” do G.S Phạm Nh Cơng chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987, "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" của G.S Trần Văn Giàu(Nxb Khoa học xã hội, 1980) đã đề cập đến nhiều khía cạnh của đạo đức,cũng nh mối quan hệ giữa đạo đức với tồn tại xã hội và các giá trị truyềnthống của dân tộc.

Trong sự nghiệp đổi mới theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiệnnay, việc nghiên cứu các giá trị truyền thống dới tác động của cơ chế thị trờng

và hội nhập quốc tế đang đợc nhiều ngời quan tâm, nhằm xác định những giátrị truyền thống cần đợc kế thừa và phát huy.Trong đó có một số bài viết đăngtải trên các tạp chí và báo ở Trung ơng và địa phơng có đề cập đến nội dungnày ở những mức độ và góc độ khác nhau Giáo s Phan Đình Diệu với : “Đừngquay lng với những giá trị truyền thống” nhằm góp ý dự thảo chiến lợc pháttriển giáo dục 2009- 2020 “Tơng lai của truyền thống dân tộc” của tác giảWilliam Sweet (nguồn từ Intenet) đề cập đến những thách thức và triển vọngcủa truyền thống dân tộc trong tơng lai ở Nghệ An, trong những năm quacũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các giá trị văn hoá truyền thốngtiêu biểu là: “Nghệ An dấu ấn tình đời ” của tác giả Hà Văn Tải, Nxb Nghệ

An, 2/2008; “Đất Nghệ đôi điều nên biết ” Chu Trọng Huyến, Nxb Nghệ An,2005; "Ngời Kn mú ở Nghệ An" của Hoàng Xuân Lơng “Kho tàng hò vè xứNghệ” của PGS Ninh Viết Giao, Nxb Nghệ An, 1999 Tác giả đã kế thừa mộtcách có chọn lọc những kết quả từ những công trình nghiên cứu đó

Nét mới của luận văn này thể hiện ở chỗ: Gắn giáo dục truyền thống nóichung vào một đối tợng cụ thể là học sinh THPT, gắn với một môn học cụ thể

là môn GDCD và vận dụng những phơng pháp dạy học truyền thống và hiện

đại để nâng cao chất lợng giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc Bêncạnh đó, tác giả sẽ thiết kế một số giáo án thực nghiệm (một số giáo án cótrong chơng trình SGK của Bộ giáo dục và Đào tạo, một số giáo án ngoại khoá

để minh hoạ cho phần lý thuyết)

Luận văn cũng sẽ đề ra một số giải pháp cụ thể và những kiến nghị, đềxuất nhằm nâng cao chất lợng bài giảng và hoạt động ngoại khoá với chủ đềgiáo dục các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc cho học sinh THPT trên

địa bàn tỉnh Nghệ An

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu.

3.1 Mục đích nghiên cứu.

Trang 5

Bớc đầu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng một số

ph-ơng pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống trong giảng dạy ở trờngTHPT Từ đó, chúng tôi mạnh dạn nêu một số kiến nghị, giải pháp để nângcao kết quả học tập truyền thống, làm cho môn học thật sự thu hút ngời học

3.2 Nhiệm vụ của đề tài.

Thực hiện tốt 3 nhiệm vụ sau:

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phải cần thiết nângcao chất lợng giáo dục các giá trị truyền thống trong giảng dạy môn GDCD ởtrờng THPT

- Xác định phơng pháp và đề xuất cái giải pháp nhằm nâng cao chất lợnggiáo dục truyền thống

- Tiến hành thực nghiệm ở một số trờng thuộc địa bàn Nghi Lộc và thànhphố Vinh, tỉnh Nghệ An

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài.

- Đề tài chỉ nghiên cứu những truyền thống tiêu biểu của dân tộc, phù

hợp với chơng trình môn Giáo dục công dân ở trờng THPT

- Đối với các giá trị truyền thống ở địa phơng, luận văn cũng chỉ chọnnhững giá trị tiêu biểu, đặc trng và phù hợp với chơng trình

- Luận văn cũng chỉ đề cập đến một số phơng pháp dạy học tích cực phùhợp với giảng dạy các giá trị truyền thống

- Phơng pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết;

+ Nhóm phơng pháp nghiên cứu thực tiễn gồm:

- Phơng pháp trao đổi toạ đàm;

- Phơng pháp thực nghiệm s phạm;

- Phơng pháp điều tra, phỏng vấn;

- Phơng pháp so sánh, phân tích, tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn.

Trang 6

- Luận văn đã phân tích đợc cơ sở hình thành và những giá trị truyềnthống tiêu biểu của Việt Nam cũng nh những nét đặc thù của truyền thốngNghệ An.

- Trên cơ sở những truyền thống đó, luận văn đã lựa chọn một số phơngpháp dạy học tích cực, phù hợp với nội dung giáo dục truyền thống Khi trìnhbày những phơng pháp này, luận văn cố gắng vận dụng vào một số bài học cụthể trong chơng trình môn Giáo dục công dân ở cấp THPT và thể hiện nhữngphơng pháp đó trong giáo án thực nghiệm

- Luận văn cũng đã nêu ra đợc một số kiến nghị và giải pháp cụ thể đểnâng cao chất lợng giảng dạy giá trị truyền thống của dân tộc

7 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm

dạy môn GDCD ở trờng THPT.

1.1 Khái niệm truyền thống và các giá trị truyền thống của dân tộc.

1.1.1 Truyền thống và các giá trị truyền thống.

Truyền thống là một khái niệm đợc dùng trong tiếng Việt, song cho đếnnay có rất nhiều cách hiểu khác nhau.:

Theo Từ điển Trung Quốc, xuất bản năm 1989, định nghĩa: Truyền

thống là sức mạnh tập quán xã hội đợc lu truyền lại từ lịch sử Nó tồn tại ở cáclĩnh vực: chế độ t tởng, văn hoá, đạo đức Truyền thống có tác dụng khống chế

vô hình đến hành vi xã hội của con ngời Truyền thống là biểu hiện tính kế thừa của lịch sử Theo từ điển tiếng Việt, truyền thống: “Thói quen hình thành

đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, đợc truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ

Trang 7

khác Đây cũng là một trong những định nghĩa đợc nhiều ngời chấp nhận

nhất

Trên cơ sở những định nghĩa chung nhất về truyền thống, các nhà khoahọc đã khai thác khái niệm này ở những cấp độ khác nhau Truyền thống baogiờ cũng mang ba đặc trng cơ bản là tính cộng đồng, tính ổn định và tính lu

truyền Tất nhiên những đặc trng đó chỉ có ý nghĩa tơng đối, vì bản thân

truyền thống bao giờ cũng có quá trình hình thành, phát triển và biến đổi Mỗikhi hoàn cảnh lịch sử, cơ sở kinh tế, xã hội và hệ t tởng thay đổi thì truyềnthống cũng có những biến đổi, vừa có mặt kế thừa và phát triển, có mặt đàothải và loại bỏ, vừa có sự hình thành những truyền thống mới

ở một thời điểm nhất định, di sản truyền thống do lịch sử để lại bao giờcũng hàm chứa những yếu tố tích cực và tiêu cực, bao gồm mặt u việt, tiến bộ,phù hợp và thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giữ gìn bản sắc dân tộc cũng nhmặt lỗi thời, hạn chế, hiện thân của sự bảo thủ, sức ỳ của quá khứ Hai mặtmâu thuẫn đó cùng tồn tại trong di sản truyền thống và có khi đan xen, chồngchéo nhau

Vì vậy, việc nhận thức về truyền thống phải luôn đứng trên quan điểmphát triển và biện chứng Thái độ tuyệt đối hoá, lý tởng hoá các giá trị truyềnthống, coi đó khuôn mẫu vĩnh hằng, là “Khuôn vàng thớc ngọc” của bản sắcdân tộc sẽ dẫn đến ý thức phục cổ, bằng lòng với quá khứ và quay lng vớinhững trào lu tiến hoá của thời đại, cản trở công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đấtnớc Trái lại, thái độ phủ định truyền thống, coi truyền thống chỉ là sản phẩm

và nguyên nhân của tình trạng nghèo nàn và lạc hậu của đất nớc sẽ dẫn đến xuhớng hiện đại hoá bằng con đờng ngọai nhập mà hậu quả không tránh khỏi là

đánh mất bản sắc dân tộc, tự huỷ hoại sức mạnh nội sinh, làm mất tính bềnvững và ổn định của sự phát triển Cả hai thái độ cực đoan trên đều không cócơ sở khoa học, xa lạ với thực chất truyền thống và đều đi đến những sai lầmtrong nhận thức và hành động, trong cách ứng xử đối với các di sản truyềnthống

"Giá trị" là ý nghĩa của hiện tợng vật chất hay tinh thần có khả năng

thoả mãn nhu cầu tích cực của con ngời, là những thành tựu góp phần vào sự

phát triển xã hội Nh vậy, việc khẳng định nội dung "Giá trị" đã nói đến mặt

tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liềnvới cái hay, cái tốt, cái đúng đắn và tích cực, là nói đến cái có khả năng thôi

Trang 8

thúc con ngời hành động và nỗ lực vơn tới Giá trị đóng vai trò rất quan trọngtrong đời sống của con nguời Nó là cái con ngời dựa vào để xác định mục

đích, phơng hớng cho hoạt động của mình, là cái con ngời mong muốn đợctheo đuổi Giá trị là cơ sở của các chuẩn mực, quy tắc xác định cách thức hành

động của con ngời Nói cách khác, cách thức và hành động của con ngời trongxã hội đợc chỉ đạo bởi các giá trị Ngời ta dựa vào các giá trị đợc xã hội chấpnhận để lựa chọn cách thức suy nghĩ và hành động phù hợp nhất Vì vậy, khinói đến giá trị truyền thống thì có nghĩa là chúng ta đang muốn nói đến nhữnggiá trị tơng đối ổn định, tới những gì tích cực, tiêu biểu cho bản sắc văn hoácủa dân tộc có khả năng truyền lại qua không gian và thời gian

Trên bình diện thời gian và phạm vi tác động, cần thiết phải phân biệt cácgiá trị bền vững có ý nghĩa truyền thống với những giá trị có ý nghĩa nhất thời,

có phạm vi ảnh hởng hạn hẹp, với những giá trị đang mờ nhạt dần hoặc đã lỗithời, cũng nh những giá trị đang đợc hình thành mà chúng ta cha có đủ thờigian để kiểm định một cách rõ ràng ý nghĩa của chúng

Nh vậy, nội dung của truyền thống cũng nh các giá trị của truyền thốngrất đa dạng, phong phú Nhng cần lu ý rằng, truyền thống không phải bao giờ

và lúc nào cũng bao gồm những giá trị tốt đẹp Nó có thể có những những néttiêu cực, nếu xét theo quan điểm lịch sử - cụ thể Vì vậy, phải biết đánh giá

đúng hai mặt của truyền thống: Những giá trị khoa học sẽ là động lực của sựphát triển, những giá trị lạc hậu, bảo thủ sẽ kìm hãm sự phát triển Vấn đềmang tính khoa học ở đây là cần tỉnh táo để chọn lọc các giá trị của quá khứ

và cả hiện tại để giáo dục cho thế hệ trẻ Làm đợc điều đó sẽ giúp cho chúng

ta có cái nhìn khách quan, biện chứng, tránh sự chủ quan, tuỳ tiện, cực đoantrong khi xem xét các giá trị Đề phòng cả hai khuynh hớng đã từng xảy ra,hoặc là phủ nhận sạch trơn mọi giá trị truyền thống, hoặc là lu truyền tiếp thuthiếu phê phán, tán dơng quá đáng những truyền thống ít giá trị hay khôngcòn giá trị, thậm chí có hại, cản trở sự phát triển

1.1.2 Những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và cơ sở hình thành

Hệ thống các giá trị truyền thống Việt Nam đã đợc hình thành trongsuốt hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nớc và giữ nớc, trong sự giao lu,tiếp thu, cải biến, chọn lọc những giá trị văn hoá của các dân tộc khác Tuyvậy cái cốt lõi, cái nền tảng của các giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc

Trang 9

Việt Nam hoàn toàn bắt nguồn từ nền tảng của dân tộc, từ truyền thống hàngngàn năm đấu tranh giữ nớc và dựng nớc, vợt qua mọi khó khăn mọi tác độngkhắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và xã hội Vì vậy, các giá trị tinh thần củatruyền thống ngời Việt Nam phong phú và đa dạng Theo Giáo s Vũ Khiêu,chủ biên công trình “Đạo đức mới” cho rằng, truyền thống đạo đức của dântộc Việt Nam bao gồm: Lòng yêu nớc, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù

và sáng tạo, tinh thần nhân đạo, lòng yêu thơng và quí trọng con ngời

Giáo s Nguyễn Hồng Phong cho rằng, tính cách dân tộc gần nh là tất cảnhững đặc trng của giá trị truyền thống, bao gồm tính tập thể - cộng đồng,trọng đạo đức, cần kiệm, giản dị, thực tiễn, tinh thần yêu nớc bất khuất vàlòng yêu chuộng hoà bình, nhân đạo, lạc quan (17; 453; 454)

ý kiến của Giáo s Trần Văn Giàu về giá trị truyền thống cơ bản củangời Việt nam là: “Yêu nớc, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thơng ngời,vì nghĩa” (4; 94)

Trong các văn kiện của Đảng và Nhà nớc, thì các giá trị truyền thốngthờng đợc đề cập đến và đợc coi là những giá trị nổi bật Chẳng hạn, nghịquyết của Bộ Chính trị về một số định hớng lớn trong công tác t tởng đã khẳng

định: “Những giá trị văn hoá truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam làlòng yêu nớc nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý “thơng ngời nh thểthơng thân”, đức tính cần cù, vợt khó, sáng tạo trong lao động Đó là nền tảngsức mạnh tinh thần to lớn cho nhân dân ta xây dựng một xã hội phát triển, tiến

bộ, công bằng, nhân ái" (6, 19)

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ơng Đảng(Khoá VIII) Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc, một lần nữa khẳng định: “Bản sắc dân tộc bao gồm những

giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đợc vun

đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nớc và giữ nớc Đó là lòng

yêu nớc nồng nàn, ý chí tự cờng dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế

trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”(5, 56)

Dựa vào tiêu chí xác định giá trị truyền thống cũng nh từ quan điểm của

Đảng ta và quan điểm của các nhà khoa học, có thể khẳng định các giá trịtruyền thống cơ bản của dân tộc ta gồm: Tinh thần yêu nớc, lòng yêu thơng

Trang 10

con ngời, tinh thần đoàn kết, tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, tinh thầnhiếu học.

