Phát triển mạng lưới chợ, siêu thị, TTTM phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, quy hoạch giao thông và các quy hoạch khác của thành phố đến năm 2020 đáp ứn
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
PHẦN1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI 6
1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cơ sở hạ tầng thương mại 6
1.1 Các khái niệm liên quan về cơ sở hạ tầng thương mại 6
1.1.1 Cơ sở hạ tầng là gì? 6
1.1.2 Thương mại là gì ? 6
1.1.3 Cơ sở hạ tầng thương mại 6
1.2 Vai trò của cơ sở hạ tầng thương mại đối với tăng trưởng ngành thương mại và phát triển kinh tế xã hội của thành phố 6
2 Khái niệm và phân loại chợ, siêu thị và trung tâm thương mại 8
2.1 Các chợ truyền thống 8
2.2 Mạng lưới siêu thị 9
2.3 Trung tâm thương mại 14
2.4 Phân biệt giữa siêu thị, trung tâm thương mại, chợ truyền thống 15
3 Các điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống chợ, siêu thị và TTTM trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 16
3.1 Các điều kiện và yếu tố ảnh hưởng 16
3.2 Đánh giá chung về những cơ hội và thách thức trong phát triển hệ thống hạ tầng thương mại của thành phố 18
PHẦN 2 : HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 20
1 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng thương mại 20
1.1 Thực trạng phát triển mạng lưới chợ truyền thống 21
1.2 Thực trạng phát triển mạng lưới phân phối hiện đại – Siêu thị và TTTM 29
PHẦN 3 45
Trang 2PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 45
1 Quan điểm và mục tiêu phát triển 45
1.1 Quan điểm phát triển 45
1.2 Mục tiêu phát triển đến 46
2 Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 48
3 Một số giải pháp nhằm phát triển cơ sở hạ tầng thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 49
3.1 Giải pháp tăng cường cường công tác tổ chức, quản lý và quy hoạch phát triển 49
3.2 Các giải pháp thu hút vốn đầu tư 51
3.3 Các giải pháp về kiến trúc không gian 52
3.4 Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực 54
3.5 Giải pháp phân phối hàng hoá 55
3.6 Hoàn thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư phát triển 55
3.7 Các giải pháp đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng 56
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm vừa qua, cùng với quá trình thực hiện chính sách đổi mới,
nền kinh tế Việt Nam đã không ngừng tăng trưởng với tốc độ cao, sản lượng sản
xuất và chất lượng sản phẩm không ngừng được nâng lên, thu nhập và chi tiêu của
các tầng lớp dân cư cũng được cải thiện đáng kể Các hoạt động thương mại trong
nền kinh tế cũng không ngừng gia tăng cả về chiều rộng và chiều sâu Phù hợp với
xu hướng đó, nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thương mại (CSHTTM) nói
chung và hệ thống chợ, siêu thị và trung tâm thương mại (TTTM) nói riêng cũng
đang tăng lên Nhà nước đã ban hành khá nhiều văn bản chính sách liên quan đến
lĩnh vực đầu tư phát triển chợ, siêu thị, TTTM và CSHTTM
Đà Nẵng là thành phố trung tâm nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Miền
Trung - Tây Nguyên, có vị trí địa lý- kinh tế quan trọng, thuận lợi cho phát triển
thương mại, sản xuất - tiêu dùng phát triển, quá trình đô thị hoá nhanh chóng, cơ sở
hạ tầng hoàn thiện ngày càng hấp dẫn các nhà đầu tư Tuy nhiên, hoạt động của các
chợ, siêu thị và TTTM đôi khi còn mang tính tự phát, thiếu những điều kiện, yếu tố
để quản lý phát triển, dẫn dắt các ngành sản xuất của thành phố tham gia vào các
chuỗi giá trị gia tăng, từng bước hội nhập vào hệ thống phân phối toàn cầu
Phát triển CSHTTM trên địa bàn thành phố là yêu cầu tất yếu của quá trình
phát triển KT-XH nói chung, phát triển thương mại nói riêng, đồng thời còn là bước
cụ thể hoá mục tiêu tổ chức lại hoạt động thương mại theo hướng văn minh, hiện
đại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Phát triển mạng lưới chợ, siêu thị, TTTM
phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, quy hoạch giao
thông và các quy hoạch khác của thành phố đến năm 2020 đáp ứng nhu cầu của sản
xuất, tiêu dùng của nhân dân đồng thời làm căn cứ pháp lý để cấp phép cho đầu tư
nước ngoài vào ngành thương mại của thành phố theo cam kết gia nhập WTO
Phát triển mạng lưới chợ, siêu thị, và TTTM vừa bảo đảm phục vụ nhu cầu
mua bán của dân cư, vừa bảo đảm việc điều phối liên kết giữa sản xuất với thương
mại và tiêu dùng, liên kết của hệ thống phân phối với các kênh phân phối, với nhiều
phương thức kinh doanh, nhiều thành phần kinh tế tham gia
Trang 4Qua thời gian thực tập tại Sở Công Thương thành phố Đà Nẵng, em nhận thấy
yêu cầu phát triển CSHTTM là rất cần thiết Vì vậy em chọn đề tài: “Phát triển cơ
sở hạ tầng thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” nhằm góp phần phát triển
ngành thương mại của thành phố nói riêng và kinh tế xã hội của thành phố nói
chung ngày càng phát triển
Chuyên đề gồm có 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận về cơ sở hạ tầng thương mại
Phần 2: Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng thương mại trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng
Phần 3: Phương hướng và giải pháp triển cơ sở hạ tầng thương mại trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng
Để hoàn thành chuyên đề này em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
cô chú, anh chị ở phòng Thương Mại – Sở Công Thương thành phố Đà Nẵng và đặc
biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Thành Long Em xin
chân thành cảm ơn thầy và các anh chị
Với vốn kiến thức còn hạn chế, đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, vì
vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô, các anh chị
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Các chợ, siêu thị và trung tâm thương mại trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng
Đối tượng nghiên cứu : tìm hiểu thực trạng và đưa ra một số giải pháp cho sự phát
triển của các chợ, siêu thị và trung tâm thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Phương pháp nghiên cứu: : phương pháp được sử dụng để nghiên cứu chuyên
đề là phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích số liệu và phương pháp
so sánh
Trang 6PHẦN1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cơ sở hạ tầng thương mại
