1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý nhằm duy trì số lượng học sinh trung học cơ sở ở huyện quan sơn tỉnh thanh hoá

41 445 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp quản lý nhằm duy trì số lượng học sinh trung học cơ sở ở huyện quan sơn tỉnh thanh hóa
Tác giả Nguyễn Thanh Bình
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Hường
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THANH BÌNHMỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM DUY TRÌ SỐ LƯỢNG HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN QUAN SƠN TỈNH THANH HÓA Chuyên ngành: Quản lý giáo dục Mã số: 60.14.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ K

Trang 1

NGUYỄN THANH BÌNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM DUY TRÌ

SỐ LƯỢNG HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

Ở HUYỆN QUAN SƠN TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ HƯỜNG

Trang 2

VINH, 2010

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được phép sử dụng vàchưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Bình

Trang 3

Với tình cảm chân thành, sự biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơntrường Đại học Vinh, Phòng GD&ĐT Quan Sơn, UBND huyện Quan Sơn đãtạo điều kiện để tôi tham gia khóa học thật hữu ích này

Xin bày tỏ lòng cảm mến và biết ơn đến quý thầy cô giáo đã tận tìnhgiảng dạy, giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt cả quá trình học tập và nghiêncứu

Xin cảm ơn sự giúp đỡ của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quan Sơn,Đảng ủy, UBND các xã, các trường THCS trong huyện, đồng nghiệp, bạn bè

và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong suốt cả quá trìnhhoàn thiện luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, sự kính trọng sâu sắc đến PGS.TSNguyễn Thị Hường, cô đã tận tình định hướng, chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt

cả quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn

Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do năng lực, khả năng của bản thâncòn nhiều hạn chế nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót.Tôi hi vọng sẽ nhận được sự đóng góp chỉ dẫn, giúp đỡ thêm của quý thầy cô,các nhà khoa học và các đồng nghiệp để tôi hiểu sâu sắc hơn về khoa học giáodục và đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp giáo dục

Vinh, tháng 10 năm 2010

Tác giả

Nguyễn Thanh Bình

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là nhân tố quyết định để phát triển tiềmnăng trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người Việt Nam và cộng đồng dântộc Việt Nam, là động lực quan trọng để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá(CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước đưa đất nước tiến nhanh và bền vững,hội nhập quốc tế thắng lợi, sánh vai cùng các nước tiên tiến trên thế giới.Nhận thức được tầm quan trọng đó, Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản ViệtNam lần thứ X đã xác định:

“Giáo dục và Đào tạo cùng với Khoa học Công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[8]

Hiến pháp năm 2005 cũng đã ghi rõ:

“ Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [13]

Cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực phấn đấu củacác cấp quản lí và toàn thể cán bộ giáo viên trong ngành giáo dục, hệ thốnggiáo dục đã phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng, cơ sở vật chất lẫn kỹthuật được tăng cường, đội ngũ nhà giáo được bổ sung cả về số lượng và chấtlượng, nhận thức của nhân dân về tầm quan trọng của giáo dục được nâng lênđáng kể, nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập bước đầu thu được những kết quảtốt, công tác Phổ cập Trung học cơ sở (THCS) có những tiến bộ vượt bậc.Những năm vừa qua, ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục thu được nhữngthành tích đáng mừng, việc giảng dạy học tập đã đi vào thực chất, học sinhchăm học hơn, tổng thể chất lượng giáo dục được nâng cao, các nguồn lực từngân sách nhà nước, từ hợp tác quốc tế và từ xã hội đã được kết hợp để đẩymạnh việc kiên cố hóa trường lớp học, tất cả đều nhằm vào mục đích tạo mọiđiều kiện cho học sinh (HS) trong độ tuổi đều được đến trường, tạo công bằnghưởng thụ giáo dục, tiến tới nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng và sử dụng nhân tài đáp ứng tiến trình CNH-HĐH

