Thực tiễn cho thấy huyện Tân Kỳ đã tích cực chỉ đạo và tham gia vàocông tác XHHGD, như huy động được nhiều nguồn lực từ xã hội để xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, nhà công vụ cho giáo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYÔN H¶I TH¦¥NG
MéT Sè GI¶I PH¸P QU¶N Lý N¢NG CAO
T¹I HUYÖN T¢N Kú TØNH NGHÖ AN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN THỊ MỸ TRINH
VINH - 2011
Trang 2Luận văn này là kết quả của quá trình học tập tại trường Đại học Vinh vàquá trình công tác của bản thân tại huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, côtrong Ban giám hiệu nhà trường, các thầy, cô giáo khoa Sau đại học của trườngĐại học Vinh đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS TS Nguyễn Thị MỹTrinh đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình hình thành và hoàn thiệnluận văn này
Tác giả xin cảm ơn Huyện ủy, HĐND, UBND huyện, cán bộ chuyên viênphòng GD&ĐT huyện Tân Kỳ, các trường Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT,TTGDTX huyện Tân Kỳ đã tạo điều kiện cho tôi theo học lớp thạc sỹ và giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn Cảm ơn các anh, chị trong lớp Caohọc Quản lý khóa 17, các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ,giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bản luận văn này
Tuy vậy, do khả năng có hạn và kinh nghiệm còn ít mà vấn đề đặt ra rấtmới mẻ nên chắc chắn không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, tác giả mongnhận được sự trao đổi, góp ý của các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp vàđông đảo bạn đọc khác
Xin chân thành cảm ơn.
Vinh, tháng 12 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Hải Thương
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Những đóng góp của đề tài 4
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Các khái niệm cơ bản 8
1.3 Công tác XHHGD trên địa bàn Huyện 17
1.4 Quản lý công tác XHHGD trên địa bàn Huyện 24
1.5 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề XHHGD và quản lý công tác XHHGD 27
1.6 Kết luận chương 1 31
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XHHGD TẠI HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN 32
2.1 Khái quát về tình hình phát triển KT-XH-GD ở huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An 32
2.2 Thực trạng công tác XHHGD huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An 38
2.3 Thực trạng quản lý công tác XHHGD ở huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An 48
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác XHHGD 64
2.5 Kết luận chương 2 67
Trang 4QUẢ CÔNG TÁC XHHGD TẠI HUYỆN TÂN KỲ TỈNH
NGHỆ AN 68
3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 68
3.2 Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả công tác XHHGD tại huyện Tân Kỳ, Tỉnh Nghệ An 69
3.3 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp được đề xuất 81
3.4 Kết luận chương 3 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Kiến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 51 CBQL Cán bộ quản lý
4 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn bia tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám viết: “Hiền tài là nguyênkhí quốc gia, nguyên khí mạnh thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kémthì thế nước yếu và suy, vì thế các bậc thánh đế minh vương không ai khôngchăm lo việc gây dựng nhân tài bồi đắp nguyên khí”
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu,đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Giáo dục là một nhân tố quyếtđịnh cho sự phát triển của đất nước Trong thời đại của chúng ta hiện nay trítuệ là nguồn tài nguyên quý giá nhất trong các nguồn tài nguyên của đất nước.Nhiệm vụ của giáo dục là phải khai thác tối đa nguồn tài nguyên vô giá ấynhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Xã hội hoá giáo dục là giải pháp quantrọng nhằm thực hiện chiến lược phát triển giáo dục nước ta trong thời kỳ đổimới và hội nhập
Trên quan điểm “Giáo dục và Đào tạo là nhiệm vụ của toàn Đảng, củaNhà nước và của nhân dân”, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương,
chính sách về xã hội hóa công tác giáo dục Nghị quyết TW6 Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định: “Thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa, đây là nhiệm vụ cơ bản và bao trùm sự nghiệp giáo dục trongnhững năm tới” Trên thực tế xã hội hoá không đơn thuần là một cuộc đại cảicách hệ thống giáo dục mà nó là một trong những nội dung quan trọng nhấttrong chiến lược hoạch định tương lai đất nước Xã hội hoá giáo dục là nhiệm
vụ chung của toàn xã hội, là sự nghiệp thiêng liêng, cốt tử để tạo ra đội ngũ tríthức, những người quyết định cho tương lai đất nước
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, cuộc vận động xã hội hóa công tácgiáo dục ở huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An đã phát triển rộng khắp Đặc biệt từ
Trang 7khi triển khai Nghị quyết TW2 (khóa VIII) “Về định hướng chiến lược pháttriển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”,
xã hội hóa giáo dục được đặc biệt chú trọng và đã tạo nên sự chuyển biếnmạnh mẽ cả về chất và lượng, bước đầu đạt nhiều kết quả nổi bật
Thực tiễn cho thấy huyện Tân Kỳ đã tích cực chỉ đạo và tham gia vàocông tác XHHGD, như huy động được nhiều nguồn lực từ xã hội để xây dựng
cơ sở vật chất trường lớp, nhà công vụ cho giáo viên, trang thiết bị dạy học;thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội vào công tác khuyến tài khuyếnhọc; liên kết với các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, Trung tâm giáo dụcthường xuyên, mở các lớp đào tạo tại chức, liên thông, đào tạo từ xa để đàotạo bồi dưỡng cán bộ giáo viên và đáp ứng nhu cầu học tập của các tầng lớptrong xã hội.Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong công tác XHHGD tạiHuyện Vì vậy, cần nhanh chóng tìm ra các giải pháp để thu hút và khai tháctối đa các nguồn lực trong xã hội phục vụ cho công tác XHHGD ở Tân Kỳ
Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài
“Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục
huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An”.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hộihoá giáo dục trên địa bàn huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An, từ đó góp phần nângcao chất lượng giáo dục đào tạo của huyện Tân Kỳ
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý công tác XHHGD trên địa bàn Huyện
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lí nâng cao hiệu quả công tác XHHGD tại huyện Tân Kỳ, tỉnhNghệ An
Trang 84 Giả thuyết khoa học
Có thể nâng cao hiệu quả công tác XHHGD tại huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ
An, nếu xác định và thực hiện được các giải pháp quản lý có tính khoa học,đồng bộ và khả thi
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác XHHGD trên địabàn Huyện
5.1.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý công tác XHHGD tại huyện Tân
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
PP phân tích- tổng hợp, phân loại- hệ thống hóa, cụ thể hóa các vấn đề lýluận có liên quan qua các công trình nghiên cứu, các văn bản, các nghị quyết,báo cáo tổng kết có liên quan đến xã hội hoá giáo dục, nhằm xây dựng cơ sở
lý luận của đề tài, định hướng cho việc nghiên cứu thực tiễn
