1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ

51 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I. CỞ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG (6)
    • 1. Tổng quan về tăng trưởng kinh tế (6)
      • 1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế (6)
      • 1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế (6)
    • 2. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế (7)
      • 2.1. Lý thuyết cổ điển của Smith và Malthus (7)
      • 2.2. Lý thuyết tăng trưởng của trường phái Keynes (9)
      • 2.3. Lý thuyết tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế (9)
    • 3. Ưu điểm và hạn chế của tăng trưởng kinh tế (11)
    • 4. Cơ sở lý luận về những ảnh hưởng của các nhân tố đã chọn đến tăng trưởng (12)
      • 4.1. Đầu tư tư nhân trong nước (12)
      • 4.2. Tiết kiệm (15)
      • 4.3. Chi tiêu chính phủ (16)
      • 4.4. Giá trị xuất khẩu (17)
      • 4.5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) (19)
    • 5. Các nghiên cứu có liên quan (20)
      • 5.1. Khái quát nền kinh tế Hoa Kỳ (20)
      • 5.2. Chiến lược cho tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ (21)
      • 5.3. Đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Vai trò của chính phủ (22)
    • 6. Lỗ hổng trong các nghiên cứu kể trên (22)
  • CHƯƠNG II. XÂY DỰNG MÔ HÌNH ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHỈ TIÊU VĨ MÔ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HOA KỲ (24)
    • 1. Phương pháp luận của nghiên cứu (24)
    • 2. Xây dựng mô hình lý thuyết (25)
      • 2.1. Mô hình hồi quy tổng quát (25)
      • 2.2. Giải thích các biến (25)
    • 3. Mô tả số liệu của mô hình (26)
      • 3.1. Nguồn số liệu đã sử dụng (26)
      • 3.2. Mô tả thống kê (26)
      • 3.3. Ma trận tương quan giữa các biến (27)
  • CHƯƠNG III. ƯỚC LƯỢNG, KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH, SUY DIỄN THỐNG KÊ VÀ ĐỀ RA MỘT SỐ GIẢI PHÁP (29)
    • 1. Mô hình ước lượng (29)
      • 1.1. Bảng kết quả (29)
    • 2. Phân tích kết quả (29)
    • 3. Ý nghĩa của các hệ số hồi quy riêng phần (30)
    • 4. Kiểm định và khắc phục các khuyết tật của mô hình (31)
      • 4.1. Kiểm định các biến bị bỏ sót (31)
      • 4.2. Kiểm định đa cộng tuyến (32)
      • 4.3. Kiểm định phương sai sai số thay đổi (34)
      • 4.4. Kiểm định tự tương quan (36)
      • 4.5. Kiểm định phân phối chuẩn của sai số ngẫu nhiên (38)
    • 5. Kiểm định giả thiết (39)
      • 5.1. Kiểm định hệ số hồi quy (39)
      • 5.2. Kiểm định sự phù hợp của mô hình (40)
    • 6. Ước lượng khoảng tin cậy và giải thích (41)
    • 7. Giải pháp (42)
  • KẾT LUẬN (46)

Nội dung

CỞ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG

Tổng quan về tăng trưởng kinh tế

1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một khoảng thời gian nhất định.

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị tiền tệ của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.

Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) là giá trị tiền tệ của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất bởi công dân của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.

Tổng sản phẩm bình quân đầu người bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chia cho dân số

1.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn

Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kì cần so sánh

Tốc độ tăng trưởng kinh tế theo GDP được tính theo công thức: g = 𝐺𝐷𝑃 𝑡ℎự𝑐 𝑛ă𝑚 𝑡ℎứ 𝑖−𝐺𝐷𝑃 𝑡ℎự𝑐 𝑛ă𝑚 𝑡ℎứ 𝑖−1

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (g) là chỉ số tương đối được tính theo phần trăm (%), trong khi GDP là số tuyệt đối có đơn vị tính, chẳng hạn như USD.

GDP thực là GDP thực tế được tính bằng công thức:

Vì mỗi năm mức độ lạm phát sẽ là khác nhau nên cần chia cho chỉ số giá để tính đúng GDP thực

Quy mô nền kinh tế được đo lường thông qua tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc gia (GNP) và thu nhập bình quân đầu người Những chỉ số này phản ánh sức mạnh và sự phát triển của nền kinh tế, giúp đánh giá mức sống và chất lượng cuộc sống của người dân.

Khi đo lường quy mô kinh tế bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, ta sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) danh nghĩa Ngược lại, nếu sử dụng GDP (hay GNP) thực tế, tốc độ tăng trưởng sẽ được tính theo cách thực tế Thông thường, các chỉ tiêu thực tế được ưa chuộng hơn so với các chỉ tiêu danh nghĩa trong việc đánh giá tăng trưởng kinh tế.

Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế

2.1 Lý thuyết cổ điển của Smith và Malthus

Các nhà kinh tế cổ điển như Adam Smith và Malthus cho rằng đất đai đóng vai trò quyết định trong tăng trưởng kinh tế

Trong cuốn "Của cải của các dân tộc" (1776), Adam Smith phân tích giai đoạn mà đất đai được phân phát tự do cho nông dân, và khi dân số gia tăng, diện tích đất đai cũng được mở rộng Trong bối cảnh không có yếu tố tư bản, mức tăng trưởng sản lượng tương đương với mức tăng trưởng dân số Tiền lương thực tế được xác định dựa trên tổng thu nhập quốc dân, do không có địa tô và lãi suất trên vốn Vì vậy, tiền lương thực tế tính theo sản lượng đầu người sẽ không thay đổi theo thời gian, được gọi là thời kỳ vàng son.

Nhà dân số học Malthus nhấn mạnh rằng giai đoạn đất đai có khả năng đáp ứng nhu cầu tăng dân số sẽ không kéo dài mãi Trong cuốn sách nổi tiếng "Bàn về nguyên lý dân số", ông đã trình bày lý thuyết của mình về tác động của dân số đối với sự tiến bộ của xã hội trong tương lai.

Lý thuyết dự báo nền kinh tế sẽ đạt tới một mức sống vừa đủ để duy trì sự sống và không còn tăng trưởng nữa

- Nội dung của lí thuyết:

Năng suất nông nghiệp tăng khi diện tích đất nông nghiệp mở rộng con người có

“đam mê cố hữu” là sinh nhiều con do đó dẫn tới dân số sẽ được nhân lên với cấp số nhân

Khi khai thác hết diện tích đất đai, dân số tiếp tục tăng trong khi sản lượng lương thực thực phẩm tăng lên với cấp số cộng

Sự gia tăng dân số không ngừng sẽ gây ra nạn đói, dịch bệnh và xung đột để tranh giành lương thực, dẫn đến sự suy giảm dân số Hệ quả là mức sống và thu nhập bình quân đầu người sẽ chỉ duy trì ở mức đủ sống, trong khi nền kinh tế sẽ không còn khả năng tăng trưởng.

