1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế biển ở huyện quảng xương tỉnh thanh hóa luận văn tốt nghiệp đại học n

96 1,4K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế biển ở huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Nguyễn Thị Gấm
Người hướng dẫn Thạc Sỹ Hoàng Phan Hải Yến
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Địa lý
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cần phát huy mọi tiềm năng và lợi thế của vùng biển, ven biển và hải đảo cùng với sức mạnh của cả nước để xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh về biển và kinh tế biển, có cơ cấu kin

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp Đại học là một cơ hội để sinh viên chúng tôi nghiên cứu khoa học, tìm tòi tri thức, nhất là lại được tìm hiểu ở chính quê hương của mình lại càng là một may mắn Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đầu tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên tôi gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài.

Để hoàn thành khóa luận này ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Địa Lý, các cấp chính quyền huyện Quảng Xương (tỉnh Thanh Hóa), Sở Nông nghiệp huyện Quảng Xương, các xã ven biển của huyện , gia đình và tập thể lớp 48A Địa lý Trường Đại Học Vinh.

Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới

cô giáo - Thạc sỹ Hoàng Phan Hải Yến - người đã tận tâm, tận lực giúp đỡ

và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và làm khóa luận tốt nghiệp Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Địa lý đã giúp đỡ tôi trong việc hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp.

Tôi xin cảm ơn các cấp ban ngành của UBND huyện Quảng Xương,

sở Nông nghiệp và các xã ven biển đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thu thập nguồn tài liệu phục vụ cho khóa luận tốt nghiệp.

Xin chân thành cảm ơn bạn bè, gia đình đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình làm khóa luận.

Do hạn chế của trình độ bản thân, thời gian và phương tiện nghiên cứu nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được

sự quan tâm góp ý của quý thầy cô và các bạn.

Xin chân thành cảm ơn.

Đại học Vinh, tháng 5/2011 Người thực hiện

Nguyễn Thị Gấm

Trang 2

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

Trang 3

Bảng 1.3 Khối lượng hàng hoá thông qua các cảng biển Việt

Nam do Trung ương quản lý, giai đoạn 2000 – 2008 32Bảng 1.4 Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển của

ngành vận tải biển Việt Nam giai đoạn 2000 – 2009 33 Bảng 2.1 Quy mô GDP và GDP/người của huyện Quảng Xương 50 Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế huyện

Bảng 2.4 Sản lượng và cơ cấu hải sản khai thác huyện Quảng Xương 57Bảng 2.5 Sản lượng và giá trị nuôi trồng thủy sản huyện Quảng Xương 59

Trang 4

DANH MỤC BẢN, BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 1.1: Sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản Việt Nam

Biểu đồ 1.2: Tình hình khai thác và xuất khẩu dầu thô của

Việt Nam giai đoạn 2000 - 2009 29

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu GDP ngành nông - lâm - thủy sản của huyện

Biểu đồ 2.4 : Sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản Quảng Xương

Biểu đồ 2.5: Sản lượng và giá trị khai thác thủy sản huyện

Biểu đồ 2.6: Diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện Quảng Xương

Bản đồ : Bản đồ hành chính huyện Quảng Xương

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU -1

1.Lý do chọn đề tài -1

2 Mục tiêu của đề tài -2

3 Nhiệm vụ của đề tài -2

4 Giới hạn đề tài -2

5 Quan điểm nghiên cứu -3

6 Phương pháp nghiên cứu -4

7 Những đóng góp chính của luận văn -5

8 Bố cục của đề tài -5

PHẦN NỘI DUNG -6

CHƯƠNG 1 -6

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ BIỂN -6

1.1 Cơ sở lý luận -6

1.1.1 Khái niệm về kinh tế biển -6

1.1.2 Cơ cấu kinh tế biển -7

1.1.3 Vai trò kinh tế của biển và đại dương -8

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế biển. -10

1.2 Cơ sở thực tiễn -22

1.2.1 Một vài nét về hoạt động khai thác biển trên thế giới -22

1.2.2 Khái quát về hoạt động kinh tế biển ở Việt Nam -24

CHƯƠNG 2 -37

NGUỒN LỰC VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN QUẢNG XƯƠNG -37

2.1 Nguồn lực phát triển kinh tế biển Quảng Xương -37

2.1.1.Vị trí địa lý -37

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên -38

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội -44

2.1.4 Đánh giá, nhận xét chung. -48

Trang 6

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế biển -50

2.2.1 Khái quát chung -50

2.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế biển -52

2.2.3.Những khó khăn và hạn chế -66

CHƯƠNG 3 -69

CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN QUẢNG XƯƠNG- - -69

3.1 Quan điểm phát triển kinh tế biển -69

3.2 Định hướng phát triển kinh tế biển -70

3.3 Mục tiêu phát triển kinh tế biển -73

3.4 Một số giải pháp phát triển kinh tế biển -74

3.4.1 Đối với ngành thủy sản : -74

3.4.2 Đối với ngành kinh tế biển khác: -77

PHẦN KẾT LUẬN -80

TÀI LIỆU THAM KHẢO -82

PHỤ LỤC -82

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài

Trong điều kiện thế giới ngày nay, dân số tăng nhanh, quá trình đôthị hoá quá mức, các nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt,…

thì “tiến ra biển” đang là một xu thế tất yếu - một sự lựa chọn đúng đắn và hợp lý của nhân loại Vì vậy, thế kỷ XXI được coi là “thế kỷ của biển và

đại dương” Tất cả các quốc gia có biển và không có biển đều coi “hướng

ra biển” là một chiến lược hàng đầu trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế

đất nước

Việt Nam - quốc gia đứng thứ 27 trong tổng 156 quốc gia cóbiển trên thế giới Vị trí và tiềm năng vùng biển nước ta trong sự nghiệpxây dựng và bảo vệ đất nước là vô cùng to lớn và trọng yếu Đó là vùngcửa mở cho nước ta tiến ra biển khơi, phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, hộinhập quốc tế, đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền của đất nước Nhận thức

rõ vai trò của biển và kinh tế biển, Chỉ thị 20-CT/TW của Bộ Chính trị chỉ

rõ: “Vùng biển, ven biển và hải đảo là địa bàn chiến lược, có vị trí quyết

định đối với sự phát triển của đất nước ta Cần phát huy mọi tiềm năng và lợi thế của vùng biển, ven biển và hải đảo cùng với sức mạnh của cả nước

để xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh về biển và kinh tế biển, có

cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu với một số ngành mũi nhọn, làm động lực thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển” Nghị quyết Đại hội Đảng toàn

quốc lần thứ XI cũng khẳng định “Phát triển mạnh kinh tế biển xứng với vị

thế và tiềm năng biển của nước ta, gắn phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, đóng tàu, xi măng, chế biến thủy sản chất lượng cao Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, tạo thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, tạo thế tiến ra biển gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao như dịch vụ xuất, nhập khẩu, du lịch, dịch vụ nghề cá, dịch vụ dầu khí, vận tải Phát triển cảng biển, dịch vụ cảng và vận tải biển, sông - biển; phát triển các đội tàu, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển Phát triển kinh tế đảo phù hợp với vị trí, tiềm năng và lợi thế của từng đảo” (Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại

Trang 8

hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG Sự thật 2011 Tr 121 122).

-Cũng như các địa phương có biển, trong những năm qua huyệnQuảng Xương tỉnh Thanh Hóa đã và đang tập trung đầu tư khai thác cácnguồn lực của biển và ven biển Kinh tế biển đã từng bước khẳng địnhđược vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế và được coi là mũi nhọntrong phát triển kinh tế của huyện

Là một sinh viên ngành Địa lý, khi bắt đầu công tác nghiên cứu khoahọc, tôi luôn mong muốn mình sẽ có một đề tài nghiên cứu về quê hương,

về mảnh đất mình đã sinh ra và lớn lên Nhận thấy những tiềm năng kinh

tế biển của huyện Quảng xương rất lớn, nhưng thực trạng khai thác tiềm

năng còn nhiều hạn chế, tôi đã quyết định chọn đề: “Phân tích tiềm năng

và thực trạng phát triển kinh tế biển ở huyện Quảng Xương” Với mong

muốn rằng mình có thể góp một phần nhỏ vào sự phát triến kinh tế của quêhương

2 Mục tiêu của đề tài

Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế biển để vận dụng vàophân tích tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế biển huyện QuảngXương, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế biển của huyệntrong tương lai

3 Nhiệm vụ của đề tài

Đề tài tập trung giải quyết ba nhiệm vụ cơ bản sau:

- Tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế biển

- Đánh giá ảnh hưởng của các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội vàphân tích thực trạng phát triển kinh tế biển huyện Quảng Xương

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế biển huyện QuảngXương đến năm 2020

4 Giới hạn đề tài

Về nội dung:

- Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên và kinh tế - xã hộiđến phát triển kinh tế biển huyện Quảng Xương

Trang 9

- Phân tích thực trạng phát triển kinh tế biển huyện Quảng Xương ởcác ngành nông - lâm - ngư nghiệp (khu vực I), công nghiệp (khu vực II),dịch vụ (khu vực III).

