1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và sửa chữa những sai lầm trong quá trình hưỡng dẫn học sinh giải bài tập trắc nghiệm khách quan môn hoá học ở trường trung học phổ thông

97 1,4K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích và sửa chữa những sai lầm trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài tập trắc nghiệm khách quan môn hóa học ở trường trung học phổ thông
Tác giả Phạm Thị Hằng
Người hướng dẫn TS. Cao Cự Giác Vinh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học vinh–––––––––––––– Phạm thị hằng Phân tích và sửa chữa những sai lầm trong quá trình hớng dẫn học sinh giải bài tập trắc nghiệm khách quan môn hoá họ

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học vinh

––––––––––––––

Phạm thị hằng

Phân tích và sửa chữa những sai lầm trong quá trình hớng dẫn học sinh giải bài tập trắc nghiệm khách quan môn hoá học ở trờng trung học phổ thông

chuyên ngành: ll & PPDH hóa học

Mã số: 60.14.10

luận văn thạc sỹ giáo dục học

Ngời hớng dẫn khoa học: TS Cao Cự Giác

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo: PGS.TS.NGƯT Nguyễn KhắcNghĩa, PGS TS Nguyễn Thị Sửu đã dành thời gian đọc và góp ý cho luận văn.Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Hóa trường Đại học Vinh, cácthầy, cô giáo và các em học sinh các trường: THPT Lê Viết Thuật, THPT HàHuy Tập cùng người thân và bạn bè đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốtluận văn này.

KNS1: Khả năng sai 1

KNS2: Khả năng sai 2

Trang 3

TNSP: Thực nghiệm sư phạm

THPT: Trung học phổ thông

TH 1: Trường hợp 1

TH 2: Trường hợp 2

TH 3: Trường hợp 3

SGK: Sách giáo khoa

DD: Dung dịch

MỤC LỤC

PHẦN I MỞ ĐẦU Trang

1 Lý do chọn đề tài……… 5

2 Mục đích nghiên cứu……… 7

3 Nhiệm vụ của đề tài……… 7

4 Giả thuyết khoa học……… 7

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu……… 7

Trang 4

6 Phương pháp nghiên cứu……… 7

7 Những đóng góp của để tài……… 8

PHẦN II NỘI DUNG Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề 1.1 Tổng quan về các phương pháp trắc nghiệm……….9

1.2 Các yêu cầu đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn……16

1.3 Thực trạng về khả năng làm bài thi trắc nghiệm khách quan của họcsinh ở các trường trung học phổ thông……… 26

Chương II Phân tích và sửa chữa những sai lầm trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài tập trắc nghiệm khách quan môn hoá học ở trường trung học phổ thông 2.1 Dự đoán và phân tích các sai lầm thường gặp trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông………27

2.1.1 Sai lầm về mặt kiến thức……… 27

2.1.2 Sai lầm về mặt kĩ năng……….30

2.1.3 Sai lầm về mặt tư duy……… 32

2.2 Phân tích những sai lầm qua các bài tập trắc nghiệm……… 35

2.2.1 Bài tập trắc nghiệm về tính toán hóa học……….35

2.2.2 Bài tập trắc nghiệm về lý thuyết hóa học……….55

2.2.3 Bài tập trắc nghiệm về thực hành hóa học……… 64

2.2.3.1 Nhận biết và phân biệt các chất……… ……… 64

2.2.3.2 Tách các chất ra khỏi hỗn hợp, tinh chế các chất……… ……… …68

Chương III Thực nghiệm sư phạm 3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm………73

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm……… 73

3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm………73

3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm……… 74

3.4.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm……… 74

3.4.2 Tiến hành thực nghiệm sư phạm ……… 75

Trang 5

3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm ………76

3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm………78

3.7 Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm……… 78

Kết luận và đề nghị……… 80

1 Những việc đã hoàn thành của luận văn……… 80

2 Hướng phát triển của đề tài 80

3 Đề nghị 81

Tài liệu tham khảo………82

Phụ lục 1……….85

Phụ lục 2……….94

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, việc đổi mới công tác giáo dục diễn ra rất sôi động trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng Sự nghiệp công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới đồng bộ cả mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học Nghi quyết hội nghị lần 2, BCH

TW Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII đã chỉ rõ: “ Đổi mới phương pháp giáo

Trang 6

dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều (độc thoại), rèn luyện nếp tưduy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến vàphương tiện hiện đại vào quá trình dạy học ….”

Văn kiện Đại hội IX Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục quán triệt quanđiểm giáo dục là quốc sách hàng đầu “ tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dụctoàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học …phát huy tinh thần độclập suy nghĩ và sáng tạo của hoc sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoànthiện học vấn và tay nghề”

Muốn đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải đổi mới phương phápkiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, sinh viên Các phương phápkiểm tra đánh giá kết quả học tập rất đa dạng, mỗi phương pháp có ưu điểm vànhược điểm nhất định của nó, không có phương pháp nào là hoàn mĩ đối vớimọi mục tiêu giáo dục Tùy vào mục tiêu cụ thể mà lựa chọn phương pháp đánhgiá phù hợp thì có thể đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục Có hai loại mà

ta thường sử dụng để kiểm tra, đánh giá đó là loại luận đề và loại trắc nghiệmkhách quan

Loại luận đề cho học sinh cơ hội phân tích và tổng hợp dự kiện theo lời lẽriêng, theo cách hiểu của mình, nhưng nó thường cho phép khảo sát một số kiếnthức hạn hẹp Điểm của bài thi do nhiều giám khảo chấm có thể khác nhau.Trong khi đó trắc nghiệm khách quan có thể dùng kiểm tra, đánh giá kiến thứcnhiều hơn Nó có thể giúp chúng ta khảo sát một số kiến thức rộng rãi, bao quáthơn Tránh tình trạng học lệch, học tủ của học sinh Điểm của bài thi đượcchấm bằng máy nên sẽ chính xác, khách quan hơn Ở nước ta, việc sử dụng trắcnghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập là một trong những chủ trươnglớn của lãnh đạo Bộ giáo dục và Đào tạo hiện nay, nhằm góp phần nâng cao chấtlượng dạy và học, hạn chế bệnh thành tích trong giáo dục và tiêu cực trong thicử

Ngày 27/12/ 2006 Bộ giáo dục và Đào tạo đã có công văn số 14653/ BGD

& ĐT – KT & ĐG về việc tiếp tục đổi mới trong kì thi tốt nghiệp trung học phổ

Trang 7

thông và kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng 2007 Bộ giáo dục và Đào tạo đã

áp dụng thi trắc nghiệm khách quan bốn môn: Lý, Hóa, Sinh, Ngoại ngữ vào các

kì thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh vào cao đẳng và đại học Đến nay đã áp dụngđược bốn năm và mang lại kết quả rất tốt và khả quan Giáo viên và học sinhcũng đã dần quen và có hứng thú với phương pháp này Tuy nhiên, trong quátrình giải thì chủ yếu giáo viên chỉ quan tâm đến đáp án đúng nhất thôi Cònnhững đáp án nhiễu còn lại giáo viên rất ít khi phân tích và chỉ ra cái sai cho họcsinh biết Vì đáp án nhiễu là những đáp án có vẻ đúng nếu học sinh không đọc kĩcâu hỏi thì dẫn đến những sai lầm thường gặp như sai lầm về kiến thức, kỹ năng,

tư duy,… nên sẽ đưa ra đáp án sai Để khắc phục những sai lầm này, giáo viênphải đổi mới phương pháp dạy học, chính xác hoá lại kiến thức của mình, tăngcường kiểm tra, đánh giá học sinh, từ đó kịp thời có những biện pháp khắc phục

Việc phân tích và sửa chữa những sai lầm trong quá trình hướng dẫn họcsinh giải bài tập trắc nghiệm trong quá trình dạy học ở trường trung học phổthông là việc làm hết sức cần thiết để góp phần vào việc dạy học bộ môn hóahọc ở trường trung học phổ thông có kết quả tốt nhất

Ở đây chúng tôi chỉ phân tích loại trắc nghiệm thông dụng và có nhiều ưuđiểm nhất đó là trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phân tích và sửa

chữa những sai lầm trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài tập trắc nghiệm khách quan môn hoá học ở trường trung học phổ thông”.