Trong hai thế kỷ qua, dân số đã tăng gấp 6 lần và mức sống trung bình cũng được cải thiện đáng kể Sai lầm của Malthus nằm ở việc ông không nhận ra sự tiến bộ công nghệ và khả năng sáng tạo vô hạn của con người.

2.2 Lý thuyết tăng trưởng của trường phái Keynes

Lý thuyết trọng cầu của Keynes nhấn mạnh rằng đầu tư là yếu tố quyết định trong việc gia tăng cầu, từ đó ảnh hưởng đến quy mô việc làm và sản lượng Ông khuyến khích chính phủ tăng cường đầu tư để kích thích tổng cầu, qua đó thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.

Vào những năm 1940, nhà nghiên cứu người Anh Harrod và nhà nghiên cứu người Mỹ Domar đã độc lập phát triển mô hình tăng trưởng kinh tế tương tự nhau, được gọi là mô hình Harrod – Domar Mô hình này lượng hóa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu về vốn, nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Mô hình Harrod-Domar khẳng định rằng tất cả các yếu tố đầu ra của một đơn vị kinh tế đều phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư Mức tăng trưởng đầu ra tỷ lệ thuận với đầu tư thông qua một hệ số không đổi được gọi là ICOR (Tỷ lệ vốn đầu ra gia tăng).

Mô hình tăng trưởng của trường phái Keynes chỉ ra rằng nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là từ việc tích lũy tư bản, với sự tương tác giữa tiết kiệm và đầu tư đóng vai trò quan trọng Càng có nhiều đầu tư, mức độ tăng trưởng kinh tế càng cao Mô hình này nhấn mạnh vai trò then chốt của đầu tư như một nguồn lực thiết yếu cho sự phát triển kinh tế.

Mô hình Harrod-Domar có những hạn chế nhất định, bao gồm việc hệ số ICOR không phải là con số cố định theo thời gian và mối quan hệ giữa tăng trưởng và đầu tư không phải luôn tuyến tính Đầu tư nhiều nhưng không hiệu quả vẫn có thể không mang lại tăng trưởng Hơn nữa, mô hình này không xem xét vai trò của vốn nhân lực và hoàn toàn bỏ qua tiến bộ công nghệ.

2.3 Lý thuyết tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế

Mô hình tăng trưởng tân cổ điển, được phát triển dựa trên nghiên cứu của giáo sư Solow và giáo sư Swan vào năm 1956, thường được gọi là Mô hình Solow–Swan Mặc dù cả hai giáo sư đều có đóng góp quan trọng, nhưng do Solow công bố nghiên cứu sớm hơn, ông thường được xem là nhà tiên phong trong lĩnh vực này, dẫn đến việc tên tuổi của ông được nhắc đến nhiều hơn so với Swan.

Trong mô hình tăng trưởng của Solow, sự tương tác giữa tích lũy tư bản, lực lượng lao động và tiến bộ công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định sản lượng Solow đã sử dụng hàm sản xuất để phân tích tăng trưởng, trong đó ông đưa ra một hàm sản xuất thuần ổn định với các giả định cụ thể.

- Hiệu suất không đổi theo quy mô;

Mức lao động và sự thay đổi công nghệ được xác định bởi các lực lượng bên ngoài của nền kinh tế, không bị ảnh hưởng bởi các biến động kinh tế.

- Nền kinh tế là cạnh tranh và luôn ở trạng thái toàn dụng nhân công

Các nhà kinh tế học tân cổ điển nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích lũy tư bản, đặc biệt là tăng cường tư bản theo chiều sâu Quá trình này dẫn đến sự gia tăng lượng tư bản bình quân trên mỗi công nhân theo thời gian Khi số tư bản mà công nhân sở hữu tăng lên, sản lượng trung bình của họ cũng sẽ tăng Giả định các yếu tố khác không thay đổi, việc tăng cường tư bản theo chiều sâu không chỉ nâng cao sản lượng trên mỗi công nhân mà còn làm tăng sản phẩm biên của người lao động, từ đó làm giảm tỷ suất lợi tức của tư bản.

Trong mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển, trạng thái ổn định dài hạn là khi nền kinh tế đạt được sự cân bằng bền vững Ở trạng thái này, việc gia tăng tư bản theo chiều sâu sẽ dừng lại, tiền lương thực tế giữ nguyên, trong khi lợi tức của tư bản và lãi suất thực tế không có sự biến động.

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế tân cổ điển, đặc biệt là mô hình tăng trưởng Solow, đã chỉ ra vai trò quan trọng của tích lũy tư bản trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mô hình này giải thích tại sao các quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao hơn lại đạt được sản lượng và thu nhập cao hơn Đồng thời, nó cũng làm rõ nguyên nhân sự khác biệt trong tốc độ tăng trưởng giữa các quốc gia Tuy nhiên, mô hình này chỉ là bước khởi đầu cho nghiên cứu về tăng trưởng, vì nó đã đơn giản hóa nhiều khía cạnh của thực tế và bỏ qua một số yếu tố quan trọng Mặc dù đã chỉ ra rằng tiến bộ công nghệ là yếu tố quyết định cho tăng trưởng, nhưng mô hình chưa xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển công nghệ.

Ưu điểm và hạn chế của tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là yếu tố then chốt cho sự phát triển và phồn thịnh của mỗi quốc gia, giúp nâng cao cơ sở vật chất và cải thiện mức sống của người dân trong các lĩnh vực như giáo dục, sức khỏe và y tế Theo các chuyên gia như Robert Gordon và Paul Samuelson, tăng trưởng cao không chỉ tạo điều kiện cho chi tiêu quốc phòng mà còn gia tăng phúc lợi xã hội Hơn nữa, tăng trưởng kinh tế còn kích thích đổi mới, tạo động lực thúc đẩy sự năng động và hiệu quả trong kỹ thuật cũng như quản lý kinh tế, đồng thời khuyến khích tư duy sáng tạo và đổi mới trong xã hội.

Tăng trưởng cũng có mặt trái như: đe dọa về ô nhiễm môi trường Vào những năm

Vào năm 1970, mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã bị chỉ trích vì liên quan đến sự mở rộng sản xuất và ô nhiễm môi trường, dẫn đến hủy hoại hệ sinh thái và cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, các tiến bộ khoa học và kỹ thuật hiện nay cho thấy rằng những lo ngại này có thể được khắc phục Các nhà khoa học đã đề xuất nhiều giải pháp để bảo vệ tầng ozon, đồng thời phát triển các nguồn năng lượng sạch như năng lượng gió và năng lượng mặt trời ngày càng mạnh mẽ hơn.

