1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT huyện thọ xuân, thanh hoá

108 768 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa
Tác giả Trịnh Quang Thọ
Người hướng dẫn Phó Giáo Sư-Tiến Sỹ: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghề", với nội dung bàn đến vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sựphát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựachọn nghề nghiệp nhằm sử dụng có

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-***** -TRỊNH QUANG THỌ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO

CHẤT LUỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THỌ XUÂN, THANH HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 60.14.05 Người hướng dẫn: Phó giáo sư-Tiến sỹ: Nguyễn Thị Mỹ Trinh

Vinh 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã được sự giúp đỡ tận tình của nhiều

tổ chức và cá nhân, tác giả xin chân thành cám ơn:

- Phó giáo sư-tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Trinh đã hướng dẫn, góp ý hết sức cụ thể, chi tiết để giúp hoàn thành luận văn này

- Các thầy, cô giáo khoa sau đại học, chuyên ngành quản lý giáo dục, thư viện trường ĐH Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành chương trình đào tạo và hoàn thành luận văn này

- BGH, CBGV và HS các trường THPT huyện Thọ Xuân đã hết sức giúp đỡ

và cộng tác

- Lãnh đạo công ty cổ phần mía đường Lam Sơn, lãnh đạo trường trung cấp nghề, TT GDHN-DN và lãnh đạo các cơ quan, xí nghiệp trong địa bàn đã tạo điệu kiện giúp đỡ và cung cấp thông tin quan trọng

- Các bạn sinh viên, các nhà doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể, hội cha mẹ học sinh đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Vì kinh nghiệm còn ít, chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả rất vuilòng nhận được sự đóng góp ý kiến của các độc giả

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh 2010

Tác giả

Trịnh Quang Thọ

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

NỘI DUNG

1.4 Các yếu tố QL ảnh hưởng đến chất lượng công tác GDHN ở

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GDHN Ở CÁC

2.1 Một số nét về tình hình huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa 342.2 Thực trạng chất lượng công tác GDHN ở các trường THPT

2.3 Thực trạng QL công tác GDHN ở các trường THPT huyện Thọ

2.4 Đánh giá chung về thực trạng QL công tác GDHN ở các trường

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GDHN Ở CÁC TRƯỜNG THPT

HUYỆN THỌ XUÂN, THANH HOÁ

60

3.2 Các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng HĐ GDHN 613.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp QL công tác GDHN 803.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 81

Trang 4

BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

DANH M C CÁC B NG, SỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ ẢNG, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ Ơ ĐỒ, ĐỒ THỊ ĐỒ, ĐỒ THỊ ĐỒ, ĐỒ THỊ, THỊ

Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các nội dung GDHN 20Bảng 2.1 Mạng lưới trường, lớp, HS và chất lượng HS THPT. 35Bảng 2.2 Tỷ lệ tốt nghiệp THPT và đậu ĐH. 36

Bảng 2.4 Kết quả đánh giá chất lượng công tác hỗ trợ định hướng 38

Trang 5

nghề nghiệp và tư vấn nghề cấp THPT huyện Thọ Xuân năm 2010.

Bảng 2.5 Về việc chọn nghề và tư vấn chọn nghề 39Bảng 2.6 Đánh giá hiệu quả công tác tư vấn chọn nghề cho HS. 41Bảng 2.7 Kết quả thi ĐH, khối thi và phân ban 42Bảng 2.8 Dự định về phân luồng và chọn trường của HS THPT 44Bảng 2.9 Sự đánh giá của GV và HS về sự hiểu biết của HS đối với

Bảng 2.10 Đánh giá về QL các hình thức GDHN trong nhà trường 51

Bảng 2.12 Đánh giá về sự phối hợp các lực lượng xã hội trong

Sơ đồ 3.2 Phân loại nghề theo đối tượng lao động 67

Sơ đồ 3.3 Phân loại các ngành nghề theo các loại hình 67

Sơ đồ 3.5 QL việc tăng cường CSVC phục vụ cho GDHN 78

Sơ đồ 3.6 Mối quan hệ giữa các giải pháp QL GDHN 81Bảng 3.7 Kết quả khảo sát về tính cần thiết và tính khả thi của các

Trang 6

làm thế nào để định hướng đúng được cái nghề phù hợp để có thể gắn bó máuthịt với mình, theo chân mình suốt cuộc đời, điều đó quả là không phải dễ!

Muốn tiến hành CNH-HĐH đất nước một cách thắng lợi thì phải pháttriển mạnh sự nghiệp giáo dục, phát triển nhân tố con người vì con người vừa làmục tiêu vừa là động lực của sự phát triển Chính vì thế, Đảng, nhà nước vàngành GD&ĐT rất quan tâm tới GDHN cho HS phổ thông Điều 27 chương III

Luật giáo dục 2005 khẳng định về mục tiêu của giáo dục THPT “Giáo dục THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và

HN, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.

Vì thế, GDHN là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu GD&ĐT, góp phầnvào việc phân luồng HS, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động hoặctiếp tục học lên cao phù hợp với năng lực của bản thân, khả năng của gia đình vànhu cầu của xã hội Hơn nữa, hiện nay nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mạithế giới, vấn đề hội nhập kinh tế toàn cầu và thị trường lao động không biên giớikhiến thanh niên và HS phải biết nắm bắt cơ hội trên cơ sở hiểu rõ năng lực củabản thân để chọn ngành nghề phù hợp với yêu cầu của xã hội đồng thời có khảnăng thích ứng và thay đổi nghề nghiệp

Trong khi đó nhiều nước trên thế giới rất coi trọng công tác HN: Pháp,

Thuỵ Sĩ, Bỉ, Áo, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hoa Kỳ, Canađa,Australia, hệ thống HN phát triển rất cao

Trong những năm qua, nhà trường PT ở Việt Nam mới chỉ chú trọng đếndạy kiến thức văn hoá, chưa chú ý nhiều đến GDHN cho HS Nhà trường chưachuẩn bị tâm thế cho HS sẵn sàng đi vào cuộc sống lao động Đội ngũ GV có rất

ít người đã làm tốt công tác này, vì họ chưa được đào tạo sư phạm về hướngnghiệp và không hiểu nhiều về nghề nghiệp, về nhu cầu thị trường lao động của

xã hội nên việc GDHN cho HS vẫn còn hạn chế

Trang 7

Thực tế cho thấy HS ở cuối cấp THPT chưa có sự chuẩn bị chu đáo trongviệc chọn hướng đi cho mình Kết quả khảo sát cho thấy có tới 70% HS tốtnghiệp THPT bước vào đời không được hướng nghiệp đầy đủ Bên cạnh đó, do

áp lực tâm lý từ phía gia đình là đều muốn con em mình vào ĐH cùng với xuhướng của bạn bè và quan niệm của xã hội đã dẫn đến HS chọn sai ngành nghề,

đổ xô vào học những ngành nghề mà xã hội không thiếu nên khi tốt nghiệp ratrường không thể xin được việc làm hoặc phải chấp nhận làm những việc khôngđúng chuyên môn Điều đó gây hụt hẫng về tâm lý và gây lãng phí lớn chi phíđào tạo

Do đó, GDHN trong các trường phổ thông nói chung và các trường THPThuyện Thọ Xuân, Thanh Hoá nói riêng hiện nay cần được các cấp QLGD quantâm đúng mức Với những lý do trên nên chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề

“Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp

ở các trường trung học phổ thông huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá”

2 Mục đích nghiên cứu:

Đề xuất những giải pháp QL nhằm nâng cao chất lượng GDHN, từ đó gópphần nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường THPT huyện Thọ Xuân,Thanh Hoá

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

- Khách thể nghiên cứu: QL công tác GDHN của ở trường THPT

- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp QL nhằm nâng cao chất lượng GDHN

ở các trường THPT huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá

4 Giả thuyết khoa học:

Nếu áp dụng đồng bộ một số giải pháp QL công tác GDHN mang tínhkhoa học, khả thi thì có thể nâng cao chất lượng công tác này ở các trườngTHPT huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về QL công tác GDHN cho HS ở các trường

Trang 8

- Tìm hiểu thực trạng QL công tác GDHN ở các trường THPT huyện ThọXuân, Thanh Hoá

- Đề xuất và khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của một số giải pháp

QL nhằm nâng cao chất lượng công tác GDHN ở các trường THPT huyện ThọXuân, Thanh Hoá

6 Phạm vi nghiên cứu:

Chỉ tập trung khảo sát thực trạng QL về công tác GDHN và tổ chức thăm

dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp được đề xuất ở 3 trường: THPT LêVăn Linh, THPT Lam Kinh, THPT Thọ Xuân 5, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThanhHóa

7 Phương pháp nghiên cứu:

Để nghiên cứu đề tài này tác giả sử dụng các nhóm phương pháp:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích vàtổng hợp lý thuyết, phương pháp cụ thể hoá lý thuyết, phương pháp phân loại và

hệ thống hóa lý thuyết

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát,phương pháp điều tra, phương pháp chuyên gia, phương pháp tổng kết kinhnghiệm

7.3 Phương pháp hỗ trợ: sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu

8 Những đóng góp của luận văn:

Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tácGDHN trong trường THPT, từ đó đề xuất được các giải pháp QL hiệu quả côngtác này ở các trường THPT huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá

9 Cấu trúc nội dung của luận văn:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng QL công tác GDHN ở các trường THPT huyện

Trang 9

Thọ Xuân, Thanh Hoá

Chương 3: Một số giải pháp QL nhằm nâng cao chất lượng công tácGDHN ở các trường THPT huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới.