1.1 Các khái niệm liên quan về cơ sở hạ tầng thương mại
1.1.1 Cơ sở hạ tầng là gì?
Cơ sở hạ tầng là một tổ hợp các cơ sở của các ngành được tổ chức, bố trí trên
một vùng lãnh thổ để phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, phục vụ cho đời
sống của dân cư, phục vụ cho an ninh quốc phòng
1.1.2 Thương mại là gì ?
Thương mại trong tiếng Việt được hiểu là hành động mua bán của các thể
nhân (các cá nhân có tư cách pháp lý) hay pháp nhân (các tổ chức, cơ quan hoạt
động kinh doanh có giấy phép hợp pháp) với nhau hoặc sự mua sắm của các tổ chức
Nhà nước (chính phủ chẳng hạn), tùy theo từng ngữ cảnh
1.1.3 Cơ sở hạ tầng thương mại
Cơ sở hạ tầng thương mại là hệ thống cơ sở trực tiếp phục vụ cho lĩnh vực
thương mại bao gồm: Các loại hình chợ, các trung tâm thương mại, hệ thống các
siêu thị, hệ thống các cửa hàng, hợp tác xã thương mại, dịch vụ thương mại, hệ
thống đại lý thương mại, nhượng quyền thương mại và các loại hình kết cấu hạ tầng
thương mại khác
1.2 Vai trò của cơ sở hạ tầng thương mại đối với tăng trưởng ngành thương mại
và phát triển kinh tế xã hội của thành phố
Cơ sở hạ tầng thương mại có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói
chung và phát triển ngành thương mại của thành phố nói riêng Nó góp phần thúc
đẩy sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát
triển trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế Trong nền kinh tế thị trường, hoạt
động thương mại là cầu nối quan trọng, sống còn giữa nhà sản xuất và người tiêu
dùng Phát triển cơ sở hạ tầng thương mại sẽ tạo điều kiện phát triển dịch vụ -
thương mại chính là cầu nối giữa các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình
sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa
phát triển Thông qua đó các chủ thể kinh doanh, người tiêu dùng mua bán được sản
phẩm, góp phần tạo ra quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và như vậy các
Trang 7dịch vụ sẽ lưu thông, và được thông suốt Chợ, siêu thị, TTTM là cầu nối hữu hiệu
giữa các nhà kinh doanh với nhau, giữa các nhà kinh doanh với người tiêu dùng Nó
không chỉ đơn thuần là cung cấp hàng hóa đến tận tay người tiêu dùng, mà còn cung
cấp cho nhà sản xuất và người tiêu dùng các hoạt động dịch vụ bổ sung như: địa
điểm thuận lợi, thông tin về sản phẩm và môi trường kinh doanh
CSHTTM có vai trò và chức năng giải quyết những sự khác biệt và mâu thuẫn
trên quá trình phân phối tổng thể Đó là, khác biệt về sản xuất khối lượng lớn,
chuyên môn hóa cao với nhu cầu tiếp nhận hàng hóa khối lượng nhỏ, đa dạng; khác
biệt về không gian sản xuất tập trung một địa điểm và tiêu dùng rộng khắp và ngược
lại; khác biệt về thời gian sản xuất và thời gian tiêu dùng không trùng khớp nhau do
sản xuất có tình thời vụ còn tiêu dùng quanh năm hoặc ngược lại Giúp giảm thiểu
thời gian và chi phí giao dịch, hạ giá thành đảm bảo kinh doanh hiệu quả
Sự phát triển CSHTTM trên địa bàn thành phố đã góp phần không nhỏ vào
phát triển kinh tế của thành phố, đó là tạo ra doanh thu của hoạt động thương mại,
bên cạnh đó còn giải quyết khối lượng lớn việc làm cho lao động
Chợ, siêu thị và TTTM giữ vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình tái sản
xuất mở rộng xã hội, là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển và đem lại lợi
ích to lớn cho người tiêu dùng Siêu thị cung cấp cho người tiêu dùng đúng chủng
loại hàng hoá mà họ cần, đúng thời gian, tại một địa điểm và ở mức giá mà người tiêu
dùng chấp nhận được Khi nhu cầu của người tiêu dùng biến đổi không ngừng, mạng
lưới bán lẻ này có những thông tin phản hồi từ người tiêu dùng để đặt hàng đáp ứng
những thay đổi đó, nó cũng có thể tác động tới việc tạo nhu cầu mới cho người tiêu
dùng thông qua việc bổ sung vào tập hợp hàng hóa Nó giúp người sản xuất định
hướng vào nhu cầu thị trường, thúc đẩy phương thức kinh doanh theo nhu cầu của
nền kinh tế thị trường, trên cơ sở đó mà tăng cường thương mại hàng hoá, phát triển
thị trường cho các ngành kinh tế và sản phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường
tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đất nước
Hệ thống chợ, siêu thị và TTTM mại ngày càng phát triển đã thúc đẩy cho
dịch vụ bán buôn, bán lẻ ngày càng phát triển về quy mô cũng như năng lực lưu
chuyển hàng hóa đã đóng góp lớn vào quá trình phát luồng những hàng hóa chủ lực
Trang 8của thành phố ra thị trường trong nước cũng như nước ngoài như: thuỷ sản đông
lạnh; dệt may; lốp ôtô, xi-măng; da giày; thiết bị điện, điện tử; linh kiện điện tử - tin
học; cơ khí, kim khí; sản xuất lắp ráp ôtô, xe máy; đồ uống (bia, các sản phẩm từ
sữa); sợi các loại…, góp vai trò hết sức quan trọng vào sự tăng trưởng và phát triển
của ngành thương mại Hệ thống CSHTTM có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát
triển kinh tế xã hội, doanh số bán từ chợ, siêu thị và trung tâm thương mại đóng góp
17,8% trong GDP của thành phố
Bên cạnh đó, các chợ, siêu thị bán buôn còn có vai trò phát luồng hàng hóa
dịch vụ cho các tỉnh, thành phố khác và hàng nhập khẩu đến thị trường khu vực
miền Trung - Tây Nguyên Quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng mức bán buôn hàng
hóa và dịch vụ xã hội thành phố cao nhất khu vực miền Trung - Tây Nguyên, đóng