Cơ sở lý luận về những ảnh hưởng của các nhân tố đã chọn đến tăng trưởng

Dựa trên lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và các nghiên cứu trước đây, nhiều biến kinh tế vĩ mô như đất đai, tỉ lệ tiết kiệm, nguồn vốn đầu tư, tăng trưởng dân số, cung tiền và tỉ lệ thất nghiệp đều có tác động đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, do hạn chế trong việc thu thập thông tin, bài tiểu luận này sẽ phân tích năm yếu tố kinh tế vĩ mô chủ yếu ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, bao gồm: đầu tư tư nhân trong nước (I), tỉ lệ tiết kiệm (s), chi tiêu chính phủ (G), giá trị xuất khẩu (X) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

4.1 Đầu tư tư nhân trong nước

Đầu tư trong bối cảnh GDP khác biệt với khái niệm đầu tư chung Đầu tư ở đây được hiểu là việc mua sắm tư liệu lao động mới nhằm phục vụ sản xuất, tạo ra tư bản hiện vật và gia tăng tài sản quốc gia, như xây dựng nhà máy mới hoặc mua sắm công cụ mới Điều này không bao gồm việc sử dụng vốn để mua cổ phần, cổ phiếu hay mở tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng, như trong định nghĩa đầu tư trong kinh doanh.

Đầu tư và tích lũy vốn được coi là yếu tố quan trọng trong việc gia tăng năng lực sản xuất và cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế Các nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith đã nhấn mạnh rằng vốn đầu tư quyết định đến hiệu quả của lực lượng lao động Tăng cường quy mô vốn đầu tư không chỉ góp phần gia tăng sản lượng quốc gia mà còn nâng cao sản lượng bình quân mỗi lao động Trong thế kỷ XX, nhiều lý thuyết gia như Nurkse, Arthur Lewis và Hirschman đã khẳng định vai trò quan trọng của đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát triển quốc gia Đầu tư tác động mạnh mẽ đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế theo nhiều cách khác nhau Trong ngắn hạn, đầu tư tiêu thụ một lượng lớn hàng hóa và dịch vụ, đồng thời thúc đẩy sản xuất, tạo ra việc làm và tăng thu nhập, từ đó kích thích tiêu dùng.

Đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến tổng cầu trong ngắn hạn, với mối quan hệ tỷ lệ thuận Yếu tố đầu tư được xem là một trong những thành phần quan trọng của hàm tổng cầu.

Trong đó: Y: GDP; C: tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình; I: đầu tư; G: chi tiêu chính phủ; X: xuất khẩu; M: nhập khẩu

Khi đầu tư (I) tăng, GDP sẽ tăng theo một cách trực tiếp Theo lý thuyết của Keynes, sự gia tăng một đơn vị trong đầu tư sẽ dẫn đến sự tăng trưởng GDP nhiều hơn một đơn vị.

Mức độ ảnh hưởng của tổng cầu đến nền kinh tế phụ thuộc vào năng lực cung Nếu năng lực cung hạn chế, gia tăng tổng cầu sẽ chỉ làm tăng giá mà không làm tăng sản lượng thực tế Ngược lại, khi năng lực sản xuất dồi dào, tổng cầu tăng sẽ thúc đẩy sản lượng Theo lý thuyết của Keynes, đầu tư có tác động lâu dài đến tổng cung thông qua việc cải thiện các yếu tố kinh tế nền tảng như tài nguyên thiên nhiên, tích lũy tư bản, vốn nhân lực và tiến bộ công nghệ Đầu tư yêu cầu nguồn lực lớn và cần thời gian để phát huy tác dụng, nhưng khi thành quả đầu tư xuất hiện, sản lượng kinh tế sẽ tăng lên, từ đó làm tăng đường tổng cung dài hạn.

Mô hình Harrod-Domar, được phát triển vào năm 1940 bởi hai nhà kinh tế học Roy F Harrod và Evsey Domar, nhấn mạnh vai trò quan trọng của vốn trong tăng trưởng kinh tế Dựa trên tư tưởng của Keynes, mô hình này lượng hóa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu về vốn, cho thấy rằng đầu tư là yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Mức tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào sự gia tăng của vốn đầu tư thuần Hệ số gia tăng giữa vốn và sản lượng, được gọi là ICOR (Incremental Capital-Output Ratio), thể hiện mối quan hệ này, trong đó g = 𝑌.

Trong đó: ΔY: mức gia tăng sản lượng ΔK : mức gia tăng vốn đầu tư

K : tổng quy mô vốn của nền kinh tế

Y : tổng sản lượng của nền kinh tế

Mô hình Harrod-Domar cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tỉ lệ tiết kiệm và hệ số ICOR

Xét nền kinh tế không có sự tham gia của chính phủ:

Trong đó: S: tiết kiệm s: tỉ lệ tiết kiệm của nền kinh tế

Khi đầu tư sẽ làm lượng vốn sản xuất (K) tăng lên, qua đó làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế: I = ΔK

Tốc độ tăng trưởng: gt = 𝑌

Như vậy, để có tăng trưởng kinh tế, các nước phải tiết kiệm và đầu tư một phần thu nhập của mình

Chi tiêu chính phủ (G) đại diện cho khoản chi tiêu của chính phủ cho các hàng hóa và dịch vụ, bao gồm các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương Những khoản chi này bao gồm ngân sách cho quốc phòng, luật pháp, và xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, trường học, bệnh viện và chiếu sáng đường phố.

Lý thuyết kinh tế không luôn chỉ rõ tác động của chi tiêu chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế, nhưng hầu hết các nhà kinh tế đồng ý rằng trong một số trường hợp, cắt giảm chi tiêu chính phủ có thể thúc đẩy tăng trưởng, trong khi ở những trường hợp khác, tăng chi tiêu chính phủ lại có lợi Nghiên cứu cho thấy rằng nếu chi tiêu chính phủ bằng không, tăng trưởng kinh tế sẽ rất thấp, vì việc thực hiện hợp đồng kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và phát triển cơ sở hạ tầng sẽ gặp khó khăn khi không có sự can thiệp của chính phủ Do đó, một số khoản chi tiêu của chính phủ là cần thiết để đảm bảo tăng trưởng kinh tế.

Chi tiêu chính phủ, khi vượt quá ngưỡng cần thiết, sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế do phân bổ nguồn lực không hiệu quả Đường cong Rahn, được xây dựng bởi nhà kinh tế Richard Rahn vào năm 1986, thể hiện mối quan hệ giữa quy mô chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế, cho thấy rằng tăng trưởng đạt tối đa khi chi tiêu chính phủ ở mức vừa phải Khi chi tiêu chính phủ vượt quá mức giới hạn này, nó sẽ gây hại cho tăng trưởng kinh tế.