Kinh tế biển là một bộ phận quan trọng trong sự phát triển của nềnkinh tế Bởi vậy, nghiên cứu kinh tế biển là nghiên cứu mối quan hệ tươngtác giữa các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong một phạm vi lãnh thổnhất định, từ đó thấy được hiện tượng trong các mối liên hệ khái quát, tổnghợp

- Quan điểm lãnh thổ

Mọi sự vật và hiện tượng đều tồn tại trong một không gian nhất định

Vì vậy, cần phải gắn đối tượng nghiên cứu với không gian xung quanh mà

nó đang tồn tại Bởi vậy, khi nghiên cứu kinh tế biển Quảng Xương phảiđược đặt trong sự phát triển kinh tế của toàn huyện và cả tỉnh Thanh Hóa

- Quan điểm hệ thống

Để đảm bảo tính hệ thống, làm cho quá trình nghiên cứu trở nênlôgic, thông suốt và sâu sắc, kinh tế biển Quảng Xương phải đặt trong mốiquan hệ với hệ thống lớn hơn là kinh tế biển Thanh Hóa và khu vực venbiển Bắc Trung Bộ, để thấy được mối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố vớinhau trong cùng một hệ thống và giữa các hệ thống, từ đó có thể đánh giáchính xác vấn đề cần nghiên cứu

Trang 10

- Quan điểm lịch sử

Mọi sự vật, hiện tượng địa lý đều có nguồn gốc phát sinh, phát triểnriêng, quá trình nghiên cứu phải đặt các đối tượng vào các quan hệ trong sựvận động và hoàn cảnh cụ thể Chính vì vậy, vận dụng quan điểm này tathấy được thực trạng phát triển kinh tế biển của huyện Quảng Xương Từ

đó đánh giá được những khả năng, triển vọng phát triển của biển trong hiệntại và đề ra được những giải pháp phát triển và định hướng phát triển trongtương lai

- Quan điểm phát triển bền vững

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là một nguồn lực quantrọng cho các ngành kinh tế phát triển Đồng thời, hoạt động kinh tế đã tácđộng không nhỏ đến môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Cả haiyếu tố này luôn kết hợp với nhau trong thế vận động, biến đổi với mục tiêuchung là hình thành một nền kinh tế hoàn thiện và hợp lý trên cơ sở pháttriển theo hướng bền vững Chính vì vậy, ta cần phải nắm rõ mối quan hệnày để thấy được tầm quan trọng của nguồn lực tự nhiên đối với sự pháttriển kinh tế biển, nhưng mặt khác phải có các giải pháp hiệu quả để khaithác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái phục vụcho mục đích phát triển bền vững

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu

Để đánh giá chính xác sự phát triển kinh tế biển thì chúng ta phải sửdụng rất nhiều các chỉ tiêu kinh tế khác có liên quan Trong quá trình làmluận văn, tôi đã tiến hành thu thập số liệu, tài lịêu từ nhiều nguồn khácnhau: từ các phòng ban, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn huyệnQuảng Xương…, từ các phương tiện thông tin đại chúng như Iternet, cáctạp chí kinh tế, tạp chí nông nghiệp, tạp chí thuỷ sản; từ thư viện Đại họcVinh…

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế

Để có sự đánh giá và nhìn nhận khách quan về vấn đề nghiên cứu,ngoài việc thu thập số liệu, tôi còn tiến hành các cuộc điều tra, khảo sát trênđịa bàn dải ven biển Qua đó, bổ sung thêm kiến thức thực tế và sưu tầmhình ảnh minh hoạ cho luận văn của mình thêm tính thuyết phục

Trang 11

- Phương pháp thống kê toán học

Những số liệu thu thập được thường không đủ cung cấp chỉ tiêu chonghiên cứu Vì vậy, trên cơ sở số liệu đã thu thập,sử dụng phương phápthống kê toán học và một số phương pháp tính đơn giản để tìm ra các chỉtiêu, thông số cần thiết phục vụ cho nội dung đề tài

- Phương pháp phân tích tổng hợp

Từ các số liệu, tài liệu đã thu thập, tôi sử dụng phương pháp phântích, so sánh, tổng hợp để đánh giá, phát hiện vấn đề Đáng chú ý tôi sửdụng phương pháp phân tích S.W.O.T(điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, tháchthức)

- Phương pháp bản đồ

Trên cơ sở thống kê về các ngành kinh tế biển Quảng Xương, vềkinh tế- xã hội của các xã ven biển và sử dụng bán đồ nền là bản đồ hànhchính, bản đồ địa hình huyện Quảng Xương để thành lập bản đồ chuyên đềthể hiện tiềm năng và hiện trạng phát triển các ngành kinh tế biển củahuyện

7 Những đóng góp chính của luận văn

- Luận văn đã tổng quan một số lí luận và thực tiễn về phát triển kinh

tế biển

- Làm rõ những lợi thế, thách thức và thực trạng phát triển các ngànhkinh tế biển của huyện Quảng Xương

- Đưa ra một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng pháttriển kinh tế biển của Quảng Xương

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài được trình bàytrong 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế biển

- Chương 2: Nguồn lực và thực trạng phát triển kinh tế biển huyệnQuảng Xương

- Chương 3: Các giải pháp phát triển kinh tế biển huyện QuảngXương đến năm 2020

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ BIỂN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về kinh tế biển

Biển và đại dương thế giới chiếm 71% diện tích bề mặt Trái đất (361triệu km2/510 km2), xét về nhiều mặt, tiềm năng biển cả lớn hơn nhiều sovới đất liền, song do đặc thù môi trường mà việc khai thác sử dụng tàinguyên này còn nhiều hạn chế Từ xa xưa, loài người đã biết sử dụng biển

cho những mục đích khác nhau phục vụ đời sống Thuật ngữ: “kinh tế

biển” cũng ra đời gần với những hoạt động khai thác biển của con người.

Thực tế thì hoạt động kinh tế biển đã có từ khi loài người xuất hiệntrên Trái Đất, tuy nhiên do trình độ khoa học và công nghệ còn thấp, tiềmnăng của biển chưa được quan tâm đánh giá đầy đủ nên nó hoàn toàn pháttriển một cách tự phát với cơ cấu đơn điệu Dần dần nhận thức của conngười về tiềm năng biển cả ngày càng được thay đổi, khoa học kĩ thuật vềbiển đạt đến trình độ cao, con người đã tăng cường các hoạt động khôngchỉ khai thác các nguồn lợi hải sản của biển, đại dương mà còn sử dụng cảnhững nguồn lợi phi sinh vật, những nguồn lợi ở đáy đaị dương (khoángsản, bùn biển…), các nguồn năng lượng (sóng, thuỷ triều, gió, nước nặng,địa nhiệt…), tài nguyên du lịch biển, khai thác các đảo… thậm chí xâydựng cả những hòn đảo nhân tạo trên biển (như ở Nhật Bản)… từ đó tạonên tính đa dạng của các hoạt động kinh tế ở biển

Như vậy, kinh tế biển được hiểu là một phức hợp những ngành đượcphát triển và phân bố trên những dải ven biển, biển và hải đảo, dựa vào việc

sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp các tiềm năng, nguồn lợi của biển

Về cơ cấu ngành, kinh tế biển bao gồm: khai thác, nuôi trồng hải sản,

du lịch biển khai thác khoáng sản, giao thông vận tải biển,kinh tế biển,đóng tàu…

Về cơ cấu lãnh thổ, theo nghĩa rộng, kinh tế biển bao gồm: kinh tếven biển, kinh tế biển và kinh tế đảo

Trang 13

Kinh tế biển là một phức hợp các ngành kinh tế khá phức tạp cả vềphương diện ngành và lãnh thổ Kinh tế biển cùng với kinh tế đất liền làmột bộ phận hữu cơ hợp thành nền kinh tế quốc dân Nó bao gồm hệ thốngđầy đủ các phân ngành từ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải đến

du lịch, thương mại Vì vậy, kinh tế biển muốn phát triển phải có sự liênkết chặt chẽ với kinh tế đất liền, gắn với cơ sở hạ tầng trên đất liền - nơicung cấp cho biển nguồn lao động, các phương tiện kỹ thuật, nơi chế biến,tiêu thụ các sản phẩm của biển Trình độ khai thác tài nguyên biển đượcquyết định phần lớn trình độ phát triển lực lượng sản xuất trên đất liền

1.1.2 Cơ cấu kinh tế biển

Khi hiểu biết của con người về biển còn hạn chế thì hoạt động khaithác biển cũng hoàn toàn mang tính chất tự phát với sự đơn điệu về sốlượng ngành, chủ yếu là hoạt động đánh bắt hải sản mang tính chất “sănbắt, hái lượm” và hoạt động vận tải biển chưa có gì đáng nói Bằng nhữngthành tựu của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật trong đó có tiến bộ trongkhoa học nghiên cứu về biển, xuất phát từ nhu cầu về nguyên liệu cho sảnxuất và từ những vấn đề nảy sinh, con người đã tiến hành chinh phục biển

cả với những hoạt động hết sức đa dạng tạo nên một hệ thống các ngànhkinh tế biển phức tạp mà qua tổng kết của nhiều hội nghị quốc tế về biển,cấu trúc kinh tế biển được xác định gồm các chuyên ngành chính sau:

-Khai thác, nuôi trồng hải sản

Trang 14

trọng điểm, thứ tự ưu tiên là vấn đề rất quan trọng trong việc đẩy mạnhphát triển kinh tế biển.

1.1.3 Vai trò kinh tế của biển và đại dương

Trong thời đại hiện nay, khi dân số ngày càng tăng lên, quá trìnhcông nghiệp hoá - hiện đại hoá phát triển mạnh đã và đang làm cho tàinguyên trên đất liền ngày càng trở nên khan hiếm Để giải quyết những vấn

đề toàn cầu về lương thực - thực phẩm cũng như nguyên nhiên liệu và nănglượng thì nhân loại buộc phải chọn cho mình một con đường khôn ngoan

hơn là “tiến ra biển” Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật trong

những thập kỉ gần đây đã cho phép loài người có thể khai thác, sử dụngnhiều loại tài nguyên của biển và thế kỉ XXI được dự đoán sẽ thực sự là

‘‘thế kỉ của biển và đại dương”

Mặc dù biển và đại dương chiếm tứi 3|4 diện tích bề mặt trái đấtnhưng không phải quốc gia nào cũng có biển, những nước không có biển

đó là một thiệt thòi vì tiềm năng biển cả là vô cùng lớn

- Biển là cái nôi của sự đa dạng sinh học Người ta đã xác định biển

có 18 vạn loài động vật và 2 vạn loài thực vật, khả năng sản xuất của biển

và đại dương khoảng 500 tỷ tấn sinh khối/năm Theo FAO, biển có khảnăng khai thác 100 triệu tấn cá/năm, hiện nay sản lượng khai thác cá biểnhàng năm của toàn thế giới ước đạt khoảng 80 triệu tấn/năm, song thực rangười ta mới chỉ đánh cá ở 1/10 số vùng có thể đánh bắt được và chỉ đánh

cá ở lớp nước không sâu lắm Như vậy, biển vẫn còn tiềm năng rất lớn vềhải sản mà con người chưa khai thác hết

- Biển rất giàu tài ngyên khoáng sản Trong biển chứa gần như tất cả

các loại tài nguyên khoáng sản đã phát hiện trên đất liền Trong nước biển

có ít nhất 50 nguyên tố hoá học khác nhau kể cả những chất quí hiếm nhưvàng, bạc, chất phóng xạ,… Chỉ riêng về muối ăn, hằng năm biển cung cấpkhoảng một nửa sản lượng muối ăn cho toàn thế giới, nước biển còn rất sẵnkim loại Magiê (chiếm tới 99% trữ lượng của thế giới) là một kim loại rấtbền, dẻo dùng trong công nghệ sản xuất máy bay và tên lửa Dầu mỏ và khíđốt tiềm tàng dưới đáy biển một trữ lượng lớn, theo đánh giá của Việnnghiên cứu dầu mỏ Pháp, trữ lượng dầu mỏ đã thăm dò của thế giới là 95 tỷ

Trang 15

tấn, khí thiên nhiên là 98,5 nghìn tỷ m3, trong đó 26% lượng dầu và 25%lượng khí phân bố ngoài biển.

