BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHAN THỊ PHƯƠNG TRANG NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN THÔNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VỀ VẤN
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHAN THỊ PHƯƠNG TRANG
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN THÔNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VỀ VẤN
ĐỀ RÁC THẢI NHỰA CỦA HỌC SINH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Hùng Anh
Người phản biện 1: TS Đinh Thanh Sang
Người phản biện 2: PGS.TS Đinh Đại Gái
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày 24 tháng 01 năm 2021
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS Bùi Xuân An - Chủ tịch Hội đồng
2 TS Đinh Thanh Sang - Phản biện 1
3 PGS.TS Đinh Đại Gái - Phản biện 2
4 TS Trần Trí Dũng - Ủy viên
5 TS Trần Thị Thu Thủy - Thư ký
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
PGS.TS Bùi Xuân An PGS.TS Lê Hùng Anh
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: PHAN THỊ PHƯƠNG TRANG MSHV: 18104551
Ngày, tháng, năm sinh: 25/11/1974 Nơi sinh: Long An
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường Mã chuyên ngành: 8.85.01.01
I TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu áp dụng các chương trình truyền thông nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường về vấn đề rác thải nhựa của học sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
và tỉnh Long An
NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Nhiệm vụ: Hoàn thành luận văn và bảo vệ đúng thời hạn
Nội dung nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp:
Nội dung 1: Khảo sát nhận thức của học sinh về Môi trường và vấn đề ô nhiễm rác thải nhựa
Nội dung 2: Áp dụng và đánh giá hiệu quả của các công cụ truyền thông để nâng cao nhận thức của học sinh
Nội dung 3: Đề xuất các giải pháp truyền thông
II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo Quyết định số 843/QĐ-ĐHCN ngày 10 tháng
7 năm 2020
III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: Ngày 10 tháng 01 năm 2021
IV NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Lê Hùng Anh
Tp Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 01 năm 2021
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
PGS.TS Lê Hùng Anh
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KHCN & QLMT
PGS.TS Lê Hùng Anh
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Hùng Anh - người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn thạc sĩ này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ trong Hội đồng các cấp
đã đọc và góp ý cho luận văn của tôi Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô tại Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý Môi trường đã cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô của Trường, Phòng Khoa học Công nghệ, Phòng Sau đại học, các thầy cô Ban giám hiệu và toàn thể các bạn học sinh ở các điểm trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông tại quận 1, thành phố
Hồ Chí Minh và tỉnh Long An đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn này
Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn bè
đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Học viên thực hiện
Phan Thị Phương Trang
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam đã và phát triển mạnh mẽ, bên cạnh việc
mở rộng các khu đô thị, khu công nghiệp và các dịch vụ du lịch, môi trường sống của chúng ta đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là các vấn nạn về ô nhiễm rác thải nhựa, hậu quả làm ảnh hưởng trực tiếp đến con người và các hệ sinh thái Một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường là do ý thức của con người, công tác truyền thông môi trường của cơ quan nhà nước chưa thực sự hiệu quả, chỉ thí điểm ở một số địa phương Vì vậy từ những vấn đề trên tôi thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu áp dụng các chương trình truyền thông nhằm nâng cao nhận thức
bảo vệ môi trường về vấn đề rác thải nhựa của học sinh trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh và tỉnh Long An” với mục đích nghiên cứu áp dụng các phương pháp truyền
thông trong giáo dục, thay đổi lối sống và cung cấp thêm kiến thức về môi trường cho học sinh cả 3 cấp tại tỉnh Long An và thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài nghiên cứu được tiến hành gồm 3 nội dung: Đánh giá nhận thức về môi trường của học sinh trung học phổ thông; Đánh giá hiệu quả của các phương pháp truyền thông môi trường; Đề xuất các giải pháp truyền thông môi trường Để thực hiện các nội dung nghiên cứu trên, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm: phương pháp phiếu khảo sát; các phương pháp truyền thông môi trường; phương pháp chuyên gia; phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu, phương pháp SWOT Kết thúc quá trình nghiên cứu cho thấy nhận thức về môi trường của các nhóm đối tượng có sự khác nhau giữa hai khu vực TpHCM và Long An Tuy nhiên khác biệt lớn nhất là giữa học sinh Tiểu học và hai cấp học còn lại Dựa vào kết quả trên, tôi đã đề xuất quy trình truyền thông cho từng đối tượng cụ thể
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu sâu hơn về truyền thông môi trường, là cơ sở dữ liệu hỗ trợ triển khai công tác truyền thông trong nhà trường, xây dựng trường học xanh và các hoạt động vui chơi lành lạnh góp phần nâng cao kiến thức và ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
Từ khóa: Ô nhiễm môi trường, Ô nhiễm rác thải nhựa, Truyền thông môi trường, Nhận thức về môi trường, Ý thức bảo vệ môi trường
Trang 6ABSTRACT
Vietnam is in the process of industrialization - modernization and it has developed strongly ever since Apart from the expansion of urban areas, industrial parks and tourism services, our living environment is being contaminated The consequences of environmental pollution have been directly impacting on people and other creatures Plastic waste pollution has seriously affected on people and it is on the spotlihgt for recent years One of the major causes of environmental pollution is the lack of human awareness, and an inefficient propaganda of the government, which is only executed locally The above issues stimulated us to work on a project: “Research on environmental communication methods to raise awareness of students about plastic waste pollution” With the aim of studying communication methods in education communication methods, and along the way, orientation to zero-waste lifestyle by providing basic knowledge about environment for students
