1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nông thôn việt nam sau 1975 trong một số tiểu thuyết việt nam hiện đại

125 810 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nông Thôn Việt Nam Sau 1975 Trong Một Số Tiểu Thuyết Việt Nam Hiện Đại
Tác giả Hoàng Văn Tuân
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Khắc Sính
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 572 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

27] được thể hiện qua phương thức trần thuật hay việc sử dụng kĩ thuậtdòng ý thức trong xây dựng nhân vật đã làm nên nét khác biệt và do đó, có sựđóng góp nhất định vào thành tựu chung c

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp của luận văn 8

6 Cấu trúc luận văn 9

Chương 1 Tổng quan về đề tài nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam trước 1975 10

1.1 Vài nét về thể loại tiểu thuyết 10

1.2 Cơ sở lịch sử xã hội của đề tài nông thôn trong văn học và trong tiểu thuyết Việt Nam 16

1.3 Hiện thực nông thôn và số phận người nông dân trong tiểu thuyết Việt Nam 19

Chương 2 Cái nhìn mới về hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 44

2.1 Tiền đề xã hội - văn hoá và thẩm mỹ của văn học Việt Nam sau 1975 44

2.2 Cái nhìn mới về hiện thực nông thôn 52

Chương 3 Một số nhận xét bước đầu về phương thức trần thuật trong tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam sau 1975 78

3.1 Khai thác sâu các tầng, vỉa mới của hiện thực 78

3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người 84

3.3 Ngôn ngữ, giọng điệu 102

KẾT LUẬN 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Với mỗi người Việt Nam, vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nôngdân luôn là vấn đề được đặt ra dù ở bất cứ thời đại nào Điều này hoàn toànhợp lý, dễ hiểu bởi đa số người Việt Nam là nông dân hoặc có gốc gác từnông thôn

Tuy mỗi thời vấn đề này được đặt dưới mỗi góc độ khác nhau, trongtừng cấp độ khác nhau và cách giải quyết cũng không giống nhau, nhưng nóichung chưa có thời đại nào không đặt ra như một yêu cầu cấp thiết và được tất

cả mọi người quan tâm

1.2 Văn học Việt Nam nói chung, tiểu thuyết nói riêng, đã có số lượngrất lớn tác phẩm viết về vấn đề này và có khá nhiều tác phẩm thành công, gâyđược sự chú ý của công luận do đã có hướng tiếp cận sát thực, đúng đắn, pháthiện, lý giải được nhiều mặt hiện thực chính xác và bổ ích Hơn thế, các tácphẩm viết về đề tài này cũng thường được chuyển thể thành tác phẩm điệnảnh để cho quảng đại quần chúng được thụ hưởng Trong luận văn này cũng

có 2/4 tiểu thuyết mà chúng tôi lấy làm ngữ liệu khảo sát đã được dựng thành

phim truyện truyền hình Đó là phim truyện Đất và người (chuyển thể từ tiểu

thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường), Chuyện

làng Nhô (chuyển thể từ tiểu thuyết Kẻ ám sát cánh đồng của Nguyễn Quang

Thiều) và bộ phim truyện truyền hình Gió làng Kình của đạo diễn Nguyễn Hữu Phần cũng dường như là sự tiếp nối tiểu thuyết Ma làng của Trịnh Thanh Phong, Gió làng của Phùng Kim Trọng.

1.3 Bản thân chúng tôi vốn cũng sinh ra từ nông thôn, nay lại cũngđang công tác ở nông thôn Hàng ngày tiếp xúc, chứng kiến nhiều sự kiện,cảnh đời ở nông thôn và con người nông dân (trong đó có đối tượng chúngtôi đang trực tiếp quan hệ) với đủ các cung bậc tình cảm Vì thế, chúng tôicũng mong muốn qua nghiên cứu đề tài này sẽ cho chúng tôi hiểu rõ thêm

Trang 4

nông thôn, từ đó giúp chúng tôi có hiệu quả hơn trong công việc mình đangtheo đuổi.

2 Lịch sử vấn đề

Sau khúc khải hoàn ca 1975, đất nước chúng ta trở lại cuộc sống thanhbình Đây cũng là mốc lịch sử đánh dấu chặng đường mới của văn học dântộc Sau một thời gian trượt theo quán tính, văn học bắt đầu có dấu hiệuchuyển mình đổi mới đánh dấu vai trò của đường lối “cởi trói” văn nghệ củaĐảng nói chung và vai trò của những cây bút văn xuôi nhiều thế hệ nói riêngtrong cách tìm tòi và thể nghiệm sự sáng tạo của mình Sự sôi động của đờisống văn học đã tạo ra bằng chính những tác phẩm, nó đã lôi kéo giới nghiêncứu phê bình, tạo nên không khí học thuật sôi nổi “Nông thôn Việt Nam”không phải là đề tài mới, nó đã và đang lôi cuốn được nhiều người quan tâm,nên đã có nhiều công trình, bài viết đề cập đến Chúng tôi tạm chia các côngtrình này thành hai loại:

2.1 Loại đề cập đến Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 và Tiểu thuyết viết về nông thôn nói chung

GS Lê Ngọc Trà trong cuốn sách Thách thức của sáng tạo thách thức

của văn hóa (Nxb Thanh niên, 2002) đã nêu lên 4 đặc điểm của văn học Việt

Nam sau 1975 như sau:

- Đặc điểm tiêu biểu, nổi bật là tính chất phê phán Nếu trước đây trongcác tác phẩm, nhân vật chính thường là nhân vật chính diện, là người tốt thìsau 1975, nhân vật chính lại thường là “những nhân vật tiêu cực, giả dối, làm

ăn phi pháp, thấp kém về đạo đức” [tr.18] Do vậy cảm hứng chủ đạo cũngthay đổi từ nhiệt tình ngợi ca, khẳng định sang sự phê phán, châm biếm Điềunày phù hợp với những nhân vật chính được miêu tả trong các tác phẩm mà

luận văn chọn làm ngữ liệu: những Thủ, Phúc trong Mảnh đất lắm người

nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Phạm Tòng trong Ma làng của Trịnh

Thanh Phong, Khả trong Kẻ ám sát cánh đồng của Nguyễn Quang Thiều, Vũ Đình Cơ trong Đồng sau bão của Hoàng Minh Tường,…

Trang 5

- Đặc điểm thứ hai là “tinh thần phân tích xã hội và sự chiêm nghiệm

lại lịch sử” [tr.21] Nếu văn học trước đây thiên về trình bày, miêu tả lịch sử

và coi đấy là sức hấp dẫn của tác phẩm văn học thì văn học sau 1975 thiên về

sự nghiền ngẫm lịch sử, nhờ đó nó không chỉ ghi chép mà còn “soi sáng

chúng dưới nhiều góc độ khác nhau” Đọc Bến không chồng (Dương Hướng),

Chuyện làng Cuội (Lê Lựu) hay Mảnh đất lắm người nhiều ma, Kẻ ám sát cánh đồng,… ta đều thấy những đặc điếm ấy nổi lên tương đối rõ nét

- Đặc điểm thứ ba là xu hướng văn học sau 1975 “trở lại với đời

thường, với số phận riêng” [tr.25] mà những số phận của lão Khúng (Khách ở

quê ra, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu) hay lão Quềnh, bà Son trong Mảnh đất lắm người nhiều ma; chị Ló, anh Dỏ trong Ma làng,… là những ví

dụ tiêu biểu

- Đặc điểm cuối cùng là sự đổi mới “phong cách và ý thức nghệ thuật”[tr 27] được thể hiện qua phương thức trần thuật hay việc sử dụng kĩ thuậtdòng ý thức trong xây dựng nhân vật đã làm nên nét khác biệt và do đó, có sựđóng góp nhất định vào thành tựu chung của văn học sau 1975, được bộc lộqua các cây bút tiêu biểu như Bảo Ninh, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, ChuLai, Dương Hướng,…

Nhìn vào bức tranh văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng của ViệtNam sau 1975, chúng tôi thấy những đặc điểm nêu trên thể hiện khá đậm nét,trong đó tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn cũng không là ngoại lệ

Tác giả Nguyễn Văn Long trong công trình Văn học Việt Nam trong

thời đại mới khi phân tích tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng

cũng đã đánh giá: “Cùng trong một hướng chung của nhiều tác phẩm văn xuôigần đây hướng vào những vấn đề thế sự và đời tư, cuốn tiểu thuyết củaDương Hướng đưa ra nhiều số phận mang tính bi kịch của các nhân vật thuộc

mấy thế hệ” [tr 404], và “Trong Bến không chồng, Dương Hướng muốn lưu ý

người đọc đến một phương diện của xã hội nông thôn, nó chi phối đời sống

Trang 6

người nông dân không chỉ trong qúa khứ, mà cả cho đến mãi gần đây, đó là ýthức về tập quán và dòng họ (…) Nó vừa là một yếu tố góp phần củng cốcộng đồng làng xã, đồng thời cản trở nông thôn trên con đường phát triển”

[tr.404] Nhận định này, theo chúng tôi, không chỉ đúng với tiểu thuyết Bến

không chồng mà còn phù hợp với những tác phẩm viết về đề tài nông thôn

Việt Nam nói chung Đọc các tiểu thuyết Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Đồng sau bão (Hoàng Minh Tường), Ma làng (Trịnh Thanh Phong), Bão trong làng (Đỗ Văn phúc), Gió làng (Phùng Kim Trọng),… người đọc mới thấy thấm thía

tính hai mặt của ý thức về tập quán và về tộc họ đang diễn ra hàng ngày hànggiờ ở nông thôn những năm cuối thập kỉ XX đầu thập kỉ XXI Điều này làmnên nỗi ám ảnh, day dứt khôn nguôi về bi kịch số phận con người khi ở trongmột môi trường sống quẩn quanh, trì trệ, bế tắc

Nguyễn Thị Bình trong Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn Những đổi mới của

văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (khảo sát trên những nét lớn) đã nêu

lên hai xu hướng của văn học sau 1975 là “xu hướng tán thành, lạc quan,khẳng định văn xuôi thời đổi mới và xu hướng hoài nghi, bi quan, muốn phủnhận những tìm tòi mới lạ của các cây bút được xem là “mới” ở thời kỳ này.Hai xu hướng này có lúc đối lập rạch ròi, quyết liệt, có lúc dung hòa và diễnbiến thực tế vô cùng phức tạp” [tr.11] nhưng “Vài năm trở lại đây, nhiệt tìnhkhẳng định của giới nghiên cứu phê bình có vẻ trầm xuống trong khi đó xuhướng hoài nghi, bi quan, phê phán lúc trước lẻ tẻ hơn, dè dặt hơn, giờ đâynhiều thêm” [tr.11] Nhận định này cũng có điểm gần gũi với ý kiến của GS

Lê Ngọc Trà ở đặc điểm một và hai trong công trình đã dẫn trên đây

Ngoài ra, có thể lưu ý đến những ý kiến đề cập đến tiểu thuyết ViệtNam sau 1975 và tiểu thuyết viết về nông thôn nói chung trong các công trình

đã xuất bản như: Nguyễn Văn Long Tiếp cận và đánh giá văn học Việt Nam

sau Cách mạng tháng Tám (Nxb Giáo dục, 2001); Nhiều tác giả 50 năm văn

Trang 7

học sau Cách mạng tháng Tám (Nxb ĐHQG Hà Nội, 1996); Hữu Thỉnh chủ

biên Việt Nam nửa thế kỷ văn học (Nxb Hội Nhà văn); Nhiều tác giả Văn học

Việt Nam 1975 - 1985 tác phẩm và dư luận (Nxb Hội Nhà văn); Lã Duy Lan Văn xuôi viết về nông thôn - Tiến trình và đổi mới (2001),… Những công

trình này, tùy theo mục đích mà có cách tiếp cận khác nhau, quy mô và mức

độ khác nhau, sự đánh giá cũng không phải đã thống nhất với nhau,… nhưngnói chung, đã có sự quan tâm nhiều hơn đến vấn đề bộ mặt văn xuôi ViệtNam sau 1975 và thể loại tiểu thuyết viết về đề tại nông thôn trong hành trìnhchung của tiểu thuyết