Ngoài ra, dọc ven bờ đáy biển còn phát hiện nhiều mỏ cuội kết đakim lớn tồn tại dưới dạng thể rắn và bùn nhão với trữ lượng rất lớn Các mỏven bờ bao gồm nhiều loại chủ yếu để làm vật liệu xây dựng như cát, thạchanh, đá kim cương, kim hồng thạch,… Dưới đáy đại dương có nhiều mỏcuội kết Mangan với tổng trữ lượng khoảng 400 tỷ tấn, đồng 8,8 tỷ tấn,coban 5,8 tỷ tấn, niken 16,4 tỷ tấn và nhiều kim loại khác như kẽm, chì,thiếc…

- Biển và đại dương tiềm tàng những nguồn năng lượng lớn Năng

lượng từ dòng chảy (khoảng 5 tỷ kw), sóng (khoảng 2 - 3 tỷ kw), thuỷ triều(1tỷ kw), chênh lệch (2,2 tỷ kw), chênh lệch (2,6 tỷ kw)… Đây là nhữngnguồn tài nguyên vô tận mà loài người chưa sử dụng được nhiều

- Biển và đại dương là tạo điều kiện thuận lợi để phát triển giao

thông vận tải Vận tải biển có chi phí giảm hơn rất nhiều so với các loại

hình vận tải khác Hiện nay giao thông vận tải biển chiếm giữ vai trò quantrọng trong quan hệ thương mại quốc tế, có tính chất sống còn đối với một

số quốc đảo Tổng khối lượng vận tải đường biển hiện nay đạt 16 tỷ tấn/năm chiếm 3,4 tổng khối lượng hàng hoá trao đổi của thế giới Sự hìnhthành các đường giao thông biển quốc tế còn tác động mạnh mẽ tới cụcdiện địa lý - kinh tế - chính trị và xu thế toàn cầu hoá của thế giới ngày nay

- Biển là một yếu tố quan trọng tạo ra môi trường tự nhiên Biển có

ảnh hưởng mạnh mẽ tới các yếu tố tự nhiên khác như không khí, đất đaivùng duyên hải, các sông hồ và các vịnh Biển đóng một vai trò quan trọngtrong chu trình sinh - địa - hoá tạo ra các yếu tố phục vụ cho đời sống conngười như nước, cacbon, lưu huỳnh, phốt pho, ôxi và nitơ Biển còn đóngvai trò là bộ máy tiếp ôxi cho khí quyển, nơi hấp thụ khí thải cacbon, lànguồn cung cấp liên tục và thường xuyên lượng nước ngọt Biển còn là nơihấp thụ chuyển hoá các loại chất thải mà nếu không có biển thì hành tinhcủa chúng ta sẽ ngập trong bãi rác

- Trong kết cấu lãnh thổ của môi trường biển vùng ven biển là một

bộ phận vô cùng quan trọng xét cả về tiềm năng và điều kiện kinh tế - xã hội Vùng ven biển được xác định là bàn đạp để tiến ra biển Đây là những

Trang 16

khu vực thu hút mạnh mẽ các hoạt động kinh tế của con người, trung tâmkinh tế - xã hội của thế giới, khoảng 95 % lượng cá đánh bắt của thế giớikhai thác từ các vùng ven biển, khoảng 60% dân số thế giới sống tại cácvùng ven biển, 2/3 số thành phố trên thế giới có số dân trên 2,5 triệu ngườicũng nằm ở vùng ven biển

Nguồn lợi to lớn của biển và đại dương đã khẳng định vai trò của nóđối với đời sống con người Tài nguyên biển ngày nay đã và đang đượckhai thác ngày càng mạnh phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Sự

đa dạng về các loại tài nguyên là cơ sở để hình thành và phát triển hệ thốngcác ngành kinh tế biển Hầu hết các ngành kinh tế biển là những ngànhđược xác định là mũi nhọn, là động lực của nền kinh tế các quốc gia cóbiển

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế biển.

Biển được coi là ”mặt tiền” lớn của một quốc gia Vì vậy, trong quá

trình phát triển thường chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế

- xã hội Với việc nắm bắt các lợi thế và hạn chế những khó khăn của cácyếu tố nêu trên sẽ tạo nên sự phát triển bền vững và lâu dài

1.1.4.1 Vị trí địa lý

Vị trí địa lý của lãnh thổ với đất liền, với biển, với các quốc gia trongkhu vực và nằm trong một đới tự nhiên nhất định sẽ có ảnh hưởng tớiphương hướng, chiến lược phát triển kinh tế, tới việc trao đổi và phân cônglao động ở vùng biển và ven biển

Việt Nam là một quốc gia bán đảo, nằm ở rìa phía Đông của bán đảoĐông Dương, thuộc bờ Tây Thái Bình Dương, gần trung tâm khu vựcĐông Nam Á

Với vị trí địa lý như vậy, Việt Nam nằm trong khu vực có nền kinh tếphát triển năng động nhất thế giới, đó là khu vực Đông Nam Á, lại giáp vớiTrung Quốc, gần các NIE châu Á, nằm gần Nhật Bản Trong hai thập kỷqua, đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới (từ 6% -10%) đã tạo điều kiện thuận lợi và những cơ hội lớn để các vùng giáp biển

có thể tiếp thu kinh nghiệm quý báu cho phát triển kinh tế - xã hội, đồngthời có thể tranh thủ tối đa nguồn vốn, kỹ thuật - công nghệ hiện đại từ các

Trang 17

nước trên, là thị trường quan trọng để xuất khẩu các mặt hàng đặc trưngcủa biển.

Việt Nam còn được xác định là nằm ở ranh giới trung gian, nơi tiếpgiáp giữa các lục địa (châu Á và châu Đại Dương) và giữa các đại dương(Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương), nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải

và hàng không huyết mạch của thế giới đã tạo ra những điều kiện thuận lợi

để vùng biển có thể phát triển đẩy đủ các loại hình giao thông như đường

bộ, đường sắt, đường biển,

đường hàng không và đặc biệt là điều kiện quan trọng để hình thành hệthống cảng nước sâu ven biển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Với chiều dài 3.260 km, nếu tính cả bờ biển của các đảo và quần đảotrên biển Đông thì chiều dài này còn lớn hơn nhiều Điều này đã làm chochỉ số về tính biển của nước ta đứng hàng đầu trong các nước trên bán đảoĐông Dương Tính biển đã tạo nên những cảnh trí đẹp, nên thơ, có giá trịcao về mặt thẩm mỹ du lịch ở suốt chiều dài đất nước, đặc biệt ở vùng venbiển

Tính chất biển cũng nâng cao vai trò của vùng ven biển, hải đảo vàbiển Đông trong việc phát triển tổng hợp kinh tế biển và vị trí của kinh tếbiển trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

Biển là ”mặt tiền” của Việt Nam thông ra Thái Bình Dương, mở cửa

ra nước ngoài Với bờ biển dài, bao lấy lãnh thổ ở cả 3 hướng Đông, Nam

và Tây Nam, không một nơi nào trên đất nước ta cách xa biển khoảng 500

km Vì vậy, biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng đến mọi miền đất nước

Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các trục giao thông ven biển vànối với các vùng sâu trong nội địa sẽ cho phép vùng biển nước ta trở thànhvùng trung chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu tới mọi miền của tổ quốc, thuhút cả vùng Tây Nam Trung Quốc, Lào, Đông Bắc Thái Lan vàCampuchia

1.1.4.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Ngoài yếu tố về vị trí địa lý, trong quá trình phát triển và phân bố cácngành kinh tế, biển còn chịu tác động của điều kiện tự nhiên và tài nguyênthiên nhiên, nhất là ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, du lịch, khai tháckhoáng sản

Trang 18

a Địa hình

Địa hình ở vùng biển quy định phương hướng phát triển kinh tế - xãhội Thường ở vùng biển có địa hình rất đa dạng và phức tạp, tương ứngvới mỗi dạng địa hình còn có các kiểu địa hình khác nhau

Ví dụ: địa hình ở vùng biển Việt Nam rất đa dạng và phức tạp vớigần 40 kiểu địa hình khác nhau thuộc 4 nhóm chính:

- Nhóm kiểu địa hình núi (gồm 11 kiểu): được tách ra khỏi các địa

hình khác bởi độ chênh cao trên 150 m Phần lớn núi ở ven biển là núi táisinh, được hình thành sau thời kỳ bình ổn kiến tạo, tạo thành các bề mặtbán bình nguyên rộng rãi vào thời kỳ Paleogen Các chuyển động phân dịtân kiến tạo đã dẫn tới sự thành tạo các hệ thống núi này Đối với nhóm địahình này cần có kế hoạch khai thác sử dụng một cách hợp lý, tránh nhữngtác động có hại của các quá trình ngoại sinh, đồng thời cần bảo vệ lớp phủthực vật để bảo vệ lớp phủ thổ nhưỡng