góp quan trọng trong GDP, tạo việc làm, thu hút nhiều nguồn lực bên ngoài cũng
như trong dân cư và nền kinh tế
2 Khái niệm và phân loại chợ, siêu thị và trung tâm thương mại
2.1 Các chợ truyền thống
Chợ ra đời từ rất sớm trong lịch sử loài người, khi mà con người đã sản xuất
được hàng hóa nhiều hơn nhu cầu của họ, nên phải mang nó đi trao đổi với người
khác để lấy một loại hàng hóa nào đó
Ban đầu, chợ chủ yếu là nơi để mọi người trao đổi sản phẩm dư thừa với nhau,
dựa trên một thước đo là sự thỏa thuận của hai bên Về sau, cùng với sự ra đời của
tiền tệ thì chợ không chỉ là nơi trao đổi mà diễn ra việc mua và bán hàng hóa - một
bên là những người có sản phẩm sẽ đem ra để bán, còn một bên là khách hàng dùng
tiền để mua các sản phẩm cần thiết cho mình hoặc các sản phẩm để đem bán lại
Với các chợ nhỏ thì cấu trúc rất đơn giản, có thể là một bãi trống mà những
người bán hàng ngồi thành từng dãy với những sản phẩm đặc thù
Với các chợ lớn, hiện đại thì cấu trúc khá phức tạp Mỗi chợ có thể gồm nhiều
khu vực riêng biệt, mỗi khu vực lại có những dãy gồm nhiều gian hàng khác nhau
Chức năng chính của chợ là nơi diễn ra hoạt động mua bán hay trao đổi các
sản phẩm, hàng hóa khác nhau Hàng hóa trong chợ rất đa dạng, từ những loại sản
Trang 9phẩm dùng trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người đến các chủng loại sản phẩm
khác
2.2 Mạng lưới siêu thị
Siêu thị :
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại Việt Nam
(nay là Bộ Công Thương Việt Nam), số 1371/2004/QĐ-BTM ban hành ngày 24
tháng 9 năm 2004 cuả Bộ trưởng Bộ Thương Mại:
Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên
doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp
ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ
chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn
nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng
Hệ thống siêu thị được cấu thành bởi các siêu thị nhỏ, siêu thị và đại siêu thị
áp dụng phương thức bán hàng tự động, hợp nhất các hàng hóa tiêu dùng phổ biến
cho người dân
Tiêu chuẩn siêu thị:
Được gọi là siêu thị và phân hạng siêu thị nếu cơ sở kinh doanh thương mại có
địa điểm kinh doanh phù hợp với Quy hoạch phát triển mạng lưới thương mại của
Tỉnh, thành phố và có quy mô, trình độ tổ chức kinh doanh đáp ứng các tiêu chuẩn
cơ bản của 1 trong 3 hạng Siêu thị theo Quy định dưới đây:
Siêu thị hạng 1:
+ Đối với siêu thị kinh doanh tổng hợp
Có diện tích kinh doanh từ 5.000m2 trở lên;
Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên;
Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết
kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy
chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng,
có bố trí nơi giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh
của Siêu thị
Trang 10Có hệ thống kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hang,
thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến hiện đại
Tổ chức, bố trí hàng hóa theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh,
khoa học, để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm thanh toán thuận tiện, nhanh
chóng, có nơi bảo quản hành lý cá nhân, có các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ
người khuyết tật, phục vụ trẻ em, giao hang tận nhà, bán hàng qua mạng, qua bưu
điện, điện thoại
+ Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
- Diện tích từ 1.000m2 trở lên;
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 2.000 tên hàng trở lên
Các tiêu chuẩn khác như siêu thị kinh doanh tổng hợp
Siêu thị hạng 2
+ Đối với siêu thị kinh doanh tổng hợp
Có diện tích kinh doanh từ 2.000m2 trở lên;
Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên;
Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết
kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy
chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng,
có bố trí nơi giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh
của Siêu thị
Có hệ thống kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hang,
thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến hiện đại
Tổ chức, bố trí hàng hóa theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh,
khoa học, để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm thanh toán thuận tiện, nhanh
chóng, có nơi bảo quản hành lý cá nhân, có các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ
người khuyết tật, phục vụ trẻ em, giao hang tận nhà, bán hàng qua mạng, qua bưu
điện, điện thoại
+ Đối với siêu thị chuyên doanh
- Diện tích từ 500m2 trở lên;
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 1.000 tên hàng trở lên
Trang 11Các tiêu chuẩn khác như siêu thị kinh doanh tổng hợp
Siêu thị hạng 3
+ Đối với siêu thị kinh doanh tổng hợp
- Có diện tích kinh doanh từ 500m2 trở lên;
- Có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên;
Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết
kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy
chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng,
có bố trí nơi giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh
của Siêu thị
Có hệ thống kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hang,
thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến hiện đại
