NGUYỄN NGỌC KHƯƠNGMột số giải pháp quản lý nâng cao chất lợng hoạt động dạy học của các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Vĩnh Long LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyờn ngành: Quản
Trang 1NGUYỄN NGỌC KHƯƠNG
Một số giải pháp quản lý nâng cao
chất lợng hoạt động dạy học của các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Vĩnh Long
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyờn ngành: Quản lý giỏo dục
Mó số: 60 14 05
NGHỆ AN, 2012
Trang 2NGUYỄN NGỌC KHƯƠNG
Một số giải pháp quản lý nâng cao
chất lợng hoạt động dạy học của các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Vĩnh Long
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyờn ngành: Quản lý giỏo dục
Mó số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Hựng
NGHỆ AN, 2012
Trang 3Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầygiáo, cô giáo khoa Sau đại học trường Đại học Vinh và các thầy, cô giáo đãtham gia giảng dạy, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi học tập, nghiên cứu hoànthành nhiệm vụ đề tài luận văn của mình.
Tôi chân thành cảm ơn Sở Giáo dục & Đào tạo, Hội khuyến học tỉnhVĩnh Long, các phòng Giáo dục và đào tạo, Trung tâm giáo dục thường xuyênhuyện, thành phố, các Trung tâm học tập cộng đồng và các đơn vị có liênquan cùng bạn bè đồng nghiệp đã quan tâm, động viên, và tạo điều kiện thuậnlợi, giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư, Tiến sĩ
Hà Văn Hùng - Người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, tôi đã có nhiều cố gắng để hoànthành nhiệm vụ khoá học nói chung và hoàn thành đề tài luận văn nói riêng.Kết quả nghiên cứu ban đầu, có thể còn nhiều thiếu sót Kính mong các nhàkhoa học, các thầy giáo, cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến để tôi tiếp tụcnghiên cứu bổ sung để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 01 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Khương
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học .4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Đóng góp của luận văn 5
9 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về TTHTCĐ 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về TTHTCĐ 9
1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng 11
1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng 11
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng 17
1.3 Các nguyên tắc thành lập TTHTCĐ và các yếu tố duy trì bền vững TTHTCĐ 20
1.3.1 Các nguyên tắc thành lập TTHTCĐ 20
1.3.2 Các yếu tố duy trì bền vững TTHTCĐ 21
1.4 Các khái niệm liên quan tới đề tài 22
1.4.1 Giáo dục cộng đồng 22
1.4.2 Trung tâm học tập cộng đồng 23
Trang 51.5 Kết luận chương 1 33
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TỈNH VĨNH LONG 34
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và truyền thống lịch sử, văn hóa của tỉnh Vĩnh Long 34
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
2.1.2 Kinh tế - văn hóa xã hội 34
2.1.3 Tình hình giáo dục tỉnh Vĩnh Long 35
2.2 Thực trạng xây dựng và quản lý TTHTCĐ ở Vĩnh Long 36
2.2.1 Nhận thức về TTHTCĐ ở Vĩnh Long 36
2.2.2 Thực trạng xây dựng TTHTCĐ ở Vĩnh Long 42
2.3 Thực trạng dạy học ở các trung tâm HTCĐ tỉnh Vĩnh Long 46
2.3.1 Thực trạng về người dạy và tình hình giảng dạy tại các TTHTCĐ tỉnh Vĩnh Long 46
2.3.2 Thực trạng về người học và tình hình học tập tại các TTHTCĐ tỉnh Vĩnh Long 49
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở các TTHTCĐ tỉnh Vĩnh Long 52
2.4.1 Thực trạng về đội ngũ quản lý và điều hành TTHTCĐ 52
2.4.2 Công tác tổ chức phối hợp các lực lượng trên địa bàn phường, xã 54
2.5 Thực trạng về cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính 54
2.5.1 Về cơ sở vật chất, thiết bị 54
2.5.2 Về tài chính 54
2.6 Đánh giá tổng quát 55
2.6.1 Ưu điểm 55
2.6.2 Hạn chế, tồn tại 56
2.6.3 Nguyên nhân tồn tại 58
Trang 6ĐỒNG
TỈNH VĨNH LONG 60
3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động dạy học của các TTHTCĐ tỉnh Vĩnh Long 60
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 60
3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi 60
3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm phù hợp với các chức năng quản lý dạy học 60
3.2 Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động dạy học của các TTHTCĐ tỉnh Vĩnh Long 61
3.2.1 Giải pháp 1: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho mọi người về trung tâm HTCĐ 61
3.2.2 Giải pháp 2: Xây dựng kế hoạch dạy học chi tiết ở các TTHTCĐ 63
3.2.3 Giải pháp 3: Quan tâm tổ chức quản lý công tác dạy học ở các Trung tâm học tập cộng đồng 66
3.2.4 Giải pháp 4: Tăng cường chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học ở các TTHTCĐ 71
3.2.5 Giải pháp 5: Thường xuyên kiểm tra, giám sát và đánh giá quá trình dạy học ở các TTHTCĐ 78
3.2.6 Giải pháp 6: Tăng cường nâng cao năng lực quản lý, bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, cộng tác viên, cán bộ quản lý của trung tâm 86
3.2.7 Giải pháp 7: Nổ lực huy động mọi nguồn lực phục vụ dạy học ở các TTHTCĐ 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 7TTHTCĐ Trung tâm học tập cộng đồng
UBND Ủy ban nhân dân
THCS Trung học cơ sở
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
BCH TW: Ban chấp hành Trung ương
CNH - HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
HSTNTHCS Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở
ĐH, CĐ, THCN Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghệp
TNCS Thanh niên cộng sản
BDTX Bồi dưỡng thường xuyên
TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên
1 Lí do chọn đề tài nghiên cứu
Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Bác Hồ kính yêu đã chủtrương xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục cho mọi người với tư
Trang 8cán bộ, đảng viên và nhân dân Bác thường xuyên quan tâm đến vấn đề conngười nên đã có nhiều chủ trương, ý kiến chỉ đạo sâu sắc để phát triển giáodục - đào tạo của nước nhà Bác đã dạy: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồngcây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [14].
Với Đảng ta, giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu, lànền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH)đất nước Ngày 18-5-2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số112/2005/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010”, đề ra kế hoạch quốc gia đến năm 2010 đạt tỷ lệ trên 80% số xã,phường, thị trấn xây dựng được Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ)[20] Tiếp đó ngày 13-4-2007, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 11/CT-TW “Về tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xâydựng xã hội học tập” [6]
Đảng và Nhà nước ta chỉ đạo xây dựng xã hội học tập với tiêu chí cơbản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọitrình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọilúc; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, tham gia xây dựng và pháttriển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trongviệc học tập và tham gia tích cực xây dựng xã hội học tập Xây dựng và pháttriển mạnh mẽ hệ thống giáo dục thường xuyên, đồng thời với việc tiếp tụccủng cố hoàn thiện giáo dục chính qui, trong đó phát triển giáo dục thườngxuyên như là một hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng, để xây dựng
Trang 9xã hội học tập phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của cá nhân, tạo điều kiệncho đông đảo người lao động, được tiếp tục học tập, được bồi dưỡng kiếnthức, góp phần nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đápứng yêu cầu chuyển đổi nghề nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tìnhhình mới hiện nay.
Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã ghi rõ: “Đẩy mạnh phong trào họctập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chínhquy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội họctập” Hội nghị BCH TW lần 6 khóa IX đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục khôngchính qui, các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầuthực tế của đời sống kinh tế-xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người cóthể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập” Nghị quyết BCH TW lần 9khóa IX cũng đã khẳng định: “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, xây dựng xãhội học tập” Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X nêu rõ: “Chuyển dần mô hìnhgiáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệthống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngànhhọc; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hìnhthức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạokhả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hộitrong giáo dục” [8] [9] [10]
Cùng với cả nước trong nhiều năm qua, sự nghiệp giáo dục của tỉnhVĩnh Long luôn được quan tâm đầu tư và có bước phát triển khá toàn diện, cả
Trang 10về qui mô lẫn chất lượng, là một tỉnh có bước phát triển khá trong khu vựcđồng bằng sông Cửu Long về lĩnh vực giáo dục và đào tạo Cùng với sự pháttriển của ngành học chính qui, ngành giáo dục thường xuyên của tỉnh, đãkhông ngừng phấn đấu để duy trì và phát triển ổn định, đóng góp không nhỏvào sự nghiệp giáo dục và phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhà Đặc biệttháng 12 năm 2005, tỉnh Vĩnh Long đã thành lập được 107/107 trung tâm họctập cộng đồng ở 100% xã, phường, thị trấn đã góp phần thực hiện có hiệu quảviệc xây dựng xã hội học tập của tỉnh.
Tuy nhiên những kết quả đạt được nói trên mới chỉ là bước đầu Hiệnnay khi triển khai hoạt động, các TTHTCĐ đang gặp nhiều khó khăn trở ngạinhất định
Chính vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động dạy học của trung
tâm học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn luôn được Đảng, Nhà nước, cáccấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt quan tâm chỉ đạo,thực hiện Trước thực tế đó, việc nghiên cứu tìm kiếm giải pháp nâng cao chấtlượng hoạt động dạy học của các trung tâm học tập cộng đồng xã, phường, thịtrấn là phù hợp với nhu cầu khách quan và hết sức cần thiết cả trước mắt vàlâu dài
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn
của mình: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động dạy học
của các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Vĩnh Long.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tìm ra một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động dạy họccủa các TTHTCĐ xã, phường, thị trấn trong tỉnh Vĩnh Long
Trang 113 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lí hoạt động dạy học của cácTTHTCĐ
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạtđộng dạy học của các TTHTCĐ trong tỉnh Vĩnh Long
4 Giả thuyết khoa học
Chất lượng hoạt động dạy học của các TTHTCĐ trong tỉnh Vĩnh Longđược nâng cao, nếu đề xuất và thực hiện được một số giải pháp có cơ sở khoahọc và có tính khả thi
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lý hoạt động dạy học của các TTHTCĐ.5.2 Tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động dạy học của các TTHTCĐ trongtỉnh Vĩnh Long
5.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt độngdạy học của các TTHTCĐ trong tỉnh Vĩnh Long
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
6.1.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
6.1.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp lí thuyết;khái quát hóa các nhận định độc lập…
Trang 126.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, tổng kết kinhnghiệm, lấy ý kiến chuyên gia…
6.2.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu
7 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt độngdạy học của các TTHTCĐ dưới góc độ quản lí giáo dục và trên địa bàn tỉnhVĩnh Long
8 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận của vấn đề quản lý dạyhọc nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học của các TTHTCĐ tỉnh VĩnhLong
Xây dựng một số giải pháp có tính khả thi để công tác quản lý dạy học
ở các TTHTCĐ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đạt hiệu quả cao
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có 3chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng chất lượng hoạt động dạy học của các trung tâm
HTCĐ tỉnh Vĩnh Long
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động dạy học
của các TTHTCĐ tỉnh Vĩnh Long
Trang 14CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về TTHTCĐ
Hiện nay các nước đang phát triển trong khu vực Châu Á – Thái BìnhDương rất quan tâm xây dựng, mở rộng mạng lưới GDTX và tìm kiếm một
mô hình học tập tại làng xã tạo cơ hội cho tất cả mọi người – nhất là nhữngngười thuộc nhóm đối tượng thiệt thòi, những người mù chữ, những ngườimới biết chữ, phụ nữ, trẻ em gái, những người nghèo, những người sống ởnông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa…
Theo nghiên cứu của Nhật Bản, từ thế kỷ thứ 17, 18 đã xuất hiện cácTrung tâm học tập TERAKOYA mở tại các thôn, xã dành cho con em nhữngngười bình dân Ngoài các trường công lập chính qui, các bậc cha mẹ tự mởlớp học tại TERAKOYA và đến thế kỷ 19 ở Nhật Bản đã có khoảng 15000Trung tâm Chính những Trung tâm này đã hỗ trợ tích cực cho việc hiện đạihóa nước Nhật
Theo mô hình TERAKOYA Nhật Bản “Phong trào TERAKOYA thếgiới” nhằm cung cấp dịch vụ cho trẻ em và người lớn không có cơ hội đi họcqua các hoạt động giáo dục không chính qui như xóa mù chữ, dạy nghề để cảithiện chất lượng cuộc sống [23]
Trên cơ sở mô hình, Trung tâm học tập TERAKOYA, các nước trongkhu vực xây dựng mô hình TTHTCĐ cấp làng xã, một mô hình giáo dục củacộng đồng, do cộng đồng và vì cộng đồng Hoạt động cộng đồng, với tư cách
là một Trung tâm học tập, một Trung tâm thông tin, tư vấn, một Trung tâm
Trang 15văn hóa thể thao và Trung tâm hội họp, mít tinh, sinh hoạt chung của cộngđồng [24].
Từ đầu thế kỷ XXI, Nhật Bản xây dựng mô hình giáo dục có 4 tưtưởng chỉ đạo thì hàng đầu là đưa vào giáo dục nhà trường tư tưởng giáo dụcsuốt đời Nhật Bản vốn có hai bộ phận của nền giáo dục là giáo dục nhàtrường cho thanh, thiếu niên và giáo dục xã hội gắn với giáo dục người lớn.Ngày nay, người Nhật cho rằng sống ở thế kỷ XXI phải tạo ra môi trường xãhội năng động, phong phú trên cơ sở - một XHHT và học tập suốt đời - một
cơ cấu xã hội trong đó mọi người có thể tự do lựa chọn các cơ hội học tập ởmọi thời điểm trong cuộc đời mà họ cho là thích hợp Chính phủ Nhật rất coitrọng công tác giáo dục liên tục, phối hợp cả ba hình thức giáo dục chính quy,không chính quy, phi chính quy áp dụng vào toàn bộ hệ thống giáo dục, trong
đó đã huy động các lực lượng xã hội và cá nhân tham gia hệ thống giáo dục
xã hội Hệ thống giáo dục nhà truờng bao gồm tất cả các cơ sở giáo dục chínhquy từ bậc mẫu giáo đến bậc đại học, trên đại học và các cơ sở giáo dục dànhcho thanh niên đang làm việc Còn giáo dục xã hội là giáo dục ngoài nhàtrường, vừa cung cấp các dịch vụ giáo dục người lớn, lại còn tạo điều kiệncho thanh thiếu niên học nhà trường chính qui tiếp nhận giáo dục bổ sung từmôi trường xã hội Hoạt động của giáo dục xã hội do ban giáo dục địa phươngquản lý Các TTHTCĐ được coi như một bộ phận của hệ thống giáo dụcngười lớn và nhận được sự quan tâm thường xuyên của nhà nước Mỗi năm,một TTHTCĐ ở quận, huyện được hỗ trợ 710.000 USD [24]
Từ năm 1988 Thái Lan bắt đầu triển khai mạnh việc thành lập các Trungtâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản xóa mù chữ, sau xóa
mù chữ, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp ngắn ngày và thông tin tư vấn chomọi người ở các làng xã Chỉ trong một thời gian gần hai năm Thái Lan đãthành lập được 5.868 Trung tâm học tập cộng đồng cho khoảng 85% số cụm xã
Trang 16trong cả nước và dự kiến Thái Lan sẽ có 7255 Trung tâm học tập cộng đồngđảm bảo mỗi cụm xã sẽ có ít nhất một Trung tâm học tập cộng đồng [23].