- Nhóm kiểu địa hình đồi (gồm 4 kiểu): được tách ra khỏi các địa

hình khác bởi độ chênh lệch cao từ 10 - 150 m Địa hình đồi có nguồn gốcxâm thực - bóc mòn phát triển trên các bề mặt pediment hoặc thềm sông,biển thuộc đới chuyển tiếp giữa vùng nâng và hạ Tại khu vực phía Bắc,điển hình là ven biển Quảng Ninh, địa hình đồi thường có dạng bát úp, bịchia cắt mạnh bởi có mạng lưới xâm thực dày Còn từ đèo Hải Vân trở vàothường là các dãy đồi mạng lưới xâm thực thưa có dạng máng trũng, xâmthực kéo dài Nhìn chung, nhóm địa hình này có diện phân bố khá lớn vàkhá thích hợp cho phát triển các cây công nghiệp dài ngày (chè, cà phê)hoặc cây màu Tuy nhiên, trong quá trình khai thác cần có các biện phápcanh tác hợp lý, tránh phá hủy cân bằng của trắc diện sườn, gây xói mòn,thoái hóa đất và các quá trình mương xói, nhất là đối với dạng đồi bát úp

- Nhóm địa hình đồng bằng (có 16 kiểu): gồm hai phụ nhóm là đồng

bằng tích tụ trên các trũng tân kiến tạo và đồng bằng tích tụ, tích tụ - bócmòn trên rìa miền nâng Đối với địa hình đồng bằng trên các trũng vòngtân kiến tạo là các đồng bằng delta lớn, rất thuận lợi cho phát triển nôngnghiệp, trước hết là lúa và cây công nghiệp ngắn ngày Nhưng trong quátrình khai thác, sử dụng cần đề phòng bị tái nhiễm mặn Riêng nhóm địahình đồng bằng rìa miền nâng thường

Trang 19

nhỏ hẹp, song có thể phát triển đa dạng các loại cây trồng như: cây lươngthực, cây công nghiệp, rau, màu các loại Tuy nhiên, đối với nhóm địahình này cần có các biện pháp hạn chế quá trình rửa trôi, thoái hóa đất vàchống cát bay, cát chảy

- Nhóm địa hình bãi biển và bờ (gồm 6 kiểu): chịu tác động trực tiếp

của biển thông qua giao động của mực thủy triều được xếp vào nhóm địahình bãi, bị ngập nước lúc triều lên và phơi ra lúc triều rút Trên quan điểmđộng lực, địa hình bãi còn đang ở giai đoạn hình thành, chúng có thể biếnđổi hàng năm do những đột biến như bão, nước dồn, nước rút Nhóm địahình này có khả năng nuôi trồng thủy hải sản (tôm, cá, nước lợ, rau câu )

và xây dựng các cơ sở du lịch - nghỉ dưỡng, song cần chú ý đến vấn đề cấpnước ngọt

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu tác động đanxen của nhiều yếu tố như vị trí địa lý, hoàn lưu gió mùa, sự tương tác biển

và lục địa, điều kiện địa hình, đặc điểm đường bờ biển vùng biển ViệtNam có khí hậu rất đặc sắc của chế độ khí hậu miền duyên hải với sự phânhóa rõ rệt của chế độ nhiệt và chế độ mưa ẩm

- Chế độ nhiệt: Biển Việt Nam nằm trải dài trên 15 vĩ độ nên chế độ

nhiệt bị phân hóa mạnh theo không gian và thời gian Nhiệt độ không khítrung bình năm giao động từ 230C - 240C ở phía Bắc và khoảng 260C -

270C ở phía Nam Nhiệt độ cũng có sự thay đổi rõ rệt theo mùa, vào mùađông, nhiệt độ trung bình dưới 180C, về mùa hạ trên 200C

- Chế độ gió: biển Việt Nam chịu ảnh hưởng đồng thời của gió mùa

Đông Bắc về mùa đông (từ Móng Cái tới Hải Vân), gió mùa Tây Nam về

Trang 20

mùa hè (chủ yếu từ Đà Nẵng trở vào), biển miền Trung vào mùa hè cònchịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng Tốc độ gió ở khu vực ven biểncao hơn hẳn so với khu vực nội địa.

- Chế độ mưa: lượng mưa phân bố tăng dần từ 2.000 mm/năm ở ven

biển Móng Cái đến 2.400 mm/năm ở Bắc đèo Hải Vân Từ Nam đèo HảiVân, lượng mưa giảm dần và đạt giá trị thấp nhất (800 mm/năm) tại PhanThiết, rồi lại tăng dần từ Cà Mau, Hà Tiên Cơ chế mùa mưa ở ven biểncũng rất đa dạng Mùa mưa bắt đầu muộn nhất ở ven biển Trung Bộ vàsớm dần về hai phía Bắc và Nam

Nói tóm lại, khí hậu có sự phân hóa rõ nét giữa các vùng có ý nghĩarất quan trọng trong việc chỉ đạo phát triển sản xuất nông, ngư nghiệp ởven biển Tại những khu vực khác nhau, do ảnh hưởng của các yếu tố khíhậu khác nhau nên mùa vụ sản xuất nông nghiệp cũng như mùa vụ đánhbắt và nuôi trồng thủy sản, cũng rất khác nhau

c Nước và các đặc điểm hải văn

Muốn duy trì mọi hoạt động sản xuất và cư trú cần phải có đầy đủnguồn nước ngọt nhằm phục vụ cho sinh hoạt, có sản xuất, cho tưới tiêu Nguồn nước có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng cây trồng vậtnuôi và hiệu quả sản xuất nông nghiệp; mức độ thuận lợi hay khó khăn vềnguồn cung cấp hoặc

thoát nước là điều kiện quan trọng để định vị các xí nghiệp công nghiệp.Nhiều ngành công nghiệp quan trọng ở ven biển thường được phân bố gầnnguồn nước như công nghiệp luyện kim, công nghiệp dệt, công nghiệpgiấy, hóa chất và chế biến thực phẩm Ngoài ra, các hoạt động du lịch vàdịch vụ khác cũng rất cần tới nguồn nước Ngoài ra, các đặc trưng hải vănđiển hình của vùng biển như: chế độ gió, sóng, thủy triều, dòng chảy venbờ cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế biển

Vùng biển Việt Nam có mạng lưới thủy văn khá dày đặc, trung bình

20 - 25 km đường bờ lại có một cửa sông đổ ra biển Chế độ nước vùngcửa sông ven biển rất khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt làtác động của thủy triều và đặc điểm dòng chảy mặt của lãnh thổ Hiện nay,nguồn nước mặt nhìn chung chưa bị ô nhiễm, đáp ứng được yêu cầu vềchất lượng cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Tuy nhiên, sự biến đổi

Trang 21

của nguồn nước mặt trong năm có thể chia thành hai mùa rõ rệt là mùa lũ

và mùa cạn với chế độ nước rất khác nhau

Về mùa lũ, lưu lượng dòng chảy thường chiếm 60 - 90% lượng dòngchảy cả năm, lượng nước tập trung nhanh vào lòng sông và đưa về hạ lưu

ra biển nên thường xảy ra lũ lụt, vì vậy cần tích cực phòng chống lũ lụt ởcác khu vực cửa sông

Về mùa cạn, lưu lượng dòng chảy chỉ chiếm 10 - 40% lượng dòngchảy cả năm, lượng bốc hơi lại rất cao nên thường thiếu nước nghiêmtrọng, đồng thời sẽ xảy ra hiện tượng xâm nhập mặn tại các khu vực venbiển gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, cấp nước chocông nghiệp và cho sinh hoạt

Ngoài nguồn nước nêu trên, riêng ở vùng ven biển còn có các đặctrưng hải văn điển hình của biển:

- Chế độ sóng: sóng ở vùng biển ven bờ có hướng và độ cao hợp với

trường gió hoạt động theo mùa và khi truyền vào bờ còn tùy thuộc vào địahình bờ và đáy Độ cao sóng trung bình khoảng 0,8 - 1,0 m và có xu hưởngtăng dần từ Bắc vào Nam, nhưng độ cao sóng cực đại lại giảm dần

- Chế độ thủy triều: ở vùng biển nước ta rất đặc sắc, đa dạng và có

tác động mạnh mẽ đến chế độ thủy văn của các vùng cửa sông ven biển.Tại dải ven biển có đủ 4 loại thủy triều đã được biết trên thế giới đó là: bánnhật triều đều, bán nhật triều không đều, nhật triều đều, nhật triều khôngđều Biên độ triều thay đổi rất lớn giữa các khu vực, nơi nhỏ nhất chỉ dưới0,5 m và nơi lớn nhất trên 5 m

- Chế độ dòng chảy ven bờ: đây là một trong những yếu tố hải văn

hết sức phức tạp, chúng luôn biến đổi phức tạp theo tầng và theo mùa gió,đặc biệt là ở vùng biển ven bờ Dòng chảy ven bờ là dòng tổng hợp củanhiều thành phần như dòng triều, dòng sóng, dòng chảy sông Tùy từngnơi mà mức độ ảnh hưởng của từng dòng thành phần cũng khác nhau

- Các hiện tượng hải văn bất thường khác như: bão, sóng lớn và

nước dâng trong bão, lũ và ngập lụt gây thiệt hải rất lớn cho sản xuất vàđời sống ở vùng ven biển

Nhìn chung, cần phải có sự phối hợp quản lý và điều tiết nước từnhững khu vực đầu nguồn để hạn chế bớt khả năng lũ lụt, đồng thời trữ

Trang 22

nước cho mùa khô Mặt khác, các hoạt động kinh tế dự kiến phát triển ởbiển và ven biển cần phải chú ý đến quy luật thay đổi của thủy triều, đặcbiệt là khi có bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt Đối với việc thiết kế xây dựngcác công trình biển như đề biển, công trình ngăn triều, ngăn mặn và cáccông trình khác cần đặc biệt chú ý đến các giá trị cực trị của mực nướctriều và tần suất xuất hiện của chúng để có những phương án thích hợp.

xí nghiệp công nghiệp, các khu vực tập trung công nghiệp Quỹ đất dànhcho công nghiệp và các điều kiện về địa chất công trình ít nhiều có ảnhhưởng tới quy mô hoạt động và vốn kiến thiết cơ bản