HN đã có một lịch sử ra đời và phát triển khoảng 100 năm trên thế giới

Hệ thống HN học đường và nghề nghiệp đã có những mức phát triển rất cao ởcác nước như Pháp, Bỉ, Thuỵ Sỹ, Đức, Hoa kỳ, Australia, Liên Xô, v.v

Vào giữa thế kỷ 19 (1848), ở Pháp xuất hiện cuốn sách "Hướng dẫn chọn

Trang 10

nghề", với nội dung bàn đến vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự

phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựachọn nghề nghiệp nhằm sử dụng có hiệu quả năng lực lao động của thế hệ trẻ.Các nhà tâm lý học ở Pháp là những người sáng lập ra trào lưu định hướng vàViện Quốc gia Định hướng nghề (INOP) thành lập năm 1928 do ba nhà khoahọc thay nhau lãnh đạo: J.Fontegne, H Labbé và H Périon Năm 1939 viện nàyđổi tên là Viện Quốc gia nghiên cứu về Lao động và HN (INETOP) Các bài dạycủa Viện do các giáo sư tầm cỡ trong ngành đảm nhiệm, trong đó GS.JM Lahygiảng dạy về HN, chọn nghề, GS H Luc giảng dạy về triết lý HN HN được thểchế hoá bằng sắc lệnh năm 1938 liên quan tới HS rời ghế nhà trường lúc 14 tuổi

Tại Bỉ, O Decroly là người sáng lập ra Trung tâm HN tại Bruxelles năm1939

Ở Thuỵ Sỹ, Claparede đã phát triển công tác HN và chủ trì hội nghị quốc

tế đầu tiên về HN tại Genevé năm 1920 Hai giáo sư J.M Lahy và J Fontegne đại diện nước Pháp tham dự hội nghị này Năm 1922, GS Claparede đăng bài

-nghiên cứu nhan đề "HN - vấn đề và các phương pháp" theo đơn đặt hàng của Tổ

về hàng triệu người, những việc làm của chúng ta sẽ sống một cuộc sống âm thầm nhưng mãi có hiệu quả và trên thi hài của chúng ta sẽ giữ những giọt nước mắt nóng bỏng của những con người cao quí” [19, 52]

Năm 1918-1919 V.I Lenin đã yêu cầu cần cho HS phổ thông làm quenvới khoa học kỹ thuật, với các cơ sở sản xuất hiện đại Luận điểm của V.I Lenin

đã được N.K Crupxkaia làm sáng tỏ và cụ thể hóa vào thực tiễn trong bài viết

Trang 11

“Tự do chọn nghề” (năm 1929) Theo bà, thông qua HN, mỗi HS đều phải nhận

thức sâu sắc hướng phát triển kinh tế của đất nước, những nhu cầu của nền sảnxuất cần được thoả mãn, những nhiệm vụ của thanh, thiếu niên phải đáp ứngđược yêu cầu mà xã hội đề ra trước các em trong lĩnh vực lao động sản xuất.Mặt khác, công tác HN lại phải giúp cho các em phát triển được hứng thú vànăng lực nghề nghiệp, giáo dục cho các em thái độ lao động đúng đắn, động cơchọn nghề trong sáng Từ đó, thanh thiếu niên có thái độ tự giác trong việc chọnnghề

1.1.2 Ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, dựa trên kết quả thực nghiệm đưa công tác HN vào trườngphổ thông của bộ phận Tâm lí học lao động, HN thuộc Viện KHGD (lúc đó làcác tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong tiến hành từ năm 1977 đến 1980 tạihuyện Thanh Oai tỉnh Hà Sơn Bình, trường PTCS Bắc Lí, Hà Nam Ninh và một

số trường PT ở Hà Nội), Bộ giáo dục đã cho sửa chữa, bổ sung và ban hànhchương trình sinh hoạt HN tạm thời cùng với tài liệu sinh hoạt HN của lớp cuốicấp THCS và THPT để các trường thực hiện, rút kinh nghiệm

Năm học 1980-1981, đồng chí trưởng ban khoa giáo trung ương BùiThanh Khiết và Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thị Bình đến thăm các cơ sở thựcnghiệm, thấy có kết quả tốt đã cho phép nhóm thực nghiệm lập đề án trình Uỷban cải cách giáo dục Trung ương để mở rộng, đưa công tác HN vào các trườngphổ thông

Dựa trên các công trình đã nghiên cứu, các tác giả Phạm Tất Dong, PhạmHuy Thụ, Nguyễn Trọng Bảo, Nguyễn Thế Quảng, Đoàn Chi đã góp phần tích

cực xây dựng đề án "HN và sử dụng hợp lý HS ra trường".

Ngày 19 tháng 3 năm 1981, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định số 126/

CP: "Về công tác HN trong trường PT và việc sử dụng hợp lý HS phổ thông cơ

sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường".

Năm 1984 khi sơ kết 3 năm thực hiện quyết định số 126/CP của Hội đồng

Trang 12

Chính phủ, Bộ Giáo dục đã nêu vấn đề: Tiếp theo HN phải DN cho HS phổthông để nếu không tiếp tục học lên, HS ra đời dễ tạo công ăn việc làm, sẵn sàngtham gia lao động sản xuất ở địa phương Chủ trương này đã được đưa ra toànngành thảo luận và được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội 6 Đảng Cộng sản

Việt Nam (1986): Trường phổ thông phải chuyển mạnh theo hướng dạy kiến thức phổ thông cơ bản, lao động, kỹ thuật tổng hợp, HN và DN.

Từ năm 1987-1990 do sáp nhập Bộ, phải thu gọn đầu mối Ban GDHNsáp nhập vào Vụ Giáo dục phổ thông, không còn đủ sức mạnh để triển khai các

HĐ HN, hậu quả là phong trào HN ở các địa phương sa sút nghiêm trọng, côngtác tư vấn nghề tạm thời bị dừng lại

Tháng 3 năm 1991, trước yêu cầu của thực tiễn, Bộ trưởng GD&ĐT TrầnHồng Quân cho khôi phục đầu mối tổ chức chỉ đạo HĐ lao động - HN của toànngành, đã thành lập Trung tâm Lao động - HN trực thuộc Bộ GD&ĐT Nhờquyết định đúng đắn của Bộ trưởng, chỉ 1 năm sau, Trung tâm Lao động - HN

đã khôi phục được công tác HN cho HS phổ thông Gần đây nhất, trong chươngtrình Khoa học - Công nghệ cấp Nhà nước KX - 05, đề tài KX - 05 - 09, các tácgiả Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân đã công bố các công trình:

"Một số vấn đề về HN cho HSPT" và "Một số kinh nghiệm về giáo dục phổ thông

và HN trên thế giới" Theo đó, nhiều giải pháp và kinh nghiệm giáo dục phổ

thông và HN trên thế giới đã được tổng hợp, phân tích nhằm góp phần hiện thựchoá mục tiêu HN cho HS THCS và THPT ở Việt Nam

Năm 2001 nghị quyết số 40 của Quốc hội khoá X, chiến lược phát triểngiáo dục 2001-2010, các văn kiện đại hội Đảng lại một lần nữa nhấn mạnh đếnviệc GDHN cho HS THPT nhưng vẫn chưa được các cấp lãnh đạo quan tâmđúng mức vì họ chưa thấy rõ được tầm quan trọng của GDHN Vì thế GDHN ởnước ta còn nhiều hạn chế Cho nên công văn số 8410/ BGD&ĐT-VP về việchướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục lao động - HN năm học 2007-2008 lại

một lần nữa nhắc nhở các Sở GD&ĐT: “Nghiêm túc triển khai thực hiện đủ HĐ

Trang 13

GDHN ở các trường THCS, THPT ” và “Đẩy mạnh công tác tư vấn HN để góp phần phân luồng và chuẩn bị cho HS lớp 9 lựa chọn các ban học ở trường THPT hợp lý và giúp HS lớp 12 lựa chọn học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động”

Những vấn đề GDHN ở trường THPT đã được nhiều nhà nghiên cứu quantâm (Phạm Tất Dong [10], Trần Khánh Đức [16], Hà Thế Truyền [37, 38], ĐặngDanh Ánh [1, 2], Nguyễn Viết Sự [44,], Nguyễn Bá Minh [27], Nguyễn Đức Trí[35, 36], Nguyễn Văn Lê - Hà Thế Truyền- Bùi Văn Quân [24]) và đề cập tới ởnhiều góc độ khác nhau trong thời gian qua

Bản thân đã có đề tài: "Một số biện pháp chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác GDHN ở trường THPT BC 2- Thọ Xuân", đạt giải A cấp tỉnh năm 2005.