2 Mục đích nghiên cứu

- Phân tích và sửa chữa những sai lầm trong quá trình hướng dẫn học sinhgiải bài tập trắc nghiệm khách quan môn hoá học ở trường trung học phổthông

- Xây dựng các dạng bài tập hoá học để khắc phục những sai lầm đó

3 Nhiệm vụ của đề tài

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài

Trang 8

3.2 Nghiên cứu các tài liệu, sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thí

nghiệm,…., đề thi cao đẳng, đại học

3.3 Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh khi làm

bài tập trắc nghiệm hoá học, từ đó rút ra các biện pháp khắc phục vàsửa chữa những sai lầm đó

3.4 Lựa chọn và xây dựng hệ thống các bài tập trắc nghiệm hoá học nhằm

củng cố kiến thức và khắc phục những sai lầm đó

3.5 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tác dụng của các bài tập này trong

dạy học hoá học ở trường trung học phổ thông

4 Giả thuyết khoa học

Nếu phân tích và sửa chữa những sai lầm trong quá trình hướng dẫn học sinhgiải bài tập trắc nghiệm khách quan môn hoá học ở trường trung học phổthông thì sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy của giáo viên và việchọc của học sinh ở trường trung học phổ thông

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông

Đối tượng nghiên cứu: Các dạng bài tập trắc nghiệm môn hóa học

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài: sách giáo khoa, tạp chí, đềthi,…

6.3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 9

- Mục đích: Nhằm xác định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, tính hiệu quảcủa các nội dung đã đề xuất.

- Phương pháp xử lý thông tin: Dùng phương pháp thống kê toán học trong khoahọc giáo dục

Trang 10

PHẦN II NỘI DUNG

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM

1.1 Cơ sở lí luận về trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan

1.1.1 Trắc nghiệm tự luận

1.1.1.1 Khái niệm

Trắc nghiệm tự luận là một phương pháp đánh giá kết quả học tập bằngviệc sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi, học sinh trả lời dưới dạng bài viếtbằng chính ngôn ngữ của học sinh trong một khoảng thời gian đã định trước

1.1.1.2 Ưu, nhược điểm của trắc nghiệm tự luận

a Ưu điểm

- Bài tập trắc nghiệm tự luận đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến thức, phảibiết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của mình một cách chính xác, rõ ràng nên loại bàitập này rèn luyện được kỹ năng trình bày diễn đạt, kỹ năng lập luận và rèn luyệnngôn ngữ hoá học chon học sinh

- Trắc nghiệm tự luận cho phép học sinh một sự tự do tương đối nào đó để trảlời câu hỏi trong bài kiểm tra nên học sinh có thể bộc lộ được quan điểm, thái độcủa mình về một vấn đề nào đó Vì vậy, giáo viên có thể biết được một phần nào

đó thái độ, tình cảm và đặc biệt là sự sáng tạo của học sinh qua câu trả lời

- Trắc nghiệm tự luận khuyến khích học sinh phát huy khả năng sáng tạo củamình

- Trắc nghiệm tự luận kiểm tra được chiều sâu kiến thức của học sinh

- Việc chuẩn bị câu hỏi dễ hơn, ít tốn công hơn so với câu hỏi trắc nghiệmkhách quan

b Nhược điểm

- Bài kiểm tra theo kiểu tự luận thì số lượng câu hỏi ít, việc chấm điểm lạiphụ thuộc vào tính chủ quan, trình độ của người chấm do đó có độ tin cậy thấp

Trang 11

- Cũng do phụ thuộc nhiều vào tính chất chủ quan khi cho điểm nên trắcnghiệm tự luận có độ giá trị thấp.

- Vì số lượng câu hỏi ít nên không kiểm tra được hết nội dung của chươngtrình, làm cho học sinh có chiều hướng học tủ, học lệch

1.1.2 Trắc nghiệm khách quan

1.1.2.1 Khái niệm

Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tậpcủa học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan Gọi là “kháchquan” vì cách cho điểm hoàn toàn khách quan, không phụ thuộc vào các yếu tốchủ quan

1.1.2.2 Ưu, nhược điểm của trắc nghiệm khách quan

a Ưu điểm

- Do số lượng câu hỏi nhiều nên trắc nghiệm khách quan có thể kiểm trađược một lượng kiến thức lớn, tránh được tình trạng học tủ, học lệch của họcsinh

- Rất khách quan khi chấm điểm và có thể phân tích được tính chất của mỗicâu hỏi nên trắc nghiệm khách quan có độ tin cậy và độ giá trị cao

- Thời gian trả lời cho mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan ngắn nên hạn chếđược tình trạng quay cóp, sử dụng tài liệu

- Bài tập trắc nghiệm khách quan không yêu cầu học sinh phải trình bày lờigiải, chỉ yêu cầu học sinh có đáp án nhanh và chính xác nên loại bài tập này rènluyện cho học sinh kỹ năng phán đoán nhanh nhạy và chính xác, các phươngpháp loại suy, diễn dịch, quy nạp được phát triển

- Vì lượng câu hỏi lớn nên bài tập trắc nghiệm khách quan cho nhiều loạithông tin phản hồi

b Nhược điểm

- Đòi hỏi chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian Người giáo viên phải cókiến thức sâu, rộng và có nghiệp vụ sư phạm mới có thể viết được những câutrắc nghiệm hay, đúng kỹ thuật

Trang 12

- Học sinh có sáng kiến có thể tìm ra câu trả lời hay hơn phương án đúng đãcho nên học sinh không thoả mãn và cảm thấy khó chịu.

- Bài tập trắc nghiệm khách quan chỉ cho biết kết quả mà không cho biết conđường đi tìm kết quả nên không thể đo được khả năng phán đoán tinh vi, khảnăng giải quyết vấn đề kheó léo một cách hiệu nghiệm như bằng câu hỏi tự luậnđược soạn kỹ

- Đối với loại trắc nghiệm điền khuyết thì không thể chấm bằng máy

1.1.3 So sánh trắc nghiệm tự luận với trắc nghiệm khách quan

- Bài tập tự luận chuẩn bị đơngiản hơn và mất ít thời gian

- Cho biết ít loại thông tin

- Hoàn toàn khách quan

- Rèn luyện kỹ năng nhanh nhạy vàchính xác, các phương pháp loạisuy, diễn dịch, quy nạp được pháttriển

- Chuẩn bị công phu, mất nhiều thờigian đòi hỏi người giáo phải cókiến thức vừa sâu vừa rộng và phải

có nghiệp vụ sư phạm (biết ra nhữngcâu có tính chất bẫy)

- Cho nhiều loại thông tin

1.1.4 Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Trang 13

Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan chia làm 4 loại chính:

1.1.4.1 Câu trắc nghiệm đúng - sai

Đây là loại câu được trình bày dưới dạng câu phát biểu và học sinh trả lờibằng cách lựa chọn một trong 2 phương án “đúng” hoặc “sai

a Ưu điểm

Nó là loại câu đơn giản thường dùng để trắc nghiệm kiến thức về những

sự kiện hoặc khái niệm Vì vậy viết loại câu này tương đối dễ, ít phạm lỗi, mangtính khách quan khi chấm

b Nhược điểm

Học sinh có thể đoán mò và đúng ngẫu nhiên tới 50%, nên độ tin cậythấp, dễ tạo điều kiện cho học sinh thuộc lòng hơn là hiểu Học sinh giỏi có thểkhông thoả mãn khi buộc phải chọn ''đúng'' hay ''sai'' khi câu trắc nghiệm viếtchưa kĩ càng

1.1.4.2 Trắc nghiệm nhiều lựa chọn

Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn là loại câu thông dụng nhất Loại này có

một câu phát biểu gọi là câu dẫn và có nhiều câu trả lời để học sinh lựa chọn,

trong đó chỉ có một câu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất, còn lại đều là sai

Những câu trả lời sai gọi là câu mồi hay câu nhiễu.

a Ưu điểm

- Giáo viên có thể dùng loại câu này để kiểm tra, đánh giá những mục tiêu dạyhọc khác nhau, chẳng hạn như:

+ Xác định mối liên quan nhân quả

+ Nhận biết những điều sai lầm

+ Ghép các kết quả hay các điều kiện quan sát được với nhau

+ Định nghĩa các khái niệm

+ Tìm nguyên nhân của một số sự kiện

+ Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều sự vật hoặc hiệntượng

+ Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện

Trang 14

+ Xác định thứ tự hay cách sắp xếp đặt nhiều sự vật hiện tượng.

+ Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm

- Độ tin cậy cao hơn: Yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi nhiều so với các loạiTNKQ khác khi số phương án chọn lựa tăng lên

- Tính giá trị tốt hơn: Với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn, người

ta có thể đo được các khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật, , tổngquát hoá rất hữu hiệu

- Thật sự khách quan khi chấm bài Điểm số của bài TNKQ không phụ thuộcvào chữ viết, khả năng diễn đạt của HS và trình độ người chấm bài,

b Nhược điểm

-Loại câu này khó soạn vì chỉ có một câu trả lời đúng nhất, còn những câu cònlại gọi là câu nhiễu thì cũng phải có vẻ hợp lí Ngoài ra phải soạn thế nào đó để

đo được các mức trí năng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu

- Có những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra được những câu trảlời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho học sinh đó cảm thấy không thoả mãn

- Các câu nhiều lựa chọn có thể ko đo được khả năng phán đoán tinh vi, khảnăng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câuhỏi tự luận

- Ngoài ra tốn kém giấy mực để in đề loại câu hỏi này so với loại câu hỏi khác

và cũng cần nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi

Câu hỏi loại này có thể dùng đánh giá trí năng ở mức biết, khả năng vận dụng,phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn Vì vậy khi viếtcâu hỏi loại này cần lưu ý:

+ Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, lời văn sáng sủa, phải diễn đạt rõ ràngmột vấn đề Tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần phảiđược nhấn mạnh để học sinh không bị nhầm Câu dẫn phải là câu trọn vẹn đểhọc sinh hiểu được mình đang được hỏi vấn đề gì

Trang 15

+ Câu chọn cũng phải rõ ràng, dễ hiểu và phải có cùng loại quan hệ với câu dẫn,

có cấu trúc song song, nghĩa là chúng phải phù hợp về mặt ngữ pháp với câudẫn

+ Nên có 4, 5 phương án trả lời để chọn cho mỗi câu hỏi Nếu số phương án íthơn thì yếu tố đoán mò hay may rủi sẽ tăng lên Nhưng nếu có quá nhiềuphương án để chọn thì thầy giáo khó soạn và học sinh mất nhiều thời gian đểđọc câu hỏi Các câu gây nhiễu phải có vẻ hợp lý và có sức hấp dẫn như nhau đểnhử học sinh kém chọn

+ Phải chắc chắn chỉ có một phương án trả lời đúng, các phương án còn lại làphương án “nhiễu”

+ Không được đưa vào hai câu chọn cùng ý nghĩa, mỗi câu kiểm tra chỉ nên viếtmột nội dung kiến thức nào đó

+ Câu trả lời đúng phải đặt ở những vị trí khác nhau, sắp xếp theo thứ tự ngẫunhiên, số lần xuất hiện ở mỗi vị trí A, B, C, D, E gần bằng nhau

Ví dụ: Kim loại Zn không tan trong dung dịch nào sau đây?

11.4.3 Câu trắc nghiệm ghép đôi

Đây là loại hình đặc biệt của loại câu nhiều lựa chọn, trong đó học sinhtìm ghép các câu trả lời ở trong cột này với câu chưa hoàn thành ở cột khác saocho phù hợp

a Ưu điểm

Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, loại này thích hợp với tuổi trung học

cơ sở hơn Có thể dùng loại câu hỏi này để đo mức trí năng khác nhau Nó đặc

Trang 16

biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mốitương quan.

b Nhược điểm

Loại câu hỏi trắc nghiệm ghép đôi không thích hợp cho việc thẩm định các khảnăng như sắp đặt và vận dụng các kiến thức Muốn soạn loại câu hỏi này để đomức trí năng cao đòi hỏi nhiều công phu

Ngoài ra, nếu danh sách mỗi cột dài thì tốn nhiều thời gian cho học sinhđọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi

Ví dụ: Ghép các mệnh đề ở hai cột với nhau để có câu trả lời đúng.

A Dẫn khí C2H2 dư qua dung dịch

brom

1 Dung dịch brom không đổi màu

B Dẫn khí CH4 dư qua dung dịch

1.1.4.4 Câu trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn

Đây là câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhưng có câu trả lời tự do Họcsinh viết câu trả lời bằng một hay vài từ hoặc một câu ngắn

a Ưu điểm

Học sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường, phát huy ócsáng kiến Học sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra, tìm ra câutrả lời Loại này cũng dễ soạn hơn loại câu hỏi nhiều lựa chọn

b Nhược điểm

Trang 17

Khi soạn thảo loại câu hỏi này thường dễ mắc sai lầm là trích nguyên văncác câu từ trong sách giáo khoa.

Phạm vi kiểm tra của loại câu hỏi này thường chỉ giới hạn vào chi tiết vụnvặt Việc chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn loại câu hỏinhiều lựa chọn

Ví dụ: Điền vào chỗ trống trong các phản ứng sau:

a) FeSO4 + KMNO4 + ……→ …… + MnSO4 + …… + …….b) NaNO2 + KMnO4 + ……→ …… + K2SO4 + ……

Ví dụ 1: Rót vào ống nghiệm khoảng 1ml dung dịch FeSO4, thêm vào đó

khoảng 0,5 ml dung dịch H2SO4 loãng được một dung dịch không màu Nhỏthêm vào ống nghiệm trên từng giọt dung dịch KMnO4 màu tím, lắc nhẹ, màutím nhanh chóng biến mất Phương trình phản ứng hoá học biểu diễn phản ứngnhư sau

10 FeSO4 + 2 KMnO4 + 8 H2SO4 → 5Fe2(SO4)3 + 2MnSO4 + K2SO4 + 8H2OPhản ứng hoá học đã xảy ra thuộc loại nào sau đây:

A Phản ứng trao đổi B Phản ứng thế

C Phản ứng oxi hoá - khử D Phản ứng hoá hợp

Nhận xét: Phần dẫn của câu trắc nghiệm trên diễn đạt dài dòng, chứa đựng

những chi tiết không cần thiết, nên ta lược bỏ phần mô tả thí nghiệm và hiện

Trang 18

tượng xảy ra ở câu dẫn trên Với câu hỏi trắc nghiệm chỉ cần bắt đầu từ phươngtrình hoá học để nêu ra câu hỏi.

Ví dụ 2: Nguyên tử Na và nguyên tử Cl có các lớp electron như sau: (Na)2/8/1;

(Cl)2/8/7 Để đạt được cấu hình bền vững với 8e ở lớp ngoài cùng thì

A Hai nguyên tử góp chung electron

B Nguyên tử Na nhường 1e cho nguyên tử Cl để cho lớp electron ngoài cùngcủa nguyên tử Na và Cl đều có 8e

C Tuỳ điều kiện của phản ứng mà nguyên tử Na nhường e hoặc nguyên tử Clnhường e

Nhận xét: Phần dẫn của câu trắc nghiệm trên là một câu hỏi chưa trọn vẹn,

người đọc thấy mơ hồ không xác định rõ ý định hỏi Như vậy học sinh phải đọccác câu chọn mới biết mình đang được hỏi vấn đề gì Nên sửa lại câu dẫn trênnhư sau: “Nguyên tử Na và Cl có các lớp electron như sau: (Na)2/8/1; (Cl)2/8/7.Trong phản ứng hoá học các nguyên tử Na và Cl đạt được cấu hình bền vữngvới 8e ở lớp ngoài cùng bằng cách nào sau đây?”