Các nhà kinh tế, mặc dù có những bất đồng về con số cụ thể, nhưng đều đồng thuận rằng mức chi tiêu chính phủ tối ưu cho tăng trưởng kinh tế nằm trong khoảng từ 15% đến 25% GDP.

Xuất khẩu tác động đến tổng cầu

Kinh tế học Keynes nhấn mạnh rằng tăng tổng cầu hàng hóa và dịch vụ là yếu tố quyết định cho sự tăng trưởng kinh tế Gia tăng xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tổng cầu, dẫn đến việc tăng sản lượng Trong mô hình này, sự thay đổi trong xuất khẩu sẽ làm dịch chuyển tổng cầu, tạo ra ảnh hưởng khuếch đại đến sản lượng thông qua hiệu ứng số nhân, tương tự như tác động của đầu tư.

Mô hình lý thuyết mới về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế đã được phát triển từ quan điểm này Mô hình Keynes không chỉ áp dụng trong ngắn hạn mà còn có thể được sử dụng để phân tích các hiện tượng kinh tế trong dài hạn.

Trong đó: NX = X - M là xuất khẩu ròng; 𝐶

𝑁𝑋 là tốc độ tăng trưởng của các biến tương ứng; 𝐶

𝑌 là tỉ trọng tiêu dùng trong tổng thu nhập quốc dân

McCombie (1985) biến đổi mô hình theo một cách khác, thu được kết quả:

Trong mô hình này, các tỉ lệ tiêu dùng (ωC), đầu tư (ωI), chi tiêu chính phủ (ωG), xuất khẩu (ωX) và nhập khẩu (ωM) trên GDP được xác định rõ ràng Đặc biệt, sự gia tăng xuất khẩu sẽ ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế.

(X>0) sẽ làm tăng GDP ở mức 𝑋 𝑋

Các nghiên cứu có liên quan

5.1 Khái quát nền kinh tế Hoa Kỳ

Cuốn sách "Khái quát về nền kinh tế Mỹ" của Christopher Conte và Albert R Karr, xuất bản năm 2001, cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế vận hành và phát triển của nền kinh tế Mỹ Tác phẩm bắt đầu với một cái nhìn tổng quan về lịch sử phát triển kinh tế hiện đại và tiếp theo là phân tích các hình thái doanh nghiệp từ nhỏ đến lớn Chương về thị trường chứng khoán và tài chính làm nổi bật vai trò của chúng trong nền kinh tế, trong khi các chương tiếp theo khám phá sự can thiệp của chính phủ trong việc định hình và điều tiết doanh nghiệp cũng như quản lý hoạt động kinh tế nhằm đạt được mục tiêu ổn định Cuốn sách cũng xem xét lĩnh vực nông nghiệp và vai trò thay đổi của lao động trong nền kinh tế Mỹ, kết thúc bằng việc mô tả sự phát triển các chính sách hiện tại.

Mỹ liên quan đến thương mại và hoạt động kinh tế quốc tế

5.2 Chiến lược cho tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ Đây là một chương trong cuốn sách Toàn cầu hóa công nghệ: Những viễn cảnh quốc tế (Tựa đề gốc: Globalization of Technology: International Perspectives) của Ralph Landau và Nathan Rosenberg xuất bản năm 1988

Nghiên cứu này phân tích tác động của sự thay đổi công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế, đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của tiến bộ công nghệ trong việc thúc đẩy sự phát triển tích cực của nền kinh tế Mỹ trong quá khứ và dự đoán xu hướng tương lai.

Nghiên cứu cho thấy tiến bộ công nghệ và tỉ lệ đầu tư có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế, với tỉ lệ đầu tư cao góp phần tăng năng suất lao động và dự báo mức lương tăng Hai yếu tố này hỗ trợ lẫn nhau, và thiếu một trong số chúng sẽ cản trở sự gia tăng năng suất Hiện tại, chính sách công chưa tạo ra môi trường ổn định, do đó cần chiến lược đảm bảo tính cạnh tranh và lợi ích xã hội từ tăng trưởng Mặc dù cạnh tranh không phải là yếu tố cốt lõi, nhưng nó vẫn là công cụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

5.3 Đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Vai trò của chính phủ Đây là nghiên cứu của Hội đồng cố vấn kinh tế Mỹ (CEA) với tựa đề gốc

"Supporting Research and Development to Promote Economic Growth: The Federal Government's Role"

Mỹ dẫn đầu thế giới về tổng lượng đầu tư cho R&D, nhưng xếp thứ hai về tỷ lệ đầu tư R&D trong GDP, chỉ sau Nhật Bản, mặc dù tỷ lệ này đang có xu hướng giảm R&D đóng vai trò quan trọng trong quy trình sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và tăng trưởng kinh tế Dữ liệu cho thấy tỷ lệ đầu tư cho R&D từ các ngành công nghiệp, trường đại học, cao đẳng và tổ chức phi lợi nhuận khá cao, nhưng vai trò quyết định vẫn thuộc về chính phủ.

Lỗ hổng trong các nghiên cứu kể trên

Các nghiên cứu đều nhấn mạnh mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và vai trò của chính phủ, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) Chi tiêu của chính phủ Mỹ dành cho R&D đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của đất nước, giúp Mỹ dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực khoa học công nghệ.

Các nghiên cứu hiện tại chưa xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các yếu tố kinh tế quan trọng khác như xuất khẩu, tổng vốn đầu tư, tổng tiết kiệm và chỉ số giá tiêu dùng CPI, mặc dù những yếu tố này có tác động đáng kể đến GDP.

Cuốn sách "Khái quát về nền kinh tế" của Christopher Conte và Albert R Karr cung cấp cái nhìn tổng quan về nền kinh tế Mỹ, bao gồm lịch sử phát triển và cơ chế vận hành Mặc dù tác giả phân tích số liệu cơ bản, nhưng nghiên cứu chưa đi sâu vào các vấn đề cụ thể Tác phẩm nhấn mạnh vai trò của chính phủ trong việc tác động đến nền kinh tế thông qua các chính sách và thuế, nhưng không áp dụng mô hình cụ thể nào, mà chỉ dựa trên đánh giá chủ quan của hai tác giả.

Nghiên cứu thứ hai "Chiến lược cho tăng trưởng kinh tế Mỹ" của Ralph Landau và Nathan Rosenberg, cùng với nghiên cứu thứ ba "Supporting Research and Development to Promote Economic Growth: The Federal Government's Role" của Hội đồng cố vấn kinh tế Mỹ, đều là những nghiên cứu nổi tiếng nhưng dữ liệu sử dụng đã cũ, chỉ tập trung vào giai đoạn 1961 – 2000 Kể từ năm 2000, nền kinh tế Mỹ đã trải qua nhiều biến động quan trọng như cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và các yếu tố chính trị, do đó, việc dựa vào số liệu từ những nghiên cứu này để phân tích tình hình hiện tại là không còn chính xác.