Dự án phát triển TTHTCĐ trong khuôn khổ chương trình Châu Á –Thái Bình Dương về giáo dục cho mọi người (APPEAL) đã triển khai từ năm
1998, TTHTCĐ phục vụ cho các đối tượng người lớn, thanh thiếu niên thuộcmọi đối tượng trong cộng đồng thông qua các hoạt động xóa mù chữ vàGDTX TTHTCĐ giúp người học có được lượng thông tin chủ yếu và nhữngkiến thức, kỹ năng cần thiết cho sự phát triển của cá nhân, gia đình và xã hội.Đến năm 2005, chương trình phát triển TTHTCĐ của UNESCO đã được triểnkhai tại 20 quốc gia trong khu vực
Sau một thời gian thực hiện các quốc gia tham gia dự án phát triểnTTHTCĐ đã có những đánh giá tích cực, coi TTHTCĐ như là một cơ chế cóhiệu quả để thực hiện xóa mù chữ và GDTX Nhiều quốc gia cũng báo cáo vềnhu cầu phát triển toàn diện của cộng đồng, trong đó TTHTCĐ đóng vai tròquan trọng trong các hoạt động Giáo dục, Y tế, Nông nghiệp, phát triển cộngđồng ở nông thôn… Để làm được việc đó, cần phải nâng cao năng lực cho cán
bộ quản lí của TTHTCĐ và xây dựng mối quan hệ, liên kết chặt chẽ với các tổchức, cơ quan và doanh nghiệp đóng trên địa bàn Đó cũng là mục đích, mụctiêu của “Dự án xây dựng mối liên kết và mạng lưới hoạt động trong cácTTHTCĐ” được tài trợ từ quỹ hỗ trợ của Nhật Bản và từ ngân sách củaUNESCO với sự tham gia của 6 quốc gia trong khu vực là Indonesia,Bangladesh, Trung Quốc, Phillippines và Thái Lan [25]
Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCOcho rằng khoảng 80% số người lớn do nhiều nguyên nhân, điều kiện và hoàncảnh khác nhau điều chọn con đường giáo dục không chính quy, giáo dụcthường xuyên để tiếp tục nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp
Do vậy, UNESCO khuyến nghị cần phải phát triển giáo dục người lớn, giáo
Trang 17dục thường xuyên như một bộ phận không thể thiếu của hệ thống giáo dụcquốc dân của mỗi quốc gia; thừa nhận sự đóng góp to lớn của giáo dục thườngxuyên đối với việc nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực để phát triểnkinh tế xã hội, đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, xóa đói giảm nghèo vàbảo vệ môi trường, khẳng định vai trò của giáo dục thường xuyên là chìa khóabước vào thế kỷ XXI Để cung ứng cơ hội học tập suốt đời cho mọi ngườinhằm thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con người, tiến tới xây dựng xã hội họctập, UNESCO đã đưa ra các chương trình sau: Chương trình xóa mù chữ vàchương trình giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; Chương trình giáo dục thườngxuyên tương đương với chương trình phổ thông; Chương trình nâng cao chấtlượng cuộc sống; Chương trình tạo thu nhập; Chương trình đáp ứng các sởthích cá nhân; Chương trình định hướng tương lai.
UNESCO tổ chức Hội nghị đại biểu của các quốc gia trong khu vựcChâu Á – Thái Bình Dương để học tập trao đổi kinh nghiệm về tổ chức cáchoạt động tại cộng đồng theo mô hình Kominkan ( TTHTCĐ kiểu Nhật Bản).Hội nghị tổ chức tại thành phố Matsumoto, Nhật Bản từ 03-08/8/2006 [25]
Và mới đây từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 12 năm 2010, Bộ Giáo dục vàĐào tạo Việt Nam phối hợp với Văn phòng UNESCO Hà Nội và Hiệp hội cáctrường đại học Á – Âu chuyên đào tạo và nghiên cứu về học tập suốt đời(ASEM LLL hub) tổ chức “Diễn đàn Việt Nam: Học tập suốt đời và Xây dựng
xã hội học tập”
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về TTHTCĐ
Trung tâm học tập cộng đồng cấp xã, phường, thị trấn là mô hình giáodục mới, mô hình giáo dục tự chủ của cộng đồng, do cộng đồng và vì cộngđồng đã được nghiên cứu, thử nghiệm từ cuối những năm 1990 của thế kỷ XX
và phát triển nhanh chóng, rộng khắp trong cả nước ta từ năm 2000 Mặc dùmới được hình thành và phát triển, TTHTCĐ đã được đánh giá cao là mô hình
Trang 18giáo dục hiệu quả trong việc tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân ở cộngđồng Đặc biệt mô hình mới này đã huy động được sự tham gia, làm chủ của
cộng đồng, sự tham gia tích cực, chủ động của các ban, ngành, đoàn thể, lựclượng trong xã hội
Năm 1997, Hiệp hội Quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản (NFUAJ)thông qua Hội giáo dục người lớn Việt Nam (NAAE) giúp xây dựng mộtTTHTCĐ; Đến năm 1998, tiếp tục xây dựng thử nghiệm 4 TTHTCĐ tại 4 tỉnhHòa Bình, Điện Biên, Thái Bình, Bắc Giang, qua thử nghiệm các TTHTCĐ đã
có tác dụng to lớn trong việc nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho ngườilao động [23]
Số lượng các TTHTCĐ ở nước ta phát triển rất nhanh, năm 1997 có 01TTHTCĐ, năm 1998 có 5 TTHTCĐ và từ 15 TTHTCĐ ở năm 1999 đến tháng02/2005, cả nước có 4.783 TTHTCĐ; tháng 5/2005 có 5.384 TTHTCĐ có 9tỉnh, thành phố đạt 100% xã, phường, thị trấn có TTHTCĐ; tháng 6/2006 có7.384 TTHTCĐ, có 14 tỉnh, thành phố đạt 100% xã, phường, thị trấn cóTTHTCĐ Tuy nhiên theo nghiên cứu đánh giá, tại thời điểm 6/2006 chỉ có25% TTHTCĐ xã, phường, thị trấn tổ chức, hoạt động có hiệu quả
Hiện nay, cả nước đã có 10.696 TTHTCĐ(tính đến tháng 7/2011 theobáo cáo của Bộ GD&ĐT), chiếm 96,27% số xã phường, thị trấn có TTHTCĐ
Có 40 tỉnh/ thành phố đã đạt 100% số xã, phường, thị trấn có TTHTCĐ CácTTHTCĐ đã thực hiện tốt nhiệm vụ XMC, tổ chức các chuyên đề nhằm xóađói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, thực sự trở thành
“trường học của nhân dân” Tuy nhiên hoạt động của TTHTCĐ nhiều nơi vẫnchỉ mang tính phong trào, chỉ có khoảng 30% TTHTCĐ hoạt động có hiệu quả.Một phần do cơ chế chính thức mới được ban hành từ cuối tháng 3/2008, mộtphần do thiếu sự quan tâm đầu tư Hiện nay, cơ sở vật chất của TTHTCĐ vẫn
Trang 19còn thiếu thốn, thiếu phương tiện quản lí, thiết bị giảng dạy và tài liệu học tập[14] [24].