Tổ chức, bố trí hàng hóa theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh,
khoa học, để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm thanh toán thuận tiện, nhanh
chóng, có nơi bảo quản hành lý cá nhân, có các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ
người khuyết tật, phục vụ trẻ em, giao hang tận nhà, bán hàng qua mạng, qua bưu
điện, điện thoại
+ Đối với siêu thị chuyên doanh
- Diện tích từ 500m2 trở lên (như siêu thị tổng hợp);
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 500 tên hàng trở lên
Các tiêu chuẩn khác như siêu thị kinh doanh tổng hợp
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về siêu thị song chung qui lại siêu thị có
các đặc trưng chính:
- Siêu thị hầu hết là cửa hàng bán lẻ: Mặc dù được định nghĩa là "chợ" song
đây được coi là loại "chợ" ở mức phát triển cao, được quy hoạch và tổ chức kinh
doanh dưới hình thức những cửa hàng bề thế, có trang thiết bị và cơ sở vật chất hiện
đại, văn minh, do thương nhân đầu tư và quản lý, được Nhà nước cấp phép hoạt
động Siêu thị thực hiện chức năng bán lẻ - bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu
dùng cuối cùng để họ sử dụng chứ không phải để bán lại
Trang 12- Siêu thị sáng tạo và áp dụng phương thức tự phục vụ (self-service hay libre-
service):
Khi nói đến siêu thị, người ta không thể không nghĩ tới "tự phục vụ", một
phương thức bán hàng do siêu thị sáng tạo ra, được ứng dụng trong nhiều loại cửa
hàng bán lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủ yếu của xã hội văn minh công
nghiệp hóa ở đây cũng cần phân biệt giữa phương thức tự chọn và tự phục vụ:
+ Tự chọn: khách hàng sau khi chọn mua được hàng hoá sẽ đến chỗ người bán
để trả tiền hàng, tuy nhiên trong quá trình mua vẫn có sự giúp đỡ, hướng dẫn của
người bán
+ Tự phục vụ: khách hàng xem xét và chọn mua hàng, bỏ vào giỏ hoặc xe đẩy
đem đi và thanh toán tại quầy tính tiền đặt gần lối ra vào Người bán vắng bóng
trong quá trình mua hàng Chính thức ra đời từ những năm 1930, tự phục vụ đã trở
thành công thức chung cho ngành công nghiệp phân phối ở các nước phát triển Tự
phục vụ đồng nghĩa với văn minh thương nghiệp hiện đại Nó có nhiều ưu điểm so
với cách bán hàng truyền thống: doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí bán
hàng, đặc biệt là chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng (thường chiếm tới 30%
tổng chi phí kinh doanh) Tự phục vụ giúp người mua cảm thấy thoải mái khi được
tự do lựa chọn, ngắm nghía, so sánh hàng hóa mà không cảm thấy bị ngăn trở từ
phía người bán
Do áp dụng phương thức tự phục vụ, giá cả trong các siêu thị được niêm yết rõ
ràng để người mua không phải tốn công mặc cả, tiết kiệm được thời gian và hàng
hóa bày bán trong siêu thị thường là những hàng hóa tiêu dùng phổ biến
Ngoài ra, phương thức thanh toán tại các siêu thị rất thuận tiện Hàng hóa gắn
mã vạch, mã số được đem ra quầy tính tiền ở cửa ra vào, dùng máy quét scanner để
đọc giá, tính tiền bằng máy và tự động in hóa đơn Hình ảnh các quầy tính tiền tự
động luôn là biểu tượng cho các cửa hàng tự phục vụ Đây chính là tính chất "siêu"
của siêu thị, đem đến cảm giác thoải mái, hài lòng, tự tin và sự thỏa mãn cao nhất
cho người mua sắm
Trang 13Có thể khẳng định rằng phương thức tự phục vụ là sáng tạo kỳ diệu của kinh
doanh siêu thị và là cuộc đại "cách mạng" trong lĩnh vực thương mại bán lẻ mà
người lãnh đạo không ai khác là kinh doanh siêu thị
- Siêu thị sáng tạo nghệ thuật trưng bày hàng hoá (Merchandising)
Ngoài việc sáng tạo ra phương thức bán hàng tự phục vụ, đóng góp của siêu
thị cho hệ thống bán lẻ còn là nghệ thuật trưng bày hàng hoá Các siêu thị cũng là
những nhà bán lẻ đầu tiên nghĩ đến tầm quan trọng của nghệ thuật trình bày hàng
hoá và nghiên cứu cách thức vận động của người mua hàng khi vào cửa hàng
Nhiều cửa hàng bán lẻ khác, dựa trên cơ sở các nghiên cứu của siêu thị để tiến hành
các hoạt động nghiên cứu khách hàng sâu sắc hơn nhằm tối đa hoá hiệu quả của
không gian bán hàng
Do người bán không có mặt tại các quầy hàng nên hàng hóa phải có khả năng
"tự quảng cáo", lôi cuốn người mua Siêu thị làm được điều này thông qua các
nguyên tắc sắp xếp, trưng bày hàng hóa nhiều khi được nâng lên thành những thủ
thuật Chẳng hạn, hàng có tỷ suất lợi nhuận cao được ưu tiên xếp ở những vị trí dễ
thấy nhất, được trưng bày với diện tích lớn; những hàng hóa có liên quan đến nhau
được xếp gần nhau; hàng khuyến mại phải thu hút khách hàng bằng những kiểu
trưng bày đập vào mắt; hàng có trọng lượng lớn phải xếp ở bên dưới để khách hàng
dễ lấy; bày hàng với số lượng lớn để tạo cho khách hàng cảm giác là hàng hoá đó
được bán rất chạy
- Hàng hóa trong siêu thị chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày như thực
phẩm, quần áo, bột giặt, đồ gia dụng điện tử với chủng loại rất phong phú, đa
dạng Điều này thể hiện đúng tính chất "chợ" của siêu thị Xem xét ở khía cạnh
danh mục hàng hóa thì siêu thị thuộc hệ thống các cửa hàng kinh doanh tổng hợp,
khác với các cửa hàng chuyên doanh chỉ chuyên sâu vào một hoặc một số mặt hàng
nhất định Theo quan niệm của nhiều nước, siêu thị phải là nơi mà người mua có thể
tìm thấy mọi thứ họ cần ở "dưới một mái nhà" và với một mức giá "ngày nào cũng
