1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác Động Của Mở Cửa Thương Mại Lên Tỷ Giá Hối Đoái Thực Nghiên Cứu Thực Nghiệm Ở Việt Nam

75 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, bài nghiên cứu “Tác động của độ mở cửa thương mại lên tỷ giá hối đoái thực – nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam” sẽ cung cấp một bằng chứng thực nghiệm về tác động của mở cửa thư

Trang 1

HÀ THỊ MỸ HOA

TÁC ĐỘNG CỦA MỞ CỬA THƯƠNG MẠI

LÊN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập và tổng hợp từ các nguồn đáng tin cậy

Tác giả: Hà Thị Mỹ Hoa

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5

2.1 Các phương pháp tiếp cận và nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái 5

2.1.1 Các phương pháp tiếp cận và giải thích tỷ giá hối đoái 5

2.1.2 Các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái thực 7

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tác động của độ mở cửa thương mại đến tỷ giá hối đoái thực 13

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Mô hình nghiên cứu 22

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 23

3.2 Phương pháp nghiên cứu 25

Trang 4

4.2 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 36

4.3 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 38

4.4 Kết quả hồi quy giữa tỷ giá hối đoái thực và mở cửa thương mại 39

4.5 Kết quả ước lượng từ mô hình GMM 39

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Phụ lục 1: Dữ liệu của các biến trong mô hình 58 Phụ lục 2: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị các biến trong mô hình hồi quy….66

Trang 5

ADF Kiểm định nghiệm đơn vị của Dickey – Fuller

(Asia Regional Integration Center) ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

Trang 6

Bảng 3.1: Tổng hợp nguồn dữ liệu của các biến được sử dụng 24

Bảng 4.1: Mô tả thống kê của các biến (Q12000 – Q42012) 26

Bảng 4.2 Tỷ lệ mậu dịch của một số nước trong khu vực (2000 – 2012) 33

Bảng 4.3 Kết quả kiểm định tính dừng 37

Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan cho các biến trong mô hình hồi quy 38

Bảng 4.5 Kết quả của phương trình hồi quy (1) bằng phương pháp GMM 41

Bảng 4.6: Kết quả ước lượng bằng phương pháp GMM cho các phương trình 42

Trang 7

Hình 4.1: Tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa VND/USD theo quý từ năm 2000-2012

( năm 2000 là năm gốc) 28

Hình 4.2: Độ mở cửa thương mại của Việt Nam theo quý từ 2000-2012 29

Hình 4.3: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng từ 2000-2012 30

Hình 4.4: Tỷ lệ mậu dịch của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012 32

Hình 4.5: Nợ nước ngoài của Việt Nam (% GDP) 2000-2012 34

Hình 4.6: Nợ nước ngoài của một số quốc gia châu Á (%GDP) 35

Hình 4.7 Nợ nước ngoài và nợ nước ngoài ngắn hạn của Việt Nam 36

Hình 4.8: Hồi quy giữa tỷ giá hối đoái thực và mở cửa thương mại 39

Trang 8

Tóm tắt

Bài nghiên cứu tiến hành nghiên cứu tác động của mở cửa thương mại đến tỷ giá hối đoái thực ở Việt Nam bằng việc sử dụng dữ liệu quý cho giai đoạn quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2012 Bằng việc sử dụng kỹ thuật ước lượng Generalized Method of Moments (GMM) để ước lượng phương trình tỷ giá hối đoái thực, bài nghiên cứu tìm thấy tác động cùng chiều có ý nghĩa của

mở cửa thương mại lên tỷ giá hối đoái thực Kết quả này là bền vững khi thay đổi các thông số khác nhau trong mô hình Kết quả cũng nhấn mạnh vai trò của các biến vĩ mô khác trong việc xác định tỷ giá hối đoái thực Tỷ lệ mậu dịch, đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu của chính phủ có một tác động ngược chiều lên tỷ giá hối đoái thực

Trang 9

Chương 1: GIỚI THIỆU

Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại Phù hợp với xu thế đó,

từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và gia tăng mức độ hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc chủ động tham gia vào các mối quan hệ gắn kết, mở rộng quy mô, tăng cường các hoạt động kinh tế với các nước, vùng lãnh thổ và trên phạm vi toàn thế giới Ở cấp độ song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới,

mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hóa tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ Ở cấp độ đa phương Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Châu Á, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới; gia nhập các tổ chức kinh

tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết hiệp định hợp tác kinh tế đa phương như Hiệp Hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Khu vực mậu dịch

tự do ASEAN (AFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc, Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), Liên Minh Châu Âu (EU)… và một sự kiện đặc biệt quan trọng là Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 7 tháng 11 năm

2006 Tham gia vào WTO, cũng có nghĩa là hoạt động thương mại của Việt Nam sẽ được tự do hơn tạo điều kiện cho Việt Nam có thể mở rộng hoạt động kinh tế ra nước ngoài cũng như thâm nhập vào thị trường nước ngoài dễ dàng hơn Hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới cũng như ngày càng có độ

mở cửa lớn với kinh tế thế giới như vậy đã đem đến cho Việt Nam những lợi ích nhất định đã được minh chứng qua sự phát triển ngày càng đi lên của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, không thể phủ nhận những thách thức mà nền kinh tế phải đối mặt như sự cạnh tranh khốc liệt hơn do có

Trang 10

sự tham gia nhiều hơn, sâu hơn, rộng hơn của các đối tác nước ngoài vào Việt Nam Bên cạnh đó, mở cửa thương mại cũng gây ra những bất ổn kinh tế vĩ

mô kéo dài mà đặc biệt quan trọng là những biến động lớn trong tỷ giá hối đoái đã được thị trường ngoại hối minh chứng rõ ràng kể từ sau khi gia nhập WTO Như chúng ta đã biết tỷ giá hối đoái là nhân tố rất quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào vì nó ảnh hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế Với xu thế mở cửa thương mại như ngày nay, tỷ giá ngày càng được sử dụng như một công cụ chính để điều tiết các quan hệ kinh tế quốc tế bởi sự tác động đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước Vậy một câu hỏi đặt ra ở đây là liệu mở cửa thương mại có tác động đến tỷ giá hối đoái thực ở Việt Nam hay không

và nếu có thì nó tác động như thế nào đến tỷ giá hối đoái thực ở Việt Nam? Trên thế giới hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về tác động của mở cửa thương mại lên tỷ giá hối đoái thực Tuy nhiên, hiện nay nghiên cứu thực nghiệm trong việc giải thích sự tác động của mở cửa thương mại đến tỷ giá hối đoái thực vẫn đang còn hỗn độn Một vài nghiên cứu cho thấy mở cửa thương mại

có sự ảnh hưởng cùng chiều lên tỷ giá hối đoái thực và nó giảm sau khi tự do hóa thương mại (Edwards, 1993; Elbadawi, 1994; Hau, 2002…) Ngược lại, một số nghiên cứu nhận thấy sự tác động không có ý nghĩa thống kê của mở cửa thương mại lên tỷ giá hối đoái thực (Edwards, 1987) Còn nghiên cứu của

Li (2004) đã chỉ ra rằng tự do hóa thương mại đáng tin dẫn đến sự giảm giá tỷ giá hối đoái thực, nhưng không đáng tin có thể dẫn tới một sự tăng giá tỷ giá hối đoái thực trong ngắn hạn

Còn ở Việt Nam, có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động đến

tỷ giá hối đoái thực như Hạ Thị Thiều Dao (2012), Tô Trung Thành (2010)…Tuy nhiên cho tới thời điểm này ở Việt Nam vẫn chưa có một nghiên

Trang 11

cứu thực nghiệm cụ thể nào về tác động của mở cửa thương mại lên tỷ giá hối

đoái thực Do đó, bài nghiên cứu “Tác động của độ mở cửa thương mại lên

tỷ giá hối đoái thực – nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam” sẽ cung cấp

một bằng chứng thực nghiệm về tác động của mở cửa thương mại lên tỷ giá hối đoái ở Việt Nam và xác định chiều hướng của sự tác động đó