Tuy nhiên, trong giới hạn chơng trình và thời lợng của cấp học Trunghọc phổ thông, giáo viên không thể giảng dạy tất cả các giá trị truyền thốngcủa dân tộc Vì vậy, chọn lựa các giá trị truyền thống tiêu biểu là một việc làmcần thiết Những giá trị truyền thống đợc chọn lựa để giảng dạy vừa phảimang tính tiêu biểu cho những giá trị chung của toàn dân tộc, lại phải mang đ-

ợc những nét đặc thù riêng của các địa phơng nơi học sinh c trú Làm đợc nhvậy, việc giảng dạy các giá trị truyền thống sẽ thiết thực, bổ ích với học sinhxét cả trên hai phơng diện giáo dục và giáo dỡng

Nh vậy, từ quan điểm của các nhà khoa học cũng nh của Đảng, chúng

ta có thể khẳng định, dân tộc Việt Nam có một di sản giá trị truyền thống vôcùng phong phú, trong đó các giá trị truyền thống điển hình có thể đa vàogiảng dạy trong chơng trình THPT là: tinh thần yêu nớc, lòng yêu thơng conngời, tinh thần đoàn kết, tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm., truyền thốngtôn s trọng đạo

Trong quá trình tồn tại và phát triển, dân tộc ta đã vợt qua biết bao thửthách hiểm nghèo của thiên tai và địch hoạ, phải đơng đầu với nhiều thế lựcxâm lợc hung hãn của những đế chế lớn mạnh thời trung cổ, những cờng quốc

đế quốc thời cận - hiện đại, đã vợt qua những thời kỳ mất nớc với mu đồ

"đồng hoá" kéo dài hàng ngàn năm Thế nhng, dân tộc Việt vẫn tồn tại và pháttriển, biết tiếp nhận và dung hợp nhiều thành tựu văn hoá bên ngoài, nhng vẫngiữ đợc những bản sắc của mình Thực tế đó cho phép khẳng định sức sốngbền bỉ của dân tộc, tính u việt của những giá trị truyền thống Việt Nam

Trong các giá trị truyền thống đó, nổi lên vị trí hàng đầu và đợc ngờiViệt Nam coi nh chuẩn mực cao nhất của đạo lý dân tộc là tinh thần yêu nớc

1.1.2.1 Tinh thần yêu nớc.

Trong các giá trị truyền thống của dân tộc ta truyền thống yêu nớc là

“dòng chủ lu”, là một trong những truyền thống nổi bật Tinh thần yêu nớc là

“nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung của nó làlòng trung thành đối với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổquốc, ý chí bảo vệ Tổ quốc’’

Xuất phát từ vị trí địa lý nớc ta nằm ở ngã ba Đông Dơng, là đầu mốigiao thông quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia trên lục địa châu

Trang 11

á nói chung và Đông Nam á nói riêng Nớc ta có nguồn tài nguyên phongphú, nổi tiếng là nơi “rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu” Đó là điều kiệnthuận lợi của nhân dân ta trên bớc đờng dựng nớc, nhng cũng là miếng mồithèm khát, trở thành mục tiêu xâm lợc của các thế lực bành trớng phơng Bắc

từ xa xa và bọn đế quốc thực dân thời cận-hiện đại

Thiên nhiên nớc ta giàu có, tơi đẹp và hùng vĩ nhng cũng rất khắcnghiệt Điều này cũng gây cho dân tộc ta những thử thách hiểm nguy trớc hailoại kẻ thù là thiên tai và địch hoạ Có thể nói không ở đâu nh trên mảnh đất

hình chữ S này, một quốc gia nhỏ bé nhng lại chịu quá nhiều các cuộc chiến

tranh xâm lợc.Trong lịch sử, Việt Nam phải liên tục chống ngoại xâm Gần

nh triều đại nào, kỷ nguyên nào, dân ta cũng đều phải cầm vũ khí đánh giặcgiữ nớc Hiếm có một dân tộc nào trên thế giới buộc phải tiến hành nhiều cuộcchiến tranh yêu nớc và khởi nghĩa chống ngoại xâm nh Việt Nam Kể từ cuộckháng chiến chống Tần (Thế kỷ III- Tcn) đến kháng chiến chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ, trong 22 thế kỷ, với hàng chục cuộc chiến tranh giữ nớccùng hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, tính ra thời giankháng chiến giữ nớc và đấu tranh chống đô hộ ngoại bang đã lên tới 12 thế kỷ.Hoạ mất nớc có khi kéo dài mấy chục, mấy trăm năm, có những thế kỷ nhândân ta phải nhiều lần đứng lên đánh giặc Điều đáng lu ý ở đây là độ dài thờigian, tần số xuất hiện các cuộc kháng chiến giữ nớc, khởi nghĩa và chiến tranhgiải phóng ở Việt Nam là những đại lợng quá lớn so với nhiều nớc khác trên

thế giới Ngày trớc Lý Thờng Kiệt nói: “Nam quốc sơn hà Nam đế c”, Bác

Hồ đã khẳng định: "Không quân đội nào, khí giới nào có thể đánh ngã đợc sự

hy sinh của toàn thể một dân tộc" Khi trả lời Bộ trởng Bộ Quốc phòng Mỹ,

Đại tớng Võ Nguyên Giáp đã nói: "Trong từ điển quân đội Việt Nam không

có từ lo sợ!" Có thể nói khát vọng giành độc lập dân tộc là cái đích đến của

các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam Đây là nộidung cốt lõi của chủ nghĩa yêu nớc Việt Nam, của văn hoá Việt Nam Chínhchủ nghĩa yêu nớc đã khiến cho chúng ta có thể động viên từ các cụ phụ lão

đến các cháu thiếu niên, nhi đồng, từ thanh niên đến phụ nữ, cả dân tộc ViệtNam tham gia bảo vệ Tổ quốc với tất cả tinh thần và sức lực của mình Nhngkhi kẻ địch đã cùng đờng, đã phải cuốn mảnh giáp cuối cùng trở về nớc thìchúng ta bao giờ cũng mở con đờng hiếu sinh cho chúng

Trang 12

Biểu hiện sâu sắc và rõ nét nhất của tinh thần yêu nớc là dù ở hoàn cảnh

bị đô hộ, bị đồng hoá nhng chúng ta vẫn tận dụng ngay cả những hoàn cảnhngặt nghèo ấy để làm phong phú thêm, sinh động thêm những giá trị truyềnthống của dân tộc mình Một ngàn năm Bắc thuộc, kẻ thống trị mong muốnbiến dân ta thành một quận, một huyện của chính quốc, chúng ta học tập cóchọn lọc t tởng tiến bộ của Nho giáo, nhng vẫn cố tình tóc búi củ hành, răng

đen, mặc quần một ống, hoàn toàn khác biệt Nho giáo đã dạy: "Quân xử thần

tử, thần bất tử bất trung" (Vua bảo chết mà không chết thì không phải là bầy

tôi trung) nhng với dân tộc Việt Nam, t tởng ấy đợc nâng lên thành tinh thần

vua - tôi trong lúc nguy nan đồng cam cộng khổ: "Tớng sĩ một lòng phụ tử, hoà nớc sông chén rợu ngọt ngào" Nho giáo dạy: "Phu xớng phụ tuỳ", còn dân tộc ta thì: "Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn" Và điều kì

thú nhất là nhân dân ta tôn trọng những giá trị trong nền văn hoá dân tộc vànhân dân của những nớc mà bè lũ thống trị đang mang quân xâm lợc nớc ta và

sử dụng chính các giá trị văn hoá đó của chúng để đánh vào tâm can, thức tỉnhtâm can họ, thức tỉnh nhân loại tiến bộ Chúng ta đã từng làm cho kẻ thù thấy

rõ đi xâm chiếm, nô dịch là trái với t tởng nhân ái của Khổng Tử, trái với sựbình đẳng bác ái của cách mạng t sản Pháp, trái với quyền đợc sống, đợc tự docủa "Tuyên ngôn Hợp chủng quốc Hoa Kì 1776" Sứ mạng của văn hoá trongtrờng hợp này là phối hợp tấn công kẻ thù Đó cũng là nét độc đáo của nét vănhoá giữ nớc Việt Nam Không phải ngẫu nhiên mà Giáo s, Tiến sĩ, Giám đốccơ quan nghiên cứu Đông Nam á của Mỹ Borama đã viết lên: "7 triệu tấn

bom đạn (gấp 3 lần thế chiến thứ 2), 6,6 triệu lợt quân Mỹ và ch hầu, 720 tỉ

đô la đã đổ vào Việt Nam để mang về sự nhục nhã Vì sao? Vì chúng ta khôngthể tìm thấy sự tiềm ẩn các giá trị truyền thống tinh thần trong dân tộc đó

Không lợng hoá đợc, nhng nó mạnh hơn cả trăm lần bom nguyên tử mà chúng

ta (Mỹ) đã ném vào Nhật Bản."

Trong quan niệm phổ biến của nhân dân ta, lợi ích của Tổ quốc bao giờcũng lớn hơn lợi ích của cá nhân, quyền lợi của gia đình, dòng họ Kẻ nào vìlợi ích cá nhân mà làm tổn hại đến lợi ích dân tộc đều bị nhân dân trừng trịbằng nhiều cách và lịch sử muôn đời sau lên án Những ngời có công trong sựnghiệp dựng nớc và giữ nớc thì đều đợc nhân dân kính trọng và tỏ lòng biết ơnsâu sắc Nhiều đền thờ, miếu mạo trải dài khắp đất nớc đã ghi lại những chiến

Trang 13

tích hào hùng của dân tộc Nó có sức mạnh giáo dục và cổ vũ lòng yêu nớc,tinh thần dân tộc của các thế hệ ngời Việt Nam từ xa đến nay.

Tinh thần yêu nớc của con ngời Việt Nam không chỉ là một tình cảm tựthân Nó đợc bắt nguồn từ những tình cảm thân thơng, máu thịt: yêu cha mẹ,anh em, chồng vợ, yêu bờ tre, gốc rạ gắn bó sớm chiều, yêu quê hơng thânthuộc và sau đó mới nâng lên thành tình yêu đất nớc Sẽ không có một tìnhyêu đất nớc tha thiết nếu không biết yêu chính gia đình, dòng họ, cha mẹ, bạn

bè Vì vậy, khi giáo dục về truyền thống yêu nớc cho học sinh, giáo viên phải

đặc biệt chú ý đến giáo dục tình yêu gia đình, quê hơng, sau đó mới nâng lênthành tình yêu đất nớc

Tuy nhiên, ở mỗi một giai đoạn lịch sử khác nhau, tinh thần yêu nớc lại

có những yêu cầu, những biểu hiện khác nhau Trong chiến tranh, yêu nớc làsẵn sàng xả thân cho đất nớc, sẵn sàng hiến dâng máu xơng của mình cho Tổquốc khi cần

Yêu nớc trong giai đoạn hiện nay trớc hết là phải hớng sang nhiệm vụxây dựng đất nớc với ý thức coi nghèo nàn, lạc hậu cũng là nỗi nhục khôngkém gì nỗi nhục mất nớc Vì vậy, nhiệm vụ của thế hệ thanh niên ngày nay làphải thắng đợc nghèo khổ, kém phát triển, mở ra một chơng mới cho non sôngViệt Nam vinh quang, sánh vai với các cờng quốc khác Tổng kết lịch sửViệt Nam cho thấy: "Tình cảm và t tởng yêu nớc là Tình cảm và t tởng lớnnhất của nhân dân Việt Nam, của dân tộc Việt Nam Chủ nghĩa yêu nớc là sợi

chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại ở đây, bản

chất Việt Nam biểu lộ rõ ràng đầy đủ, tập trung nhất hơn bất cứ chỗ nào khác.Yêu nớc thành một triết lí xã hội và nhân sinh của ngời Việt Nam và nếu dùng

từ “đạo” với nguyên nghĩa của nó là “đờng”, là hớng đi thì chủ nghĩa yêu nớc

đích thực là đạo Việt Nam ” (22, 28)

1.1.2.2 Lòng yêu thơng con ngời

Lòng yêu thơng con ngời của ông cha ta có nguồn gốc sâu xa từ sinhhoạt trong công xã nông thôn, thời cộng đồng nguyên thuỷ và đợc củng cốphát triển qua quá trình chung lng đấu cật, khai phá giang sơn, giữ gìn đất n-ớc