Trang 7

Quan Sơn là một huyện vùng cao biên giới, địa bàn rộng, địa hình phứctạp, là một trong số 61 huyện nghèo nhất cả nước, có điều kiện kinh tế còn hếtsức khó khăn, mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp Cơ sở vật chất vàtrang thiết bị cho giáo dục đã được tăng cường song chưa đáp ứng được vớiyêu cầu đổi mới giáo dục Mặc dù vậy, trong thời gian qua, chất lượng giáodục của huyện liên tục đạt được những tiến bộ đáng mừng Nền nếp dạy họcđược thực hiện nghiêm túc và đi vào thực chất, chất lượng đội ngũ giáo viênliên tục được nâng cao cả về trình độ lẫn chuyên môn nghiệp vụ, chất lượnghọc tập của học sinh có những bước phát triển đáng ghi nhận Huyện là mộttrong những địa phương hoàn thành phổ cập THCS sớm nhất trong các huyệnmiền núi cao của tỉnh Thanh Hóa, với tỉ lệ đạt chuẩn liên tục được củng cố vànâng lên [16]

Để đạt được những thành tích đó, nhiệm vụ duy trì sĩ số học sinh là mộttrong những nhiệm vụ quan trọng mà các nhà trường THCS của huyện luônphải cố gắng thực hiện, nhất là trong điều kiện một huyện vùng cao với rấtnhiều những khó khăn về kinh tế, cơ sở vật chất hạ tầng, những phong tục tậpquán còn lạc hậu và nhận thức về văn hóa xã hội của một bộ phận không nhỏcán bộ và nhân dân nơi đây

Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây tình trạng học sinh bỏ học đang trởthành một vấn đề được xã hội quan tâm, trong đó Thanh Hóa là một trongnhững địa phương có số học sinh bỏ học đáng báo động, tại hội nghị giao bancác Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh Bắc miền Trung lần thứ nhất năm học

2009 – 2010 tổ chức ngày 03/12/2009 tại Hà Tĩnh, số liệu thống kê kể từ nămhọc 2008-2009 đến nay tại sáu tỉnh Bắc Trung Bộ có tới 9372 học sinh bỏhọc, đứng đầu là tỉnh Thanh Hóa chiếm 2585 em Lượng học sinh bỏ học tậptrung chủ yếu ở các vùng miền núi và các vùng đặc biệt khó khăn [11], trong

đó có huyện Quan Sơn Bên cạnh đó, số học sinh có nguy cơ bỏ học có dấuhiệu tăng lên Những điều này làm ảnh hưởng đến việc duy trì sĩ số học sinh ởcấp học THCS từ đó gây khó khăn cho việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục

mà địa phương đã đặt ra

Trang 8

Là một cán bộ QL trường THCS bản thân tôi nhận thấy cần phải có nhữnggiải pháp cụ thể nhằm duy trì tốt sĩ số học sinh cấp học THCS trên địa bànhuyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa

Vì những lí do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình là “Một số giải pháp quản lí nhằm duy trì số lượng học sinh THCS ở huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa”

2 Mục đích nghiên cứu

Phân tích, thu thập dữ liệu, nghiên cứu thực tế để tìm ra những nhân tốảnh hưởng đến việc duy trì số lượng học sinh ở cấp học THCS, từ đó đề xuấtnhững giải pháp quản lí nhằm duy trì số lượng học sinh ở cấp học này trên địabàn huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý số lượng học sinh ở trường THCS

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số giải pháp quản lí nhằm duy trì số lượng học sinh THCS trên địa

bàn huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay hiện tượng học sinh bỏ học ở huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóađang gia tăng Nếu đề xuất một số giải pháp quản lí có tính khoa học, tínhthực tiễn,, khả thi thì sẽ duy trì được số lượng học sinh, góp phần phát triểngiáo dục ở địa phương

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

5.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận về vấn đề quản lí số lượng học sinh Trung học

cơ sở

5.2 Tìm hiểu thực trạng số lượng và các giải pháp quản lí số lượng học

sinh THCS ở huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa

Trang 9

5.3 Đề xuất và khảo nghiệm một số giải pháp quản lí nhằm duy trì số

lượng học sinh ở các trường THCS huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa

6 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài này chủ yếu tập trung nghiên cứu các giải pháp quản lí của Hiệutrưởng nhằm duy trì số lượng học sinh bậc trung học cơ sở trên địa bànhuyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài Phân loại, phân tích tài liệu, từ

đó tổng hợp và khái quát hóa những cơ sở lý luận để đưa ra được nhữngnguyên tắc lí luận cơ bản của các giải pháp quản lí nhằm duy trì số lượng họcsinh THCS ở huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Sử dụng các phương pháp điều tra giáo dục; tổng kết kinh nghiệm; lấy ýkiến chuyên gia, phỏng vấn, trắc nghiệm (test)…nhằm khảo sát, đánh giá thựctrạng quản lí số lượng học sinh và các giải pháp quản lí nhằm duy trì số lượnghọc sinh THCS