Mục tiêu của bài nghiên cứu trả lời cho hai câu hỏi sau: (1) Mở cửa thương mại có tác động đến tỷ giá hối đoái thực ở Việt Nam hay không? (2) Nếu có tồn tại sự tác động này thì mở cửa thương mại tác động cùng chiều hay ngược chiều đến tỷ giá hối đoái thực ở Việt Nam

Để trả lời cho những câu hỏi này, bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật ước lượng Generalized Method of Moments (GMM) để ước lượng phương trình tỷ giá hối đoái thực GMM có thể kiểm soát hiện tượng nội sinh của độ trễ biến phụ thuộc và hiện tượng nội sinh tiềm ẩn của các biến giải thích khác trong

mô hình Độ trễ của các biến ngoại sinh được sử dụng như là biến công cụ trong phương pháp này

Phần còn lại của bài nghiên cứu được trình bày như sau Phần kế tiếp giới thiệu tổng quan các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về tác động của

mở cửa thương mại đến tỷ giá hối đoái thực, chương 3 trình bày dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, chương 4 mô tả kết quả nghiên cứu và chương 5 là kết luận

Trang 12

Chương 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1 Các phương pháp tiếp cận và nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái

2.1.1 Các phương pháp tiếp cận và giải thích tỷ giá hối đoái

Theo lý thuyết, có hai phương pháp tiếp cận chính về mô hình tỷ giá

hối đoái, phương pháp tiền tệ (monetary approach) và phương pháp cân bằng

danh mục đầu tư (portfolio balance approach) Cách tiếp cận theo phương

pháp tiền tệ cho rằng tỷ giá biến động là để các thị trường tiền tệ nội địa và nước ngoài trở nên cân bằng Những nhân tố tác động đến cung cầu trên các thị trường tiền tệ nội địa và nước ngoài (ví dụ như thay đổi trong chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương, hay thay đổi trong tương quan thu nhập thực tế giữa các quốc gia…) làm cho thị trường tiền tệ trở nên mất cân bằng,

do đó tỷ giá phải biến động để thiết lập lại sự cân bằng cho thị trường tiền tệ Trong khi hình thành mối liên hệ giữa sự biến động của tỷ giá và sự cân bằng của thị trường tiền tệ, phương pháp tiền tệ đã dựa trên giả thuyết cho rằng: các trái phiếu nội địa và nước ngoài là thay thế hoàn hảo cho nhau, các danh mục đầu tư được tự do hoán đổi cho nhau Điều kiện để các chứng khoán thay thế hoàn hảo cho nhau bao gồm: vốn quốc tế được tự do di chuyển, các chứng khoán đều có rủi ro như nhau, các chứng khoán đều có mức lãi suất thực dự tính là như nhau, bỏ qua mọi chi phí giao dịch và thuế Cách tiếp cận theo phương pháp tiền tệ đã dựa trên một số mô hình để tiếp cận sự hình thành và biến động tỷ giá, nhưng có ba mô hình quan trọng nhất: mô hình giá linh hoạt,

mô hình giá cứng và mô hình chênh lệch lãi suất thực Cách tiếp cận tỷ giá theo phương pháp tiền tệ được bắt đầu một cách rất căn bản từ định nghĩa về

tỷ giá: tỷ giá là giá cả của tiền tệ nước ngoài (ngoại tệ) được biểu hiện bằng một số đơn vị tiền tệ trong nước (nội tệ) Vì là giá cả giữa hai đồng tiền, nên

tỷ giá cũng được xác định bởi các lực lượng cung cầu về hai đồng tiền này

Trang 13

trên thị trường Cách tiếp cận tỷ giá theo phương pháp tiền tệ dựa trên điểm xuất phát và những nhân tố chính xác định tỷ giá là cầu tiền và cung tiền

Khác với phương pháp tiền tệ, phương pháp cân bằng danh mục đầu

tư cho rằng, các trái phiếu nội địa và nước ngoài không thay thế hoàn hảo cho nhau Điều này hàm ý, ngoài yếu tố cân bằng của thị trường tiền tệ, chúng ta phải tính đến mối quan hệ giữa sự biến động của tỷ giá và thay đổi trong tương quan cung cầu trái phiếu nội địa và trái phiếu nước ngoài Những nhân

tố tác động làm thay đổi tương quan cung cầu trái phiếu nội địa và nước ngoài

sẽ làm cho thị trường trái phiếu trở nên mất cân bằng, và tác động đến tỷ giá

Do đó, mỗi thay đổi trong cung cầu trái phiếu của mỗi nước đều có ảnh hưởng đến mức tỷ giá và mức lãi suất Điều này có nghĩa là, mô hình cân bằng danh mục đầu tư không chỉ đề cập đến nhu cầu đối với các đồng tiền và các trái phiếu khác nhau ở mỗi nước, mà còn chỉ ra cầu tiền và cầu chứng khoán trong mối quan hệ với thu nhập, mức lãi suất và các yếu tố khác Phương pháp cân bằng danh mục đầu tư hình thành trên cơ sở đa dạng hóa danh mục đầu tư và điều kiện cân bằng của các thị trường

Mặc dù phương pháp cân bằng danh mục và tiền tệ đã đặt nền tảng cho mô hình tỷ giá hối đoái, những phương pháp này đã lờ đi vai trò của mở cửa thương mại trong các yếu tố quyết định tỷ giá hối đoái Toàn cầu hóa và

tự do hóa đã cho phép hàng hóa và vốn di chuyển qua biên giới của các nước

tự do hơn, tạo ra nhiều và nhiều các nhân tố có thể gây ra những thay đổi trong giá trị của tiền tệ Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền được xác định bằng cung và cầu của hai đồng tiền này Cung và cầu của tiền tệ trên thị trường quốc tế được xác định chủ yếu bằng thương mại và đầu tư quốc tế Nhu cầu tương đối của tiền tệ từ nhà đầu tư sẽ bị ảnh hưởng bởi lãi suất tương đối là một trong những biến cơ bản trong mô hình tiền tệ Tuy nhiên, sự ảnh hưởng

Trang 14

của thương mại quốc tế không được đề cập trong phương pháp cân bằng danh mục và tiền tệ Vì thế, bài nghiên cứu này cố gắng điền vào những chỗ khuyết

đó bằng việc thêm mở cửa thương mại trong mô hình tỷ giá hối đoái bên cạnh những yếu tố thông thường của phương pháp cân bằng danh mục và tiền tệ

2.1.2 Các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái thực

Độ mở cửa thương mại (Trade openness)

Mở cửa thương mại là một phương pháp xác định độ mở cửa của một nền kinh tế đối với thương mại thế giới và những lợi ích tăng trưởng thu nhập

có được từ những hoạt động thương mại trên (Squalli, Wilson 2006)

Độ mở cửa thương mại là chỉ số được sử dụng để đo lường chính sách

mở cửa thương mại của một quốc gia, chính sách thương mại càng theo

hướng tự do hóa, thì độ mở thương mại càng lớn

Độ mở cửa thương mại được đo lường bởi rất nhiều cách trong hàng trăm bài nghiên cứu, nhưng hầu hết các phương pháp đều đưa ra một đặc

điểm chung, thể hiện tỷ lệ mậu dịch của thu nhập của một đất nước Bảng 2.1

cung cấp bảng tóm tắt một vài phương pháp đo lường độ mở cửa đã được sử dụng Thêm vào đó Alcal´a and Ciccone (2004) gần đây đã đưa ra một

phương pháp chuẩn để đo độ mở cửa thương mại, Trade intensity (IT), có thể

mang lại ước tính trên thu nhập bị lệch theo hướng giảm bởi vì tác động của

phi mậu dịch về năng suất ( non-tradeables on productivity) Vì vậy, họ đề

nghị mậu dịch danh nghĩa được chia bởi thu nhập điều chỉnh bởi ngang giá sức mua, hoặc GDP thực Không phân biệt với các phương pháp đo lường độ

mở cửa đã được sử dụng, trong mỗi trường hợp, phương pháp đo lường khác nhau sẽ cung cấp một phương pháp xác định độ mở cửa thương mại của quốc gia đó đối với thương mại quốc tế và những lợi ích tăng trưởng thu nhập bắt