Tình yêu thơng con ngời của ngời Việt Nam thấm đợm trong các mốiquan hệ giữa các thành viên trong gia đình với nhau, đợc phát triển trong quan

Trang 14

hệ làng xóm và mở rộng ra cả cộng đồng dân tộc Lấy tình yêu thơng con ngờilàm cơ sở cho cách xử thế ở đời là triết lý sống của ngời Việt Nam Khen ngợihết lời những ngời sống nhân đức, vì nghĩa cả và lên án mạnh mẽ những kẻ ácnhân, thất đức cũng từ đó mà ra Trong gia đình, ngời Việt Nam coi trọng tìnhnghĩa hơn lễ nghĩa Tình cảm yêu thơng giữa các thành viên trong tình cảmgia đình là một tình cảm tự thân, tất yếu nh cái lẽ sinh ra phải thế Cha mẹ yêuthơng con cái là một ví dụ Trong gia đình, tình cảm anh em, vợ chồng cũng

đợc c xử trên nguyên tắc: "Anh em nh thể chân tay", "Anh thuận em hoà lànhà có phúc", phải biết "trên kính dới nhờng", "một điều nhịn chín điều lành"

Hàng ngàn năm dới ách thống trị của phong kiến và sự nô dịch của giặcngoại bang, đời sống nhân dân ta vô cùng cực khổ Thêm vào đó sự khắcnghiệt của thiên nhiên bão lũ, hạn hán, mất mùa, dịch bệnh đè nặng lên cuộcsống của ngời lao động nớc ta Hoàn cảnh ấy càng làm cho con ngời Việt Namxích lại gần nhau, đoàn kết yêu thơng gắn bó với nhau hơn Họ biết thơngmình và biết thơng ngời Họ đồng cảm với nỗi đau của ngời khác, sẵn sàng

"Nhờng cơm sẻ áo", cho nhau với tinh thần "Lá lành đùm lá rách" T tởng

"Thơng ngời nh thể thơng thân ấy" đợc nhân dân ta tôn trọng, giữ gìn vàchuyển giao qua nhiều thế hệ, trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Yêu thơng con ngời, ngời Việt nam đặt chữ Tình lên trên, coi trọng tìnhnghĩa Trong c xử và lối sống, ngời Việt Nam coi trọng sự dung hoà, phơng

châm sống của họ thờng là: "Chín bỏ làm mời" để tạo nên tình làng nghĩa xóm gắn kết lâu dài: "Tối lửa tắt đèn có nhau" Chính vì vậy mà trong những

xung đột, ngời Việt Nam thờng cố gắng giải quyết theo hớng: “Có lý có tìnhnhng thông thờng thì ngời Việt Nam vẫn đặt chữ tình nặng hơn, thậm chítrong nhiều trờng hợp là duy tình

Chính vì trọng nghĩa tình nên con ngời Việt Nam lên án và không chấpnhận lối sống bạc tình, bạc nghĩa theo kiểu: "Ăn cháo đáo bát" Ngay cả với

anh em ruột thịt, ngời Việt Nam vẫn từng quan niệm: "Máu loãng hơn nớc lã".

Nhng khi những ngời anh em ruột thịt ấy mà c xử bạc tình bạc nghĩa thì ngời

ta vẫn sẵn sàng cắt bỏ: "Ngời dng có ngãi thì đừng ngời dng, anh em vô ngãithì đừng anh em"

Yêu thơng con ngời còn thể hiện ở sự vị tha: “Đánh kẻ chạy đi không ai

đánh ngời chạy lại”, không những vị tha trong c xử xóm giềng, gia đình, bèbạn, mà dân tộc Việt Nam còn có thể vị tha ngay cả với kẻ thù Vì vậy, có thể

Trang 15

nói, lòng yêu thơng con ngời của dân tộc Việt Nam là cơ sở của lòng yêuchuộng hoà bình, của tình hữu nghị giữa các nớc Trong quan hệ ngoại giaovới các nớc láng giềng, nhân dân ta bao giờ cũng hớng tới tình hoà hiếu, cốgắng tránh xảy ra những cảnh đầu rơi máu chảy Tận dụng mọi cơ hội để giảiquyết những xung đột mang tính chất quốc gia bằng phơng pháp hoà bình cho

dù nguyên nhân là từ phía kẻ thù là sự lựa chọn của rất nhiều nhà chính trịcầm quân của Việt Nam Bởi dân tộc ta luôn tin tởng vào sức mạnh của conngời và sự chiến thắng của cái chính nghĩa với cái phi nghĩa, cái đẹp cái thiệnvới cái xấu xa

Trong truyền thuyết đã ghi lại niêu cơm Thạch Sanh hết vơi lại đầytrong ngày thắng trận Có lẽ không ở đâu nh Việt Nam, sau khi giặc thua trậnvẫn đợc cấp cho binh mã, lơng thực để về cố quốc Thiết nghĩ, hành độngnhân nghĩa, yêu thơng con ngời có sức mạnh lay động lòng ngời, khiến conngời cải tà qui chính, sức mạnh đó có thể hơn cả binh đao

Lòng thơng ngời vốn có của dân tộc đã đợc Đảng ta kế thừa và pháttriển rực rỡ trên cơ sở của Chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực tiễn cách mạngViệt nam Đúng nh Đảng ta đã nhận định: "Thơng nớc- thơng nhà, thơng ngời-thơng mình là truyền thống đậm đà của nhân dân ta Nhờ có tinh thần yêu nớc

và dân chủ ấy mà trong suốt quá trình lịch sử bốn ngàn năm, dân tộc ta đã làm

nên những chiến công oanh liệt Từ ngày có Đảng, dới ngọn cờ độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội, truyền thống yêu nớc và dân chủ của nhân dân ta đợcnâng lên một trình độ mới và phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết" (3, 29)

Tình thơng yêu con ngời là giá trị đạo đức đặc trng của dân tộc ta, mộtgiá trị rất đáng tự hào Nó gắn liền với tình yêu thơng đồng loại và là “cái gốccủa đạo đức.”

1.1.2.3 Tinh thần đoàn kết

Đây là một giá trị truyền thống mang tính đặc thù của dân tộc Việt Nam

đợc quy định bởi điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và những nét riêng về kinhtế- xã hội của nớc ta Là nhân tố cốt lõi trong hệ thống các giá trị truyền thốngcủa dân tộc mà nhờ đó con ngời Việt Nam có đợc sức mạnh to lớn trớc mọithách thức ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết là nhân tố hợp thành độnglực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử dân tộc

Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu

n-ớc và là biểu hiện sâu sắc của chủ nghĩa yêu nn-ớc Tinh thần ấy đợc phản ánh

Trang 16

rất rõ trong truyền thuyết về ngày đầu mở nớc: Mẹ Âu Cơ sinh bọc trăm trứng

nở thành trăm con Dù con trai lên rừng, con gái xuống biển, thì họ đều chungmột nghĩa “Đồng bào”- cùng một bọc mà ra Nhiều nớc trên thế giới đều cónhững nội dung để diễn tả khái niệm cùng một giống nòi, cùng một dân tộc,nhng chỉ có ở Việt Nam mới có cách hiểu nh vậy

Nhờ đoàn kết mà cha ông ta đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả cộng

đồng dân tộc trong bảo vệ cũng nh xây dựng Tổ quốc Đoàn kết là điều kiệntất yếu để bảo tồn dân tộc, nhất là khi đất nớc có giặc ngoại xâm

Cũng nhờ tinh thần đoàn kết mà cha ông cha ta đã vợt qua đợc nhữngkhó khăn, thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên để không những tồn tại màcòn phát triển sản xuất Nhờ tinh thần đoàn kết mà cha ông ta đã sáng tạo nênnền văn minh sông Hồng, đặt nền móng cho toàn bộ sự phát triển về sau của

đất nớc

Từ kinh nghiêm thực tế chúng ta đã nhận thức rất đầy đủ về vai trò của

tinh thần đoàn kết : "Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết", "Một cây làm chẳng

nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao"

Lịch sử mấy ngàn năm dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta đã chứngminh rằng, nếu không đoàn kết đợc các lực lợng, nếu để cho mầm mống của

sự chia rẽ tồn tại thì cho dù sức mạnh vũ khí lớn đến đâu kết quả cuối cùngcũng chỉ là thất bại

Thấy rõ vai trò của đoàn kết, cha ông ta luôn có ý thức chống lại sự chia

rẽ mất đoàn kết từ bên ngoài: "Khôn ngoan đấu đá ngời ngoài, gà cùng một

mẹ chớ hoài đá nhau" Vì vậy, ngời Việt Nam chọn "trong ấm ngoài êm" nh

là một thái độ sống, một thái độ ứng xử phổ biến trong các mối quan hệ mà từ

xa xa ông cha chúng ta đã lựa chọn để giữ vững tinh thần đoàn kết Lịch sửdân tộc đã chứng minh cho tinh thần đoàn kết của cha ông ta có sức mạnh tolớn nh thế nào

Có thể nói tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam chứa đựng một hợpchất văn hoá sâu nặng, một mạch nguồn văn hoá sâu xa mà không phải dântộc nào trên thế giới cũng có đợc Tinh thần ấy vừa là nhu cầu, vừa là mong -

ớc của cha ông ta về sự gắn bó giữa những ngời cùng dân tộc với nhau Chínhnghĩa “Đồng bào ấy đã giúp con ngời Việt Nam có sức mạnh để chinh phục tựnhiên, chiến thắng kẻ thù

Trang 17

Tinh thần đoàn kết đợc mở rộng trong phạm vi quốc gia, dân tộc, nhất

là khi đất nớc đứng trớc hoạ xâm lăng, nền độc lập của dân tộc bị đe doạ hoặc

đứng trớc xu hớng cát cứ của các thế lực phong kiến thì hơn lúc nào hết tinhthần đoàn kết lại đợc thể hiện một cách rõ nét nhất Từ chính sách dùng ngờiViệt đánh ngời Việt của các thế lực phong kiến phơng Bắc (Dĩ Di công Di)

đến chính sách chia rẽ của thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ đã lần lợt bị thất bạitrớc sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta Thực dân Pháp đã chủ trơng dùngchính sách "Chia để trị", chia rẽ ba miền Bắc - Trung- Nam, chia rẽ các dântộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, chia rẽ giữa các tầng lớp nhândân ( Những ngời theo đạo và không theo đạo, tách một số ngời ra để làm tôi

tớ cho chúng ) cũng nh mu đồ chia cắt hai miền Nam- Bắc lâu dài của đế quốc

Mỹ, nhng tất cả các âm mu đó đều thất bại

Tinh thần đoàn kết không chỉ là một điểm tựa, một một động lực mạnh

mẽ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc mà nó còn là động lực trong sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định mộtchân lý :

"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.

Thành công, thành công, đại thành công.''

Trớc lúc đi xa, Ngời vẫn còn trăn trở: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳquý báu của Đảng và nhân dân ta", và yêu cầu mỗi cán bộ, Đảng viên phải

thấm nhuần t tởng “Cần phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng nh giữ

gìn con ngơi của mắt mình"

Tinh thần đoàn kết của cha ông ta ngày nay đang đợc giữ gìn và pháthuy đặc biệt trong giai đoạn mới, khi Việt Nam bớc sang giai đoạn hội nhậpkinh tế thì tinh thần đoàn kết ấy càng đòi hỏi những nội dung mới, sâu sắc vàquyết liệt không kém giai đoạn đất nớc trong những ngày đầu mở cõi haytrong các cuộc chiến tranh giữ nớc

Trang 18

1.1.2.4 Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm.

Tinh thần cần cù, tiết kiệm cũng là một giá trị nổi bật trong hệ giá trịcủa truyền thống dân tộc Việt Nam Thực ra, để kiến tạo vật chất nuôi sốngxã hội thì bất cứ một dân tộc nào cũng phải lao động, sản xuất Nhng lao động

ở Việt Nam có tính đặc thù, bởi đặc trng của nớc ta là một nớc nông nghiệplâu đời Lao động nông nghiệp là loại hình lao động vất vả Để làm ra hạt lúa

củ khoai, ngời nông dân phải một nắng hai sơng, đổi bát cơm bằng rất nhiều

mồ hôi, công sức Hơn nữa, thiên nhiên rất nhiều nắng gió, hạn hán lũ lụt vìvậy, trong quá trình vật lộn cải tạo tự nhiên, con ngời Việt Nam bắt buộc phảilao động cần cù Bởi thế, thái độ lao động cần cù ngoài mục đích kinh tế còn

là hình thức và phơng tiện để phát triển năng lực tinh thần,phơng tiện để giáo

dục, rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp của con ngời ở Việt Nam có những

công trình đê điều phải làm qua hàng chục thế kỷ mới hoàn thành

Thái độ yêu quý lao động, lao động cần cù, ngời Việt Nam cũng đicùng với thái độ phê phán, lên án thói lời biếng, lãng phí Họ ý thức rất rõthói ăn không ngồi rồi là nguồn gốc của rất nhiều tội lỗi: "Nhàn c vi bấtthiện"

Thái độ cần cù trong lao động luôn đợc cha ông ta gắn liền với tiếtkiệm Tiết kiệm, theo quan niệm của ngời Việt Nam, là sự chi tiêu một cáchhợp lý Cần mà không kiệm thì cuộc sống bấp bênh do: "Đợc đồng nào xào

đồng ấy" Còn không thể có kiệm mà không cần Từ kinh nghiệm sống của rất

nhiều thế hệ, ngời Việt Nam nhận thấy rằng: "Khi có mà không ăn dè, đến khi

ăn dè chẳng có mà ăn" Vì vậy, họ rất phê phán hành vi : "Vung tay quá trán"trong sinh hoạt, tiêu dùng: "Buôn tàu, buôn bè không bằng dè lỗ miệng."