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý các số liệu thuđược từ thực trạng quản lí số lượng học sinh THCS ở huyện Quan Sơn, từ đóđưa ra được các giải pháp quản lí nhằm duy trì số lượng học sinh THCS trênđịa bàn huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa

8 Những đóng góp của luận văn

số lượng học sinh trên địa bàn

+ Chỉ ra các mặt tích cực, các điểm hạn chế của công tác quản lí số lượnghọc sinh và các nguyên nhân tác động dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học gây

Trang 10

khó khăn cho công tác quản lí nhằm duy trì số lượng học sinh THCS ở huyệnQuan Sơn.

+ Đề xuất các nhóm giải pháp quản lí nhằm duy trì số lượng học sinh + Khảo nghiệm tính khả thi và hiệu quả cụ thể trong việc áp dụng cácgiải pháp

9 Cấu trúc của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung chính của luận văngồm ba chương :

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc quản lý số lượng học sinh

Chương 2: Thực trạng về công tác quản lí số lượng học sinh THCS ở huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Một số giải pháp quản lí nhằm duy trì số lượng học sinh THCS ở huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ SỐ LƯỢNG HỌC SINH

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề :

1.1.1 Vài nét về tình hình duy trì số lượng học sinh.

Duy trì số lượng học sinh là một nhiệm vụ quan trọng của hầu hết cácnhà trường phổ thông trên thế giới, đặc biệt là ở các nước nghèo và chậm pháttriển, trong đó có Việt Nam Do các điều kiện về kinh tế - xã hội lạc hậu cùngvới các điều kiện chăm sóc sức khỏe, y tế, nhận thức, thái độ của cha mẹ đốivới nhà trường, tập quán, hủ tục văn hóa gia đình, sự phân bố mạng lướitrường học v.v dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng ở các nước nàytăng cao, điều này đặt ra những yêu cầu cấp thiết phải có những biện phápđồng bộ của cả nhà trường và xã hội để có những biện pháp duy trì số lượnghọc sinh thật tốt

1.1.2 Các nghiên cứu về duy trì số lượng học sinh ở Việt Nam.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nguyên nhân có thể ảnh hưởngđến việc duy trì số lượng học sinh ở Việt Nam, trong đó nguyên nhân họcsinh bỏ học là chủ yếu Các nghiên cứu này đưa ra những quan điểm lý luậnchung giúp xác định bản chất của hiện tượng HS bỏ học, các nhân tố tác độngđến hiện tượng HS bỏ học Các nghiên cứu khảo sát thực trạng HS bỏ họctrên phạm vi cả nước của Phạm Minh Hùng [10], Nguyễn Sinh Huy [12]

….Các tác giả đã đề cập đến bản chất của hiện tượng lưu ban, bỏ học; mốitương quan giữa lưu ban và bỏ học; các nhân tố tác động đến hiện tượng bỏhọc (xã hội, nhà trường, gia đình và bản thân HS); đề xuất các giải pháp trênbình diện quá trình dạy học giáo dục, bình diện nhân cách và cá nhân HS…

Năm 2003 Bộ Y tế, Tổng Cục Thống Kê, UNICEF, WHO đã tiến hànhđiều tra quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam(SAVI) cũng đã đềcập đến tỉ lệ thanh thiếu niên đi học, tỉ lệ thanh thiếu niên bỏ học, các nguyênnhân thanh thiếu niên bỏ học.[6]

Trang 12

Một số công trình khác đã đề cập đến một số biện pháp cụ thể nhằmhạn chế hiện tượng học sinh bỏ học, từ đó giúp duy trì tốt hơn số lượng họcsinh, như: Trần Kiểm [14] , Nguyễn Thị Kim Quý [17] đã khảo sát các đặcđiểm tâm lý HS học kém, lưu ban, thử nghiệm tổ chức học riêng cho HS kém,trên cơ sở đó đề ra giải pháp phòng chống học kém nhằm ngăn ngừa hiệntượng bỏ học.