2 Câu chọn phải có cùng loại quan hệ với câu dẫn.

Ví dụ : Glucozơ là hợp chất tạp chức vì

A Glucozơ tác dụng với kim loại Na, dung dịch Cu(OH)2, dung dịchAgNO3/NH3

B Glucozơ tan trong nước và có vị ngọt

C Phân tử glucozơ chứa 5 nhóm – OH

D Phân tử glucozơ chứa nhóm – OH và nhóm – CHO

Nhận xét:

Ở đây ta không nên dùng phương án chọn A, B vì nó không phù hợp với logiccủa câu hỏi Vì câu hỏi là “tạp chức” chứ không phải nêu tính chất của glucozơ.Nên sửa lại câu chọn là:

A Phân tử chứa các nguyên tố C, H, O

B Phân tử chứa cả liên kết đơn và liên kết đôi

Trang 19

3 Phần lựa chọn gồm 4 câu trả lời (A, B, C, D) trong đó chỉ có duy nhất một câu trả lời đúng, câu đúng phải đúng hoàn toàn không tranh cãi được Đặc biệt, lưu ý loại bỏ câu trắc nghiệm có hai câu trả lời đúng như nhau trở lên, hoặc không có câu trả lời đúng.

thơm cụ thể mà chỉ đưa hai ví dụ “Amin thơm (thí dụ: anilin C6H5NH2), amin

béo (thí dụ: etylamin C2H5NH2)” Đến khi học phản ứng của amin với HNO2 thìsách giáo khoa có thêm thông tin “Anilin và các amin thơm bậc một tác dụng vớiaxit nitrơ ở nhiệt độ thấp (0 – 5OC) cho muối điazoni”, cho nên số đông học sinhnhầm amin thơm với amin chứa vòng thơm là một

Đáp án đúng của bài phải là 3, như vậy bài tập không có đáp án đúng

Trang 20

4 Không được đưa vào 2 câu chọn cùng ý nghĩa, mỗi câu kiểm tra chỉ nên viết một nội dung kiến thức nào đó.

Nhận xét: Trong câu trắc nghiệm trên C, D là các câu chọn đều đúng Học sinh

sẽ phân vân không biết chọn phương án nào

5 Tránh những câu lựa chọn sai hiển nhiên, dễ nhận biết.

Ví dụ:

Công nghiệp silicat gồm những ngành:

A Sản xuất thủy tinh

Ví dụ1:

Cho một lá nhôm đã đánh sạch vào dung dịch CuSO4, để yên một thời gian.Hiện tượng quan sát được là

A Màu xanh của dung dịch nhạt dần

B Xuất hiện kết tủa đỏ trên lá nhôm

C Dung dịch vẫn đục và có bọt khí trên lá nhôm

Trang 21

D Trên bề mặt lá nhôm xuất hiện kết tủa đỏ và có bọt khí không màuthoát ra, màu xanh của dung dịch nhạt dần.

Nhận xét: Phương án D dài và đầy đủ hơn hẳn các phương án khác, học sinh dễ

đoán ra đáp án là D

Ví dụ 2:

Nhận xét nào sau đây không đúng?

A Enzim có tác dụng xúc tác đặc hiệu đối với peptit, tác dụng xúc tác của enzim gấp hàng nghìn lần xúc tác hóa học thông thường

B Các peptit đều có phản ứng màu biure

C Peptit có khả năng thủy phân hoàn toàn thành các -aminoaxit nhờ xúc tác axit hoặc xúc tác kiềm

D Protein cấu tạo dạng hình sợi thì không tan trong nước, protein cấu tạodạng hình cầu tan một phần trong nước tạo thành dung dịch keo

Nhận xét: Phương án B quá ngắn so với ba phương án còn lại, nên khó diễn tả

đầy đủ nội dung kiến thức Trong khi đó câu dẫn yêu cầu tìm phương án sai làmhọc sinh dễ đoán là đáp án B

7 Phải thận trọng và hạn chế dùng các cụm từ “tất cả đều đúng” hay “tất cả đều sai” làm câu lựa chọn.

Ví dụ 1:

Điều kiện cần và đủ để kim loại bị ăn mòn điện hóa là

A Kim loại phải không nguyên chất (có hai điện cực)

B Hai điện cực tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp

C Hai điện cực phải cùng tiếp xúc với một dung dịch điện li

D Cả ba điều kiện trên

Ví dụ 2: Để phân biệt 4 chất lỏng: benzen, toluen, stiren, etylbenzen người ta

dùng thuốc thử là

A Dung dịch Br2 B Dung dịch KMnO4

C Dung dịch HNO3 đ, xúc tác H2SO4 đ D Cả ba đều sai

Nhận xét: Thường với loại câu hỏi này, nếu có 2 trong số các phương án chọn là

dễ nhận biết thì học sinh không cần xem xét các phương án còn lại, và chọn

Trang 22

phương án “tất cả đều đúng” hoặc “tất cả đều sai” Hoặc với loại câu hỏi nàyhọc sinh thường mang tính “gợi ý” giúp học sinh đoán ra phương án tổ hợpchính là phương án đúng Vì vậy nên thận trọng khi soạn kiểu đáp án này, đốivới loại câu này thì nên soạn các phương án chọn có độ khó tương đương, hoặcchuyển về dạng câu hỏi khác để đỡ “bị lộ”.

8 Tránh dùng hai lần phủ định liên tiếp trong một câu trắc nghiệm.

Ví dụ:

Điều khẳng định nào sau đây không đúng ?

A Glucozơ và fructozơ không có chất nào không tác dụng với H2 (Ni, to)

B Glucozơ và fructozơ không phải cả hai chất tác dụng được với Cu(OH)2/NaOH

C Không có cacbohidrat nào là không bị thủy phân

D Glucozơ và fructozơ đều tham gia phản ứng tráng gương

Nhận xét: Trong câu trắc nghiệm này phương án C được coi là đáp án đúng.

Nhưng cách phát biểu của A và C, kể cả B rất khó hiểu vì chứa hai lần phủ địnhliên tiếp Câu trắc nghiệm nên sửa thành:

Khẳng định nào sau đây không đúng?

A Glucozơ và fructozơ đều tác dụng với H2 (Ni, to)

B Dung dịch glucozơ và fructozơ đều hòa tan được Cu(OH)2 ở đkt

C Tất cả cacbohidrat đều bị thủy phân

D Glucozơ và fructozơ đều tham gia phản ứng tráng gương

9 Trong câu trắc nghiệm phải đảm bảo tính chính xác, khoa học; không nên đặt những vấn đề không thể xảy ra trong thực tế

Trang 23

10 Tránh những khái niệm, nội dung được trình bày khác nhau trong các bộ sách giáo khoa, hay những vấn đề đang tranh cãi dưới nhiều quan điểm chưa thống nhất.

Ví dụ:

Cho khí CO dư đi chậm qua hỗn hợp các oxit sau: MgO, ZnO, Fe2O3, PbO đunnóng Giả sử phản ứng hoàn toàn thì thành phần chất rắn còn lại là

A Mg, Zn, Fe, Pb B MgO, Zn, Fe, Pb

C MgO, ZnO, Fe, Pb C MgO, ZnO, FeO, Pb

Nhận xét: Phương án A đương nhiên là sai vì MgO là oxit của kim loại mạnh

nên không bị khử bởi CO Hai đáp án B, C đang là vấn đề chưa thống nhất trongcác tài liệu Trong đáp án đề thi đại học trước đây cho đáp án B là đúng Theokiến thức SGK 12 hiện nay lại viết:

ZnO + C  t0 Zn + CO

Điều đó chứng tỏ CO không khử được ZnO Vậy đáp án đúng là C

11 Tránh những câu hỏi định lượng phức tạp làm thí sinh mất nhiều thì giờ giải bài.

Ví dụ 1:

Một hỗn hợp A gồm Ca, CaO,CaCO3 đem nung ở nhiệt độ cao, không cókhông khí đến khối lượng không đổi Dẫn toàn bộ khí sinh ra sục vào 2 lít dungdịch Ca(OH)2 0,02M thu được 2 gam kết tủa Nếu cho A tác dụng với dung dịch

H2SO4 loãng dư thu được nhiều hơn 2,912 lít khí (ở đktc) và dung dịch B Trunghòa dung dịch B cần 110 ml dung dịch HCl 2M Khối lượng hỗn hợp A là

A 5,97 B 5,97 hoặc 4,473

Trang 24

C 4,473 hoặc 7,59 D 9,57 hoặc 4,437.