Trang 15

nguồn từ thương mại Một cách đơn giản, ví dụ TI của một quốc gia cụ thể, một nền kinh tế càng mở cửa thì sẽ đạt được nhiều lợi ích thương mại

Bảng 2.1: Phương pháp đo lường độ mở cửa thương mại

Mi/ GDPi Tỷ lệ mậu dịch nhập khẩu (Import trade

intensity); được đo lường bởi nhập khẩu (M) chia cho GDP

Xi/GDPi Tỷ lệ mậu dịch xuất khẩu (Export trade

intensity), được đo lường bởi xuất khẩu (X) chia cho GDP

(X +M)i/GDPi Tỷ số mậu dịch (Trade intensity); được đo

lường bởi tổng xuất khẩu và nhập khẩu chia cho GDP

1 − [(X +M)i/2*GDPi] × 100 Tỷ số mậu dịch điều chỉnh, và phương

pháp thay đổi để giải quyết các yếu tố bị

bỏ sót theo đề nghị của Frankel (2000) M/GDPi−( 1 – GDPi/ * GDPi) Tỷ số mậu dịch hiệu chỉnh, một phương

pháp tiếp cận bởi Frankel (2000), đề nghị bởi Li và các cộng sự (2004)

(X +M)/ r GDPi Tỷ số mậu dịch thực, mà mẫu số GDP

điều chỉnh bởi ngang giá sức mua (GDP thực) được đưa ra bởi Alcal´a and

Ciccone (2004)

Nguồn nghiên cứu của Squalli, J., and Wilson, K., (2007)

Trang 16

Tuy nhiên theo các cách tính thông thường vẫn sử dụng trong nhiều bài nghiên cứu trước đây, bài nghiên cứu lựa chọn cách tính đối với độ mở cửa thương mại bằng tỷ số giữa tổng giá trị thương mại (nhập khẩu cộng với xuất khẩu) so với GDP

Về mặt lý thuyết các tác động của độ mở cửa thương mại đến tỷ giá là không chắc chắn và do đó không thể dự đoán được Mở cửa thương mại có thể thay đổi khi có sự giảm thuế hoặc tăng hạn ngạch Giảm thuế hoặc tăng hạn ngạch có thể làm giảm giá hàng hóa trong nước và do đó dẫn tới cả hiệu ứng thu nhập và thay thế Hiệu ứng thay thế trong ngắn hạn hay dài hạn đều kích thích nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ đó làm tăng giá hàng hóa mậu dịch dẫn đến sự suy giảm trong cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực giảm Tuy nhiên hiệu ứng thu nhập của mở cửa thương mại đến hàng phi mậu dịch

là không rõ và còn tùy thuộc vào xu hướng của tiêu dùng trong nước Nếu thu nhập tăng lên được chi nhiều hơn cho hàng hóa phi mậu dịch thì tỷ giá thực đang được định giá cao Connolly và Devereux (1995) lập luận rằng hiệu ứng thay thế của độ mở cửa thương mại chi phối hiệu ứng thu nhập trong trường hợp này Vì vậy tăng độ mở cửa thương mại trong trường hợp này (giảm thuế hoặc tăng hạn ngạch) có thể dẫn đến tỷ giá hối đoái giảm thông qua cán cân thương mại giảm (nhập khẩu tăng) Mặt khác nếu độ mở cửa thương mại tăng thông qua giảm thuế xuất khẩu như lập luận của Connolly và Devereux (1995), hiệu ứng thu nhập và thay thế có xu hướng biến đổi cùng chiều với xuất khẩu Trong trường hợp này cán cân thương mại sẽ được cải thiện và dẫn tới tỷ giá thực được đánh giá cao Do đó, chiều hướng tác động của mở cửa thương mại đến tỷ giá hối đoái thực còn phụ thuộc vào hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập tạo ra

Trang 17

Tỷ lệ mậu dịch (TOT-terms of trade)

Tỉ lệ mậu dịch được định nghĩa là giá tương đối của hàng xuất khẩu so với hàng nhập khẩu của quốc gia đó, được tính bằng tỷ lệ giữa chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu với chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu của quốc gia TOT thường được sử dụng để đánh giá những thay đổi trong môi trường kinh tế quốc tế Theo Edwards (1988b) và Edwards và Wijnbergen (1987), thay đổi của tỷ lệ mậu dịch trong ngắn hạn và dài hạn có thể gây ra hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập Do đó, tác động của TOT đối với tỷ giá thực là không rõ ràng có thể cùng chiều (+) hoặc ngược chiều ( - ) phụ thuộc vào hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập

Đầu tiên là hiệu ứng thu nhập, dự báo rằng khi tỷ lệ mậu dịch được cải

thiện (giá xuất khẩu tăng tương đối so với giá nhập khẩu), thu nhập từ xuất khẩu sẽ tăng dẫn tới nhu cầu đối với hàng hóa phi mậu dịch tăng theo và giá hàng hóa phi mậu dịch cũng tăng, do đó dẫn đến một sự đánh giá cao đồng

tiền tệ Tiếp theo là hiệu ứng thay thế, dự báo rằng một sự cải thiện trong tỷ lệ

mậu dịch có nghĩa là nhập khẩu sẽ rẻ hơn và một phần nhu cầu trong nước với hàng hóa phi mậu dịch sẽ được thay thế bởi hàng nhập khẩu, do đó giá của hàng hóa phi mậu dịch sẽ giảm Điều này sẽ dẫn đến sự mất giá của đồng nội

tệ Như vậy tùy thuộc vào độ lớn tác động của hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế mà tỷ giá hối đoái thực sẽ giảm (tác động của hiệu ứng thu nhập lớn hơn tác động của hiệu ứng thay thế) hay tăng (tác động của hiệu ứng thu nhập nhỏ hơn tác động của hiệu ứng thay thế) khi TOT tăng Đối với các nước sản xuất hàng hóa, hiệu ứng thu nhập nhìn chung vượt trội hơn hiệu ứng thay thế

Sở dĩ, tác động của hiệu ứng thay thế không đáng kể là do hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa xuất khẩu ở các quốc gia này rất khác nhau, người tiêu dùng không dễ thay thế một loại hàng hóa này bằng một loại hàng hóa khác

Trang 18

trong rổ tiêu dùng của họ trong trường hợp có sự thay đổi về giá Theo đó, khi TOT tăng, thông thường tỷ giá hối đoái thực sẽ giảm

Chi tiêu chính phủ (GEXP- Government expenditure)

Chi tiêu của chính phủ được tính bằng tỷ lệ tổng chi tiêu chính phủ so với GDP, chỉ tiêu này đại diện cho chính sách tài khóa của chính phủ

Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tỷ giá thực đã được nghiên cứu

từ trước về mặt lý thuyết và thực nghiệm Theo đó, GEXP tác động đến tiêu dùng tư nhân và tỷ giá hối đoái thực thông qua hai hướng: nếu chi chính phủ bao gồm phần lớn là hàng hóa phi ngoại thương, GEXP tăng sẽ làm tăng áp lực cầu nội địa, gia tăng giá tương đối của hàng hóa phi ngoại thương dẫn đến tăng tỷ giá hối đoái thực; nếu phần lớn chi tiêu chính phủ là hàng hóa ngoại thương GEXP tăng sẽ làm cán cân thương mại xấu đi, tỷ gía hối đoái thực giảm Vì vậy khó dự đoán hướng tác động của GEXP lên tỷ giá hối đoái thực