Từ sau Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đến nay, vấn đề xâydựng và phát triển TTHTCĐ đã có nhiều bài báo của các tác giả như: Vũ VănTảo, Vũ Oanh, Phạm Minh Hạc, Phan Đức Thành … các tác giả đã đề cập đếnnhững vấn đề cơ bản [14] đó là:
- Vị trí, chức năng và sự cần thiết phải xây dựng TTHTCĐ ở Việt Namnhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
- Phương châm, mô hình, lộ trình xây dựng TTHTCĐ ở Việt Nam
- Một số bài học kinh nghiệm về xây dựng và phát triển TTHTCĐ ở ViệtNam
- Lê Thị Hương Sen “Một số giải pháp quản lý dạy học nhằm phát triểncác trung tâm học tập cộng đồng ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”, Luận vănthạc sỹ khoa học giáo dục, Trường đại học Vinh năm 2006 [17]
- Nguyễn Tấn Kiệt “Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạtđộng của các trung tâm học tập cộng đồng trong tỉnh Vĩnh Long”, luận vănthạc sỹ khoa học giáo dục, Trường đại học Vinh năm 2009 [13] Riêng đối vớiviệc nghiên cứu “Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng dạy học của các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Vĩnh Long”, chưa cótác giả nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này
1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng
1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng.
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm phát triển các hình thức giáo dục cộngđồng, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III năm 1960 đã chỉ rõ: “Phải đào tạo
Trang 20và bồi dưỡng với qui mô lớn những cán bộ xây dựng kinh tế và công nhân lànhnghề, phương pháp đào tạo là vừa đào tạo tập trung vừa đào tạo tại chức Cần
sử dụng rộng rãi các hình thức học buổi tối, hàm thụ và mở lớp tại các cơ sởsản xuất ” [24]
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976 tiếp tục nhấn mạnh:
“Phải tích cực xây dựng hệ thống đào tạo, bồi dưỡng tại chức với nhiều hìnhthức học tập bảo đảm cho mọi người lao động đều có thể suốt đời tham gia họctập, trau dồi nghề nghiệp và mở rộng kiến thức” [21] [22]
Nghị quyết số 14, năm 1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã cụthể hóa thêm: “Hệ thống mạng lưới trường, lớp tại chức phải được tổ chức rộngkhắp, bao gồm nhiều hình thức học tập linh hoạt, thuận tiện cho người học Hệthống đó phải gắn liền với hệ thống đào tạo tập trung nhưng có tổ chức vàngười phụ trách riêng”[1] [2]
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII đã khẳng định: “Cần phải thực hiệnmột nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời làquyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân Đổi mới giáo dục bổ túc và đào tạotại chức, khuyến khích phát triển các loại hình giáo dục-đào tạo không chínhqui, khuyến khích tự học” [2]
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định mục tiêu: “mở rộngcác hình thức học tập thường xuyên, đặc biệt là hình thức học từ xa Quan tâmđào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lí, kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân cácdoanh nghiệp…Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản
lí các cấp, các ngành” “Có hình thức trường, lớp thích hợp nhằm đào tạo, bồidưỡng cán bộ chủ chốt xuất thân từ công nông và lao động ưu tú, con em cácgia đình thuộc diện chính sách” [1]
Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII đã xác định nhiệm vụ cấp bách tronggiai đoạn hiện nay là: “Có biện pháp thực hiện tốt các chủ trương về xây dựng
Trang 21đội ngũ cán bộ, công chức đã nêu trong Nghị quyết TW8 (khóa VII) và các điểm
bổ sung sau đây: Cán bộ lãnh đạo phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàndiện, trước hết về đường lối chính trị, về quản lí nhà nước, quản lí kinh tế-xã hội;được bố trí, điều động theo nhu cầu và lợi ích của đất nước…” [4]
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần IX đã chỉ ra, cần phải phát huynguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triểngiáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ là nền tảng và động lực của côngnghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, là quốc sách hàng đầu; phát huy tinh thầnđộc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học,
tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhândân bằng những hình thức giáo dục chính qui và giáo dục không chính qui;thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành xã hội học tập” [8]
Kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khoá IX) đã chỉ rõ: “Thựchiện chương trình giáo dục cho mọi người Tiếp tục đẩy mạnh đa dạng hóacác loại hình trường lớp, hoàn thiện mô hình các loại hình trường học phù hợpvới hoàn cảnh nước ta nhằm tạo cơ hội học tập tốt nhất cho mọi tầng lớp nhândân có nhu cầu…Phát triển giáo dục không chính qui, các hình thức học tậpcộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế đời sống kinh tế-xã hội,tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới xãhội học tập” [8]
Hội nghị Trung ương Đảng lần 7 (khóa IX) đã chủ chương tiến hànhcuộc vận động “Toàn dân xây dựng phong trào cả nước trở thành một xã hộihọc tập, học tập suốt đời” [24]
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần 9 (khóa IX) đã khẳng định: “Đẩymạnh xã hội hóa giáo dục, xây dựng xã hội học tập”
Văn kiện Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “Phấn đấu xây dựng nền giáodục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập
Trang 22cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đápứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…Phát triển rộng khắp vànâng cao chất lượng các trung tâm học tập cộng đồng” [9].
Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa X) nêu rõ: Quán triệt nghịquyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về “chuyển dần mô hìnhgiáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở-mô hình xã hội học tập” và tưtưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, nhằm nâng cao dân trí, phát triểnnguồn nhân lực, đào tạo nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, nhất là trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vàonền kinh tế thế giới, Bộ chính trị yêu cầu các cấp ủy Đảng tăng cường sự lãnhđạo, chỉ đạo công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trongthời gian tới, tập trung thực hiện một số nội dung cơ bản sau đây:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và nhân dân vớinhiều hình thức phong phú, thiết thực để nhận thức rõ về sự cần thiết, tầm quantrọng của việc xây dựng xã hội học tập ở nước ta hiện nay; xác định xây dựng
xã hội học tập là nhiệm vụ toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chiếnlược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta
Cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng xã hội học tậptrong phạm vi từng địa phương, đơn vị Mở rộng và nâng cao chất lượng cácphong trào khuyến học, khuyến tài, góp phần hỗ trợ các cơ sở giáo dục tronggiảng dạy và học tập; xây dựng gia đình hiếu học; cộng đồng, dòng họ, cơquan, doanh nghiệp, đơn vị khuyến học [10]
Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở xã,phường, thị trấn; phát triển nhiều loại hình học tập đa dạng, phù hợp với điềukiện và nhu cầu học tập của cán bộ, nhân dân từng địa phương, đơn vị Chútrọng kịp thời phát hiện, có chính sách cụ thể để bồi dưỡng nhân tài nhất là tàinăng trẻ trên các lĩnh vực
Trang 23Vận động nhân dân tích cực học tập nâng cao dân trí, nghề nghiệp,chuyên môn nhằm tăng năng lực sản xuất, chất lượng công việc, chất lượngcuộc sống Gắn việc phát triển phong trào khuyến học, khuyến tài với xây dựngmôi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, với phong trào làm kinh
tế giỏi, xóa đói giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, được Thủ tướng Chính phủphê duyệt (12/2001) đã chỉ rõ quan điểm: “Giáo dục là sự nghiệp của Đảng,Nhà nước và của toàn dân; xây dựng xã hội học tập; tạo điều kiện cho mọingười, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, suốt đời” [4]
Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập với tiêu chí cơ bản làtạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độđược học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọicấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xâydựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa
vụ trong học tập và tham gia tích cực “xây dựng xã hội học tập” “Xây dựng cảnước trở thành một xã hội học tập được dựa trên nền tảng phát triển đồng thờigắn kết, liên thông của hai bộ phận cấu thành: giáo dục chính qui và giáo dụcthường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó giáo dục thường xuyênthực hiện các chương trình học tập nhằm tạo các điều kiện tốt nhất đáp ứng mọiyêu cầu học tập suốt đời, học tập liên tục của mọi người công dân sẽ là bộ phận
có chức năng quan trọng, làm tiền đề để xây dựng xã hội học tập” “Phát triểnbền vững và nhân rộng mô hình trung tâm học tập cộng đồng trên các địa bàn
xã, phường, thị trấn trong cả nước nhằm thực hiện các chương trình xóa mùchữ, giáo dục tiếp tục sau biết chữ và các chương trình giáo dục đáp ứng yêucầu của người học trong cộng đồng dân cư Trên cơ sở tổng kết, đánh giá, rútkinh nghiệm, chỉ đạo điểm về mô hình trung tâm học tập cộng đồng hiện có;
Trang 24xây dựng và ban hành qui định về mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, cơ chếhoạt động của mô hình này để nhân rộng trên phạm vi cả nước” [20] [24].
Luật giáo dục năm 2005, tại khoản 1 điều 4 qui định: “Hệ thống giáo dụcquốc dân bao gồm giáo dục chính qui và giáo dục thường xuyên” Điều 44 quiđịnh: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm, vừa học, học liên tục,học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độhọc vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việclàm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội” [16]
Chỉ thị số 02/2008/CT-TTg ngày 08/01/2008 Chỉ thị của Thủ tướngChính phủ về “đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hộihọc tập” đã chỉ rõ: “ Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàndân, là mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục củanước ta Cần đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài gắn với xây dựng môitrường giáo dục lành mạnh, với phong trào làm kinh tế giỏi, xóa đói, giảmnghèo và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, học đi đôi với hành Phát triểncác hình thức học tập chính qui đi đôi với phát triển, đa dạng hóa các hình thứchọc tập, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người học tập thường xuyên, học suốtđời” [18]
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam
đã nêu rõ: “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượngnguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức Tập trunggiải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện công bằng
và tiến bộ xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điềukiện chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Tiếp tục xây dựng nền văn hóa ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp
Trang 25của dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Bảo vệ môi trường,chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu”[10].Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005-
2010, đã xác định: “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, các hoạt động khuyến họckhuyến tài, xây dựng xã hội học tập Tiếp tục nâng chất lượng phổ cập giáo dụctiểu học đúng độ tuổi, phổ cập trung học cơ sở…”
Tỉnh ủy Vĩnh Long ban hành công văn số 03-CTr/TU ngày 31/8/2006 củaBan chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VIII, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểutoàn quốc lần X của Đảng, trong đó nêu rõ: “…Phát huy hiệu quả hoạt độnggiáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhânlực…Tiếp tục đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng đào tạo đại học,cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục,xây dựng xã hội học tập…” [21]
Quyết định số 1355/QĐ.UBND ngày 28/6/2006 của UBND tỉnh Vĩnh Long,
về việc phê duyệt Kế hoạch “ Xây dựng xã hội học tập” tỉnh Vĩnh Long giaiđoạn 2006-2010 Đưa ra chỉ tiêu đến năm 2010 “Đạt tỉ lệ 100% huyện, thị cóTTGDTX và trường Cao đẳng cộng đồng Vĩnh Long thực hiện nhiệm vụ củaTTGDTX cấp tỉnh, TTHTCĐ ở các xã, phường, thị trấn đi vào hoạt động cóhiệu quả ”[25]
Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24/3/2008 của Bộ GD&ĐT vềviệc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm HTCĐ tại xã,phường, thị trấn [1]
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng
Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã quan tâm đến vấn đề “giáo dục cho mọi người” và “mọi người chogiáo dục” Trong phiên họp đầu tiên (ngày 03/9/1945) của Chính phủ, Chủ tịch
Trang 26Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy tôi đềnghị ở một chiến dịch để chống nạn mù chữ” [15] Người đặt ra 3 nhiệm vụcách mạng trước mắt của Chính phủ là: Chống nạn đói, nạn thất học, nạn ngoạixâm và coi chống giặc dốt cũng quan trọng như chống giặc đói và giặc ngoạixâm.