Tác giả Hồ Thiện Hùng khi đề cập đến vấn đề lưu bn bỏ học ở thành phố

Hồ Chí Minh [9] kiến nghị các biện pháp: đầu tư cơ sở vật chất, cải tiến việcdạy và học, xây dựng lại nội dung chương trình sách giáo khoa, điều chỉnh lạimục tiêu đào tạo, thay đổi cơ cấu đầu tư ngân sách, có chiến lược về nhân sựtrong ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng dạy và học từ đó thu hút họcsinh tới trường

Ở Thanh Hóa, mặc dù hiện tượng học sinh bỏ học đang là vấn đề đángbáo động, tuy nhiên các công trình nghiên cứu nhằm đưa ra những biện phápquản lí nhằm duy trì số lượng học sinh hầu như không có Đối với huyệnQuan Sơn, luận văn này là một công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này

1.2 Một số khái niệm cơ bản.

1.2.1 Số lượng:

Ngay từ khi bắt đầu hình thành xã hội đơn sơ (xã hội cộng sản nguyênthủy) con người đã có nhu cầu nhận biết về số lượng sự vật Người ta cần biếtmột đàn thú có bao nhiêu con, nhiều hay ít để bố trí, tổ chức cuộc đi săn, cầnbiết bên kẻ địch có bao nhiêu người để tổ chức cuộc chiến đấu.v v Khi xãhội tư hữu bắt đầu hình thành con người cần biết số lượng tài sản của mìnhtích lũy được hàng ngày là bao nhiêu, mặc dù đó chỉ là những tài sản đơn sơnhư: số hoa quả hái được trong ngày, rồi đàn gia súc của mình có bao nhiêucon, hàng ngày có bị mất mát hay sinh sôi thêm không v v…

Vậy con người khi đó nhận biết về số lượng như thế nào?

Họ đã nhận biết bằng cách so sánh

Để nhận biết số lượng một tập hợp nào đó, người ta so sánh tập hợp đóvới một tập hợp đã biết rõ về số lượng, tập hợp này gọi là tập hợp chuẩn [18]

Trang 13

Theo ngôn ngữ của toán học hiện đại, việc so sánh này chính là việcchúng ta đang thiết lập một toàn ánh từ tập hợp đang xét đến tập hợp chuẩn

và những tập hợp như vậy là những tập hợp có cùng lực lượng, hay gọi lànhững tập hợp đẳng lực Trong tự nhiên và đời sống của con người, có vô sốnhững tập hợp có cùng lực lượng, sau này người ta đặt ra những con số để chỉ

số lượng chung của các tập hợp này, từ đó số tự nhiên ra đời

Sự ra đời của số tự nhiên giúp cho con người không còn phải nhận biết

số lượng bằng cách so sánh nữa Tuy nhiên xét về bản chất, khi nói đến sốlượng các phần tử trong tập hợp thì chúng ta đang nói đến sự nhiều hay ítphần tử trong tập hợp đó mà con số chỉ là cái phản ánh điều này

1.2.2 Số lượng học sinh:

Như đã nói ở trên, sự ra đời của số tự nhiên đã giúp cho con người khôngcòn phải so sánh khi nhận biết về số lượng nữa Để xây dựng tập hợp số tựnhiên, người ta đưa ra khái niệm “bản số” [18] đó là một khái niệm đặc trưng

về “số lượng” cho lớp các tập hợp đẳng lực Như vậy mỗi một tập hợp bất kìđều có một “bản số”, được kí hiệu là CardA hay [A], sao cho

CardA=CardB  A~B (A đẳng lực với B)

Khi đó: Bản số của một tập hợp hữu hạn là một số tự nhiên

Vậy, số lượng học sinh là bản số của tập hợp các trẻ em đang theo họctrong nhà trường

1.2.3 Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường.

1.2.3.1 Quản lí:

- Khái niệm về quản lí (QL):

Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lí cũng hình thành,

xã hội càng phát triển thì yêu cầu về quản lí càng phát triển và đòi hỏi phảinâng cao hiệu quả hơn

Có rất nhiều cách hiểu về quản lí, sau đây là một số quan điểm chủ yếu:+ QL là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu củatừng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội

+ QL là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức vàphối hợp hoạt động của họ

Trang 14

Theo Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ trong cuốn “Đại cương khoa họcquản lí” thì: “Quản lí là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt độngtập thể, là sự tác động của chủ thể vào khách thể, trong đó quan trọng nhất làkhách thể con người nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức.” [6]Chủ thể quản lí chỉ có thể là con người hay tổ chức do con người thiếtlập ra Để xác định chủ thể quản lí, cần trả lời câu hỏi “Ai quản lí ?”