Tâm lý cần kiệm trong nhân dân lao động cũng đợc thể hiện ở một sốtrí thức yêu nớc, một số quan lại, vua chúa "gần dân" Chẳng hạn Nguyền Trãiquan niệm, với ngời làm quan thì đức tính không thể thiếu đợc là phải cầnkiệm Ông khuyên các quan "trị dân" thì chăm lo việc nớc, chống tham nhũng,lời nhác "Lấy nỗi lo của nhân dân làm nỗi lo của riêng mình, lấy nhiệm vụcủa quốc gia làm nhiệm vụ của riêng mình."

Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngời kế thừa và phát triển tinh thần tiết kiệm

ấy trong công việc và đời sống hàng ngày Trong đời sống cá nhân, Bác ở đâu,

dù là chiến khu hay giữa lòng thủ đô Hà Nội, đều động viên mọi ngời và trớchết Bác làm gơng về phong trào tăng gia sản xuất, cải thiện đòi sống Bữa cơm

Trang 19

một vị Chủ tịch nớc ăn cũng chỉ vài món nh mọi ngời dân bình thờng, quả càsau bữa ăn cũng đợc Ngời nhắc nhở để cất lại hôm sau dùng tiếp Tấm áo cakisờn cổ đợc thay đi thay lại mấy lần, đôi dép lốp đứt quai ngời sửa lại tinh tơmchứ không chịu đi đôi dép mới Không một mĩ từ răn dạy về đạo đức, nhngtấm lòng của Bác đối với nhân dân, đất nớc là tấm gơng sáng muôn đời Tậnkhi Ngời về cõi vĩnh hằng thì: "Trên ngực áo này không một tấm huân chơng

và dới làn vải này có một trái Tim!", chỉ có vậy mà trờng tồn và bất diệt

Nh vậy, lao động cần cù ban đầu là một đòi hỏi tất yếu để sinh tồn.Dần dần, lao động cần cù trở thành một phẩm chất không thể thiếu đối với conngời Việt Nam Nó vừa là điều kiện để đảm bảo nhu cầu sống của con ngời,vừa là sự thể hiện ý thức trách nhiệm của ngời Việt Nam trong sự nghiệp dựngnớc và giữ nớc của mình.Tất cả những thành quả vật chất và tinh thần mà cha

ông ta để lại đều bắt nguồn từ truyền thống cần kiệm đó

Các giá trị truyền thống là sản phẩm của quá trình đấu tranh lâu dài đểtồn tại và phát triển của dân tộc ta Đó là các giá trị cao quý, phổ biến và bềnvững hợp thành sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc trong hành trình pháttriển lịch sử của mình Tuy nhiên, truyền thống là sản phẩm của quá trình pháttriển lịch sử trải qua nhiều giai đoạn, nhiều thế hệ nên ngoài những mặt tíchcực không thể tránh khỏi có những mặt hạn chế mang tính lịch sử của từngthời đại nhất định

Hình thành trên cơ sở xã hội thuần nông và luôn phải tiến hành đấutranh chống xâm lợc nên ngoài mặt tích cực, các giá trị đạo đức cũng còn bộc

lộ những hạn chế

Trong thang các giá trị truyền thống, các giá trị mang tính cộng đồng

đ-ợc đề cao, còn các giá trị cá nhân hầu nh cha đđ-ợc chú ý Các chủ thể, với tcách là con ngời dòng họ, con ngời tập thể, con ngời quần chúng, con ngời Tổquốc đợc đề cao hơn con ngời cá nhân Nghĩa vụ thờng đợc đề cao hơn quyềnlợi cá nhân, mặc dù có thể quyền lợi ấy là chính đáng

Các giá trị đạo đức đợc đề cao trong khi ở một số trờng hợp nó bị đặt

đối lập hoặc chi phối, thay thế các giá trị khác Ví nh quan niệm "Đức thắngtài", "Cái nết đánh chết cái đẹp" Vì vậy mà hạn chế việc hình thành các giá trịkhác ở con ngời

Tinh thần đoàn kết của ngời Việt thể hiện đậm nét trong những vấn đềliên quan đến sự tồn vong của dân tộc và cộng đồng nh chống giặc ngoại xâm,

Trang 20

chống thiên tai, xây dựng các công trình chung… nh nhng trong sinh hoạt hàngngày, trong nghề nghiệp còn hạn chế Trong nhiều trờng hợp tinh thần đoàn kết

bị đẩy lên thành tính cục bộ địa phơng, nhất là trong phạm vi làng xã và dòng

họ Điều đó dẫn đến mâu thuẫn trong dòng họ giữa các vùng có lúc kéo dàinhiều thế hệ Do hiểu đoàn kết một chiều nên tinh thần đấu tranh phê phántrong nội bộ còn thiếu cơng quyết Thái độ :"Dĩ hoà vi quí" là nét phổ biếntrong cách hành xử của nhiều ngời Trong điều kiện đó cá nhân ít có điều kiện

để bộc lộ nhân cách của mình Về điều này, trong tác phẩm "Văn hoá và đổimới", nguyên cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng nhận xét: "Con ngời Việt Nam giàutinh thần đoàn kết cứu nớc và tơng trợ lẫn nhau trớc những tai hoạ lớn của cuộcsống nhng lại kém ý thức tơng thân tơng ái trong công việc và sinh hoạt hàngngày, nhạy cảm với cái mới nhng nhng nếu định hớng chung không đủ rõ ràng

và và bản lĩnh cá nhân không vững chắc thì cũng dễ du nhập từ nớc ngoài cảnhững điều sai lầm, thậm chí độc hại" (20; 75)

Ngời Việt Nam rất cần cù và tiết kiệm trong sản xuất và đời sống nhngtrong tâm lý của số đông, cần cù trong lao động chân tay đợc đánh giá caohơn trong lao động trí óc Cần cù trong lao động sản xuất đợc coi trọng hơntrong thơng mại Tâm lý coi rẻ nghề buôn bán thể hiện rõ trong quan niệm dângian: "Thật thà cũng thể lái buôn" Tính chất thật thà cần cù đợc coi trọng hơntính chất sáng tạo; "Cần cù bù thông minh", "Năng nhặt chặt bị" Các hoạt

động sản xuất và đời sống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thiếu hạch toán kinh

tế, kỷ luật lao động lỏng lẻo, tuỳ tiện do đó năng xuất, chất lợng và hiệu quảlao động thấp

Ngời Việt Nam xa chú ý tiết kiệm trong tiêu dùng hơn trong sinh hoạtkhác liên quan đến cộng đồng nh trong ma chay, cới hỏi, giỗ chạp Tục đãikhách thể hiện sự trọng khách, sự hào phóng của ngời Việt nhng nhiều khi ng-

ời ta vung tay quá trán, dẫn đến những khó khăn không đáng có trong cuộcsống thờng nhật, nhất là khi đời sống của cá nhân và gia đình còn đang ở mứcthấp Trên đây là một số mặt hạn chế trong các giá trị truyền thống của ngờiViệt Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên trong đó không thểkhông kể đến những nguyên nhân kinh tế - xã hội và cơ cấu giai cấp

Những giá trị truyền thống của dân tộc là sự tiếp nối văn hoá về nhữngquan điểm, tập tục, thể chế xã hội nên nó cũng đồng nghĩa với việc truyền lạinhững thông tin, tín ngỡng từ thế hệ này sang thế hệ khác Chúng ta có thể tự

Trang 21

hào khẳng định rằng, dân tộc Việt Nam có một gia sản cực kỳ quý giá đó là hệthống những giá trị truyền thống tốt đẹp nh truyền thống yêu nớc, lòng thơngngời sâu sắc, tinh thần đoàn kết cộng đồng, đức tính cần kiệm, lòng dũng cảm,bất khuất, tính khiêm tốn, giản dị trung thực, thuỷ chung, lạc quan Nhữnggiá trị đó luôn đợc các thế hệ ngời Việt Nam kế thừa và phát huy, trân trọng

và gìn giữ

Tuy nhiên, việc nhận thức rõ những hạn chế và tiêu cực trong cáctruyền thống của dân tộc và cả những hạn chế mang tính lịch sử trong nộidung của các giá trị truyền thống là yêu cầu bắt buộc đối với nhân tố chủ quankhi xử lý những vấn đề liên quan đến truyền thống Nó giúp ta xác định nhữngmặt rõ những mặt tích cực cần đợc kế thừa, bổ sung, phát triển cho phù hợpvới yêu cầu mới hiện nay và những mặt tiêu cực, hạn chế cần phải đợc loại bỏdần, những thiếu hụt cần đợc bổ sung Có nh vậy truyền thống dân tộc mớithực sự đóng vai trò là cơ sở, động lực của sự phát triển của xã hội trong điềukiện hiện nay Thái độ bôi đen hoặc tô hồng, phủ định sạch trơn hoặc bênguyên xi truyền thống, lẫn lộn giữa mặt tích cực và tiêu cực đều là thái độphản khoa học, làm tổn hại những giá trị truyền thống của cha ông và khôngthuyết phục đợc thế hệ trẻ một cách tích cực nhất

1.2 Những giá trị truyền thống tốt đẹp đặc trng của Nghệ An cần

đợc giáo dục trong trờng THPT.

1.2.1 Cơ sở hình thành các giá trị truyền thống tốt đẹp của Nghệ An.

Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, nằm trong toạ độ từ

18035 đến 200 Bắc, từ 103050 đến 103040 kinh Đông Phía Bắc giáp ThanhHoá, phía Nam giáp Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông và phía Tây giáp cáctỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay, Huaphăn thuộc nớc CHDC nhân dân Lào,

đờng biên giới dài 419 km, với diện tích 16.370 km2, đây là Tỉnh có diện tíchlớn nhất của cả nớc, miền núi và trung du chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh

Là vùng đất mà ngời Việt cổ c trú từ rất sớm Cách đây 20 vạn năm, nơinày đã có con ngời sinh sống Theo Giáo s Trần Quốc Vợng, nhà nghiên cứukhảo cổ học nổi tiếng, đã chỉ rõ: "Nói cho thật đúng thì Nghệ Tĩnh mới tách ra

về mặt hành chính gần đây thôi Chúng tôi làm chung và nhìn chung về khảo

cổ học Nghệ Tĩnh Thời Đá cũ, sơ kỳ có Thẩm ồm (Quỳ Châu), Hậu Kỳ ở đồiRừng, đồi Rạng ở Thanh Chơng Thời đá mới, sơ kỳ có nhiều hang động HoàBình - Bắc Sơn ở các huyện Quế Phong, Con Cuông, Tơng Dơng, Tân Kỳ,

Trang 22

Quỳ Châu, có nhiều cồn sò điệp ở ven biển Quỳnh Văn, Quỳnh Lu, hậu kỳ cónhiều di tích văn hoá cồn - bàu- dạng Bàu Tró ở dọc ven biển Cẩm Xuyên,Thạch Hà, Can lộc, Nghi Xuân, Diễn Châu, Quỳnh Lu Rất đáng chú ý là x-ởng chế tác rìu đá ở Rú Dầu, xã Đức Đồng, Đức Lạc, huyện Đức Thọ, đánhdấu sự phân công lao động và nhiều "trao đổi sản phẩm từ đó toả đi nhiều nơi

ngay từ thời nguyên thuỷ" (19, 425) Xứ Nghệ hay đất Nghệ An xa là đất Việt

Thờng, đời Tần thuộc đất Tợng quận, đời Hán thuộc Cửu Chân, đời Tuỳ đặt làChâu Hoan, sau đổi thành quận Nhật Nam, đời Lý mảnh đất "phên dậu" của

Tổ quốc, đòn gánh hai đầu đất nớc Mời tám đời vua Hùng dựng nớc đã để lạitrên đất Nghệ Tĩnh nhiều di tích, truyền thuyết Đền Cuông đặt dới chân núi

Mộ Dạ (Diễn Châu) là một minh chứng GS Hà Văn Tấn đã chỉ ra và lý giảimột số t liệu khảo cổ học, dân tộc học đáng quý Gần đây, dấu vết của ngời v-

ợn đã đợc phát hiện ở Nghệ Tĩnh, trong hang Thẩm ồm, xã Châu Thuận,huyện Quỳ Châu Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 5 chiếc răng ngời, nhữngchiếc răng này mang đặc điểm của răng ngời vợn và cũng mang đặc điểmrăng ngời hiện đại Các nhà nghiên cứu đã dự đoán rằng, ngời vợn ở Thẩm

ồm, đã sống cách chúng ta khoảng 20 vạn năm Vào cuối thời đại đồ đá cũ,

có những bộ tộc sinh sống, săn bắt, hái lợm, c trú trong một khu vực rộng lớncủa Việt Nam Các nhà khảo cổ học gọi là văn hoá Sơn Vi

ở Nghệ Tĩnh, các nhà khảo cổ học đã nghiên cứu nhiều hang động có

di tích văn hoá Hoà Bình ở trong các dãy núi đá vôi thuộc các huyện QuếPhong, Tơng Dơng, Tân Kỳ C dân văn hoá Hoà bình trên đất Nghệ thờngthích sống ở nơi cửa hang, thoáng mát Họ bắt những động vật thân mềm về

ăn và đổ vỏ thành từng đống trớc cửa hang Nối tiếp văn hoá Hoà Bình là vănhoá Bắc Sơn Một vài hang động ở Nghệ Tĩnh đã thấy xuất hiện những chiếcrìu bằng đá đợc mài một phần rất nhỏ ở đầu rìa lỡi Họ cũng bắt đầu biết dùng

đất sét để làm đồ gốm Nh vậy mảnh đất Nghệ Tĩnh là cái nôi văn hoá rấtsớm

Nếu xét theo chiều dài của lịch sử, địa danh Nghệ Tĩnh đã xảy ra nhữngbiến cố rất khác nhau Có khi là một quận, một huyện, một châu, một trấn,một thừa tuyên, một tỉnh, một trại Rõ ràng là lúc phân, lúc hợp, lúc chia tách,sát nhập khác nhau về tên gọi Phan Huy Chú khẳng định: "Nghệ An xa thuộcnớc Việt Thờng, thời Tần thuộc Tợng Quận, thời Hán gọi là quận Nhật Nam,thời Ngô gọi là quận Cửu Đức, thời Lơng đổi từ quận ra châu, ban đầu gọi là

Trang 23

quận Hoan Châu sau gọi là quận Diễn Châu Qua đời nhà Đinh cũng vẫn giữtên cũ là Diễn Châu, đến nhà Lý đổi lại là trại Niên hiệu Thiên Thành thứ 3(1030) thời Lý Thái Tông đổi tên Diễn Châu thành Nghệ An và tách DiễnChâu ra thành một châu riêng Đời Trần vẫn giữ tên cũ là Nghệ An nhng đốithành phủ Đời Trần Duệ Tông đổi là lộ và chia Nghệ An ra làm 4 lộ; NhậtNam, Nam, Bắc, Trung ".