Như vậy, vấn đề GDHN và QL công tác GDHN đã được quan tâm, tuynhiên, chưa nhiều tác giả nghiên cứu sâu và toàn diện về các giải pháp QL nhằmnâng cao chất lượng công tác GDHN ở trường THPT, đặc biệt chưa tác giả nàotìm hiểu vấn đề đó trên địa bàn huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá

1.2 Một số khái niệm cơ bản.

1.2.1 Quản lý.

1.2.1.1 Khái niệm

Tuỳ theo cách tiếp cận mà ta có thể hiểu QL theo nhiều cách khác nhau:

- "QL là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định." [29, 772]

- Paul Hersey và Ken Blanc Hard “QL là quá trình cùng làm việc thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức” [28, 12]

- Tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “QL là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu chung”.[3, 17]

- Tác giả Trần Quốc Thành xác định: “QL là sự tác động có ý thức của chủ thể QL để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và

Trang 14

HĐ của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà QL phù hợp với qui luật của khách quan” [33, 40]

Nhìn chung ta có thể hiểu: QL là sự tác động hợp qui luật của chủ thể QL đến khách thể QL để điều khiển, hướng dẫn các hành vi, HĐ của họ nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức

1.2.1.2 Chức năng của QL: là dạng HĐ QL thông qua đó chủ thể QL tác

động vào khách thể QL nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định, nó gồm 4 chứcnăng: kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá

a) Kế hoạch: Là HĐ dựa trên các thông tin về thực trạng của tổ chức như

nhân lực, tài lực, vật lực, các chỉ thị từ cấp trên và các điều kiện khác để đề ramục tiêu, dự kiến các nguồn lực, phân bổ thời gian, huy động phương tiện, đềxuất giải pháp để đạt mục tiêu

b) Tổ chức: Là việc thiết lập cấu trúc bộ máy, bố trí nhân lực và xây dựng

cơ chế HĐ; đồng thời ấn định chức năng nhiệm vụ cho các bộ phận và cá nhân,huy động, sắp xếp và phân bổ nguồn lực nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã đề ra

c) Chỉ đạo: Là việc hướng dẫn công việc, liên kết, liên hệ, động viên, kích

thích, giám sát các bộ phận, cá nhân trong tiến trình thực hiện kế hoạch theođúng dụng ý trong bước tổ chức

d) Kiểm tra: Là theo dõi, giám sát, đánh giá các HĐ bằng nhiều cách thức

(trực tiếp hoặc gián tiếp, thường xuyên hoặc định kỳ ) nhằm so sánh kết quảvới mục tiêu để nhận biết về chất lượng và hiệu quả của các HĐ, tìm ra nhữngsai lệch để kịp thời đưa ra những quyết định điều chỉnh

Các chức năng nêu trên luôn được chủ thể QL liên tiếp thực hiện, đan xenvào nhau, phối hợp với nhau và bổ sung cho nhau tạo thành một quá trình QL

Để thực hiện các chức năng QL thì người QL phải có thông tin Vì thế trong quátrình QL thì thông tin đóng một vai trò rất quan trọng, nó tạo sự liên kết giữachủ thể QL và khách thể QL Thông tin là bước khởi đầu vì thiếu thông tinkhông thể xây dựng kế hoạch, nó có thể được coi là một chức năng đặc biệt

Trang 15

trong quá trình QL cùng với bốn chức năng QL đã nêu và nó luôn luôn chiếm vịtrí trung tâm Không có thông tin không thể tiến hành QL và điều khiển bất cứ

Còn theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội

tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất".[30, 7]

Do đó QLGD là thực hiện các chức năng của quá trình QL trong công tác

GD, công tác QLGD còn được hiểu theo khía cạnh nội dung QL, là QL các yếu

tố cấu thành quá trình giáo dục, bao gồm QL các yếu tố: mục tiêu giáo dục, nộidung giáo dục, phương pháp giáo dục, tổ chức giáo dục, người dạy, người học,trường sở, môi trường giáo dục và các lực lượng giáo dục

Mục tiêu QLGD là chất lượng giáo dục của người học với các mặt: chínhtrị tư tưởng, đạo đức, văn hoá, khoa học kỹ thuật, phát triển trí tuệ, thể chất, hiểubiết và thích ứng nghề nghiệp theo yêu cầu của xã hội

Như vậy: QLGD là hệ thống những tác động có hướng đích, hợp qui luật của chủ thể QL đến khách thể và đối tượng quản lý nhằm làm cho hệ giáo dục

Trang 16

được QL vận hành theo đúng đường lối quan điểm của Đảng, thực hiện các mục

tiêu giáo dục đã đề ra bằng các hình thức giáo dục phù hợp

1.2.3 Hướng nghiệp.

1.2.3.1 Khái niệm.

Tuỳ theo cách tiếp cận mà ta có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệmHN:

a, Xét về phương diện kinh tế học: HN được hiểu là hệ thống những giải

pháp dẫn dắt tổ chức thanh, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sửdụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước HN góp phần tích cực vàoquá trình phấn đấu nâng cao năng suất lao động xã hội

b, Xét về phương diện tâm lý học: HN được coi như một quá trình chuẩn

bị cho thế hệ trẻ sự sẵn sàng tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp Sự sẵn sàngtâm lý đó chính là tâm thế lao động - một trạng thái tâm lý tích cực trước HĐ laođộng

c, Xét về phương diện giáo dục học: HN như một hệ thống tác động giúp

thế hệ trẻ có cơ sở khoa học trong việc chọn nghề, hệ thống điều chỉnh sự lựachọn nghề của HS cho phù hợp với những yêu cầu của sự phân công lao động xãhội, có tính đến hứng thú và năng lực của từng cá nhân Đối với trường PT thì

HN là một hệ thống giải pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong

đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻsẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần pháttriển, đồng thời lại phù hợp hứng thú năng lực cá nhân

1.2.3.2 Vai trò của HN: HN cho HSPT là bước khởi đầu quan trọng trong

quá trình phát triển nguồn nhân lực Trên bình diện cá nhân HN giúp HS chọnnghề phù hợp với nhu cầu của xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng,thích hợp với năng lực, sở trường và điều kiện tâm lý, sinh lý cá nhân để họ cóthể phát triển tới đỉnh cao trong nghề nghiệp, cống hiến thật nhiều cho xã hộicũng như tạo lập được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân Trên bình diện xã hội,

Trang 17

HN nhằm góp phần phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn nhânlực, vốn quí của đất nước để phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội, mang lạiphồn vinh cho đất nước

Như vậy HN là quá trình chọn nghề, chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất xã hội có định hướng và hiệu quả hơn HN vừa là HĐ dạy của thầy vừa

là HĐ học của trò, có nghĩa là trong công tác HN, GV là người tổ chức, ngườihướng dẫn còn HS là người chủ động tham gia vào HĐ để tiếp cận với hệ thốngnghề nghiệp Kết quả cuối cùng của quá trình HN là sự tự quyết định của HStrong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai

1.2.4 Giáo dục hướng nghiệp.

1.2.4.1 Khái niệm:

Theo tài liệu HN của Australia thì “GDHN liên quan đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ thông qua một chương trình hoạch định sẵn và sẽ giúp HS có quyết định về sự lựa chọn nghề trong trường học và sau khi tốt nghiệp, giúp HS làm việc có hiệu quả hơn”.

GDHN là hệ thống các giải pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và xãhội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tâm lý, tri thức, kỹ năng để họ có thể sẵnsàng đi vào ngành nghề, lao động sản xuất và cuộc sống GDHN góp phần pháthuy năng lực, sở trường của từng người, đồng thời góp phần điều chỉnh nguyện

vọng của cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu phân công lao động trong xã hội.

Có thể nói "GDHN là hướng dẫn cho HS ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có ý thức về một nghề mà sau này các em sẽ chọn” [26, 115]

GDHN cho HS THPT là công việc của tập thể sư phạm nhà trường nhằmgiúp HS lựa chọn nghề một cách có ý thức trên cơ sở hiểu biết về sự phát triểnkinh tế-văn hoá-xã hội, về các HĐ, yêu cầu của nghề nghiệp, những đòi hỏi vềphẩm chất đạo đức, năng lực của người lao động đối với nghề nghiệp, nhữngđiều kiện phát triển của nghề nghiệp GDHN cho HS THPT không những chỉtạo ra cơ hội cho việc tuyển chọn lao động mà còn góp phần vào việc phân công,

Trang 18

sử dụng hợp lý HS tốt nghiệp ra trường Đặc biệt đối với các nước nghèo, nềnkinh tế còn thấp, mạng lưới ngành nghề chưa mở rộng, nhất là đối với các nướccòn thừa thầy, thiếu thợ như nước ta hiện nay Từ đó ta thấy rằng thực chấtGDHN trong trường PT là nhằm thực hiện nhiệm vụ hình thành nhân cách nghềnghiệp cho HS, trên cơ sở điều chỉnh động cơ hứng thú nghề nghiệp, chuẩn bịcho HS có ý thức chọn nghề đảm bảo năng suất và hiệu quả lao động cao manglại nhiều lợi ích cho cá nhân và xã hội Từ đó tư vấn giúp HS chọn nghề thíchhợp

1.2.4.2 Tính chất của GDHN: Qua nghiên cứu các tài liệu lý luận, chúng

tôi nhận thấy GDHN có những tính chất cơ bản sau:

a, Tính đồng bộ: Để làm tốt GDHN trong trường THPT đòi hỏi phải có sự

kết hợp của gia đình- nhà trường- xã hội Ngoài ra GDHN còn thể hiện tính haimặt của một vấn đề Một mặt phản ánh qui luật của sự vận hành và phát triểnKT-XH nhất định Mặt khác, phản ánh qui luật hoàn thiện con người và các quitắc hành vi của mỗi cá nhân có chú ý đến những đặc điểm nhân cách từng người

cụ thể

b, Tính hệ thống: GDHN là một quá trình giáo dục liên tục từ những năm

học ở trường THCS, THPT đến quá trình học nghề, hành nghề của mỗi cá nhântrong tất cả các giai đoạn sau này của cuộc đời