Vùng biển là khu vực chịu tác động đan xen của hàng loạt các yếu tố

tự nhiên và kinh tế - xã hội nên đất đai rất phong phú về chủng loại vàphức tạp về tính chất bởi vậy, việc khai thác, sử dụng từng loại đất cũngcần có những biện pháp phù hợp

Ở vùng ven biển Việt Nam, có 37 loại đất khác nhau thuộc cácnhóm:

- Nhóm đất cát ven biển: có thành phần cơ giới nhẹ, dễ bị rửa trôi bề

mặt và theo chiều sâu, khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng kém trongquá trình khai thác sử dụng cần lựa chọn cơ cấu cây trồng hợp lý, tăngcường thâm canh bằng các biện pháp bón tổng hợp các loại phân bón vớilượng phân hữu cơ cao và bón nhiều lần để hạn chế bớt rửa trôi, đồng thờihạn chế việc xới xáo đất để chống bốc thoát nước trong đất

- Nhóm đất mặn: có độ phì nhiêu khá và trung bình, tuy nhiên chỉ

tiêu quan trọng nhất là độ mặn, vì vậy canh tác trên loại đất này cần bố trímùa vụ hợp lý, tăng cường các biện pháp cải tạo đất mặn, kết hợp trồng lúanước với rửa mặn, cần bón nhiều phân hữu cơ để tăng tính đệm cho đất vàkhả năng chịu mặn cho cây

Trang 23

- Nhóm đất phèn: có độ chua cao do hàm lượng bazơ lớn nên cần

phải lựa chọn tập hợp cây trồng có khả năng chịu phèn cao như dứa, sắn

Áp dụng đồng bộ các biện pháp cải tạo đất như thau chua, rửa mặn, bónvôi, lân, bố trí mùa vụ hợp lý, áp dụng các kỹ thuật canh tác thích hợp

- Nhóm đất phù sa: thường là loại đất tốt nhất đối với lúa, hoa màu,

rau đậu và các cây công nghiệp nên hầu hết đã được khai thác, sử dụngvào sản xuất nông nghiệp Trong quá trình khai thác, sử dụng đất này cầnhết sức tiết kiệm đất, hạn chế việc sử dụng vào mục đích khác

- Nhóm đất xám - bạc màu: là loại đất nghèo nhưng nếu chú ý cải tạo

đất và áp dụng các biện pháp thâm canh thì vẫn cho năng suất khá

- Nhóm đất đen: đây là nhóm đất duy nhất ở Việt Nam có khoáng vật

sét mônôriônit, do đó có tính hấp thụ cation rất cao Do đất khá giàu sétnên dễ bị khô cứng, cần phải chú ý các biện pháp chống hạn cho cây

- Nhóm đất đỏ vàng: thường có độ phì nhiêu thấp, tầng đất thường

mỏng và lẫn nhiều sỏi, sạn do vậy khi khai thác cần có những biện pháptích cực để bảo vệ đất như tăng cường trồng rừng và bảo vệ rừng ở vùngven biển

e Sinh vật

Các tài nguyên sinh vật ở biển thường rất phong phú và đa dạng, là

cơ sở để phát triển các ngành kinh tế như nông nghiệp và công nghiệp Sự

đa dạng về thảm thực vật và hệ động vật là tiền đề để hình thành và pháttriển các giống vật nuôi, cây trồng, tạo khả năng chuyển đổi cơ cấu nông,ngư nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên, sinh thái

Các loại tài nguyên sinh vật ở trên cạn và cả ở dưới biển cũng có tácđộng tới sản xuất công nghiệp Rừng và hoạt động lâm nghiệp trên đất liềnven biển là cơ sở cung cấp vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho các ngànhcông nghiệp giấy, chế biến gỗ và các ngành tiểu thủ công nghiệp Sựphong phú về nguồn thủy, hải sản với nhiều loại động thực vật dưới nước

có giá trị kinh tế là cơ sở để phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy hảisản

f Khoáng sản

Khoáng sản là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên có ýnghĩa hàng đầu đối với sự phát triển và phân bố công nghiệp Khoáng sản

Trang 24

được coi là ”bánh mỳ” cho các ngành công nghiệp Số lượng, chủng loại,

trữ lượng, chất lượng khoáng sản và sự kết hợp các loại khoáng sản ở vùngbiển và ven biển sẽ chi phối quy mô, cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp côngnghiệp

Ở vùng biển và ven biển là khu vực tập trung rất nhiều loại khoángsản có giá trị như: than, dầu khí, sắt, vật liệu xây dựng đây là nhữngnguồn tài nguyên quý giá không chỉ ở hiện tại mà cả ở tương lai Tuynhiên, khoáng sản là loại tài nguyên không thể tái tạo được Chính vì vậy,việc khai thác và sử dụng hợp lý các loại tài nguyên này có ý nghĩa to lớntrong việc bảo vệ nguồn nguyên, nhiên liệu cho ngành công nghiệp, đảmbảo cho sự phát triển bền vững

Ở ven biển Việt Nam có nhiều loại khoáng sản có giá trị lớn như:than ở Quảng Ninh, sắt ở Thạch Khê (Hà Tĩnh), dầu mỏ, khí đốt ở Bà Rịa -Vũng Tàu với trữ lượng và chất lượng cao Đây là cơ sở quan trọng đểphát triển ngành công nghiệp với cơ cấu đa dạng, góp phần vào sự nghiệpCNH - HĐH đất nước

1.1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

a Dân cư và nguồn lao động

Dân cư và nguồn lao động là nhân tố quan trọng hàng đầu cho sựphát triển kinh tế biển Tùy thuộc vào các ngành, các lĩnh vực kinh tế mà

có sự đáp ứng khác nhau về chất lượng và số lượng dân cư Về cơ bản, dân

cư và nguồn lao động ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất của các ngànhkinh tế ở biển dưới hai góc độ sản xuất và tiêu thụ

- Dưới góc độ là lực lượng sản xuất trực tiếp để tạo ra các sản phẩmhàng hóa, nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng để phát triển cácngành kinh tế theo chiều rộng và theo chiều sâu Ngành nông, ngư nghiệpthường đòi hỏi nguồn lao động lớn, có sức khỏe, có kinh nghiệm trong sảnxuất; ngành công nghiệp và dịch vụ đòi hỏi lao động phải có trình độ kỹthuật cao, đội ngũ công nhân lành nghề đã qua đào tạo

- Dưới góc độ là nguồn tiêu thụ, cần quan tâm đến truyền thống, tậpquán ăn uống, quy mô, cơ cấu và thu nhập với khả năng tạo ra các loạihàng hóa đáp ứng nhu cầu của người dân Khi tập quán và nhu cầu tiêudùng thay đổi sẽ làm biến đổi quy mô, hướng chuyên môn hóa của các

Trang 25

ngành, đặc biệt là ngành công nghiệp, từ đó dẫn đến sự mở rộng hay thuhẹp không gian cũng như cơ cấu của ngành sản xuất.

Vùng ven biển là địa bàn có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển hơncác vùng khác, do vậy, đây thường là nơi tập trung dân cư đông đúc, thuhút dân cư và nguồn lao động từ nhiều nơi khác đến sinh sống Đặc biệt

với xu thế ”tiến ra biển” hiện nay, việc khai thác tài nguyên, nguồn lợi ở

biển, ven biển thường mang lại hiệu quả kinh tế cao, cùng với tốc độ đô thịhóa nhanh đã dẫn đến tình trạng dân cư và lao động ở nơi khác đến để pháttriển sản xuất làm cho dân số ven biển tăng, nhất là ở các đô thị lớn Đây

sẽ là một nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế trong tương lainhưng cũng là một gánh nặng lớn đối với dải ven biển trong vấn đề giảiquyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, nhất là các khu vựcnông thôn ven biển

b Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng có ý nghĩa quan trọng trong việc nângcao chất lượng cuộc sống cho dân cư, nâng cao năng lực sản xuất và chấtlượng sản phẩm cho các ngành kinh tế biển

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây được sự quan tâm đầu tư củaNhà nước nên hệ thống kết cấu hạ tầng ở vùng ven biển đã được hànhthành trên diện rộng, tương đối phát triển so với các vùng phía Tây và một

số vùng đồng bằng khác Đặc biệt hệ thống kết cấu hạ tầng ở các vùng kinh

tế trọng điểm và các trung tâm đô thị, công nghiệp lớn ven biển đã đượcxây dựng tương đối đồng bộ Đến nay, phần lớn các tuyến giao thông chính

ở ven biển và các trục Đông - Tây quan trọng đã và đang được nâng cấp

mở rộng, tạo điều kiện khá thuận lợi cho việc thu hút đầu tư và phát triểngiao lưu Hệ thống cảng biển đã được xây dựng ở hầu hết các địa phươngven biển, trong đó có một số cảng quan trọng làm đầu mối giao lưu chínhcủa cả nước Hệ thống cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc cũngđược nâng cấp cải tạo một bước, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu sảnxuất và sinh hoạt của dân cư

Song nhìn chung, về cơ bản cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng venbiển hiện nay vẫn còn nhiều yếu kém và thiếu đồng bộ nên phát huy hiệuquả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Mạng lưới giao thông

Trang 26

chủ yếu mới được nâng cấp, cải tạo các trục chính, chưa hoàn chỉnh; sựphát triển các cảng biển địa phương một cách tràn lan, thiếu quy hoạch, gâylãng phí rất lớn; hàng loạt các khu công nghiệp ven biển đã được thành lậpnhưng xây dựng hạ tầng chậm và thiếu đồng bộ nên hiệu quả đầu tư thấp.