The study was conducted with 03 main goals: to assess an awareness of high school students about these pressing issues; evaluate the effectiveness of environmental communication methods; suggest a solution for environmental communication The researching methods are surveying; methods of environmental communication; professional solution; SWOT method After the research, we can see the environmental awareness of the subjects in Ho Chi Minh city and Long An province
is different clearly However, the biggest difference is between Primary students and the other two levels of education Based on the above results, I have proposed a communication process for each specific audience
The results of the project are the scientific basis for further studies on environmental communication They are database to suppoet and deploy the implementation of schools, build green school and healthy activities As a result, we could improve knowledge and awareness of environmental protection from students
Keyword: Environmental pollution, Plastic waste pollution, Environmental communication, Environmental awareness, Awareness of environmental protection
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được các tác giả công bố trong bất kì công trình nào Các trích dẫn về bảng biểu, kết quả nghiên cứu của những tác giả khác; tài liệu tham khảo trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và theo đúng quy định
Học viên
Phan Thị Phương Trang
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ ii
ABSTRACT iii
LỜI CAM ĐOAN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan về rác thải nhựa 7
1.1.1 Đặc điểm và tính chất 7
1.1.2 Tác hại của rác thải nhựa 7
1.1.3 Tình hình ô nhiễm rác thải nhựa trên thế giới 8
1.1.4 Tình hình ô nhiễm rác thải nhựa tại Việt Nam 10
1.1.5 Chính sách của chính phủ Việt Nam về rác thải nhựa 13
1.2 Cơ sở lý thuyết được sử dụng trong đề tài 15
1.2.1 Tổng quan về truyền thông môi trường 15
1.2.2 Các khái niệm được sử dụng trong đề tài 19
1.3 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu 22
1.3.1 Học sinh là đối tượng tiềm năng trong lĩnh vực truyền thông môi trường 22
1.3.2 Một số nghiên cứu và hoạt động truyền thông môi trường cho học sinh trên thế giới 25
1.3.3 Một số hoạt động truyền thông môi trường cho học sinh tại Việt Nam 26
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 28
1.4.1 Tổng quan huyện Cần Đước – Long An 28
1.4.2 Tổng quan Quận 1 - Tp HCM 30
1.5 Tình hình học sinh ở khu vực nghiên cứu 32
Trang 91.5.1 Đặc điểm tình hình học sinh ở tỉnh Long An 32
1.5.2 Đặc điểm tình hình học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh 33
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Nội dung nghiên cứu 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1 Khảo sát nhận thức ban đầu của học sinh về môi trường và vấn đề ô nhiễm rác thải nhựa 35
2.2.2 Phương pháp truyền thông môi trường 39
2.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 47
2.2.4 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 47
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 Đánh giá nhận thức về môi trường của các đối tượng học sinh nghiên cứu 48
3.2 Đánh giá hiệu quả của các phương pháp truyền thông trên các đối tượng học sinh 72
3.3 Phân tích và đề xuất các phương pháp truyền thông môi trường 89
3.3.1 Phân tích SWOT của phương pháp truyền thông môi trường 89
3.3.2 Đề xuất quy trình áp dụng các phương pháp truyền thông môi trường 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
1 Kết luận 95
2 Kiến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC p1
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Tổng lượng rác thải nhựa của các quốc gia 9
Hình 1.2 Lượng rác thải nhựa theo từng ngành 9
Hình 1 3 Tỷ lệ rác thải xử lý không đúng cách ở Việt Nam so với thế giới 12
Hình 1.4 Thang đo Bloom sử dụng trong đề tài 21
Hình 1 5 Các phương pháp truyền thông được áp dụng nghiên cứu tương ứng với thang đo nhận thức Bloom 22
Hình 1 6 Buổi tuyên truyền tại trường TH Quang Sơn tỉnh Ninh Bình 27
Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu 35
Hình 3.1 Kết quả tỷ lệ lựa chọn các vật dụng từ nhựa 49
Hình 3.2 Kết quả tỷ lệ lựa chọn vật dụng nhựa dùng một lần 51
Hình 3.3 Tỷ lệ lựa chọn đáp án đúng trong việc xác định thời gian phân hủy 52
Hình 3.4 Kết quả khảo sát mục đích sử dụng ống hút nhựa 54
Hình 3.5 Kết quả khảo sát tần suất sử dụng ống hút nhựa 56
Hình 3.6 Kết quả lựa chọn các con đường ảnh hưởng của vật dụng nhựa tới sức khỏe con người 57
Hình 3 7 Tỷ lệ lựa chọn các đặc tính nổi bật của ống hút nhựa 59
Hình 3 8 Kết quả lựa chọn tác hại của rác thải nhựa tới hệ sinh thái biển 61
Hình 3.9 Tỷ lệ mức độ hiểu biết và quan tâm đến vấn đề ảnh hưởng tới sức khỏe của đồ dùng nhựa của 63
Hình 3.10 Tỷ lệ phản ứng đối với thông tin ống hút nhựa gây ảnh hưởng sức khỏe65 Hình 3.11 Tỷ lệ lựa chọn các sản phẩm thay thế ống hút nhựa 68
Hình 3.12 Tỷ lệ lựa chọn các kênh thông tin truyền thông BVMT 71
Trang 11Hình 3.13Tỷ lệ lựa chọn tuổi đời của ống hút nhựa 74
Hình 3.14 Tỷ lệ chọn các tác hại của rác thải nhựa đến hệ sinh thái biển 77
Hình 3.15 Tỷ lệ lựa chọn các câu trả lời trong xác định sản phẩm tự phân hủy trong thời gian ngắn 78
Hình 3.16 Tỷ lệ lựa chọn các tác hại của rác thải nhựa 79
Hình 3.17 Tỷ lệ chọn các vật dụng có vật liệu khác nhau 80
Hình 3.18 Tỷ lệ lựa chọn các sản phẩm không được làm từ nhựa 83
Hình 3.19 Mức độ ủng hộ các chương trình giáo dục môi trường 85
Hình 3.20 Mức độ hài lòng về buổi truyền thông 86
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 0.1Tóm tắt đối tượng nghiên cứu 4
Bảng 1.1 Số học sinh của tỉnh Long An (2016-2018) theoTổng cục Thống kê Hà Nội năm 2019 33
Bảng 1.2 Số học sinh của Thành phố Hồ Chí Minh (2016-2018) theo Tổng cục Thống kê Hà Nội năm 2019 34
Bảng 3.1 Chú thích các vật dụng được sản xuất từ nhựa của hình 3.1 49
Bảng 3.2 Chú thích các vật dụng nhựa dùng một lần của hình 3.2 51
Bảng 3.3 Đặc điểm rút ra từ khảo sát của các phương pháp truyền thông cụ thể 88
Bảng 3.4 Đề xuất các chương trình truyền thông cho từng đối tượng 94
Trang 13DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT Bảo vệ môi trường
C1 Cấp Tiểu học
C2 Cấp Trung học cơ sở
C3 Cấp Trung học phổ thông
GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Sự phát triển của kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ đã dẫn tới sự ra đời của một loại vật liệu giá rẻ, bền bỉ và dễ dàng gia công thành các vật dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày chính là nhựa Mặt trái của sự phát triển trên là vấn đề
ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa đã và đang trở thành vấn nạn môi trường toàn cầu, nhận được sự quan tâm đặc biệt từ các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trên khắp thế giới, cũng như sự quan tâm rộng rãi của người dân Đây cũng
là một vấn đề khoa học đòi hỏi sự chung tay của các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực Lượng rác nhựa thải ra môi trường chủ yếu có nguồn gốc từ rác thải sinh hoạt ở khu dân cư đang tích tụ ngày một nhiều không chỉ trong môi trường sống của chính chúng ta mà còn trong môi trường sinh thái tự nhiên dẫn tới nhiều hậu quả lớn đối với mỹ quan, du lịch và kinh tế của các quốc gia Mặt khác, về lâu dài, ô nhiễm rác thải nhựa gây ảnh hưởng xấu tới môi trường đất, nước cũng như làm suy thoái hệ sinh thái tự nhiên trên trái đất đặc biệt là hệ sinh thái biển
và trên hết, việc tích tụ rác thải nhựa gây ra nhiều hậu quả khôn lường đến đời sống và sức khỏe con người
Hiện nay, Việt Nam nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới nói chung đang ráo riết nghiên cứu để tìm ra giải pháp giải quyết vấn đề ô nhiễm trên ở khía cạnh công nghệ, xử lý, tái chế, tìm kiếm các loại vật liệu có khả năng thay thế nhựa nhưng vẫn thân thiện với môi trường để giảm thiểu lượng phát sinh chất thải nhựa độc hại vốn đang ngày càng vượt quá sức chịu đựng của môi trường Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành Luật bảo vệ môi trường năm 2014 nhắm đến việc quản lý rác thải nhựa thông qua các chính sách hướng tới việc cắt giảm sử dụng dần dần vật dụng từ nhựa và tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân Để người dân có thể nhận thức rõ ràng trách nhiệm của bản thân đối với vấn nạn môi trường trên, nhất thiết phải đưa ra các hình thức xử phạt kịp thời cũng như truyền thông
Trang 15nhằm cung cấp kiến thức đúng đắn và hữu ích nhất để cùng chung tay khắc phục hậu quả và giảm thiểu lượng chất thải nhựa thải ra môi trường
Các năm gần đây, công tác truyền thông bảo vệ môi trường đã không còn quá xa
lạ đối với người dân trên toàn đất nước Việt Nam Đây được xem như một công
cụ quản lý hiệu quả và có ảnh hưởng lớn tới ý thức chung của người dân Thế nhưng, độ phủ sóng cũng như mức độ ảnh hưởng của các phương pháp truyền thông này tại Việt Nam chưa được đánh giá một cách đầy đủ, chính xác Trong các đối tượng mà truyền thông bảo vệ môi trường nhắm tới, đối tượng học sinh các cấp đang ngày càng trở thành đối tượng tiềm năng nhất do các tính chất đặc trưng: số lượng đông, cần thiết phải được giáo dục phù hợp để bảo vệ tương lai của chính mình và có khả năng gây ảnh hưởng lớn tới phụ huynh, cộng đồng Nhận ra tầm quan trọng của nhóm đối tượng này, ngày 08/05/2019, Chương trình phối hợp về công tác bảo vệ môi trường giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2019-2025 đã được ban hành trong đó tập trung chủ yếu tới các vấn đề truyền thông nâng cao nhận thức của học sinh Thế nhưng
dễ dàng nhận thấy, ảnh hưởng của các phương thức truyền thông môi trường khác nhau lên các nhóm đối tượng có độ tuổi, điều kiện sống khác nhau là không đồng đều và việc lựa chọn phương pháp truyền thông phù hợp với từng loại đối tượng
cụ thể đang là một thách thức lớn trong công tác bảo vệ môi trường nói chung
Để chương trình có thể được phát động hiệu quả cần có những nghiên cứu sâu hơn về tầm ảnh hưởng của các phương pháp truyền thông môi trường khác nhau tới học sinh ở các cấp học sống trong các khu vực có sự khác biệt tương đối về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội mà cụ thể và khu vực thành thị phát triển bậc nhất nước ta (thành phố Hồ Chí Minh với GRDP hơn 6000 USD) so với các tỉnh vùng nông thôn (tỉnh Long An với GRDP khoảng 3600 USD) nhằm tạo được sự chuẩn
bị tốt hơn cho công tác giáo dục nâng cao ý thức về môi trường áp dụng trong điều kiện văn hóa, kinh tế Việt Nam trong tương lai
Chính vì vậy, để đánh giá mức độ hiệu quả của các công tác truyền thông môi trường trước đây cũng như so sánh sự khác biệt của các phương pháp truyền
Trang 16thông khác nhau đến nhận thức và hành động của học sinh ở các độ tuổi khác nhau trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và rác thải nhựa nói riêng cũng như so sánh giữa các vùng có sự khác nhau cơ bản về điều kiện kinh tế, xã hội, vật chất và tinh thần (thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An) từ đó đưa ra được
đề xuất, giải pháp để tối ưu hóa quá trình truyền thông môi trường tới từng đối tượng cụ thể, tôi mạnh dạn đưa ra đề tài “Nghiên cứu áp dụng các chương trình truyền thông nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường về vấn đề rác thải nhựa của học sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả của công tác truyền thông môi trường trong quá khứ đối với nhận thức, mức độ quan tâm của nhóm học sinh khác nhau ở cả 3 cấp học (Tiểu học, THCS, THPT) ở 2 khu vực nông thôn và thành thị
Dùng các phương pháp truyền thông khác nhau để nâng cao nhận thức của học sinh về vấn đề môi trường đặc biệt là rác thải nhựa
Nghiên cứu hiệu quả của các phương pháp này đến công tác truyền thông trong giáo dục (khác biệt giữa các cấp học khác nhau, khác biệt giữa các khối lớp trong cùng một cấp học, khác biệt giữa các đối tượng ở 2 khu vực có điều kiện sống khác biệt nhau) từ đó đưa ra các giải pháp để tối ưu hóa nhận thức của học sinh trong từng điều kiện cụ thể
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng:
Nghiên cứu nhận thức và hành động về Môi trường nói chung và vấn đề rác thải nhựa nói riêng của học sinh thuộc 3 cấp học (Tiểu học – khối lớp 3, THCS – khối lớp 8 và THPT – khối lớp 10, 11, 12) ở 2 địa điểm khác nhau cơ bản về đời sống kinh tế, xã hội (Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An) Tóm tắt về đối tượng nghiên cứu được trình bày trong bảng 0.1:
Trang 17Bảng 0 1Tóm tắt đối tượng nghiên cứu
8 Trường Tiểu
học
Nguyễn Thái Bình – Khối 3 Tân Chánh – Khối 3
Trang 18Trường Tiểu học Tân Chánh, địa chỉ: ấp Đông Trung, xã Tân Chánh, Huyện Cần Đước, Tỉnh Long An
Quy mô nghiên cứu
Áp dụng công thức Slovin trong chọn cỡ mẫu nghiên cứu để độ tin cậy đạt 90%
1 + 𝑁 𝑒2 (1) Trong đó:
N là tổng số học sinh trong trường;
e là sai số cho phép (10%);
n là số lượng mẫu cần nghiên cứu
Từ số lượng mẫu nghiên cứu, tiến hành chia đều cho số khối lớp của mỗi trường
để ra được số lượng học sinh trung bình mỗi khối cần khảo sát
Dựa trên số lượng học sinh của mỗi trường, đề tài tiến hành khảo sát 4 lớp cho mỗi khối (khoảng 30% số học sinh/khối) để đảm bảo độ tin cậy đạt như trên