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
PP điều tra, tổng kết kinh nghiệm giáo dục, phỏng vấn nhằm phát hiệnthực trạng quản lý công tác XHHGD và các giải pháp quản lý đã được thựchiện tại, huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An
6.3 Phương pháp thống kê toán học: tính %
Trang 98 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác XHHGD tại huyện Tân Kỳ,
Nghệ An
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả công tác
XHHGD tại huyện Tân kỳ, Nghệ An
Trang 10Trên thế giới nhiều nước phát triển như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, HànQuốc, Úc, Singapo trong chương trình cải cách giáo dục và trong chiến lượcphát triển giáo dục của họ đều chú trọng tạo môi trường giáo dục năng động,phong phú, coi giáo dục gắn bó với phát triển và khẳng định giáo dục là độnglực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Ở Việt Nam, thế kỷ XI (1070) thời Nhà Lý - vua Lý Thánh Tông rấtquan tâm đến GD & ĐT, ông cho xây dựng Quốc Tử Giám để đào tạo hiềntài Thế kỷ XVIII - vua Quang Trung - Nguyễn Huệ cũng đã nói: “Dựngnước, trước tiên phải lo việc học” Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Giáo dụcphải cung cấp cho cán bộ kinh tế, kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộđược Nếu kinh tế không phát triển thì giáo dục cũng không phát triển được.Giáo dục không phát triển thì không có đủ cán bộ kinh tế phát triển Hai việc
đó liên quan mật thiết với nhau” [19, 225]
Từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (02/09/1945) ra đời, Đảng
và Nhà nước ta quyết tâm xây dựng nền giáo dục Việt Nam mới: Nền giáodục của toàn dân Nhưng trong 30 năm chống Pháp và đế quốc Mỹ (1945 -1975) với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, đất nước và nền giáo dục rơivào khủng hoảng, giáo dục không thật sự là sự nghiệp của toàn dân, bản chất
xã hội của giáo dục không được quan tâm và phát huy
Trang 11Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định:
“Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo Rà soát, sắp xếp lại mạng lưới cáctrường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Đổi mới cơchế quản lý, nâng cao chất lượng các trường công lập; bổ sung chính sách ưuđãi để phát triển các trường ngoài công lập và các trung tâm giáo dục cộngđồng” [7, 208]
Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90ngày 21 tháng 8 năm 1997 về phương hướng và chủ trương XHH các hoạtđộng giáo dục nhằm cụ thể hóa chủ trương, nội dung, biện pháp XHH hoạtđộng GD& ĐT
Ngày 18 tháng 04 năm 2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục Ngày 24/6/2005,
Bộ GD& ĐT đã ban hành quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT phê duyệt đề
án “Quy hoạch phát triển XHHGD giai đoạn 2005 - 2010”
Bên cạnh chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước nêu trên, cácnhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục ở nước ta đã nêu lên một số luận điểmquan trọng GS.TS Phạm Minh Hạc, khẳng định: “Xã hội hóa công tác giáodục, một con đường phát triển giáo dục nước ta.” [13, 16] PGS.TS ĐặngQuốc Bảo quan niệm: “Xã hội hoá giáo dục phản ánh bản chất của luận đề:giáo dục cho tất cả mọi người, tất cả cho sự nghiệp giáo dục” (Education forall, all for education EFA - AFE) Vậy huy động toàn xã hội làm giáo dục,động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dândưới sự quản lý của Nhà nước không phải là một ý tưởng mới lạ PGS,TSĐặng Quốc Bảo đã viết: “Không có xã hội nào có thể tồn tại nếu không có sựgiáo dục và mọi sự giáo dục đều hướng tới sự tiến bộ của xã hội Như vậy làluôn luôn tồn tại nền giáo dục xã hội” [2, 6]
XHHGD không phải là chủ trương ở các nước kém phát triển mà ngay
cả những nước giàu, phát triển cũng đã từng thực hiện nhiều giải pháp đẩy
Trang 12mạnh XHHGD để phát triển sự nghiệp giáo dục, bởi vì XHHGD là một hệthống định hướng hoạt động của mọi người, mọi lực lượng xã hội để tiến tớixây dựng một xã hội học tập Tổ chức văn hóa giáo dục liên hiệp quốc(UNESCO) đã từng khuyến nghị: Giáo dục không chỉ bó hẹp trong nhàtrường, phải cải tổ toàn diện nền giáo dục Giáo dục phải trở thành phong tràoquần chúng thực sự.
Vấn đề XHHGD đã được nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn khá sâurộng và lâu dài trong lịch sử nước ta và các nước trên thế giới Bên cạnh cáccông trình nghiên cứu khoa học về công tác XHHGD trong những năm gầnđây được nhiều CBQL giáo dục nước ta quan tâm, có những luận văn Thạc sĩ
đã đề cập đến và nêu nhiều giải pháp tăng cường công tác xã hội hóa giáodục Tuy nhiên đó là những vấn đề cụ thể có tính chuyên sâu, gắn với côngtác quản lý nảy sinh ở từng địa phương và phạm vi công tác, các hoạt độngcủa XHHGD là vấn đề rộng lớn, do vậy việc nghiên cứu XHHGD vẫn có ýnghĩa thực tiễn lớn lao
Từ đó chúng ta thấy mỗi nước có một đặc điểm riêng về kinh tế xã hộinhưng đều có điểm chung trong phương thức XHHGD là huy động mọi tiềmlực của cộng đồng cho giáo dục Và vấn đề XHHGD ở mỗi quốc gia là sự lựachọn có tính chất quyết định cho các mô hình phát triển độc đáo của mình
Trong giai đoạn hiện tại và tương lai các quan điểm giáo dục mở rộng
ra đối với tất cả mọi người, giáo dục suốt đời “Giáo dục hướng tới mục tiêugiúp cho con người học cách chung sống với nhau” đã và đang trở thành cácquan điểm chủ đạo chi phối phương hướng, chiến lược của các nước Vấn đềXHHGD trở thành quan điểm chỉ đạo của các nhà lãnh đạo, hơn thế nó cònđược thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật, trong hiến pháp Có thểnói rằng XHHGD là một phương thức để làm giáo dục cho mọi quốc gia Tuyvậy, quá trình vận động này còn tuỳ thuộc ở điều kiện kinh tế- xã hội và chínhthể ở mỗi quốc gia
Trang 13Như vậy, vấn đề XHHGD đã được nghiên cứu cả về lý luận và thựctiễn khá sâu rộng và lâu dài trong lịch sử nước ta và các nước trên thế giới.Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về các giải phápquản lý nâng cao hiệu quả và công tác XHHGD trên địa bàn huyện Tân Kỳ,tỉnh Nghệ An.
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Xã hội hoá
Thuật ngữ “Xã hội hóa” dùng để chỉ chức năng nguyên thủy của giáodục (Socialization), được các nhà xã hội học sử dụng để mô tả những phươngcách, các giá trị, các vai trò mà xã hội đã quy ước, tạo cơ sở cho quá trìnhhình thành và phát triển nhân cách con người
Xã hội hoá là một trong những vấn đề cơ bản của xã hội học Từ trướcđến nay, xã hội hoá được hiểu theo hai nghĩa: xã hội hoá cá nhân và xã hộihoá một hoạt động
a) Xã hội hoá cá nhân
Xã hội hoá cá nhân là quá trình con người tiếp thu nền văn hoá của xãhội trong đó con người được sinh ra, quá trình mà nhờ đó con người đạt đượcnhững đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử đượccoi là thích hợp trong xã hội
Xã hội hoá cá nhân là quá trình tiếp thu và tái tạo những kinh nghiệm
xã hội của cá nhân thông qua hoạt động và giao lưu Xã hội hoá cho phép conngười nhận thức toàn diện hiện thực xã hội xung quanh, chiếm lĩnh những kỹnăng hoạt động của cá nhân và tập thể
Xã hội hoá cá nhân là quá trình liên tục, quá trình đó còn gọi là quátrình học hỏi xã hội, tiếp thu xã hội, thích ứng xã hội [4]
b) Xã hội hoá một hoạt động
XHH được nghiên cứu ở đây chính là sự tham gia rộng rãi của xã hội(các cá nhân, nhóm, tổ chức, cộng đồng ) vào một hoạt động hoặc một số
Trang 14các hoạt động mà trước đó chỉ một đơn vị, bộ phận hay một ngành chức năngnhất định thực hiện [4].