Ta thấy tâm lý của con người luôn luôn thay đổi (nhất là đối với lứa tuổiHS), dưới sự giáo dục của nhà trường và sự rèn luyện của bản thân Do vậy nănglực, nguyện vọng của cá nhân cũng thay đổi theo nên GDHN cho HS là quátrình liên tục, lâu dài: giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, giáo dục lao động,thông tin định hướng nghề nghiệp là quá trình theo dõi, phát hiện, bồi dưỡng trithức, kỹ năng và thái độ cần thiết, quá trình rèn luyện và củng cố sức khoẻ vàcác khả năng tâm sinh lý để định hướng nghề cho các em

GDHN cho HS không chỉ dừng lại ở trường THPT mà nó còn được tiếnhành trong các trường ĐH, trường CĐ, trường TCCN Nhất là trong giai đoạn

Trang 19

hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế tri thức và công nghệ thông tin truyền

thông, giai đoạn mà “một nửa lực lượng lao động của thế giới đã phát triển làm việc ở bên ngoài của tổ chức Các tổ chức truyền thống nay chỉ sử dụng 55% lực lượng lao động ở mức toàn thời gian Số còn lại là lao động thời vụ, bán thời gian, hoặc theo hợp đồng” [8, 37] thì GDHN còn phải tiến hành trong cả

quá trình làm việc, lao động để người lao động có khả năng thích nghi và thayđổi việc làm với cơ chế lao động mới Trên bình diện xã hội quá trình HN được

thể hiện qua sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1: Quá trình HN.

c, Tính lịch sử-xã hội: Về mặt xã hội HN có tác dụng điều chỉnh sự phân

công lao động xã hội, tạo ra cân bằng trong sự phân bố dân cư HN kết hợp chặtchẽ với lao động sản xuất và DN có tác dụng làm ổn định xã hội, góp phần giúp

xã hội sử dụng hết sản phẩm đào tạo của trường PT

d, Tính giáo dục: GDHN là bộ phận của giáo dục XHCN Về phương diện

này, GDHN giúp điều chỉnh động cơ chọn nghề của HS, điều chỉnh hứng thúnghề nghiệp của các em theo xu thế phân công lao động xã hội HN cụ thể hoámục tiêu đào tạo ở trường PT Quá trình HN trong nhà trường không dừng lại ở

sự giáo dục ý thức lao động nghề nghiệp mà còn hướng HS đi vào nghề cụ thể

1.2.4.3 Nhiệm vụ của GDHN ở trường PT.

Theo chỉ thị số 33/2003/CT-BGD&ĐT thì GDHN có nhiệm vụ:

Thích ứng nghề Học nghề

Phù hợp nghề Hành nghề Bồi dưỡng

Đào tạo lại

Định

hướng

nghề

Trang 20

- Giáo dục thái độ và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp.

- Tổ chức cho HS học tập làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội

và các nghề truyền thống của địa phương

- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng HS đểkhuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất

- Động viên hướng dẫn HS đi vào những nghề, những nơi đang cần laođộng trẻ tuổi có văn hoá

Ngoài ra, nhiệm vụ của GDHN là phải làm cho HS có thể thích ứng với

sự dịch chuyển của cơ cấu ngành nghề và cơ cấu lao động trong xã hội và địaphương, nâng cao hiểu biết về an toàn lao động Song song với nó còn rèn luyện

kỹ năng nghề nghiệp, thao tác kỹ thuật, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng tính toán

và khả năng vận dụng kỹ thuật vào thực tiễn cho HS

1.2.4.4 Các con đường HN.

Để đạt được mục đích trên, GDHN trong trường PT được thực hiện qua bốncon đường:

a, HN thông qua việc dạy các môn văn hóa:

Các môn khoa học cơ bản như Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lí v.v

có chức năng cung cấp một hệ thống những khái niệm làm nền tảng cho sự hìnhthành tư duy lí luận, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng cũngnhư tạo ra ở HS những kĩ năng thực hành, ứng dụng những tri thức vào cuộcsống sinh động hàng ngày GDHN qua các môn học là một nguyên tắc đặt racho nhà giáo Điều này có nghĩa là, những kiến thức mới, những thông tin mới

mà bài học mang lại cho HS đều phải có tác dụng GDHN Những khả năng HNqua các môn học gồm:

- Hình thành sự định hướng nghề nghiệp qua các bài giảng cụ thể, giúp cho

HS có biểu tượng tương đối rõ ràng về hệ thống nghề đang cần phát triển

- Xây dựng cho HS phương pháp làm việc và tác phong công tác phù hợpvới nghề định chọn

Trang 21

- Phát hiện năng khiếu, tài năng của HS qua các giờ học, từ đó tiến hànhcông tác tư vấn nghề nghiệp cho HS

- Giáo dục ý thức lao động XHCN đối với nghề nghiệp tương lai, từng bướchình thành ở HS sự sẵn sàng tâm lí đi vào lao động sản xuất

b, HN thông qua việc dạy môn công nghệ và dạy nghề PT:

HĐ dạy học môn công nghệ, dạy nghề PT có tác dụng to lớn trong GDHNcho HSPT, góp phần tích cực thực hiện 4 nhiệm vụ HN đã nêu trong quyết định126/CP của Chính phủ Cách thức thực hiện HN qua HĐ dạy học môn côngnghệ và nghề PT:

- Nghiên cứu kĩ để nắm vững, thực hiện nghiêm túc chương trình lao HN

động Trong quá trình soạn bài, lên lớp, giới thiệu cho HS biết các trường lớpđào tạo, nhu cầu lao động của các ngành nghề liên quan đến tri thức và kĩ năngcủa môn công nghệ và nghề PT

- Bảo đảm thực hành, rèn luyện kĩ năng lao động tương ứng với kiến thứccông nghệ và nghề PT

- Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu kĩ thuật cho HS

c, HN thông qua sinh hoạt HN.

Sinh hoạt HN là hình thức GDHN qua việc giới thiệu cho HS biết cácngành nghề đang cần phát triển và những nơi HS có thể đến đó học nghề hoặclàm việc sau khi ra trường Sinh hoạt HN thể hiện rõ vai trò chủ đạo của nhàtrường đối với việc định hướng nghề nghiệp cho thanh thiếu niên Nội dungchương trình sinh hoạt HN có tính hệ thống chặt chẽ nhằm cung cấp cho HSnhững hiểu biết về: cách thức lựa chọn nghề nghiệp tương lai; tình hình và yêucầu phát triển kinh tế của địa phương, của đất nước; đặc điểm và yêu cầu tâmsinh lí của hệ thống ngành nghề cơ bản trong xã hội; hệ thống trường lớp đào tạonghề của Trung ương và địa phương; các hướng đi của HS sau khi ra trường

d, HN thông qua HĐ ngoại khóa ở trong và ngoài nhà trường:

Trang 22

Những HĐ phong phú đa dạng của các tổ ngoại khoá và các hình thức đọcthêm sách báo, xem phim, nghe đài, tham gia các HĐ do đoàn đội, hội CMHS tổchức ở trong và ngoài nhà trường giúp HS mở rộng thông tin nghề nghiệp, nhucầu lao động và điều chỉnh động cơ chọn nghề một cách sinh động, tạo điều kiện

để các em bộc lộ và thể nghiệm tài năng, hứng thú của mình, sau đó tự giác điềuchỉnh nguyện vọng, chọn nghề cho phù hợp với yêu cầu xã hội HN qua các HĐngoại khóa ở trong và ngoài nhà trường được tiến hành như sau:

- Tổ chức cho HS đọc sách báo, nghe đài, xem phim, tận dụng các phươngtiện thông tin đại chúng, văn hoá nghệ thuật phục vụ GDHN, đồng thời chútrọng xây dựng các tổ ngoại khoá

- Tổ chức, động viên HS tích cực tham gia các HĐHN của các đoàn thể, các

cơ sở sản xuất và cơ sở giáo dục ở ngoài nhà trường

- Phát huy vai trò chủ đạo của nhà trường đối với tác động HN của gia đình

1.2.4.5 Ý nghĩa của GDHN ở trường phổ thông.

a, Ý nghĩa giáo dục: GDHN là bộ phận hữu cơ của GDPT Nó có khả

năng điều chỉnh động cơ chọn nghề và hứng thú nghề nghiệp của HS theo nhucầu lao động và sự phân công lao động của xã hội, của địa phương GDHN giúpcho thế hệ trẻ chọn đúng nghề phù hợp với kỹ năng và năng lực của cá nhân,phù hợp xu thế phát triển của xã hội