Bởi vậy, chỉ 6 ngày sau khi đọc Bản “Tuyên ngôn độc lập”, ngày08/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành ba sắc lệnh về chống nạn thấthọc:
Sắc lệnh số 17, về việc thành lập Nha Bình dân học vụ trong toàn nướcViệt Nam để trông nom việc học tập của dân chúng
Sắc lệnh số 19, về việc thành lập những lớp bình dân buổi tối cho nôngdân và thợ thuyền
Sắc lệnh số 20, công bố việc học chữ Quốc ngữ là bắt buộc và khôngmất tiền cho tất cả mọi người và hạn trong một năm, toàn thể dân chúng ViệtNam trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ
Đến tháng 10/1945, trong “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học”, HồChí Minh đã nhấn mạnh: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dânmạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam cần phải hiểu biết quyền lợi của mình,phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà vàtrước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ” [15]
Tư tưởng về giáo dục cho mọi người và học tập suốt đời đã được Chủtịch Hồ Chí Minh đề cập ngay từ tháng 01 năm 1946 khi nước nhà vừa mớigiành được độc lập: “Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước tađược hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm
ăn áo mặc, ai cũng được học hành Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Học hỏi
là một việc phải tiếp tục suốt đời”; “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau
và học ở nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót lớn”
Trang 27Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về học suốtđời Năm 1961, khi nói chuyện với cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm ởNghệ-Tĩnh, Bác đã tâm sự “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải đi học.Công việc cứ tiến mãi, không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mìnhlại phía sau Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với
sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ thì chúng mình dốt lắm Tôi cũng dốt lắm Mộtcháu bé bây giờ đã nghe nói đến vệ tinh, biết nghe rađiô Tôi và các đồng chíhồi đó không biết Thế mà các cháu bây giờ đã biết Nếu thế hệ già khôn hơnthế hệ trẻ thì không tốt Thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt” [15, 123]
Muốn cho ai cũng được học hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâmđến việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn dân, của tổ chức Đảng,chính quyền, đoàn thể các cấp về vị trí, vai trò của bình dân học vụ, từ đó độngviên toàn xã hội hăng hái tham gia chống nạn thất học Người đã kêu gọi
“Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đọc Vợ chưa biếtthì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, người ăn người làm chưa biết thì chủbảo, người giàu có thì mở lớp ở tư gia dạy cho người không biết chữ ở làngxóm láng giềng Các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ, nhà máy thì mở lớpcho tá điền, những người làm của mình” [15, 309]
Xuất phát từ tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều khẩu hiệu
đã được đưa ra như “Dạy bình dân học vụ là yêu nước”, “Giúp đỡ bình dân học
vụ là yêu nước”, “Chống mù chữ cũng như chống ngoại xâm”, “Mỗi gia đình làmột lớp bình dân học vụ”…Các khẩu hiệu này được viết dán ở trong nhà, ởmặt tường, ở thân cây hoặc được hô vang trong các buổi truyền thanh, trongcác đội ngũ diễu hành, các buổi rước đuốc…
Như vậy, nhờ tuyên truyền mạnh mẽ, cho nên công cuộc chống mù chữ
đã được toàn xã hội tham gia Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh,nhiều cá nhân, gia đình đã đứng ra mở lớp bình dân học vụ để dạy chữ cho
Trang 28người chưa biết chữ; giáo viên thì tuyên thệ “Còn trời còn nước còn non Cònngười mù chữ ta còn gắng công”; các cụ già chia nhau đến giờ học thì gọi concháu, dân làng đi học…Các tổ chức đoàn thể đã tham gia góp sức cùng bìnhdân học vụ lo việc xóa mù chữ, nâng cao trình độ văn hóa cho đoàn viên, hộiviên của mình Có thể nói đây là đặc trưng quan trọng của học tập cộng đồng
mà hiện nay chúng ta đang phấn đấu
1.3 Các nguyên tắc thành lập TTHTCĐ và các yếu tố duy trì bền vững TTHTCĐ
1.3.1 Các nguyên tắc thành lập TTHTCĐ
- Nguyên tắc 1: Thống nhất, quyết tâm, cụ thể trong chủ trương của cấp
ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể ở địa phương về việc thành lập TTHTCĐ
- Nguyên tắc 2: Cộng đồng biết, cộng đồng hiểu về TTHTCĐ, cộng đồng
có nhu cầu, có nguyện vọng tham gia
- Nguyên tắc 3: Trung tâm do cộng đồng quản lí, điều hành; tổ chức
gọn, linh hoạt; cơ chế mở Lãnh đạo trung tâm học tập cộng đồng phải là một
vị lãnh đạo cốt cán của chính quyền cơ sở, có kiến thức, năng động, có nhiệttâm có đủ thẩm quyền và uy tín để huy động cộng đồng tham gia
- Nguyên tắc 4: Nội dung hoạt động của TTHTCĐ phải gắn bó chặt chẽ
với nhu cầu của dân, nhu cầu phát triển cộng đồng, lồng ghép với các hoạtđộng, phong trào do chính quyền địa phương chủ trì phát động
- Nguyên tắc 5: TTHTCĐ phải chịu sự chỉ đạo chuyên môn của phòng
GD-ĐT huyện, có cơ chế hoạt động sao cho thường xuyên nhận được sự hướngdẫn, hỗ trợ, phối hợp chuyên môn, nghiệp cụ của TTGDTX và của các các banngành, đoàn thể ở địa phương
Trang 29- Nguyên tắc 6: TTHTCĐ được thành lập khi đã hội đủ các điều kiện về
nhu cầu học tập của cộng đồng, nhân lực, cơ sở vật chất (tối thiểu), chươngtrình hoạt động cụ thể và có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng
Sự tự nguyện tham gia và tinh thần làm chủ của cộng đồng Sự tham giacủa cộng đồng chỉ có được khi mọi thành viên trong cộng đồng tự nguyệntham gia vào tất cả các giai đọan của việc thực hiện các kế họach, chươngtrình và dự án Sự tham gia này sẽ tạo điều kiện để huy động nguồn lực, chia
sẻ trách nhiệm, tạo lập ý thức làm chủ giúp Trung tâm giải quyết mọi khókhăn đưa các hoạt động vào thế phát triển ổn định, bền vững
Phải huy động tối đa mọi nguồn lực của địa phương Xác định, biết cáchkhai thác và sử dụng một cách hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt
là nguồn lực có ngay tại cộng đồng là quan trọng Bởi vì nó giúp Trung tâmtránh đuợc tư tưởng chờ đợi, ỷ lại, chủ động tìm ra những nguồn lực cần thiết
để nuôi dưỡng bền vững lâu dài các hoạt động của mình [4]
Bồi dưỡng và xây dựng năng lực cho cán bộ TTHTCĐ Nếu không nói làhầu hết thì tuyệt đại bộ phận những người trong ban Giám đốc, các thành viênBQL, giáo viên…tại Trung tâm là những người tình nguyện, đầy nhiệt huyếtnhưng thiếu một số hiểu biết và kỹ năng về tổ chức, quản lý, giám sát, đánhgiá… Do đó, việc bồi dưỡng và xây dựng năng lực cho cán bộ Trung tâm là
Trang 30một việc quan trọng cần được tiến hành thường xuyên nhằm nâng cao năng lựccho cán bộ Trung tâm để họ hành động có kết quả cũng là một yếu tố quantrọng góp phần duy trì bền vững nâng cao chất luợng hoạt động Trung tâm.Nội dung giảng dạy tại các Trung tâm HTCĐ phải phù hợp và đáp ứngđược yêu cầu của địa phương Bởi vì, khác với trẻ em, người lớn học chongày hôm nay, chứ không phải cho ngày mai Động cơ học tập của người lớnrất đa dạng: học để sản xuất, làm việc, kiếm sống; học để thích ứng với sựthay đổi nhanh chóng của xã hội, kinh tế kỹ thuật; học để mở rộng hiểu biết…cho nên đây là một trong những yếu tố quan trọng để thu hút sự tham gia mộtcách tự nguyện của bà con trong cộng đồng
Phương pháp giảng dạy tại các Trung tâm phải tiếp cận được với ngườihọc, phải đảm bảo yếu tố lấy người học làm trung tâm Giáo viên cần chú ýtới việc động viên, tổ chức và hướng dẫn, phải tập trung vào người học, tổchức cho người lớn học, chứ không phải vào việc dạy Giáo viên phải giữ vaitrò: tổ chức, động viên, hướng dẫn gợi ý
Phải thiết lập được mạng lưới và liên kết giữa các tổ chức chính trị, xãhội, kinh tế, văn hóa tại địa phương Bởi vì, chúng ta đã thấy tầm quan trọngcủa mạng lưới và liên kết tại TTHTCĐ nó được thể hiện: hai bên có thể phốihợp, chia sẻ nguồn lực cho nhau; tránh sự trùng lặp bởi vì họ có chung mụcđích, mục tiêu; tiết kiệm được nguồn lực [1] [23] [24]
Phải tăng cường công tác quản lý, giám sát, đánh gía hiệu quả hoạt độngcủa TTHTCĐ Bởi vì, giám sát, kiểm tra, đánh giá sẽ giúp cho chúng ta biếtđược các công việc đã và đang tiến hành đến đâu, có khó khăn gì, phát triểntheo hướng nào và chúng ta cần phải làm gì để thúc đẩy công việc, đạt đượckết quả như mong đợi
1.4 Các khái niệm liên quan tới đề tài
1.4.1 Giáo dục cộng đồng
Trang 31Giáo dục cộng đồng là phương thức giáo dục thường xuyên do ngườidân trong cộng đồng (xã, phường, thị trấn) tự tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầuhọc tập của những người không đủ điều kiện theo học các trường, lớp giáodục chính qui Cơ sở giáo dục cộng đồng thực hiện nhiều chức năng khácnhau, trong đó quan trọng nhất là chức năng thông tin, tư vấn, truyền bá, phổcập những nội dung thiết thực nhất, phù hợp nhất với từng loại đối tượngngười học, với những điều kiện, hoàn cảnh của từng địa phương, từng cộngđồng dân cư.