XHH theo nghĩa này thường được dùng một cách thông dụng trong xãhội, đây chính là quá trình phối hợp hoạt động một cách có kế hoạch của cáclực lượng trong xã hội theo một định hướng, một chiến lược quốc gia để giảiquyết một vấn đề nào đó của xã hội
XHH hoạt động cần phải được coi là một tư tưởng chiến lược có tínhlâu dài toàn diện, làm một giải pháp xã hội có tính liên ngành cao nhằm huyđộng các lực lượng xã hội tham gia một cách tích cực để giải quyết một vấn
đề xã hội nào đó XHH hoạt động dưới góc nhìn của các nhà lãnh đạo, quản lý
là một quá trình tổ chức, quản lý và huy động nhiều lực lượng xã hội cùngtham gia để giải quyết một vấn đề của xã hội theo một chiến lược xác định và
có kế hoạch Đối với từng lực lượng xã hội, XHH được hiểu là một quá trìnhphối hợp, lồng ghép các hoạt động của mình với hoạt động của các lực lượngkhác trong xã hội có liên quan để tạo ra hoạt động có tính liên ngành cao,trong đó có sự phân công rõ trách nhiệm của từng lực lượng Đối với mỗicộng đồng, mỗi gia đình, mỗi người dân, XHH hoạt động được hiểu là mộtquá trình trong đó cần huy động sự tham gia hưởng ứng của nhiều người, củacộng đồng vào các cuộc vận động nhằm động viên, thúc đẩy họ hành độngmột cách chủ động, tích cực vì mục đích mở rộng và nâng cao chất lượng mộthoạt động xã hội nào đó
XHH hoạt động xã hội còn được hiểu như là việc biến một nhiệm vụ,một công việc thuộc trách nhiệm của một chủ thể thành nhiệm vụ, công việccủa một số chủ thể, của nhiều chủ thể hay của toàn bộ xã hội XHH với nghĩatương đồng với việc huy động sức lực, trí tuệ (nguồn lực) của cả cộng đồngcho việc hoàn thành một nhiệm vụ xã hội nào đó Ở đây huy động sức người,sức của, tài chính, phương tiện, vật chất là những cái cần huy động, tổng
Trang 15hợp, phân bổ và sử dụng cho việc hoàn thành nhiệm vụ XHH theo nghĩa nàynhư một phương thức huy động xã hội, thông qua công tác tuyên truyền, giáodục, thuyết phục, vận động xã hội là chính Mà trong nhiều trường hợp XHHtheo cách này đã huy động được không nhỏ sức lực, trí tuệ của cả xã hội choviệc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ xã hội.
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng XHH các hoạt động không chỉ nghĩa làtăng cường huy động cộng đồng mà coi nhẹ trách nhiệm Nhà nước hoặc tráchnhiệm các chủ thể chính mà ngược lại, đây chính là quá trình kết hợp chặt chẽgiữa trách nhiệm của Nhà nước, của các cơ quan chủ quản với cộng đồng,làm cho các nguồn lực được huy động đến mức tối đa và sử dụng có hiệu quảnhất Đây mới là mục tiêu thực chất của XHH các hoạt động
Như vậy, XHH hoạt động được đề cập ở đây chính là biến nhiệm vụ củamột ngành, một chủ thể thành nhiệm vụ của nhiều ngành, nhiều chủ thể xã hộihay của toàn xã hội bằng cách thông qua hoạt động tuyên truyền, giáo dục,thuyết phục nhằm nâng cao nhận thức về trách nhiệm của từng đối tượng, sựđiều hành quản lý của các nhà lãnh đạo nhằm tăng cường sự phối hợp chặt chẽgiữa các lực lượng xã hội để thực hiện nhiệm vụ xã hội đang đặt ra
XHH hoạt động con người rõ ràng khác biệt với XHH cá nhân Bởi lẽnếu XHH cá nhân là nhằm biến con người cá nhân thành con người xã hội thìXHH hoạt động là quá trình biến một hay một số nhiệm vụ của một chủ thểthành nhiệm vụ của nhiều chủ thể hay của toàn xã hội
1.2.2 Xã hội hoá giáo dục
Nhà xã hội học Pháp Emile Durkheim (1858 - 1917) là một trong số rất
ít người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Xã hội hóa” Ông nêu: “giáo dục vừa cóchức năng phân hóa vừa có chức năng xã hội hóa”
XHHGD là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động giáodục và cộng đồng xã hội, là làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã
Trang 16hội, thích ứng với xã hội Xã hội hóa công tác giáo dục là duy trì sự cân bằnggiữa hoạt động giáo dục và xã hội.
XHHGD là cách nói gọn của XHH công tác GD với nội hàm là phươngthức, cách thức, phương châm, cách làm giáo dục, tổ chức và quản lý giáodục Đảng ta chủ trương XHHGD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phậnkhông thể thiếu trong đường lối giáo dục của Đảng
Đặc điểm của XHHGD là mở rộng quy mô, mở rộng trách nhiệm giáodục, chuyển hướng từ giáo dục tinh hoa thành giáo dục đại chúng - giáo dụccho mọi người - xây dựng xã hội học tập Hoạt động giáo dục từ chỗ là tráchnhiệm của ngành giáo dục, do Nhà nước đảm trách, đến mọi cá nhân, tập thể,cộng đồng cùng chăm lo Điều đó tạo nên động lực mới và sức mạnh tổnghợp, tính công bằng xã hội của GD& ĐT
Nghị quyết 90-CP của Chính phủ do Thủ tướng ký ngày 21-8-1997 đãxác định khái niệm XHHGD như sau, đó là:
- Là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn
xã hội vào sự phát triển sự nghiệp giáo dục
- Là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân vàđảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các cơ quan nhà nước, cácđoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địaphương và của từng người dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trườngkinh tế xã hội lành mạnh thuận lợi cho hoạt động giáo dục
- Là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực,vật lực và tài lực trong xã hội (kể cả từ nước ngoài); phát huy và sử dụng cóhiệu quả các nguồn lực này
GS TS Phạm Minh Hạc cho rằng, XHHGD là: “Làm cho xã hội nhận
rõ trách nhiệm đối với giáo dục, giáo dục phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà
Trang 17trường, tạo điều kiện để giáo dục kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; xã hội hóa giáo dục có quan hệ hữu cơ với dân chủ hóa giáo dục” [ 14,17-18].
Như vậy, XHHGD là quá trình tăng cường tính xã hội của giáo dục lên
tầm cao mới, địa phương hóa nguồn lực, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, cộng đồng hóa trách nhiệm
Xã hội hóa giáo dục đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm vàthực hiện từ nhiều thập kỷ qua, hoạt động XHHGD luôn vận động và phát triển
Ở nước ta, XHHGD là điều kiện cần thiết và tất yếu để phát triển GD&
ĐT, XHHGD là chủ trương đúng đắn, mang tính chiến lược của Đảng “Xãhội hóa giáo dục là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các
tổ chức kinh tế - xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạtđộng giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyênmôn nhằm xây dựng xã hội học tập” [17, 17]
Văn kiện Đại hội IX của Đảng có nêu: “Thực hiện chủ trương xã hộihóa giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xâydựng các quỹ khuyến khích phát triển tài năng, các tổ chức khuyến học, bảotrợ giáo dục” [1, 73-74]
Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X nhấn mạnh: “Đổi mới cơ cấu tổchức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng “Chuẩn hóa, hiện đạihóa, xã hội hóa” Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành củangười học Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội Chuyểndần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hộihọc tập với hệ thống học tập suốt đời” [7, 34- 35]
Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Chính phủ đã ban hành các vănbản pháp quy và tổ chức thực hiện rộng rãi chủ trương XHHGD và XHHGDphải được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân, toàn thể xã hộitham gia vào giáo dục, làm cho hoạt động giáo dục trở thành hoạt động chungcủa toàn xã hội
Trang 181.2.3 Quản lý
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý Có người cho rằng quản lý
là cai quản, điều hành, điều khiển, chỉ huy, hướng dẫn, trọng tài, cũng có
người quan niệm quản lý là “nghệ thuật”
Frederics William Taylor - Mỹ (1856 - 1915) cho rằng: “Quản lý lànghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thếnào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [5, 89]
C.Mác cũng đã từng khẳng định: “Bất cứ lao động xã hội hay cộngđồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ởchừng mực nhất định đến sự quản lý Quản lý là xác lập sự tương hợpgiữa các công việc cá nhân và hình thành những chức năng chung, xuấthiện trong toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của bộ phậnriêng lẻ của nó” [30, 199]
PGS.TS Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý về bản chất bao gồm quá
trình “quản” và quá trình “lý” Quản là coi sóc, giữ gìn nhằm ổn định hệ
thống Lý là thanh lý, xử lý, biện lý, sửa sang, chỉnh đốn nhằm làm cho hệthống phát triển
- Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu dẫn đến suy thoái
- Hệ phát triển mà thiếu ổn định tất yếu dẫn đến rối ren
- Như vậy: quản lý = ổn định + phát triển
Trong quản lý phải có mầm mống của lý và trong lý phải có hạt nhâncủa quản Điều này tạo ra mối liên hệ hiện thực: ổn định đi tới sự phát triển,phát triển trong thế ổn định” [3, 176]
Theo chúng tôi, quản lý là sự tác động có hướng, đích của chủ thể
quản lý đến khách thể đối tượng quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu và chất lượng cao bằng cách thực hiện các chức năng kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
Trang 19* Chức năng của quản lý:
Cho đến nay đa số các nhà quản lý đều cho rằng quản lý có 4 chứcnăng cơ bản Đó là:
- Chức năng kế hoạch: là công tác xác định trước mục tiêu của tổ chức,đồng thời chỉ ra các phương pháp, biện pháp để thực hiện mục tiêu, trong điềukiện biến động của môi trường Thực hiện chức năng kế hoạch là trả lời cáccâu hỏi:
+ Hiện nay chúng ta đang ở đâu?