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Tập trung sử dụng 4 phương pháp truyền thông môi trường thông dụng trong giáo dục hiện nay (Giảng dạy theo nhóm nhỏ; Truyền thông qua hình thức vẽ tranh; Các sự kiện đặc biệt; Tổ chức các trò chơi liên quan tới môi trường) và đánh giá thông qua bảng khảo sát có các câu hỏi được thiết kế dựa trên thang đo Bloom về nhận thức
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu kết hợp các phương pháp truyền thông nhằm mục đích giáo dục môi trường trong học đường vốn đã có từ rất lâu (Giảng dạy theo nhóm nhỏ; Truyền thông qua hình thức vẽ tranh; Các sự kiện đặc biệt; Tổ chức các trò chơi liên quan tới môi trường) nhằm cung cấp thêm nhiều thông tin về đặc tính, kiểm
Trang 19tra khả năng áp dụng của các phương pháp này lên đối tượng học sinh cũng như góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của học sinh
Cung cấp thông tin giúp các nhà quản lý hoạch định các chiến lược về truyền thông môi trường tại các trường học trên địa bàn TpHCM cũng như vùng nông thôn tỉnh Long An sao cho phù hợp với từng độ tuổi và tình hình kinh tế, xã hội khác nhau
Đề xuất các giải pháp để có thể nâng cao hiệu quả truyền thông môi trường tại các trường học từ tiểu học đến trung học phổ thông trên địa bàn TpHCM và các vùng nông thôn tại tỉnh Long An
Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 nên đề tài chỉ thực thiện truyền thông một lần, không thực hiện đánh giá lại nhận thức qua hành vi theo thời gian (sau 03 tháng), chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của ống hút nhựa đại diện cho rác thải nhựa ở hai khu vực thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An
Trang 20
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về rác thải nhựa
1.1.1 Đặc điểm và tính chất
Nhựa nói chung là một loạt các hợp chất hữu cơ tổng hợp hoặc bán tổng hợp (chủ yếu từ hóa dầu hoặc từ các hợp chất tự nhiên như cellulose kết hợp với một số loại phụ gia đặc biệt) có thể được sử dụng để đúc thành các vật dụng ở thể rắn Đặc tính cơ bản nhất của các loại nhựa là độ dẻo dai và bền bỉ, khó bị phá vỡ giúp cho nhựa có thể được uốn ép thành nhiều loại hình dạng khác nhau Ngoài ra, công nghiệp sản xuất các sản phẩm từ nhựa cũng rất phát triển do chi phí sản xuất thấp, quy trình sản xuất đơn giản Sản phẩm tạo thành thường không thấm nước, trọng lượng nhẹ và có thể thay thế nhiều loại vật liệu khác nhau như gỗ, đá, kim loại… nên được ứng dụng trong đời sống như sản xuất bao bì, đồ gia dụng, giúp giảm chi phí vận chuyển và cả ứng dụng trong những ngành khoa học đòi hỏi sự chính xác cao như khoa học vũ trụ, y dược
Chất thải nhựa chủ yếu có nguồn gốc từ hộ gia đình và công nghiệp trong đó túi nilon chiếm phần lớn trong nguồn rác thải nhựa sinh hoạt Chất thải nhựa dưới dạng bao bì chiếm đến 50% tổng khối lượng chất thải nhựa gia dụng Từ khi loại nhựa đầu tiên được phát minh vào năm 1907 tới nay đã có hàng trăm loại vật liệu nhựa được sáng chế ra trên toàn thế giới Tuy nhiên 80 – 90% các loại nhựa được
sử dụng thuộc loại PET, Vinyl, LDPE, PP, PVC [1]
1.1.2 Tác hại của rác thải nhựa
Các loại nhựa nguyên chất thường ít độc hại do chúng khá trơ về mặt hóa học Tuy nhiên các loại nhựa hiện nay thường chứa nhiều chất phụ gia có thể gây hại cho con người qua đường thức ăn, đồ chơi,… như vinyl clorua (tiền thân của PVC) được xem như chất gây ung thư ở người [2]
Trang 21Do được tạo nên chủ yếu từ dầu mỏ, việc đốt rác thải nhựa có thể gây những vấn
đề nghiêm trọng cho môi trường Thật vậy, một báo cáo năm 2019 cho thấy rác thải nhựa đóng góp 850 triệu tấn CO2 vào khí quyển năm 2019 và được dự đoán
sẽ ngày càng tăng trong tương lai [3]
Khi bị thải bỏ không đúng cách, rác thải nhựa có thể bị nhiễm các chất hóa học khác gây khó khăn cho việc tái chế cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe người sử dụng
Do có cấu trúc phân tử lớn, nhựa là một loại vật liệu phân hủy chậm và thường tồn tại dưới dạng mảnh vụn trong môi trường Một cốc nhựa có thể mất 50 năm
để phân hủy trong khi một chiếc tã em bé phân hủy hoàn toàn cần 450 năm, chúng thường là nguyên nhân dẫn tới sự tử vong hoặc tổn thương của các loài sinh vật biển [4]
1.1.3 Tình hình ô nhiễm rác thải nhựa trên thế giới
Theo nhiều báo cáo, mỗi năm trung bình thế giới thải ra 300 triệu tấn rác thải nhựa Lượng rác này đạt 381 triệu tấn vào năm 2015 (tương đương 2/3 khối lượng dân số toàn thế giới) và trong số đó, khoảng 8 triệu tấn đã được thải ra đại dương mỗi năm Hiện nay, có khoảng hơn 9,1 tỷ tấn rác thải nhựa đang tích tụ trên toàn thế giới, trong số đó chỉ khoảng 9% được tái chế
Bao bì, chai nhựa, túi nilon chiếm hơn một nửa lượng rác thải nhựa trên toàn thế giới do đặc tính vòng đời tương đối ngắn (chỉ khoảng 6 tháng) Tính trung bình, mỗi phút thế giới thiêu thụ 1 triệu chai nhựa
Với dân số đông nhất, Trung Quốc đã sản xuất số lượng nhựa lớn nhất với gần
60 triệu tấn một năm Tiếp theo là Hoa Kỳ với 38 triệu, Đức là 14,5 triệu và Brazil
là 12 triệu tấn
Ở nhiều quốc gia thu nhập thấp đến trung bình, lượng chất thải nhựa không được
xử lý tương đối cao Nhiều quốc gia ở Nam Á và châu Phi cận Sahara, con số này lên đến khoảng 80-90% làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm các sông và đại dương [5]
Trang 22Hình 1.1 Tổng lượng rác thải nhựa của các quốc gia
Hình 1.2 Lượng rác thải nhựa theo từng ngành Rác thải nhựa thải ra môi trường đang tăng lên theo cấp số nhân Chúng đang từng ngày, từng giờ tàn phá, hủy diệt môi trường sống của con người và cả thế giới động vật đặc biệt là sinh vật biển Hơn thế nữa, theo thống kê từ kết quả
Trang 23nghiên cứu đăng trên tạp chí Environmental Science and Technology của các nhà khoa học Canada cho thấy một người đàn ông trưởng thành có thể “ăn” tới 52.000 hạt vi nhựa mỗi năm Con số đó tăng lên đến 121.000 hạt, tương đương khoảng
320 hạt vi nhựa/ngày khi môi trường bị ô nhiễm
Để đối phó với vấn đề nan giải này, các nước trên thế giới đang dần loại bỏ sử dụng các loại nhựa dùng một lần Gần đây một số nước đã có các hoạt động quyết liệt nhằm giảm chất thải nhựa:
Tại hội nghị G20, Nhật Bản đã bàn luận, cân nhắc ban hành luật yêu cầu doanh nghiệp tính phí sử dụng túi nhựa;
Thái Lan từ năm 2020 đến năm 2022 sẽ chấm dứt sử dụng các loại túi nilon mỏng hơn 36 micron, các loại hộp xốp đựng thực phẩm, các loại ống hút bằng nhựa và cốc nhựa sử dụng một lần;
New Zealand ra lệnh cấm sử dụng túi nhựa một lần từ ngày 01 tháng 07 năm
1.1.4 Tình hình ô nhiễm rác thải nhựa tại Việt Nam