Nhận xét: Với bài tập ở VD1, một học sinh khá giỏi (nếu chưa rèn luyện giải bài tậptrắc nghiệm) giải nhanh nhất cũng mất 4 phút để tính toán, chưa kể thời gian suynghĩ tìm phương pháp giải

Với bài tập ở VD2, học sinh khá giỏi phải mất ít nhất 8 phút để vừa biệnluận vừa tính toán để đi đến đáp số cuối cùng

Lỗi này thường gặp khi giáo viên chuyển đổi một bài tập tính toán dạng tựluận sang dạng trắc nghiệm chỉ bằng cách thêm các phương án chọn

Bài tập trắc nghiệm dạng toán thường là một bài tập có phương pháp giảinhanh hoặc là một ý của bài tập lớn,… để có thể giải nhanh trong vòng 1-2 phút

12 Trong câu trắc nghiệm định lượng, phải thống nhất cấp độ chính xác của các số liệu.

Trong hóa học phải chú ý các đại lượng như nồng độ dung dịch các chất tan ít, khối lượng riêng, mà không được cho một cách tùy tiện

Ví dụ:

Trộn dung dịch bão hòa chứa 5,85 gam NaCl với dung dịch no chứa b gam

NH4NO3 thu được dung dịch A Cho dung dịch A tác dụng với dung dịch NaOHvừa đủ thu được 0,1 mol khí và dung dịch B Cô cạn B thu được chất rắn có khốilượng là

A 16,45 B 13,75 C 14,65 D 17,35

Nhận xét: Tương tự như VD ở mục 1.2.10, nồng độ bão hòa của dung dịch

Ca(OH)2 chỉ nên lấy tối đa 0,02 M, nếu quá 0,02 M thì khi đó một phầnCa(OH)2 tồn tại ở dạng rắn Ở bài này nếu trộn hai dung dịch trên bão hòa thìchắc chắn sẽ có một phần NaHCO3 tách ra vì chất này ít tan Người ta đã vậndụng tính chất này để sản xuất sođa theo phương pháp amoniac

Trang 25

13 Phải luôn có ý thức rõ ràng về mục đích của câu hỏi.

Điều này có ý nghĩa nếu như có ý định trắc nghiệm năng lực nhận thức ởmức nhớ thì không được “ngụy trang” câu hỏi trắc nghiệm dưới dạng một thểhiện khác đi Thí dụ muốn trắc nghiệm ở mức nhớ định nghĩa oxit (lớp 8): “Oxit

là hợp chất của oxi với một nguyên tố khác” thì không nên thể hiện ở dạng khácđi: “Oxit là hợp chất của 2 nguyên tố, trong đó có một nguyên tố là oxi”

Nếu như có ý định trắc nghiệm tư duy phê phán thì phải làm thế nào đểcâu hỏi không thể được trả lời đơn thuần dựa trên thông tin thực tế đã thu được Nếu như có ý định làm một câu hỏi trắc nghiệm khó, phải chắc chắn rằng

nó sẽ khó bởi vì đòi hỏi sự hiểu biết ở mức cao hoặc những lí luận sắc bén chứkhông phải vì nó trắc nghiệm vấn đề chưa rõ ràng của môn học

14 Câu dẫn phải trong sáng, tránh dẫn đến hiểu lầm hay có thể hiểu theo nhiều cách.

Ví dụ 1:

Cho hỗn hợp gồm một kim loại M và kim loại N hóa trị II

Nhận xét : Ở đây học sinh có thể hiểu hóa trị II là của kim loại N, cũng có thể hiểu hóa

trị II là của kim loại M và N Vì vậy, muốn rõ ràng nên sửa lại : ‘Cho hỗn hợp gồm mộtkim loại N hóa trị II và kim loại M ’ hoặc ‘ Cho hỗn hợp gồm một kim loại M và kimloại N đều có hóa trị II ’

Ví dụ 2 :

Cho một muối cacbonat của kim loại M tác dụng với dung dịch HNO3 thu được dungdịch A và hỗn hợp khí Y gồm 0,336 lít NO và CO2

Nhận xét : Câu này có thể hiểu theo 2 cách :

Cả hai khí có tổng thể tích là 0,336 lít hoặc chỉ có NO có V = 0,336 lít Để học sinhkhông mất nhiều thời gian ở câu chữ nên có câu dẫn rõ ràng : “ thu được dung dịch A

Trang 26

Ví dụ: Khí H2 thu được như thế nào là tinh khiết

A Đốt không có tiếng nổ

B Đốt có tiếng nổ nhỏ

C Đốt có tiếng nổ to

D Đốt thấy cháy với ngọn lửa màu xanh nhạt

16 Câu dẫn không được chứa một đầu mối nào để đoán ra câu trả lời.

Ví dụ 1: KClO3 tan nhiều trong nước nóng nhưng tan ít trong nước lạnh Hiệntượng nào xảy ra khi cho khí Cl2 đi qua nước vôi (dư) đun nóng, lấy dung dịchthu được trộn với KCl và làm lạnh?

A Có khí màu vàng lục thoát ra

B Màu của dung dịch thay đổi

Ví dụ 2: Nói về brom, chọn câu đúng và đủ ?

A Brom là chất màu đỏ nâu, dễ bay hơi

B Brom là chất độc, rơi vào da gây bỏng nặng

C Brom tan trong nước được gọi là nước brom

Trang 27

17 Các câu chọn cũng không được chứa một đầu mối nào để đoán ra câu trả lời.

Ví dụ:

Cho 12,9g hỗn hợp gồm Al và Mg phản ứng hết với 100ml dung dịch hỗn hợphai axit HNO3 4M và H2SO4 7M (đậm đặc) thu được 0,1 mol mỗi khí SO2, NO,

N2O Số mol từng kim loại trong hỗn hợp ban đầu là :\

A 0,2 mol Al và 0,3 mol Mg B 0,2 mol Mg và 0,3 mol Al

C 0,1 mol Al và 0,2 mol Mg D 0,2 mol Al và 0,1 mol Mg

Nhận xét: Với các phương án chọn trên, học sinh có thể không giải mà chỉ bấm

máy tính để tính số gam của hỗn hợp hai kim loại thông qua các số mol ở từngphương án chọn A, B, C, D Chỉ có B cho đáp số 12,9 gam Trong trường hợpnày muốn đáp án không bị lộ thì người biên soạn phải chọn các số mol sao chotổng khối lượng hai kim loại là 12,9 gam Hoặc yêu cầu tính thành phần % củamỗi kim loại trong hỗn hợp, khi đó các phương án chọn sẽ không chứa một đầumối nào để có thể đoán ra câu trả lời

18 Không đặt câu lựa chọn đúng ở một vị trí cố định, thường xuyên (A hoặc B, C, )

1.3 THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG LÀM BÀI THI TNKQ CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyển từ hình thức thi tự luận sang hình thức thi trắc nghiệm nhưng họcsinh thường có thói quen khi giải một bài toán thì phải tuân theo từng bước Vớibài toán hóa học ở các lớp dưới thường giáo viên hướng dẫn cho học sinh cáchgiải là phải viết hết các phương trình của bài toán và thường giải theo phươngpháp đại số đó là đặt ẩn, lập phương trình toán học rồi dựa vào phương trình mới

đi tìm các thông số bài toán yêu cầu Do vậy để tìm ra đáp án của một bài toánthường mất nhiều thời gian mà yêu cầu của hình thức thi trắc nghiệm đòi hỏihọc sinh trả lời mỗi câu chỉ từ một đến hai phút nên số lượng học sinh làm đúngtrong một đề thi trắc nghiệm thường ít

Qua tìm hiểu thực tế, thường học sinh chưa biết vận dụng các phương phápgiải nhanh bài bài tập để giải bài toán trắc nghiệm và còn mắc các sai lầm về kiếnthức, về kĩ năng, về tư duy và cả các bẫy của bài tập trắc nghiệm khách quan