+ Chúng ta muốn đi đến đâu?
+ Cần phải làm gì để đi đến đó?
- Chức năng tổ chức: Là việc sắp xếp, phân công các nhiệm vụ, cácnguồn lực (con người, các nguồn lực khác) một cách tối ưu, nhằm làm cho tổchức vận hành theo kế hoạch, đạt được mục tiêu đặt ra
- Chức năng chỉ đạo: Là phương thức tác động của chủ thể quản lýnhằm điều hành tổ chức vận hành đúng theo kế hoạch, thực hiện được mụctiêu quản lý
- Chức năng kiểm tra: Là phương thức hoạt động của chủ thể quản lýlên đối tượng quản lý nhằm thu thập thông tin phản hồi, đánh giá và xử lý cáckết quả vận hành của tổ chức, từ đó ra các quyết định quản lý điều chỉnhnhằm thực hiện được mục tiêu đề ra
Bốn chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành mộtchu trình quản lý như sơ đồ sau:
Trang 20
Sơ đồ Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
1.2.4 Quản lý công tác XHHGD
Đó là hệ thống những tác động có hướng đích của chủ thể quản lý cáccấp đến các đối tượng quản lý nhằm làm cho công tác XHHGD đạt được cácmục tiêu dự kiến
XHHGD không có nghĩa là buông lỏng sự quản lý thống nhất của Nhànước về giáo dục Sự tăng cường quản lý của Nhà nước được thể hiện bằngcác văn bản pháp luật, các quy chế quản lý, những quyết định, chỉ thị … hệthống văn bản này chính là hành lang pháp lý, là những trụ cột căn bản để GD
& ĐT phát triển
Do vậy, Nhà nước phải xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thốngpháp luật đầy đủ, minh bạch để đảm bảo trách nhiệm, quyền lợi, tính côngbằng dân chủ và công khai trong hoạt động giáo dục Trong khuôn khổ chínhsách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, mọi tổ chức, cá nhân được tự dotham gia XHHGD và Nhà nước chỉ can thiệp khi có dấu hiệu vi phạm phápluật, nhằm tránh những cách làm tuỳ tiện, lợi dụng, dẫn đến những vi phạm,
Thông tin quản lý và quyết định quản lý
Kế hoạch
Chỉ đạo
Trang 21đặc biệt là trong việc huy động các nguồn lực tài chính phục vụ cho sự nghiệpgiáo dục và đào tạo.
Nội dung công tác XHHGD có thể xác định các nội dung quản lý khácnhau dựa vào cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên nhìn chung có thể xác địnhcác nội dung quản lý công tác XHHGD thông qua việc thực hiện các chứcnăng quản lý:
- Lập kế hoạch công tác XHHGD
- Tổ chức thực hiện kế hoạch công tác XHHGD
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch công tác XHHGD
- Kiểm tra đánh giá kết quả công tác XHHGD
1.2.5 Hiệu quả quản lý
- Hiệu quả quản lý là sự đạt được mục tiêu đặt ra phù hợp với chứcnăng, nhiệm vụ hay sứ mạng của tổ chức, cá nhân hay một hoạt động nào đó
Hiệu quả quản lý còn được xem là sự phù hợp vững chắc giữa những
gì lập ra trong kế hoạch quản lý và những gì đạt được Hay sự phù hợp với mục tiêu quản lý (theo Luis Eduarda Gonzalez).
1.2.6 Giải pháp và giải pháp quản lý công tác XHHGD
- Giải pháp
Theo Từ điển tiếng Việt, “giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn
đề cụ thể” [25, 387].
Còn theo Nguyễn Văn Đạm, “giải pháp là toàn bộ những ý nghĩ có hệ
thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn” [12, 325].
Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt nó với một
số khái niệm tương tự như phương pháp, biện pháp Điểm giống nhau của cáckhái niệm là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một côngviệc, một vấn đề Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh
Trang 22đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn mạnhđến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mụcđích Giải pháp chính là phương pháp nhưng được thực hiện ở tầm vĩ mô hơn.
- Giải pháp quản lí công tác XHHGD
Giải pháp quản lí công tác xã hội hóa giáo dục là hệ thống các biệnpháp, phương pháp, cách thức quản lí việc thực hiện công tác XHHGDnhằm huy động toàn thể xã hội tham gia một cách có hiệu quả vào sự nghiệpgiáo dục
1.3 Công tác XHHGD trên địa bàn Huyện
1.3.1 Bản chất của công tác XHHGD
Hiện nay giáo dục đuợc xem là động lực của sự phát triển xã hội Điềunày có nghĩa là không thể tách rời giáo dục ra khỏi đời sống xã hội, nói rõhơn không có giáo dục đứng ngoài xã hội cũng có nghĩa không có xã hội nào
có thể phát triển mà không gắn liền với vai trò lịch sử của một nền giáo dục
Trong lý luận giáo dục truyền thống người ta gọi điều nói trên phản ánhtính chất xã hội của giáo dục Tính chất này luôn thay đổi, tùy thuộc vào trình
độ, tốc độ phát triển của xã hội Cùng với sự phát triển xã hội trong từng thời
kỳ lịch sử cụ thể, các nền giáo dục khác nhau về tính chất, về hình thức (cơcấu hệ thống và phương thức hoạt động), chính là sự thể hiện trình độ pháttriển của nền - xã hội, các truyền thống văn hóa, những điều kiện bối cảnh củamột dân tộc, một đất nước khái quát hơn là của một thời đại Vậy xét theo cộinguồn, giáo dục không bao giờ tách rời sự phát triển của xã hội Sự tồn tại vàphát triển của giáo dục luôn luôn chịu sự chi phối của của trình độ phát triển
xã hội và ngược lại; cũng có thể xem đó chính là bản chất của giáo dục Dobản chất xã hội vốn có đó của giáo dục mà giáo dục phải là sự nghiệp củatoàn xã hội Chỉ có sự tham gia của toàn xã hội vào giáo dục mới đảm bảo chogiáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả
Trang 231.3.2 Đặc trưng của công tác XHHGD trên địa bàn Huyện
Xã hội ngày một phát triển cũng như giáo dục qua các thời đại lịch sửngày càng tiến xa bản chất xã hội vốn có từ ban đầu Trải qua các quá trìnhthay đổi về mối quan hệ sản xuất, tiến bộ khoa học kỷ thuật, chuyên môn hoá,giai cấp hoá, Nhà nước hoá đi đến độc quyền Chất lượng giáo dục thấp, cơ sởvật chất cho giáo dục còn nhiều bất cập, có nhiều nguyên nhân từ những vấn
đề này, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực trong xã hội thấp, nhất là nguồnnhân lực trực tiếp sản xuất sau khi học xong THCS, THPT không học tiếp, tỷ
lệ không được đào tạo nghề rất cao Những vấn đề còn tồn tại của giáo dục sẽdần được khắc phục khi giải quyết tốt bản chất xã hội liên quan mật thiết tớigiáo dục Đảng ta đã khẳng định quan điểm “Giáo dục là sự nghiệp của quầnchúng” Hội nghị lần thứ VI BCH TW Đảng khoá IX đã chỉ rõ: “Toàn Đảng,toàn dân, toàn ngành giáo dục cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt nhữngđịnh hướng chiến lược về giáo dục trong Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) đẩymạnh XHHGD nhằm tạo nguồn nhân lực có số lượng và chất lượng đáp ứngyêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH”
Qua đó chúng ta thấy rằng XHHGD không chỉ đơn thuần là huy độngsức mạnh tổng hợp của các ngành các cấp vào sự phát triển sự nghiệp giáodục mà còn có chiều ngược lại: Giáo dục tạo ra nguồn nhân lực có số lượng
và chất lượng đáp ứng yêu cầu của xã hội trong thời kỳ mới góp phần giảiquyết hiện tượng “thiếu thợ” trong xã hội Thực ra có thể coi XHHGD là mộtcách làm giáo dục được xác định bởi những đặc trưng cơ bản sau:
- Huy động toàn xã hội đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực, thực hiện đadạng hoá các nguồn đầu tư cho giáo dục
- Các lực lượng xã hội tham gia phát triển quy mô - số lượng giáo dục
- Các lực lượng xã hội tham gia vào việc đa dạng hoá các hình thứchọc tập
Trang 24- Các lực lượng xã hội tham gia vào việc đa dạng hoá các loại hìnhtrường lớp.