Bài tiểu luận này nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô như tổng đầu tư tư nhân trong nước, tổng tiết kiệm, tổng giá trị xuất khẩu, chỉ số giá tiêu dùng CPI và chi tiêu của chính phủ đến tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ từ năm 1960 đến 2000 Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan và chính xác hơn về các yếu tố tác động đến kinh tế so với những nghiên cứu trước đây.

XÂY DỰNG MÔ HÌNH ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHỈ TIÊU VĨ MÔ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HOA KỲ

Phương pháp luận của nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu:

Số liệu thu thập là thông tin thứ cấp dưới dạng chuỗi thời gian, phản ánh hoạt động của một đơn vị kinh tế qua nhiều thời điểm khác nhau, bắt đầu từ năm.

1960 – 2015) Số liệu được thu thập qua các trang thông tin chính thống tin cậy từ Internet Nguồn số liệu được ghi cụ thể ở mục Tài liệu tham khảo

Phương pháp xử lí số liệu:

Sử dụng phần mềm Excel để xử lý sơ lược số liệu (tính phần trăm, tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, giá trị trung bình)

Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu:

Sử dụng phần mềm Gretl để thực hiện hồi quy mô hình bằng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS) giúp ước lượng các tham số trong mô hình hồi quy đa biến Gretl cũng cho phép thực hiện các kiểm định khuyết tật có thể có trong mô hình đã được xây dựng một cách dễ dàng.

- Bỏ sót biến: sử dụng kiểm định RESET của Ramsey

- Đa cộng tuyến: xét phân tử phóng đại phương sai VIF nhận biết khuyết tật đa cộng tuyến

- Phương sai sai số thay đổi: sử dụng kiểm định White

- Tự tương quan: tiến hành kiểm định Breusch-Godfrey nhận biết khuyết tật tự tương quan

- Sai số ngẫu nhiên không có phân phối chuẩn: kiểm định bằng Jarque-Bera

Dùng kiểm định F nhận xét sự phù hợp của mô hình và kiểm định t để ước lượng khoảng tin cậy cho các tham số trong mô hình.

Xây dựng mô hình lý thuyết

2.1 Mô hình hồi quy tổng quát Để kiểm tra ảnh hưởng của các chỉ tiêu vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế Mỹ, tiểu luận vận dụng cơ sở lý thuyết và đề xuất dạng mô hình toán nghiên cứu như sau:

 Mô hình hồi quy tổng thể ngẫu nhiên:

(PRF) GDP = β1 + β2EXP + β3SAVING+ β4 INV + β5GOV + β6CPI + ui

 Mô hình hồi quy mẫu ngẫu nhiên:

Nội dung Đơn vị Dấu kì vọng

1 GDP Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người

2 EXP Tổng giá trị xuất khẩu % của

3 SAVING Tổng tiết kiệm trong nước % của

4 INV Tổng đầu tư tư nhân trong nước % của

5 GOV Chi tiêu chính phủ % của

6 CPI Chỉ số giá tiêu dùng dưới dạng chỉ số Chỉ số -

Bảng 2.2 Giải thích các biến

- Biến độc lập: EXP, SAVING, INV, GOV, CPI

Mô tả số liệu của mô hình

3.1 Nguồn số liệu đã sử dụng

Mẫu nghiên cứu của tiểu luận được thu thập từ năm 1960 đến 2015, với tổng cộng 56 mẫu quan sát dựa trên dữ liệu theo năm Thông tin chi tiết về bảng dữ liệu được trình bày trong bảng phụ lục 1 ở cuối bài tiểu luận.

Nguồn số liệu được thu thập tại các địa chỉ tin cậy sau:

Dữ liệu của ngân hàng thế giới: GDP bình quân đầu người, tiết kiệm, xuất khẩu, chi tiêu chính phủ, CPI

Tổng đầu tư tư nhân trong nước: Website của Federal Reverse Bank of St.Louis

Mô tả thống kê số liệu

Dữ liệu Lớn nhất Nhỏ nhất Trung bình

Bảng 3.2 Thống kê dữ liệu mô tả nghiên cứu

Nguồn: Tính toán bằng các hàm MIN, MAX, AVERAGE trong Excel, kết quả làm tròn đến 3 chữ số sau phần thập phân

3.3 Ma trận tương quan giữa các biến

Sử dụng phần mềm Gretl, chọn View -> Correlation Matrix ta được kết quả như sau:

Dựa vào ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập ở trên ta thấy:

Theo ma trận hệ số tương quan, xuất khẩu (EXP) và tiết kiệm (SAVING) có mối tương quan ngược chiều mạnh với hệ số r(EXP,SAVING) = -0,7622 Mối tương quan giữa xuất khẩu và đầu tư tư nhân (INV) là thấp với r(EXP,INV) = -0,0705 Ngược lại, chi tiêu chính phủ (GOV) và xuất khẩu có sự tương quan cùng chiều lớn với hệ số r(EXP,GOV) = 0,9163, cho thấy sự tồn tại của đa cộng tuyến Xuất khẩu và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có mối tương quan ngược chiều thấp với r(EXP,CPI) = -0,2185 Tiết kiệm và đầu tư tư nhân có mối tương quan cùng chiều thấp với r(SAVING,INV) = 0,3431, trong khi đầu tư tư nhân và chi tiêu chính phủ có mối tương quan ngược chiều thấp với r(INV,GOV) = -0,1514 Mối tương quan giữa tiết kiệm và chi tiêu chính phủ là ngược chiều khá lớn với r(SAVING,GOV) = -0,7749 Chỉ số giá tiêu dùng và tiết kiệm có mối tương quan cùng chiều thấp với r(SAVING,CPI) = 0,3987, và đầu tư tư nhân với chỉ số giá tiêu dùng cũng có mối tương quan cùng chiều thấp với r(INV,CPI) = 0,3477 Cuối cùng, chỉ số giá tiêu dùng và chi tiêu chính phủ có mối tương quan ngược chiều rất thấp với r(CPI,GOV) = -0,0071.

Mối tương quan mạnh mẽ giữa xuất khẩu và chi tiêu chính phủ được thể hiện qua hệ số tương quan 0,9163, cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa hai biến này Điều này có thể dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến khi thực hiện hồi quy.

ƯỚC LƯỢNG, KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH, SUY DIỄN THỐNG KÊ VÀ ĐỀ RA MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Mô hình ước lượng

Sử dụng phần mềm Gretl, hồi quy mô hình bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS, ta thu được kết quả như sau:

Hình 1.1 Kết quả mô hình hồi quy bằng phương pháp OLS

Phân tích kết quả

Từ kết quả ước lượng trên, ta thu được hàm hồi quy mẫu như sau:

Mô hình cho thấy rằng tổng giá trị xuất khẩu, tổng tiết kiệm trong nước, tổng đầu tư tư nhân, chi tiêu chính phủ và chỉ số giá tiêu dùng đều ảnh hưởng đến tổng sản phẩm quốc nội.