Các nghiên cứu thực nghiệm về hướng tác động của GEXP lên tỷ giá hối đoái thực cho kết quả khác nhau Nghiên cứu thực nghiệm của Balvers và Bergstrand (2002) trên các nền kinh tế thuộc OECD cho rằng GEXP có tác động đến tỷ giá hối đoái thực qua cả hai hướng và độ lớn tác động này qua hai hướng này tương đương nhau Nghiên cứu của Connolly và Devereux (1995) cho thấy sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực ở các nước Châu Mỹ Latinh cho giai đoạn 1960 - 1985 có thể được giải thích bởi chi tiêu của chính phủ và chi tiêu của chính phủ cũng làm tăng tỷ giá hối đoái bằng việc chi tiêu chủ yếu vào hàng hóa phi ngoại thương Nghiên cứu của Ricci (2008) trên 48 quốc gia (bao gồm các nước phát triển và thị trường mới nổi) kết luận 1% tăng của GEXP so với GDP sẽ làm tỷ giá hối đoái thực tăng 3% Kết quả nghiên cứu của Edward (1998) trên 12 quốc gia đang phát triển cũng cho thấy

Trang 19

tăng GEXP dẫn đến tỷ giá hối đoái thực tăng Như vậy, tác động của GEXP đến tỷ giá hối đoái thực phụ thuộc vào tỷ trọng hàng hóa ngoại thương và phi ngoại thương trong cơ cấu chi tiêu của chính phủ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào số tiền thu được từ đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng để mua hàng hóa ngoại thương hay phi ngoại thương Nếu số tiền thu được sử dụng cho hàng hóa ngoại thương (ví dụ như nhập khẩu máy móc, nguyên liệu vật liệu…) sau đó tỷ giá hối đoái thực sẽ giảm giá về giá trị thực thông qua việc làm xấu đi tình trạng của tài khoản vãng lai Ngược lại nếu số tiền thu được từ đầu tư trực tiếp nước ngoài được dùng để mua hàng hóa phi ngoại thương thì dẫn đến tỷ giá hối đoái thực sẽ tăng Phản ứng của tỷ giá hối đoái thực đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài phụ thuộc vào vốn tích lũy trong các ngành công nghiệp có định hướng xuất khẩu hay các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu Do đó, không thể xác định tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên

tỷ giá hối đoái thực một cách chính xác và rõ ràng theo lý thuyết

Nợ nước ngoài

Tác động của nợ nước ngoài tới tỷ giá hối đoái thực không thể tiên nghiệm được Sự tích lũy nợ nước ngoài cũng có thể dẫn tới sự tăng giá hoặc giảm giá của tỷ giá hối đoái thực tùy thuộc vào việc nợ nước ngoài được sử dụng cho việc tiêu dùng các hàng hóa mậu dịch hoặc phi mậu dịch

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tác động của độ mở cửa thương mại đến tỷ giá hối đoái thực

Tỷ giá hối đoái là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong nhiều hoạt động kinh tế của quốc gia, đặc biệt trong thương mại quốc tế và các quyết

Trang 20

định đầu tư Tỷ giá hối đoái được quyết định bởi các lực lượng thị trường, cung và cầu tiền tệ Chính vì thế, từ trước đến nay đã có một lượng lớn các nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các yếu tố kinh tế

cơ bản, đặc biệt là tác động của mở cửa thương mại đến biến động tỷ giá hối đoái thực, trong khi đó cũng có nhiều nghiên cứu về tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái lên thương mại (Hau, 2002)

Holden, Holden and Suss (1979) là một trong số những người đầu tiên

đưa ra rằng độ mở cửa của thương mại tác động không tốt đến sự biến động của tỷ giá hối đoái Họ nghiên cứu các yếu tố tác động đến thay đổi tỷ giá và tác động tổng thể của các biến lên chính sách tỷ giá Kết quả mô hình về độ

mở cửa thương mại có lẽ là cần thiết (bởi vì mức ý nghĩa tương đối thấp) và

có lẽ tác động của độ mở cửa lên tỷ giá không mạnh như dự đoán bởi lý thuyết khu vực đồng tiền tối ưu của Mundell (Mundell’s optimum currency area theory)

Connolly, M., and Devereux J., (1995) nghiên cứu mô hình tỷ giá hối

đoái thực cân bằng Bài nghiên cứu tóm tắt từ các nhân tố tài chính và tiền tệ ngắn hạn gây ra sự sai lệch tạm thời trong tỷ giá hối đoái thực ngắn hạn so với mức cân bằng tự nhiên Kết quả thực nghiệm cho thấy sự chuyển động của tỷ giá hối đoái thực ở các nền kinh tế Châu Mỹ Latinh giai đoạn 1960 – 1985 có thể được giải thích bởi tốc độ tăng trưởng, độ mở cửa thương mại, chi tiêu của chính phủ, và tỷ lệ mậu dịch nước ngoài Đặc biệt, tiến bộ kỹ thuật và tăng lên trong vốn cổ phần có xu hướng làm tăng tỷ giá hối đoái thực, cũng giống như

tự do hóa thương mại bằng sự tăng lên trong mở cửa thương mại Tuy nhiên sau đó một sự tăng lên trong chính sách bảo hộ làm giảm tỷ giá hối đoái thực Kết quả này có thể hợp lý hóa dựa trên hiệu ứng thu nhập vượt trội hơn so với hiệu ứng thay thế, do đó làm giảm tỷ giá hối đoái thực

Trang 21

Hau (2002) đăng tải bài báo đầu tiên về sự biến động của tỷ giá hối đoái thực và độ mở thương mại, nghiên cứu này cung cấp toàn diện nhất những nghiên cứu về tác động của mở cửa thương mại lên sự biến động của tỷ giá Vào thời điểm này toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại trở thành vấn đề kinh tế quan trọng liên quan đến tỷ giá Tại cùng thời điểm nhiều quốc gia trên thế giới đã chọn tỷ giá hối đoái thả nổi với mức độ khác nhau, chính điều này đã cung cấp lý do cho việc nghiên cứu sự biến động của tỷ giá hối đoái Hau (2002) đề cập đến tác động của biến động của tỷ giá hối đoái thực đến mức độ mở cửa thương mại của một nền kinh tế Hau xem xét nếu nền kinh tế hội nhập thông qua mở rộng mậu dịch quốc tế sẽ làm giảm sự biến động của

tỷ giá hối đoái thực thậm chí khi không có hội nhập tiền tệ Vì lý thuyết nền

tảng mà Hau sử dụng là mô hình tiền tệ dài hạn (inter-temporal monetary model) với sự cứng nhắc về thị trường lao động danh nghĩa (nominal labor market rigidities) và nghiên cứu sự khác nhau về mức độ hội nhập thương

mại tác động đến tỷ giá hối đoái thực như thế nào trong sự hiện diện của cú sốc tiền tệ và cú sốc thực không cân đối giữa hai quốc gia Kết luận chính của

mô hình là cả cú sốc thực và cú sốc tiền tệ có hiệu ứng nhỏ hơn đến tỷ giá hối đoái thực nếu cả hai quốc gia nhập khẩu với tỷ lệ phần trăm lớn hơn trong rổ hàng tiêu dùng của họ, vì vậy hội nhập thương mại thúc đẩy sự ổn định của tỷ giá hối đoái thực Hau nghiên cứu sự biến động của tỷ giá hối đoái thực cho

54 quốc gia từ năm 1980 và đã tìm thấy sự tác động của mở cửa kinh tế lên độ biến động tỷ giá hối đoái thực là có ý nghĩa về mặt thống kê (hầu hết các trường hợp tại mức ý nghĩa 1%) và mở cửa thương mại giải thích lên đến 52% sự thay đổi của tỷ giá hối đoái

Gandolfo G., và Nicoletti G., (2002) quan tâm vấn đề xác định mối

quan hệ nhân quả giữa biến động tỷ giá hối đoái thực và mở cửa thương mại

Trang 22

Bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích chuỗi thời gian như phương pháp quan hệ nhân quả của Geweke Bài nghiên cứu phân tích thực nghiệm dựa trên mẫu gồm 10 quốc gia OECD Phân tích cho thấy mở cửa thương mại không phải là biến ngoại sinh như trong các mô hình lý thuyết của Obstfeld-Rogo (1995) Kết quả bài nghiên cứu tìm ra bằng chứng cho thấy biến động của tỷ giá hối đoái có mối quan hệ Granger với biến mở cửa thương mại Kết quả này trái ngược với kết quả thực nghiệm được Hau(2002) đưa ra dựa trên

kỹ thuật dữ liệu chéo Hau(2002) nhận ra rằng mở cửa thương mại là biến nội sinh và có thể bị tác động bởi sự biến động của tỷ giá hối đoái thực Quan điểm của họ chứng minh mối quan hệ là khá bền vững khi thay thế sự biến động của tỷ giá hối đoái làm biến đại diện Bài nghiên cứu đề xuất việc nghiên cứu để đưa ra một mô hình tốt hơn về biến động tỷ giá hối đoái thực là rất cần thiết Kỹ thuật Spectral đã chứng minh được có một công cụ mạnh hơn