- Huy động toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi choviệc giáo dục thế hệ trẻ
- Thu hút các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình giáo dục của nhàtrường
- Thu hút các lực lượng xã hội tham gia tuyền truyền vận động họcsinh, phụ huynh về công tác hướng nghiệp, dạy nghề và phân luồng học sinhsau trung học
Các đặc điểm trên cho chúng ta thấy xã hội hóa giáo dục sẽ làm chogiáo dục càng gắn bó với cộng đồng, do cộng đồng và thực hiện nhằm đápứng yêu cầu của cộng đồng, của người dân, mang lại hiệu quả cao trong việcnâng cao chất lượng giáo dục toàn diện mà đặc biệt là giáo dục đạo đức họcsinh tuổi mới lớn và định hướng phân luồng học sinh
1.3.3 Vai trò của công tác XHHGD trên địa bàn Huyện
a) Khai thác được tối ưu tiềm năng của xã hội, khắc phục những khó
khăn của quá trình phát triển giáo dục.
Trải qua hơn 5 thập kỷ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, giáodục đã có những bước tiến nhanh: Tỷ lệ học sinh phát triển nhanh, từ chỗ chủyếu là nhà tranh tre nứa lá, học sinh nhiều nơi học ba ca nay hầu hết cáctrường đã có phòng học khang trang, trang thiết bị phục vụ dạy và học tươngđối đầy đủ, không còn hiện tượng học ba ca như trước đây Tuy nhiên hiệnnay cơ sở vật chất giáo dục còn gặp nhiều khó khăn, nhất là các trường nôngthôn, vùng sâu, vùng xa: số phòng học tạm bợ còn nhiều, tình trạng học hai cacòn khá phổ biến, thiết bị dạy học thiếu và không đảm bảo chất lượng, phòngchức năng còn thiếu nhiều Xã hội hoá giáo dục sẽ mang lại nhiều nguồn lựcphục vụ cho mọi hoạt động của giáo dục Bao gồm: nguồn lực vật chất (nhân
Trang 25lực, vật lực, tài lực), nguồn lực tinh thần (Sáng kiến kinh nghiệm, góp ý, tưvấn ), nguồn lực vừa có ý nghĩa vật chất và tinh thần (thông tin và công nghệthông tin) Những nguồn lực này sẽ góp phần giải quyết được mâu thuẫn,khắc phục những khó khăn của quá trình phát triển giáo dục
Ở đây, chúng ta cần lưu ý rằng, huy động các nguồn lực của xã hộikhông có nghĩa là từ đó khoán trắng cho xã hội, cũng như ngược lại, xã hộikhông được khoán trắng cho Nhà nước XHHGD không có nghĩa là giảm nhẹtrách nhiệm và vai trò của Nhà nước Trái lại Nhà nước phải tăng đầu tư ngânsách cũng như tăng cường quản lý Nhà nước đối với giáo dục
b) Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, tạo tiền đề vững chắc cho
sự phát triển nhân cách của học sinh
XHHGD sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến căn bản về chất lượnggiáo dục, mà mục tiêu hàng đầu của giáo dục là chất lượng- chất lượng nhâncách của những con người được giáo dục, đào tạo Nhờ xã hội hoá giáo dục
mà cộng đồng và các lực lượng xã hội có thể tham gia vào cải tiến nội dung
và phương pháp giáo dục, tham gia xây dựng nội dung, môi trường giáo dục,trong sạch, lành mạnh XHHG giúp cho việc gắn kết giáo dục giữa nhàtrường- gia đình- xã hội để giáo dục chất lượng học tập và nhân cách cho các
em là hết sức cần thiết, vì thời gian nhà trường quản lý các em ít hơn nhiều sovới gia đình và xã hội Do đó có thể nói XHHG góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục
c) Tạo ra sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm giáo dục.
Thực hiện XHHG có nghĩa là xây dựng được cộng đồng trách nhiệmcủa mọi lực lượng xã hội không chỉ “tham gia” mà phải “cùng làm” Như vậy,XHHG sẽ là giải pháp quan trọng để thực hiện công bằng xã hội trong pháttriển giáo dục Công bằng xã hội thể hiện ở chỗ mở rộng các cơ hội cho mọithành phần kinh tế, cho mọi tầng lớp nhân dân chủ động và bình đẳng tham
Trang 26gia vào các hoạt động giáo dục, chính là việc hưởng thụ một cách công bằngcác phúc lợi giáo dục Các em được tham gia học tập bình đẳng như nhau
Dân chủ hoá giáo dục là một chủ trương lớn trong đường lối giáo dụccủa Đảng và Nhà nước ta Thực hiện XHHGD là nhằm xoá bỏ tính khép kíncủa hệ thống giáo dục và trường học, để mọi trẻ em được hưởng quyền họctập như nhau, mọi người dân có thể thực hiện quyền làm chủ trong giáo dục.XHHGD là góp phần dân chủ hoá việc thực hiện mục tiêu, nội dung, phươngpháp, phương tiện, đánh giá giáo dục, thực hiện dân chủ của người dạy vàngười học
d) Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy truyền
thống giáo dục của dân tộc
Một chủ trương đường lối, văn bản pháp quy chỉ trở thành hiện thựckhi được quần chúng nhận thức đúng đắn và thực hiện đầy đủ Việc phát triểncác hình thức phổ biến, tuyên truyền cho các bậc cha mẹ, đáp ứng nhu cầuchăm sóc và giáo dục trẻ em của nhân dân phải được nhân dân hiểu, đồngtình, ủng hộ và tích cực tham gia thì chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ mớiđược thực hiện, và có như vậy công tác quản lý Nhà nước mới thực sự có hiệulực và hiệu quả
1.3.4 Nội dung và phương thức thực hiện công tác XHHGD trên địa bàn Huyện
1.3.4.1 Nội dung
Bao gồm các nội dung chính sau đây:
a) Tạo lập phong trào học tập rộng khắp trong xã hội, mọi người đều
học, học thường xuyên, học suốt đời, mọi người trong xã hội xem việc họctập là nghĩa vụ và quyền lợi của mình, và phong trào toàn dân học tập trởthành phong trào thường xuyên phát triển vì lợi ích của mỗi công dân và củađất nước
Trang 27b) Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp chặt chẽ giữa
giáo dục trong nhà trường, giáo dục ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội; làmcho mọi người, mọi tầng lớp, từ cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ bannhân dân, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế xã hội, đến các doanhnghiệp và mọi cá nhân trong xã hội nhận thức rõ vị trí, vai trò của giáo dục vàtrách nhiệm của mình đối với sự nghiệp giáo dục của đất nước
c) Huy động sự tham gia của toàn dân đối với sự nghiệp giáo dục Với
nội dung này phải huy động các lực lượng xã hội tham gia trực tiếp hoặc giántiếp vào sự nghiệp giáo dục, phải tập hợp được sức mạnh của cộng đồng, pháthuy được những năng lực vốn có của từng thành viên trong cộng đồng, trướchết là các đoàn thể xã hội, khai thác tận dụng lợi thế, chức năng giáo dụcriêng của các tổ chức đó để giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ
1.3.4.2 Phương thức thực hiện công tác XHHGD ở địa bàn huyện
a) Sự tham gia thức trực tiếp của XH vào GD như là: thực hiện các nội