Mỗi người Việt Nam tiêu thụ hơn 40 kg rác thải nhựa mỗi năm và đã thải ra hơn 1,8 triệu tấn rác thải nhựa nói chung, chiếm gần 6% lượng rác nhựa trên thế giới Chỉ khoảng 27% lượng rác thải đó được tái chế Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về lượng rác thải nhựa ra biển với khoảng 730.000 tấn mỗi năm Theo các chuyên gia, rác chỉ được thu gom 70% tại các thành phố và chỉ 40% tại nông thôn [6], [7]
Trang 24Trong đó, TpHCM mỗi ngày có khoảng 1.800 tấn chất thải nhựa, là một trong những địa phương có số lượng rác thải nhựa lớn nhất nước, nhưng chỉ có khoảng
200 tấn được tái chế, còn lại được xử lý chôn lấp cùng các loại chất thải rắn khác Lượng rác thải nhựa ngày càng gia tăng là do các sản phẩm, dụng cụ làm từ nhựa rất đa dạng như ly nhựa, túi nilon, hạt nhựa, chai, hộp nhựa, hộp đựng thức ăn, ống hút … tiện dụng, giá thành rẻ, dễ gia công và sản xuất [6], [7]
Cùng với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đang nỗ lực để loại bỏ ô nhiễm do rác thải nhựa gây ra như kêu gọi không sử dụng vật liệu nhựa không tái chế được
ở các thành phố lớn vào năm 2021 và áp dụng trên toàn quốc năm 2025 Tuy nhiên các mục tiêu này sẽ không dễ dàng được thực hiện do nhận thức còn kém của công chúng về tác động của chất thải nhựa đối với môi trường và mức thuế còn thấp đối với các sản phẩm nhựa [8]
Nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng được ban hành Tuy nhiên, chất thải nhựa mới chỉ được quy định chung trong nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế chứ chưa có quy định riêng, hướng dẫn cụ thể về việc quản lý, thu gom và xử lý chất thải nhựa trên biển [9]
Trong khi đó, việc tái chế chất thải nhựa của Việt Nam chưa được quan tâm phát triển Tỷ lệ phân loại chất thải tại nguồn rất thấp, hầu hết các loại chất thải được tập hợp lại và thu gom bằng xe chở rác Công nghệ tái chế nhựa được sử dụng tại các thành phố lớn của Việt Nam đã lỗi thời, hiệu quả thấp, chi phí cao và gây ô nhiễm môi trường [9]
Trong nỗ lực cải thiện tình hình rác thải nhựa đang ngày càng trầm trọng và nhằm hưởng ứng chiến dịch “Giải quyết ô nhiễm nhựa và nilon” của Liên hợp quốc, năm 2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phát động phong trào “Chống rác thải nhựa” Với sự tham gia của các bộ, ngành, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức quốc tế, các hiệp hội doanh nghiệp, siêu thị, trung tâm thương mại … cam kết cắt giảm sản phẩm nhựa, túi nilon sử dụng một lần Sự kiện nhằm kêu gọi các cấp, các ngành, người dân hãy hành động thiết thực, hãy thay đổi thói quen, hành vi
Trang 25sử dụng túi nilon, nhựa sử dụng một lần khoa học và hợp lý hơn ngay từ bây giờ
Từ tháng 06 năm 2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thay thế chai đựng nước dùng một lần bằng bình nước kim loại tại các hội nghị, hội thảo Hầu hết, các cơ quan trong Bộ đã không còn sử dụng chai nhựa, túi nilon trong các hoạt động hằng ngày.[10]
Hình 1.3 Tỷ lệ rác thải xử lý không đúng cách ở Việt Nam so với thế giới Theo tính toán của nhóm nghiên cứu Dư Văn Toán, Mai Kiên Định, Phạm Văn Hiếu - Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo [11]; Nguyễn Thùy Vân-Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch [12]: Khối lượng chất thải nhựa do khách du lịch thải ra các khu du lịch biển Việt Nam đến năm 2020 dự báo khoảng 206.100 tấn, có thể chiếm đến gần 40% tổng rác nhựa ra biển Do các dòng hải lưu, các hạt nhựa vụn
di chuyển trên khắp đại dương, trở thành mồi cho các loài chim biển, cá, giun và động vật biển Khi các động vật nuốt phải, các hạt nhựa vụn cũng như các mảnh nhựa chưa phân hủy có thể bị mắc trong khí quản, gây ngạt thở, hoặc làm tắc hệ
Trang 26tiêu hóa, gây nguy hại cho sức khỏe của nhiều loài động vật, thậm chí dẫn đến tử vong
1.1.5 Chính sách của chính phủ Việt Nam về rác thải nhựa
Về mặt luật pháp, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quan trọng như Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015), Luật bảo vệ môi trường (2014), các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành và đặc biệt là Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, là cơ sở pháp lý quan trọng nhất liên quan đến hoạt động quản lý, xử lý rác thải nhựa nói chung
và trên biển nói riêng
Nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng được ban hành Tuy nhiên, chất thải nhựa mới chỉ được quy định chung trong nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế, còn lại chưa có quy định riêng, hướng dẫn cụ thể về việc quản lý, thu gom và xử lý chất thải nhựa trên biển Tại TpHCM tỷ lệ phân loại chất thải tại nguồn rất thấp, mỗi năm có khoảng 250.000 tấn chất thải nhựa được thải ra, trong đó khoảng 48.000 tấn được chôn trong các bãi chôn lấp và phần còn lại được tái chế hoặc thải trực tiếp ra môi trường Điều đáng nói là ngành công nghiệp tái chế nhựa tại Việt Nam chưa được đầu tư mạnh mẽ, công nghệ tái chế lỗi thời, hiệu quả thấp, chi phí cao và gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, hoạt động tái chế chất thải nhựa chưa được đầu
tư và quản lý chặt chẽ, các nhà máy có công nghệ hiện đại thì thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào, gặp khó khăn trong quá trình sản xuất Trong khi thói quen dùng túi nilon, đồ dùng nhựa một lần chưa có dấu hiệu giảm, các thí điểm hướng dẫn phân loại rác của chính phủ chưa được đầu tư và khai thác triệt để Vì vậy, đây là một điều rất đáng lo ngại trong công tác xử lý tái chế nhựa và rác thải sinh hoạt [13]
Để hạn chế sự phát thải nhựa ra môi trường, ngoài các giải pháp về phân loại rác tại nguồn, giảm thiểu tái sử dụng, tái chế rác thải còn có các công tác truyền thông môi trường được triển khai rộng rãi trong chính sách pháp luật của Nhà nước
Trang 27Công tác truyền thông môi trường đã được đẩy mạnh và áp dụng trong các văn bản pháp luật hiện hành như:
Luật Bảo vệ Môi trường 2014:
Điều 6, Khoản 1 Truyền thông, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học
Điều 154 Truyền thông, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường
Phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường phải được thực hiện thường xuyên và rộng rãi
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ môi trường được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với cơ quan thông tin, truyền thông, báo chí có trách nhiệm truyền thông về pháp luật bảo vệ môi trường Bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, các cơ quan thông tin, truyền thông, báo chí có trách nhiệm truyền thông về bảo vệ môi trường thuộc lĩnh vực quản lý
Điều 155 Giáo dục về môi trường, đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường Chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông phải có nội dung giáo dục