để nghiên cứu những chuyển động của các biến Tuy nhiên trong phạm vi bài nghiên cứu này không thể xác định được mô hình động về mối quan hệ nhân quả được nghiên cứu Nghiên cứu đưa đến kết luận cần phải có các nghiên cứu lý thuyết nhiều hơn trong việc xây dựng mô hình động, mà trong đó mở cửa thương mại là biến nội sinh chịu tác động bởi sự biến động tỷ giá hối đoái thực

Calderon là một trong số ít người sử dụng lý thuyết “new open

macroeconomics” để giải thích sự biến động của tỷ giá hối đoái Vì vậy, ông

nhấn mạnh các nhân tố phi tiền tệ là quan trọng trong việc giải thích sự biến

động tỷ giá Calderon (2004) kiểm định giả thuyết: sự biến động của tỷ giá

hối đoái thực là ít hơn ở các nền kinh tế mở Ông suy đoán mối quan hệ cấu trúc giữa sự biến động tỷ giá hối đoái thực và sự biến động của các yếu tố cơ bản Kết quả chính của Calderon là: sự biến động của tỷ giá hối đoái và sự

Trang 23

thay đổi của các yếu tố cơ bản có biến động nhiều hơn ở các nước đang phát triển Sự biến động tỷ giá hối đoái thực ở các nước đang phát triển biến động gấp 4 lần so với các nước công nghiệp Sau đó, cơ chế tỷ giá hối đoái càng linh hoạt thì càng dễ biến động trong tỷ giá hối đoái thực Tỷ giá hối đoái thực giữa các quốc gia đang phát triển với cơ chế tỷ giá thả nổi thì biến động gấp 3 lần so với các nước đang phát triển có cơ chế tỷ giá neo cứng hoặc cố định Thú vị là kết quả cho thấy có một mối tương quan nghịch biến yếu giữa mở cửa tài chính và sự biến động tỷ giá hối đoái thực

Tseng, Chen & Lin (2005) đã cung cấp bằng chứng về việc thương mại

quốc tế có thể giúp ổn định sự thay đổi của tỷ giá, như trong mô hình Mundell (1961) Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy một sự tăng lên trong khối lượng mậu dịch (so với tổng cầu trong nước) có khuynh hướng làm giảm sự biến động của tỷ giá hối đoái khi các cú sốc làm xáo trộn nền kinh tế Họ đưa ra sự mất cân bằng mậu dịch làm tỷ giá biến động theo chiều hướng xấu hơn ở những nước công nghiệp là một câu hỏi mở cần phải được giải quyết thông qua thu thập thêm những bằng chứng thực nghiệm

Bleaney (2008) cho rằng những yếu tố cơ bản như tổng sản phẩm quốc

nội, cung tiền, thất nghiệp không hỗ trợ quá nhiều trong việc xác định tỷ giá hối đoái trong phạm vi quan sát của họ, việc thiết lập phạm vi nghiên cứu rộng là rất quan trọng Mặc dù ông hoàn toàn đồng ý nghiên cứu của Hau – nền kinh tế càng mở cửa thì tỷ giá càng ít biến động Bleaney lập luận rằng một phương pháp đo lường độ mở cửa tốt hơn là cán cân tài khoản vãng lai/ GDP và nó thiết lập giới hạn cho sự biến động của tỷ giá hối đoái thực Bleaney đã chỉ ra rằng dựa theo lý thuyết tỷ giá hối đoái thực chuyển động gần như ngẫu nhiên, nhưng chỉ trong một số giới hạn nhất định Những giới hạn này là rộng hơn cho một nền kinh tế ít mở cửa và vì thế nền kinh tế càng

Trang 24

ít mở cửa sẽ gặp phải sự biến động tỷ giá hối đoái thực càng cao Phân tích mẫu gồm 22 nước thuộc OECD giai đoạn 1980 – 2005 ông nhận thấy mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái thực và mở cửa thương mại có ý nghĩa về mặt thống kê và bền vững, vì vậy những quốc gia có tỷ lệ thương mại/GDP cao hơn thì có sự biến động tỷ giá hối đoái thực thấp hơn

Calderón C., và Kubota M., (2009) dựa trên mô hình the real exchange rate redux và những biến thể của nó (Obstfeld and Rogoff, 1995; Hau, 2002)

chúng tôi đã tìm thấy trong đó các biện pháp mở cửa thương mại và mở cửa tài chính sẽ làm tăng tính giải thích sự biến động của các cú sốc của các nhân

tố cơ bản trong mô hình hồi quy Bài nghiên cứu thu thập thông tin cho 82 quốc gia (trong đó có 22 quốc gia có nền kinh tế công nghiệp) cho giai đoạn

1975 – 2005 Kết quả cho thấy những quốc gia có mức độ hội nhập với thị trường hàng hóa thế giới ngày càng cao thì có xu hướng làm cho tỷ giá hối đoái thực ổn định hơn Kết quả này bất chấp việc sử dụng các biện pháp chính sách hoặc biện pháp hiệu quả của mở cửa thương mại, và cung cấp bằng

chứng thực nghiệm hữu hiệu cho các tác động của mô hình the exchange rate redux (Obstfeld and Rogoff, 1995; Hau, 2002) Lưu ý rằng thực tế các quốc

gia có thương mại càng cao thì tác động làm cho tỷ giá hối đoái được ổn định hơn phù hợp với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây Về mặt kinh tế, sự tăng lên gấp đôi của mở cửa thương mại sẽ dẫn đến giảm biến động của tỷ giá hối đoái thực từ 7 -12%

ZakariaM.,và Ghauri, A.B., (2011) nghiên cứu để đưa ra bằng chứng

thực nghiệm về sự tác động của mở cửa thương mại lên tỷ giá hối đoái thực ở Pakistan bằng việc sử dụng dữ liệu quý từ 1972 đến 2010 Với việc sử dụng

mô hình ước lượng GMM –một phương pháp tiếp cận khá hiện đại, nghiên cứu đã tìm ra một tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê của mở cửa

Trang 25

thương mại lên tỷ giá hối đoái thực ở Pakistan, mở cửa thương mại làm giảm giá đồng Rupee Kết quả này cũng chỉ ra rằng chuyển từ chế độ tỷ gía hối đoái cố định sang thả nổi cũng làm giảm giá tỷ giá hối đoái thực ở Pakistan Kết quả là bền vững khi thay đổi phương pháp đo lường mở cửa thương mại

và các mô hình khác nhau Kết quả cũng nhấn mạnh vai trò của các biến khác trong việc xác định tỷ giá hối đoái thực Chi tiêu chính phủ và đầu tư nước ngoài tác động cùng chiều một cách đáng kể lên tỷ giá hối đoái; trong khi tỷ

lệ mậu dịch, dòng vốn, tích lũy vốn có tác động ngược chiều có ý nghĩa lên tỷ giá hối đoái Điều này không phù hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô được xem là nguồn gốc của sự mất cân bằng của tỷ giá hối đoái thực (Edwards, 1988b)