Vị trí địa lý đặc biệt này còn là một miền quê nghèo khó vốn đợc thiênnhiên "u đãi" nắng lắm, ma nhiều, lũ lụt, hạn hán quanh năm Đã thế đất đailại khô cằn "Chó ăn đá, gà ăn sỏi" Chính Bùi Huy Bích quê ở Thanh Trì, HàNội đã viết về mảnh đất Nghệ An :

Khắp nơi cát động toàn là bãi không.

Gạo ăn rắn tựa đá nung.

Nớc triều reo tựa quạ đồng kêu ran.

Không những chỉ khắc nghiệt về tự nhiên, mảnh đất này còn thờngxuyên chịu sự hoành hành, giặc giã liên miên Những t liệu đã chỉ ra rằng, thế

kỷ thứ hai sau công nguyên, ngay sau khi mới thành lập, nớc Lâm ấp (Chăm

Pa, Chiêm Thành) đã vợt qua dãy Hoành Sơn định chiếm Cửu Chân Từ đó vềsau, hễ mỗi lần đợc biết bọn quan lại bê bối, thì quân Lâm ấp đều vợt biênsang quấy phá Mặt khác, nớc Lão Qua ở phía Tây Bắc luôn luôn dòm ngó và

đa quân tràn xuống Cửu Chân Hơn thế nữa, Nghệ Tĩnh dới con mắt của nhiềungời luôn đợc coi là vùng biên viễn, là viễn trấn, là vùng đất hứa của bọn loạnthần tặc tử hay bọn du thủ du thực ẩn náu Điều này đã đợc ghi trong một sốtài liệu Ví nh trong nhận xét của Đốc học Vinh- Hipplyte le Breton: “ Những

tù binh Chàm, từ thế kỷ XI đến đầu thé kỷ XV, và những tù binh Trung Quốc

đầu thế kỷ XV đã đa đến lập nghiệp ở An Tĩnh" Giáo s Đinh Gia khánh nhận

định rằng: "Nghệ Tĩnh đợc các triều đại vua Đại Việt coi nh phên dậu của Tổquốc " Lý Tử Tấn (thế kỷ XV) viết: "Các triều đại lấy đó để chế ngự ngời TâyNam di "

Ngời dân từ mảnh đất này để sống và tồn tại, phải gồng mình chống lạithiên tai, ma gió, bão lụt Trong một hoàn cảnh nh thế, họ đã phải chắt chiutừng hạt lúa, củ khoai Vì vậy đã hình thành nên những giá trị truyền thốngcủa con ngời đất này: Cần cù, tiết kiệm, chịu thơng chịu khó Giặc giã, chiếntranh và cả sự thừa hởng gen sinh học từ những "Loạn thần tặc tử" làm chodân Nghệ Tĩnh có tính can trờng, khi đợc phát huy, khơi dậy thì trở thành tinh

Trang 24

thần yêu nớc quyết liệt: "Ngời Nghệ An khí chất sắc sảo, đôn hậu, tính tình từtốn chậm chạp cho nên làm việc gì cũng giữ cẩn thận, bền vững, ít khi bị xao

động bởi những lợi trớc mắt Thổ âm ngời Nghệ đục và nặng (trọc) nhng đều

có thể bắt chớc tiếng khác đợc Văn chơng ngời Nghệ An phần nhiều mạnh

mà cứng cỏi, ít bóng bẩy (hoa lệ) Vì văn chơng là tiếng lòng, khí chất con

ng-ời nên phát ra lng-ời văn cũng thế Binh lính Nghệ An ngày xa gọi là thắng binh,khéo dùng thì đủ để vô địch trong thiên hạ Xét ra không phải họ dũng mãnhquả cảm hơn ngời mà chỉ vì họ quen sự cần cù gian khổ" (22, 136)

Hoặc nh Phan Huy Chú nhận xét : "Con ngời ở đây rất cần kiệm màhiếu học, sản vật thì quý báu mà hiếm lạ, thần núi thần biển đều linh dị, khíthiêng non sông kết thành nhiều bậc danh hiền Đất này là vùng thông với xứMan Lào lại là vùng giới hạn giữa Bắc Nam do đó mà nó xứng đáng là mộtthành trì kiên cố, là then chốt của nớc nhà trải qua các triều đại" (22, 147)

Nh vậy, có thể nói những giá trị truyền thống tốt đẹp của ngời NghệTĩnh nói chung, ngời Nghệ An nói riêng đều có những cơ sở hình thành,những nguyên do có tính lịch sử Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, điều kiệnkinh tế - xã hội đã dần hình thành ở con ngời Nghệ Tĩnh những phẩm chất nhcần cù, chăm chỉ, chịu thơng, chịu khó, tinh thần hiếu học, tính cố kết cộng

đồng làng xã và cuối cùng, cao nhất là tinh thần yêu nớc, xả thân vì đất nớc.Những giá trị truyền thống ấy nh một mạch ngầm âm thầm chảy từ thế hệ nàysang thế hệ khác, thành một đặc trng riêng của đất và ngời ở mảnh đất này.Những truyền thống ấy sẽ tiếp tục đợc gìn giữ, phát huy và tinh lọc để ngàycàng phù hợp với sự phát triển, đổi mới chung của đất nớc

1.2.2 Những giá trị truyền thống tốt đẹp của Nghệ An cần đợc giáo dục trong trờng THPT

1.2.2.1 Truyền thống yêu nớc, chống giặc ngoại xâm:

Nghệ An là một bộ phận hợp thành của dân tộc Việt Nam Vì vậy,truyền thống yêu nớc của nhân dân Nghệ An cũng nằm trong mạch nguồnchung của dân tộc Tuy nhiên, do những đặc trng riêng về đất và ngời Nghệ

An nh ở phần cơ sở hình thành đã phân tích, truyền thống yêu nớc ở Nghệ An

có những nét đặc trng riêng Bản tính ngời Nghệ An vốn nhiệt tình cách mạng,tinh thần đấu tranh lại quyết liệt vì vậy ngời Nghệ An thờng đi đầu trong cáccuộc chiến tranh giải phóng dân tộc để bảo vệ Tổ quốc, quê hơng, xóm làng

Có thể nói, trong các cuộc đấu tranh giữ nớc, không mảnh đất nào lại xuất

Trang 25

hiện nhiều anh hùng giải phóng dân tộc, nhiều vị lãnh tụ, lãnh đạo phong trào

nh ở Nghệ An

Cùng với non sông, đất nớc con ngời ở xứ này son sắt với Tổ Mảnh đất văn hoá kết chặt từ khe nớc lạnh đến Đèo Ngang Hẳn trong mỗicon ngời dân xứ Nghệ đều ghi trong tâm thức một sự tích - đúng hơn là mộthuyền tích về một câu chuyện vừa thực vừa có những yếu tố ảo, vừa nh huyềnthoại vừa rất sống động: Chuyện Mị Châu- Trọng Thuỷ Đền Cuông vẫn đứng

quốc-đó dới chân núi Mộ Dạ để đời đời con cháu đi Bắc vào Nam ghé vào dâng néntâm hơng tởng nhở về một vị vua, "một con ngời anh hùng, một bản anh hùng

ca đầm nớc mắt " (19, 38 ) Khi vua An Dơng Vơng thua trận với Triệu Đà đãdẫn con gái chạy đến đất này- xứ Nghệ Và dấu lông ngỗng của tình chồng vợ,của sự thuỷ chung bị đánh cắp đã dẫn lối cho Trọng Thuỷ tìm đến, cùng đờng,mảnh đất này đã đón họ vào lòng

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trng (40-43) khi đã lan rộng khắp nơi thì

đợc nhân dân Cửu Chân, trong đó đặc biệt là nhân dân Nghệ Tĩnh hết lòngủng hộ, tạo nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Trong mỗi ngời dân Nghệ Tĩnhhẳn không ai không nhớ về sự tích "ông vua đen" Mai Hắc Đế, phất cờ khởinghĩa giải phóng đợc cả một vùng Hoan - Diễn - ái (Tức Nghệ An- Hà Tĩnh

và Thanh Hoá ngày nay) Sau đó, Mai Thúc Loan xng Đế đặt căn cứ ở SaNam ven bờ sông Lam, xây thành Vạn An Sau khi xng đế, Mai Thúc Loantruyền hịch kêu gọi dân chúng đồng lòng đứng dậy lật đổ toàn bộ ách thốngtrị của nhà Đờng

Nghệ Tĩnh cũng có 3 ngời con tiêu biểu đứng lên lãnh đạo phong tràokhởi nghĩa nông dân, mặc dù, mảnh đất này không xuất hiện những đại địa chủ

mà ruộng đất có tới hàng trăm mẫu nh ở một số vùng khác trên cả nớc Đó làphong trào khởi nghĩa do Lê Hi, Trịnh Hng, Lê Minh Triết (1512) lãnh đạo

Khi các cuộc khởi nghĩa nông dân ở ngoài Bắc bị thất thế, các thủ lĩnhcủa họ nh Nguyễn Biểu (1741), Nguyễn Hữu Cầu (1750), Lê Duy Mật (1758)kéo nghĩa quân vào Nghệ An, dựa vào con ngời gan góc và quật cờng ở đấtnày để tiếp tục mu cầu nghiệp lớn Vì vậy, cũng có thể nói mảnh đất này phần

đa vùng nào cũng có con cháu của các quan lại thất thế mà chạy loạn c trú.Nên xét trên cơ sở sinh học đơn thuần thôi, vùng đất này đã có cái "gen" của

sự thông minh, hiếu học và ngang bớng, khiến cho bọn giặc phải khiếp sợ:

Chặt tay năm ngón mà chừa.

Trang 26

Chớ trêu quân Nghệ Tĩnh, hắn muối da đi dừ.

( Ca dao Nghệ Tĩnh )

Sau này Bác Hồ đã từng nhận xét: "Dân Nghệ Tình nổi tiếng là cứng

đầu " Bên cạnh đó, còn phải kể đến rất nhiều những ngời lãnh đạo phong trào,tiêu biểu nh : Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Nguyễn Xuân Ôn,

Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lu Vì vậy, những tên

đất, tên ngời Nghệ An đã đi vào lịch sử nh một minh chứng hùng hồn của tinhthần yêu nớc:

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, những Truông Bồn, cầuCấm, Bến Thuỷ, đã ghi những dấu son chói lọi về tinh thần xả thân của ngờiNghệ An cho đất nớc, một lần nữa khắc sâu truyền thống yêu nớc của ngờiNghệ An

Truyền thống yêu nớc ấy không phải bỗng dng mà có Nó đợc gìn giữ

từ trong mỗi "nếp nhà" Giữ gìn truyền thống yêu nớc trở thành "Gia phong"trong mỗi gia đình Nghệ An ở đó, những bà mẹ tảo tần sớm hôm lam lũ đãdạy con mình bài học đầu đời là bài học về lòng yêu nớc, thơng dân:

Có thể kể đến gia đình Giáo s Đặng Thai Mai, bố ông là cụ Đặng Thúc Hứa,

đã ra đi tìm đờng cứu nớc Bà mẹ của Đặng Thúc Hứa đã gặp cô cháu gái, dặncô trớc khi sang Thái nh sau: "Cháu sang đó bảo anh Tú (Đặng Thúc Hứa, đỗ

Tú tài nên gọi là anh Tú) đã có gan đi tìm đờng cứu nớc thì bao giờ lấy lại đợcnớc hãy trở về, đừng trở về nhà làm "Gà què ăn quẩn cối xay"

Bà Ưng ý, con gái Hồ Đắc Trung, một gia đình dòng dõi: "Danh giavọng tộc" có con trai là Bửu Bội, nhà hoá học nổi tiếng thế giới, khi nghe tin

ông này làm cố vấn cho gia đình Ngô Đình Diệm, ông bà đã đánh điện từ con,

và khi cha mất ông Bửu Bội vẫn không đợc phép về chịu tang theo nghi lễ.Những bà mẹ xứ Nghệ nh vậy, hỏi sao đất này không sinh ra đợc những ngờicon yêu nớc, sao không sinh ra lắm anh hùng!