Hệ số xác định 𝑅² = 0.881848 cho thấy rằng các biến số độc lập như tổng giá trị xuất khẩu (EXP), tổng tiết kiệm trong nước (SAVING), tổng đầu tư tư nhân trong nước (INV), chi tiêu chính phủ (GOV) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giải thích được 88.1848% sự biến động của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), trong khi 11.8152% còn lại do các yếu tố khác ảnh hưởng đến GDP.

Ý nghĩa của các hệ số hồi quy riêng phần

Khi các biến số như EXP, SAVING, INV, GOV, CPI bằng 0, GDP trung bình đạt 31,531 đơn vị, phản ánh ảnh hưởng của các yếu tố ngoài mô hình lên GDP Nếu tổng giá trị xuất khẩu tăng (giảm) 1 đơn vị, GDP bình quân đầu người sẽ tăng (giảm) 6,045.21 đơn vị Tương tự, khi tổng tiết kiệm trong nước tăng (giảm) 1 đơn vị, GDP bình quân đầu người sẽ giảm (tăng) 1,990.75 đơn vị Nếu tổng đầu tư tư nhân tăng (giảm) 1 đơn vị, GDP bình quân đầu người sẽ tăng (giảm) 699.243 đơn vị Khi chi tiêu chính phủ tăng (giảm) 1 đơn vị, GDP bình quân đầu người sẽ giảm (tăng) 501.795 đơn vị Cuối cùng, nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng (giảm) 1 đơn vị, GDP bình quân đầu người sẽ giảm (tăng) 1,411.08 đơn vị.

Kiểm định và khắc phục các khuyết tật của mô hình

4.1 Kiểm định các biến bị bỏ sót

Xét mô hình ban đầu:

Giả sử mô hình đã bỏ sót biến Z và không có thông tin về biến Z, Mô hình mới:

Ta sử dụng phương pháp kiểm định RESET Ramsey có dùng 𝑌̂ 𝑌 2 , ̂ 3 làm ước lượng cho Zi, sử dụng phương pháp kiểm định thu hẹp hồi quy

Xét cặp giả thuyết {𝐻 0 : Biến Z không bị bỏ sót

Ta tiến hành kiểm định RESET Ramsey, thu được kết quả sau:

Hình 4.1 Kết quả kiểm định các biến bị bỏ sót bằng RESET Ramsey

Từ bảng kết quả ta thấy F=2.589414 và P- value = P(F(2,48) >2.58941) 0.0855> 𝛼 = 0,05

Nhận xét: Mô hình đã không bỏ sót biến Z tại mức ý nghĩa 5%

4.2 Kiểm định đa cộng tuyến Để kiểm tra xem trong mô hình hồi quy tổng thể có tồn tại sự phụ thuộc tuyến tính cao giữa các biến giải thích hay không, ta tiến hành kiểm định khuyết tật đa cộng tuyến

Dấu hiệu : Xét nhân tử phóng đại phương sai VIF

𝑉𝐼𝐹 𝐸𝑋𝑃 = 11.009 > 10, suy ra rằng có hiện tượng đa cộng tuyến giữa biến EXP với các biến độc lập còn lại

𝑉𝐼𝐹 𝐺𝑂𝑉 = 14.291 > 10, suy ra rằng có hiện tượng đa cộng tuyến giữa biến GOV với các biến độc lập còn lại

Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa GDP và các biến giải thích như EXP, SAVING, INV, GOV, CPI cho thấy hiện tượng đa cộng tuyến Cụ thể, sự biến động của các biến EXP và GOV có thể được giải thích bởi các biến độc lập còn lại trong mô hình Mặc dù tồn tại đa cộng tuyến, mô hình vẫn cung cấp kết quả ước lượng các hệ số hồi quy, đảm bảo tính không chệch và phương sai nhỏ nhất.

Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định tác động của các biến độc lập như xuất khẩu, tổng đầu tư tư nhân trong nước, chi tiêu chính phủ, chỉ số giá tiêu dùng và tiết kiệm đến tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ, cũng như chiều hướng tác động của chúng mà không xem xét mức độ ảnh hưởng Do đó, hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình sẽ không được xem xét.

4.3 Kiểm định phương sai sai số thay đổi

Nhận biết: Hồi quy mô hình gốc ta thu được mô hình mẫu và các phần dư ei

Mô hình mắc khuyết tật phương sai sai số thay đổi cho thấy rằng sự biến đổi của phương sai phụ thuộc vào các biến độc lập, bao gồm cả bình phương của biến độc lập và tích chéo giữa các biến độc lập.

Thực hiện hồi quy phụ mô hình:

( Trong đó giả định 𝑋 2 = EXP, 𝑋 3 = SAVING, 𝑋 4 = INV, 𝑋 5 = GOV, 𝑋 6 = CPI)

Tiến hành kiểm định White bằng phần mềm Gretl, ta thu được:

Hình 4.3 Kết quả kiểm định White:

Ho: 𝛼 2 = 𝛼 3 … = 𝛼 20 = 0 (phương sai sai số đồng nhất)

H1: ∋ 1 giá trị α ≠ 0 (phương sai sai số thay đổi) tại 𝛼 = 0,05

Từ kết quả trên, dùng kiểm định khi bình phương: ℵ 2 = 11.528858 với p- value = P(Chi-square(20) > 11.528858) = 0.931339 > 𝛼 = 0,05

Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi phần dư của mô hình hồi quy theo phương pháp White cho thấy không có hiện tượng phương sai thay đổi, với mức ý nghĩa thống kê 5% Điều này xác nhận rằng mô hình hồi quy tuân thủ giả thuyết của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển.

Mô hình cung cấp các ước lượng tham số không chệch và tốt nhất với phương sai sai số nhỏ, từ đó tạo ra những dự báo hiệu quả Sự nhỏ nhất của phương sai tham số đảm bảo rằng các kiểm định T và F dùng để đánh giá sự phù hợp của mô hình là đáng tin cậy.

4.4 Kiểm định tự tương quan

Giả sử rằng sai số ngẫu nhiên của tổng thể ui gặp phải khuyết tật tự tương quan, có nghĩa là giá trị ui ở thời điểm trước sẽ ảnh hưởng đến giá trị ui ở thời điểm sau Do sự thay đổi theo thời gian, chúng ta sẽ thay thế ui bằng ut.