Giáo dục cộng đồng mang tính tự nguyện cao, nhưng cần có sự quantâm, giúp đỡ thường xuyên của cấp ủy Đảng, chính quyền, ban ngành và đoànthể cơ sở, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ sở giáo dục chính quitại địa phương [4] [6]
1.4.2 Trung tâm học tập cộng đồng
Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của TTHTCĐ được qui định cụ thể trongquy chế tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ tại xã, phường,thị trấn, (Ban hànhkèm theo quyết định số 09/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/3/2008 của Bộtrưởng Bộ GD&ĐT)
Về vị trí của TTHTCĐ:
Được qui định tại Điều 2, chương I, những quy định chung của quy chế:
“TTHTCĐ là cơ sở GDTX trong hệ thống Giáo dục Quốc dân, là Trung tâmhọc tập tự chủ của cộng đồng cấp xã, có sự quản lý hỗ trợ của Nhà nước;đồng thời phát huy mạnh mẽ sự tham gia, đóng góp của nhân dân trong cộngđồng dân cư để xây dựng và phát triển các Trung tâm theo cơ chế Nhà nước
và nhân dân cùng làm; TTHTCĐ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tàikhoản riêng” [2]
Về chức năng của TTHTCĐ:
Trang 32Được qui định tại Điều 3, chương I, những quy định chung của quy chế:
“Hoạt động của TTHTCĐ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người, ở mọilứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời; được phổ biến kiếnthức và sáng kiến kinh nghiệm trong sản xuất và cuộc sống góp phần xóa đóigiảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm; nâng cao chấtlượng cuộc sống của từng người dân và cả cộng đồng, là nơi thực hiện việcphổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật đến với mọi người dân” [2,1]
xã hội.(3) Điều tra nhu cầu học tập của cộng đồng, xây dựng nội dung và hìnhthức học tập phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nhóm đối tượng (4) Quản
lí tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị của trung tâm theo qui định của phápluật
1.4.3 Quá trình dạy học
1.4.3.1 Khái niệm
“Quá trình dạy học là một quá trình sư phạm bộ phận, một phương tiện
để trao dồi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục phẩm chất, nhân cáchthông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ
Trang 33và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng và
kỹ xảo, nhận thức và thực hành” [19]
Nói cách khác QTDH là tiến trình vận động kết hợp các hoạt động dạy
và học để thực hiện được các nhiệm vụ dạy học
Cấu trúc chức năng của QTDH được diễn tả bằng sơ đồ sau đây:
Môi trường
1.4.3.2 Bản chất của quá trình dạy học
Bản chất của quá trình dạy học quy định tính đặc thù của hoạt độngquản lý nhà trừơng Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng giữa dạy
và học tuân theo logic khách quan của nội dung dạy
Dạy học thực chất là quá trình điều khiển, tự điều khiển, được điềukhiển là quá trình nhận thức của HS
Bản chất của quá trình dạy học là: Quá trình tự phát hiện, tự khám phá,
tự lĩnh hội của HS dứơi sự chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của GV
Quá trình dạy học là quá trình nhận thức của cá nhân, chủ thể nguờiđọc, được tổ chức một cách riêng biệt dưới sự chỉ đạo của GV nhằm đạt đượccác nhiệm vụ cụ thể, nhiệm vụ trí dục, phát triển giáo dục
Khái niệm khoa học
Điều khiển Tự điều khiển Truyền đạt
Lĩnh hội
Trang 34Quá trình dạy học gồm hai hoạt động: Hoạt động dạy của thầy và hoạtđộng học của trò Hai hoạt động này luôn luôn gắn bó hữu cơ mật thiết vớinhau, tồn tại cho nhau vì nhau [14] [19].
Quá trình nhận thức của HS cũng như quá trình nhận thức của nhà khoahọc hay quá trình nhận thức có tính chất xã hội của lịch sử của loài người, làquá trình phản ánh thế giới quan vào ý thức người học Lê Nin đã khẳng định
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thựctiễn đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thựckhách quan”
Quá trình nhận thức của HS là quá trình phản ánh thế giới khách quanvào các em Quá trình này diễn ra theo hai con đường nguợc chiều nhau đó là:
đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ đơn giản nhất đến khái quát và đi từ trừu tượngđến cụ thể từ khái quát đến đơn nhất Do đó trong quá trình dạy học GV phải
sử dụng cả hai con đường này một cách hợp lý, nhằm giúp cho HS đạt đượckết quả tối ưu
Với tư cách là thực thể xã hội có ý thức, HS có khả năng phản ánhđúng bản chất cũng như quy luật của thế giới khách quan Mỗi HS có hìnhthức phản ánh của riêng mình, có cách xây dựng nên những cấu trúc logic củariêng mình Điều đó cũng chứng tỏ dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiểncủa từng thầy, cô giáo tác động trực tiếp tới nhận thức của mỗi HS Quá trìnhnhận thức của HS có tính độc đáo với nhận thức chung với loài người, đó là
sự tái tạo những tri thức của loài người trong từng bản thân các em Quá trìnhnhận thức của HS còn thể hiện sự độc đáo trong tính giáo dục của nó, nghĩa làthông qua việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo phát triển năng lực hoạt độngcủa trí tuệ HS dần dần xây dựng được cơ sở thế giới khách quan khoa học vàbồi dưỡng những phẩm chất đạo đức của con người mới Đây chính là thểhiện quy luật thống nhất biện chứng giữa dạy học và giáo dục
Trang 35Quá trình dạy học là quá trình thực hiện các nhiệm vụ trí dục, nhiệm vụgiáo dục, nhiệm vụ phát triển, nó như là một hệ thống phát triển biện chứng.