GDHN góp phần cụ thể hoá mục tiêu đào tạo của trường THPT, nó khôngnhững chỉ đào tạo thế hệ trẻ thành người lao động có tri thức, có kỹ năng làmviệc, có óc sáng tạo mà còn sẵn sàng thay đổi nghề nghiệp khi cần thiết cũngnhư có thể tham gia lao động ở bất cứ nơi nào Như vậy GDHN trong trườngTHPT không dừng ở chỗ giáo dục cho HS ý thức lao động chung chung mà phảihướng các em đi vào một nghề cụ thể hoặc biết tự tạo việc làm phù hợp với khảnăng và nhu cầu của xã hội, có thể thích ứng việc làm trong mọi điều kiện vàcũng có thể thay đổi việc làm khi cần thiết

b, Ý nghĩa kinh tế: GDHN hướng vào sử dụng hợp lý tiềm năng lao động

Trang 23

trẻ để từ đó nâng cao năng suất lao động, giúp họ biết phát huy khả năng củamình, có lòng yêu nghề và tự tạo hứng thú trong nghề nghiệp Nhất là trong giaiđoạn chạy đua giữa các nước về khoa học kỹ thuật, về số lượng và chất lượngthông tin Trong cuộc chạy đua này phần thắng sẽ thuộc về quốc gia nào làm tốtviệc đào tạo đội ngũ lao động lành nghề có tri thức, đội ngũ cán bộ khoa học kỹthuật có trình độ cao Điều đó cũng có nghĩa là quốc gia nào làm tốt công tácGDHN Vì thế khi nói đến GDHN là nói đến tác dụng của nó đối với sự pháttriển kinh tế của đất nước.

c, Ý nghĩa chính trị: Đại hội Đảng lần thứ X đã khẳng định giáo dục phải

“Tạo ra một cơ cấu lao động mới trong đó lao động có trình độ cao, có kỹ năng, biết ngoại ngữ chiếm tỉ trọng ngày càng lớn”.[14, 55]

Vì vậy, nếu GDHN một cách nghiêm túc sẽ góp phần không nhỏ vào việcphân luồng HS tạo tiền đề cho việc tạo ra cơ cấu lao động mới, không những cókiến thức khoa học, có óc sáng tạo mà còn có những kiến thức cơ bản về kỹthuật sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, những thói quen lao động, sẵn sàngbước vào cuộc sống lao động, để xây dựng sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, thựchiện chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN, với mục tiêu làm cho dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

d, Ý nghĩa xã hội: GDHN ở trường PT nhằm mục đích đưa HS THPT đi

vào các ngành nghề mà xã hội và địa phương cần, giúp các em chọn được mộtnghề, để được làm việc, được cống hiến cho xã hội để nuôi sống bản thân vàgiúp đỡ gia đình

Vì vậy nếu làm tốt công việc GDHN sẽ có thể định hướng cho thế hệ trẻ

đi vào cuộc sống lao động một cách có chủ định, hợp khả năng, không lãng phí,

có hiệu quả kinh tế cao góp phần ổn định xã hội, tạo nên một nếp sống lao độngbình thường, lành mạnh, kinh tế bền vững

1.2.4.6 Nội dung của GDHN.

Xét trên bình diện xã hội về lâu dài muốn làm tốt nhiệm vụ HN thì nhà

Trang 24

trường PT phải làm tốt ba nội dung của GDHN:

a, Định hướng nghề nghiệp: là nhằm cung cấp cho HS những thông tin về

tình hình phát triển kinh tế của đất nước của địa phương, về nhu cầu sử dụng laođộng, về thế giới nghề nghiệp, về HĐ của những ngành nghề cơ bản, nghề chủyếu và những yêu cầu của nghề đối với người lao động Qua đó giúp HS đánhgiá bản thân và lựa chọn nghề có chủ định

b, Tư vấn HN: là hệ thống những giải pháp tâm lý- giáo dục để đánh giá

toàn bộ những phẩm chất, năng lực thể chất và tinh thần của thanh thiếu niên,đối chiếu những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đếnnhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế nhằm xác định nhóm nghề phù hợp.Trên cơ sở đó cho HS những lời khuyên chọn nghề có căn cứ khoa học, loại bỏnhững trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề Có hai loại tưvấn:

b1, Tư vấn sơ bộ: GV chủ nhiệm hoặc GV bộ môn đóng vai trò “nhà tư

vấn”, từ những hiểu biết về yêu cầu của một số ngành nghề ở một số trườnghoặc địa phương, về nhu cầu nhân lực và về năng lực của HS từ đó cho HSnhững lời khuyên nên học gì? Ở đâu?

b2, Tư vấn chuyên sâu: Tiến hành trên cơ sở khoa học, đảm bảo độ chính

xác cao nhờ vào các máy móc hiện đại Điều kiện để có loại tư vấn chuyên sâuđòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia tư vấn được đào tạo có tay nghề cao như cácnhà tâm lý, các nhà giáo dục học, các bác sĩ

c, Tuyển chọn nghề: là xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu của nghề để tuyển

người phù hợp vào học hay vào làm việc

Ba nội dung này có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau Trongtrường THPT ta thường tiến hành định hướng nghề nghiệp và tư vấn HN, đồngthời góp phần cho việc tuyển chọn nghề Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, cáctrường trung cấp, CĐ thường xuống trực tiếp trường PT để tuyên truyền, tuyểnchọn nghề thì nội dung công tác tuyển chọn nghề cũng được coi là một nội dung

Trang 25

mà trường PT cần phải làm Ba nội dung của GDHN được biểu diễn bằng sơ đồ

1.2 sau:

Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các nội dung GDHN

1.2.5 Quản lý công tác GDHN

Từ khái niệm về QLGD, HN và GDHN, chúng tôi cho rằng QL GDHN là

hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QLđến khách thể (đối tượng) QL nhằm thực hiện thành công mục tiêu GDHN

Nội dung QL công tác GDHN có thể là:

- QL các điều kiện đảm bảo chất lượng công tác GDHN:

+ CSVC, tài chính phục vụ cho công tác GDHN

Định hướng nghề

1

3 2

Đặc điểm, yêu cầu hệ thống nghề xã hội cần phát tiển

Thị trường lao động

Tuyển chọn nghề

Phẩm chất, năng lực hoàn cảnh cá nhân

Tư vấn nghề

Trang 26

c, Cách tiếp cận thứ ba: Trong giai đoạn hiện nay, QL GDHN chủ yếu theo các tiếp cận thứ ba, đó là QL các thành tố và mối quan hệ giữa các thành

tố cấu trúc của quá trình GDHN nhằm đạt mục tiêu GDHN Bao gồm:

- QL mục tiêu, chương trình, kế hoạch GDHN

- QL nội dung, phương pháp GDHN

- QL hình thức, phương tiện GDHN

- QL các lực lượng GDHN

- QL kiểm tra, đánh giá kết quả GDHN

1.2.6 Chất lượng, chất lượng công tác GDHN.

- Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo chothực thể đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu hoặc nhu cầu tiềm ẩn(theo Tiêu chuẩn TCVN - ISO 8402);

- Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của

sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với sựvật khác

Tóm lại, ta có thể hiểu chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan

Trang 27

1.2.6.2 Chất lượng công tác GDHN.

Theo cách hiểu chất lượng nêu trên, ta có thể đánh giá chất lượng công tácGDHN thông qua kết quả hoàn thành các mục tiêu của GDHN, đó là:

- Giáo dục thái độ và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp

- Tổ chức cho HS học tập làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội

và các nghề truyền thống của địa phương

- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng HS đểkhuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất

- Động viên hướng dẫn HS đi vào những nghề, những nơi đang cần laođộng trẻ tuổi có văn hoá

Tóm lại, chất lượng GDHN được đánh giá bởi các chỉ số sau đây:

- Kết quả phân luồng sau THPT: đó chính là kết quả chọn ban học, chọnkhối thi, chọn nghề của HS

- Kết quả hỗ trợ HS THPT định hướng nghề nghiệp: qua sự hỗ trợ tư vấncủa thầy cô giáo, qua tham khảo tài liệu và các phương pháp GDHN giúp HSchọn được ngành nghề tương lai phù hợp với điều kiện, năng lực của bản thân,

và phù hợp với nhu cầu nhân lực của địa phương, của cả nước

- Kết quả đào tạo nghề: số lượng, tỉ lệ người học có công ăn việc làm,hành nghề phù hợp với sở thích năng lực, với ngành nghề đào tạo

Vì điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên chúng tôi chỉ dừng lại ở việcđánh giá chất lượng GDHN qua 2 tiêu chí: kết quả phân luồng và hỗ trợ HSTHPT chọn nghề

1.2.7 Giải pháp, giải pháp QL nâng cao chất lượng công tác GDHN.

1.2.7.1 Giải pháp.

Theo từ điển tiếng Việt thì "giải pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể" [29, 62 ], hoặc "giải pháp là cách thức giải quyết một vấn đề hoặc thực hiện một chủ trương" [22, 61]

Tựu trung lại ta có thể hiểu giải pháp là cách thức thực hiện, tiến hành

Trang 28

giải quyết một công việc hoặc một phương pháp để thực hiện một chủ trương nào đó sao cho đạt được mục tiêu của tổ chức.

1.2.7.2 Giải pháp QL nâng cao chất lượng công tác GDHN.

Từ cách hiểu về giải pháp và QL như đã nêu trên ta có thể hiểu: giải pháp

QL là cách làm, cách thực hiện, tiến hành giải quyết một công việc hợp qui luậtcủa chủ thể QL tác động đến đối tượng QL để điều khiển, hướng dẫn các hành

vi của đối tượng lý nhằm đạt được mục tiêu QL

Giải pháp QL nâng cao chất lượng công tác GDHN là những cách thức tác động của chủ thể QL hướng vào việc nâng cao chất lượng công tác GDHN, làm cho công tác GDHN đạt được kết quả mong muốn.