dung, yêu cầu giáo dục, tham gia xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học,tham gia giáo dục chính trị-công dân, giáo dục kỹ thuật hướng nghiệp, dạynghề, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất-sức khoẻ v.v Các lực lượng xã hội
và cá nhân trong cộng đồng có thể tham gia từ việc khuyến khích mọi người,trước hết là trẻ em, để thực hiện xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, thamgia chống bỏ học, duy trì sĩ số cho đến việc tham gia trực tiếp vào quá trìnhgiáo dục Kết quả sự tham gia giáo dục trực tiếp này là lực lượng làm giáodục sẽ phong phú lên Đây là xã hội hoá lực lượng giáo dục, là huy độngnguồn nhân lực cho giáo dục
b) Sự tham gia của xã hội GD dưới hình thức gián tiếp là đóng góp bổ
sung nguồn đầu tư cho giáo dục, tạo điều kiện giáo dục thích hợp với yêu cầucủa các đối tượng giáo dục khác nhau, hình thức tham gia này có ý nghĩa rấtlớn, nó mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về vật lực, tài lực
Trang 28trong xã hội, và nếu biết phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực củanhân dân sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục phát triển nhanh hơn, cóchất lượng hơn Theo các nguyên tắc:
+ Đa phương hóa GD: Trong bối cảnh nước ta còn nghèo, Nhà nước dù
cố gắng tăng cường ngân sách đầu tư cho giáo dục đào tạo, nhưng chỉ đápứng được khoảng 50% nhu cầu, thì việc huy động các nguồn lực của xã hộiđóng góp cho giáo dục là yếu tố quan trọng và cần thiết Đa phương hoánguồn lực xã hội cho giáo dục bao gồm 3 mặt: nhân lực, vật lực, tài lực, chứkhông phải chỉ tập trung vào huy động tài lực và xem đó là tất cả việc xã hộihoá công tác giáo dục
+ Đa dạng hoá GD: đa dạng hoá về trình độ đào tạo (tức là đa dạnghoá về mục tiêu đào tạo) và đa dạng hoá nguồn đầu tư cho giáo dục-đàotạo Thực hiện tốt chủ trương đa dạng hoá giáo dục có thể khắc phục đượcmâu thuẩn gay gắt hiện nay là yêu cầu đào tạo của xã hội ngày càng tăng
mà khả năng tài chính của ngành giáo dục rất hạn chế Việc mở rộng cáchình thức giáo dục đào tạo như dân lập, tư thục và các hệ đào tạo khôngchính quy bên cạnh hệ công lập, sẽ mở ra các nguồn đầu tư cho giáo dục,tạo cơ hội để các lực lượng ngoài giáo dục tham gia tích cực hơn vào côngtác giáo dục
+ Thể chế hoá, xã hội hoá GD: Để XHHGD được thực hiện đúnghướng, đúng ý nghĩa và có tổ chức, cần phải thể chế hoá trách nhiệm, quyềnlợi của các lực lượng xã hội, của nhân dân trong việc tham gia xây dựng giáodục Đây cũng là việc cần thiết để thể hiện sự lãnh đạo và sự quản lý của Nhànước, thể hiện tính định hướng, tính mục đích của sự tham gia của nhân dânvào sự nghiệp giáo dục, đồng thời là cơ sở để tránh sự tuỳ tiện, làm sai lệch ýnghĩa của hoạt động xã hội hoá giáo dục và để phát huy hiệu quả của tư tưởngchiến lược này
Trang 291.4 Quản lý công tác XHHGD trên địa bàn Huyện
1.4.1 Mục đích quản lý
Làm cho công tác XHHGD ngày càng phát triển trở thành động lựcthúc đẩy hoạt động giáo dục phát triển, giảm bớt gánh nặng cho ngân sáchcho nhà nước, đồng thời để đưa hoạt động xã hội hóa đi đúng hướng và duytrì một cách bền vững
Việc quản lý công tác XHHGD tốt sẽ giúp phát huy tối đa vai trò và tácdụng của GD trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo HS ở trườnghọc cũng như ngoài xã hôi Đồng thời tìm ra tiếng nói chung giữa nghànhgiáo dục với phụ huynh và xã hội trong việc đào tạo và giáo dục học sinh
1.4.2 Nội dung quản lý
1.4.2.1 Lập kế hoạch công tác XHHGD
Trên cơ sở quy mô, loại hình trường, lớp, học sinh, các cơ sở GD phảitiến hành lập kế hoạch XHHGD cho đơn vị mình Ngoài sự chỉ đạo chung củangành, nhà trường, địa phương phải xây dựng kế hoạch XHHGD trong giaiđoạn thời gian dài hạn (trên 5 năm), trung hạn (3-5 năm) và ngắn hạn (1 năm)
để đảm bảo phát triển công tác XHH mà Bộ GD&ĐT quy định
Trước hết cần lập kế hoạch XHHGD cho toàn huyện, sau đó cụ thể hóacho từng xã, từng trường, cấp học, lớp học Lĩnh vực nào cần xã hội hóatrước, xã nào, trường nào cần chú trọng ưu tiên
Trong kế hoạch phải nêu rõ XHH những nội dung nào, dự trù về mứckinh phí, nguồn kinh phí, quá trình, thời gian thực hiện, người thực hiện
Kế hoạch công tác XHHGD được thông qua Hội đồng huyện, phòng giáodục, hội đồng xã và được lãnh đạo các nhà trường duyệt để đưa vào thực hiện
1.4.2.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch công tác XHHGD
Trên cơ sở kế hoạch đã lập, lãnh đạo chính quyền, phòng giáo dục nhàtrường chỉ đạo các bộ phận có liên quan đến công tác XHH thực hiện kếhoạch đã đặt ra qua các biện pháp cụ thể sau:
Trang 30+ Phân công trong Ban giám hiệu quản lý công tác XHHGD của đơn vị(Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chung, phó hiệu trưởng phụ trách CSVC,chuyên môn).
+ Phân công tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc thựchiên công tác XHHGD
+ Xây dựng và ban hành các quy định về công tác XHHGD và quản lýcông tác XHHGD
+ Chuẩn bị đầy đủ các nguồn lực cần thiết để họ thực hiện được kếhoạch (tài chính, thời gian, con người, điều kiện thực hiện)
+ Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng, đào tạo cho lực lượng tham giaquản lý công tác XHHGD
1.4.2.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch công tác XHHGD
Trong quá trình thực hiện, lãnh đạo huyện, phòng giáo dục và nhàtrường cần thường xuyên kiểm tra, đôn đốc để hoàn thành kế hoạch đã đặt ra
- Việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch thông qua các biện pháp như:
+ Thành lập Ban chỉ đạo công tác XHHGD
+ Giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện kế hoạch
+ Hỗ trợ, giúp đỡ khi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện kế hoạch.+ Động viên, khuyến khích nhằm điều chỉnh hoạt động của cấp dưới để
có thể thực hiện được kế hoạch đặt ra
1.4.2.4 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch công tác XHHGD
Căn cứ vào các mốc thời gian đã xây dựng trong kế hoạch và người(hoặc bộ phận nào đó) thực hiện, từng giai đoạn, từng kỳ hay năm học, trên
cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá công tác XHHGD đã thống nhất và banhành, các cơ sở GD cần đánh giá thông qua kiểm tra, tổng kết việc thực hiện
kế hoạch đã xây dựng, từ đó thấy được những vấn đề đã thực hiện được, vấn
đề gì còn tồn tại để kịp thời bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện
Trang 31thực tế nhằm nâng cao hiệu quả của công tác XHHGD cho nhà trường, đápứng được yêu cầu dạy - học của trường.