Nó chứa đựng rất nhiều quy luật, phản ánh những mối liên hệ tất yếu, chủ yếu
và bền vững vốn có của nó như các quy luật về tính quy định xã hội đối vớiquá trình dạy học: Quy luật thống nhất biện chứng giữa việc xây dựng kếhoạch, việc tổ chức việc điều chỉnh và việc kiểm tra hoạt động của HS trongquá trình dạy và học Trong các quy luật đó thì hoạt động của thầy và hoạtđộng của trò là hai nhận tố đặc trưng cho tính chất hai mặt của quá trình dạyhọc
I.U.K Babanxki nhấn mạnh rằng: “Chỉ trong sự tác động qua lại tíchcực giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học phá vỡ đimối liện hệ tác động giữa dạy và học sẽ làm mất đi sự toàn vẹn đó”[5] [19]
Sự tác động qua lại giữa dạy và học được tập trung trong việc tổ chức,điều khiển trong hệ thống thầy, trò Hệ thống này phải đáng ứng những yêucầu, nhận thức rõ mục đích điều khiển, tổ chức tốt mối liên hệ xuôi, ngược,lựa chọn những phương pháp dạy học thích hợp trên cơ sở những thông tinthu được
1.4.3.3 Mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học trong quá trình dạy học
Quy luật chung chi phối quá trình dạy học có thể phát biểu như sau:
“Xuất phát từ logic khái niệm khoa học và logic lĩnh hội của HS để thiết kếcông nghệ dạy học hợp lý, tổ chức tối ưu hoạt động cộng tác, đảm bảo liên hệnghịch để cuối cùng làm cho HS tự giác tích cực chiếm lĩnh được khái niệmkhoa học, phát triển năng lực và hình thành thái độ” [19]
Hoạt động dạy học thống nhất biện chứng, hoạt động dạy và hoạt độnghọc đan xen không thể tách rời nhau Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn,gồm ba thành tố cơ bản, tương tác và thống nhất biện chứng với nhau: kháiniệm khoa học, hoạt động dạy và hoạt động học
Trang 36Quá trình dạy học có hai nhân tố trung tâm: hoạt động dạy của thầy vàhoạt động học của trò, hai hoạt động này thống nhất với nhau, phản ánh tínhchất hai mặt của quá trình dạy học và tạo ra chất lượng dạy học Dạy và họcnằm trong một hệ thống nhất Ngay cả học cũng có thể coi là một hệ thốngkhi xem xét giữa HS và tài liệu học tập [4] [14]
Quá trình dạy học với tư cách là một hệ thống toàn vẹn bao gồm nhữngnhân tố sau đây:
- Mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung và phương pháp dạy học, thầyvới hoạt động dạy, trò với hoạt động học Tất cả các nhân tố cấu trúc nên hệthống quá trình dạy học tồn tại trong mối quan hệ qua lại thống nhất với nhau
và với môi trường của nó Môi trường xã hội, chính trị và môi trường cáchmạng khoa học kỹ thuật
- Trong quá trình dạy học thầy giáo khơi dậy, kích thích những hứngthú học tập của trò, tổ chức và điều khiển để HS chủ động tích cực, sáng tạotrong học tập Vai trò của người thầy như một chất xúc tác cho sự phát triểnnăng lực tư duy và sáng tạo của HS Người thầy giáo chỉ đóng vai trò cổ vũ,người đánh giá sự sáng tạo và chủ động của HS
- Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, tác giảNguyễn Kỳ đã viết “Học không phải là một quá trình thụ động Đó là một quátrình tích cực và phản ứng” “Học là xây dựng mối quan hệ giữa người học vàthế giới bên ngoài”
Nhà trường cổ truyền cho rằng nguời học phải có ý chí nhận lấy bất cứtình huống nào được thầy trao cho học tức là nghe Nhà trường hiện đại chorằng học là tiến hành các hoạt động có tính chất vận động, học tức là hành, làlấy mô hình dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS
1.4.4 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
Trang 37- Hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó:Quản lí được hiểu là bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sựbiến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạngthái mới thích ứng với những hoàn cảnh mới.
- Quản lí một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thểngười-thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mụcđích dự kiến
- Quản lí là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổchức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động
- Quản lí là sự tác động có định hướng, có mục đích có kế hoạch và có
hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó
Từ những quan điểm trên, ta có thể khái quát hoạt động quản lí theocách hiểu như sau:
Quản lí là hoạt động thiết yếu nẩy sinh khi con người hoạt động tập thể,
là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí
Trang 38vào khách thể quản lí trong một tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu chungcủa tổ chức [5].
1.4.4.2 Quản lý giáo dục:
- Quản lí giáo dục là một bộ phận của quản lí xã hội, là sự tác động có
ý thức của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đưa hoạt động sư phạmcủa hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn
- Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kếhoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm tổ chức, điều khiển và quản líhoạt động giáo dục của người làm công tác giáo dục
- Quản lí giáo dục cũng có những chức năng cơ bản là: Kế hoạch, tổchức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá quá trình giáo dục
Chức năng quản lý và chu trình quản lý:
- Nội dung quản lí giáo dục là quản lí các yếu tố cấu thành quá trìnhgiáo dục tổng thể, gồm có: Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phươngpháp giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục, kết quả giáo dục, đồngthời quản lí các cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, giáo dục, môi trường giáodục, các lực lượng giáo dục
- Tóm lại ta hiểu quản lí giáo dục là quản lí quá trình sư phạm, quá
trình dạy học giáo dục diễn ra ở tất cả các cấp học, bậc học và cơ sở giáo dục,
Kế hoạch
Chỉ đạo TTQ L
Trang 39làm cho quá trình đó vận động đúng hướng, đúng đường lối, quan điểm giáodục của Đảng và Nhà nước.
1.4.4.3 Giải pháp quản lí giáo dục:
- Nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi,chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định…, tiến tớinhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng ưu việt, càng giúp conngười nhanh chóng giải quyết được những vấn đề đặt ra Tuy vậy, để có đượcnhững giải pháp đó, cần phải dựa trên những cơ sở lí luận và thực tiễn kháchquan, khoa học và chính xác [5]
- Giải pháp quản lí giáo dục là những cách thức tác động của chủ thểquản lí hướng vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra của hệ thống giáo dục,làm cho cả hệ thống đó vận hành đạt được kết quả cao nhất
1.4.4.4 Quản lí nhà trường:
- Quản lí nhà trường là quản lí vi mô, nó là một hệ thống con của quản
lí vĩ mô: Quản lí giáo dục, quản lí nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tácđộng hợp lí (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức -
sư phạm của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lựclượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác,phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trìnhnày vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến
- Quản lí nhà trường bao gồm hai loại:
+ Tác động của những chủ thể quản lí bên trên và bên ngoài nhà trường: Quản lí nhà trường là những tác động quản lí của cơ quan quản lí giáo
Trang 40dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, họctập của nhà trường; Quản lí gồm những chỉ dẫn, qui định của các thực thể bênngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồngđược đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự pháttriển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướngphát triển đó.
+ Tác động của những chủ thể quản lí bên trong nhà trường: Quản lí
nhà trường do chủ thể quản lí bên trong nhà trường bao gồm các hoạt độngquản lí giáo viên, quản lí học sinh, quản lí quá trình dạy học-giáo dục, quản lí
cơ sở vật chất-trang thiết bị của nhà trường, quản lí tài chính trường học, quản
lí mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng [5]
1.4.4.5 Quản lý TTHTCĐ
Mỗi trung tâm học tập cộng đồng có đội ngũ cán bộ quản lí gồm 03người: một cán bộ quản lí cấp xã kiêm giám đốc trung tâm, một cán bộ củaHội khuyến học và một lãnh đạo trường tiểu học hoặc THCS trên địa bànkiêm phó giám đốc Các cán bộ quản lí TTHTCĐ được bố trí theo chế độkiêm nhiệm, được hưởng phụ cấp từ kinh phí hỗ trợ của nhà nước [1] [23]
Giám đốc TTHTCĐ là người quản lí, điều hành mọi hoạt động củaTTHTCĐ và chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan quản lí cấp trên vềmọi hoạt động của trung tâm; Giám đốc TTHTCĐ do Chủ tịch UBND huyện
ra quyết định trên cơ sở đề nghị của UBND cấp xã
Giám đốc TTHTCĐ có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Lập kế hoạch
và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của TTHTCĐ Tuyên truyền vận động mọi