1.3 Nội dung QL công tác GDHN ở trường THPT.

1.3.1 QL việc thực hiện mục tiêu, chương trình, kế hoạch GDHN.

GDHN ở trường THPT nhằm mục đích đưa HS lựa chọn các ngành nghề

mà xã hội và địa phương cần, giúp các em chọn được một nghề phù hợp để đượclàm việc, được cống hiến cho xã hội, để nuôi sống bản thân và giúp đỡ gia đình

Vì vậy nếu làm tốt công việc GDHN sẽ có thể định hướng cho thế hệ trẻ

đi vào cuộc sống lao động một cách có chủ định, hợp khả năng, không lãng phí,

có hiệu quả kinh tế cao góp phần ổn định xã hội, tạo nên một nếp sống lao độngbình thường, lành mạnh, kinh tế bền vững

1.3.1.1 Mục tiêu của GDHN ở trường THPT là giúp HS:

cả nước

b, Về kĩ năng:

Trang 29

- Tự đánh giá được năng lực bản thân và điều kiện gia đình trong việcđịnh hướng nghề nghiệp tương lai.

- Tìm kiếm được những thông tin về nghề, về thị trường lao động và cơ sởđào tạo cần thiết cho bản thân trong việc chọn nghề

- Định hướng và lựa chọn được nghề nghiệp tương lai cho bản thân

c, Về thái độ:

- Chủ động tự tin trong việc chọn nghề phù hợp

- Có hứng thú và hướng chọn nghề đúng đắn

1.3.1.2 Chương trình, kế hoạch GDHN trở trường THPT được thực hiện ường THPT được thực hiệnng THPT được thực hiệnc th c hi nực hiện ện

t l p 10, th ng nh t theo hớp 10, thống nhất theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Cấu trúc chương ống nhất theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Cấu trúc chương ất theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Cấu trúc chương ướp 10, thống nhất theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Cấu trúc chươngng d n c a B GD& T C u trúc chẫn của Bộ GD&ĐT Cấu trúc chương ủa Bộ GD&ĐT Cấu trúc chương ộ GD&ĐT Cấu trúc chương Đ ất theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Cấu trúc chương ươngngtrình hi n nay k th a l p 9: l p 10,11 ch y u giúp các em tìm hi u vện ế thừa ở lớp 9: lớp 10,11 chủ yếu giúp các em tìm hiểu về ở trường THPT được thực hiện ớp 10, thống nhất theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Cấu trúc chương ớp 10, thống nhất theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Cấu trúc chương ủa Bộ GD&ĐT Cấu trúc chương ế thừa ở lớp 9: lớp 10,11 chủ yếu giúp các em tìm hiểu về ểu về ềcác nhóm ngh c th , còn l p 12 t p trung v o vi c tìm hi u thông tin ề ụ thể, còn lớp 12 tập trung vào việc tìm hiểu thông tin đào ểu về ớp 10, thống nhất theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Cấu trúc chương ập trung vào việc tìm hiểu thông tin đào ào việc tìm hiểu thông tin đào ện ểu về đào việc tìm hiểu thông tin đàoo

t o v hào việc tìm hiểu thông tin đào ướp 10, thống nhất theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Cấu trúc chươngng phát tri n kinh t nh m giúp cho vi c ch n ngh , ch n ng nh,ểu về ế thừa ở lớp 9: lớp 10,11 chủ yếu giúp các em tìm hiểu về ằm giúp cho việc chọn nghề, chọn ngành, ện ọn nghề, chọn ngành, ề ọn nghề, chọn ngành, ào việc tìm hiểu thông tin đào

ch n trọn nghề, chọn ngành, ường THPT được thực hiệnng có hi u qu Chện ả Chương trình GDHN ở trường THPT gồm các nội ươngng trình GDHN trở trường THPT được thực hiện ường THPT được thực hiệnng THPT g m các n iồm các nội ộ GD&ĐT Cấu trúc chươngdung c th nh sau: ụ thể, còn lớp 12 tập trung vào việc tìm hiểu thông tin đào ểu về ư

10

1 Lựa chọn nghề nghiệp tương lai.

2 Năng lực bản thân và truyền thống gia đình.

3 Tìm hiểu nghề dạy học.

4 Giới tính và nghề nghiệp.

5 Tìm hiểu một số nghề về Nông-Lâm-Ngư nghiệp.

6 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Y, Dược

7 Tham quan một đơn vị sản xuất công hoặc nông nghiệp.

8 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành xây dựng.

9 Nghề tương lai của tôi.

11

1 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Giao thông-Địa chất.

2 Tìm hiểu một số nghề thuộc lĩnh vực kinh doanh, dich vụ.

3 Tìm hiểu một số nghề thuộc lĩnh vực an ninh quốc phòng.

4 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Năng lượng, Bưu chính viễn

thông, Công nghệ thông tin.

5 Giao lưu với những điển hình về sản xuất, kinh doanh giỏi,

những gương vượt khó theo chủ đề; Làm gì sau khi tốt nghiệp THPT?

6 Nghề nghiệp với nhu cầu của thị trường lao động.

7 Thảo luận: Tôi muốn đạt được được ước mơ của mình.

8 Tham quan một số trường ĐH (hoặc CĐ), TCCN, DN tại địa

phương.

Trang 30

1 Định hướng phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương.

2 Thảo luận: Những điều kiện để thành đạt trong nghề.

3 Tìm hiểu hệ thống trường TCCN và đào tạo nghề của trung

ương và địa phương.

4 Tìm hiểu hệ thống đào tạo ĐH và CĐ.

5 Tư vấn nghề.

6 Hướng dẫn HS chọn nghề cụ thể để làm hồ sơ tuyển sinh.

7 Thảo luận: Thanh niên lập thân, lập nghiệp.

8 Tham quan hoặc tổ chức HĐ văn hoá theo chủ đề HN.

Thời lượng của HĐ GDHN là 3 tiết/tháng Từ năm học 2008-2009, số tiếtcủa HĐ GDHN giảm còn 1 tiết/tháng, trong đó một số nội dung được tích hợpvào HĐ ngoài giờ lên lớp và môn Công nghệ

1.3.2 QL việc thực hiện nội dung, phương pháp GDHN.

1.3.2.1 Nội dung: Muốn làm tốt nhiệm vụ HN thì nhà trường THPT phải

thực hiện tốt các nội dung cụ thể của GDHN là cung cấp:

+ Thông tin về phương hướng phát triển kinh tế- xã hội

+ Thông tin về các nhóm ngành, nhóm nghề và nghề cụ thể

+ Thông tin về thị trường lao động

+ Thông tin về đào tạo của các nhà trường

+ Thông tin về hứng thú, năng lực, hoàn cảnh gia đình HS, về cơ sở khoahọc để giúp các em chọn nghề phù hợp

Tất cả các thông tin trên giúp các em có được định hướng nghề nghiệpđúng đắn, từ đó có thể lựa chọn nghề phù hợp

Nội dung chương trình đảm bảo được tính liên thông, kế thừa và đồng bộ.Các kiến thức về thế giới nghề nghiệp không trùng lặp mà được nâng cao

Nội dung cụ thể theo quy định của Bộ GD&ĐT

1.3.2.2 Phương pháp: Phương pháp GDHN có thể thực hiện riêng theo

lớp hoặc theo khối lớp, có thể giao cho GV hoặc mời các chuyên gia, nhà QLkinh tế, QL doanh nghiệp giảng dạy Các phương pháp cụ thể như sau:

+ Thuyết trình nêu vấn đề

Trang 31

+ Dạy học theo tình huống

+ Thảo luận

+ Dạy học dự án: Dạy học theo dự án là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm có

thể giới thiệu như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, chương trình hành động cụthể Trong đó HS: là người học tích cực thông qua việc tự giải quyết vấn đề, tựhướng dẫn, tìm ý nghĩa và tự xây dựng tri thức riêng, học qua cộng tác và làm việcvới bạn bè; GV: hướng dẫn tri thức, tạo khung cho việc học tập có phối hợp

+ Dạy học theo nhóm nhỏ: Nhóm giữ vai trò cơ bản trong việc hình thànhnhân cách của tuổi vị thành niên Làm việc theo nhóm sẽ hỗ trợ cho HN: tạo ra

sự thay đổi ở HS về ý tưởng, định hướng nghề nghiệp… và giúp HS đi đếnquyết định cuối cùng Mục đích chủ yếu của làm việc nhóm trong HN là trợ giúp cho việc xây dựng bản thân (bản sắc cá nhân), cho sự thay đổi và chuyển tiếp.