Trang 27

Truyền thống yêu nớc của quê hơng Nghệ An đợc phản ánh đầy đủ, rõnét nhất ở Chủ Tịch Hồ Chí Minh Cả cuộc đời Ngời là một bài ca bất diệt,một minh chứng hùng hồn và sống động về lòng yêu nớc, thơng dân, về sự hysinh tất cả những lợi ích riêng t cho sự nghiệp giải phóng dân tộc

1.2.2.2 Truyền thống hiếu học.

Nghệ An là vùng đất khắc nghiệt về điều kiện tự nhiên, nắng rát da,lạnh thấu xơng, đất đai cằn cỗi Bù lại, mảnh đất này sơn thuỷ hữu tình, phíaTây có núi, phía Đông có biển, ở giữa có đồng bằng Có thể nói là một ViệtNam thu nhỏ Mảnh đất ấy là nơi “Địa linh nhân kiệt” Ngời Nghệ An cótruyền thống hiếu học, nói chính xác hơn là khổ học, khổ luyện thành tài

Nhng Nghệ Tĩnh chỉ thực sự trở thành “một vùng khoa bảng nổi tiếngthì phải đợi đến cuối thế kỷ XVII về sau, mà từ đầu thế kỷ XV, từ thời Lê sơ

đánh dấu sự chuyển mình.” (6, 35) Trớc đó, Nghệ Tĩnh trong con mắt củaTriều đình vẫn là đất Trại Chế độ khoa cử vẫn lấy hai dạng trạng nguyên làTrại Trạng nguyên và Kinh trạng nguyên Trại Trạng nguyên có trình độ thấphơn Kinh Trạng nguyên và những ngời đỗ trạng nguyên ở Nghệ Tĩnh giai

đoạn này là Trại Trạng nguyên

Với ngời Nghệ, việc học có mục đích rõ ràng, tinh thần học tập của

ng-ời Nghệ là tinh thần học tập suốt đng-ời Hình tợng cá gỗ và ông đồ Nghệ đã trởthành một biểu trng, một câu chuyện hài không ít lần làm cho những ngời con

xứ Nghệ yêu quê phải đỏ mặt Mảnh đất Nghệ An "Thiên nhiên có phần bạcbẽo và da diết với con ngời" (Ninh Viết Giao) nắng lắm, ma nhiều, giông bãotriền miên, đã làm cho cái nghèo đeo bám dai dẳng vùng đất này Cái nghèolàm cho ngời Nghệ luôn phải lo lắng, chắt chiu, kiệm cần từ cái ăn cái mặc.Nhng cái nghèo cũng là một trong những động lực giúp cho ngời Nghệ rènluyện ý chí chăm học, khổ học để mong tìm cho mình một công danh nơi xứngời Nghèo, nhng dám đơng đầu với cái nghèo để chăm lo cho sự học củamôn sinh Đó là cái đức của ông đồ Nghệ Ông đồ Nghệ nghèo, sống thanh

đạm theo nếp nho gia: "quân tử thực vô cầu bảo" (Ngời quân tử không cần ănngon) Tuy gia cảnh của các ông đồ Nghệ đều nghèo nhng cả nớc đã tôn vinh

"Hiếu học, học giỏi, thành danh", "Sáng khoai, tra khoai, tối khoai ba bữa, con

đỗ, cha đỗ, ông đỗ, đỗ cả nhà" là đôi câu đối viết về trờng hợp của gia đình HồTông Thốc Tinh thần học tập của ngời Nghệ Tĩnh là tinh thần học tập suốt

đời Vậy nên có những khoa thi cha- con đỗ đồng khoa nh Ngô Trí Tri và con

Trang 28

là Ngô Trí Hoà (Diễn Kỷ- Diễn Châu), cha đỗ Tiến sỹ, con đỗ Hoàng Giáp.

Điều đó đã phản ánh đợc tinh thần hiếu học của cả vùng đất này Có thể thấyrất rõ điều đó trong danh sách các bia tiến sỹ đợc khắc trong Văn miếu của HàNội và cố đô Huế Những ngời đậu tiến sỹ đợc coi là những ngời hiền tài, lànguyên khí của quốc gia Ông cha ta vốn coi trọng kẻ có văn tài, coi trọngchất xám và khuyến khích ngời hiếu học nên các vị đợc khắc trên bia đá đểlớp lớp con cháu hậu thế noi theo Và thật đáng tự hào, trong 32 tấm bia tiến

sỹ ở Văn miếu Huế của triều Nguyễn ghi danh 293 ngời trong cả nớc đậu tiến

sỹ trong 39 kỳ thi Hội, từ khoa đầu tiên vào năm 1822, dới thời Minh Mạng

đến khoa cuối cùng vào năm 1919 dới thời Khải Định Trong khi tất cả 31 tỉnhtrong toàn quốc có 293 ngời đỗ tiến sỹ đợc ghi danh thì riêng tỉnh Nghệ An đã

có đến 91 ngời Nghĩa là số tiến sỹ ngời Nghệ đợc ghi danh ở Văn miếu Huếchiếm tỷ lệ gần 1/10 so với cả

nớc Cụ thể là trong 23 tỉnh có ngời đỗ đại khoa, Nghệ An là tỉnh có số đỗ đạikhoa nhiều nhất và ngày càng tăng

Thời Minh Mệnh, Nghệ An có 7/76 ngời, chiếm 9,2%;

Thời Thiệu Trị, Nghệ An có 7/79 ngời, chiếm 8,9%;

Thời Tự Đức, Nghệ An có 34/200 ngời, chiếm 16,5%;

Thời Kiến Phúc, Nghệ An có 2/7 ngời, chiếm 28,6%;

Thời Thành Thái, Nghệ An có 23/121 ngời, chiếm 19,9%;

Thời Duy Tân, Nghệ An có10/3 ngời, chiếm 30%;

Thời Khải Định, Nghệ An có 8/36 ngời, chiếm 22%

Nh vậy, Nghệ An có 91 ngời đỗ đại khoa, vợt hơn hẳn tỉnh đứng thứ 2 làThừa Thiên Huế 60 ngời và Hà Tĩnh đứng thứ 3 với 44 ngời

Ngời Nghệ Tĩnh so đo sự học là so đo giữa các dòng họ, các làng vớinhau Không ai so đo về tiền tài của cải và sự thành danh của con cháu luôn làniềm tự hào của các dòng họ Ngời ta đánh giá, đất Nghệ Tĩnh "Nho-Y - Lý -

Số đủ cả Thuật phong thuỷ không ai bằng Tả Ao Y thánh có Hải Th ợng Lãn

Ông Nghệ sỹ tiêu dao thậm chí phiêu lãng có Nguyễn Công Trứ Đại thi hàodân tộc có Nguyễn Du Tiên phong đạo cốt cũng nhiều mà tiêu biểu là La SơnPhu Tử Nguyễn Thiếp " (19, 145)

Đất Nghệ An đã xuất hiện các dòng họ, địa danh nổi tiếng về sự họchành, đỗ đạt Có thể kể đến họ Tôn ở Thanh Chơng, họ Cao Xuân và ĐặngVăn ở Diễn Châu, họ Hồ ở Quỳnh Lu Đặng Thai Mai đã nhận xét rất tinh tế

Trang 29

rằng: "Khi mà chế độ khoa cử còn thịnh, cơ hồ mỗi một làng đều nhận thấytrong núi của mình một án th, một cái bảng, một quản bút." Nhiều địa danhnổi tiếng có liên quan đến nghiên bút có khắp nơi ở trên đất Nghệ An: NhoLâm, Bút Điền, Bút Trận, Văn Hiến, Văn Vật ( Diễn Châu), Bút Luyện, VănThai, Văn Khúc, Tam Khôi (Quỳnh Lu),Văn Khuê, Văn Trờng, Văn Lâm (ĐôLơng), Khoa Cử, Khoa Trờng (Nam Đàn), Thoi Mực, Núi Bảng (Cửa Lò)( 19,31).

Những ngời học giỏi có tài văn chơng đợc nhân dân tôn vinh Tứ Hổ".Nam Đàn có "Tứ hổ " là San, Đôn, Lơng, Quý Tức là Lê Bá Đôn, Phan VănSang, Trần Văn Lơng, Vơng Thúc Quý), Nghi Lộc có tứ hổ là Hoàng VănThái, Hoàng Văn Bảo, Nguyễn Đình Yên, Hoàng Văn C, Quỳnh Lu có tứ lân

là Hồ Hải Trí, Hồ Văn Minh, Hồ Diễn, Hồ Hiến Họ Hồ ở Quỳnh Lu có bốnnhà nổi tiếng học giỏi và đỗ đạt và thành danh là Hồ Sĩ Dơng, Hồ Phi Tích,

Hồ Sĩ Đống, Hồ Sĩ Tông đợc xếp vào "Tứ hồ tự cổ chiếm văn minh" (Bốnnhà đều xứng là đại gia văn chơng) (19; 38)

Những thế hệ hậu sinh của mảnh đất Nghệ An đã tiếp nối một cách xuấtsắc truyền thống hiếu học của cha ông Chúng tôi xin dẫn lời GS Trần QuốcVợng: “ trong câu chuyện vui đùa, có ngời Hà Nội đố tôi: Hà Nội có khu"kinh tế mới" ở Lâm Đồng Còn đố anh khu kinh tế mới của Nghệ An ở đâu,xong ngời đó tự trả lời: "ở Hà Nội" Tôi dẫn lời cụ Nguyễn Khắc Viện bảo:2/3 trí thức cao cấp hiện hoạt động khoa học ở Hà Nội là ngời gốc Nghệ Tĩnh.Với điều đó có tác dụng tốt làm tăng chất trí thức cho thủ đô Hà Nội" (19,423) Điều đó còn đợc phản ánh rõ nét và hết sức thức thuyết phục thông quakết quả thi học sinh giỏi Quốc gia, quốc tế và tỷ lệ thí sinh đậu đại học, cao

đẳng hằng năm ở Nghệ An đều luôn luôn nằm ở tốp đầu, mặc dù mảnh đất ấyvẫn cha hết phần khó khăn, nghèo khổ Theo số liệu thống kê của Sở giáo dục

đào tạo Nghệ An:

Cấp học Các chỉ tiêu 2002 2003 2003 2004 2004 2005 2005 2006 2006 2007 2007 2008 2008 2009

Tiểu học Sốhs giỏi tỉnh 901 834 927 không

thi

khôngthi

khôngthiTHCS Số hs giỏi Tỉnh 901 834 927 1.110 1109 1108

THPT -Số hs giỏi tỉnh 3414 3700 4247 3706 1175 1393

Trang 30

19706

69

011413

69

113424

49

115623

49

219005

Nh vậy có thể thấy truyền thống hiếu học là một giá trị truyền thống tốt

đẹp nằm trong hệ thống những giá trị của Nghệ An Dẫu rằng, đây không phải

là một đặc trng riêng có của ngời Nghệ nhng ngời Nghệ khác các địa phơngkhác ở chỗ họ có tinh thần "Khổ học thành tài" Đó cũng là một đặc trng đểphân biệt ông đồ Nghệ với ông đồ Thanh hay ông đồ Quảng xa và để phânbiệt các sĩ tử của Nghệ An so với các vùng khác trong cả nớc ngày nay Có thể

kể đến tinh thần khổ học ấy với những ngời con tiêu biểu nh em NguyễnTrọng Trờng, Nguyễn Tất Nghĩa, đã vợt lên hoàn cảnh để học tốt trong một

điều kiện học tập đơn giản đến tối thiểu, trong nỗi lo cơm áo gạo tiền của mộthọc sinh bậc THPT đáng ra cha phải lo toan để đạt thành tích 3 lần đạt huy ch-

ơng vàng Vật lý quốc tế ngay trong khi đang học bậc THPT, là em NguyễnCông Hùng mà tinh thần khổ học chẳng khác gì Thầy giáo Nguyễn Ngọc Kýkhi xa, trong một thân hình tàn tạ, chỉ có một ngón tay cử động đợc, em đã trởthành hiệp sỹ công nghệ thông tin, không những thế em còn tạo công ăn việclàm cho rất nhiều em nhỏ tàn tật khác

Chính vì vậy truyền thống hiếu học đã trở thành truyền thống tiêu biểucủa ngời Nghệ An Và vì hiếu học, nên ngời Nghệ An có thêm ý thức tôn strọng đạo luôn đợc giữ gìn

1.2.2.3 Lối sống giản dị, ghét xa hoa lãng phí, ăn chắc mặc bền, có ý thức phòng trớc những rủi ro của thiên nhiên.

Một trong những đặc trng của con ngời Nghệ An, tạo nên phong cáchsống của ngời Nghệ An khác các vùng miền khác là lối sống giản dị, ghét sự

xa hoa, lãng phí Có lẽ cũng từ sự khắc nghiệt của tự nhiên, sự nghèo khó củamảnh đất này mà ngời Nghệ An đã hình thành từ rất sớm ý thức tiết kiệm đôilúc đến giản tiện Thiên tai, địch hoạ bất thờng khiến ngời Nghệ An luônmang trong mình t tởng “ lo xa, phòng thân ” Vì vậy, khác với những vùngmiền khác, ngời Nghệ ít khi giám tiêu đến đồng tiền cuối cùng.Họ luôn có t t-ởng “ Buôn tàu buôn bè không bằng dè lỗ miệng ”, t tởng “ Ăn chắc mặc bền

” Sự tằn tiện trong chi tiêu của ngời Nghệ thể hiện rất rõ trong đời sống hàngngày, mà trong văn hoá ẩm thực là một ví dụ Những món đặc sản nổi tiếng