1.4.3 Các yếu tố quản lý ảnh hưởng đến công tác XHHGD trên địa bàn huyện
1.4.3.1 Yếu tố khách quan
- Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, Bộ, Ngành vềcông tác XHHGD ngày càng được quan tâm chỉ đạo cụ thể Có vai trò địnhhướng, chỉ đạo, tạo hành lang pháp lý và cơ chế để thực hiện công tácXHHGD
- Yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục của xã hội, cộng đồng, địaphương là động lực để thúc đẩy công tác quản lý XHHGD, tạo điều kiệnthuận lợi để phát triển công tác XHHGD
- Sự phát triển KT-XH của địa phương có nhiều ảnh hưởng lớn đếncông tác XHHGD Giáo dục và đào tạo phụ thuộc rất nhiều vào công tác xãhội hóa giáo dục Nguồn tài chính, tài sản của các trường thu được từ 3 nguồnchính: Nhà nước, cha mẹ và chính quyền địa phương Ngoài ra điều kiện pháttriển kinh tế còn quyết định sự phát triển của công tác XHHGD Công tácgiáo dục và đào tạo rất cần sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, một mặt
nó tạo ra sự thống nhất trong công tác giáo dục, mặt khác nó phát huy thếmạnh giáo dục gia đình và nhà trường trong giáo dục tránh tình trạng “trốngđánh xuôi, kèn thổi ngược” Bởi vậy điều kiện KT-XH, phong tục, tập quán,lối sống và đặc điểm dân cư có tác động trực tiếp đến công tác XHHGD
- Sự quan tâm tạo điều kiện của chính quyền địa phương các cấp, đặcbiệt là sự đồng lòng của hội cha mẹ học sinh sẽ tạo điều kiện cho công tácXHHGD phát triển
1.4.3.2 Các yếu tố chủ quan
- Nhận thức, thái độ của đội ngũ CBQL, GV các cấp chính quyền, phụhunh học sinh trong công tác XHHGD có tác dụng vô cùng quan trọng, định
Trang 32hướng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình thực hiện nhiệm vụ của họ Làđộng lực thúc đẩy việc XHHGD có chất lượng cao hơn
- Trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn, năng lực quản lý của CBQL
có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển công tác XHHGD
- Các giải pháp quản lý công tác XHHGD của huyện Phòng Giáo dục
và Đào tạo là yếu tố ảnh hưởng gián tiếp nhưng hết sức quan trọng đến công
tác XHHGD Việc nắm vững và quản lý, chỉ đạo thực hiện tốt mục tiêuXHHGD vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ của cán bộ quản lý
1.5 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề XHHGD và quản lý công tác XHHGD
1.5.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã banhành sắc lệnh 146/SL ngày 10 tháng 8 năm 1946, trong đó khẳng định “Mộtdân tộc dốt là một dân tộc yếu” Người kêu gọi “Toàn dân tham gia diệt giặcdốt theo phương châm: Người biết dạy cho người chưa biết …ai cũng phảihọc” Người xác định ba nguyên tắc căn bản của nền giáo dục nước nhà là:
“Đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốcgia và dân chủ”
Đề án cải cách giáo dục lần thứ I được Hội đồng Chính phủ thông quatháng 7 năm 1950 đã khẳng định: “Tính chất của nền giáo dục của ta là nềngiáo dục của dân, do dân và vì dân, được xây dựng trên nguyên tắc: dân tộc,khoa học, đại chúng”
Văn kiện Hội nghị lần thứ XII ban chấp hành TW Đảng khóa III (tháng
3 năm 1975) khẳng định về giáo dục: “Lấy việc nâng cao chất lượng làmchính, phải kết hợp và phục vụ sản xuất, phục vụ việc xây dựng kinh tế quốcdân Chú ý dựa vào dân mà phát huy công tác giáo dục”
Trang 33Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 19 tháng 01 năm 1979 của Bộ Chính trị
về cải cách giáo dục có nêu: “Phối hợp những cố gắng đầu tư của Nhà nướcvới sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ sở sản xuất và sức laođộng của thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm, xưởngtrường, vườn trường…”
Tại Đại hội lần thứ VII (1/1/1991) Đảng ta có nêu: “Đẩy mạnh hơn nữa
sự nghiệp giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ Một mặt, Nhà nước tăngcường đầu tư, mặt khác có chính sách để toàn dân, các thành phần kinh tếcùng làm và đóng góp vào sự nghiệp này” [8, 121]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: “Các vấn đề
về chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữvai trò nồng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổchức trong xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia vàgiải quyết những vấn đề xã hội” [9, 114]
Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII(12/1996) tiếp tục khẳng định về giáo dục: “Giáo dục - đào tạo là sự nghiệpcủa toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Mọi người đi học, học thườngxuyên, học suốt đời Phê phán thói lười học Mọi người chăm lo cho giáo dục.Các cấp Uỷ và tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các
tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tíchcực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhânlực, vật lực, tài lực cho giáo dục- đào tạo Kết hợp giáo dục nhà trường, giáodục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọinơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể” [6, 32]
Với phương châm này, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổchức xã hội, mọi gia đình và mọi cá nhân cùng với ngành GD& ĐT chăm loxây dựng sự nghiệp giáo dục theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùnglàm”, “Xây dựng môi trường giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội”
Trang 34Đại hội X của Đảng (4/2006) khẳng định: thực hiện XHHGD, huy độngnguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục.Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban ngành, các tổ chức chínhtrị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp… để mở mang giáo dục, tạo điều kiện họctập cho mọi thành viên trong xã hội
Quan điểm của Đảng được thể hiện bằng pháp luật của Nhà nước, cơ
sở pháp lý thực hiện XHHGD đó chính là Luật Giáo dục Điều 12 của LuậtGiáo dục (năm 2005) quy định: “ Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong pháttriển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và cáchình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cánhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Mọi tổ chức, gia đình và côngdân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trườngthực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và
an toàn” [18, 11]
Hệ thống quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta vềXHHGD đã khẳng định tư tưởng chiến lược của Đảng trong quá trình pháttriển GD& ĐT, mang tính chất lâu dài, xuyên suốt toàn bộ quá trình phát triểngiáo dục, làm cho giáo dục phục vụ tốt mục tiêu KT-XH của đất nước nóichung và của từng địa phương nói riêng
1.5.2 Định hướng phát triển giáo dục của huyện Tân Kỳ và vấn đề nâng cao hiệu quả công tác XHHGD
a) Xã hội hóa về mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh phổ thông
Huyện Tân Kỳ không phải là trung tâm của khu vực tỉnh Nghệ annhưng trong xu thế hội nhập và phát triển, nhà trường phải đào tạo nhữngngười lao động mới đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của xã hội
Trang 35b) Xây dựng chương trình phổ cập ngoại ngữ và tin học cho thanh
mẹ học sinh đóng góp theo tinh thần xã hội hóa giáo dục
- Cùng với môn ngoại ngữ, tin học cũng được xây dựng và sớm đưavào dạy cho tất cả học sinh ở các trường
c) Xã hội hoá về huy động các nguồn lực đầu tư giáo dục và đào tạo
trong các trường công lập.
- Xây dựng cơ chế phối hợp các lực lượng xã hội chăm lo cho sự
nghiệp giáo dục và đào tạo Thành lập Ban chỉ đạo phổ cập phát huy sứcmạnh tổng hợp của các ban ngành, đoàn thể cùng thực hiện phổ cập giáo dục
- Xây dựng quỹ bảo trợ học đường, quỹ khen thưởng qua các Hội,đoàn địa phương
- Phát huy đúng mức vai trò Ban đại diện cha mẹ học sinh, củng cốnâng cao chất lượng hoạt động của cha mẹ học sinh trường học
- Thực hiện chế độ học phí một phần
- Thực hiện chính sách kích cầu đầu tư:
d) Xã hội hóa giáo dục và đào tạo về huy động các trường ngoài công lập.
- Tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích đầu tư xây dựng các trường
ngoài công lập:
- Phát huy tốt những thế mạnh vốn có của các thế hệ trường ngoài công
lập, củng cố chất lượng chuyên môn, nâng cao uy tín hiệu trưởng
- Tăng cường hiệu lực quản lý, sâu sát hướng dẫn chuyên môn, nâng
cao năng lực phục vụ của nhà trường
Trang 361.6 Kết luận chương 1
Chất lượng con người là mục tiêu là động lực của sự phát triển kinh tế
xã hội, là nguồn nhân lực đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội XHHGD yếu
tố quyết định của sự thắng lợi các mục tiêu phát triển giáo dục, đang là vấn đềcần được xem xét từ nhiều mối quan hệ khác nhau Trong đó, quản lý tốt mốiquan hệ của các yếu tố tác động đến giáo dục là vấn đề cần phải được giảiquyết một cách khoa học, hợp lý nhằm đẩy mạnh công tác XHHGD, từ đógóp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XHHGD TẠI HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN
2.1 Khái quát về tình hình phát triển KT-XH-GD ở huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An
Tân Kỳ trước đây thuộc huyện Nghĩa Đàn cũ, đến ngày 19/4/1963, Hộiđồng chính phủ đã ra quyết định số 52/CP phê chuẩn việc chia lại địa giớihuyện Quỳ Châu, Anh Sơn, Nghĩa Đàn thành 7 huyện trong đó có huyện Tân
Kỳ Tên gọi huyện Tân Kỳ có từ đó Lúc mới thành lập Tân Kỳ gồm 13 xã,sau nhiều lần chia tách, sáp nhập nay Tân Kỳ có 21 xã, 1 thị trấn
Tân Kỳ là huyện miền núi thấp, thuộc tây bắc tỉnh Nghệ An, có diệntích tự nhiên là 72.890,23 ha (đứng thứ 19 trong tỉnh), trong đó đất có khảnăng nông lâm nghiệp chiếm hơn 47% Độ che phủ rừng 26% (năm 2000) Vềkhoáng sản có 4 loại chính có trữ lượng khá là đá vôi Khoảng150 triệu m2,đấtsét, than bùn và đá hoa cương Tân Kỳ có sông Con chảy qua 12 xã với chiềudài 60 km, có 119 hồ đập với dung tích 47,2 triệu m3 Về giao thông, Tân Kỳkhông thuận lợi, chỉ có con đường mòn Hồ Chí Minh chạy qua (dài 38 km) vàtỉnh lộ 545 Đô Lương - Nghĩa Đàn đoạn chạy qua dài 28 km và đường thủytrên sông Con [27, 5]
Về dân cư: năm 2000 có trên 140 ngàn người Chủ yếu do dân di cư cơhọc từ các huyện đồng bằng lên như Nam Đàn, Diễn Châu, Yên Thành, HưngNguyên…Dân tộc Kinh chiếm 77% còn lại là dân tộc ít người như Thanh,Thái, Thổ Theo số liệu điều tra, dân số của huyện tính đến ngày 07/07/2009
là 86.324 người Mật độ dân số trung bình là 729 người/km2, cao hơn trungbình chung toàn vùng Bắc Trung Bộ (192 người/km2) và trung bình chung cả
Trang 38nước (235 người/km2) Phân bố dân cư không đồng đều Dân số trong độ tuổilao động toàn huyện có 52.044 người, chiếm tỷ lệ 59,6% Lực lượng lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật không cao Toàn huyện có 1.215 người trong
độ tuổi lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học, lực lượng nàyđang hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, góp phần
to lớn vào sự nghiệp CNH - HĐH quê hương, đất nước
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An
Những năm qua, kinh tế - xã hội của các xã trên địa bàn huyện có bướctăng trưởng khá, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể Tốc độ tăngtrưởng bình quân những năm gần đây đạt gần 11%/năm Năm 2009, GDPbình quân đầu người đạt 8,1triệu đồng/người Cơ cấu kinh tế có sự chuyểnbiến tích cực
a) Sản xuất nông- lâm nghiệp: đạt 357 tỷ đồng, chiếm 37% trong cơ
cấu thu nhập; nhiều hộ nông dân sản xuất có quy mô khá lớn, là mô hình kinhdoanh hiệu quả
b) Sản xuất công nghiệp tăng bình quân 21% /năm, xây dựng tăng bìnhquân 16,7%/ năm
c) Về cơ sở hạ tầng: phát triển mạnh trên mọi lĩnh vực: Giao thông,Thuỷ lợi, Điện, Nước sinh hoạt, kiên cố hoá trường học, trạm y tế, nhà vănhoá cộng đồng thiết chế văn hoá thể thao, trụ sở các cơ quan công quyền ngàyđược cãi thiện
d) Thương mại - du lịch, dịch vụ phát triển rộng khắp trên địa bàn, đặcbiệt với sự góp sức của đề án phát triển lưới chợ nông thôn đã góp phần thúcđẩy lưu thông hàng hoá, đưa thị trường về với nông thôn miền núi [27, 8]
Những năm qua, cấp ủy, chính quyền các địa phương đã dành ưu tiênnhiều nguồn lực cho phát triển giáo dục, cả về xây dựng đội ngũ giáo viên,cán bộ quản lý, cơ sở vật chất và phong trào “Xã hội học tập”, “Xã hội hoá
Trang 39giáo dục” Đến nay, hệ thống trường lớp đó phát triển tương đối vững chắc vàtoàn diện Toàn huyện có 24 trường Mầm non, 26 trường Tiểu học, 18 trườngTHCS, 3 trường THPT, và 1 TTGDTX chất lượng giáo dục đạt loại khá, sốhọc sinh giỏi, học sinh đậu vào các trường Đại học, Cao đẳng những năm gầnđây tăng nhanh, (Năm 2009 có 459 em đậu vào các trường Đại học) Giữvững phong trào Phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành phổ cậpgiáo dục THCS Các hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng, khuyến họcđược xã hội hoá sâu rộng Phong trào xây dựng trường chuẩn Quốc gia đượcđẩy mạnh, đến nay đã có 24 trường được công nhận đạt chuẩn, trong đótrường mần non 5, tiểu học 15, THCS 4, các mục tiêu về nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực được quan tâm đúng mức
2.1.3 Tình hình giáo dục tại huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.
2.1.3.1 Về quy mô học sinh và mạng lưới trường lớp.
Bảng số 1: Quy mô trường lớp, học sinh năm học 2010-2011
Huy n Tân Kện Tân Kỳ ỳ
TT Cấp học Số
trường Số lớp
Số học sinh
So sánh năm trước
(Nguồn: Phòng Giáo dục -THPT-TTGDTX huyện Tân Kỳ)
Nhận xét: Số lượng học sinh mầm non và tiểu học tăng ít, học sinhTHCS giảm trong khi đó THPT tăng nhẹ còn TTGDTX ổn định Nhìn chung
Trang 40số lượng học sinh đi học giảm nhẹ Quy mô mạng lưới trường lớp đã đi vào
ổn định
2.1.3.2 Thực trạng về đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên và giáo viên.
Bảng số 2: Trình độ đào tạo, đội ngũ CBQL, GV, NV huyện Tân Kỳ
- Về số lượng và chất lượng: Đội ngũ CBQL, GV, NV có nhiều biến
động theo chiều hướng tốt, cụ thể:
+ Số lượng cán bộ quản lý cơ bản đủ về số lượng; theo định mức quyđịnh: Trường hạng 3 có 2 cán bộ quản lý; Trường hạng 2 có từ 2 đến 3 cán bộquản lý
+ Giáo viên liên tục tăng cả về số lượng lẫn loại hình
+ Số lượng nhân viên trường học tăng, đáp ứng được phần nào nhu cầuphục vụ dạy và học
+ Số lượng giáo viên dạy gỏi các cấp tăng
- Về trình độ đào tạo: Được nâng dần qua hàng năm; biểu hiện bằng
các chỉ số đạt chuẩn và trên chuẩn tăng, chưa đạt chuẩn giảm
- Về độ tuổi: Tỉ lệ CBQL, GV, NV dưới 35 tuổi tăng dần; tỉ lệ trên 45
tuổi (đối với nữ) trên 50 tuổi (đối với nam) giảm dần