2.2 Loại đề cập đến các tác giả được luận văn lấy làm ngữ liệu

Trước hết là các ý kiến quan tâm đến thời sự văn học nói chung, trong

đó ít nhiều đề cập đến các tiểu thuyết viết về nông thôn Nhìn chung, các tácgiả đều thừa nhận văn học về nông thôn nằm trong trào lưu đổi mới Mảnghiện thực này đã góp phần đắc lực làm điểm tựa “nhìn lại” về tình hình vănxuôi hiện nay Đó là thời kì văn học “hướng nội”, “thế sự”, mạnh dạn càyxới hiện thực xã hội ngổn ngang, phức tạp, thẩm định lại một số giá trị quákhứ và biểu hiện cuộc đấu tranh gay gắt giữa thiện và ác, mới và cũ, đồngthời phát hiện những nhân tố tích cực Trên con đường “áp sát hiện thực”các nhà văn nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng đã đòi quyềndân chủ cho con người “Hành trình văn học ta mấy năm qua, từ cố gắng rứt

ra khỏi số phận cộng đồng chung của cả khối đồng nhất đi đến hiện thực Xãhội ngổn ngang với những tính chất tả thực vội vã, rồi tiềp tục đi sâu vào thếgiới bên trong từng con người Cuộc hành hương vô tận, cuộc kiếm tìm khónhọc bên trong thế giới riêng từng con người Hành trình ấy không phải làmột hành trình thu hẹp dần phạm vi quan tâm của văn học,… Văn học đangtiếp cận dần trở lại với những giá trị nhân văn chung của từng thời đại”(Nguyên Ngọc) [55]

Trang 8

GS Phong Lê trong Nghiên cứu văn học đã có bài viết Tiểu thuyết mở

đầu thế kỉ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ tháng 8 - 1945 Ở đây tácgiả đã có một cái nhìn khái quát về tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đếnnhững năm sau đổi mới và đặc biệt là những cuốn tiểu thuyết mở đầu thế kỉXXI Một loạt tiểu thuyết được kể ra trên tất cả các đề tài: nông thôn, thànhthị, chiến tranh, trong đó tiểu thuyết về đề tài nông thôn được đề cập khánhiều Trong khi trình bày tiểu thuyết nông thôn của văn học thế kỉ XX tácgiả có điểm qua tiến trình phát triển của tiểu thuyết viết về nông thôn từ quákhứ đến hiện tại và cho thấy đề tài nông thôn thế kỉ XX nằm trong mạch chảycủa văn học dân tộc, trong đó có những tác phẩm nổi bật Chúng ta có thể kể

đến một số những tác phẩm trong phạm vi nghiên cứu như: Mảnh đất lắm

người nhiều ma, Ma làng, Kẻ ám sát cánh đồng, Đồng sau bão,

Đối với những bài nghiên cứu, phê bình trực diện mảng sáng tác vềnông thôn mà chúng tôi đề cập ở trên, đặc biệt có những bài viết đã khẳngđịnh được vai trò cũng như giá trị to lớn của những tiểu thuyết viết về nôngthôn trong hướng tiếp cận hiện thực mới Những bài nghiên cứu đó được lược

trích trên nhiều loại báo khác nhau: Lao động, Giáo dục và thời đại, Quân đội

nhân dân thứ bảy, các loại tạp chí văn học khác,… với những tác giả tên tuổi:

Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Ngọc Hiến, Hà Minh Đức, PhongLê,… Tuy nhiên, do đây là những ý kiến, nhận xét được lược trích nên khá sơlược, mặt khác lại nằm rải rác, phân tán nên chưa mang lại cho chúng ta cáinhìn toàn diện về tác phẩm Dù vậy, khi đọc kĩ những bài viết được tập hợp,

ta cũng có thể cảm nhận được những vấn đề cơ bản trong tác phẩm về nộidung cũng như hình thức nghệ thuật Chúng ta nhận thấy một điều là vấn đềnông thôn đang trở thành đề tài nóng bỏng trên văn đàn, nó nhận được sựquan tâm không chỉ của nhiều cây bút mà ở đây có cả vai trò của nhà văn và

nhà phê bình, nghiên cứu văn học Ví dụ, chỉ riêng tác phẩm Mảnh đất lắm

người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường cũng đã có tới mấy chục bài

Trang 9

nghiên cứu về nó được lược trích ngay sau cuốn sách Có thể dẫn ra đây một

số ý kiến thảo luận về cuốn tiểu thuyết này do báo Văn nghệ tổ chức ngày 25.1.1991 GS Trần Đình Sử viết: “Tôi đã đọc tiểu thuyết Mảnh đất lắm

người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường một cách hào hứng Cuốn sách có

sức lôi cuốn từ đầu đến cuối, nhà văn đã đề xuất một hiện tượng xã hộinghiêm trọng đáng quan tâm trong cuộc sống hiện nay là ý thức dòng họ, giatộc đang trở ngại cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới, xã hội công dân ở nôngthôn” Đồng cảm hứng này là ý kiến của GS Hà Minh Đức: “Đã nhiều nămtôi mới được đọc một cuốn sách thú vị, hấp dẫn về nông thôn (…) Nông thôn

trong Mảnh đất lắm người nhiều ma không cuộn lên trong các phong trào đấu

tranh yêu nước, cải cách, hợp tác mà sôi lên từ những nguyên nhân bên trong,những chuyện làng xóm Tác giả đã chụp được khuôn mặt đích thực” GS.Phong Lê thì cho rằng: “Cuốn sách đặt lại cho tôi nhiều điều suy nghĩ Nôngthôn và người nông dân trong cách mạng dân tộc - dân chủ, đó là đối tượngnhận thức và miêu tả trong cả một giai đoạn văn học không ngắn và vẫn còntiếp diễn (…) Cuốn sách mới của anh Nguyễn Khắc Trường đặt ra và gâyđược ấn tượng ở các vấn đề chìm và nổi, ở bề mặt và bề sâu trong sự đan xen

đó Không chỉ là chất thơ mà còn là bi kịch, và là những bi kịch gọi nhau”

GS Nguyễn Đăng Mạnh sung sướng vì “Đã lâu lắm mới xuất hiện một tác

phẩm viết về nông thôn Việt Nam theo đúng cái mạch của “Tắt đèn”, “Chí

Phèo” Có thể nói cái làng Giếng Chùa trong “Mảnh đất lắm người nhiều ma”

là sự cộng lại của cả hai cái làng Đông Xá của Ngô Tất Tố và Vũ Đại củaNam Cao” Và còn rất nhiều ý kiến khác của các tác giả Hoàng Ngọc Hiến,Trung Trung Đỉnh, Ngô Thảo, Thiếu Mai, Nguyên Ngọc, Phạm Hoa,… chothấy dư luận hết sức quan tâm và đánh giá cao tiểu thuyết của Nguyễn KhắcTrường nói riêng và các tiểu thuyết viết về nông thôn nói chung Bên cạnh đócũng cần chú ý đến các ý kiến đánh giá về Lê Lựu, Dương Hướng, NguyễnQuang Thiều của các tác giả Lê Ngọc Trà, Lê Văn Long, Trần Đình Sử,Nguyễn Thị Bình,…

Trang 10

Nhưng lại có một thực trạng khác nữa là gần đây trên văn đàn đang có

xu hướng vắng bóng dần những tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi nói chungviết về đề tài nông thôn Bởi vậy, trên những cơ sở gợi dẫn của những người

đi trước chúng tôi mong muốn được góp phần nhỏ vào nghiên cứu một số tiểuthuyết viết về đề tài nông thôn trong văn học đương đại như một sự khẳngđịnh giá trị của văn học viết về nông thôn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về nông thôn ViệtNam được phản ánh trong các tiểu thuyết Ngữ liệu văn học được sử dụngtrong luận văn là các tác phẩm:

1 Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nxb Hội

Nhà văn, 2006

2 Ma làng của Trịnh Thanh Phong, Nxb Văn học, Hà Nội, 2007

3 Kẻ ám sát cánh đồng của Nguyễn Quang Thiều, Nxb Hội Nhà văn, 2004

4 Đồng sau bão của Hoàng Minh Tường, Nxb Hội Nhà văn Hà Nội, 2005 Ngoài ra, luận văn còn tham khảo thêm các tiểu thuyết: Chuyện làng

Cuội (Lê Lựu), Bóng đêm và mặt trời (Dương Hướng), Bão trong làng (Đỗ

Văn Phúc), Bến không chồng (Dương Hướng) và một số cuốn tiểu thuyết

khác để có thêm cơ sở về diện

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu:

- Phương pháp khảo tả,

- Phương pháp phân tích, tổng hợp,

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn cố gắng khảo sát một cách kỹ lưỡng, có hệ thống để có thểchỉ ra các phương diện, phương thức phản ánh về đề tài nông thôn trong một

số tiểu thuyết Việt Nam đương đại Qua đó, bước đầu rút ra nhận xét, đánhgiá về những đóng góp cũng như hạn chế của các tác phẩm viết về đề tài này

Trang 11

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có

ba chương:

Chương 1 Tổng quan về đề tài nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam

trước 1975 Chương 2 Cái nhìn mới về hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết

sau 1975 Chương 3 Một số nhận xét bước đầu về phương thức trần thuật

trong tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1975

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT

VIỆT NAM TRƯỚC 1975

1.1 Vài nét về thể loại tiểu thuyết

1.1.1 Khái niệm

Tiểu thuyết là một thể loại ra đời muộn nhưng lại chiếm vị trí hết sứcquan trọng trong tiến trình phát triển của văn học Nó là “máy cái của vănhọc”, “là mảnh đất lưu giữ bóng hình cuộc đời và con người” Mặc dù “tiểuthuyết là công trình của châu Âu” nhưng sự phát triển của nó đã vượt ra khỏiranh giới đó và theo Milankundera thì “… tiểu thuyết là sự tiếp nối của khámphá (chứ không phải số cộng của những cái viết ra)” [54] Chính vì vậy ngay

từ buổi đầu xuất hiện, tiểu thuyết đã thu hút được sự quan tâm của các nhànghiên cứu, phê bình Song nó không phải là thể loại đã hoàn bị, với nòng cốthay nền móng đã “đông cứng” Trái lại tiểu thuyết có một “trí nhớ” thể loạisiêu việt và luôn tìm cách thoát ra khỏi các dạng thức, cái khuôn mẫu dochính nó tạo ra bằng một tính “tự phê phán tuyệt vời” không mệt mỏi “Conđường của tiểu thuyết viết ra như một lịch sử song hành của thời hiện đại”[54, 15] Vì vậy việc đưa ra một khái niệm chung nhất về tiểu thuyết là việclàm hết sức khó khăn vì tiểu thuyết là thể loại “đang sinh thành, đang biến đổihết sức mạnh mẽ ngay trước mặt trước mặt con người hiện đại” [26, 39].Những định nghĩa, những quan niệm đưa ra xét một mặt nào đó là phù hợp, làđúng tuỳ thuộc vào góc độ, điểm nhìn của người nghiên cứu và nó phát huytrong từng thể, từng loại nhất định

Ở Việt Nam, khái niệm tiểu thuyết cũng được bàn đến rất nhiều Tácgiả Phạm Quỳnh là một trong những người rất quan tâm đến tiểu thuyết Ôngcho rằng: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tìnhngười, tả phong tục xã hội hay là những sự tích lạ kì đủ làm cho người đọc

Trang 13

hứng thú hay nói cách khác, nó là một “truyện bịa đặt có thú vị” [73, 10].