Trang 28

Chương 2 PHÂN TÍCH VÀ SỮA CHỮA NHỮNG SAI LẦM CHO TRONG QUÁ TRÌNH HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI BÀI TẬP TNKQ

MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT

2.1 Dự đoán và phân tích các sai lầm thường gặp trong dạy học hoá học ở trường trung học phổ thông

2.1.1 Sai lầm về mặt kiến thức lý thuyết

Đây là sai lầm chủ yếu mà học sinh thường mắc phải trong quá trình học hóahọc Việc học lý thuyết là rất quan trọng, nhờ nắm vững kiến thức lý thuyết mà làm tốtcác bài tập phần tính toán Chẳng hạn:

• Một số sai lầm học sinh thường mắc phải khi giải bài toán về cấu tạo nguyên tử vàbảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học:

- Không phân biệt được cách viết cấu hình electron với sự phân bố electron theo phânmức năng lượng trong thang năng lượng

- Không hiểu được logic tư duy khi viết cấu hình của các nguyên tố bão hòa và bánbão hóa gấp

- Nắm không đầy đủ bản chất của sự tạo thành ion nên thường sai về cách viết cấuhình electron của các ion khi biết cấu hình electron của nguyên tử tương ứng và ngượclại

- Không hiểu được cách biểu diễn cấu hình electron theo ô lượng tử nên xác định sai

- Không nắm vững các qui tắc nên hay sai sót khi xác định số oxi hóa của các nguyên

tố trong hợp chất, nhất trong ion

Trang 29

- Học sinh hay nhầm lẫn các khái niệm: chất khử, chất oxi hóa; chất bị oxi hóa, chất bịkhử, sự (quá trình) oxi hóa, sự (quá trình) khử.

- Nhiều em không phân biệt được vài trò của các chất trong phản ứng: chất khử, chấtoxi hóa, chất môi trường nên khi cân bằng phản ứng oxi hóa khử thường sai ở nhữngphản ứng có chất vừa khử hoặc vừa oxi hóa vừa môi trường; phản ứng có nhiều chấtđóng vai trò là chất khử hoặc chất oxi hóa hoặc từ một chất khử hay oxi hóa tạo ranhiều sản phẩm

• Một số sai lầm học sinh thường mắc phải khi giải bài toán về kim loại:

- Do không nắm được bản chất và nhớ được qui luật sắp xếp dãy điện hóa của kimloại, không hiểu được qui tắc  nên thường mắc sai lầm về xác định kim loại tác dụngvới axit, kim loại tác dụng với dung dịch muối; sai lầm khi xác định điện cực trong pinđiện hóa hoặc trong ăn mòn điện hóa; xác định kim loại bị ăn mòn; không xác địnhđược thứ tự trao đổi electron ở các điện cực

- Các nguyên tố Al, Zn, Cr, có hợp chất oxit và hidroxit lưỡng tính thì học sinh kémthường sai ngay ở viết phương trình hóa học, học sinh trung bình và khá hay sai ở cácbài tập xẩy ra hai trường hợp thì bỏ mất một, học sinh giỏi gặp khó khăn khi làm cácbài tập vận dụng ở mức tư duy cao hoặc tổng hợp hơn

- Một số nguyên tố tạo ra hợp chất phức với NH3 như Zn2+, Cu2+, Ni2+, Ag+ học sinhkhông nhớ để làm các bài tập nhận biết, tách loại và bài định lượng

- Các nguyên tố có nhiều số oxi hóa như sắt, crôm, mangan thì sai lầm thường gặp làkhông vận dụng được dãy điện hóa để hiểu khả năng phản ứng của Fe với các dungdịch muối của kim loại, khả năng phản ứng của muối Fe2+, Fe3+ với các kim loại nênkhông xác định được khi Fe tác dụng với dung dịch axit có tính oxi hóa mạnh thì khinào tạo ra Fe2+, khi nào tạo ra Fe3+

• Một số sai lầm học sinh thường mắc phải khi giải bài toán về phi kim:

- Sai lầm nhiều nhất là không nắm được đầy đủ về tính axit mạnh và tính oxi hóamạnh của hai axit H2SO4 và HNO3

- Sai lầm về phản ứng nhiệt phân các muối nhất là sự nhiệt phân của các muối nitrat vàmuối amoni

Trang 30

- Sai lầm về sản phẩm phản ứng oxi hóa NH3 bằng O2

• Một số sai lầm học sinh thường mắc phải khi thực hành thí nghiệm:

- Sai lầm khi sử dụng dụng cụ thí nghiệm như ống nghiệm, dụng cụ lấy hóa chất, cácdụng cụ nung nóng

- Sai lầm khi sử dụng và bảo quản hóa chất như sử dụng chất làm khô, sử dụng sảnphẩm điều chế, sử dụng kim loại kiềm

- Sai lầm trong thao tác tiến hành thí nghiệm như thao tác tiến hành điều chế khí, phaloãng axit đặc, thu khí

• Một số sai lầm học sinh thường mắc phải khi giải toán về khả năng oxi hóa củaanđehit focmic so với các andehit đơn chức khác trong dung dịch AgNO3/NH3 cũngnhư phản ứng của ank-1-in và của axetilen với dung dịch trên

• Một số sai lầm học sinh thường mắc phải khi giải toán về axit:

- Sai lầm khi áp dụng phương pháp tăng giảm khối lượng

- Sai lầm khi cho axit fomic tác dụng với dung dịch AgNO3/NH3

• Một số sai lầm học sinh thường mắc phải khi xác định sản phẩm thu được tối đa khicho isopren tác dụng với dung dịch Br2 tỉ lệ 1:1

Ví dụ 1: (Đề thi ĐH năm 2008).

Cấu hình electron của ion X2+ là 1s22s22p63s23p63d6 Trong bảng tuần hoàn cácnguyên tố hoá học, nguyên tố X thuộc

A Chu kì 4, nhóm IIA B Chu kì 4, nhóm VIIIB

C Chu kì 4, nhóm VIIIA D Chu kì 3, nhóm VIB

Phân tích:

Ở bài này một số học sinh đọc không kĩ đề ra liền đưa ra đáp án ngay là D Nhưng đó

là cấu hình của ion X2+ chứ không phải là của nguyên tố X Nên đáp án D sai

Còn một số em thì biết cấu hình của nguyên tố X từ cấu hình của ion X2+ là:1s22s22p63s23p63d64s2 Từ đó suy ra đáp án đúng là A Nhưng ở đây nguyên tố X cólớp electron ngoài cùng là: 3d64s2 Nên đáp án A sai

Hai đáp án còn lại đều làm cho học sinh phân vân Nếu các em không nắm vững kiếnthức lý thuyết thì chọn ngay đáp án C Vì nhầm tưởng là có 2 electron điền vào phân

Trang 31

lớp s nên nó thuộc nhóm A Đáp án C sai Vậy đáp án đúng phải là B Vì nguyên tố X

có phân lớp electron sát lớp trong liền đó chưa bão hoà Chúng là những kim loạichuyển tiếp Nên thuộc nhóm B

Vậy đáp án đúng là B

Ví dụ 2: Cho dung dịch chứa FeCl2 và ZnCl2 tác dụng với dung dịch NaOH dư, sau

đó lấy kết tủa nung trong không khí đến khối lượng không đổi thu được chất rắn gồm

A Fe2O3 B FeO C FeO, ZnO D Fe2O3, ZnO

Phân tích: Với bài này thì có một số học sinh giải như sau:

Các phản ứng xảy ra:

FeCl2 + 2NaOHdư → Fe(OH)2 ↓+ 2NaCl (1)

ZnCl2 + 2NaOHdư → Zn(OH)2 ↓+ 2NaCl (2)

Lấy kết tủa nung trong không khí:

Zn(OH)2 + NaOHdư → Na2ZnO2 + H2O (5)

- Sai lầm thứ hai là khi nung Fe(OH)2 trong không khí thì xảy ra phản ứng (6):

đủ, phản ứng xảy ra hoàn toàn hay không hoàn toàn, không xét hết trường hợp

có thể xảy ra,…) Một số sai lầm phổ biến như quên cân bằng hoặc cân bằngkhông đúng, đơn vị tính không thống nhất, không để ý đến hiệu suất phản ứng,

Trang 32

không xác định được chất nào hết hay dư trong quá trình phản ứng Sai lầmtrong thực hành hoá học mà học sinh thường mắc phải như kẹp ống nghiệmkhông đúng vị trí, cho lượng chất hoá học vào đầy ống nghiệm,

Ví dụ 1 (Đề thi CĐ khối A,B – Mã đề 216).