Hệ thống cấp điện, cấp thoát nước nhiều nơi chất lượng chưa cao và chưađồng bộ Đặc biệt hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, kể cả hạ tầng sảnxuất, hạ tầng xã hội còn kém, lạc hậu Tất cả những tồn tại, yếu kém đó đãảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, thu hút đầu tư và tiền đề cần thiết cho sựtăng tốc phát triển trong thời gian tới

sẽ tác động đến tăng trưởng, mở rộng sản xuất, đáp ứng các chương trìnhphát triển trong nông nghiệp (nuôi trồng thủy sản, đánh bắt xa bờ ), trongcông nghiệp (khai thác các mỏ khoáng sản, xây dựng các khu côngnghiệp ), trong dịch vụ (xây dựng hệ thống giao thông, các điểm nghỉdưỡng du lịch ); đưa tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất

Khoa học và công nghệ không những tạo ra những khả năng mới vàosản xuất, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành, làm tăng tỷ trọng củachúng trong toàn ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, làm cho việckhai thác, sử dụng tài nguyên, sự phân bố các ngành kinh tế trở nên hợp lý,

có hiệu quả, kéo theo những thay đổi về quy luật phân bố sản xuất mà cònnảy sinh những nhu cầu mới, đòi hỏi xuất hiện một số ngành kinh tế vớicông nghệ tiên tiến, mở ra triển vọng phát triển của chúng trong tương lai

Hiện nay, nguồn vốn kết hợp với tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã làmcho con người có thể khai thác được những mỏ than nằm sâu trong lòng đất

mà trước đây chưa thể khai thác được; khai thác, chế biến dầu mỏ, khí đốtvới trữ lượng và chất lượng cao Trong nông nghiệp, nhờ nghiên cứu vàứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật, con người có thể hạn chế đượcnhững ảnh hưởng của tự nhiên, chủ động hơn trong hoạt động nông nghiệp,

Trang 27

tạo ra nhiều giống cây, con mới cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, tạođiều kiện hình thành các vùng chuyên canh, thúc đẩy quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa

e Đường lối, chính sách phát triển.

Đường lối chính sách phát triển kinh tế biển qua các thời kỳ lịch sử

có ảnh hưởng to lớn và lâu dài tới sự phát triển và phân bố các ngành, cáclĩnh vực kinh tế, tới định hướng đầu tư, xây dựng cơ cấu kinh tế

Ở Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác

định ”Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng

điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ X NXB CTQG 2006.Tr 225), sau đó, xác định được tầm quan

trọng của kinh tế biển, Nghị quyết Đại hội XI đã xác định rõ ” Phát triển

nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, đóng tàu, xi măng, chế biến thủy sản chất lượng cao Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, tạo thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, tạo thế tiến ra biển gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch

vụ, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao như dịch vụ xuất, nhập khẩu,

du lịch, dịch vụ nghề cá, dịch vụ dầu khí, vận tải Phát triển cảng biển, dịch vụ cảng và vận tải biển, sông - biển; phát triển các đội tàu, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển Phát triển kinh tế đảo phù hợp với

vị trí, tiềm năng và lợi thế của từng đảo” (Đảng Cộng sản Việt Nam Văn

Trang 28

kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG - Sự thật 2011 Tr

121 - 122)

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Một vài nét về hoạt động khai thác biển trên thế giới

Trên cơ sở các nguồn lợi to lớn của biển, các hoạt động kinh tế biểnhiện nay diễn ra rất sôi động Nhờ biết khai thác tốt nguồn lợi của biển mànhiều quốc gia có biển đã tạo được những bước phát triển vượt bậc, xác lập

và cũng cố vững chắc vị thế kinh tế, chính trị của mình trên trường quốc tế.Cùng với việc từng bước hiện đại hóa các ngành nghề khai thác biển truyềnthống, một số nước có tiềm lực kinh tế và khoa học kỹ thuật mạnh đang tậptrung phát triển các ngành nghề khai thác biển mới như khai thác khoángsản biển, năng lượng biển, du lịch biển và ven biển

- Ngành khai thác và nuôi trồng hải sản: đây là ngành có lịch sử lâu

đời và phát triển ở hầu hết các quốc gia có biển, sản lượng khai thác hải sảnthế giới không ngừng tăng lên, đạt trên 100 triệu tấn Theo thống kê củaFAO, hiện nay toàn thế giới có hơn 160 quốc gia làm kinh tế thủy sản,trong đó có 21 quốc gia có sản lượng đánh bắt cá biển trên 1 triệu tấn/nămthuộc châu Á, châu Âu và châu Mỹ

Sản lượng khai thác hải sản từ nửa sau thế kỷ XX cho đến nay ngàycàng tăng nhanh Các nước có sản lượng đánh bắt hải sản lớn nhất thế giới

là Trung Quốc (gần 18 triệu tấn/năm), Pêru (gần 8 triệu tấn/năm), Hoa Kỳ(5 triệu tấn/năm), Nhật Bản (4,8 triệu tấn/năm), Inđônêxia (4,3 triệutấn/năm)

Việc khai thác thủy sản quá mức ảnh hưởng lớn tới nguồn lợi thủysản Vì vậy, việc khai thác hợp lý kết hợp với bảo vệ và phát triển nguồn tàinguyên này có ý nghĩa to lớn Chính vì vậy, nghề nuôi trồng hải sản trênbiển và ven biển ở hầu hết các quốc gia có biển đang phát triển nhanhchóng và tương lai không xa sẽ đóng vai trò chủ đạo trong ngành hải sảncủa thế giới

- Ngành khai thác dầu khí và khoáng sản biển Với nhu cầu ngày

càng lớn về nguồn nhiên liệu, môi trường biển đã trở thành địa bàn quantrọng trong công việc thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản.Ngành dầu khí trên biển đã nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn,

Trang 29

đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho nhiều quốc gia Hiện nay, đã có hơn

100 nước tham gia thăm dò và khai thác dầu khí ngoài biển Hàng năm, sảnlượng dầu khí khai thác ngoài biển chiếm 25 - 30% sản lượng dầu mỏ vàkhoảng 20% sản lượng khí thiên nhiên khai thác được trên toàn thế giới,ngành công nghiệp này mang lại 138 tỷ USD/năm Ngoài ra, công nghiệpkhai thác khoáng sản trên biển hiện nay cũng phát triển mạnh mẽ, đáp ứngnhu cầu ngày càng tăng của sản xuất, đặc biệt là khai thác các khoáng sảnven biển như: than, imehit, vàng, thiếc, kim cương, rutin, zicon, uranium,cát, sỏi, đá Dự báo trong tương lai không xa, việc khai thác các mỏ kimloại dưới đáy biển sẽ chiếm vai trò rất quan trọng trong nền công nghiệpthế giới

- Ngành hàng hải: phát triển mạnh trên cơ sở một không gia rộng

lớn, không mất nhiều chi phí đầu tư Ngành này phát triển đi liền với sự giatăng của nhu cầu trao đổi, buôn bán, quan hệ giao lưu giữa các quốc gia.Hiện nay, mạng lưới đường biển quốc tế đã được hình thành dày đặc Cáctuyến đường xuyên đại dương, vòng quanh Trái Đất đã kết nối với cáctrung tâm kinh tế, các khu vực công nghiệp lớn của thế giới Đáng kể nhưtuyến Bắc Đại Tây Dương nối Châu Âu và Bắc Mỹ, Địa Trung Hải - châu

Á qua kênh Xuy-ê, thông qua kênh Panama nối châu Âu với bờ Đông Hoa

Kỳ với bờ Tây Hoa Kỳ và châu Á; đường biển Nam Phi nối châu Âu vàchâu Mỹ với châu Phi; đường biển Nam Mỹ nối châu Âu và Bắc Mỹ vớiNam Mỹ; đường biển Bắc Thái Bình Dương nối Tây Hoa Kỳ với Nhật Bản

- Trong những thập kỷ gần đây, không gian biển không chỉ dùng cho phát triển giao thông vận tải mà còn sử dụng ngày càng nhiều cho việc phát triển du lịch, nghỉ dưỡng và xây dựng các công trình trên biển Phần

Trang 30

lớn các trung tâm du lịch nổi tiếng trên thế giới hiện nay đều nằm ở venbiển và trên các đảo Hiện nay một số quốc gia đã và đang thiết lập nhữnghòn đảo nhân tạo ngoài biển để xây dựng trên đó các công trình lớn như sânbay, nhà máy luyện kim, luyện nhôm, hóa lọc dầu, khử mặn nước biển vàcác công trình khác phục vụ kinh tế và quốc phòng.

1.2.2 Khái quát về hoạt động kinh tế biển ở Việt Nam

1.2.2.1 Tổng quan chung

Đối với Việt Nam, một đất nước nằm ở rìa biển Đông, một biển lớn

có tầm quan trọng đứng thứ hai trên thế giới (sau Địa Trung Hải) và là một

bộ phận quan trọng của châu Á - Thái Bình Dương, với diện tích vùng biển

gấp ba lần diện tích đất liền, biển và các tỉnh có biển của Việt Nam là “mặt

tiền” để thông ra Thái Bình Dương, hội nhập với 10 đường hàng hải thông

thương với thị trường thế giới Nhưng suốt chiều dài lịch sử, cư dân venbiển Việt Nam khai thác nguồn lợi biển chỉ nhằm mục đích phát triển nôngnghiệp Việc lấn biển, tạo ra các làng ấp của Nguyễn Công Trứ hướng tới

mở mang thêm vùng đất trồng lúa nước Đứng trước nguồn lợi của biểnĐông, song người ta nghĩ về nền văn minh lúa nước Việc mở ra cácthương cảng giao lưu buôn bán với thương nhân nước ngoài còn rất hạnchế

Trong thời đại ngày nay, trong chiến lược hội nhập, biển ngày càngđóng vai trò quan trọng, đầu tàu trong nền kinh tế mở Đối với phía Bắc,biển đang được xem như là cửa ngõ phía Bắc thực hiện chiến lược pháttriển thương mại và đầu tư với thị trường hơn 1 tỷ người tiêu dùng củaTrung Quốc Vùng biển Trung Bộ với trục kinh tế phát triển Vinh - Huế -

Đà Nẵng sẽ ngày càng tham gia vào chiến lược phát triển hành lang Đông Tây, là các cửa ngõ thông thương với nước bạn Lào và Đông Bắc Thái Lan.Vùng biển Nam Bộ thông thương với các nước Đông Nam Á và Thái BìnhDương

-Vùng biển Việt Nam theo ranh giới hành chính cấp tỉnh bao gồm 28tỉnh và thành phố với diện tích là 136.828,8 km2 (chiếm 41,3% diện tích cảnước), dân số đến hết năm 2009 là 43.512,6 nghìn người (chiếm 50,5% dân

số cả nước) (NGTK 2009 NXB Thống Kê 2010)

Trang 31

Bảng 1.1 Diện tích, dân số của cả nước và vùng ven biển năm 2009

Km 2 % so với cả

nước

Nghìn người

% so với cả nước

41,3

3,715,613,41,27,4

43.512,6

7.498,710.090,48.780,08.162,98.980,6

50,6

8,711,710,29,510,4

Nguồn: 8

Trong những năm gần đây, thực hiện Nghị quyết 03 - NQ/TW và Chỉthị 20 - CT/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển, các cấp cácngành ở Trung ương và các địa phương có biển đã rất quan tâm đầu tư pháttriển kinh tế biển, ven biển và đã thu được những kết quả to lớn Kinh tếbiển và ven biển có bước chuyển biến rõ rệt theo hướng mở cửa mạnh rabên ngoài và liên kết với các vùng khác Tại vùng ven biển đã hình thànhmột số khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu kinh tế với công nghệkhá hiện đại; đời sống cư dân ven biển được cải thiện đáng kể Các ngànhkinh tế chủ yếu ở vùng ven biển như: dầu khí, hải sản, vận tải biển và dulịch biển đều tăng trưởng với tốc độ cao; đã và đang hình thành một sốngành kinh tế mũi nhọn, làm thay đổi đáng kể cơ cấu kinh tế dải ven biển,thúc đẩy các vùng khác trong nội địa

1.2.2.2 Thực trạng phát triển một số ngành kinh tế biển chủ yếu

a Ngành thủy sản

Đây là ngành kinh tế truyền thống, đóng vai trò quan trọng trongphát triển kinh tế và ổn định đời sống dân cư ven biển Từ năm 2000 trở lạiđây, ngành thủy sản đã có bước phát triển toàn diện cả về khai thác, nuôitrồng, chế biến, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 9,0%/năm

Trang 32

Bảng 1.2 Sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản Việt Nam giai đoạn

Biểu đồ 1.1: Sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản Việt Nam giai đoạn

Trang 33

2000 - 2009

2.250,5

3.465,9 4.197,8

4.602 4.847,6

26.498,9 38.726,9

46.932,1

50.081,9 52.798,2

0 1000 2000 3000 4000 5000 6000

Nghìn tấn

0 10000 20000 30000 40000 50000

60000

Tỷ đồng

Sản lượng (nghìn tấn) GTSX (tỷ đồng)

Tuy nhiên, hiện nay, sản lượng thủy sản khai thác chủ yếu là ở ven

bờ Hơn 70% sản lượng khai thác hiện nay ở khu vực có độ sâu từ 30 métnước trở vào, nơi chỉ chiếm gần 10% diện tích vùng đặc quyền kinh tế củanước ta Riêng khu vực gần bờ độ sâu dưới 20 mét nước là khu vực tậptrung chủ yếu của các loại cá con, là bãi đẻ chính của nhiều loại cá và đặcsản với cường độ khai thác quá lớn, nhiều nơi đã vượt qua giới hạn chophép, gây giảm sút nguồn lợi Tình trạng khai thác mang tính huỷ diệtnguồn lợi như dùng mìn, kích điện vẫn còn xảy ra ở một số địa phươngven biển Cơ sở hậu cần phục vụ nghề cá vẫn còn nhiều hạn chế và thiếuđồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành, nhất là pháttriển khai thác xa bờ

Nghề nuôi trồng thủy sản được phát triển mạnh mẽ ở khắp các địaphương ven biển đã và đang trở thành ngành sản xuất hàng hoá chính, cóhiệu quả kinh tế cao ở dải ven biển Chỉ sau 6 năm (2000 - 2005), diện tíchnuôi trồng thuỷ sản ven biển đã tăng 3,6 lần Năm 2005, toàn dải ven biển

có khoảng 609.500 ha nuôi trồng hải sản mặn lợ, trong đó, diện tích nuôitôm nước lợ là 486.000 ha, sản lượng nuôi trồng mặn lợ đạt 529.700 tấn,trong đó, sản lượng tôm nuôi đạt gần 200.000 tấn, cung cấp nguồn nguyênliệu lớn và ổn định cho công nghiệp chế biến xuất khẩu Bình quân thời kỳ

Năm

Trang 34

2000 - 2005, diện tích nuôi trồng hải sản ven biển tăng hơn 15%/năm vàsản lượng tăng hơn 30%/năm.

Ngành chế biến hải sản những năm gần đây cũng được đầu tư pháttriển cả về chất lượng và chủng loại mặt hàng phù hợp với thị hiếu tiêudùng trong và ngoài nước Đặc biệt, chế biến hải sản xuất khẩu phát triểnmạnh Năm 2000, toàn dải ven biển chỉ có khoảng 220 xí nghiệp chế biếnhải sản đông lạnh với tổng công suất 700 tấn/ngày, đến nay đã có hơn 400

cơ sở với tổng công suất khoảng 1.550 tấn/ngày, tăng bình quân 12%/năm

về số cơ sở và 18%/năm về năng lực chế biến

Nhìn chung, thời gian qua, ngành chế biến hải sản ở nước ta có nhiềuđổi mới trong thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm để có thểđứng vững và đủ sức cạnh tranh trên thị trường, từng bước hình thành mộtnền công nghiệp chế biến xuất khẩu có trình độ công nghệ cao, tiếp cận vớicác nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, các sản phẩm chế biếnhiện nay còn khá đơn điệu nên sức cạnh tranh chưa mạnh Mặt khác cácmặt hàng chế biến nội địa truyền thống còn ít được chú ý nên phát triểnchậm, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của vùng ven biển

Giá trị sản xuất thủy sản vùng ven biển ngày càng tăng, năm 2009gấp gần 1,9 lần năm 2000 (giá 1994), chiếm 79,1% giá trị sản xuất thủy sản

cả nước Tốc độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn 2000 - 2009 là 17,7%/năm

b Ngành khai thác dầu khí

Dầu khí là một trong những ngành kinh tế quan trọng nhất ở vùngbiển Việt Nam Tuy mới hoạt động 20 năm (1986) nhưng dầu khí đã trởthành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, cógiá trị xuất khẩu cao, đồng thời có tiềm lực vật chất kỹ thuật lớn và hiện đạinhất trong các ngành khai thác biển và ven biển nước ta Năm 1986 chúng

ta mới khai thác tấn dầu thô đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ, đến nay đã khai thácđược hơn 150 triệu tấn từ gần một chục mỏ khác nhau ở thềm lục địa phíaNam, trở thành nước khai thác dầu khí lớn thứ ba trong khu vực (sauInđônêxia và Malayxia) Năm 2009, sản lượng khai thác dầu khí của ViệtNam đạt 16,3 triệu tấn dầu thô và hơn 8,0 tỉ m3 khí, cung cấp cho phát điện

và các ngành công nghiệp khác phục vụ kinh tế và dân sinh; kim ngạch

Trang 35

xuất khẩu dầu thô đạt gần 6,2 tỉ USD, đứng đầu trong các mặt hàng xuấtkhẩu của cả nước

Biểu đồ 1.2: Tình hình khai thác và xuất khẩu dầu thô của Việt Nam

Sản lượng dầu thô khai thác (Triệu tấn) Sản lượng dầu thô xuất khẩu (Triệu tấn) Giá trị xuất khẩu (Triệu USD)

Hiện nay, ngoài Công ty liên doanh Vietxopetro, chúng ta đã thu hútkhoảng 50 dự án hợp tác đầu tư với các công ty dầu khí nước ngoài (kể cảmột số công ty dầu khí lớn của thế giới) trong lĩnh vực thăm dò, khai thác

và chế biến dầu khí với tổng số vốn đầu tư hàng chục tỉ USD, trong đó tỷ lệđóng góp của phía Việt Nam ngày càng tăng

Tại Vũng Tàu đã hình thành trung tâm dịch vụ dầu khí khá đồng bộ

và hoàn chỉnh, bao gồm hệ thống cảng biển cùng các công trình hạ tầng kỹthuật phục vụ thăm dò và khai thác dầu khí trên biển như: các công trìnhxây lắp dàn khoan; các cơ sở cơ khí sửa chữa, bão dưỡng, gia công, chế tạothiết bị; phân tích mẫu; xử lý các tài liệu địa chấn và địa vật lý giếngkhoan; cung ứng vật tư, thiết bị; đào tạo và cung ứng lao động Ngoài ra,tại Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh còn có các cơ sở khai thác, chếbiến đất sét, bột Barits, các loại hoá chất phục vụ khai thác và nghiên cứuthử nghiệm , đáp ứng yêu cầu thăm dò và khai thác dầu khí trên biển hiệnnay

Trang 36

Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất (Quảng Ngãi) công suất 6,5 triệutấn/năm đã được triển khai xây dựng từ gần chục năm nay nhưng do nhiềunguyên nhân khác nhau, nhất là việc thay đổi công nghệ và đối tác đầu tưnên tiến độ kéo dài, đến năm 2009 mới đưa vào hoạt động.

c Ngành du lịch

Du lịch biển là ngành có tiềm năng phát triển lớn Trên chiều dài3.260 km đường bờ biển có khoảng 125 bãi tắm lớn nhỏ phân bố khá đều

từ Bắc vào Nam, trong đó có những bãi tắm lớn với chiều dài khoảng 15

-18 km và nhiều bãi tắm nhỏ, chiều dài từ 1 - 2 km Phần lớn các bãi tắmđều có cảnh quan đẹp, điều kiện tự nhiên, sinh thái rất phù hợp cho bãi tắm

và nghỉ dưỡng Dọc ven biển còn có nhiều khu di tích, danh lam có thể pháttriển du lịch tổng hợp Đặc biệt là các di sản của Việt Nam được UNESCOcông nhận là di sản thế giới gồm: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Phong Nha

- Kẻ Bàng (Quảng Bình), Cố đô Huế (Thừa Thiên - Huế), phố cổ Hội An

và thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) đều phân bố ở dải ven biển Đây là điềukiện hết sức thuận lợi để Du lịch biển Việt Nam trở thành ngành kinh tếmũi nhọn