Thanh Lãng trong “Bảng lược đồ văn học Việt Nam” (1967), cho rằng: “Tiểu

thuyết (roman) là một truyện tương đối dài, bịa đặt ra do óc tưởng tượngnhưng được xây dựng theo những tài liệu lấy ngay từ trong thực tế hàng ngày.Tiểu thuyết bởi vậy thường là những bức tranh phong tục là vì tác giả chủtrương về một trạng thái có thực hay tưởng như có thực của cuộc sống loàingười, đặt câu chuyện vào một khung cảnh xã hội có những đường nét, nhữngmàu sắc quen thuộc Nhưng ngoài ý nghĩa trên chữ roman của Pháp còn cóthể dùng để chỉ chung cho cả tiếng “nouvelle” và “conte” mà tiếng Việt chưa

có từ chỉ định” Tiểu thuyết có một khả năng kì diệu trong việc tả chân cuộcđời, tả chân tư tưởng người đời Nó rất khó định nghĩa vì đôi khi người ta cònxem tiểu thuyết như một “sự tổng hợp tinh thần tối cao” [54, 22], nhưng cóthể huy động cốt truyện trên cơ sở tất cả các phương tiện lí tính và phi lí; tự

sự và nghiền ngẫm và nó còn soi sáng bản thể con người Mỗi nhà tiểu thuyếtkhi nhìn nhận về tiểu thuyết chắc chắn sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào môi trường

và thời đại mình sống

Tác giả Nguyễn Xuân Nam trong Từ điển văn học đã định nghĩa: “Tiểu

thuyết là một loại hình tự sự có ít nhiều hư cấu, thông qua nhân vật, sự việc

và hoàn cảnh, thường dùng văn xuôi để phản ánh bức tranh xã hội”

Nếu truyện ngắn là một hình thức tự sự cỡ nhỏ, chỉ thể hiện một bướcngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng nhân vật và thường chỉ tập trungxoáy vào một điểm (lấy ít nói nhiều) thì tiểu thuyết là loại hình tự sự cỡ lớn,miêu tả cuộc sống trong quá trình phát triển với một cấu trúc đa diện phức tạp

mà ở đó hiện thực được mở ra cả chiều rộng lẫn bề sâu Trong Từ điển thuật

ngữ văn học, các tác giả đã định nghĩa tiểu thuyết là: “Tác phẩm tự sự cỡ lớn

có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thờigian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bứctranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái

Trang 14

hiện nhiều tính cách đa dạng” [21, 328] Trong quá trình vận động và pháttriển, diện mạo của tiểu thuyết không ngừng thay đổi Trên cơ sở rút ra từ nộihàm của những định nghĩa trên ta sẽ xác định những đặc trưng cơ bản của thểloại chưa hoàn bị này.

Đặc trưng nổi bật nhất của tiểu thuyết là “chất văn xuôi” Nếu như ở

thơ chủ yếu thể hiện cái “chất thơ” của đời sống, phản ánh cái nhìn ở mộttrạng thái thăng hoa của cảm xúc thì tiểu thuyết ưu tiên phản ánh chất “vănxuôi” của đời sống và đời sống hiện ra ở trạng thái “văn xuôi” Nó cho phépnhà tiểu thuyết đưa vào tác phẩm của mình mọi sự hỗn tạp của cuộc sống từnhững cái nhỏ nhặt, thậm chí là vụn vặt nhất Đời sống được hiện ra nguyêndạng với đầy những sắc thái thẩm mĩ Chúng ta có thể bắt gặp mọi cung bậccủa cuộc sống như nó vốn có “Cuộc sống hiện ra như ô hợp với tất cả sự trầntruồng, xấu xí, ghê tởm của nó đồng thời với tất cả vẻ đẹp trang nghiêm của

nó, trong đó người ta mổ xẻ cuộc sống bằng con giao giải phẫu” (Biêlinxki)

Ta có thể nhận thấy sự phức tạp đó trong tiểu thuyết của trào lưu hiện thựcphê phán 1932 - 1945 mà điển hình là Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng,Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,… Trong trào lưu văn học này, con người và

xã hội hiện lên với đầy đủ bản chất của đời sống thực tại như nó vốn cónhưng vẫn là “người lạ quen biết” (Biêlinxki) “Tiểu thuyết đã hấp thụ vào bảnthân mọi yếu tố bề bộn của cuộc đời, đủ khả năng phơi bày đến tận cùng sự

Trang 15

phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống” [12, 196] Do vậy tính đa dạng

về màu sắc thẩm mĩ là đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết hiện đại.

Không phải ngẫu nhiên mà thể loại tiểu thuyết lại chiếm vị trí trung tâmtrong hệ thống thể loại văn học cận đại và hiện đại Điều đó phản ánh rõ “sứcchứa”, “sức chở” của nó Một trong những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết cổđiển là dung lượng lớn, thường có kết cấu nhiều chương, nhiều hồi, số lượngnhân vật thường rất đông Cốt truyện thường tập trung vào các vấn đề mangtính lịch sử trọng đại của cả dân tộc, có tầm bao quát hiện thực trong mộtkhoảng không gian rộng lớn Chúng ta có thể nhận thấy rất rõ điều ấy trong

tác phẩm Chiến tranh và hòa bình của L.Tônxtôi, Tấn trò đời của Banzắc,

Dòng họ Ru Macca của Dôla Nếu như tiểu thuyết cổ điển nhìn cuộc sống ở

góc độ khái quát lịch sử thì tiểu thuyết hiện đại nhìn cuộc sống ở góc nhìn đời

tư Bêlinxki khi phân tích nguồn gốc của tiểu thuyết cho rằng “Vận mệnh của

con người, mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân được ý thức Vì vậyđời sống cá nhân cũng không thể là nội dung của anh hùng ca Hi Lạp, nhưng

có thể là nội dung của tiểu thuyết” Như vậy chúng ta có thể thấy rằng vấn đềcon người là yếu tố trung tâm của tiểu thuyết ở bất cứ giai đoạn nào, cái làmnên sự khác biệt của mỗi giai đoạn chính là ở góc nhìn Ở thể loại tiểu thuyếtanh hùng ca nói chung của thời kì cổ đại, vấn đề của con người cá nhân cũngđược đề cập rất rõ, các nhân vật có cuộc sống riêng, có yêu ghét giận hờn, nhưng cái nổi bật ở họ lại là con người mang trong mình sức mạnh phi thườngcủa lực lượng siêu nhiên và họ đại diện cho cộng đồng, cho lý tưởng, cho lẽphải kiểu như Đam Săn “… đầu đội khăn xếp vai mang túi da” Trong tiểuthuyết sử thi hiện đại con người được đề cập đến là con người của cộng đồng,

họ hội tụ sức mạnh của cả cộng đồng Sức mạnh ở họ không phải là siêunhiên mà nó kết tinh từ vận mệnh, từ sức mạnh của cả dân tộc tạo nên vẻ đẹp

thẩm mĩ mang tính khách quan tuyệt đối kiểu như Núp trong Đất nước đứng

lên của Nguyên Ngọc Tiểu thuyết Việt Nam nói riêng có khuynh hướng phát

Trang 16

triển gắn liền với lịch sử dân tộc, điều đó cũng không nằm ngoài xu hướngchung của văn học Việt Nam hay nói cụ thể là tiểu thuyết luôn mang trongmình hơi thở của thời đại Khuynh hướng của tiểu thuyết hôm nay là hết sứcgần với cuộc sống, đời sống riêng tư hơn và hiện lên với đầy đủ sự bộn bềnhư nó vốn có Cái thế sự và đời tư đó “không lặp lại, chưa từng có đang tươirói trong quá trình nghiệm sinh của chính nó” [26, 45]

Tiểu thuyết xoá bỏ khoảng cách giữa người trần thuật và đối tượng trần thuật Nếu như trong tiểu thuyết sử thi nói riêng nhà văn luôn đặt nhân

vật trong tọa độ nhìn ngắm không nhỏ hẹp mà đặt nhân vật bao giờ cũng ởtrên cao để nhà văn có thể quan sát, chiêm ngưỡng thì trong tiểu thuyết hiệnđại nói chung khoảng cách đó bị rút ngắn, thậm chí xoá bỏ Nhà văn có thểthâm nhập vào đời sống bên trong với những khoảng tối, sáng, cả cái phầnsâu kín nhất của mỗi con người Vì vậy việc nhìn nhận đối tượng sẽ bao quáthơn, đa diện hơn Nhà tiểu thuyết cũng có thể kể bằng nhiều giọng: suy tư sâulắng, chiêm nghiệm triết lý, cảm thông chia sẻ, hài hước châm biếm,… tuỳvào tư duy nghệ thuật và tư tưởng sáng tạo của nhà văn Nhân vật có thể ngồingang hàng với tác giả, “đối thoại” với tác giả Không những thế, thông quangôn ngữ của người trần thuật, người viết có thể bình phẩm, đánh giá vớinhân vật “trên một trường giá trị đồng đẳng” Thông qua đó đã phát huy đượcloại ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết, đây là tính “đa thanh, phức điệu”

mà Bakhtin gọi là “cái tinh thần của thể loại”

Miêu tả về suy tư của nhân vật trước thế giới và đời người cũng là một

thành tố quan trọng của tiểu thuyết bên cạnh cốt truyện và tính cách nhânvật Tiểu thuyết có khả năng đi sâu khai thác từng mảnh đời, từng góc khuấtsâu thẳm trong tâm hồn con người Suy tư của nhân vật được thể hiện mộtcách phong phú: độc thoại nội tâm, đối thoại với người vắng mặt, tâm sự quanhật ký,…

Trang 17

Nhân vật là nơi tập trung nhất quan niệm của nhà văn, thể hiện rõ tưtưởng, cách nhìn của nhà văn về thế giới Bởi thế nhân vật trong tiểu thuyếtthường là những “con người nếm trải” và “con người hoặc cao lớn hơn thânphận, hoặc nhỏ bé hơn tính người của mình” [26, 45] Đó là những con ngườiluôn suy nghĩ, day dứt, đấu tranh nội tâm trước những thử thách của cuộc đời.Con người luôn suy tư trăn trở về bản thân mình, họ biết vượt lên trên hoàncảnh để hoàn thiện, khẳng định cái phẩm giá, thiên lương Ta sẽ thấy rõ điều

đó trong các sáng tác của Nam Cao, Nguyên Hồng, Thạch Lam Do đặctrưng thể loại, các nhà tiểu thuyết thường xây dựng thế giới nghệ thuật củamình ở một toạ độ mới, mô tả thế giới như là hiện tại đương thời đang dang

dở, chưa hoàn thành “Người viết tiểu thuyết thiên về tất cả những gì chưaxong xuôi”

Tiểu thuyết là một thể loại có cấu trúc linh hoạt Trong tiểu thuyết có

thể có rất nhiều nhân vật như Chiến tranh và hoà bình (L.Tônxtôi), nhưng cũng có tác phẩm chỉ có vài nhân vật như Ông già và biển cả (Hêminguây).

Sự linh hoạt của cấu trúc không chỉ dừng lại ở số lượng nhân vật trong mộttác phẩm hay không gian, thời gian, sự kiện mà “còn có khả năng dồn nhânvật, sự kiện vào một khoảng thời gian hẹp hay khả năng đi sâu khai thácnhững cảnh ngộ riêng của nhân vật” [12, 191] Điều này ta có thể thấy trong

Sống mòn của Nam Cao, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng,… hay Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Thời xa vắng của Lê Lựu, Kẻ ám sát cánh đồng của Nguyễn Quang Thiều, Ma làng của Trịnh Thanh Phong

Sự linh hoạt đó còn thể hiện ở độ dài của tiểu thuyết cũng muôn hình vạntrạng Chính điều đó giúp tiểu thuyết có thể tái hiện đời sống trong mọi kíchthước, quy mô về cả chiều rộng lẫn chiều sâu Nhà văn Tô Hoài đã nhận rađược sức mạnh này của tiểu thuyết khi cho rằng: “Không thể cho tiểu thuyếtmột định nghĩa cố định, tiểu thuyết lúc nào cũng phát triển và biến đổi” [84,72]

Trang 18

Tiểu thuyết tổng hợp vào mình những đặc trưng, thủ pháp nghệ thuật của các loại hình khác Nó có khả năng dung nạp các hình thái nhận thức của

các lĩnh vực khoa học khác Ứng với mỗi một giai đoạn lịch sử, tiểu thuyếtluôn có một kiểu tổ chức nghệ thuật phù hợp với nhu cầu của cuộc sống và thịhiếu thẩm mĩ của thời đại Tiểu thuyết luôn có xu hướng thoát ra khỏi “bộkhung chật hẹp” để tìm cho mình những nét mới và hình thức mới Vì vậy,đổi mới là một tất yếu cho thể loại này Trong thời đại hiện nay, giữa muônvàn sự phức tạp của của cuộc sống mà bản thân con người không dễ lý giải thìtiểu thuyết lại đang làm được nhiều hơn đó là đào sâu và tiếp cận hiện thực và

lý giải nó một cách trơn tru dễ tiếp nhận Việc tìm hiểu khái niệm tiểu thuyết

và những đặc trưng của nó sẽ là cơ sở lý luận để tiếp cận đề tài hiện thực nôngthôn trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - một trong những khu vực văn học