Cho hỗn hợp gồm 0,1 mol HCHO và 0,1 mol HCOOH tác dụng với lượng dư

Ag2O (hoặc AgNO3) trong dung dịch NH3, đun nóng Sau khi các phản ứng xảy

ra hoàn toàn, khối lượng Ag tạo thành là

A 43,2 gam B 10,8 gam C 64,8 gam D 21,6 gam

Phân tích:

Với bài toán này ta giải như sau:

HCHO  AgNO 3NH 3  4Ag↓

Một số học sinh giải như sau:

HCHO  AgNO 3NH 3  2Ag↓

0,1 mol → 0,2 mol

HCOOH  AgNO 3NH 3  2Ag↓

0,1 mol → 0,2 mol

Vậy nAg = 0,4 mol Suy ra: mAg = 108  0.4 = 43,2 gam Đáp án là A

Sai lầm của các em ở đây là cho rằng HCHO oxi hoá một lần như các anđehitkhác là:

AgNO3 + 3NH3 + 2H2O → [Ag(NH3)]OH + NH4NO3

RCHO + [Ag(NH3)]OH → RCOONH4 + 2Ag + 3NH3 + H2O

Nhưng thực tế thì HCHO xảy ra phản ứng sau:

HCHO + [Ag(NH3)]OH → (NH4)2CO3 + 4Ag + 5NH3 + 2H2O

Trang 33

Có một số em cho rằng tỷ lệ phản ứng của HCHO và HCOOH với Ag2O (hoặcAgNO3) trong dung dịch NH3 là 1:1 Suy ra: nAg = 0,2 mol

Vậy mAg = 108  0.2 = 21,6 gam Đáp án là D Hay các em cho rằng

nHCHO = nHCOOH = 0,1 mol Nên nAg = 0,1 mol

Suy ra: Vậy mAg = 108  0.1 = 10,8 gam Đáp án là B

Vậy các đáp án A, B, D là các đáp án “nhiễu”

Ví dụ 2 Khi pha loãng axit H2SO4 đặc phải tiến hành như thế nào?

A Rót nhanh axit vào nước B Rót từ từ axit vào nước

C Rót nhanh nước vào axit D Rót từ từ nước vào axit

Phân tích:

Ở bài này đáp án đúng là B Đây là bài toán pha loãng axit, một số em khôngchú ý đến tính chất của các axit đặc Sai lầm mà các em thường mắc phải là rótnước vào axit, điều này rất nguy hiểm vì axit H2SO4 đặc sẽ bắn tung toé gâybỏng cho người thực hiện Nếu rót nhanh axit vào nước cũng sẽ gây nguy hiểm

vi nó toả nhiệt mạnh Vậy đáp án A, C, D sai

2.1.3 Sai lầm về phương pháp tư duy

Khi đọc một bài toán nào đó thì điều mà ta quan tâm đầu tiên là dạng và các dựkiện của bài toán Từ đó bằng khả năng tư duy của bản thân mà tìm phươngpháp giải và tìm ra được đáp án đúng Khả năng tư duy là rất quan trọng, nếu tưduy sai thì dẫn đến kết quả sai Với bài toán trắc nghiệm thì khả năng sai này là

do trong quá trình tư duy đã mắc phải những sai lầm hay “bẫy” của bài toán Sailầm này hầu như học sinh nào cũng mắc phải

* Một số sai lầm về phương pháp tư duy trong giải toán hóa:

Trang 34

tách – tinh chế Cho nên khi làm bài tập còn mắc phải những sai lầm mà khôngđáng có

• Tư duy phân tích:

Là hoạt động tư duy tách các yếu tố bộ phận của sự vật, hiện tượng nhằm mụcđích nghiên cứu chúng một cách đầy đủ, trọn vẹn theo hướng nhất định

Chẳng hạn, học sinh không thể nắm vững tính chất hóa học của một chất hữu cơmột cách sâu sắc và bền vững nếu như không phân tích kỹ công thức cấu tạo củachất đó Hoặc phân tích mọi khía cạnh có thể có của đề bài là cơ sở để giải đúng

và đầy đủ mọi bài tập hóa học Tuy nhiên, một số học sinh khi giải toán lạikhông đọc kĩ đề bài nên không phân tích hết các dự kiện bài toán cho dẫn đếncách giải sai Vì vậy chọn đáp án sai Tư duy phân tích là rất quan trọng cả vềmặt lí thuyết và bài tập tính toán

• Tư duy tổng hợp:

Là hoạt động tư duy kết hợp các bộ phận, yếu tố đã được phân tích để nhậnthức, để nắm được cái toàn bộ của sự vật, hiện tượng Để hiểu đầy đủ các nhómnguyên tố phải dựa trên kết quả tổng hợp của việc phân tích nghiên cứu đặcđiểm cấu tạo cũng như tính chất của từng nguyên tố cụ thể Hay khi giải toán thìcác em phải tổng hợp các dự kiện của bài toán rồi bằng tư duy tổng hợp tìm racách giải nhanh nhất và chính xác Nhưng không phải học sinh nào cũng biếtlàm như vậy, một số em do phân tích bài toán chưa đầy đủ nên đưa ra đáp án sai

Ví dụ 1: Cho các cặp thuốc thử sau: Na và dd Br2; dd NaOH và dd Br2; dd HCl

và dd Br2; dd HCl và dd NaOH Số cặp thuốc thử có thể dùng để nhận biết các chất lỏng anilin, phenol và benzen là

A 1 B 2 C 3 D 4

Phân tích:

- Cặp thuốc thử Na và dd Br2: Cho kim loại Na vào các ống nghiệm chứa cácchất cần nhận biết Chỉ có lọ chứa phenol xảy ra phản ứng và có sủi bọt khí H2.Hai lọ còn lại ta cho dd Br2 vào thì chứa anilin xảy ra phản ứng và tạo kết tủatrắng Lọ chứa benzen không có hiện tượng gì

Trang 35

có phản ứng và tạo kết tủa trắng Lọ chứa benzen không có hiện tượng gì.

C6H5NH2 + HCl → C6H5NH3Cl

- Cặp thuốc thử dd HCl và dd NaOH: Cho dung dịch HCl vào các ống nghiệmchứa các chất cần nhận biết Chỉ có lọ chứa anilin xảy ra phản ứng tạo thànhmuối tan trong nước nên chuyển thành dung dịch đồng nhất, hai lọ còn lại chấtlỏng phân thành hai lớp Hai lọ còn lại ta cho dd NaOH vào thì chỉ có lọ chứafenol xảy ra phản ứng tạo thành muối tan trong nước nên chuyển thành dungdịch đồng nhất, lọ còn lại chất lỏng phân thành hai lớp là lọ chứa benzen

Trang 36

Như vậy, cả 4 cặp trên đều có thể dùng để nhận biết anilin, fenol vàbenzen Đáp án đúng là D.