thấp" (everyday-low-price) Chủng loại hàng hóa của siêu thị có thể lên tới hàng
nghìn, thậm chí hàng chục nghìn loại hàng Thông thường, một siêu thị có thể đáp
ứng được 70-80% nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng về ăn uống, trang phục,
Trang 14mỹ phẩm, đồ làm bếp, chất tẩy rửa, vệ sinh Chưa bàn đến vấn đề chất lượng, ta có
thể thấy siêu thị là loại cửa hàng phục vụ cho quảng đại công chúng
2.3 Trung tâm thương mại
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại Việt Nam
(nay là Bộ Công Thương Việt Nam) số 1371/2004/QĐ-BTM ban hành ngày 24
tháng 9 năm 2004 cuả Bộ trưởng Bộ Thương Mại:
Trung tâm thương mại là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa
chức năng, bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ; hội
trường, phòng họp, văn phòng cho thuê…được bố trí tập trung, liên hoàn trong một
hoặc một số công trình kiến thức liền kề; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh
doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương
thức phục vụ văn minh, thuận tiện đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh
thương nhân và thoả mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng
TTTM thường được xây dựng trên diện tích lớn, tại vị trí trung tâm đô thị để
tiện lợi cho khách hàng và đảm bảo doanh thu
Theo quy định của Bộ Công Thương Việt Nam, TTTM được phân làm 3 hạng:
Trung tâm thương mại hạng 1
- Có diện tích kinh doanh từ 50.000m2 trở lên;
Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết
kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy
chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng
Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại
hình dịch vụ bao gồm: khu vực để bố trí các cửa hàng bán buôn, bán lẻ hàng hoá;
nhà hàng khách sạn; khu vực để tổ chức hội chợ triển lãm, trưng bày giới thiệu hàng
hoá; khu vực dành cho hoạt động vui chơi giải trí, cho thuê văn phòng làm việc, hội
trường, phòng họp để tổ chức các hội nghị, hội thảo, giao dịch và ký kết các hợp
đồng thương mại trong, ngoài nước; khu vực dành cho các hoạt động tài chính,
ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tin học, tư vấn, môi giới đầu tư, du lịch
Trung tâm thương mại hạng 2
Phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
Trang 15- Có diện tích kinh doanh từ 30.000m2 trở lên;
Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết
kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy
chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng
Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại
hình dịch vụ bao gồm: khu vực để bố trí các cửa hàng bán buôn, bán lẻ hàng hoá;
nhà hàng khách sạn; khu vực để tổ chức hội chợ triển lãm, trưng bày giới thiệu hàng
hoá; khu vực dành cho hoạt động vui chơi giải trí, cho thuê văn phòng làm việc, hội
trường, phòng họp để tổ chức các hội nghị, hội thảo, giao dịch và ký kết các hợp
đồng thương mại trong, ngoài nước; khu vực dành cho các hoạt động tài chính,
ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tin học, tư vấn, môi giới đầu tư, du lịch
Trung tâm thương mại hạng 3
Phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Có diện tích kinh doanh từ 10.000m2 trở lên;
Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết
kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy
chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hang
Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại hình
dịch vụ bao gồm: khu vực để bố trí các cửa hàng bán buôn, bán lẻ hàng hoá; nhà
hàng khách sạn; khu vực để tổ chức hội chợ triển lãm, trưng bày giới thiệu hàng
hoá; khu vực dành cho hoạt động vui chơi giải trí, cho thuê văn phòng làm việc, hội
trường, phòng họp để tổ chức các hội nghị, hội thảo, giao dịch và ký kết các hợp
đồng thương mại trong, ngoài nước; khu vực dành cho các hoạt động tài chính,
ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tin học, tư vấn, môi giới đầu tư, du lịch
2.4 Phân biệt giữa siêu thị, trung tâm thương mại, chợ truyền thống
Quy mô của TTTM lớn hơn siêu thị các cửa hàng tạp phẩm và chợ Quy mô
của siêu thị thì lớn hơn các cửa hàng tạp phẩm (hoặc chợ) Có thể kết luận TTTM
có quy mô lớn nhất, các loại hình cửa hàng dịch vụ nhiều nhất, đa dạng nhất, tiếp đó
đến siêu thị rồi đến chợ
Trang 16Siêu thị chỉ bao gồm các cửa hàng hiện đại; kinh doanh tồng hợp hoặc chuyên
doanh, không bao gồm các cơ sở hoạt động dịch vụ; hội trường, phòng họp, văn
phòng cho thuê, nhà hàng khách sạn, hội chợ triển lãm TTTM có quy mô lớn hơn,
không chỉ bao gồm các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ mà còn bao gồm cả
hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê…được bố chí tập trung, liên hoàn
Hàng hóa ở các TTTM, cũng như các siêu thị, rất đa dạng và được chọn lọc kĩ
hơn so với trong chợ hay cửa hàng tạp phẩm Tuy nhiên, khác với siêu thị, TTTM
thường kinh doanh tổng hợp các mặt hàng, không có các TTTM chuyên doanh vì
quy mô lớn hơn nhiều so với siêu thị
3 Các điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống chợ, siêu thị
và TTTM trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.1 Các điều kiện và yếu tố ảnh hưởng
Thành phố Đà Nẵng ở vào trung dộ của đất nước, năm trên trục dường giao