𝐺𝐷𝑃 = 𝛽 1 + 𝛽 2 𝐸𝑋𝑃 + 𝛽 3 𝑆𝐴𝑉𝐼𝑁𝐺 + 𝛽 4 𝐼𝑁𝑉 + 𝛽 5 𝐺𝑂𝑉 + 𝛽 6 𝐶𝑃𝐼 + 𝑢 𝑡 (1) Coi u t phụ thuộc vào u t−1 (tự tương quan bậc 1)

Ta có mô hình sau: 𝑢 𝑡 = 𝜌 1 𝑢 𝑡−1 + 𝑣 𝑡 Ước lượng mô hình (1) bằng OLS, ta thu được các phần et (phần ước lượng cho giá trị của 𝑢 𝑡 )

Thực hiện hồi quy phụ mô hình bằng OLS :

Tiến hành kiểm định Breusch-Godfrey bằng phần mềm Gretl, ta thu được:

Hình 4.4 Kết quả tự tương quan bằng kiểm định BG bậc 4

Xét cặp giả thuyết {𝐻 0 : 𝜌 1 = 0 ( không có tự tương quan)

𝐻 1 : 𝜌 1 ≠ 0 (tồn tại tự tương quan)

Từ bảng kết quả, ta thấy:

Kết quả kiểm định tự tương quan của mô hình hồi quy bằng phương pháp Breusch-Godfrey cho thấy không tồn tại tự tương quan bậc 4, với mức ý nghĩa thống kê 5% Điều này phù hợp với giả thiết của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển.

Kết quả: Các ước lượng là tuyến tính không chệch và hiệu quả vì phương sai là nhỏ nhất dẫn đến các kiểm định t và F có hiệu quả

4.5 Kiểm định phân phối chuẩn của sai số ngẫu nhiên

Xét cặp giả thuyết {𝐻 0 : Sai số ngẫu nhiên có phân phối chuẩn

𝐻 1 : Sai số ngẫu nhiên không có phân phối chuẩn

Ta tiến hành kiểm định Jarque – Bera:

Hình 4.5 Sơ đồ kiểm định các biến bị bỏ sót bằng RESET Ramsey

Hình 4.6 Kết quả kiểm định các biến bị bỏ sót bằng RESET Ramsey

Theo kết quả trên, JB=𝑋 2 = 26.68 và p-value = 0 < 𝛼 = 0,05

Nhận xét: Mô hình có phân phối nhiễu không chuẩn

Cách khắc phục: Tăng kích thước mẫu số liệu.

Kiểm định giả thiết

5.1 Kiểm định hệ số hồi quy

Sử dụng p-value: Nếu p-value < 𝛼 = 5% thì bác bỏ giả thiết H0

Nếu p-value > 𝛼 = 5% thì không bác bỏ giả thiết H0

Bảng kiểm định hệ số hồi quy

Biến Hệ số hồi quy Giá trị P - value Kết quả

Xuất khẩu 𝛽̂ 2 6045,21 5,03𝑒 −7 < 𝛼 Có ý nghĩa thống kê

Tiết kiệm 𝛽̂ 3 -1900,75 0,005 < 𝛼 Có ý nghĩa thống kê Đầu tư

𝛽̂ 4 699,243 0,2682 > 𝛼 Không có ý nghĩa thống kê

𝛽 5 -501,795 0,0651 > 𝛼 Không có ý nghĩa thống kê Chỉ số giá tiêu dùng

Các hệ số hồi quy của biến xuất khẩu, tiết kiệm và chỉ số giá tiêu dùng đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 𝛼 5%, cho thấy rằng các yếu tố này có ảnh hưởng đáng kể đến GDP của Hoa Kỳ.

5.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình

Kiểm định này nhằm xem xét trường hợp các tham số của biến độc lập 𝛽 𝑖 đồng thời xảy ra bằng 0 có xảy ra không

Dựa theo kết quả hồi quy ở trên ta có:

Do đó, bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1 Như vậy, mô hình hồi quy phù hợp.

Ước lượng khoảng tin cậy và giải thích

t ( 50; 0,25) = 2,009 coefficient Std error 95% confidence interval p-value

Khoảng tin cậy 𝛽 2 ϵ (3939,62; 8150,81) cho thấy khi xuất khẩu (EXP) tăng 1%, GDP sẽ tăng từ 3939,62 đến 8150,81 đơn vị, với các điều kiện khác không đổi Điều này chứng tỏ mối quan hệ giữa xuất khẩu và GDP là mối quan hệ thuận chiều.

Khoảng tin cậy 𝛽 3 ϵ (-3200,96; -600,543) cho thấy khi tiết kiệm (SAVING) tăng 1%, GDP sẽ giảm trong khoảng từ -600,543 đến -3200,96 đơn vị, với các điều kiện khác không đổi Điều này chứng tỏ mối quan hệ giữa tiết kiệm và GDP là mối quan hệ ngược chiều.

Khoảng tin cậy 𝛽 4 nằm trong khoảng (-555,044; 1953,53), cho thấy khi tổng đầu tư tư nhân trong nước tăng 1%, GDP có thể tăng trong khoảng từ -555,044 đến 1953,53 đơn vị, với các điều kiện khác không thay đổi Điều này chứng tỏ mối quan hệ giữa đầu tư và GDP là mối quan hệ thuận chiều.

Khoảng tin cậy 𝛽 5 ϵ (-1036,23; 32,6409) cho thấy rằng khi chi tiêu chính phủ tăng l%, GDP sẽ giảm trong khoảng từ -1036,23 đến 32,6409 đơn vị, với các điều kiện khác không đổi Điều này chỉ ra rằng mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và GDP là ngược chiều.

Khoảng tin cậy 𝛽 6 ϵ (-2578; -244,073) cho thấy khi chỉ số giá tiêu dùng tăng 1 đơn vị, GDP sẽ giảm từ -2579 đến -244,073 đơn vị, trong khi các yếu tố khác giữ nguyên Điều này chỉ ra rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa chỉ số giá tiêu dùng và GDP.

Giải pháp

Sau khi phân tích số liệu, chúng tôi nhận thấy rằng đầu tư tư nhân trong nước, tỷ lệ tiết kiệm, chi tiêu chính phủ, giá trị xuất khẩu và chỉ số giá tiêu dùng là năm yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế Hoa Kỳ Bởi vì tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia, chúng tôi đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hỗ trợ sự phát triển bền vững cho nền kinh tế số một thế giới này.

• Về đầu tư tư nhân trong nước

Khi các yếu tố khác giữ nguyên, sự gia tăng đầu tư tư nhân trong nước sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế trung bình cao hơn Do đó, Mỹ cần triển khai các chính sách khuyến khích nhằm thu hút đầu tư tư nhân vào các ngành kinh tế trọng điểm.

Thứ nhất: Cần tạo ra các khoản tiết kiệm và đầu tư tiết kiệm hộ gia đình

Mở rộng địa bàn thu hút đầu tư tư nhân trong và ngoài nước là cần thiết để tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và cạnh tranh lành mạnh Việc đa dạng hóa các loại hình đầu tư và áp dụng các chính sách ưu đãi phù hợp sẽ góp phần nâng cao sức hấp dẫn của thị trường.