Khách thể quản lí bao gồm: Con người, tổ chức do con người lập ra,những sự vật, sự việc, có liên quan đến tổ chức Để xác định khách thể quản

lí, cần trả lời câu hỏi “Quản lí ai?” “Quản lí cái gì?”

- Đặc điểm cơ bản của quản lí đó là:

+ Tính quyền uy: Khách thể quản lí phải phục tùng chủ thể quản lí mộtcách nghiêm túc

+ Có mục đích: Quản lí phải có chương trình kế hoạch dài hạn, trunghạn, ngắn hạn

+ Tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong điều hành

+ Tính quần chúng: Chủ thể quản lí phải biết làm công tác vận động,động viên quần chúng tham gia tích cực vào công việc của tổ chức

+ Bảo đảm tính liên tục và ổn định trong tổ chức và hoạt động quản lí

- Chức năng của quản lí: Là loại hình đặc biệt của hoạt động điều hành,

là sản phẩm của quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa quá trìnhquản lí

Quản lí gồm những chức năng cơ bản sau:

+ Kế hoạch hóa: Là bước đầu tiên của chu trình quản lí Được hiểu là xâydựng, xác định các mục tiêu phát triển cho từng giai đoạn với các tiêu chí cụthể Đồng thời đưa ra các giải pháp tối ưu nhằm đạt được các mục tiêu ấy.+ Tổ chức: Là bước tiếp theo sau khi lập xong kế hoạch nhằm chuyểnhóa những ý tưởng được đưa ra trong kế hoạch thành hiện thực Nhờ đó màquan hệ giữa các bộ phận trong các tổ chức liên kết thành một cấu trúc chặtchẽ và nhà QL có thể điều phối nguồn lực tốt hơn

+ Chỉ đạo: Nội dung của chức năng này là liên kết các thành viên trong

tổ chức, tập hợp, động viên họ nỗ lực, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao để đạt mục tiêu của tổ chức Đồng thời theo dõi sự tiến triển, vận động

Trang 15

của công việc để kịp thời phát hiện những lệch lạc, rối loạn trong quá trìnhhoạt động và có biện pháp sửa chữa uốn nắn kịp thời.

+ Kiểm tra: Đây là khâu không thể thiếu của chu trình quản lí Là quátrình xem xét thực tế, đánh giá thực trạng so với mục tiêu, phát hiện nhữngmặt tích cực, sai lệch, vi phạm để đưa ra các quyết định điều chỉnh

Trong một chu trình quản lí, các chức năng nêu trên phải được thực hiệnđồng bộ, đan xen lẫn nhau, bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình này

và chu trình khác và tạo nên xu thế phát triển, trong đó yếu tố thông tin đóngvai trò xuyên suốt không thể thiếu Có thể mô tả sự phụ thuộc liên kết lẫnnhau giữa các chức năng của quản lí và yếu tố thông tin theo mô hình nhưsau:

1.2.3.2 Quản lí giáo dục.

- Khái niệm quản lí giáo dục:

Cũng như khái niệm quản lí, hiện nay cũng có nhiều cách hiểu khác nhau

về Quản lí giáo dục (QLGD) Tuy nhiên có thể hiểu rằng “Quản lí giáo dụcnằm trong quản lí văn hóa - tinh thần, đó là tác động của hệ thống có kếhoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đếntất cả các mắt xích của hệ thống nhằm bảo đảm việc hình thành nhân cách chothế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội

Kế hoạch

Chỉ đạo Thông tin

Trang 16

cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm

lí trẻ em [19]

Như vậy đối tượng mà QLGD đề cập đến ở đây là quan hệ giữa ngườivới người ở các tầng bậc khác nhau trong hệ thống giáo dục bao gồm: ngườiquản lí với người dạy và người học; người quản lí cấp trên với người quản lícấp dưới; người dạy với người học Ngoài ra còn có các mối quan hệ gián tiếpgiữa người với công việc, sự vật.v v…

Theo định nghĩa này thì chủ thể quản lí là người quản lí và bộ máyQLGD từ trung ương (TW) đến cơ sở ; khách thể QL là hệ thống giáo dụcquốc dân và các trường thuộc cấp học, bậc học

- Đặc trưng của Quản lí giáo dục:

+ QLGD mang tính hai mặt: Khi chủ thể QLGD có chức danh nhà

nước, thì QLGD nghiêng về QL nhà nước Ngược lại mục tiêu phát triển giáodục lại nhằm giải quyết các vấn đề dân trí-nhân lực- nhân tài và là yêu cầucủa xã hội đối với giáo dục, thu hút sự quan tâm của xã hội, lúc này QLGD

có tính xã hội cao

+ QLGD là hoạt động trí óc: Vì con người cùng với các quan hệ phức tạpcủa nó là đối tượng của hoạt động QLGD, nên để phát huy tính sáng tạo của

con người thì QLGD, trước hết phải là hoạt động mang tính sáng tạo cao.