về môi trường
Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường; khuyến khích mọi
tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo
vệ môi trường
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định chi tiết chương trình giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường
Trang 28Quyết định 2344/QÐ-BTNMT Quy chế hoạt động truyền thông
Quyết định 814/QĐ-BTNMT năm 2020 về Quy chế hoạt động truyền thông của Bộ Tài nguyên và Môi trường
1.2 Cơ sở lý thuyết được sử dụng trong đề tài
1.2.1 Tổng quan về truyền thông môi trường
1.2.1.1 Khái niệm truyền thông môi trường
Truyền thông môi trường là một quá trình tương tác hai chiều, giúp cho mọi đối tượng tham gia vào quá trình đó cùng chia sẻ với nhau các thông tin với mục đích đạt được sự hiểu biết chung về các chủ đề môi trường
có liên quan, và từ đó có đủ năng lực cùng chia sẻ trách nhiệm bảo vệ môi trường với nhau Hiểu biết chung sẽ tạo ra nền móng của sự nhất trí chung, và từ đó có
thể đưa ra các hành động cá nhân và tập thể để bảo vệ môi trường
Truyền thông môi trường là một công cụ quan trọng cơ bản của quản lí môi trường
có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của người dân trong cộng đồng, từ đó thúc đẩy họ tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường và không chỉ tự mình tham gia mà còn lôi cuốn những người khác cùng tham gia, để tạo ra những kết quả có tính đại chúng [14]
1.2.1.2 Mục tiêu, yêu cầu của truyền thông môi trường
Mục tiêu
Nâng cao nhận thức của công dân về môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, thay đổi thái độ, hành vi về môi trường, tạo lập cách ứng sử thân thiện với môi trường, tự nguyện tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường
Phát hiện các tấm gương, mô hình tốt, đấu tranh với các hành vi, hiện tượng tiêu cực xâm hại đến môi trường
Trang 29Xây dựng nguồn nhân lực và mạng lưới truyền thông môi trường, góp phần thực hiện thành công xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường
Phù hợp với đối tượng truyền thông, đặc biệt là phù hợp về văn hoá, trình độ học vấn và kinh tế
Tạo dựng sự hợp tác rộng rãi giữa truyền thông môi trường với các chương trình, dự án truyền thông của các ngành khác, đặc biệt là sự hỗ trợ của lực lượng truyền thông môi trường tình nguyện [14]
1.2.1.3 Vai trò và nguyên tắc của truyền thông môi trường
Vai trò
Thông tin: Thông tin cho đối tượng cần truyền thông biết tình trạng quản lí môi trường và bảo vệ môi trường của địa phương nơi họ sống, từ đó lôi cuốn họ cùng quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục
Huy động các kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyết của tập thể và cá nhân vào các chương trình, kế hoạch hoá bảo vệ môi trường
Thương lượng: Thương lượng, hoà giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp về môi trường giữa các cơ quan và trong cộng đồng
Trang 30Tạo cơ hội: tạo cơ hội cho mọi thành phần trong xã hội có thói quen “ứng xử đúng” hay hành vi “thân thiện” đối với môi trường và cùng nhau bảo vệ môi trường
Đối thoại: đối thoại thường xuyên làm tăng khả năng thay đổi các hành vi của cộng đồng về quản lí và bảo vệ môi trường
Hỗ trợ: hỗ trợ đắc lực cho các công cụ khác trong quản lí môi trường [15]
Nguyên tắc
Là mắt xích để gắn kết các vấn đề môi trường với quá trình hoạt định chính sách
và lôi kéo sự tham gia của người dân;
Quan tâm tới lợi ích của đối tượng truyền thông;
Cách thức truyền thông cần phù hợp với đối tượng truyền thông (chẳng hạn như: đơn giản, cụ thể và phù hợp văn hóa, );
Truyền thông có định hướng tới các vấn đề cần được giải quyết hay các nhu cầu của cộng đồng;
Tính tới chi phí hiệu quả và có tính sáng tạo bằng cách sử dụng các cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, phương tiện truyền thông sẵn có ở địa phương, hơn là dựa vào các sản phẩm truyền thông đắt tiền;
Trao quyền cho cộng đồng;
Có sự hợp tác giữa những người có trình độ khác nhau, chức năng khác nhau (giữa các cấp chính quyền, các tổ chức khu vực tư nhân, các cơ quan nghiên cứu); Kết hợp phương tiện, kênh, sản phẩm truyền thông khác;
Thử nghiệm trước các sản phẩm truyền thông trước khi đưa vào sử dụng chính thức;
Có sự hòa hợp giữa người truyền thông và cộng đồng;
Trang 31Nhấn mạnh vào tính bền vững [15]
1.2.1.4 Các phương pháp truyền thông môi trường [16], [15]
Giảng dạy theo nhóm nhỏ
Cho phép các cuộc đối thoại sâu, cởi mở và có phản hồi Phương pháp này thích hợp với việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp với địa phương, giải thích các vấn
đề phức tạp, thuyết phục hoặc gây ảnh hưởng tới nhóm đối tượng Đặc biệt hữu hiệu trong trường hợp đánh giá hiệu quả của một chiến dịch truyền thông môi trường
Triển lãm
Triển lãm môi trường có quy mô rất khác nhau, từ các cuộc triển lãm lớn cho đến các vật trưng bày nhỏ lẻ đặt tại các vị trí đông người Triển lãm môi trường không nhất thiết phải có nhân viên thuyết minh vì trong nhiều trường hợp, vật trưng bày
đã dễ hiểu và nói lên những điều cần truyền thông
Họp cộng đồng hội thảo
Các cuộc họp cộng đồng (tổ dân phố, nhóm, phường, trường học, cơ quan, ) thuận lợi cho việc bàn bạc và ra quyết định về một số vấn đề của cộng đồng Còn hội thảo thường giải quyết một vấn đề sâu hơn một cuộc họp thông thường Hình thức họp và hội thảo mang lại hiệu quả cao hơn các hình thức khác vì có sự tham
gia của mọi người
Thông tin đại chúng
Các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, báo chí, phát thanh) có khả năng tiếp cận một phạm vi đối tượng rất rộng và có uy tín cao trong việc phổ biến, tuyên truyền các nội dung của chiến dịch truyền thông môi trường
Trang 32 Câu lạc bộ môi trường
Hình thức câu lạc bộ môi trường rất phù hợp với các đối tượng thanh thiếu niên
và các cụ về hưu Câu lạc bộ có khả năng thu hút sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng vào các vấn đề BVMT rất có hiệu quả Trong trường hợp bảo tồn các nguồn lợi liên quan đến cuộc sống của cộng đồng, thì toàn bộ cộng đồng
(xóm, thôn, xã) cũng rất hứng thú tham gia
Các sự kiện đặc biệt
Ngày trồng cây, tuần lễ nước sạch, ngày làm sạch biển, kỷ niệm Ngày Môi trường thế giới 5/6, Ngày Trái đất 22/4, là những sự kiện đặc biệt Các sự kiện này sẽ tăng thêm nhận thức của cộng đồng, thu hút sự chú ý của cộng đồng về vấn đề
liên quan với sự kiện
Tổ chức các cuộc thi (trò chơi) môi trường
Có nhiều hình thức thi: thi viết, sáng tác ca khúc, thi vẽ, thi tuyên truyền viên, thi ảnh, tuỳ đối tượng dự thi là người lớn hay trẻ em mà đề ra tiêu chuẩn cho phù hợp Cần lưu ý cuộc thi phải có giải thưởng