Không ngừng cải thiện và nâng cao hiệu quả cũng như sức cạnh tranh của môi trường đầu tư tư nhân, cả trong nước và quốc tế, là điều cần thiết Để đạt được mục tiêu này, cần hoàn thiện hệ thống pháp lý và khuyến khích đầu tư tư nhân từ nước ngoài.

Tỉ lệ tiết kiệm có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế, với việc tăng 1 đơn vị tiết kiệm trong nước dẫn đến giảm 1900.75 đơn vị tổng sản phẩm quốc nội khi các yếu tố khác không đổi Để giảm tỷ lệ tiết kiệm, các nền kinh tế cần áp dụng biện pháp phù hợp; ví dụ, Hoa Kỳ nên thu hút dòng vốn để tăng tỷ giá thực, nâng cao sức mua và giảm tiết kiệm hộ gia đình Dòng vốn này còn có thể hạ lãi suất và tiêu chuẩn tín dụng, khuyến khích hộ gia đình giàu chi tiêu nhiều hơn, tạo ra hiệu ứng giàu có khi ngoại tệ đầu tư vào bất động sản làm tăng giá trị tài sản của họ.

• Về chi tiêu Chính phủ

Dựa trên số liệu đã nghiên cứu, tổng tiết kiệm trong nước có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Cụ thể, khi chi tiêu của chính phủ tăng 1 đơn vị, tổng sản phẩm quốc nội sẽ giảm tới 501.795 đơn vị, nếu các yếu tố khác không thay đổi và ngược lại.

Để tránh khủng hoảng nợ vào năm 2020, Mỹ cần điều chỉnh các chương trình an sinh xã hội do chi tiêu công gia tăng, đặc biệt là cho chăm sóc y tế và lương hưu trong bối cảnh dân số già hóa Tỷ lệ người lao động so với người về hưu hiện tại là 3/1, nhưng dự báo sẽ giảm xuống còn 1,5/1 hoặc 1/1 trong những năm tới Hiện tại, ngân sách Mỹ chi khoảng 26 nghìn USD mỗi năm cho mỗi người dân trên 65 tuổi, và nếu không có những thay đổi cần thiết, ba chương trình chăm sóc y tế, hỗ trợ y tế và an sinh xã hội sẽ tiêu tốn toàn bộ ngân sách quốc gia chỉ trong vòng 25 năm tới.

Thứ hai: Cắt giảm chi tiêu quốc phòng, quân sự

Thứ ba: Tái cấu trúc khu vực công: Mỹ cần những cải cách tài chính mạnh mẽ để tái cấu trúc khu vực công

Tổng giá trị xuất khẩu có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế; cụ thể, khi tiết kiệm trong nước tăng 1 đơn vị, tổng sản phẩm quốc nội giảm 6045.21 đơn vị Do đó, Hoa Kỳ cần tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như dầu mỏ, khí đốt và than đá, đồng thời phát triển năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo như phong điện và điện mặt trời, cùng với nhóm hàng tiêu dùng và máy móc tự động.

• Về chỉ số giá tiêu dùng:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế, nhưng việc dự đoán chính xác mối quan hệ này vẫn còn nhiều tranh cãi Thông thường, CPI tăng thấp được coi là điều kiện thuận lợi cho sự ổn định trong sản xuất và góp phần vào sự tăng trưởng GDP Khi CPI thấp, người dân có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng hoặc đầu tư trực tiếp vào sản xuất Tuy nhiên, nếu khả năng huy động vốn của ngân hàng kém, Ngân hàng Nhà nước có thể phải xem xét tăng lãi suất huy động Do đó, CPI tăng thấp chỉ là một trong nhiều yếu tố mà Ngân hàng Nhà nước cân nhắc trong việc thực hiện chính sách kinh tế.

Ngân hàng nhà nước có thể can thiệp vào nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ mở rộng hoặc thắt chặt, cũng như điều chỉnh lãi suất ngân hàng, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và đạt được tăng trưởng bền vững Mức điều chỉnh cụ thể sẽ phụ thuộc vào nhu cầu tín dụng của nền kinh tế, khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương mại và chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Ngày đăng: 20/07/2021, 21:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Quan điềm này tiếp tục được phát triền thành những mô hình lý thuyết mới nhằm phân  tích  mối  quan  hệ  giữa  xuất  khẩu  và  tăng  trường  kinh  tế - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
uan điềm này tiếp tục được phát triền thành những mô hình lý thuyết mới nhằm phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trường kinh tế (Trang 17)
Dùng kiểm định F nhận xét sự phù hợp của mô hình và kiểm địn ht để ước lượng khoảng tin cậy cho các tham số trong mô hình - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
ng kiểm định F nhận xét sự phù hợp của mô hình và kiểm địn ht để ước lượng khoảng tin cậy cho các tham số trong mô hình (Trang 25)
Bảng 2.2. Giải thích các biến - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
Bảng 2.2. Giải thích các biến (Trang 26)
CHƯƠNG III. ƯỚC LƯỢNG, KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH, SUY DIỄN THỐNG KÊ VÀ ĐỀ RA MỘT SỐ GIẢI PHÁP  - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
CHƯƠNG III. ƯỚC LƯỢNG, KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH, SUY DIỄN THỐNG KÊ VÀ ĐỀ RA MỘT SỐ GIẢI PHÁP (Trang 29)
Hình 4.1. Kết quả kiểm định các biến bị bỏ sót bằng RESET Ramsey - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
Hình 4.1. Kết quả kiểm định các biến bị bỏ sót bằng RESET Ramsey (Trang 32)
Hình 4.3. Kết quả kiểm định White: - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
Hình 4.3. Kết quả kiểm định White: (Trang 35)
Hình 4.4. Kết quả tự tương quan bằng kiểm định BG bậc 4 - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
Hình 4.4. Kết quả tự tương quan bằng kiểm định BG bậc 4 (Trang 37)
Hình 4.5. Sơ đồ kiểm định các biến bị bỏ sót bằng RESET Ramsey - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
Hình 4.5. Sơ đồ kiểm định các biến bị bỏ sót bằng RESET Ramsey (Trang 38)
Nhận xét: Mô hình có phân phối nhiễu không chuẩn. - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
h ận xét: Mô hình có phân phối nhiễu không chuẩn (Trang 39)
5.2. Kiểm định sự phù hợp của mô hình - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
5.2. Kiểm định sự phù hợp của mô hình (Trang 40)
Do đó, bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1. Như vậy, mô hình hồi quy phù hợp - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
o đó, bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1. Như vậy, mô hình hồi quy phù hợp (Trang 41)
PHỤ LỤC: BẢNG SỐ LIỆU TỔNG HỢP - Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế hoa kỳ
PHỤ LỤC: BẢNG SỐ LIỆU TỔNG HỢP (Trang 48)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w