Trang 31

của Nghệ An là sự kết hợp hài hoà giữa cái đảm đang, khéo vén với sự tằntiện lo xa: “nhút Thanh Chơng, tơng Nam Đàn”, “khoai chợ Rộ ” Ngời Nghệtằn tiện đến những thực phẩm có thể là phần bỏ đi của các địa phơng kháccũng trở thành món ngon Tuy tằn tiện trong tiêu dùng nhng tuyệt nhiênkhông phải là dễ dãi, xô bồ Trong văn hoá ẩm thực của ngời Nghệ không cầu

kỳ nh ngời Bắc nhng cũng rất kỹ lỡng, tinh tuý Hầu nh ở bất kỳ gia đình ngờiNghệ nào ngày xa đều có sẵn trong nhà những cái oi đựng cá khô đợc cấtgiành từ những ngày hè, những vại cà, vại tơng vàng ơm dành cho những ngày

ma bão, ngày ba tháng tám Ta có thể tìm thấy trong ca dao Nghệ Tĩnh cảnhlàm việc cần cù, chăm chỉ nhng cũng thấm đẫm tình ngời, sự đoàn kết, tơngthân tơng ái

Không những cần cù, chăm chỉ, ngời Nghệ Tĩnh còn có một tinh thầnlạc quan trong lao động Và phải chăng chính tinh thần lạc quan ấy đã giúpcho ngời Nghệ Tĩnh có thể đứng vững trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhấtcủa cuộc sống

Tằn tiện với mình, nhng ngời Nghệ Tĩnh nói chung, Nghệ An nói riênglại rất rộng lòng với khách, có thể nói là có t tởng: "Nhịn miệng đãi khách "

Và trong các công việc làng xã, ma chay thờng rất trọng hậu, chu đáo

Hiện nay, đi dọc các vùng miền Nam - Bắc, nhiều ngời có chung nhậnxét: Các công trình xây dựng của gia đình ở Vinh là đẹp nhất, đồ sộ nhất Nếukhông hiểu lối sống ở Nghệ An, ngời ta dễ nhầm tởng đó là biểu hiện của sự

xa hoa Nhng, ngời nào gắn bó máu thịt với mảnh đất này thì sẽ hiểu đó làthành quả của của những năm tháng dài gia chủ tằn tiện chi tiêu và còn là biểuhiện của sự “ ăn chắc mặc bền ”, của những lo toan không những cho thế hệhiện tại mà còn cho cả con cháu sau này nữa

Tất cả những điều ấy đủ để khẳng định với chúng ta rằng lối sống giản

dị, ghét xa hoa lãng phí là một trong nét đặc trng của con ngời Nghệ An

1.2.2.4 Tinh thần cố kết làng xã, yêu thơng đùm bọc ,cộng c, cộng sinh, cộng cảm"

Cũng xuất phát từ những khó khăn của vùng quê chịu nhiều thiệt thòi về

điều kiện tự nhiên, sinh sống Con ngời Nghệ An từ rất sớm đã hình thành ýthức cố kết cộng đồng nh là một tất yếu để tồn tại Để chống lại cái khắcnghiệt của tự nhiên và của cả “ Địch hoạ” ở mảnh đất có thể gọi là “ Phên dậu

” của đất nớc này, ngời Nghệ An bắt buộc phải đoàn kết với nhau Lâu dần, sự

Trang 32

đoàn kết có tính bắt buộc lúc đầu ấy trở thành những yếu tố nội thân, trở thànhmột tình cảm thôi thúc từ bên trong, thành những ứng xử đạo đức.

Nghe ra có vẻ gì đấy hơi cực đoan Nhng cực đoan mà làm cho ngờikhác phải sợ, thậm chí phải phát ghen lên vì tính cố kết của con ngời NghệTĩnh

Từ một phía khác của cuộc sống, tinh thần cố kết làng xã đợc xuất phát

điểm trớc hết là ở lòng yêu thơng trong bản thân mỗi gia tộc, gia đình Với

ng-ời Nghệ Tĩnh, sự cố kết trong gia đình, dòng họ đã đợc đúc kết lại thànhnhững lối ứng xử đẹp

Điều ấy thể hiện rất rõ trong những phong tục, tập quán mà chỉ ở mảnh

đất này mới có Ví nh tục “ mời chè” Những đêm trăng sáng, ở những làngquê, ngời ta thay nhau nấu những nồi chè xanh to, một vài phong kẹo Cu - Đơ,chiếc chõng tre cho già, mảnh chiếu góc sân cho trẻ, gia chủ ra đứng trớc ngõnhà gọi to lên thông báo cho những ngời hàng xóm biết để mời nhau đến uốngnớc chè Chẳng ai bảo ai, thân thiết và tự nguyện, ngời ta lần lợt thay nhau nấunớc gọi chè Những ngời đàn bà Nghệ tảo tần lam lũ đến lợt nhà mình gọi chèthờng cố gắng chẩn bị thật chu đáo Nồi nớc chè khi ấy trở thành tiêu chí để

đánh giá cái đảm đang khéo vén của chủ nhân Một niềm tự hào lặng lẽ, âmthầm mà mãnh liệt Bao nhiêu cuộc tình duyên đứt nối, bao nhiêu hạnh phúclẫn đắng cay, bao nhiêu ngọt bùi và xa xót từ những đêm gọi chè nh thế Dờng

nh chỉ đến khi tóc ngả màu mây ngời ta mới cảm nhận hết đợc Tục gọi chè ởNghệ An trở thành sợi dây gắn kết của nghĩa xóm tình làng, biểu hiện sinh

động cho tình đoàn kết , gắn bó của mảnh đất Nghệ An này mà không phải ở

đâu cũng có.Sau này, ngời Nghệ An còn có một tập tục là thành lập rất nhiềuhội nh hội hát phờng vải, hội cấy, hội cày, hội giáo chức Đó chính là nhữngbiểu hiện sinh động của tính cố kết cộng đồng Đặc trng truyền thống ấy vẫn

đợc lớp con cháu Nghệ An sau này lu giữ và khi xa quê thì sẽ mãi nhớ về :

“Bao nghĩa tình đừng nhạt, đừng phai, tra nắng hè gọi nhau râm ran chè xanh”(Ca dao em và tôi- An Thuyên)

Kết luận chơng I

Truyền thống là những yếu tố văn hoá, phong tục tập quán đợc truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác nên bao giờ nó cũng có tính kế thừa, không bấtbiến Trong quá trình phát triển của mình, các thế hệ sau bao giờ cũng chắtlọc những tinh hoa của truyền thống, phát triển những yếu tố tích cực, phù hợp

Trang 33

với thế hệ mình, thời đại mình Cùng lúc, họ cũng luôn có ý thức đấu tranh vớinhững quan niệm cũ, lỗi thời, lạc hậu Vậy nên, trong công tác giảng dạy, giáodục truyền thống cho thế hệ trẻ, việc xác định đợc những giá trị truyền thốngtốt đẹp nào của địa phơng cần đợc phát huy và những truyền thống nào cần

đấu tranh loại bỏ là việc làm rất cần thiết Nó đóng vai trò rất lớn trong thànhcông của việc nâng cao chất lợng giảng dạy, giáo dục truyền thống cho họcsinh trong trờng THPT Chỉ khi các em có nhận thức đúng đắn về mặt tích cực

và những hạn chế cần loại bỏ trong bản thân các giá trị truyền thống ở địa ph

-ơng các em mới có những ứng xử phù hợp mà không đi chệch hớng Mọi t ởng kế thừa nguyên mẫu hoặc phủ định hết thảy đều hết sức sai lầm trongcông tác giáo dục Vì vậy, nhiệm vụ của những ngời làm công tác giáo dục làphải tìm ra đợc những giá trị truyền thống tốt đẹp mang đặc trng của từng địaphơng nhng cùng lúc phải giúp cho học sinh nhận thấy những mặt trái của nó.Làm đợc điều đó, học sinh sẽ nhận thức sâu sắc rằng, tìm hiểu về các giá trịcủa truyền thống dân tộc nói chung, truyền thống địa phơng nói riêng khôngchỉ là tìm hiểu về những gì đã trải qua trong quá khứ mà nó còn là bài họctrong hiện tại Chắc chắn, khi đã nhận thấy sự thiết thực trong giáo dục truyềnthống, các em sẽ không còn thờ ơ, quay lng với những giá trị truyền thống màcha ông ta đã hình thành, hun đúc qua mấy ngàn năm dựng nớc và giữ nớc

Trang 35

t-Chơng 2 Một số phơng pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc trong

giảng dạy môn GDCD ở trờng THPT 2.1 Xác định những bài học trong chơng trình môn giáo dục công dân ở trờng THPT có nội dung giáo dục truyền thống hoặc có thể lồng ghép nội dung giáo dục giá trị truyền thống

Cần phải khẳng định rằng, giáo dục các giá trị truyền thống tốt đẹp của

dân tộc không phải trách nhiệm riêng của môn giáo dục công dân, lại càngkhông thể một mình giáo dục trong nhà trờng là có thể đảm nhận đợc Nhngcũng cần phải định rằng, môn giáo dục công dân có vị trí riêng, có tính đặcthù và có vai trò rất lớn trong việc giáo dục các giá trị truyền thống của dântộc Điều đó phản ánh trớc hết ở chơng trình giảng dạy chính khoá cho họcsinh cấp trung học phổ thông Sau đây là những bài học mà theo chúng tôi xác

định có kiến thức liên quan đến giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc:

2.1.1 Chơng trình GDCD lớp 10.

Bài 11: Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học

Bài này học sinh được học những khỏi niệm, phạm trự đạo đức như: Lươngtõm, nhõn phẩm, danh dự Đõy là những khỏi niệm rất gần gũi với cỏc em vàkhụng khú về mặt tri thức khoa học Cỏi khú nhất khi giảng dạy bài này làlàm sao để thuyết phục được người học biến tri thức khoa học thành niềm tin

và hành động theo niềm tin đú

Trong bài này chỳng ta cú thể tớch hợp cỏc giỏ trị truyền thống của dõntộc ở từng phần để thụng qua đú khẳng định những phạm trự đạo đức nhưlương tõm, nhõn phẩm, danh dự là những phẩm chất tốt đẹp của dõn tộc đóđược ụng cha ta gỡn giữ từ ngàn đời nay Giỏo viờn cú thể vận dụng phươngphỏp thuyết trỡnh theo kiểu thuật truyện để lồng ghộp vào bài giảng truyềnthống yờu nước của dõn tộc Việt Nam Vớ dụ, khi giảng dạy khỏi niệm lươngtõm cú thể kể đến tấm gương của Tụ Hiến Thành, một tấm gương sỏng về sựthanh liờm, vượt qua những cỏm dỗ về vật chất tầm thường, vượt qua uyquyền của hoàng hậu để cuối cựng đưa thỏi tử Long Xưởng ra xột xử cụng

Trang 36

minh trước cụng lý trong vụ ỏn Thỏi tử Long Xưởng bức tử Cung nữ GiỏngHương, để lại cho hậu thể một tấm gương sỏng về chữ Tõm trong sạch củamỡnh Khi bị hoàng hậu dụ dỗ “ bỏ qua ” vụ ỏn này với lời thuyết phục: việclàm này khụng ai biết ụng đó khảng khỏi trả lời: Sao lại khụng ai biết, cú trờibiết, đất biết, tụi biết, hoàng hậu biết Phỏi chăng đú chớnh là minh chứng choviệc giữ lương tõm trong sạch?

Khi giảng khỏi niệm trọng danh dự, giỏo viờn cũng cú thể lồng ghộp giỏo dụclũng yờu nước bằng cõu chuyện kể về tấm lũng yờu nước của Trần BỡnhTrọng, khi bị giặc bắt và khuyờn hàng với rất nhiều bổng lộc ụng đó khảngkhỏi trả lời: “ Ta thà làm quỷ nước Nam cũn hơn làm Vương đất Bắc Khi naũnước Nam hết cỏ mới hết người Nam đỏnh giặc” Từ sự phõn tớch và dẫnchứng của giỏo viờn, học sinh cú thể rỳt ra khỏi niệm danh dự là gỡ và thấyđược đú là những phạm trự đạo đức đó được hỡnh thành và minh chứng quahàng năm lịch sử

Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình

Trong bài này, học sinh sẽ được học cỏc khỏi niệm: tỡnh yờu, hụn nhõn,gia đỡnh Vỡ vậy, chỳng ta cú thể vận dụng truyền thống yờu thương conngười để tớch hợp giảng dạy bài này Như trong phần cơ sở lý luận đó trỡnhbày, truyền thống yờu thương con người là một trong những truyền thống tốtđẹp của dõn tộc ta Truyền thống ấy bắt nguồn từ quan niệm coi con ngườivốn quý nhất: “Người ta là hoa của đất” Yờu thương con người khụng phải làmột phạm trự chung chung mà nú thể hịờn trước hết ở tỡnh yờu đối với anh chị

em trong gia đỡnh, ở tỡnh yờu thương giữa cha mẹ với con cỏi, giữa vợ chồngvới nhau sau đú mới mở rộng ra thành tỡnh yờu đối với làng xúm, quờ hương,giống nũi dõn tộc

Giỏo viờn cũng cần hướng học sinh đến việc phờ phỏn thỏi độ sống khụng

cú trước cú sau, khụng chung thuỷ, bạc tỡnh bạc nghĩa Để bài dạy thờm sinh

Trang 37

động, giỏo viờn cú thể kể cõu chuyện về chàng Cụ Dắc ở phần kết luận để họcsinh phờ phỏn và rỳt ra bài học ứng xử trong quan hệ tỡnh yờu- hụn nhõn- giađỡnh Tắt cả những điều đó đều đợc luận văn trình bày trong phần truyềnthống yêu thơng con ngời của dân tộc ta.