+ Tổ chức trò chơi theo chủ đề HN

+ Đóng vai (diễn kịch), mô phỏng

1.3.3 QL các hình thức, phương tiện GDHN.

1.3.3.1 Các hình thức GDHN.

- HN qua dạy các môn văn hóa

- HN qua dạy môn công nghệ và DN PT

- HN qua các buổi sinh hoạt HN

- HN qua HĐ ngoại khóa như HĐ tham quan các cơ sở sản xuất, cáctrường ĐH, CĐ, trung cấp nghề, các cuộc thi

1.3.3.2 Các phương tiện GDHN.

- Tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo

- Băng hình, máy chiếu

Trang 32

- Các phương tiện thông tin đại chúng

- Các nhà xưởng, phòng thí nghiệm, thực hành

1.3.4 QL các lực lượng GDHN.

- Ban giám hiệu: là lực lượng quản lý cơ bản HĐ GDHN thông qua việc

ra quyết định lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức, kiểm tra, đánh giá công tác GDHNtại nhà trường THPT Vai trò chính thuộc về người Hiệu trưởng

- GV chủ nhiệm, GV nghề, GVBM, GV làm công tác GDHN: là những

người, dưới sự quản lý của Hiệu trưởng, trực tiếp tổ chức thực hiện GDHN,đánh giá kết quả GDHN

- Ban tư vấn HN, ĐTN: là lực lượng hết sức quan trọng trong việc tìm

hiểu, khai thác thông tin, những người có chuyên môn và khả năng thuyết phụccao, gần gũi với HS, có hình thức tổ chức đa dạng, sáng tạo

- Hội CMHS, hội khuyến học: là lực lượng định hướng, giúp đỡ, ủng hộ về

mặt tinh thần, tài chính cho việc chọn ngành, chọn nghề của con em

- HS cũ, sinh viên: là lực lượng cung cấp thông tin về các ngành nghề đào

tạo và kinh nghiệm chọn ngành, nghề của mình, từ đó lôi cuốn các em theonhững ngành nghề mà họ đã chọn

- Người thành đạt, các chuyên gia, nhà QL kinh tế, QL doanh nghiệp: đây

là lực lượng rất cần được các nhà trường chú trọng bởi họ đã thành đạt trên cơ

sở công việc ngành nghề đã chọn Họ có thể đã qua trường lớp cơ bản hoặcnhững người có khả năng kinh doanh, dịch vụ mà không qua trường ĐH-CĐnào HS rất muốn học tập và làm theo họ

- Lực lượng của các trường ĐH-CĐ-TCCN: lực lượng này thường giúp

cho các em và nhà trường những thông tin quan trọng việc chọn ngành, chọnnghề, chọn trường Họ còn có thể hỗ hợ CSVC đáng kể cho nhà trường trongcông tác tổ chức GDHN

1.3.5 QL việc kiểm tra, đánh giá kết quả GDHN.

Kết quả HĐ GDHN qua được đánh giá qua kết quả HN của HS và công

Trang 33

tác GDHN của GV Cụ thể là:

- Kết quả học nghề PT

- Tỉ lệ HS làm hồ sơ thi ĐH-CĐ; trung cấp và học nghề

- Kết quả thi ĐH- CĐ- trung cấp

Chung quy lại, đánh giá kết quả GDHN ở trường THPT chính là đánh giá kết quả phân luồng HS sau THPT

1.4 Các yếu tố quản lý ảnh hưởng đến chất lượng công tác GDHN ở trường THPT

1.4.1 Yếu tố khách quan:

1.4.1.1 Sự chỉ đạo của Bộ, ngành: thông qua việc ban hành hệ thống các

văn bản pháp quy hướng dẫn về định hướng, mục tiêu, nội dung, chương trình

kế hoạch GDHN và việc kiểm tra, đánh giá công tác GDHN ở cơ sở Hiện nay

hệ thống các văn bản pháp quy này về cơ bản đã được ban hành khá cụ thể nhưnội dung chương trình và hướng dẫn thực hiện Tuy nhiên, chưa có văn bản vềđánh giá, tổng kết công tác này như thế nào, gắn với thi đua, khen thưởng ra sao.Kết quả GDHN mới chỉ có tác dụng tham gia đánh giá về hạnh kiểm HS Vìvậy, ảnh hưởng của nó đối với công tác GDHN và QL GDHN tại các trườngTHPT chưa cao

1.4.1.2 Triển khai thực hiện của cơ sở: Nhìn chung, các nhà trường chưa thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của cấp trên Chưa thực hiện đúng, đủ nhiệm vụ,

nội dung GDHN, chưa có phương pháp, hình thức phù hợp Việc kiểm tra đánhgiá, khen thưởng không kịp thời Vì vậy chất lượng GDHN ở các trường THPTcòn hạn chế

1.4.1.3 CSVC phục vụ công tác GDHN: lãnh đạo nhà trường phải hết sức

quan tâm tạo điều kiện về CSVC phục vụ công tác GDHN như: tài liệu, máychiếu, băng hình, phòng, xưởng và chế độ thù lao với CBGV làm công tác này.Nhìn chung hiện nay, vấn đề tăng cường CSVC phục vụ công tác GDHN chưađược quan tâm đúng mức dẫn tới chất lượng công tác GDHN và QL GDHN ở

Trang 34

THPT còn chưa đáp ứng được yêu cầu chung.

1.4.2 Yếu tố chủ quan:

1.4.2.1 Ý thức của CBQL, GV, HS và CMHS: Có thái độ, ý thức đúng đắn

với công tác GDHN, đánh giá đúng vai trò của công tác GDHN trong việc địnhhướng HS chọn ngành, chọn nghề Ý thức đúng đắn của các lực lượng tham giacông tác GDHN sẽ quyết định sự thành công của công tác này ở trường PT Tuynhiên, thái độ, nhận thức của một bộ phận không nhỏ của các nhà QLGD,CBGV chưa cao nên chưa có được những phương thức làm việc hiệu quả, sángtạo, dẫn đến hiệu quả công tác này còn hạn chế Đối với CMHS, đa số đánh giácao vai trò của công tác GDHN, nhưng lại yếu về phương pháp và thiếu cácthông tin cần thiết nên khả năng thuyết phục đối với con em không cao Cuốicùng hầu hết cha mẹ đều "thoả hiệp"cho con cái quyết định

1.4.2.3 Chất lượng của các lực lượng tham gia GDHN: Là yếu tố hết sức

quan trọng quyết định chất lượng công tác GDHN ở trường THPT, đặc biệt làđội ngũ CBGV- những người trực tiếp làm công tác này Vì thế, phải chú trọngđến việc nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lựcthực hiện GDHN của họ Hiện nay, đội ngũ này hầu hết chưa có CM về GDHN,mới chỉ qua tập huấn ngắn ngày ở sở GD&ĐT, chưa đủ mạnh để đảm đương

Trang 35

hoàn thành nhiệm vụ được giao Vì vậy mới xảy ra tình trạng làm theo kiểu đốiphó là chính dẫn đến chất lượng công tác GDHN chưa đáp ứng được yêu cầucủa các cấp ngành.

1.5 Cơ sở pháp lý của đề tài:

1.5.1 Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ, Ngành về GDHN.

Thế giới ngày nay đang tiến vào thế kỷ XXI với cuộc chạy đua ráo riết về

khoa học công nghệ, về chất lượng thông tin “Phần thắng sẽ thuộc về quốc gia nào không những xây dựng và phát triển được một nền kinh tế hùng mạnh dựa trên cơ sở kỹ thuật công nghệ cao mà còn GD&ĐT được một đội ngũ lao động, năng động, sáng tạo có trình độ nghề nghiệp cao mà từng cá nhân có khả năng

tự lựa chọn, định hướng và phát triển các phẩm chất và năng lực nghề nghiệp của mình cho phù hợp với nhu cầu rất phong phú đa dạng và thường xuyên biến đổi về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo của nền sản xuất và đời sống xã hội hiện đại”.[16, 94]

Chính vì vậy mà ngày 19/3/1981 Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định số

126/CP, trong quyết định này đã khẳng định: “Thực hiện phân ban ở cấp THPT trên cơ sở đảm bảo chuẩn kiến thức PT cơ bản toàn diện và HN cho mọi HS”

Ngày 23 tháng 7 năm 2003, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ra chỉ thị số33/2003/CT-BGD&ĐT về tăng cường GDHN cho HSPT Từ khi sát nhập bộGiáo dục và Bộ ĐH - Trung học chuyên nghiêp thành Bộ GD&ĐT, đây là lầnđầu tiên có một chỉ thị do Bộ trưởng ký về GDHN Chỉ thị này ban hành trongbối cảnh toàn ngành giáo dục đang triển khai nhiệm vụ đổi mới chương trìnhGDPT theo Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết 40 của Quốc hộikhoá X và chỉ thị số 14 của Thủ tướng Chính phủ Với ý nghĩa quan trọng đó,Chỉ thị 33/2003/CT-BGD&ĐT đã định hướng cho GDHN không chỉ vài năm

mà là một giai đoạn nhiều năm Chỉ thị đã khẳng định GDHN là một bộ phậnhữu cơ của nội dung giáo dục toàn diện đã được xác định trong Luật giáo dục

Trang 36

Chỉ thị đã xác định ý nghĩa, mục tiêu, nội dung của GDHN, đồng thời còn chỉ ranhiệm vụ cụ thể của các cấp QL, các cơ sở giáo dục trong việc đẩy mạnhGDHN thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, chuẩn bị cho HS học lên hoặc đivào đời sống lao động, phục vụ cho sự phát triển đất nước

Điều 27 chương III Luật giáo dục 2005 khẳng định về mục tiêu của giáo

dục THPT “Giáo dục THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn PT và có những hiểu biết thông thường

về kỹ thuật và HN, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”

Trong nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định:

“Coi trọng bồi dưỡng cho HS, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc.”