ưa thích của đa số nhà văn đương đại Việt Nam

1.2 Cơ sở lịch sử xã hội của đề tài nông thôn trong văn học và trong tiểu thuyết Việt Nam

1.2.1 Chiến tranh là đề tài ưu tiên

Điều này xuất phát từ thực tiễn chống ngoại xâm của đất nước trongsuốt mấy nghìn năm lịch sử Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường nóirằng lịch sử của dân tộc ta gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm Chúng

ta nhìn vào văn học dân tộc sẽ thấy rất rõ Khi chữ viết chưa ra đời thì bộphận văn học dân gian cũng thể hiện rõ quá trình đấu tranh chống giặc ngoạixâm của dân tộc Những tượng đài sừng sững về những người anh hùngThánh Gióng, Bà Trưng, bà Triệu,… được nhân dân dựng lên như những biểutượng cho sức mạnh và khí thế quật cường của dân tộc Không dừng lại ở đó

mà “một nghìn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươinăm nội chiến từng ngày,…” (Trịnh Công Sơn) đã biến văn học Việt Namthành nền văn học cách mạng, đặc biệt có thể kể đến giai đoạn 1945 - 1975,

kéo dài đến 1979 Xét riêng về thể loại tiểu thuyết: Trùng quang tâm sử (Phan

Trang 19

Bội Châu), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Cao điểm cuối cùng, Vùng trời (Hữu Mai), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh) Sống trong một dân

tộc như thế thì văn học sẽ là phương tiện hữu hiệu nhất thể hiện rõ đề tài này,

nó còn trở thành vũ khí có sức mạnh phi thường

Với những thi sĩ có tấm lòng yêu nước thì nó còn là sự trăn trở trướcnỗi đau mất nước, trước thời cuộc đã “vật đổi sao dời” mà tấm lòng “ưu thờimẫn thế” chưa làm được Nhà thơ Tố Hữu đã nhận ra điều đó ở người anhhùng dân tộc Nguyễn Trãi mặc dù họ sống cách xa nhau năm thế kỉ: “Nghehồn Nguyễn Trãi phiêu diêu, Tiếng gươm khua tiếng thơ kêu xé lòng”

1.2.2 .Nhưng nông thôn là đề tài phổ biến

Nông thôn là một trong hai khu vực cơ bản của đời sống kinh tế - xã hội,đặt trong tương quan với khu vực thành thị Ở hai khu vực này có sự phân biệt

với nhau rất rõ rệt Từ điển tiếng Việt định nghĩa nông thôn là: “Khu vực dân

cư tập trung chủ yếu làm nghề nông, phân biệt với thành thị” [84, 374] Việt

Nam là quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, đó là khu vực mà điều kiện tựnhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Ngay từ buổi đầu tiên, cư dânngười Việt đã sống tập trung ở các vùng ven sông Hồng, sông Cửu Long vàlấy lúa nước làm nghề cơ bản để nuôi sống mình Một nền nông nghiệp xuấtphát từ đó và dần dần phát triển hơn về sau, kéo theo nó là quần cư nông thônxuất hiện và làng xã được hình thành Một làng xã với quá trình liên hiệp tựnguyện giữa những người nông dân lao động trên con đường chinh phục thiênnhiên để có được những vùng đất gieo trồng và chống thiên tai, lũ lụt và đặcbiệt chống giặc ngoại xâm Để làm được những kì tích đó, làng xã Việt Nam

có một truyền thống đoàn kết và có một tinh thần tự quản rất cao Nơi đó làmảnh đất giữ gìn vẻ đẹp truyền thống của cả dân tộc Làng xã nói riêng vànông thôn Việt Nam nói chung luôn giữ một vị trí quan trọng trong kết cấu xãhội Việt Nam và từ xa xưa thì đây luôn là mảnh đất màu mỡ cho nhiều loại

Trang 20

hình nghệ thuật Nông thôn không chỉ là mối quan tâm của những người làmkinh tế trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước mà còn là sự quan tâmcủa các nhà dân tộc học, lịch sử, xã hội học Không những thế, nông thôn làđối tượng mà văn học quan tâm, bởi nó là hiện thực cuộc sống, một mảnghiện thực lớn gắn bó máu thịt với mỗi người dân Việt Nam.

Một đất nước với tuyệt đại đa số là nông dân, sống chủ yếu bằng sảnxuất nông nghiệp, cho nên mọi nếp sống, sinh hoạt cho đến cách nghĩ, cáchứng xử của con người ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền kinh tế và tư duy nôngnghiệp cổ truyền Đặc điểm này sẽ in đậm trong các sáng tác văn học kể cảvăn học dân gian và văn học viết (ảnh hưởng cả hai chiều ưu điểm và hạnchế) Cho đến nay đề tài nông thôn vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền văn họcdân tộc, đề tài này phản ánh rất rõ trong văn học dân gian, đó là sản phẩm củangười dân lao động “chân lấm tay bùn” nhưng rất đỗi gần gũi quen thuộc.Cho đến nay, bộ mặt nông thôn được phản ánh trong văn học đã trở nên đầy

đủ hơn, rõ nét hơn và trở thành đề tài quen thuộc gắn bó máu thịt mỗi nhà vănViệt Nam nói riêng và với mỗi người dân Việt Nam nói chung Nhà vănNguyễn Tuân đã có lý khi cho rằng “trong mỗi nhà văn chúng ta đều có mộtanh chàng nhà quê”, Hoàng Minh Tường cũng cho rằng: “Nhà quê chính làchiếc nôi của văn hoá, khởi thủy của văn chương” Kể đến những thành tựucủa văn học Việt Nam nói chung, của tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn nóiriêng có khối lượng tác phẩm khá đồ sộ Chẳng hạn:

Trước Cách mạng tháng Tám có Hồ Biểu Chánh (Ngọn cỏ gió đùa,

Con nhà nghèo), Ngô Tất Tố (Tắt đèn), Nguyễn Công Hoan (Bước đường cùng), Vũ Trọng Phụng (Giông tố, Vỡ đê), Hoàng Đạo (Con đường sáng)

Sau cách mạng và trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ có

Nguyễn Văn Bổng (Con trâu), Đào Vũ (Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm), Chu Văn (Bão biển, Đất mặn), Nguyễn Thị Ngọc Tú (Đất làng, Buổi sáng), Ngô Ngọc Bội (Ao làng), Nguyễn Thi (Ở xã Trung Nghĩa).

Trang 21

Những tác phẩm viết về chủ đề khác nhưng lấy bối cảnh ở nông thôn:

Trên mảnh đất này (Hoàng Văn Bổn), Mẫn và tôi, Gia đình má Bảy (Phan

Tứ), Rừng U Minh (Trần Hiếu Minh), Hòn Đất (Anh Đức),…

Từ 1975 đến nay đề tài này vẫn được tiếp tục với các tác giả mới:

Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Lê Lựu (Chuyện làng

Cuội), Trịnh Thanh Phong (Ma làng), Hoàng Minh Tường (Đồng sau bão),

Nguyễn Quang Thiều (Kẻ ám sát cánh đồng), Dương Hướng (Bóng đêm và

mặt trời), Phùng Kim Trọng (Gió làng),…

Giai đoạn này cũng có những tác phẩm tuy viết về chủ đề khác nhưnglại lấy bối cảnh ở nông thôn, đề cập đến số phận con người nông thôn, chẳng

hạn: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng), Đại gia tỉnh

lẻ (Trần Văn Tuấn), Người đẹp tỉnh lẻ (Lê Quốc Minh),…

1.3 Hiện thực nông thôn và số phận người nông dân trong tiểu thuyết

1.3.1 Thời kì 1932 - 1945

Đầu thế kỉ XX, sau hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cơcấu xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi lớn Sự thay đổi này kéo theo nhữngbiến đổi sâu sắc trong ý thức và tâm lý con người Cái nền tảng vững chắc của

tư tưởng phong kiến đã được xây dựng non mười thế kỉ nay đã bị lung lay,dường như nó không còn phù hợp với thời đại mới Sự xuất hiện của một lớpcông chúng văn học mang nhu cầu văn hoá thẩm mỹ mới xuất hiện, đòi hỏimột thứ văn chương mới; một lớp nhà văn mới mang hơi thở mới vào văn họctạo điều kiện cho công cuộc hiện đại hoá trở nên mau lẹ Đến đây, văn họcthời kì này đang từng bước thoát ra khỏi hệ thống thi pháp của văn học trungđại Quá trình đó bắt nguồn từ đầu thế kỉ XX đến những năm 30 đã diễn ratrên nhiều mặt của văn học về hệ thống thể loại, thi pháp, ngôn ngữ, cáckhuynh hướng mới,…

Trong những thay đổi lớn lao đó thì cuộc cách tân về mặt thể loại đángđược chú ý nhất: thơ, kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn Văn xuôi nói chung và

Trang 22

tiểu thuyết nói riêng được nâng lên địa vị quan trọng bậc nhất trong đời sốngvăn học và nó phát triển rất mạnh Tiểu thuyết đã có những đổi mới theohướng hiện đại hoá từ nội dung đến hình thức một cách rõ rệt Mỗi một giaiđoạn văn học là một bước tiến mới của thể loại Riêng về lĩnh vực nông thôn,tiểu thuyết đã kịp thời ghi lại bộ mặt xã hội trong từng thời kì Mỗi một giaiđoạn, bức tranh nông thôn hiện lên có nét riêng không giống nhau bởi một lí

do rất đơn giản là ứng với mỗi giai đoạn đó là một hoàn cảnh lịch sử - xã hộihoàn toàn khác nhau, quan điểm sáng tác của nhà văn và thị hiếu thẩm mỹ củabạn đọc cũng tương ứng với mỗi một thời kì Một nhà tiểu thuyết đích thực làngười sáng tạo ra cho mình một vùng đất riêng biệt, độc đáo Từ những nămhai mươi của thế kỉ XX đã xuất hiện những cuốn tiểu thuyết hiện đại viết vềnông thôn Nhà văn Hoàng Minh Tường cho rằng: “Nếu chỉ bàn về văn họcViệt Nam từ khi có chữ quốc ngữ thì đoản thiên tiểu thuyết - thành tựu đầu

tiên có lẽ không ngoài Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn viết về cảnh

khốn cùng của nông thôn, ở những năm đầu tiên thế kỉ XX [87, 62] Tácphẩm này mở đầu cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Sau Phạm Duy Tốn cóthể kể đến Hồ Biểu Chánh, nhà tiểu thuyết đáng chú ý của thời kì này Tiểuthuyết của ông ghi lại được một số nét khá điển hình của người dân Nam Bộ.Tác phẩm của ông có sự kết hợp giữa cổ điển với hiện đại, có sự ảnh hưởngcủa tiểu thuyết phương Tây nhưng vẫn đậm không khí và cảnh sắc phươngNam Đó là những tác giả mở đầu cho nền tiểu thuyết hiện đại, trong thực tếthì phải đến những năm ba mươi của thế kỉ XX mới thực sự là giai đoạn sungsức của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Từ những năm ba mươi, xã hội Việt Nam bắt đầu xuất hiện một tầnglớp trí thức tiểu tư sản Đến đây thì thành thị và nông thôn bắt đầu phân hoá

rõ Đời sống xã hội có nhiều biến cố, một sự cách tân văn học diễn ra mạnh

và tiểu thuyết trở thành dòng chủ lưu trong phản ánh đời sống xã hội nhiềuphức tạp Thời kì này văn học ý thức cao hơn về trách nhiệm của người cầm

Trang 23

bút, các nhà văn đã dần xác lập quan điểm nghệ thuật, khuynh hướng thẩm mĩcủa mình Nhà văn Vũ Trọng Phụng từng nói: “Các anh muốn tiểu thuyết hãy

cứ là tiểu thuyết còn với tôi tiểu thuyết là sự thực ở đời” Nhà văn Nam Cao làngười có những quan điểm sáng tác và tuyên ngôn nghệ thuật có thể nói làmới mẻ và giàu tính nhân văn nhất Sự khác nhau trong tư tưởng và quanđiểm sáng tác dẫn đến sự phân hoá thành nhiều hướng trong nội bộ nền vănhọc Văn học 1932 - 1945 phân ra ba dòng văn học: Văn học lãng mạn, vănhọc hiện thực phê phán, văn học cách mạng Riêng tiểu thuyết viết về nôngthôn được phản ánh trong văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán làchủ yếu Tuy có sự tách bạch của lãng mạn và hiện thực vì đó là hai khuynhhướng thẩm mĩ khác nhau nhưng đó không phải là sự đối lập dứt khoát mànhiều lúc chúng chỉ là hai phương diện khác nhau của một tâm hồn nghệ sĩ.Trong thực tế văn học 1932 - 1945, hai dòng văn học này đan xen nhau và khicùng viết về đề tài nông thôn thì đều phát hiện ra và thể hiện cuộc sống cơcực, ngột ngạt của làng quê dưới ách thống trị của chế độ thuộc địa nửa phongkiến và số phận của người nông dân trong chế độ đó

1.3.1.1 Tiểu thuyết lãng mạn giai đoạn này là mảnh đất gần như chỉ

dành riêng cho nhóm Tự lực văn đoàn Đây là những nhà văn mà PGS.TSĐinh Trí Dũng gọi là: “Những kẻ ngây thơ và đầy tham vọng” [10, 13] Nôngthôn trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng khá phong phú, trong nhữngtrang viết của họ thành thị với lối sống mới vẫn được xem là đề tài trung tâm.Cái văn minh Âu hoá cặn bã mà thực dân Pháp muốn xâm thực Việt Nam đãkhông đạt được như ý muốn nhưng phần nào đã ảnh hưởng tới tầng lớp tríthức tiểu tư sản Mặt làm được của Tự lực văn đoàn là về mặt văn hoá, họ đã

có tham vọng chính đáng là phát triển văn hoá dân tộc theo hướng hiện đại,lấy phương Tây làm nguyên mẫu Trước thời kì Mặt trận dân chủ, các nhà Tựlực văn đoàn rất ít viết về nông thôn, nếu có thì họ cũng như các nhà văn lãngmạn khác, coi thường hoặc khinh khi, giễu cợt những người dân nhà quê Đến

Trang 24

thời kì Mặt trận dân chủ với vấn đề cải thiện đời sống nhân dân trở thành vấn

đề thời sự cấp bách thì Tự lực văn đoàn đã đưa những trang viết về nông thôn

vào tác phẩm của mình Trong tuần báo Ngày nay có thêm mục “Bùn lầy

nước đọng” ra sức cổ động tuyên truyền cho “Hội ánh sáng”, viết những bài

xã luận về nông thôn và nông dân Họ viết những cuốn tiểu thuyết bộc lộ khá

rõ quan điểm của mình đối với vấn đề nông dân và hiện thực nông thôn Ở

những tác phẩm này, chủ nghĩa cải lương tư sản bộc lộ rõ nét: Hai vẻ đẹp (Nhất Linh), Gia đình (Khái Hưng), Con đường sáng (Hoàng Đạo) Có nhà

văn về nông thôn, viết về nông thôn, sống với nông dân không phải là sự chạytrốn như nhân vật Duy đi tìm một sự bình tĩnh cho tâm hồn mình hay nhân vật

Doãn trong Hai vẻ đẹp đi tìm chỗ dựa vững chắc cho nghệ thuật của mình mà

xuất phát từ sự yêu thương người nông dân, đơn thuần đó là tinh thần nhậpcuộc Tinh thần nhập cuộc đó chúng ta sẽ tìm thấy rất nhiều trong lớp nhà vănthế hệ sau này Những cuốn tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn nhằm vạch ra

“con đường sáng” cho người trí thức giàu có đi về nông thôn kinh doanh đồnđiền theo lối “văn minh” để một mặt hưởng cái cảnh sắc thi vị của thôn quê,mặt khác thi hành những biện pháp “làm giảm bớt đau khổ” cho tá điền: giảmthuế, mở chợ, mở trường học, bỏ hủ tục Như vậy họ muốn đưa một giảipháp cho vấn đề xã hội cơ bản được đặt ra lúc bấy giờ là cải thiện đời sốngcho nhân dân Dường như các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đang bănkhoăn về cuộc sông tối tăm cực khổ của nông dân Họ thấy nông dân bị bóclột, bị hà hiếp, đói rách, thất học và “đem những người sống trong thảm kịch

kia đến những cuộc đời êm đẹp” (Con đường sáng) Trong Mái nhà tranh,

Thu cảm thấy “họ cơ cực mới có tiền để xa xỉ”, đó là một sự bất công Tronghoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, trước cảnh nông dân bị đè nặng bởihai tầng áp bức đến tàn tệ thì những tư tưởng của Tự lực văn đoàn về ngườinông dân là tiến bộ Họ đã đặt vấn đề cải cách mong đem lại cuộc sống tốtđẹp hơn cho nông dân Đưa nông thôn vào văn học và đề ra những giải pháp

Trang 25

để cải thiện cuộc sống, chính là tư tưởng tiến bộ của những nhà văn mangtrong mình dòng máu của giai cấp tư sản Trong những trí thức văn nghệ sĩTây học của Tự lực văn đoàn nổi lên sự độc đáo của nhà văn Trần Tiêu vì ôngsống gắn bó với nhà quê và tự đảm nhận việc miêu tả trực tiếp và tỉ mỉ đờisống nông thôn Tiêu biểu cho những tác phẩm của ông về nông thôn là tiểu

thuyết Con trâu (đăng trên báo Ngày nay từ số 140 ra ngày 10/12/1938, sau

đó in thành sách của Nxb Đời nay năm 1940) Tác phẩm kể về cuộc đời vất

vả của người nông dân (bác Chính) với mơ ước khá đơn giản nhưng khó thựchiện được: đủ ăn đủ mặc Trần Tiêu đã đi thẳng vào thực tế đời sống với tất cảcác góc cạnh của nó, với tâm thế của người con nơi làng quê, những hủ tục và

lề thói bảo thủ, gò bó chân tay của người dân quê được phản ánh sắc nét.Không những thế, tác phẩm còn thể hiện những truyền thống tốt đẹp của làngquê Cổ Am nói riêng cũng như của xã hội Việt Nam nói chung bao đời nay đólà: trai thì học hành và đánh giặc; gái thì canh cửi và đảm đương việc giađình, tất cả tạo nên môi trường sống màu nhiệm và tròn trịa Trần Tiêu với

tiểu thuyết Con trâu đã làm nên sự khác biệt với chất lý tưởng của Hoàng Đạo trong Con đường sáng, chất thơ mộng của Thạch Lam trong các truyện

ngắn Nhà văn Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Nếu muốn tìm những việc oái oăm,

những cơ mưu lắt léo trong Con trâu người ta sẽ không bao giờ thấy cả Ở

tập truyện này chỉ diễn ra rặt những việc bất thường trong luỹ tre xanh,những việc hàng ngày của dân quê Việt Nam” Còn nhà văn Kim Lân chorằng: “Tác giả này khai thác những nét bình dị, chân thật của nông thôn,

không thi vị hoá, cũng không nặng về trần tục Tôi rất thích tác phẩm Con

trâu của Trần Tiêu Con trâu là đầu cơ nghiệp Xoay quanh chuyện con trâu

thực chất là chuyện con người”

Tuy nhiên chủ trương “cải cách xã hội trong phạm vi pháp luật” củanhóm Tự lực văn đoàn là ảo tưởng Bởi vấn đề nông dân trong xã hội thuộcđịa nửa phong kiến Việt Nam những năm 1932 - 1945 gắn liền với vấn đề dân

Trang 26

tộc Dân tộc có độc lập thì dân cày mới có ruộng Tư tưởng “Con đường

sáng” của Tự lực văn đoàn phải cần cả một quá trình lâu dài, chứ không phải

là lối cải lương ngày một ngày hai Chẳng qua là tiểu thuyết Tự lực văn đoànchỉ thay thế những tên địa chủ phong kiến bằng những tên địa chủ tư sản hoá.Tính chất cải lương của Tự lực văn đoàn thời kì này ở khía cạnh nào đó làphản động vì họ đề cao địa chủ, khuyên nông dân an phận, biến địa chủ - kẻthù của nông dân thành ân nhân, thủ tiêu đấu tranh giai cấp, mặc dù chúng ta

không khước từ tư tưởng dân tộc kín đáo thể hiện trong tiểu thuyết Người

quay tơ (Nhất Linh) Trong khi Đảng ra sức kêu gọi thức tỉnh tinh thần giai

cấp công - nông để đưa họ vào cuộc đấu tranh dành tự do cơm áo thì thôngqua việc tưởng tượng của các cô, cậu điền chủ vừa đẹp người vừa tốt bụnghiện lên như những nàng tiên, ông bụt cứu vớt dân cày, những tác phẩm ấy

lại kêu gọi nông dân đoàn kết với địa chủ và dựa vào địa chủ để “giải phóng”

mình ra khỏi “bùn lầy nước đọng”

Không những thế ở nhiều trang viết, nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực

văn đoàn còn miệt thị nông dân Trong Đoạn tuyệt, Dũng cho rằng nông dân

chỉ quen với cảnh khổ, cuộc sống tối tăm “không hề khao khát một cuộc đờisáng sủa hơn, mong ước một ngày mai tươi đẹp hơn ngày hôm qua”, đã có lúcDũng nghĩ “dân là nước Yêu nước chính là yêu chung đám thường dân, nghĩđến sự đau khổ của đám thường dân” Tất nhiên là với thái độ của kẻ đứngtrên nghiêng mình xuống để “hoà với đám dân không tên không tuổi”! Doãn

trong Hai vẻ đẹp cho rằng “xã hội dân quê bao giờ cũng nghèo xơ xác như

bây giờ…không có chút hi vọng gì về một sự thay đổi hoàn toàn và kịch liệtnhư một trận gió nổi lên thổi sạch hết bụi cát, rơm rác, Đó là một thái độ coithường lẫn khinh khi, giễu cợt Ngoài ra các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàncòn tỏ thái độ ban ơn, cái ơn của kẻ bề trên đối với kẻ dưới, thấp cổ bé họng.Lòng thương hại đó không đi xa hơn chủ nghĩa cá nhân và nó cứ luẩn quẩntrong vòng cái “tôi” nhỏ bé Có thể nói rằng, vấn đề nông thôn và người nông

Trang 27

dân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cần phải nhìn nhận lại và đặt nó ở nhiềugóc độ trong nghiên cứu, nhưng ở đây ta chỉ thấy rằng đó là cái nhìn phiếndiện và lệch lạc nghiêm trọng Do họ đứng trên lập trường của giai cấp tư sảnnên còn nhiều hạn chế khi khai thác đề tài nông thôn Sự ảnh hưởng của vănhọc vô sản thế giới và sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng trong nước sẽdẫn tới sự ra đời của những trào lưu văn học mới tiến bộ hơn.

1.3.1.2 Nông thôn trong tiểu thuyết hiện thực phê phán có thể nói là

sâu sắc hơn, phản ánh được bản chất của cuộc sống thôn quê với bao biếnđộng dữ dội Mặc dù cũng thuộc ý thức hệ tư sản nhưng dòng văn học hiệnthực phê phán có nhiều điểm tiến bộ Nó đã thoát ra khỏi quan điểm “nghệthuật vị nghệ thuật” và đặt ra quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” Các nhàvăn của dòng văn học này đã biết quan tâm đến đời sống xã hội và đặt ranhững vấn đề nóng bỏng Đây là thời kì xã hội Việt Nam phân hoá mạnh mẽ,

có những mâu thuẫn gay gắt nhất và khu vực thực sự được quan tâm nhất, đểlại dấu ấn đậm nhất chính là nông thôn Các nhà văn hiện thực nổi tiếng nhưNgô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng đã để lại nhiềutác phẩm thực sự có giá trị về nông thôn Tập hợp lại đó là bức tranh tiêubiểu, sắc nét và hầu như bao quát được thực trạng của nông thôn Việt Namtrước Cách mạng tháng Tám, đó là hình ảnh thực nhợt nhạt, ảm đạm sau luỹtre xanh vốn dĩ đã yên bình bao thế kỉ Đây là nơi diễn ra bao thảm cảnh,nhiều “bước đường cùng” Đó là một nông thôn với nhiều hủ tục hà khắc

nhiêu khê và thật ngột ngạt Ngô Tất Tố trong Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan trong Bước đường cùng đã trình bày những mâu thuẫn đối kháng giữa nông

dân với bọn địa chủ, quan lại và miêu tả cái cuộc đấu tranh giai cấp tự phátcủa họ Ngòi bút Nguyễn Công Hoan tỏ ra sắc sảo khi tố cáo bọn nhà giàu ởthôn quê tham lam vô độ, những bọn hào lí kì mục sâu mọt, hống hách, ănbẩn; những bọn quan lại coi việc đục khoét là hành động khôn ngoan “bất độc

bất anh hùng” được thể hiện sinh động trong Tranh tối tranh sáng, Hỗn canh

Trang 28

hỗn cư Nhưng đến Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng thì những cuộc đấu tranh của

nông dân đã đi vào tổ chức Với trào lưu văn học hiện thực phê phán thì ba

tác phẩm tiêu biểu Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), Vỡ đê (Vũ Trọng Phụng) đã đưa nông thôn và hiện thực nông thôn vào

văn học với tư cách là vấn đề chính Sở dĩ văn học hiện thực phê phán lúcnày phát triển mạnh mẽ bởi nó có những điều kiện từ trong đời sống chính trị

- xã hội Bản chất xấu xa của chủ nghĩa tư bản bị bóc trần, cuộc sống đau khổ

bi đát đẩy nhân dân lao động đến sự tự giác trong đấu tranh quyết liệt Ngườitrí thức tiểu tư sản cảm thấy thấm thía hoàn cảnh xã hội chà đạp lên nhânphẩm, lương tri của con người Họ cảm thấy cái cách “cải lương”, cách chốngđối lại xã hội của văn học lãng mạn là không thích hợp nữa mà cần có mộtthứ văn chương sắc lạnh hơn, hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy đấu tranh củaquần chúng lao động chống lại bọn bóc lột Để làm được nhiệm vụ phản ánhthực tế phong phú của thời đại và tham gia vào cuộc đấu tranh chung, văn họchiện thực đã sử dụng một số thể loại có khả năng phản ánh cuộc sống sâu sắc

và rộng lớn, trong đó tiểu thuyết là thể loại được ưu tiên và trở thành tiêu biểunhất cho thời kì này Tiêu biểu nhất vì nó chiếm số lượng lớn, đồng thời dunglượng phản ánh cuộc sống cũng rộng hơn so với các thể loại khác Đi sâu vào

đề tài nông thôn, các nhà văn đã bóc trần bộ mặt của xã hội thực dân nửaphong kiến Vấn đề mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ được đặt lên hàngđầu, họ thấy được bức tranh đối lập hai gam màu sáng tối, thấy được cuộc đờitủi nhục của người nông dân “bị tước mất cơm áo và sau đó bị tước mất nhânphẩm” (C.Mác) Nông dân, nông thôn là nạn nhân của xã hội đầy rẫy nhữngbất công tàn bạo Một loạt tiểu thuyết ra đời của các nhà văn tiến bộ đã phảnánh rõ nét đời sống nông thôn và số phận người nông dân Một nông thôn oinồng ngột ngạt, bế tắc, ở đó diễn ra cảnh sưu cao thuế nặng, phải bán con, bán

chó trong tác phẩm Tắt đèn (Ngô Tất Tố) Theo Phan Cự Đệ: “Tắt đèn là một

bản tố khổ chân thật sâu sắc, chan hoà nước mắt và lòng căm phẫn của hàng

Trang 29

triệu nông dân nghèo bị bóc lột” [14, 71] Và đây là ý kiến nhân xét của nhà văn cùng thời về tác phẩm Tắt đèn: “thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội, hoàn

toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là “kiệt tác, tùng lai chưa từng

thấy” (Vũ Trọng Phụng) Thành công lớn nhất của Ngô Tất Tố trong Tắt đèn

là đã xây dựng được một điển hình nông dân đẹp đẽ, sinh động Đảm đang,chung thuỷ, giàu lòng hi sinh, giàu tinh thần lạc quan, hiền lành yêu thươngmọi người nhưng lúc cần có thể sống mái, quyết liệt với kẻ thù, đó là hình ảnhchân thật của người phụ nữ nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc Cùng với

các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng, tác phẩm Tắt đèn

của Ngô Tất Tố làm thành bộ ba bức tranh về tấn bi kịch lớn của nông thônViệt Nam dưới ách thống trị thực dân phong kiến Măc dù Vũ Trọng Phụng

hết lời ca ngợi Tắt đèn là “kiệt tác, tùng lai chưa từng thấy” nhưng có lẽ ông

là người đóng góp nhiều nhất cho thể loại tiểu thuyết trong những năm trước

1945 Nếu như Ngô Tất Tố dồn nhân vật vào không gian hẹp, phong bế, mộtthời gian ngắn ngủi, căng thẳng nhằm tạo ra một không khí ngột ngạt khiếnnhân vật phải phản kháng quyết liệt thì Vũ Trọng Phụng lại tạo ra một khônggian mở, một không gian rộng lớn bao quát từ thành thị đến nông thôn: từcảnh Âu hoá ở khách sạn Bồng Lai đến cảnh vỡ đê lụt lội ở nông thôn Cácnhà tiểu thuyết lúc này đã phát huy hết sức mạnh, dốc hết tài năng sinh lực đểphản ánh những mặt đen tối ở nông thôn Có thể nói đời sống nông thôn và sốphận người nông dân trong văn học hiện thực phê phán đã được nhìn mộtcách khác, tiến bộ hơn so với cách nhìn của văn học lãng mạn và nó đi sâuvào bản chất của đời sống hiện thực

Đọc tiểu thuyết Tắt đèn chúng ta bị ám ảnh bởi tiếng thúc thuế dồn dập

của một làng quê xơ xác Làng quê vào mùa sưu thuế đã đẩy người nông dânvào cảnh cùng quẫn, chịu những sưu thuế bất công Hình ảnh chị Dậu hiện lêntrong tác phẩm là nạn nhân đau khổ của bọn cường hào, bọn quan lại thamnhũng, dâm ô, những chính sách thuế khoá hà khắc của chế độ thuộc địa nửa

Trang 30

phong kiến Cảnh chị Dậu chạy ra trong đêm tối đen như tiền đồ của chị cómột sức tố cáo mạnh mẽ cái xã hội đã dồn ép người nông dân vào cuộc sống

bế tắc Vũ Trọng Phụng lại khác, ông chủ trương về một loại “văn học xã hộingày nay” và ông tìm thấy ở thể loại phóng sự, tiểu thuyết “một thứ hình thểcủa văn chiến đấu mà lại công hiệu nhất” Trong tám tiểu thuyết mà ông để

lại, chúng ta thấy có hai cuốn nổi lên vấn đề nông thôn là Vỡ đê và Giông tố, đặc biệt là Vỡ đê Trong Vỡ đê nạn nhân của chế độ cũ không phải chỉ một vài

người lẻ tẻ mà cả hàng loạt người bị bần cùng hoá Họ phải bỏ làng ra đi kiếm

ăn với những manh chiếu rách, những khăn nải sau lưng, cảnh “người gánhhai cái thúng trong mỗi thúng có một vài đứa bé, trong mỗi đứa bé có vài bangày đói khát”, hay cảnh những đứa bé trần truồng chửi nhau vì một quả sungxanh, vài ngọn rau Đó là những cảnh xảy ra hàng ngày ở nông thôn, nhưng

chưa bao giờ được phản ánh đầy đủ, trung thành như trong Vỡ đê Tư tưởng

“vị nhân sinh” mà nhà văn Vũ Trọng Phụng muốn nói chính là xuất phát từlợi ích của người nghèo khổ, của quảng đại quần chúng nhân dân Đến NamCao thì chủ nghĩa hiện thực phê phán đã được tư tưởng hoá trong sáng tạonghệ thuật của nhà văn Sáng tác của nhà văn đã có sự phân chia ranh giớigiữa hai đề tài: đề tài về trí thức tiểu tư sản và đề tài về người nông dân Ông

là nhà văn rất có ý thức về nghề nghiệp và trách nhiệm của người cầm bút.Nam Cao luôn tự đề ra cho mình những nguyên tắc sáng tác, những yêu cầu

về nghệ thuật “văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làmtheo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biếtđào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gìchưa có” Những nhà văn hiện thực phê phán: Nguyễn Công Hoan, Vũ TrọngPhụng, Hồ Biểu Chánh, Nam Cao,… đã đi sâu vào mọi ngõ ngách của hiệnthực, mỗi sáng tác của họ là một nét chấm phá để hoàn thiện bức tranh đờisống của người nông dân và cả những giá trị văn hoá, tinh thần của mảnh đấtnông thôn Việt Nam Các nhà văn còn phản ánh được mâu thuẫn đang diễn ragay gắt trong xã hội, lật tẩy bộ mặt thống trị, chỉ cho người nông dân thấy rõ kẻ

Trang 31

thù của mình và gieo vào lòng người một tinh thần phản kháng mạnh mẽ, đồngthời phát huy được vẻ đẹp của người nông dân, yêu thương họ như nhữngngười cùng cảnh Đó là điều mà các nhóm Tự lực văn đoàn chưa làm được.

Bên cạnh những đóng góp không thể phủ nhận thì ở mảng đề tài vềnông thôn và người nông dân, dòng văn học hiện thực phê phán còn có nhữngmặt hạn chế Các nhà văn mới chỉ dừng lại ở đồng cảm, thương yêu, đồngtình, bênh vực và tố cáo, phê phán chứ chưa tìm ra cách đem lại no ấm, hạnhphúc cho người nông dân Chỉ rõ hận thù nhưng không tìm được con đườngđấu tranh đúng đắn để rồi nhân vật của họ vẫn rơi vào bế tắc hoặc là tìm đếncái chết, hoặc cam chịu cuộc sống nô lệ Nông thôn trong con mắt của các nhàvăn hiện thực lúc bấy giờ chỉ là bức tranh xám xịt, đen tối Người nông dânchỉ là nạn nhân đau khổ, bất lực, chứ chưa phải là lực lượng có khả năng giảiphóng mình, nếu có thì cũng chỉ là mờ nhạt Nông thôn đến đây hầu như bếtắc và bi quan Sự bế tắc và bi quan đó của dòng văn học này một phần nằm ởthời đại và về mặt giai cấp Vai trò của nhà văn vẫn ở vị trí là người quan sátchứ chưa thực sự nhập cuộc, lập trường tư tưởng vẫn thuộc về giai cấp tiểu tưsản, một giai cấp chưa ổn định, còn bấp bênh, giao động Văn học trước Cáchmạng tháng Tám nói chung và tiểu thuyết trước cách mạng nói riêng xét ởmặt nào đó còn phiến diện Có thể do văn học chưa có ngọn đuốc chỉ đường,

sự đa dạng về phong cách và nội dung của những tác phẩm trong giai đoạnnày một phần nằm ở ý thức sáng tạo biệt lập của riêng từng nhà văn và với lậptrường riêng của giai cấp mình Theo chúng tôi, nhà văn không chỉ là “thư kítrung thành của thời đại” một cách máy móc mà còn phải là nhà tư tưởng cảitạo xã hội Mặc dù Đảng cộng sản Việt Nam ra đời từ năm 1930 và đã có mộtdòng văn học cách mạng song song tồn tại, nhưng mãi sau Cách mạng thángTám thì ánh sáng của Đảng mới thức tỉnh triệu triệu con người Việt Nam.Văn học lúc này đã tiên phong trong việc phản ánh những đổi thay sau cáchmạng mà đề tài nông thôn và người nông dân là mảnh đất màu mỡ nhất

Trang 32

vị và sinh mệnh chính trị của họ khác rất nhiều so với thời kì trước Nhưngtrong quá trình xây dựng nông thôn mới vẫn còn những vấn đề xã hội, nhữngmặt tiêu cực cản trở bước phát triển và gây ra nhiều nhức nhối Trong sựnghiệp chung của cách mạng, văn học là một bộ phận, là hoạt động tinh thầnphong phú và hiệu quả đối với cuộc đấu tranh và phát triển xã hội Đóng vaitrò lớn lao nhất của hoạt động tinh thần ở đây không ai khác chính là nhữngthế hệ nhà văn Việt Nam, trong đó có hai bộ phận: lớp nhà văn trưởng thành

và “lột xác” cùng với cách mạng và lớp nhà văn mới mang sự sống và hơi thởcủa thời đại Họ cùng “nhận đường”, tự nguyện đứng vào hàng ngũ vừa cầmbút vừa sẵn sàng làm bất cứ việc gì mà kháng chiến cần đến Họ sống hoànhập với công nông binh và sáng tác theo định hướng văn nghệ của Đảng như

lời Hồ Chủ Tịch đã khẳng định: “Văn hoá nghệ thuật là một mặt trận, anh chị

em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” Tinh thần chiến sĩ và danh hiệu nhà văn

-chiến sĩ được đề cao như phẩm chất người nghệ sĩ Nhưng chúng ta cũng tựđặt ra câu hỏi tại sao các tác giả viết tiểu thuyết nói chung viết về nông thônnói riêng trước và sau 1945 rất thành công như Nguyễn Công Hoan, Ngô TấtTố,… lại lúng túng trước thời kì quá độ (quá độ ở đây là quá độ trong vănhọc, trong phương pháp sáng tác) Họ “như cái cây mới đánh lên để trồng lại

ra chỗ khác, rễ chưa ăn với đất mới” Thời đại mới yêu cầu văn học phải đổimới (trong đó có thế hệ nhà văn trước cách mạng), để kịp thời phản ánhnhững vấn đề mới mà cuộc sống đặt ra Lịch sử của dân tộc đặt trong bối

Trang 33

cảnh với nhiều biến cố lớn: phải đương đầu với hai cuộc kháng chiến củadân tộc đó là chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời thực hiện côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Những biến cố lớn đó là “lửa thử vàng giannan thử sức” đối với con người Việt Nam nhưng đó cũng chính là mảnh đấtmàu mỡ để nuôi dưỡng văn học, trong đó có thể loại tiểu thuyết Thực tế làlịch sử dân tộc từ 1945 - 1975 đã để lại những giá trị cho văn học mà ở đâythể loại tiểu thuyết phát triển nở rộ với những thành công lớn với những biểuhiện cụ thể sau.

1.3.2.1 Nông thôn trong tiểu thuyết 1945 - 1954

Nhìn bao quát, ranh giới giữa văn xuôi trực tiếp viết về nông thôn vớivăn xuôi nói chung trong kháng chiến chống Pháp không có sự phân biệt rõràng lắm, nó hoà quyện vào nhau và làm thành trào lưu văn học xã hội chủnghĩa Đề tài nông thôn nằm trong đề tài kháng chiến, đó là đề tài lớn của nềnvăn học trẻ tuổi Trong văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng thì cuộcsống mới, con người mới là vấn đề trung tâm mà các nhà văn hướng tới.Những tấm gương yêu nước đánh giặc của tập thể hoặc của cá nhân được đềcao Bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi lớn lao Nông thôn, một hậu phươngbao la với những làng quê bình dị, thân thuộc đã chứa đựng biết bao tiềm lựcđảm bảo cho cuộc kháng chiến lâu dài đi đến thắng lợi Những bà mẹ hậuphương hết lòng thương yêu chăm sóc bộ đội, những chị phụ nữ hi sinh cuộcsống gia đình, vượt qua khó khăn để trọn việc nước việc dân Những lớpthanh niên nô nức lên đường cầm súng giết giặc, những đoàn dân công ngày

đêm vận chuyển lương thực ra chiến trường, tiêu biểu là Thư nhà (Hồ Phương), Làng (Kim Lân), Đánh trận giặc lúa (Bùi Hiển), Con trâu (Nguyễn

Văn Bổng) Văn học nói chung lúc này đã nhận thức rõ về nông thôn với ýnghĩa lớn lao - đó là cuộc chiến tranh nhân dân ở vùng địch hậu

Trong những sáng tác về nông thôn kháng chiến kể trên, tiểu thuyết

Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) là tác phẩm tiêu biểu cho nông thôn trong

Trang 34

kháng chiến Đây là tiểu thuyết đạt Giải thưởng Văn học 1954 - 1955 Cáimới của tác phẩm không phải ở đề tài vì văn học trước cách mạng đã có NgôTất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao Sau cách mạng, đặc biệt sau 1950,sáng tác về nông thôn rất nhiều Chính hiện thực đấu tranh cách mạng làmảnh đất cho ra đời những tác phẩm văn học tiêu biểu Nhưng không phải bất

cứ hiện thực nào cũng là miếng đất thuận lợi của tiểu thuyết nói riêng và vănxuôi nói chung Các thể loại văn xuôi đặc biệt phát triển trong những thời kìlịch sử mà xã hội và tính cách con người có nhiều chuyển biến dữ dội và với

tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm” Tác phẩm Con trâu của Nguyễn Văn

Bổng ra đời trong thời kì lịch sử như thế Cái mới của tác phẩm là một vấn đề

cụ thể, vấn đề con trâu để mở ra một loạt vấn đề khác có ý nghĩa quan trọngkhông chỉ đối với việc thể hiện đời sống người nông dân mà còn có ý nghĩađối với việc thể hiện hình ảnh một cuộc kháng chiến toàn dân, trong đó nôngdân là đội quân chủ lực Trong tiểu thuyết này, con trâu đã trở thành một

“chiến trường” giữa ta và địch Giặc Pháp chủ trương phá hoại sản xuất, pháhoại mùa màng để ta không có khả năng trường kì kháng chiến Chương trìnhcủa chúng gồm bốn điểm: đốt phá kho thóc, giết trâu bò, phá các đập nước vàcông trình thuỷ lợi, chặn các đường tiếp tế lương thực cho du kích, cho vùng

tự do Giặc Pháp ra lệnh cho lính ngụy đi càn là cứ giết một trâu bằng giết banông dân Riêng trong xã Hồng Phong, chúng vừa giết vừa bắt hơn ba trămcon Có trận bao vây lớn chúng vừa bắn vừa cướp mất hơn một trăm con.Chúng biết rất rõ con trâu là tài sản, là vận mệnh, là một phần cuộc đời củangười nông dân trong những năm kháng chiến gian khổ Vấn đề “con trâu”được đặt ra không chỉ vì “con trâu là đầu cơ nghiệp”, vì đời sống cơm áo của

một gia đình riêng lẻ mà là vì sự sống còn của cả dân tộc, của đất nước Bảo

vệ trâu là bảo vệ sản xuất, nuôi dưỡng sức dân, chiến đấu lâu dài cũng là khâuthử thách quyết tâm bám địch giữ làng của người nông dân vùng địch hậutrong cuộc kháng chiến trường kì toàn diện Chuyện con trâu đưa đến chuyện

Trang 35

tổ chức du kích, xây dựng làng kháng chiến vững mạnh Những gian truân vất

vả đối mặt với kẻ thù của những con người như ông Đẩu, ông Hoạch, HươngTrà, được miêu tả trong tác phẩm đã mang lại ý nghĩa sâu sắc và tạo đượckhông khí riêng cho tác phẩm Nguyễn Văn Bổng rất am hiểu tâm lý ngườinông dân, đặc biệt nhất là những đoạn miêu tả tình cảm của người nông dânđối với con trâu Người nông dân xem trâu như một người bạn lao động đãcùng mình một nắng hai sương và ngược lại, con trâu đối với người nông dâncũng đã có sự cảm thông, vui buồn có nhau “như người trong nhà” Nhữngtrang viết của nhà văn đã hoà tan, đã thẩm thấu cái cao cả, cái lý tưởng củadân tộc vào trong mỗi người nông dân Với “phong cách hiện thực tỉnh táo”[14, 610], Nguyễn Văn Bổng muốn người đọc tiếp xúc với bộ mặt thật củachiến tranh để từ đó xây dựng những nhân vật nông dân điển hình trong hoàncảnh điển hình - một sự tiếp xúc trực tiếp với giá trị của văn học sử thi

Cách mạng tháng Tám đã làm thay đổi cách nhìn của nhà văn về nôngthôn và người nông dân Những con người “chân lấm tay bùn”, “chân đất mắttoét” không phải xa lạ, “yếm thế” mà chính là những điển hình mới của lịch

sử và của văn học Tiểu thuyết trong những năm 1945 - 1954 chưa có nhiềuđiều kiện để phát triển do hoàn cảnh hết sức khó khăn của cuộc chiến tranhchống thực dân Pháp Điều làm cho tiểu thuyết giai đoạn này thành công là đãxây dựng được những biến cố trong tác phẩm gắn liền với những sự kiệntrọng đại của lịch sử Nhân vật trong tiểu thuyết nói riêng và trong văn xuôinói chung chưa được quan tâm nhiều đến tính cách và dù chưa có nhiều nhânvật điển hình đặc sắc nhưng “con người quần chúng với những nét phẩm chất

và tính cách chung của giai cấp, của dân tộc được coi là những đóng góp củavăn xuôi giai đoạn này vào quá trình phát triển” [39, 61] Yêu cầu của hiệnthực mới đặt ra đối với đội ngũ nhà văn là phải đổi mới quan niệm sáng tác,đổi mới cách nhìn, cách nghĩ về người nông dân trong giai đoạn lịch sử màlực lượng công - nông - binh đang tiên phong nắm lá cờ cách mạng Việt Nam

Trang 36

Nhà văn Nam Cao đã phát biểu về quan điểm sáng tác sau Cách mạng thángTám, và nó trở thành định hướng chung cho sáng tác lúc bấy giờ về sự cầnthiết phải đổi mới trong sáng tác nói chung và cách nhìn về người nông dânnói riêng: “… cứ giữ con mắt ấy mà nhìn đời, nhìn người thì càng đi nhiêucàng quan sát lắm chúng ta sẽ càng chua chát và chán nản” Nông dân ViệtNam ngày nay luôn “chắc tay súng vững tay cày”, trong bất cứ hoàn cảnh nàothì phẩm chất của người anh hùng áo vải lại sống dậy trong họ cho dù đó làmặt trận chiến đấu hay mặt trận sản xuất, ở đâu ta cũng thấy hiện lên duy nhất

một mục đích: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

1.3.2.2 Nông thôn trong tiểu thuyết 1954 - 1975

Nông thôn Việt Nam trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội

1955 - 1964 nổi lên hai sự kiện quan trọng: Cải cách ruộng đất và phong tràoHợp tác hoá nông nghiệp Mặc dù đây là hai nhiệm vụ của Cách mạng dân tộcđặt ra trong giai đoạn lịch sử mới nhưng cũng là hai đề tài hấp dẫn của nhiềungành nghệ thuật như âm nhạc, hội họa,… đặc biệt là văn học Với đường lốivăn nghệ của Đảng, văn nghệ luôn bám chắc hai đề tài cơ bản cần hướng đếnbằng những chuyến đi thực tế của văn nghệ sĩ Sau đợt “ba cùng” này với bàcon nông dân, những tác phẩm viết về nông thôn đã ra đời, kịp thời phản ánhnhững chuyển biến ở nông thôn trong mọi mặt của đời sống mới Vấn đề Cảicách ruộng đất, đường lối cải cách của Đảng là đúng (đánh đổ giai cấp địa chủ

và thực hiện dân cày có ruộng), trong quá trình triển khai đã có những chủtrương, biện pháp chưa chính xác, vì vậy đã gây ra những hậu quả nghiêmtrọng Cuối thời kì cải cách, Đảng có thực hiện chính sách sửa sai, tình hìnhnông thôn do vậy cũng được cải thiện thêm một bước Viết về cải cách ruộng

đất có những cuốn tiểu thuyết: Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng), Truyện anh

Lục (Nguyễn Huy Tưởng), ngoài ra trong văn xuôi còn có Nông dân địa chủ

(Nguyễn Công Hoan), Ông lão hàng xóm (Kim Lân) Những tác phẩm về

Cải cách ruộng đất và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đem lại cho

Trang 37

văn xuôi một không khí sôi nổi Những chuyến thâm nhập vào quần chúngnhân dân đã mang lại cho nhà văn một cái nhìn sâu sắc về bản chất con ngườinông dân, những biến tướng của những giá trị mà đặc biệt là cái nhìn trực

diện vào những được, mất mà cải cách ruộng đất mang lại cho nông thôn Ở

một phương diện nào đó, tiểu thuyết viết về cải cách ruộng đất đã tuyêntruyền, phổ biến cho nhân dân về chủ trương chính sách cụ thể của Đảng vànhà nước Sáng tác về đề tài Cải cách ruộng đất mặc dù có số lượng lớnnhưng chưa thực sự gây cho người đọc một sự thuyết phục mạnh mẽ Điềunày có lí do của nó Một phần là do sự đè nén của những tư tưởng chính trịcục bộ, phiến diện bộc lộ trong đường lối lãnh đạo của một số cán bộ lúc bấygiờ tác động trực tiếp đến sáng tạo nghệ thuật của đa số văn nghệ sĩ Thứ nữa

là quan niệm giai cấp còn máy móc và triển khai thực hiện có những biệnpháp cực đoan sai lầm, nên đã xảy ra một số hậu quả nghiêm trọng nhưngngười cầm bút ở khía cạnh nào đó chưa dám nói thẳng, nói thật Chính vìnhững tác động đó đã làm cho tác phẩm viết về đề tài này nhân vật và hoàncảnh được mô tả sơ lược Nhà văn có sự cảm thông với người nông dân,nhưng chưa đặt họ vào những hoàn cảnh cụ thể nên phần lớn các nhân vật vàcảnh ngộ được miêu tả dường như đều có chung một khuôn giống nhau Thựctrạng và hậu quả của công cuộc cải cách ruộng đất sẽ còn là đề tài nóng hổicho những giai đoạn tiếp theo của tiến trình văn học (đặc biệt được nhìn nhậnlại trong văn học sau 1975) Đến cuối thời kì, với đường lối văn nghệ củaĐảng, văn học đã cho ra đời một số tiểu thuyết thành công Cuộc sống ở vùngcông giáo trong cải cách ruộng đất với những âm mưu và hành động phá hoạiđiên cuồng của bọn phản động đã được nhà văn miêu tả qua những trang viết

còn nóng hổi hơi thở của một vùng quê với sự tinh tế và sắc sảo Xung đột

(1957) của Nguyễn Khải đã chỉ ra kẻ thù chính đang giấu mặt sau bọn thanhniên sùng tín, sẵn sàng tử vì đạo và một lớp người nhẹ dạ, cả tin: những tênlinh mục phản động như cha Vinh, cha Thuyết đầy mưu mẹo và hiểm độc