thong Bắc Nam và đường bộ (Quốc lộ 1A) đường sắt, đường biển và đường hang
không Quốc lộ 14B nối với cảng biển Tiên Sa, Liên Chiểu đến Tây Nguyên Đà
Nẵng là mọt trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước
đến vùng Đông Bắc Á Vị trí địa lí thành phố là một lợi thế quan trọng tạo điều kiện
thuận lợi cho thành phố Đà Nẵng mở rộng và giao lưu kinh tế, là tiền đề quan trong
góp phần để các ngành kinh tế của thành phố phát triển Trong đó, bao gồm việc
phát triển cơ sở hạ tầng thương mại
Thành phố Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương, nằm trong Vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung, có vị trí địa lý - kinh tế thuận lợi cho phát triển
thương mại, dịch vụ du lịch, tài chính ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải
Giai đoạn 2005-2010 kinh tế thành phố Đà Nẵng có nhiều chuyển biến tích cực,
tăng trưởng khá, cơ cấu chuyển dịch theo đúng hướng Hệ thống hạ tầng thương
mại được tập trung đầu tư phát triển đa dạng, mạng lưới rộng khắp, với nhiều đại lý
của các nhà phân phối, siêu thị lớn, các Hội chợ quốc gia, khu vực và quốc tế Hai
yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới quyết định mua hàng là dân số và lối sống, tập quán
tiêu dùng Quy mô, đặc điểm và tốc độ tăng dân số của thành phố là một trong
những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của chợ, siêu thị và trung tâm
Trang 17thương mại Hiện nay, với dân số khoảng 1 triệu người (cả khách vãng lai, sinh viên,
công nhân, quân đội) và dự kiến đến năm 2020 khoảng 1,4 triệu người, đây là yếu tố
cung cấp nguồn lao động, vừa quyết định nhu cầu mức tiêu dùng, cơ cấu dân số trẻ
chiếm tỷ trọng lớn, sức tiêu dùng cao so với các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, đang
tỏ ra có sức hấp dẫn lớn đến sự phát triển của dịch vụ bán buôn, bán lẻ
Thành phố Đà Nẵng, là thành phố năng động, quá trình đô thị hóa phát triển
rất nhanh, không gian đô thị được mở rộng gấp 3 lần chỉ sau ngày thành phố trực
thuộc TW (13 năm) Nét văn hóa đặc trưng là cởi mở, lịch thiệp, mến khách, năng
động và sáng tạo đã ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và thái độ trong việc lựa
chọn, quyết định tiêu dùng với yêu cầu đa dạng về chủng loại và chất lượng hàng
hóa, luôn có yêu cầu cao hơn so với thôn quê, do đó luôn thích các kênh phân phối
hiện đại
Về các yếu tố cơ sở hạ tầng, Đà Nẵng đã tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng, nâng cấp và chỉnh trang đô thị, nhiều công trình trọng điểm về kinh tế - xã hội
đã đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng, như: đường ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc,
nút giao thông Hoà Cầm, đường Trường Sa, Dự án Thoát nước và Vệ sinh môi
trường, Trung tâm Hội chợ triển lãm, Cầu Thuận Phước… và các dự án thương mại
đã và đang thực hiện như: Indochina, Vinacapital, Viễn Đông Meridan,
Coopmart sẽ tạo cho Đà Nẵng bộ mặt đô thị mới ngày một khang trang, hiện đại
Về các yếu tố quản lý quy hoạch, quản lý xã hội Mục tiêu phát triển không
gian đô thị ra các hướng Tây, Tây Bắc, Nam, Đông Nam, thành phố đã rà soát, điều
chỉnh, khớp nối và công bố 265 đồ án quy hoạch; cơ bản hoàn thành quy hoạch
không gian đô thị đến năm 2020 và triển khai điều chỉnh Quy hoạch chung xây
dựng thành phố đến năm 2025 đã được Chính phủ phê duyệt Các trục đường ĐT
602, ĐT 604 đã được triển khai mở rộng và các đồ án khớp nối quy hoạch chi tiết
các xã vùng ven; hoàn thành quy hoạch hướng tuyến, lộ giới, phạm vi quản lý đất
và cắm mốc tuyến vành đai phía Nam thành phố; quy hoạch chi tiết 2 bên đường
cao tốc Liên Chiểu - Dung Quất và hoàn thành khảo sát địa hình, quy hoạch chi tiết
sử dụng đất khu vực phía Bắc, Nam nhà ga đường sắt mới…; quy hoạch huyện Hoà
Vang, quy hoạch chi tiết Khu Công nghiệp Hoà Khương (500 ha); hoàn thành quy
Trang 18hoạch sử dụng đất hai bên đường Cao tốc Liên Chiểu - Dung Quất Lập quy hoạch
chi tiết xây dựng trên điạ bàn các quận Hải Châu, Thanh Khê; quy hoạch xây dựng
khu trung tâm và 2 bên bờ sông Hàn để phát triển dịch vụ thương mại, du lịch, tài
chính, giải trí và quy hoạch phát triển chuỗi du lịch tuyến ven biển Sơn Trà- Ngũ
Hành Sơn, trung tâm hành chính thành phố Công tác xoá đói giảm nghèo đạt nhiều
kết quả tiến bộ
3.2 Đánh giá chung về những cơ hội và thách thức trong phát triển hệ thống hạ
tầng thương mại của thành phố
Hiện nay nền kinh tế mở cửa, với các chính sách ưu đãi đầu tư, thành phố Đà
Nẵng là điểm đầu tư hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, trong thời
gian tới sẽ có nhiều dự án đầu tư cho việc phát triển chợ, siêu thị và TTTM nhằm
đáp ứng nhu cầu ngày cang cao của người tiêu dùng
Việc mở cửa thị trường bán buôn, bán lẻ khuyến khích cạnh tranh lành mạnh,
tạo động lực cho sự phát triển của thị trường phân phối việt Nam, hứa hẹn sự phát
triển năng động và thịnh vượng của thị trường Việt Nam nói chung, Đà Nẵng nói
riêng với sự tăng cường tham gia của các khu vực kinh tế, nhất là khu vực doanh
nghiệp FDI (như Metro Cash & Carry, Bourbon Espace - Big C, Parkson, Dairy
Farm đã có mặt ở Việt Nam, và sắp tới là Wal-mart, Carrefour, Tesco-Lotus ) và
các doanh nghiệp dân doanh
Bên cạnh những cơ hội, là những thách thức, tác động tiêu cực của việc mở