Hiện nay toàn vùng ven biển đã khai thác hơn 50 bãi biển vào mụcđích nghỉ mát du lịch, giải quyết việc làm cho gần 6 vạn lao động trực tiếp

và hơn 10 vạn lao động gián tiếp, trong đó ven biển miền Trung là khu vựcthu hút khách du lịch lớn nhất Số khách du lịch đến dải ven biển chiếmtrên 70% lượng khách du lịch quốc tế và gần 70% lượng khách du lịch nộiđịa của cả nước Riêng các trung tâm du lịch lớn là Quảng Ninh - HảiPhòng, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu - TP Hồ Chí Minh thu hútkhoảng 81% lượng khách quốc tế và trên 71,0% lượng khách du lịch nộiđịa của toàn dải ven biển

Trong số 10 đô thị du lịch quốc gia được quy hoạch hiện nay thì cótới 8 đô thị du lịch thuộc dải ven biển, đó là Hạ Long, Đồ Sơn, Huế, Hội

An, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên

Cùng với sự gia tăng nhanh số khách du lịch, cơ sở vật chất phục vụ

du lịch trong những năm gần đây cũng được cải thiện rõ rệt Hệ thống cáckhách sạn, nhà hàng phục vụ du lịch ở vùng ven biển tăng nhanh, góp phầntích cực và có hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu của du khách Năm

Trang 37

2000, toàn dải ven biển có 21.086 phòng khách sạn, đến năm 2004 lượngphòng khách sạn tăng lên 31.301 phòng, bình quân tăng 10,2%/ năm, trong

đó có một số khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế như: Plaza, SaiGonOmni Hetel, New Word, Rex Hotel Tuy nhiên phần lớn khách sạn du lịchtập trung ở một số trung tâm du lịch lớn Còn lại các khu vực khác cơ sởvật chất kỹ thuật phục vụ du lịch còn rất thiếu thốn

Tóm lại, thời gian qua ngành du lịch biển và ven biển tuy có bướcphát triển mạnh, đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển du lịch ởnước ta và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách Tuy nhiên, nộidung các hoạt

động du lịch còn nghèo, chất lượng thấp nên chưa phát huy tốt các tiềmnăng và lợi thế to lớn của vùng ven biển

d Giao thông vận tải biển

Trong hơn 10 năm đổi mới, ngành giao thông vận tải biển đã pháttriển khá đồng bộ cả về hệ thống cảng biển, về đội tàu và hoạt động vận tải,góp phần rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế vùng ven biểnnói riêng và kinh tế cả nước nói chung theo hướng mở cửa, đồng thời tạođiều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế khác phát triển, nhất là kinh tế đốingoại

+ Về hệ thống cảng biển: tại vùng ven biển đã hình thành hơn 80 cảng

biển lớn nhỏ (trừ cảng cá) với tổng năng lực hàng hoá thông qua hơn 100 triệutấn/năm, trong đó hầu hết các cảng lớn tập trung ở 2 khu vực ven biển Bắc Bộ vàNam Bộ Các cảng tổng hợp quan trọng do Trung ương quản lý gồm có: CáiLân, Hải Phòng, Cửa Lò, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Sài Gòn

và Cần Thơ với tổng năng lực thông qua khoảng 30 triệu tấn/năm; Các cảngchuyên dùng tiếp nhận xăng dầu gồm có: cảng B12, cảng Mỹ Khê và cảng Nhà

Bè với tổng năng lực thông qua hơn 6 triệu tấn/năm, có thể tiếp nhận tàu 2-3 vạntấn (riêng khu chuyển tải dầu Văn Phong có thể tiếp nhận tàu 30 vạn tấn); cáccảng than công suất gần 10 triệu tấn/năm có thể tiếp nhận tàu đến 5 vạn tấn

Những năm qua, hệ thống cảng biển đã đảm nhiệm việc bốc xếpthông qua hầu hết khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của ta, một phầnhàng giao lưu nội địa Bắc - Nam và bốc xếp thông qua một phần hàng quácảnh của Lào Ngoài ra, một số cảng biển còn tham gia vận chuyển hành

Trang 38

khách, phục vụ khách tham quan, du lịch bằng đường biển, hỗ trợ sự pháttriển của các ngành kinh tế khác Tốc độ tăng trưởng khối lượng hàng hoáthông qua hệ thống cảng, khối lượng hàng container cũng tăng mạnh phùhợp với xu thế container hoá trong vận tải biển của thế giới.

Bảng 1.3 Khối lượng hàng hoá thông qua các cảng biển Việt Nam do

Trung ương quản lý, giai đoạn 2000 - 2008

và cả nước

Bảng 1.4 Khối lượng hàng hoá vận chuyển và luân chuyển của ngành

vận tải biển Việt Nam giai đo n 2000 - 2009ạn 2000 - 2009

Khối lượng vận chyển (Nghìn tấn) 15.552,5 42.051,5 48.976,7 61.266,1

Trang 39

% so với toàn ngành GTVT 6,9 9,1 8,2 8,8Khối lượng luân chuyển (Triệu

và chiếm 69,3%

+ Ngoài hệ thống cảng biển, ở vùng ven biển còn có các tuyến đường

giao thông quan trọng đi qua như: đường bộ 1A, đường sắt thống nhất Bắc

- Nam, hệ thống đường hàng không… là điều kiện quan trọng làm cầu nốigiữa dải ven biển với các vùng khác ở trong nước và quốc tế

Tóm lại, hệ thống giao thông vận tải đã có bước phát triển tương đốitoàn diện, hình thành được bộ khung kết cấu hạ tầng của vùng ven biển với

hệ thống các cửa vào - ra là các cảng biển, các sân bay, nối với các mạnglưới giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường không tạothành một hệ thống các trục giao thông liên hoàn trên lãnh thổ của cả nước

Hệ thống giao thông liên hoàn đã đóng vai trò rất quan trọng cho sự pháttriển kinh tế của Việt Nam nói chung và vùng ven biển nói riêng, đặc biệt

là trong quá trình hội nhập khu vực và xu thế toàn cầu hóa hiện nay

e Ngành công nghiệp

Những năm qua, ngành công nghiệp ven biển đã đạt được nhiềuthành tựu to lớn, đóng góp đáng kể về giá trị, sản phẩm cho công nghiệp cảnước và cho xuất khẩu Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu của ViệtNam được sản xuất tại dải ven biển, trong đó có nhiều sản phẩm chiếm tỷtrọng trên 50% công nghiệp cả nước, cá biệt một số sản phẩm chiếm trên90% (luyện cán thép, chế biến hải sản), hoặc 100% (dầu khí, đóng mới tàuthuyền )

Năm 2004, tại dải ven biển có 249.410 cơ sở sản xuất công nghiệp,

gồm các ngành chính là khai thác dầu khí, than, cơ khí, sản xuất vật liệuxây dựng, may mặc, da giầy, chế biến thuỷ sản, chế biến lương thực thực

Trang 40

phẩm trong đó có khoảng 580 doanh nghiệp Nhà nước và hơn 450 doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Nhìn chung, cả thời kỳ 2000 - 2005, ngành công nghiệp ven biểnluôn đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổn định Giá trị sản xuất công nghiệpven biển tăng bình quân 12,2%/năm, gấp gần 1/2 lần tốc độ tăng trưởngcông nghiệp cả nước Trong đó, công nghiệp quốc doanh tăng 6,4%/năm,ngoài quốc doanh tăng 14,4%/năm Riêng khu vực có vốn đầu tư nướcngoài tăng mạnh, đạt 28,9%/năm cả thời kỳ, góp phần tích cực vào thúcđẩy sự phát triển ngành công nghiệp của toàn dải Mức đóng góp của côngnghiệp ven biển ngày càng tăng Năm 2000, giá trị gia tăng của ngành côngnghiệp - xây dựng ven biển chỉ chiếm 42,6% tổng GDP toàn dải, đến năm

2005 đã tăng lên 51,3%

Trong cơ cấu công nghiệp ven biển, các ngành công nghiệp chế tácchiếm tỷ trọng chủ yếu, hơn 74%, ngành công nghiệp khai thác (chủ yếu làkhai thác dầu khí và than) chiếm 21%, còn lại là các ngành khác Đáng chú

ý là ngành khai thác dầu khí có tốc độ phát triển nhanh Song công nghiệpchế biến dầu khí còn đang trong thời kỳ xây dựng nên hết sức nhỏ bé

Các ngành nghề TTCN truyền thống dựa vào tiềm năng lợi thế củabiển và ven biển cũng được phát triển đa dạng ở các khu vực nông thôn venbiển Những năm gần đây, nhờ chính sách kinh tế đổi mới, nhiều ngànhnghề TTCN đã được khôi phục và phát triển mạnh, thu hút một lực lượnglao động đáng kể, đồng thời góp phần quan trọng vào việc chuyển đổi cơcấu kinh tế nông thôn Hàng năm, giá trị sản xuất TTCN ven biển chiếmkhoảng 20% giá trị sản xuất TTCN cả nước Song một số ngành nghềtruyền thống như làm muối, trồng và chế biến cói đang có nguy cơ giảmmạnh do thiếu thị trường tiêu thụ và sức cạnh tranh kém so với các nướctrong khu vực

Về phát triển khu công nghiệp, theo quy hoạch phát triển khu côngnghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến tháng 8/2010 cả nước

có 254 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích tự nhiên là68.800 ha, trong đó có 171 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, trong đó

có 41 khu công nghiệp ở dải ven biển

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Diện tích, dân số của cả nước và vùng ven biển năm 2009 - Phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế biển ở huyện quảng xương   tỉnh thanh hóa luận văn tốt nghiệp đại học  n
Bảng 1.1. Diện tích, dân số của cả nước và vùng ven biển năm 2009 (Trang 30)
Bảng 1.2  Sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản Việt Nam giai đoạn 2005 – 2009 - Phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế biển ở huyện quảng xương   tỉnh thanh hóa luận văn tốt nghiệp đại học  n
Bảng 1.2 Sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản Việt Nam giai đoạn 2005 – 2009 (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w