Lee Chin and Law Chee-Hong (2013) nghiên cứu sự tác động của mở

cửa thương mại lên tỷ giá hối đoái của Malaysia Vì Malaysia là một nền kinh

tế nhỏ, mở có liên quan đến thương mại quốc tế và lý thuyết kinh tế được đưa

ra bởi Dornbush (1974) nhấn mạnh rằng việc giảm thuế (mở cửa thương mại sâu rộng) sẽ làm mất giá đồng nội tệ bằng cách làm giảm giá hàng xuất khẩu

và tăng giá hàng nhập khẩu, nghiên cứu này cố gắng kiểm định sự tác động của mở cửa thương mại lên tỷ giá hối đoái ở Malaysia Bên cạnh biến mở cửa thương mại, các biến từ cách tiếp cận theo mô hình tiền tệ và mô hình cân bằng danh mục được đưa ra trong mô hình tỷ giá Kết quả cho thấy hầu hết các biến như mở cửa thương mại, sản lượng, cung tiền M2, cán cân thương mại, lãi suất, chỉ số thị trường chứng khoán đều có ý nghĩa về mặt thống kê và mang lại kết quả như dự đoán theo lý thuyết Trong đó, đáng quan tâm là một

sự tăng lên trong mở cửa thương mại có thể dẫn tới một sự giảm giá trong đồng Ringgit của Malaysia Thêm vào đó, một sự tăng lên trong cán cân thương mại có thể làm giảm giá đồng Ringgit

Trang 26

Bên cạnh một vài nghiên cứu cho thấy mở cửa thương mại có sự ảnh hưởng cùng chiều lên tỷ giá hối đoái thực và nó giảm trước khi tự do hóa thương mại (Edwards, 1993; Elbadawi năm 1994; Connolly và Devereux, 1995; Hau, 2002… và các nghiên cứu đã đề cập ở trước) thì một số nghiên cứu nhận thấy sự tác động không có ý nghĩa thống kê của mở cửa lên tỷ giá hối đoái thực (Edwards, 1987) Bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu quý của

30 quốc gia cho giai đoạn 1972 – 1983 để kiểm tra vai trò của các yếu tố tiền

tệ và các yếu tố thực trong việc giải thích sự thay đổi của tỷ giá hối đoái ở các nước đang phát triển trong ngắn hạn và dài hạn Để đạt được kết quả bài nghiên cứu sử dụng phương pháp GLS cho dữ liệu chéo Kết quả cho thấy trong ngắn hạn các yếu tố tiền tệ đóng một vai trò quan trọng trong việc giải thích sự thay đổi của tỷ giá hối đoái thực Đặc biệt là sự bất ổn của chính sách

tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã phản ánh sự bất ổn ngày càng tăng cao của tỷ giá hối đoái thực trong ngắn hạn Những nhân tố thực như thay đổi tỷ lệ mậu dịch, mở cửa thương mại… không đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích sự khác biệt của tỷ giá hối đoái thực trong ngắn hạn của các quốc gia

Thêm vào đó, Li (2004) đã chỉ ra rằng tự do hóa thương mại đáng tin

dẫn đến sự giảm giá tỷ giá hối đoái thực, nhưng không đáng tin có thể dẫn tới một sự tăng giá tỷ giá hối đoái thực trong ngắn hạn Bài nghiên cứu này sử dụng nghiên cứu sự kiện dựa trên những tài liệu riêng biệt về tự do hóa thương mại ở 45 quốc gia chứ không giống như những nghiên cứu tồn tại trước đây sử dụng kiểm định gián tiếp hoặc các phương pháp đo lường độ mở cửa thương mại Kết quả cho thấy tỷ giá hối đoái thực giảm sau khi quốc gia

mở cửa thương mại Tuy nhiên, ở những quốc gia có nhiều giai đoạn tự do hóa, tỷ giá hối đoái thực không giảm ngay tại thời điểm bắt đầu tự do hóa, và

Trang 27

cho rằng tự do hóa từng phần hoặc tạm thời sẽ ngăn cản việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái về mức tỷ giá cân bằng

Carrera, J., và Restout R., (2008) xác định các nhân tố ảnh hưởng đến

tỷ giá hối đoái thực ở 19 quốc gia châu Mỹ La Tinh cho giai đoạn từ 1970 –

2006 Sử dụng kỹ thuật đồng liên kết cho dữ liệu bảng, bài nghiên cứu ước lượng một số mô hình của tỷ giá hối đoái thực dựa trên những nhân tố cơ bản được đưa vào mô hình hồi quy Đề cập đến lý thuyết, sáu nhân tố cơ bản được giữ lại cho bài nghiên cứu: hiệu ứng Balassa – Samuelson, chi tiêu của chính phủ, tỷ lệ mậu dịch, độ mở của quốc gia với thương mại quốc tế, dòng vốn quốc tế và tài sản nước ngoài ròng Thêm vào đó, bài nghiên cứu cũng sử dụng cơ chế tỷ giá hối đoái danh nghĩa như là một yếu tố quyết định đến việc đánh giá tỷ giá hối đoái thực ở Châu Mỹ Latinh Do đó, bài nghiên cứu thực hiện phương pháp được đề xuất bởi Coudert and Dubert (2005) để xác định các cơ chế tỷ giá hối đoái trên thực tế Sau đó, chia các quốc gia trong mẫu thành hai nhóm, đó là Nam Mỹ( 10 nước), Caribbean và Trung Mỹ ( 9 nước) Kết quả thực nghiệm chính thu được như sau: bài nghiên cứu xác định 6 nhân

tố thực sự có tác động tiềm năng đến tỷ giá hối đoái thực Ước lượng cho toàn

bộ mẫu (19 nước) xác định mối liên kết giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân

tố tác động Đó là, một sự tăng cao trong chi tiêu của chính phủ so với GDP, một sự gia tăng trong năng suất, một sự thay đổi tích cực trong tỷ lệ mậu dịch, một sự đột biến trong dòng vốn nước ngoài và gia tăng trong tài sản nước ngoài ròng ảnh hưởng tích cực đến tỷ giá hối đoái ở Châu Mỹ Latinh Trong khi đó, một sự tăng lên trong độ mở cửa thương mại dẫn đến sự mất giá của tỷ giá hối đoái thực Chế độ tỷ giá hối đoái thực tế cũng làm ảnh hưởng mạnh đến tỷ giá hối đoái thực ở Châu Mỹ Latinh: chế độ tỷ giá cứng nhắc (neo hoặc neo tỷ giá có điều chỉnh) sẽ tạo ra áp lực lên tỷ giá hối đoái Kết quả cũng cho

Trang 28

thấy một sự không trung lập trong chế độ tỷ giá hối đoái có liên quan đến tác động của nó lên tỷ giá hối đoái thực bất kỳ mức độ tin cậy của chế độ tỷ giá

cố định Xu hướng của chế độ tỷ giá hối đoái cố định làm tăng tỷ giá hối đoái thực tế cũng xem như là tác động bất lợi cho việc ổn định tỷ giá hối đoái ở Châu Mỹ Latinh

Các nghiên cứu thực nghiệm khác trong kết quả và lý do của sự khác nhau là nghiên cứu vào những khoảng thời gian khác nhau cho những quốc gia khác nhau và họ sử dụng những kỹ thuật kinh tế khác nhau cho ước lượng

mô hình tỷ giá hối đoái thực Họ cũng khác nhau trong việc sử dụng dữ liệu vì một vài nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian, những nghiên cứu khác

sử dụng dữ liệu bảng, trong khi một vài nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu chéo Vấn đề chính của những nghiên cứu này là hầu hết trong số họ không giải quyết vấn đề đặc hiệu của nội sinh bằng bất cứ công cụ ước lượng biến thích hợp nào

Luận văn này với mục tiêu là nghiên cứu thực nghiệm: (1) mở cửa thương mại có tác động đến tỷ giá hối đoái thực ở Việt Nam hay không; (2) nếu có thì một sự tăng lên trong mở cửa thương mại sẽ làm tăng hay giảm tỷ giá hối đoái thực dựa trên mẫu nghiên cứu về Việt Nam cho giai đoạn quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2012

Trang 29

Chương 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mô hình nghiên cứu

Để xác định tác động của mở cửa thương mại lên tỷ giá hối đoái thực, bài nghiên cứu đã kết hợp chặt chẽ các phương pháp tiếp cận mô hình tỷ giá hối đoái thực và các nghiên cứu trước đây về chủ đề này Các biến đưa vào

mô hình được xác định là các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực Mỗi biến và các lý thuyết liên quan sự tác động của nó lên tỷ giá hối đoái thực đã được trình bày ở phần trước đó và sẽ được tổng hợp ở cuối chương này

rert = + opent + tott + gexpt + fit+ fd + et (1)