cửa thị trường:
Thách thức đối với công tác quản lý nhà nước nhằm đảm bảo phát triển bền
vững thị trường, duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế, duy trì cân bằng thương mại
tại mọi khu vực và lực lượng thị trường Yêu cầu đổi mới cải cách thể chế, cải cách
hành chính trong điều kiện hệ thống pháp lý vẫn thiếu sự minh bạch, sự nhất quán và
tính dự báo; hệ thống hành chính khá phức tạp, gây phiền hà, tốn thời gian; cơ sở hạ
tầng và dịch vụ chưa tương xứng, đồng đều giữa các khu vực (đô thị - nông thôn)
Các tác động tiêu cực về mặt xã hội có thể đến từ việc phá sản, thất nghiệp của
hệ thống thương mại truyền thống (doanh nghiệp thương mại, các hộ kinh doanh
trên mặt tiền phố, tiểu thương, người thân kinh doanh tại các chợ trên địa bàn thành
Trang 19phố) với hàng chục ngàn hộ kinh doanh nhỏ lẻ, hàng trăm ngàn người đang hoạt
động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ khi phải đối mặt với cuộc cạnh tranh
không cân sức của các công ty bán buôn, bán lẻ lớn của nước ngoài như Wal-mart
(Mỹ), Carefour (Pháp), Tesco (Anh)
Các tác động tiêu cực về an ninh, môi trường do lợi dụng tự do hóa thương
mại và mở cửa thị trường nên hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại quốc tế sẽ
thâm nhập thị trường: buôn bán vận chuyển vũ khí, ma túy, các chất độc hại, hàng
nhái, hàng giả Đồng thời, việc mở cửa thị trường sẽ kích thích tâm lý sính hàng
ngoại, kích thích hình thành một xã hội tiêu dùng mới chưa phù hợp với điều kiện
và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Trang 20PHẦN 2 : HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng thương mại
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội không
ngừng của thành phố thì cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng thương mại nói
riêng cũng không ngừng được cải thiện Hiện nay trên địa bàn thành phố có 4 trung
tâm thương mại, 23 siêu thị, 85 chợ và khoảng 11.550 cửa hàng bao gồm cửa hàng
bách hóa, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng đồ hiệu, quầy hàng
bán lẻ, điểm bán Các loại hình này xuất hiện ngày càng nhiều hơn tại thành phố để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
HỆ THỐNG PHÂN PHỐI CỦA TP ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
Tính tới cuối năm 2010
4
Cửa hàng bách hoá, cửa hàng tiện lợi,
cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng đồ
hiệu, quầy hàng bán lẻ, điểm bán
11.550
Nhìn chung, chợ vẫn đang là loại hình phân phối chủ yếu trên địa bàn thành
phố hiện nay với số lượng 85 chợ tính đến cuối năm 2010 Tiếp theo đó là siêu thị
với số lượng 23 và cuối cùng là TTTM với số lượng là 4
Trang 21HỆ THỐNG PHÂN PHỐI PHÂN THEO QUẬN, HUYỆN
STT Loại hình Hải
châu
Thanh Khê
Sơn trà
Ngũ Hành Sơn
Liên Chiểu
Cẩm
Lệ
Hòa Vang
Đầu tư hệ thống mạng lưới phân phối bao gồm: TTTM và siêu thị với tổng
diện tích xây dựng: 99.337m2, giá trị đầu tư các công trình: 901,360 tỉ đồng (Nguồn
ngân sách: 6,5%, nguồn tư nhân: 47,7%, nguồn vốn nước ngoài: 45,8%) và đầu tư
hệ thống chợ với giá trị đầu tư 115,6 tỷ đồng Bên cạnh đó, với các chính sách ưu
đãi và cơ chế cấp phép đầu tư thông thoáng, nhà đầu tư nước ngoài đã triển khai các
dự án đầu tư vào các công trình: Trung tâm Metro (15 triệu USD), Siêu thị Big C
(14 triệu USD)
Hệ thống chợ đã và đang được đầu tư nâng cấp, trang bị kĩ thuật, hệ thống phòng
cháy chữa cháy đảm bảo an toàn cho người dân
1.1 Thực trạng phát triển mạng lưới chợ truyền thống
Hiện nay hệ thống chợ đã phát triển và phân bố rộng khắp trên toàn thành phố
và phân bố đều theo quy mô dân số của từng Quận, Huyện Toàn thành phố có 85
chợ gồm 83 chợ bán lẻ và 2 chợ cả bán buôn và bán lẻ Tỷ trọng phân phối hàng
tiêu dùng qua chợ chiếm khoảng 45% Loại hình chợ truyền thống đã và đang có
những đổi mới trong việc tổ chức không gian trong chợ, ứng dụng công nghệ thông
tin, phát triển các dịch vụ phụ trợ
Trang 22TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CHỢ Ở TP ĐÀ NẴNG
Năm thành lập
Ngành kinh doanh chủ yếu
Hình thức kinh doanh
Tổng
số quầy sạp
Tổng
số tiểu thương
buôn và bán lẻ
Trang 2428 Chợ Túy Loan Hòa Vang 2006 Tổng hợp Bán lẻ 350 350
Sơn
Tạp hoá, rau, cá, thịt
Trang 2545 Chợ Nguyễn Trãi Liên Chiểu Tổng hợp Bán lẻ 50 40
48 Chợ Hòa Khánh Liên Chiểu 2003 Tổng hợp Bán lẻ 500 500
Trang 2680 Chợ Đầu Mối Hòa
Cường
buôn và
Trang 27bán lẻ
Sơn
2006 Tông hợp Bán lẻ 400 340
Qua bảng số liêu ta thấy, tổng số quầy sạp, tổng số tiểu thương tại chợ là rất
lớn, điều này cho thấy lực lượng lao động làm việc tại các chợ là không nhỏ Trong
tất cả cả các chợ trên địa bàn thành phố có 3177 quầy sạp và 3111 tiểu thương
Tương đương với số quầy sạp và tiểu thương này thì số lao động làm việc tại đây
khoảng hơn 6000 người, đóng góp một phần không nhỏ việc làm cho lao động của
thành phố Không những thế, đây cũng là đóng góp rất lớn cho sự phát triển ngành
thương mại của thành phố
Trong các chợ, số lượng hàng hoá cũng không ngừng tăng lên, có 37 chợ kinh
doanh tổng hợp chiếm 43,5% trong tổng số, còn lại là kinh doanh tạp hoá, rau, cá
thịt cho thấy mức độ phát triển kinh tế xã hội của thành phố, nhu cầu tiêu dùng
hàng hoá tăng cao không chỉ về ăn uống mà đang phát triển về mọi mặt