Bài13: Công dân với cộng đồng

Trong bài này, học sinh cần nắm được vai trũ của cộng đồng đối với đời sốngcủa con người, trỏch nhiệm của cụng dõn với cộng đồng Muốn hoà nhậptrong cộng đồng, cụng dõn phải cú nghĩa vụ tuõn thủ những chuẩn mực đạođức chung đú là nhõn nghĩa, hoà nhập, hợp tỏc Như vậy, kiến thức của bàinày cú liờn quan chặt chẽ tới truyền thống đoàn cố kết làng xó, yờu thươngđựm bọc lẫn nhau:” cộng cư, cộng sinh, cộng cảm” của dõn tộc Việt Nam núichung và mảnh đất Nghệ An núi riờng Luận văn đó trỡnh bày rừ cơ sở hỡnhthành của truyền thống đoàn kết, những biểu hiện của tinh thần đoàn kết củadõn tộc và cả những mặt tiờu cực của giỏ trị truyền thống này ở Nghệ An.Thiết nghĩ, đú là một trong những tư liệu để giỏo viờn cú thể tham khảo khigiảng dạy bài :Cụng dõn với cộng đồng

Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

Kiến thức của bài 14 có liên quan chặt chẽ đến truyền thống yêu nớc

Ch-ơng 1 đã trình bày truyền thống yêu nớc của dân tộc Viêt Nam và truyềnthống yêu nớc của mảnh đất Nghệ An nói riêng.Trong đó, truyền thống yêu n-

ớc ở mảnh đất Nghệ An có những nét đặc thù riêng đó là yêu nớc nhng ngờiNghệ thờng đi đầu trong các cuộc đấu tranh, mảnh đất này xuất hiện nhiềulãnh tụ trong các phong trào Giáo viên có thể vận dụng truyền thống yêu nớc

và các tấm gơng tiêu biểu để làm cho bài giảng tăng thêm sức thuyết phục.Giáo viên cũng cần chỉ rõ trách nhiệm của công dân đối với Tổ quốc tronggiai đoạn hiện nay ở phần thiết kế giáo án thực nghiệm chúng tôi đã có giáo

án bài 14 này

2.1.2 Chơng trình GDCD Lớp 11.

Bài 8: Chủ nghĩa xã hội

Bài 9: Nhà nớc xã hội chủ nghĩa

Bài 10: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Trang 38

Để giảng dạy tốt những bài này, tuỳ trình độ nhận thức của học sinh, điềukiện lịch sử cụ thể của mỗi địa phơng và thế mạnh của từng giáo viên mà vậndụng truyền thống yêu nớc để làm phong phú và tăng sức thuyết phục của bàigiảng Qua đó, học sinh sẽ nhận thức đợc để có sự nghiệp xây dựng xã hộichủ nghĩa nh ngày nay, lịch sử dân tộc ta đã trải qua một quá trình đấu tranhgiữ nớc lâu dài, gian khổ nh thế nào, ở địa bàn các em đang sống có nhữngtấm gơng yêu nớc nào từ đó giáo dục các em biết quí trọng những gì mà các

em đang có và cũng có trách nhiệm nối tiếp tinh thần yêu nớc của cha ông tatrong giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội

Bài 13: Chính sách giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ , văn hóa Trong bài này, giáo viên có thể tích hợp, vận dụng truyền thống lao động cần cù để một mặt chỉ ra đợc cho học sinh thấy tất cả những thành quả xây dựng đất nớc hiện có hôm nay đều nhờ truyền thống lao động cần cù của cha

ông ta tạo nên Vì vậy, để có thể thực hiện tốt chính sách giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ của Đảng, bản thân mỗi học sinh phải có tinh thần lao

động khoa học cần cù, nghiêm túc Mặt khác, chúng ta cũng chỉ ra đợc những hạn chế trong truyền thống này, ví nh t tởng coi trọng lao động chân tay hơn trí óc, coi rẻ nghề buôn…dẫn đến kinh tế chậm hội nhập, kém phát triển.Từ

đó học sinh thấy rõ hơn vai trò của mình trong việc tiếp thu khoa học và công nghệ

Đối với chính sách văn hoá, giáo viên có thể vận dụng , khai thác truyền thống yêu nớc dới góc độ nhân dân ta đã lấy văn hoá dân tộc để ứng xử với kẻthù Và nét độc đáo nhất trong nghệ thuật giữ nớc của dân tộc ta là dùng sứ mạng văn hoá để tấn công kẻ thù nhng cũng tiếp thu, vận dụng chính nền văn hoá mà kẻ thù đang muốn đồng hó để làm giàu thêm truyền thống của dân tộc

ta Những sự tích hợp nh vậy sẽ gây hứng thú hơn cho ngời học và hoàn thành

đợc nhiệm vụ giáo dục truyền thống, một nhiệm vụ có tính chất đặc thù của môn Giáo dục công dân

Bài 14: Chính sách quốc phòng, an ninh

Bài 14 là bài học mà giáo viên có thể vận dụng truyền thống yêu nớc tronggiảng dạy nhng dới góc độ chỉ rõ mối quan hệ giữa dựng nớc gắn liền với giữnớc Để tăng thêm sức hấp dẫn cho bài học, giáo viên có thể trình chiếu hình

ảnh đền Cuông, nằm dới chân núi Mộ Dạ của huyện Diễn Châu và kể về sựtích đền Cuông với câu chuyên tình Mị Châu- Trọng Thuỷ từ đó rút ra vai trò

Trang 39

của quốc phòng và an ninh cũng nh trách nhiệm của thanh niên trong việcthực hiện tốt chính sách quốc phòng và an ninh của Đảng.

2.1.3 Chơng trình GDCD lớp 12.

Bài 1: Pháp luật và đời sống

Bài pháp luật và đời sống của chơng trình lớp 12 chủ yếu đề cập đến mối quan

hệ của pháp luật với đời sống Tuy nhiên, để làm phong phú thêm bài giảng và

sự hứng thú của học sinh đối với bài học, giáo viên phải có những ví dụ cụ thể

về mối quan hệ này để tăng thêm sức thuyết phục đối với học sinh Việc lựachọn những ví dụ ấy nh thế nào phải đáp ứng đợc yêu cầu vừa tiêu biểu vừa

đạt đến tính giáo dục Vì vậy, giáo viên có thể lấy những ví dụ về các giá trị

đạo đức đã đợc nhân dân ta thừa nhận, tự giác thực hiện trong cuộc sống vàsau này đã đợc nâng lên thành những chuẩn mực, những quy định của phápluật Ví dụ nguyên tắc: “ Thuận mua vừa bán” , nguyên tắc ứng xử lấy chữ “tín” làm trọng đợc nâng lên và thể hiện rõ trong luật kinh doanh…

Bài 3: Công dân bình đẳng trớc pháp luật

Trong bài này, giáo viên cũng có thể vận dụng để tích hợp việc giảng dạy cácgiá trị truyền thống đạo đức của dân tộc thông qua phơng pháp thuyết trìnhtheo kiểu thuật truyện Những câu chuyện đợc lựa chọn để tích hợp hớng đếnviệc minh hoạ cho ý thức tôn trọng pháp luật và t tởng : “ Quân pháp bất vịthân” mà nhân dân ta đã có ý thức tôn trọng và giữ gìn Điều đó càng thể hện

rõ nét hơn ở tầng lớp quan lại phong kiến thanh liêm, vì nớc mà trong bất kỳgiai đoạn lịch sử nào của đất nớc ta cũng đều có thể tìm thấy

Thông qua sự tích hợp ấy, học sinh tự rút ra ý thức trách nhiệm củacông dân trong việc chấp hành pháp luật và cũng đợc bồi đắp thêm tình yêu,lòng tự hào đối với các giá trị truyền thống của dân tộc ta hoặc truyền thốngtốt đẹp của địa phơng nơi các em c trú

2.1.4 Chơng trình ngoại khoá

Nội dung giáo dục các giá trị truyền thống tiến hành trong các buổingoại khoá theo chủ đề tháng

Trong năm học 2009-2010, ở cấp trung học phổ thông chơng trình hoạt

động ngoại khoá theo chủ đề tháng đợc Bộ giáo dục và đào tạo quy định nhsau:

Tháng 9, chủ đề hoạt động: Thanh niên học tập và rèn luyện vì ngàymai lập nghiệp

Trang 40

Tháng 10, chủ đề hoạt động: Thanh niên với tình bạn, tình yêu và gia

Tháng 2, chủ đề hoạt động: Thanh niên với lý tởng cách mạng

Tháng 3, chủ đề hoạt động: Thanh niên với vấn đề lập nghiệp

Tháng 4, chủ đề hoạt động: Thanh niên với hoà bình, hữu nghị và hợptác

Tháng 5, chủ đề hoạt động là Thanh niên với Bác Hồ

Thời gian hè, chủ đề hoạt động là mùa hè tình nguyện vì cuộc sốngcộng đồng

Nh vậy, có thể thấy rất rõ, trong các chủ đề hoạt động ngoại khoá bậcTHPT, ở tất cả các chủ đề đều có nội dung liên quan đến giáo dục truyềnthống cho thế hệ trẻ Hoạt động ngoại khoá có thể tổ chức với nhiều hình thứcphong phú, với lợng thời gian thoải mái hơn học tập chính khoá chính là một

u thế để giáo viên tận dụng tổ chức giáo dục truyền thống một cách có hiệuquả nhất

2.2 Một số phơng pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc trong giảng dạy môn GDCD ở trờng THPT.

2.2.1 Một số phơng pháp dạy học tích cực có thể vận dụng để nâng cao chất lợng giảng dạy các giá trị truyền thống của dân tộc.

Mục tiêu giáo dục thờng có hai nội dung: Mục tiêu số lợng và mục tiêuchất lợng Mục tiêu số lợng nhằm nâng cao dân trí, phổ cập giáo dục, pháttriển lực lợng lao động đợc đào tạo nhằm phục vụ cho các kế hoạch phát triển

kinh tế - xã hội Mục tiêu chất lợng nhằm đào tạo hình thành phát triển nhân

cách lao động theo tinh thần nhân văn, tinh thần đạo đức truyền thống dân tộc,năng lực hành động, kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội của đất nớc Trong quan hệ hữu cơ, cân đối giữa mục tiêu số lợng vàmục tiêu chất lợng thì mục tiêu chất lợng có ý nghĩa rất quan trọng vì xét đếncùng, chất lợng nhân cách lao động đợc đào tạo từ các nhà trờng trực tiếp hoặc

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Nhã Bản (Chủ biên, 2001), Bản sắc văn hoá của ngời Nghệ Tĩnh , Nxb Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá của ngời Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
3. Nguyễn Lơng Bằng, Một số vấn đề đặt ra đối với môn Giáo dục Chính trị từ thực tiễn dạy học bộ môn ở Nghệ An, Tạp chí Giáo dục (sè 66) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra đối với môn Giáo dục Chính trị từ thực tiễn dạy học bộ môn ở Nghệ An
4. Mai Văn Bính (tổng chủ biên), SGK - GDCD 10, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK - GDCD 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Phùng Văn Bộ (Chủ biên, 2001), Một số vấn đề về phơng pháp giảng dạy và nghiên cứu triết học, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phơng pháp giảng dạy và nghiên cứu triết học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
6. Phan Huy Chú (1997), Hoàng Việt d địa chí, Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt d địa chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1997
7. Nguyễn Nghĩa Dân (2001), Đổi mới phơng pháp dạy học môn Đạo đức và Giáo dục công dân, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phơng pháp dạy học môn Đạo "đức và Giáo dục công dân
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
8. Đoàn Minh Duệ (2005), Tri thức Nghệ An trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức Nghệ An trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Đoàn Minh Duệ
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
9. Đoàn Minh Duệ (Chủ biên, 2005), Những giải pháp nhằm nâng cao chất lợng giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên tỉnh Nghệ An, Nxb Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ biên, 2005), Những giải pháp nhằm nâng cao chất lợng giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên tỉnh Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị BCH TW lần thứ V (khoá VIII), Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị BCH TW lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hớng trong công tác t tởng hiện nay (Tài liệu lu hành nội bộ), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hớng trong công tác t tởng hiện nay
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị CBH TW lần thứ IV(khoá VII), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị CBH TW lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1999
13. Phạm Văn Đồng (2001), Văn hoá và đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
14. Ninh Viết Giao (1999), Kho tàng hò vè xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng hò vè xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1999
15. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1980
16. Chu Trọng Huyến (2005), Đất Nghệ đôi điều nên biết, Nxb Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Nghệ đôi điều nên biết
Tác giả: Chu Trọng Huyến
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
17. Vũ Khiêu (Chủ biên, 1974), Đạo đức mới, Nxb Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức mới
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
18. Mã Giang Lân (2003), Tục ngữ, ca dao Việt Nam, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, ca dao Việt Nam
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
20. Hoàng Xuân Lơng (2004), Ngời Khơmú ở Nghệ An, Nxb Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời Khơmú ở Nghệ An
Tác giả: Hoàng Xuân Lơng
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2004
21. Hoàng Phê (chủ biên, 2000), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
22. Nguyễn Hồng Phong (1963), Tìm hiểu tính cách dân tộc, Nxb Khoa học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tính cách dân tộc
Tác giả: Nguyễn Hồng Phong
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1963

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w