Trong đó,

rert : tỷ giá hối đoái thực (VND/USD)

opent: mở cửa thương mại

tott : tỷ lệ mậu dịch

gexpt: chi tiêu của Chính phủ

fit : đầu tư trực tiếp nước ngoài

fdt : nợ nước ngoài

3.2 Dữ liệu nghiên cứu

Tỷ giá hối đoái thực được xác định bằng tỷ giá hối đoái danh nghĩa điều chỉnh bởi giá hàng hóa nước ngoài và trong nước Bài nghiên cứu sử dụng CPI của Mỹ như giá hàng hóa nước ngoài và CPI của Việt Nam thể hiện giá hàng hóa trong nước Tỷ giá danh nghĩa được chuyển về dạng chỉ số và năm 2000 được chọn làm năm gốc bằng cách lấy tỷ giá hối đoái danh nghĩa

Trang 30

hiện tại chia cho tỷ giá hối đoái danh nghĩa năm 2000 Sở dĩ bài nghiên cứu chọn năm 2000 làm năm cơ sở vì: (1) trong năm này cán cân thương mại của Việt Nam khá cân bằng; (2) năm NHNN điều chỉnh lại giá trị danh nghĩa của VND để đưa nó về gần với giá trị thực (Hạ Thị Thiều Dao, 2012). Do đó, tỷ giá hối đoái thực được đưa về dạng chỉ số

Độ mở nền kinh tế (OPEN) được xác định bằng tổng giá trị xuất khẩu

và nhập khẩu trên GDP danh nghĩa Tỷ lệ mậu dịch (TOT) được xác định là tỷ

lệ giữa chỉ số giá của hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu trên chỉ số giá hàng hóa

và dịch vụ nhập khẩu Chi tiêu của chính phủ (GEXP) được đưa ra như là tỷ

lệ của GDP thực Đầu tư nước ngoài (FI) thu được bằng cách chia đầu tư trực tiếp nước ngoài cho GDP danh nghĩa Nợ nước ngoài (FD) được xây dựng bằng cách chia tổng số nợ nước ngoài cho GDP danh nghĩa Chuỗi dữ liệu thời gian được thu thập cho giai đoạn từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm

2012

Dữ liệu của các biến độc lập trong mô hình được thu thập từ các nguồn sau: Hệ thống cơ sở dữ liệu các chỉ tiêu tài chính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IFS-IMF); Tổng cục Thống kê VN (GSO); Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) Trong đó, biến TOT, GEXP là số liệu năm Chỉ số TOT của Việt Nam so với năm gốc 2000 (2000=100) được UNCTAD công bố hàng năm Số liệu chi tiêu chính phủ được lấy từ nguồn ADB Để chuyển từ dữ liệu năm sang dữ liệu quý, bài nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật chuyển theo phép nội suy tuyến tính của Eviews Còn đối với số liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài, bài nghiên cứu sử dụng đã sử dụng số liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng từ IMF cho giai đoạn quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2008, số liệu của các quý còn lại

Trang 31

được nội suy tuyến tính từ số liệu năm 2009- 2012 được công bố trên UNCTAD

Bảng 3.1: Tổng hợp nguồn dữ liệu của các biến được sử dụng

Biến Ký hiệu biến Thời gian Nguồn

Tỷ giá hối đoái thực RER Q12000-Q42012 Tính toán từ số

liệu IMF, GSO

Mở cửa thương mại OPEN Q12000-Q42012 Tính toán từ số liệu

IMF, GSO

Tỷ lệ mậu dịch TOT 2000 2012 UNCTAD

Chi tiêu chính phủ GEXP 2000 - 2012 Tính toán từ số liệu

Nợ nước ngoài FD Q12000-Q42012 ARIC của ADB

Nguồn tổng hợp của tác giả

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng dạng Logarit cho tất cả các biến để xử lý hiện tượng outlier, được hiểu theo nghĩa chung là giá trị bất thường khác với các giá trị khác trong mẫu dữ liệu Dựa trên bảng số liệu về tính toán độ mở cửa thương mại (xem phụ lục) thì ta thấy hiện tượng oulier xuất hiện vào quý 1 của các năm 2006, 2007, 2008 Tương tự là số liệu của biến đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng đột biến vào năm 2008 ( xem hình 4.3)… Hiện tượng outlier dẫn đến sự không chính xác trong ước lượng hồi quy đặc biệt khi mẫu nhỏ

Trang 32

(tác động đến hệ số hồi quy) Do đó, một trong các biện pháp để xử lý hiện tượng outlier là phương pháp biến đổi logarit cho tất cả các biến

Sau đó, kiểm định nghiệm đơn vị được thực hiện để kiểm tra tính dừng của các biến Đối với bài nghiên cứu này, kiểm định ADF và PP được áp dụng để đạt được mục tiêu trên

Để ước lượng mô hình, bài nghiên cứu không thể áp dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) vì hiện tượng nội sinh của độ trễ của biến phụ thuộc có thể làm cho những kết quả của phương pháp bình phương bé nhất bị sai lệch và không phù hợp Vì thế, bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật ước lượng Generalized Method of Moments (GMM) để ước lượng phương trình tỷ giá hối đoái thực GMM có thể kiểm soát hiện tượng nội sinh của độ trễ các biến phụ thuộc và hiện tượng nội sinh tiềm ẩn của các biến giải thích khác trong

mô hình (Judson and Owen, 1999) Độ trễ của các biến độc lập được sử dụng như là biến công cụ Sau đó sử dụng kiểm định quan trọng nhất của phương

pháp ước lượng GMM là kiểm định Sargan (Sargan Test) Đây là kiểm định

cần thiết trong trường hợp số biến công cụ nhiều hơn số biến trong mô hình

Ý tưởng của kiểm định là xem xét biến công cụ có tương quan với phần dư của mô hình không Nếu câu trả lời là không, khi đó biến công cụ được chọn

là phù hợp và mô hình sử dụng biến đó để ước lượng cũng phù hợp Kiểm

định Sargan sử dụng thống kê J (J – statistic) nhằm kiểm định giả thiết H0 -

biến công cụ là có giá trị, mô hình là phù hợp Thống kê J tuân theo phân phối Chi bình phương và được trình bày trên bảng kết quả ước lượng của phần mềm Eviews 7 cùng với giá trị p-value tương ứng của nó Nếu giá trị thống kê Chi bình phương tính được vượt giá trị thống kê chi bình phương tới hạn, ta bác bỏ giả thiết Ho, điều này có nghĩa là có ít nhất một biến công cụ có tương

Trang 33

quan với số hạng sai số và do đó các giá trị ước lượng biến công cụ dựa vào biến công cụ được chọn là không có giá trị

Chương IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Mô tả thống kê về dữ liệu nghiên cứu

Bảng 4.1: Mô tả thống kê của các biến (Q12000 – Q42012)

Trang 34

Từ bảng thống kê mô tả tóm tắt dữ liệu các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu (chưa lấy logarit) có thể giúp ích trong việc giải thích các hệ số ước lượng thu được bằng việc cung cấp tỷ lệ của các biến có liên quan Biến

tỷ giá hối đoái thực là biến độc lập trong mô hình, với giá trị trung bình bằng 0.94<1 Điều này cho thấy VND đang bị định giá cao so với USD, có nghĩa là lúc này mỗi VND sẽ mua được nhiều hàng hóa hơn ở nước ngoài (Mỹ) so với

ở trong nước Đối với đồng tiền bị định giá thực cao sẽ hạ thấp vị thế cạnh tranh thương mại của Việt Nam so với các nước bạn hàng, nghĩa là xuất khẩu