+ Do quan hệ đa chiều với môi trường xã hội ở nhiều tầng bậc, phạm vi,mức độ khác nhau, nên QLGD là dạng QL phức tạp Điều này đòi hỏi chủ thểQLGD phải có khả năng vận dụng một cách khôn khéo và hiệu quả các quyluật, sử dụng các phương pháp thích hợp vào tình huống cụ thể để đạt đượcmục tiêu quản lí

- Một chu trình QLGD có đầy đủ các chức năng cơ bản của một chu trìnhquản lí, bao gồm: Kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra Tuy nhiên, chủ thểquản lí cần có một năng lực sáng tạo, một sự hiểu biết sâu sắc về khoa họcgiáo dục để có thể sử dụng mỗi chức năng một cách hiệu quả, phù hợp vớitính chất đặc trưng của QLGD

1.2.3.3 Quản lí nhà trường.

Là hệ thống những tác động tự giác “có ý thức, có mục đích, có kếhoạch, có hệ thống” hợp quy luật của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên

Trang 17

(GV), công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xãhội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu quảnhiệm vụ, mục tiêu giáo dục (GD) của nhà trường.

Xét về bản chất, quản lí nhà trường là quản lí giáo dục ở tầm vi mô, vìvậy quản lí nhà trường có đầy đủ các nét đặc trưng và những chức năng cơbản của quản lí giáo dục

Quản lí học sinh là một trong những nhiệm vụ của nhà trường [4] Dovậy, đây cũng là một nội dung quan trọng của quản lí nhà trường

1.2.4 Giải pháp quản lí nhằm duy trì số lượng học sinh.

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì duy trì là giữ chotiếp tục tồn tại trong tình trạng như cũ [20] (thường dùng cho những cái đang

có chiều hướng giảm sút hoặc mất đi) Như vậy, duy trì số lượng học sinhnghĩa là giữ cho số học sinh đang theo học ở nhà trường ổn định và không bịtụt giảm Cần chú ý, việc duy trì số lượng học sinh ở đây là duy trì số học sinh

từ khi được tuyển vào học ở nhà trường cho đến khi kết thúc khóa học Nghĩa

là mỗi học sinh khi được tuyển vào học ở nhà trường thì sẽ theo học cho đếnkhi tốt nghiệp

Theo các nhà giáo dục quốc tế và chuyên gia UNESCO [6] “Học sinhrời trường sớm trước khi kết thúc năm cuối của giai đoạn giáo dục mà họcsinh được tuyển vào” được xác định là bỏ học

Nếu không đề cập đến nguyên nhân học sinh chuyển trường, thì hiệntượng học sinh bỏ học là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến việc duy trì sốlượng học sinh Như vậy, muốn duy trì tốt số lượng học sinh thì phải cónhững giải pháp nhằm hạn chế hiện tượng học sinh bỏ học Các nghiên cứukhảo sát thực trạng HS bỏ học trên phạm vi cả nước cho thấy các nhân tố tácđộng đến hiện tượng này là xã hội, nhà trường, gia đình và bản thân học sinh.Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và xã hội trongcông tác quản lí nhằm hạn chế hiện tượng học sinh bỏ học như tinh thần củanghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã xác định:

“Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sựnghiệp giáo dục Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban ngành,các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp… để mở mang giáo dục,

Trang 18

tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội[8] Từ những vấn đềtrình bày ở trên, có thể đưa ra định nghĩa giải pháp quản lí nhằm duy trì sốlượng học sinh như sau:

“Giải pháp quản lí nhằm duy trì số lượng học sinh là hệ thống những tác động cụ thể của nhà trường và xã hội lên các đối tượng có liên quan đến việc học tập của học sinh, nhằm giúp cho các em hoàn thành chương trình học tập của nhà trường theo quy định”

1.3 Khái quát về trường Trung học cơ sở (THCS) và học sinh THCS

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục THCS.

Giáo dục THCS nằm trong hệ thống giáo dục phổ thông Mục tiêu củagiáo dục phổ thông bao gồm mục tiêu đào tạo và mục tiêu phát triển [19] Ởđây chúng ta chỉ đề cập đến mục tiêu đào tạo

Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành TW Đảng khóa VII về

“Tếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” đã chỉ rõ mục tiêu của giáodục là:: “Đào tạo những con người có kiến thức văn hóa khoa học, kĩ năngnghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỉ luật, giàu lòng nhân ái, yêunước, yêu Chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đấtnước…”[1]

Hiến pháp năm 1992 cũng đã nêu:

“Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất

và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động

và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phầnlàm cho dân giầu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc” [13]

Nằm trong hệ thống giáo dục phổ thông, cấp học THCS đóng vai tròquan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục con người của Đảng vàNhà nước Luật giáo dục (2005) đã xác định mục tiêu của giáo dục THCS là:

“Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề

hoặc đi vào cuộc sống lao động” [15]

Trang 19

1.3.2 Đặc điểm của trường THCS.

1.3.2.2 Nhiệm vụ của nhà trường THCS

Theo quy định của Điều lệ trường THCS, trường Trung học phổ thông,trường Trung học phổ thông có nhiều cấp học của Bộ Giáo dục và Đào tạo( Bộ GD&ĐT) ban hành năm 2007 [4] thì nhà trường THCS có những nhiệm

vụ và quyền hạn sau đây:

1) Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác củaChương trình giáo dục phổ thông

2) Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán bộ, nhân viên

3) Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản

lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

4) Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng

5) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.6) Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước

7) Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.8) Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáodục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục

9) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Trang 20

1.3.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường THCS

Cơ cấu tổ chức quản lí có nhiều dạng,nhiều mô hình và liên hệ hữu cơbiện chứng với nhau Cùng với sự phát triển của thực tiễn quản lí, từ chỗ chỉ

có hai dạng cấu trúc chính là trực tuyến và chức năng, đến nay các dạng cấutrúc phát triển thành nhiều dạng khác nhau, trong đó có thể kể đến bốn dạng

cơ bản là: Cơ cấu trực tuyến, cơ cấu trực tuyến tham mưu, cơ cấu chức năng,

cơ cấu trực tuyến chức năng.

Căn cứ vào điều kiện thực tế về nhiệm vụ, chức năng, đặc điểm của mình

mà mỗi cơ quan đơn vị lựa chọn cho mình dạng cơ cấu phù hợp Tuy nhiên,nhìn chung hiện nay các nhà trường THCS với quy mô nhỏ gọn thường lựachọn cơ cấu trực tuyến có mô hình như sau:

Các nhà trường THCS hạng II và hạng III theo quy định của liên bộ Nội

vụ và Giáo dục – Đào tạo [5] thì chỉ được bố trí một Phó hiệu trưởng, trườnghợp này thường thì Hiệu trưởng sẽ trực tiếp chỉ đạo và quản lí các nhiệm vụcủa Phó hiệu trưởng 2 ở mô hình trên

Theo quy định của Điều lệ trường THCS, THPT, THPT có nhiều cấphọc thì Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường lãnh đạo nhàtrường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật Ngoài ra trongnhà trường còn có các tổ chức khác hoạt động theo quy định của pháp luật vàgiúp nhà trường thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục.[4] Như: Công đoàn,

Các ban chức năng

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Quy mô trường, lớp, học sinh trên địa bàn huyện Quan Sơn tính đến tháng 9/2010. - Một số giải pháp quản lý nhằm duy trì số lượng học sinh trung học cơ sở ở huyện quan sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 1 Quy mô trường, lớp, học sinh trên địa bàn huyện Quan Sơn tính đến tháng 9/2010 (Trang 38)
Bảng 4: Tình hình cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học ở cấp học THCS - Một số giải pháp quản lý nhằm duy trì số lượng học sinh trung học cơ sở ở huyện quan sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4 Tình hình cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học ở cấp học THCS (Trang 40)
Bảng 4: Chất lượng cán bộ quản lí cấp THCS trên địa bàn huyện Quan Sơn - Một số giải pháp quản lý nhằm duy trì số lượng học sinh trung học cơ sở ở huyện quan sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4 Chất lượng cán bộ quản lí cấp THCS trên địa bàn huyện Quan Sơn (Trang 40)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w