“Hoàn chỉnh và ổn định lâu dài hệ thống giáo dục quốc dân; chú trọng phân luồng sau THCS bảo đảm liên thông giữa các cấp đào tạo”.

“Mở rộng qui mô DN và THCN bảo đảm tốc độ tăng nhanh hơn đào tạo

ĐH, CĐ Qui mô tuyển sinh DN dài hạn tăng 17%/năm và THCN tăng 15%/năm” [ 15, 207, 208]

Trong chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 và chủ trương đổi mớichương trình GDPT hiện nay cũng nhấn mạnh đến yêu cầu tăng cường GDHNcho HSPT, nhằm góp phần tích cực vào việc phân luồng HS một cách có hiệuquả, chuẩn bị cho HS đi vào cuộc sống lao động hoặc được tiếp tục đào tạo phùhợp với năng lực của bản thân, nhu cầu của xã hội và của địa phương, đất nước

1.5.2 Định hướng phát triển GD&ĐT của tỉnh Thanh Hoá và huyện Thọ Xuân giai đoạn 2010-2015.

Trong qui hoạch phát triển GD&ĐT của tỉnh Thanh Hoá giai đoạn

2010-2015 đã khẳng định: “Để đạt những mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đòi hỏi

Trang 37

ngành GD-ĐT Thanh Hoá cần phải có những nỗ lực lớn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh” [40].

Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ huyện Thọ Xuân khoá XXIV tại Đại

hội đại biểu Đảng bộ huyện lần XXV nhấn mạnh: "Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập ở tất cả các cơ quan, doanh nghiệp, trường học, dòng họ, ở các xã, Thị Trấn củng cố nâng cao chất lượng HĐ của các trung tâm học tập cộng đồng Tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế xây dựng các trường DN, đào tạo nghề cho lao động, từng bước nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, đáp ứng yêu cầu thời kỳ CNH-HĐH".

1.6 Kết luận chương 1.

Chất lượng nguồn nhân lực đang là mục tiêu và động lực của sự phát triểnkinh tế xã hội vì phần thắng sẽ thuộc quốc gia nào GD&ĐT được đội ngũ laođộng năng động, sáng tạo có trình độ nghề nghiệp cao

Để có được đội ngũ lao động năng động, sáng tạo có trình độ nghề nghiệpcao thì GDHN trong trường THPT giữ một vai trò rất quan trọng vì nó góp phầncho sự phân luồng HS, từ đó tạo sự cân bằng trong lao động tránh tình trạngthừa thầy thiếu thợ như hiện nay

QL GDHN ở trường THPT chính là QL các mặt: Mục tiêu, chương trình,

kế hoạch GDHN; nội dung, phương pháp GDHN; hình thức, phương tiệnGDHN; lực lượng GDHN và kết quả GDHN

Như vậy, những vấn đề lý luận được trình bày ở chương 1 sẽ là căn cứquan trọng giúp chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng quản lý công tác GDHN

ở chương 2 của luận văn

Trang 38

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GDHN Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN THỌ XUÂN, THANH HOÁ.

2.1 Một số nét về tình hình phát triển kinh tế- xã hội và giáo dục của huyện Thọ Xuân.

2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế- xã hội huyện Thọ Xuân.

Thọ Xuân nằm về phía tây bắc thành phố Thanh Hoá là huyện đồng bằng nốiliền với trung du và miền núi của tỉnh Thanh Hoá Phía Bắc - Tây bắc giáphuyện Ngọc Lặc, phía Nam giáp huyện Triệu Sơn, phía Tây giáp huyện ThườngXuân, phía Đông - Đông bắc giáp huyện Yên Định, phía Đông - Đông nam giáphuyện Thiệu Hoá

Từ thành phố Thanh Hoá, theo trục đường 47 đến huyện lị Thọ Xuân chỉ

có 36 km Từ Thọ Xuân lên biên giới Na Mèo gần 150km Toàn huyện có 38 xã

và 3 thị trấn nằm dọc đôi bờ hữu ngạn và tả ngạn sông Chu Chính vị trí địa líđặc biệt như vậy đã tạo cho Thọ Xuân nhiều thế mạnh và sắc thái riêng mà

Trang 39

nhiều vùng đất khác không có Trong suốt trường kì lịch sử, vùng đất của “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” này đã trở thành điểm hẹn lí tưởng để các dòng người từ

khắp mọi phương đổ về khai phá, lập nghiệp, sinh tồn và phát triển thành mộthuyện Thọ Xuân giàu đẹp như hôm nay

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện: 30.035,58 ha với dân số tính đến năm

2009 khoảng 300.000 người, thuộc ba dân tộc Kinh, Mường, Thái cùng sốnghoà thuận bên nhau Có thể nói Thọ Xuân là nơi có nền kinh tế - văn hoá, chínhtrị ổn định và phát triển, là vùng đất, lịch sử, văn hoá giàu truyền thống cáchmạng

Về cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, công nghiệp, chăn nuôi và dịch

vụ Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với

sự nỗ lực cố gắng của nhân dân trong huyện, kinh tế có nhiều chuyển biến tíchcực Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vật nuôi cây trồng đã đem lại hiệu quảphát triển rõ nét Đặc biệt khu vực kinh tế Lam Sơn-Sao Vàng phát triển khánăng động Trên khu vực này có nhà máy đường Lam Sơn một trong những đơn

vị dẫn đầu phong trào mía đường của cả nuớc

Theo báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ huyện Thọ Xuân lần thứ XXIV trìnhĐại hội đại biểu Đảng bộ huyện Thọ Xuân lần thứ XXV thì:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong huyện đạt 13%/năm

- GDP bình quân đầu người: 940 USD/năm

- Bình quân lương thực: 495 kg/người/năm

Vùng đất Thọ Xuân được biết đến với tư cách là quê hương của nhiềudanh nhân đất nước, nhiều hào kiệt qua các thời đại và đặc biệt là đất phát tíchcủa hai vương triều Tiền Lê (Lê Hoàn) và Hậu Lê (Lê Lợi) hiển hách Ngườidân Thọ Xuân có truyền thống hiếu học từ lâu đời, luôn được giữ gìn và pháttriển

2.1.2 Tình hình GD THPT huyện Thọ Xuân

2.1.2.1 Mạng lưới trường, lớp, HS.

Trang 40

Tình hình giáo dục THPT huyện Thọ Xuân được thể hiện rõ qua các bảng

2.1 và 2.2 sau:

Bảng 2.1 Mạng lưới trường, lớp, HS và chất lượng HS THPT.

Năm học

Số trường

THPT

Số lớp

Số HS

(Số liệu của các trường THPT từ 2007-2010 Nguồn sở GD&ĐT T.Hoá)

Nhìn chung các bậc học, ngành học có quy mô trường lớp ổn định, đảmbảo chất lượng, trong đó bậc THPT nằm trong tốp đầu của tỉnh Toàn huyện có

6 trường THPT công lập (2 trường mới chuyển sang công lập), ngoài ra có 1TTGDTX và 1 TTHN-DN Tỉ lệ tuyển sinh vào 10 hàng năm đạt hơn 80%

Tỉ lệ đậu tốt nghiệp hàng năm khá cao Tỉ lệ HS vào ĐH cũng tương đối.Như năm 2009-2010 vừa qua, tỉ lệ tốt nghiệp là 98,7% và tỉ lệ HS đậu ĐH là

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Tỷ lệ HS tốt nghiệp THPT và đậu ĐH. - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT huyện thọ xuân, thanh hoá
Bảng 2.2. Tỷ lệ HS tốt nghiệp THPT và đậu ĐH (Trang 40)
Bảng 2.6. Đánh giá hiệu quả công tác tư vấn chọn nghề cho HS. - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT huyện thọ xuân, thanh hoá
Bảng 2.6. Đánh giá hiệu quả công tác tư vấn chọn nghề cho HS (Trang 45)
Bảng 2.7: Kết quả thi ĐH, khối thi và phân ban. - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT huyện thọ xuân, thanh hoá
Bảng 2.7 Kết quả thi ĐH, khối thi và phân ban (Trang 46)
Bảng 2.11. Đánh giá về việc QL CSVC phục vụ công tác GDHN - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT huyện thọ xuân, thanh hoá
Bảng 2.11. Đánh giá về việc QL CSVC phục vụ công tác GDHN (Trang 57)
Bảng 2.12 cho chúng ta thấy vấn đề: - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT huyện thọ xuân, thanh hoá
Bảng 2.12 cho chúng ta thấy vấn đề: (Trang 60)
Sơ đồ 3.1: Cách tìm miền nghề phù hợp - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT huyện thọ xuân, thanh hoá
Sơ đồ 3.1 Cách tìm miền nghề phù hợp (Trang 67)
Sơ đồ 3.2: Phân loại nghề theo đối tượng lao động - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT huyện thọ xuân, thanh hoá
Sơ đồ 3.2 Phân loại nghề theo đối tượng lao động (Trang 71)
Sơ đồ 3.5: QL việc tăng cường CSVC phục vụ cho GDHN. - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT huyện thọ xuân, thanh hoá
Sơ đồ 3.5 QL việc tăng cường CSVC phục vụ cho GDHN (Trang 81)
Sơ đồ 3.6: Mối quan hệ giữa các giải pháp QL GDHN - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT huyện thọ xuân, thanh hoá
Sơ đồ 3.6 Mối quan hệ giữa các giải pháp QL GDHN (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w