Với bài này các em có thể mắc phải một số sai lầm sau:

- Phần lớn học sinh chỉ nhớ thuốc thử nhận biết phenol và anilin làdung dịch Br2, thuốc thử nhận biết ancol và phenol là Na với dấu hiệu là khí bay

2.2 Phân tích những sai lầm qua các bài tập trắc nghiệm

2.2.1 Bài tập trắc nghiệm tính toán hóa học.

Mục đích kiểm tra các kĩ năng tính toán thực hành hóa học, cách lựachọn các phương pháp giải nhanh ngắn gọn, nhanh, chính xác

Để giải một bài trắc nghiệm dạng toán, học sinh phải vận dụng nhữngkiến thức lí thuyết liên quan, kĩ năng tính toán để xử lí những dữ kiện đã cho ởphần dẫn, đi đến một đáp số hay một kết luận, đối chiếu với các phương án đãcho của câu trắc nghiệm để chọn phương án mà học sinh cho là đúng

Trong khi giải toán, những sai sót mà học sinh có thể mắc phải là rất đadạng, nhưng trong đó có những lỗi sai thuộc loại “có hệ thống”, tức là những lỗisai mà nhiều học sinh thường mắc phải, có thể lặp đi lặp lại nhiều lần, và nhữnglỗi sai đó giáo viên có thể dự đoán trước được Đối với mỗi bài toán giáo viêncần nắm bắt được các lỗi sai của các em để phân tích và sửa chữa những sai lầm

đó

Trong mỗi bài toán hoá, các em học sinh có thể mắc phải sai lầm trên cácphương diện khác nhau:

 Sai lầm liên quan đến kiến thức lí thuyết

 Sai lầm liên quan đến kĩ năng giải toán

 Sai lầm liên quan trong việc áp dụng phương pháp giải toán

Trang 37

Trước hết người giáo viên hướng dẫn học sinh tìm đáp án đúng, sau đóphân tích những điểm mấu chốt về mặt kiến thức hay kĩ năng giải toán mà họcsinh có thể nhầm lẫn, sai sót dẫn đến các kết quả sai, các kết quả đó chính là cácphương án nhiễu.

Dưới đây là một số kiểu sai lầm thường gặp của học sinh trong xử lí bàitập trắc nghiệm toán hóa :

Bài tập 1: (Đề thi ĐH khối B – 2009).

Người ta điều chế anilin bằng sơ đồ sau

Benzen HNO 3đăc ,H 2SO4 đăc Nitrobenzen  Fe HCl,t0Anilin

Biết hiệu suất giai đoạn tạo thành nitrobenzen đạt 60% và hiệu suất giai đoạn tạothành anilin đạt 50% Khối lượng anilin thu được được điều chết từ 156 gambenzen là:

A 186,0 gam B 111,6 gam C 55,8 gam D 93,0 gam

50

 = 55,80 gam Đáp án đúng là C

Với bài tập này học sinh sẽ mắc phải những sai lầm sau:

- Nếu các em không chú ý đến hiệu suất của 2 quá trình bài toán cho thì chorằng hiệu suất tạo thành anilin từ benzen là 100% Suy ra:

Trang 38

- Nếu các em cho rằng hiệu suất tạo thành anilin từ benzen là 50% Suy ra:

A 50,00% B 40,00% C 27,27% D 66,67%

Phân tích:

Với bài toán này ta giải như sau: Từ cấu hình electron lớp ngoài cùng ns2np4 của

X suy ra: X thuộc nhóm VIA Vậy công thức hợp chất khí với hiđro có dạng

H2X, oxit cao nhất XO3

Trong H2X có % khối lượng của H là 100% - 94,12% = 5,88%

Suy ra: MX = 2 594,88,12 = 32 X là nguyên tố S

Oxit cao nhất của X là SO3 → % khối lượng S = 32 80100% = 40%

→ Đáp án đúng là B

Ở bài này các em có thể mắc phải một số sai lầm sau:

- Cho rằng oxit cao nhất của X là SO2 Vì đây là oxit phổ biến mà các em đượcbiết, và hay xuất hiện trong các bài toán mà các em hay gặp

Suy ra: % khối lượng S = 32 64100% = 50% Chọn đáp án A

- Học sinh có thể nhầm hóa trị cao nhất của X là 4 → Vậy công thức hợp chấtkhí với hiđro có dạng XH4, oxit cao nhất XO2

Trong XH4 có % khối lượng của H là 100% - 94,12% = 5,88%

Trang 39

Dung dịch HCl và dung dịch CH3COOH có cùng nồng độ mol/lít, pH của 2dung dịch tương ứng là x và y Quan hệ giữa x và y là (giả thiết cứ 100 phân tử

CH3COOH thì có 1 phân tử điện li)

Với bài toán này ta giải như sau:

Trang 40

nO pư = 3x/2 + (3y/2 – y) + (9z/2 – 4z) = (3x+y+z)/2

Theo phương pháp bảo toàn electron: 3x + y + z = 3.0,015 = 0,045 mol

→m Fe 2 O 3 = 4,04 + 0,045.16/2 = 4,4g → n Fe 2 O 3 = 0,0275 mol

→ n Fe 3  = 2.0,0275 = 0,055 mol

Vậy n HNO 3= 0,055.3 + 0,015 = 0,18 mol → Đáp án đúng là A

Ở bài toán này học sinh thường mắc phải một số sai lầm sau:

- Sai lầm do dựa vào phương trình: 4H+ + NO3- + 3e  NO + 2H2O

→ n HNO 3 = n H  = 4 0,015 = 0,06 mol

Hoặc dựa vào phương pháp bảo toàn nguyên tố và bảo toàn khối lượng:

hh + HNO3  muối + NO + H2O

B/t ng.tố N a mol a-0,015 mol NO3- 0,015 a/2

B/t k/l 63a = (a-0,015)62 + 0,015.30 + 18.a/2

A 64,8 g B 54,0g C 43,2g D 86,4g

Phân tích:

Với bài tập này ta giải như sau:

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Ngọc An. Bộ đề thi trắc nghiệm hóa học, NXB Đại học Sư phạm, 2007 Khác
2. Cao Thị Thiên An. Bộ đề thi trắc nghiệm tuyển sinh đại học và cao đẳng hóa học, NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2007 Khác
3. Huỳnh Bé. 800 câu hỏi trắc nghiệm hóa học 11, NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2007 Khác
4. Cao Cự Giác. Các dạng đề thi trắc nghiệm hóa học, NXB Giáo dục, Hà Nội 2007 Khác
5. Cao Cự Giác. Bài tập lí thuyết và thực nghiệm hóa vô cơ, NXB Giáo dục, Hà nội, 2003 Khác
6. Cao Cự Giác. Bài tập lí thuyết và thực nghiệm hóa hữu cơ, NXB Giáo dục, Hà nội, 2004 Khác
7. Cao Cự Giác. Hướng dẫn giải nhanh hóa vô cơ, NXB Giáo dục, Hà nội, 2003 Khác
8. Cao Cự Giác. Hướng dẫn giải nhanh hóa hữu cơ, NXB Giáo dục, Hà nội, 2003 Khác
9. Cao Cự Giác. Tuyển tập bài giảng hóa học hữu cơ, NXB Đại học Quốc Gia Hà nội, 2001 Khác
10. Cao Cự Giác. Kĩ thuật xây dựng câu nhiễu cho bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn môn hoá học, Tạp chí giáo dục 12/2007 Khác
11. Cao Cự Giác – Hoàng Thanh Phong – Nguyễn Thị Bích Hiền – Trần Thị Thanh Nga. Thiết kế bài giảng hoá học 11 nâng cao, tập 1. NXB ĐHQGHN, 2007 Khác
12. Nguyễn Thanh Khuyến. Phương pháp giải các dạng bài tập trắc nghiệm hóa học đại cương và cô cơ, NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2006 Khác
13. Nguyễn Thanh Khuyến. Phương pháp giải các dạng bài tập trắc nghiệm hóa học hữu cơ, NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2006 Khác
14. Hoàng Nhâm - Đào Đình Thức. Hoá học 10 – Ban khoa học tự nhiên, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1995 Khác
15. Hoàng Nhâm. Hoá vô cơ (tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004 Khác
16. Hoàng Nhâm. Hoá vô cơ (tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004 Khác
17. Trần Trung Ninh – Nguyễn Xuân Trường, 555 câu trắc nghiệm hóa học, NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 Khác
18. Nguyễn Phước Hòa Tân. Cơ sở lí thuyết và 500 câu hỏi trắc nghiệm hóa học, NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2006 Khác
19. Lê Xuân Trọng (Tổng chủ biên kiêm chủ biên). Hoá học 10 nâng cao, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006 Khác
20. Lê Xuân Trọng (Tổng chủ biên kiêm chủ biên). Hoá học 10 nâng cao, sách giáo viên NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w