Hình thức kinh doanh chủ yếu là bán lẻ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người
dân địa phương Có 2 chợ vừa bán buôn vừa bán lẻ, đây không chỉ là phục vụ tiêu
dùng cho người dân đại phương và là đầu mối cho các chợ khác mà còn là nơi cung
cấp hàng cho các vùng khác lân cận
Tuy số lượng chợ tăng nhanh nhưng phân bổ không đều, tập trung vào những
nơi dân cư đông đúc Đa số các chợ có quy mô nhỏ, chủ yếu phục vụ nhu cầu mua
bán hàng ngày của dân cư tại địa phương; Hạ tầng cơ sở các chợ nhìn chung còn
thấp, nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ chủ yếu là vốn ngân sách; việc thu hút nguồn
vốn đầu tư để phát triển chợ từ các nguồn khác còn hạn chế; công tác quản lý chợ
chưa lôi cuốn rộng rãi các thành phần kinh tế tham gia
Trang 28Thành phố đã không ngừng đầu tư để thực hiện quy hoạch phát triển đô thị,
các chợ đang không ngừng dược nâng cấp phát triển, cơ sở vật chất đang dần dần
được cải thiện, tình hình phát triển chợ cũng ngày càng tốt hơn, doanh thu từ chợ
cũng không ngừng tăng lên Tuy nhiên sự phát triển của các loại hình kinh doanh
khác như các siêu thị, TTTM và các cửa hàng tự chọn, tạp hoá và thực trạng chất
lượng hàng hoá không đảm bảo đã làm cho doanh số bán hàng hoá ở chợ bị ảnh
hưởng.Tình hình phát triển còn nhiều vấn đề tồn đọng cần giải quyết Chợ kinh
doanh theo kiểu vừa bán sỉ, vừa bán lẻ nên lượng khách thường đông vào các ngày
cuối tuần Những năm gần đây hàng loạt các cửa hàng, siêu thị được đầu tư xung
quanh chợ và đặc biệt là các chợ tự phát mọc trên các tuyến đường, mặc dù các cấp
chính quyền nơi đây đã tích cực giải toả song các tuyến đường này vẫn tụ tập hoạt
động vào buổi chiều tối, đã ảnh hưởng đến sức mua của các hàng trong chợ Bên
cạnh đó, thói quen của tiểu thương thường nói thách quá cao, lôi kéo khách hàng,
lấn chiếm diện tích lối đi đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh, kể cả
an ninh trật tự tại khu vực chợ
Hiện nay, việc các siêu thị lớn lần lượt ra đời với quy mô lớn kèm theo những
đợt khuyến mãi hoành tráng cộng với hệ thống siêu thị trước đó đã có mặt trên
thành phố như: Co-opmart, Metro, BigC, Intimex càng khiến cho bà con tiểu
thương bán buôn, bán lẻ ở các chợ trên địa bàn thành phố thêm khó khăn Người
dân có xu hướng tập trung mua ở các siêu thị, có không gian thoáng đãng hơn, giá
cả cạnh tranh và được niêm iết nên việc mua bán hàng hóa ở siêu thị dễ dàng và
thoải mái hơn ở chợ Ngoài ra, đi siêu thị cũng là việc thư giản, dạo chơi buổi tối
tạo một cảm giác thoải mái Nên khi hệ thống các siêu thị bán lẻ mọc lên thì gây
một khó khăn lớn trong việc tiêu thụ hàng hóa ở chợ
Nếu như những năm trước, những ngày cuối của tháng Chạp, tháng cao điểm
kinh doanh của mùa Tết thì lượng khách tập trung về các chợ Cồn, chợ Hàn và các
chợ lớn khác trên địa bàn thành phố đã đông để mua sắm, bán buôn bán lẻ thì một
hai năm gần đây khách đổ về các chợ có xu hướng giảm dần Thay váo đó, người ta
đổ xô di siêu thị
Trang 29Nhìn chung có một số nguyên nhân dẫn đến việc các chợ bán hàng ít khách
dần như: Các hệ thống siêu thị trên thành phố khai trương nhiều với những chiêu
thức quảng bá, khuyến mãi hấp dẫn, nên đã thu hút lượng khách rất lớn ở thành phố
lẫn khách các địa phương khác đến mua sắm Hơn nữa, ở các siêu thị tiện lợi, thứ
gì cũng có, mà lại không phải trả giá nên rất thu hút người tiêu dùng
Vấn đề quan trọng nữa chính là yếu tố chất lượng hàng hóa và an toàn vệ sinh
thực phẩm ở các chợ rất đáng báo động mà các phương tiện thông tin đại chúng,
báo chí liên tục đưa tin trong thời gian qua như hạt dưa, ớt có sử dụng chất
rhodamine B gây ung thư, và hàng loạt các loại thực phẩm không đủ chất lượng,
hàng giả, hàng nhái, dẫn đến tâm lý người tiêu dùng thận trọng hơn khi chọn mua
các sản phẩm ở các chợ Thay vào đó người tiêu dùng chọn mua hàng hóa ở các
siêu thị vì ở đây hàng hóa có nhãn mác, có thương hiệu; giá cả thì niêm yết không
phải trả, đặc biệt là việc quản lý chất lượng tốt hơn Vì vậy hàng hóa ở siêu thị gây
thiện cảm hơn cho người tiêu dùng là điều dễ hiểu
Đây cũng là bài toán nan giải cho thành phố, không chỉ trước mắt mà là tương
lai, bởi chợ không chỉ là nơi mua sắm mà còn là nơi gắn với giá trị văn hóa đặc
trưng riêng của từng địa phương Chợ là một trong những nơi phản ánh chính xác
và đầy đủ nhất tập quán, lối sống của một đô thị Bởi vậy, rất cần thiết phải xây
dựng hệ thống chợ ở Đà Nẵng ngày càng phát triển Theo đó, cần phải có chính
sách phát triển mô hình kinh tế chợ bền vững làm thế nào để chợ không có hoặc ít
hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng nghĩa là văn hóa tiêu dùng trung thực
trong kinh doanh tại chợ được tạo lập
Mặt khác, chợ sạch sẽ, đẹp và được cấu trúc, sắp xếp một cách khoa học, hiện
đại còn chứng tỏ rất rõ năng lực quản lý, tổ chức cuộc sống tốt đẹp của một miền
đất, một thành phố văn minh theo đúng chủ trương mà thành phố đã đề ra, như thế
mới làm yên lòng người tiêu dùng, du khách, hấp dẫn mọi người từ khắp nơi tìm
đến là lẽ đương nhiên Làm được những điều này mới hy vọng việc mưu sinh của
hàng ngàn hộ kinh doanh cá thể vốn từ lâu đã gắn chặt với chợ mới có cơ hội phát
triển trước cơn bão đầu tư của các chuỗi siêu thị
1.2 Thực trạng phát triển mạng lưới phân phối hiện đại – Siêu thị và TTTM