Sân khấu hóa
Tổ chức các sân khấu đơn giản để trình diễn tiểu phẩm do công chúng tự dàn dựng và trình diễn về nội dung môi trường: kịch, ca nhạc, hài, thời trang, cuối tiết mục phải có thông điệp về nội dung môi trường có liên quan
1.2.2 Các khái niệm được sử dụng trong đề tài
Thang đo Bloom (Thang cấp độ tư duy) được xem là công cụ nền tảng để xây dựng mục tiêu và hệ thống hóa các câu hỏi, bài tập dùng để kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập đối với người học
Trang 33Nhớ/biết là khả năng ghi nhớ và nhận diện thông tin Nhớ là cần thiết cho tất các mức độ tư duy Nhớ ở đây được hiểu là nhớ lại những kiến thức đã học một cách máy móc và nhắc lại
Hiểu là khả năng hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn (dự đoán được kết quả hoặc hậu quả) Hiểu không đơn thuần là nhắc lại cái gì đó Người học phải có khả năng diễn đạt khái niệm theo ý hiểu của họ
Vận dụng là khả năng sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác (sử dụng những kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới) Vận dụng
là bắt đầu của mức tư duy sáng tạo
Phân tích là khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống Ở mức độ này đòi hỏi khả năng phân nhỏ đối tượng thành các hợp phần cấu thành để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó
Tổng hợp là khả năng hợp nhất các thành phần để tạo thành một tổng thể/sự vật lớn Ở mức độ này sinh viên phải sử dụng những gì đã học để tạo ra hoặc sáng tạo một cái gì đó hoàn toàn mới
Đánh giá là khả năng phán xét giá trị hoặc sử dụng thông tin theo các tiêu chí thích hợp (Hỗ trợ đánh giá bằng lý do/lập luận) Để sử dụng đúng mức độ này, học sinh phải có khả năng giải thích tại sao sử dụng những lập luận giá trị để bảo
vệ quan điểm
Sáng tạo: để đạt được cấp độ nhận thức cao nhất này người học có khả năng tạo
ra cái mới, xác lập thông tin, sự vật mới trên cơ sở những thông tin, sự vật đã có
Trang 34Hình 1.4 Thang đo Bloom sử dụng trong đề tài Theo nghiên cứu vào năm 2017 về đề tài “Environmental Communications definition” của Worldwide Public Relations gồm có 8 phương pháp truyền thông: Giao tiếp giảng dạy trên lớp, triễn lãm, họp công đồng hội thảo, thông tin đại chúng, câu lạc bộ môi trường, các sự kiện đặc biệt, tổ chức các cuộc thi môi trường, sân khấu hóa Nhưng chưa có hướng dẫn cách thức thực hiện của từng phương pháp truyền thông, ở Việt Nam được TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh – giảng viên trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội diễn giải nội dung, dựa vào nội dung cho thấy có 4 phương pháp truyền thông môi trường hiệu quả được khuyến khích áp dụng, trong khuôn khổ công trình nghiên cứu, ứng với thang đo nhận thức Bloom: Giao tiếp giảng dạy trên lớp, phương pháp câu lạc bộ môi trường, phương pháp hưởng ứng sự kiến đặc biệt, phương pháp tổ chức cuộc thi môi trường Nghiên cứu thực hiện 4 phương pháp truyền thông được trình bày cụ thể dưới đây:
Trang 35Hình 1 5 Các phương pháp truyền thông được áp dụng nghiên cứu tương ứng
với thang đo nhận thức Bloom Mỗi phương pháp được thực hiện sẽ tác động cụ thể đến một mức độ tương ứng của thang đo Bloom: phương pháp giảng dạy trên lớp sẽ tác động đến mức độ nhớ biết; phương pháp tổ chức trò chơi tác động đến mức độ vận dụng; phương pháp hưởng ứng các sự kiện đặc biệt tác động đến mức độ phân tích và đánh giá; phương pháp tổ chức cuộc thi tác động đến mức độ sáng tạo
Trong số 8 phương pháp truyền thông đã nghiên cứu ở phần 1.2.1.4 thì 04 phương
pháp: giảng dạy theo nhóm nhỏ, tổ chức trò chơi, hưởng ứng các sự kiện đặc biệt,
tổ chức cuộc thi vẽ tranh về môi trường phù hợp và có thể thực hiện được ở cả 3 cấp học TH, THCS, THPT, ở thành phố và nông thôn để so sánh và lựa chọn phương pháp truyền thông phù hợp
1.3 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu
1.3.1 Học sinh là đối tượng tiềm năng trong lĩnh vực truyền thông môi trường
Trên thế giới, vào những năm 1990, truyền thông môi trường đã phụ thuộc nhiều hơn vào xã hội khi chính bản thân người dân là những người đưa ra vấn đề và
Trang 36giải pháp bảo về môi trường thay vì chính quyền như trước kia Cũng từ thời điểm này, người ta bắt đầu nhận ra tiềm năng lớn của các trường tiểu học trong việc truyền thông môi trường Thế nhưng, trước năm 1994, khi tham gia lĩnh vực này trẻ em có rất ít hoạt động để thực hiện cũng như có rất ít nghiên cứu hay phản ánh về tác động của các hoạt động đó đối với nhận thức của trẻ em Trong thời điểm này, chỉ có một số ít nghiên cứu có giá trị liên quan đến sự tham gia của trẻ
em vào việc bảo môi trường sống và cộng đồng được thu nhận được ở Peru, Ecuador, England, Sri Lanka và Mĩ [17]
Đối tượng học sinh bắt đầu được quan tâm đặc biệt để trở thành mục tiêu cho các nội dung giáo dục về Phát triển bền vững bao gồm cả lĩnh vực môi trường từ năm
2005 khi Liên hợp quốc phát động Thập kỉ Giáo dục về Phát triển bền vững [18] Đến năm 2016, UNICEF ban hành Khung chiến lược về Môi trường Bền vững cho trẻ em, trong đó nêu rõ trẻ em, đặc biệt là những trẻ em thiệt thòi nhất, rất dễ
bị ảnh hưởng bởi các yếu tố của biến đổi khí hậu và môi trường Khung chương trình cho thấy, thông qua việc lắng nghe trẻ em và thanh thiếu niên, có thể nhận
ra được mối quan tâm rất lớn của đối tượng này đối với lĩnh vực môi trường nhất
là trong việc thúc đẩy phát triển “hành tinh xanh” và “cộng đồng xanh” cho tương lai Khung chương trình cũng chỉ rõ, cần thiết phải tăng cường cơ hội cho trẻ em được phát triển và nhận được lợi ích từ việc tiếp xúc với các vấn đề môi trường bền vững, bước đầu xem trẻ em là một phần không thể thiếu của các chính sách môi trường trong tương lai [19]
Ở Việt Nam, học sinh là đối tượng rất cần cho truyền thông về môi trường vì những lý do sau đây:
Để thực hiện Chương trình phối hợp Số: 01/CTrPH-BTNMT-BGDĐT, Ngày 08 tháng 5 năm 2019 giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Giáo dục và Đào tạo thống nhất ký kết về công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2019-2025 Hai Bộ có thống nhất một trong những nội dung phối hợp: Tăng cường triển khai các chương trình truyền thông nâng cao nhận thức, ý thức, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo
Trang 37vệ môi trường trong các cơ sở giáo dục Để thực hiện nội dung này Bộ Giáo dục
và Đào tạo chỉ đạo:
Tổ chức triển khai chương trình truyền thông, các khóa tham quan dã ngoại, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường tại các cơ sở giáo dục; đôn đốc, kiểm tra, giám sát thường xuyên việc thực hiện tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo
vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học;
Huy động các cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên, sinh viên, học viên, học sinh tích cực hưởng ứng, tham gia và đẩy mạnh các hoạt động truyền thông nhân các ngày lễ, ngày kỷ niệm về môi trường;
Lựa chọn các các cơ sở giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý tham gia các khóa tập huấn, tham quan thực tế do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức; Đẩy mạnh phong trào sinh viên, học sinh, học viên nghiên cứu khoa học về các biện pháp, giải pháp, công nghệ để xử lý ô nhiễm môi trường; bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học;
Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức trong việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong ngành giáo dục
Học sinh là mầm non, sẽ nắm giữ những trọng trách của đất nước trong tương lai,
là đối tượng dễ dàng thay đổi nhận thức và thói quen sử dụng vật dụng hàng ngày Học sinh có nhiều mối liên hệ với nhiều đối tượng như người thân, hàng xóm, bạn bè ở nhiều trường, nhiều lớp, nhiều cấp học, không những các em có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường mà chính các em còn là những tuyên truyền viên hiệu quả làm thay đổi hành vi của người lớn, sẽ tạo sức lan tỏa cho cả cộng đồng Học sinh hầu hết đều có sử dụng mạng xã hội, tạo sự lan tỏa, thông điệp rất nhanh và hiệu quả
Trang 381.3.2 Một số nghiên cứu và hoạt động truyền thông môi trường cho học sinh trên thế giới
Sau khi phát động Thập kỉ Giáo dục về Phát triển bền vững, UNESCO đã đưa ra nhiều phương pháp truyền thông môi trường dành riêng cho học sinh như lựa chọn bối cảnh trò chơi, câu chuyện, workshop và các hoạt động ngoài trời phù hợp với độ tuổi giúp phát triển đồng đều cả kiến thức, kĩ năng và khả năng ứng dụng thực tế; phát triển cộng đồng thân thiện nơi học sinh có thể nói lên suy nghĩ của mình; phát triển các câu lạc bộ dưới sự hỗ trợ của các tình nguyện viên, thầy
cô giáo; giáo dục thông qua phim ảnh phù hợp với lứa tuổi [20]
Dưới sự phát động của chương trình, cho đến nay đã có nhiều hoạt động nghiên cứu và truyền thông về môi trường cho học sinh ở mọi độ tuổi trên toàn thế giới Vào năm 2017, nghiên cứu ở Thụy Điển đã cho thấy tác động lớn của các hoạt động truyền thông đối với đối tượng trẻ em từ 5 đến 6 tuổi ngay cả khi chúng chưa được làm quen với khái niệm “môi trường” và mặc dù các đối tượng nghiên cứu được lựa chọn từ các trường học có quan tâm nhiều/ít tới môi trường, nhận thức của trẻ em trong các trường hợp này là tương đối giống nhau [21]
Trước đây, phần lớn hoạt động truyền thông môi trường cho trẻ em chủ yếu nhắm vào việc nâng cao nhận thức chung về môi trường và hoạt động biến đổi khí hậu Ảnh hưởng của truyền thông đối với nhận thức của học sinh về vấn đề rác thải nhựa trên thế giới chưa được nghiên cứu kĩ càng Tuy nhiên đã có rất nhiều hoạt động được báo cáo
Ở cấp Tiểu học, các hoạt động truyền thông chủ yếu nhằm cung cấp khái niệm ban đầu về bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động ngoài trời như dự án kết hợp giữa khoa học và nghệ thuật “Gyre: The Plastic Ocean” của bảo tàng Anchorage và các trường Tiểu học hay hoạt động Schoolyard Cleanup Day của California Coastal Commission đã gây ảnh hưởng tới hơn 100 quốc gia trên thế giới [22]
Trang 39Đối với học sinh THCS và THPT, các hoạt động truyền thông thường ở dạng câu lạc bộ cộng đồng hay thông qua các phong trào, cuộc thi lớn Việc vận dụng Quyền trẻ em trong lĩnh vực truyền thông môi trường cũng cho thấy nhiều lợi ích: các nhà hoạt động môi trường ở độ tuổi thanh thiếu niên đã lập ra nhiều phong trào mang tính toàn cầu để đối phó với các vấn đề môi trường như Greta Thunberg (15 tuổi người Thụy Điển) vào năm 2018 đã phát động phong trào diễu hành của học sinh trong độ tuổi đến trường nhằm đòi hỏi các hành động cụ thể của chính phủ đến các vấn đề môi trường đang cấp thiết Hay như học sinh ở độ tuổi thanh thiếu niên cũng đang dần được giao trọng trách điều hành các kênh truyền thông mạng xã hội của các tổ chức lớn như UNESCO giúp cho họ có cơ hội được tiếp cận với hơn 20 triệu người quan tâm trên toàn thế giới như trường hợp của Alexandria Villaseñor (14 tuổi đến từ New York) với chiến dịch
#FridaysForFuture Trong việc giảm thiểu rác thải nhựa, phong trào The Indonesia Plastic Bag Diet đã thu hút sự tham gia của học sinh ở hơn 25 trường THPT ở Indonesia [23]
1.3.3 Một số hoạt động truyền thông môi trường cho học sinh tại Việt Nam
Việt Nam Sạch và Xanh hướng đến các hoạt động nâng cao nhận thức của người Việt Nam về tác hại của việc xả rác bừa bãi, đổ rác không đúng cách Thông qua hoạt động vệ sinh môi trường với các chương trình giáo dục và nâng cao hiểu biết
về rác thải, Việt Nam Sạch và Xanh dần mang lại những thay đổi tích cực trong
ý thức của người dân Những hoạt động tiêu biểu của Việt Nam Sạch và Xanh
là Ruy băng xanh, dọn rác vì cộng đồng và Ngày Trái Đất với sự hợp tác của rất nhiều các tổ chức tại Việt Nam Bên cạnh đó, Việt Nam Sạch và Xanh còn hướng đến giáo dục cho các em tiểu học thông qua các sự kiện dành cho trẻ nhỏ hoặc trò chơi tương tác [24]
Thực hiện phong trào “Chống rác thải nhựa”, ngày 30/10/2019 Trường Tiểu học Quang Sơn tỉnh Ninh Bình đã tổ chức tuyên truyền tới các em học sinh về tác hại của sự ô nhiễm do rác thải nhựa gây ra Thông qua buổi tuyên truyền kêu gọi toàn thể học sinh và giáo viên trong nhà trường hãy cùng nhau tự giác giữ vệ sinh môi
Trang 40trường và chống rác thải nhựa bằng cách tuyên truyền tới cộng đồng về nguy cơ
ô nhiễm do rác thải nhựa để cùng nhau từng bước tiến tới từ bỏ thói quen sử dụng túi nilon, sản phẩm nhựa khó phân hủy và sản phẩm nhựa sử dụng một lần.[25]
Hình 1.6 Buổi tuyên truyền tại trường TH Quang Sơn tỉnh Ninh Bình Thực hiện phong trào “Chống rác thải nhựa” giai đoạn 2019 – 2021 của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, từ đầu năm học 2019 – 2020 trường THCS Nguyễn Du, quận 1 có nhiều hoạt động tuyên truyền nhằm khuyến khích học sinh hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần: không bắt buộc học sinh bọc tập, sách bằng bìa ni lon Học sinh khi mua nước tại căng tin nhà trường, nếu mang theo bình nước cá nhân sẽ được giảm giá 1.000 đồng cho các sản phẩm Không dùng tô, hộp nhựa đựng thức ăn, dùng tô nhựa cứng sử dụng nhiều lần Trường cũng tuyên truyền cho phụ huynh học sinh về các hoạt động này và được
họ hưởng ứng nhiệt tình Từ đầu năm học này, thầy cô, cán bộ nhân viên nhà