Trang 38

Sau thời kì Cải cách ruộng đất là thời kì đưa nông dân vào hợp tác xãnông nghiệp Có thể nói đây là đề tài có thành tựu khá sớm và góp phần khá

rõ vào việc khẳng định những bước đi đúng hướng của tiểu thuyết trong sựchuyển biến của cách mạng Nhà văn lúc này cố gắng đi sâu phân tích nhữngmâu thuẫn trong cuộc sống làm cho thấy rõ công cuộc hợp tác hoá là mộtcuộc vận động cách mạng lớn ở nông thôn Nó góp phần thay đổi tâm lý thờiđại trong con người nông dân, lúc này là “niềm vui lòng ham thích được hoàmình với cộng đồng, được đứng trong tổ chức, đoàn thể bởi chỉ có ở đó con

người mới thấy mình có sức mạnh, có ý nghĩa” [68, 137] Nó đem lại những

thay đổi cơ bản trong suy nghĩ, tình cảm, mơ ước của con người Tác phẩm

Cái sân gạch của Đào Vũ, cho ta thấy mọi đổi thay trong quan hệ sản xuất ở

nông thôn đã làm lay chuyển dữ dội những đầu óc bảo thủ của người nôngdân Mọi mơ ước, tính toán của con người giờ phải được điều chỉnh cho phùhợp với xu hướng chung của cả dân tộc Người nông dân đứng trước cuộc đấutranh quyết liệt giữa hai con đường: làm ăn riêng lẻ (đồng nghĩa với chủ nghĩa

cá nhân) và làm ăn tập thể (đồng nghĩa với chủ nghĩa xã hội), từ đó xuất hiện

bệnh thành tích, bệnh “phong trào” Lão Am trong Cái sân gạch chưa chịu

vào hợp tác xã không phải chỉ do tư tưởng tư hữu, lối tính toán theo kiểu

“khôn sống vống chết” mà lão còn bị ràng buộc bởi những thói quen, tập quánlâu đời, lối làm ăn cò con, tư tưởng bảo thủ, lạc hậu của người sản xuất nhỏ,thói hống hách và tâm lý sĩ diện cá nhân của đầu óc gia trưởng phong kiến cũ,cộng với những tàn dư của còn sót lại từ những sai lầm của hồi Cải cách

ruộng đất Cái sân gạch phản ánh không khí nông thôn trong những ngày đầu

xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Tuy nhiên cuốn tiểu thuyết đầu tay của tácgiả vào đầu mùa của phong trào này không tránh khỏi những chỗ yếu khá rõtrong chủ đề và nhân vật Chủ đề “vào ra” hợp tác xã được miêu tả một cáchđơn giản, nhân vật lão Am được xây dựng sơ lược, tính cách phát triển mộtchiều đơn điệu Thực ra cuộc đấu tranh giữa “hai con đường” ở nông thôn vẫn

Trang 39

diễn ra phức tạp sau khi hoàn thành hợp tác hoá Ngoài Cái sân gạch, Đào Vũ còn có tiểu thuyết Vụ lúa chiêm, tác phẩm cho thấy những thay đổi đáng phấn

khởi trong quan hệ sản xuất ở nông thôn thời kì các hợp tác xã chuyển từ bậcthấp lên bậc cao,… đặc biệt là sự xuất hiện của một thế hệ thanh niên mới đầynhiệt tình cách mạng, say xưa tiếp thu cái mới trong khoa học kĩ thuật, nhiềuhoài bão ước mơ, xứng đáng là những người chủ tương lai của nông thôn xãhội chủ nghĩa, ngoài ra ta còn nhận ra rất rõ “cuộc sông mới” được mở rakhiến bộ mặt nông thôn tươi mới hơn Cùng viết về nông thôn với cảm hứng

này cũng có Hạt mùa sau của Nguyễn Thị Ngọc Tú, Ao làng của Ngô Ngọc

Bội Qua những tác phẩm đó ta thấy hiện lên bộ mặt nông thôn với những đổimới trong sinh hoạt tinh thần của người nông dân trên con đường làm ăn tậpthể Ta cũng thấy rằng những sáng tác về nông thôn giai đoạn này đều hướngtới một chủ đề chung là “hai con đường” Trên thực tế, đây cũng là sự vậnđộng tuyên truyền người nông dân đi vào con đường làm ăn hợp tác Bêncạnh đó, văn xuôi nói chung và tiểu thuyết thời kì này nói riêng còn phản ánh

sự bất cập, non yếu khi đối diện với thực tế nông thộn Hầu như các sáng tácgiai đoạn này mới nêu được các sự kiện, các phong trào thuộc bề nổi ở nôngthôn nhưng chưa đi sâu khai thác thực chất của đời sống vật chất và đời sốngtâm lý của người nông dân Nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn giaiđoạn này đã tham gia giải quyết một số vấn đề mang tính xã hội Văn chươngđóng vai trò đội quân tiên phong của Đảng, người cầm bút dần đánh mấtnhững tác phẩm “máu thịt” của mình nên văn học giai đoạn này bên cạnhnhững thành công thì còn những hạn chế

Trong kháng chiến chống Mỹ (1964 - 1975) đã có nhiều thay đổi Với

lý tưởng thẩm mỹ bao trùm nhất, tiêu biểu nhất của giai đoạn này không gìkhác phải là lý tưởng vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội Trong cuộcchiến không cân sức này thì nhiệm vụ cứu nước được đặt lên hàng đầu Tiểuthuyết nói riêng, văn xuôi nói chung chủ yếu mang âm hưởng sử thi M

Trang 40

Gorki từng nhấn mạnh: “Thời đại anh hùng đòi hỏi một nền nghệ thuật anhhùng” Văn học giai đoạn này đã đi vào đời sống người nông dân chủ yếu đểmiêu tả, khắc hoạ, ca ngợi ý chí chiến đấu chống giặc Người nông dân “Chắctay súng vững tay cày”, họ đi vào chiến trường, họ vừa sản xuất vừa chiếnđấu, sản xuất nông nghiệp cũng nhằm “năm tấn thóc để góp phần đánh Mỹ”.Nếu như sự phản kháng của người nông dân trước kia trong các tác phẩm vănhọc là “tự phát” thì ở thời đại “ra ngõ gặp anh hùng” này họ đã trở thànhnhững con người tự nguyện, tự giác trong chiến đấu Trên cả hai miền NamBắc diễn ra hoàn cảnh vừa chiến đấu vừa sản xuất, “hậu phương lớn chi việncho tiền tuyến lớn” Nông thôn trong văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêngcũng phản ánh không khí kháng chiến, đây là thời kì tiểu thuyết viết về nông

thôn gặt hái được nhiều thành công, cả về số lượng và chất lượng tác phẩm.

Bão biển, Đất mặn (Chu Văn), Đất làng, Buổi sáng (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Cửa sông (Nguyễn Minh Châu), Chủ tịch huyện (Nguyễn Khải), Vùng quê yên tĩnh (Nguyễn Kiên) Những tác phẩm này đều lấy bối cảnh nông thôn

đang có phong trào cải tiến quản lý hợp tác xã và xây dựng sản xuất lớn xãhội chủ nghĩa Nổi lên trên hết là cuộc đấu tranh với các thế lực phản độngđội lốt tôn giáo phá hoại công cuộc xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở nông thôn

trong Bão biển của Chu Văn, hoặc cuộc chiến giành đất cách mạng chia cho

của những người nông dân với bọn chủ ấp, bọn Hội đồng xã trong tác phẩm

Ở xã Trung Nghĩa của Nguyễn Thi Điều chung nhất ở đây cho ta thấy các

cuốn tiểu thuyết về nông thôn lúc này là xây dựng bức tranh hậu phương đoànkết, lành mạnh với khí thế thi đua sôi nổi và tinh thần chiến đấu đặt lên hàngđầu

Chủ đề con người mới là chủ đề chính của tiểu thuyết viết về nông thôn

lúc bấy giờ Đó là con người chủ nghĩa xã hội, con người sống và chiến đấu vìcộng đồng dân tộc, trong con người có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện

đại: đó là những “trai anh hùng, gái đảm đang” Trong con người mới đó, cái

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1994), “Những vấn đề của Văn học hiện đại qua ba cuộc thảo luận”, Tạp chí Văn học, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của Văn học hiện đại qua ba cuộcthảo luận”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1994
2. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NxbKhoa học Xã hội
Năm: 2001
3. Vũ Thuý Ái (1995), “Viết như thế cũng là cách bắn súng lục vào quá khứ”, Báo văn nghệ, số 35-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết như thế cũng là cách bắn súng lục vào quákhứ”, Báo" văn nghệ
Tác giả: Vũ Thuý Ái
Năm: 1995
4. Lại Nguyên Ân (1995), 150 thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 1995
5. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam từ 1986 đến nay, Luận án tiến sĩ Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật ViệtNam từ 1986 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
6. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 những đổimới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
7. Trần Cương (1998), “Theo dõi sự phát triển của văn xuôi những năm 80 từ tính nhân dân của Văn học”, Tạp chí Văn học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo dõi sự phát triển của văn xuôi những năm80 từ tính nhân dân của Văn học”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Trần Cương
Năm: 1998
8. Trần Trọng Đăng Đàn (1971), “Một vài vấn đề lý luận nảy ra nhân đọc Bão Biển”, Tạp chí Văn học, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài vấn đề lý luận nảy ra nhân đọcBão Biển”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Trần Trọng Đăng Đàn
Năm: 1971
9. Trần Trọng Đăng Đàn (1975), “Hiện thực mới của nông thôn trong Tiểu thuyết”, Tạp chí Văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực mới của nông thôn trongTiểu thuyết”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Trần Trọng Đăng Đàn
Năm: 1975
10. Đinh Chí Dũng (2000), Một số vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam từ 1900 đến 1945, Giáo trình Giảng dạy Cao học, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam từ1900 đến 1945
Tác giả: Đinh Chí Dũng
Năm: 2000
11. Thanh Duy (1971), “Vấn đề Văn học phản ánh nông thôn hợp tác hóa”, Tạp chí Văn học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề Văn học phản ánh nông thôn hợp tác hóa”,Tạp chí" Văn học
Tác giả: Thanh Duy
Năm: 1971
12. Hà Minh Đức, Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Trần Khánh Thành, Lý Hoài Thu (1999), Lý luận văn học, (tái bản lần 5), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức, Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Trần Khánh Thành, Lý Hoài Thu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
13. Trọng Đức (1965), “Về Tiểu thuyết”, Tạp chí Văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Tiểu thuyết”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Trọng Đức
Năm: 1965
14. Phan Cự Đệ (1974), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (2 tập), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại họcvà Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1974
16. Chu Thị Điệp (2001), Hiện thực nông thôn và hình tượng người nông dân trong truyện ngắn Việt Nam 1975 - 2000, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực nông thôn và hình tượng người nôngdân trong truyện ngắn Việt Nam 1975 - 2000
Tác giả: Chu Thị Điệp
Năm: 2001
17. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
18. G. I. Baklanov (1983), Khi một cuốn sách ra đời - nhà văn bàn về nghề văn, Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam - Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi một cuốn sách ra đời - nhà văn bàn về nghềvăn
Tác giả: G. I. Baklanov
Năm: 1983
19. G.N.Pospelov (1998), Dẫn luận nghiên cứu Văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu Văn học
Tác giả: G.N.Pospelov
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
20. Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình (1995), Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi từ sau Cách mạng tháng tám đến nay, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm nghệ thuật vềcon người trong văn xuôi từ sau Cách mạng tháng tám đến nay
Tác giả: Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb HàNội
Năm: 1995
21. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2000), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển thuật ngữ Văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w