ít còn nhập khẩu thì nhiều Nhìn vào giá trị nhỏ nhất xấp xỉ 0.75 và giá trị lớn nhất xấp xỉ 1.1 có thể nhận thấy được VND không phải luôn bị định giá cao

mà đã có giai đoạn VND được định giá thấp, cụ thể vào giai đoạn Q1/2000 – Q3/2003 tỷ giá hối đoái thực VND/USD có xu hướng tăng nhẹ bằng 0.75% Sau đó VND đã có xu hướng tăng mạnh thực tế trong giai đoạn Q4/2003 – Q4/2005 với tốc độ gần 1.5%/quý Tuy nhiên từ Q1/2006 cho tới nay tỷ giá hối đoái thực có xu hướng giảm và đặc biệt giảm mạnh cho đến Q4/2012 So với năm 2000, chỉ số CPI (đại diện cho mức độ lạm phát trong nền kinh tế) của Việt Nam năm 2012 đã tăng tới xấp xỉ 150% trong khi CPI của Mỹ chỉ tăng 33% trong cùng giai đoạn Trong khi đó tỷ giá danh nghĩa giữa VND/USD chỉ tăng xấp xỉ 40% Do vậy, nếu chúng ta lấy năm 2000 làm gốc thì VND đã lên giá thực tế xấp xỉ 25%

Trang 35

Hình 4.1: Tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa VND/USD theo quý từ năm

2000 –2012 (năm 2000 là năm gốc)

Nguồn tính toán của tác giả từ dữ liệu IMF [http://www.imf.org/external/data.htm]

Độ mở cửa thương mại của Việt Nam trung bình là 1.34 >1 được cho là

có độ mở cao đánh dấu bằng sự kiện năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO Độ mở cửa thương mại có xu hướng ngày càng tăng qua các thời kỳ để phù hợp hơn với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đang được xem là xu thế chung của thế giới đương đại Điều này được minh chứng bằng việc Việt Nam ký kết được ngày càng nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương với các quốc gia, tổ chức kinh tế trong khu vực cũng như trên phạm vi toàn thế giới Đến nay, nước ta đã ký kết trên 70 hiệp định thương mại song phương, trong đó đáng chú ý nhất và toàn diện nhất là Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ ký năm 2001 Ở cấp độ đa phương Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Châu Á, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới; gia nhập các tổ

Trang 36

chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết hiệp định hợp tác kinh tế

đa phương như Hiệp Hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc,

Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), Liên Minh Châu

Âu (EU)… và một sự kiện đặc biệt quan trọng là Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 7 tháng

11 năm 2006

Hình 4.2: Độ mở cửa thương mại của Việt Nam theo quý từ 2000-2012

Nguồn tính toán của tác giả từ dữ liệu IMF [http://www.imf.org/external/data.htm] Dòng vốn đầu tư nước ngoài với số liệu lấy trên IMF là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng vào Việt Nam Đó là lý do khiến dòng vốn đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ trọng không lớn so với GDP trung bình vào khoảng 6.1%

Số liệu thu thập về đầu tư nước ngoài của bài nghiên cứu có sự sai lệch đáng

kể so với số liệu thu thập từ nguồn GSO vì số liệu đầu tư nước ngoài trên

Trang 37

GSO là vốn đầu tư chỉ mới đăng ký mới trên các Sở kế hoạch và đầu tư trong

cả nước Nhìn trên biểu đồ ta thấy dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

từ năm 2009 đến nay giảm đáng kể Nguyên nhân là do Mỹ, Nhật, Châu Âu là những quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam chiếm trên 50%

để rơi vào khủng hoảng và suy thoái do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Thêm vào đó, nhiều tổ chức tài chính gặp khó khăn khiến nguồn tín dụng trở nên cạn kiệt, chi phí vốn trở nên đắt đỏ và kéo theo nhiều hợp đồng tín dụng sẽ không được ký kết hoặc không được giải ngân trong khi

đó hơn 30% vốn FDI ở Việt Nam là vốn vay chứ không phải vốn cổ phần Cuối cùng là do nhu cầu tiêu thụ sụt giảm nên việc giải ngân FDI cũng chậm lại đáng kể (Hạ Thị Thiều Dao, 2012)

Hình 4.3: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng từ 2000-2012

Nguồn UNCTAD [http://unctadstat.unctad.org/ReportFolders/reportFolders.aspx]

Ngày đăng: 20/07/2021, 17:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thanh Chúc, 2013. Tác động của tỷ giá thực hiệu lực đến xuất nhập khẩu của Việt Nam. Luận văn thạc sĩ. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của tỷ giá thực hiệu lực đến xuất nhập khẩu của Việt Nam
3. Hạ Thị Thiều Dao và cộng sự, 2012. Nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái thực – trường hợp Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái thực – trường hợp Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
4. Hoàng Ngọc Nhậm và cộng sự, 2007. Giáo trình kinh tế lượng. Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế lượng
5. Lê Thị Mận, 2010. Điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thời kỳ 1998 đến nay. Tạp chí Ngân hàng, số 11 tháng 6, trang 12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngân hàng
7. Nguyễn Duy Nghĩa, 2010. Bất cập trong kiểm soát nhập siêu. &lt;http://vnexpress.net/tin-tuc/ban-doc-viet/kinh-doanh/bat-cap-trong-kiem-soat-nhap-sieu-2162177&gt;. [ truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất cập trong kiểm soát nhập siêu
8. Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2009. Dự báo và phân tích dữ liệu trong kinh tế và tài chính. Hà Nội: Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo và phân tích dữ liệu trong kinh tế và tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
10. Nguyễn Văn Tiến, 2010. Giáo trình tài chính quốc tế. Hà Nội: Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tài chính quốc tế
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
11. Phạm Văn Năng, Hoàng Công Gia Khánh, 2011. Cơ chế tỷ giá ở Việt Nam, chặng đường hai thập niên đổi mới. Thành phố Hồ Chí Minh:Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế tỷ giá ở Việt Nam, chặng đường hai thập niên đổi mới
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
12. Tô Trung Thành, 2013. Biến động tỷ giá hối đoái ở Việt Nam và các nhân tố đặc thù. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 11, trang 20-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế và Dự báo
14. Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2011. Tài chính quốc tế. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính quốc tế
15. Vũ Quốc Huy và cộng sự, 2013. Tỷ giá hối đoái giai đoạn 2000 – 2011, mức độ sai lệch và tác động đối với xuất khẩu. Nhà xuất bản Tri thứcTài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ giá hối đoái giai đoạn 2000 – 2011, mức độ sai lệch và tác động đối với xuất khẩu
Nhà XB: Nhà xuất bản Tri thức Tài liệu Tiếng Anh
1. Ahmet N. Kipici, 1997. The real exchange rate definitions and calculations. Central bank of the Republic of Turkey Working papers, No 97/1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Central bank of the Republic of Turkey Working papers
2. Alcal´a, F., Ciccone, A., 2004. Trade and Productivity. Quarterly Journal of Economics,119: 613-646 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quarterly Journal of Economics
3. Arellano, M., and Bover, O., 1995. Another Look at the Instrumental- Variable Estimation of Error-Components Models. Journal of Econometrics, 68:29-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Econometrics
4. Balvers, R., Bergstrand, J., and Jeffery, H., 2002 Government expenditure and equilibrium real exchange rate. Journal of International Money and Finance, 21: 667 – 692 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of International Money and Finance
5. Broda, C., và Romalis, J., 2011. Indentifying the Relationship between Trade and Real Exchange Rate Volatility, National Bureau of Economic Research, 20:79-110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: National Bureau of Economic Research
6. Calderón, C. and Kubota M., 2009. Does Higher Openness Cause More Real Exchange Rate Volatility. Policy Research Working Papers, No 4869 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Policy Research Working Papers
9. Connolly, M., and Devereux J., 1995. The Equilibrium Real Exchange Rate: Theory and Evidence for Latin America. In: J. L.Stein, P. R.Allen and Associates, eds. Fundamental Determinants of Exchange Rates. Oxford: Oxford University Press, New York, pp.154-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamental Determinants of Exchange Rates
10. Edwards, S., 1987. Real Exchange Rate Variability: An Empirical Analysis of the Developing Countries Case. International Economic Journal, 1(1): 91-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Economic Journal
12. Edwards, S., 1993. Openness, Trade Liberalization and Growth in Developing Countries. Journal of Economic Literature, XXXI: 1358- 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Economic Literature

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm