Các công trình nghiên cứu về công tác binh vận nói chung trong cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã làm rõ một số chủ trương, chỉ đạo củaĐảng và kết quả binh vận ở các giai đoạn kháng
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trong luận án là trung thực, chính xác và có nguốn gốc xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Khắc Trai
Trang 2MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
MỤC LỤC
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 111.2 Khái quát kết quả nghiên cứu các công trình đã công bố và những
vấn đề luận án tiếp tục giải quyết 25
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA TRUNG ƯƠNG
CỤC MIỀN NAM VỀ CÔNG TÁC BINH VẬN TỪ NĂM
2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Trung ương Cục
miền Nam đối với công tác binh vận (1969 - 1972) 322.2 Chủ trương của Trung ương Cục miền Nam về công tác binh vận
2.3 Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo công tác binh vận (1969 - 1972) 55
Chương 3 TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
CÔNG TÁC BINH VẬN TỪ NĂM 1973 ĐẾN ĐẠI THẮNG
3.1 Những yếu tố mới tác động tới sự lãnh đạo của Trung ương Cục
miền Nam đẩy mạnh công tác binh vận (1973 - 1975) 803.2 Chủ trương của Trung ương Cục miền Nam đẩy mạnh công tác
binh vận (1969 - 1975)
1254.2 Kinh nghiệm từ quá trình Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo
KẾT LUẬN
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
164167
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang
Trang 3TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Tiến công binh vận là hình thức đánh giặc lâu đời và trở thành nét độc đáotrong truyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Trong cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác binh vận được Đảng xác định là mũitiến công chiến lược của cách mạng, với vai trò to lớn tuyên truyền vận độnglàm suy sụp tinh thần, tư tưởng góp phần dẫn đến sụp đổ, tan rã tổ chức quân đội
Mỹ và quân đội VNCH trên chiến trường MNVN, nhằm thực hiện “công nôngbinh liên hiệp” Công tác binh vận được các cấp ủy Đảng quan tâm lãnh đạo, làmột bộ phận quan trọng cấu thành đường lối chiến tranh giải phóng dân tộc củaĐảng, là hoạt động đấu tranh thường xuyên của quân và dân ta với binh sĩVNCH và binh sĩ Mỹ, trực tiếp góp phần “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụynhào” giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Công tác binh vận trên chiến trường B2 trong thời kỳ kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cách mạngMNVN Chiến trường B2 là chiến trường rộng lớn bao gồm các tỉnh thuộc
cực Nam Trung Bộ: Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng và Bình Tuy; các tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ: Phước Long, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Long, Bình Dương, Biên Hòa, Tây Ninh, Hậu Nghĩa; các tỉnh thuộc miền Trung Nam Bộ: Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Định Tường, Kiến Hòa, Gò Công; các tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ: Châu Đốc, An Giang, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Phong Dinh, Ba Xuyên, Kiên Giang, An Xuyên, Chương Thiện và đặc khu Sài Gòn - Gia Định Chiến trường B2 là nơi tập trung nhiều mục tiêu đầu não của quân
đội, chính quyền VNCH, tiến công binh vận vào các mục tiêu chiến lượclàm cho binh sĩ VNCH suy sụp từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, tạo raphản ứng lan truyền sụp đổ về tinh thần của binh sĩ trên toàn miền Nam Khi
đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với thủ đoạn
“dùng người Việt trị người Việt” tăng cường xây dựng quân đội VNCH, rút
Trang 5dần quân Mỹ và đồng minh ra khỏi MNVN, thực hiện kế hoạch bắt lính, đônquân, mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương đẩy binh sĩ VNCH chết trậnthay cho quân Mỹ, vơ vét cướp bóc tài sản của nhân dân làm cho mâu thuẫn
xã hội lên cao, mâu thuẫn trong binh sĩ VNHC không thể dung hòa, dẫn đếntình trạng binh sĩ dao động tư tưởng thiếu niềm tin vào chế độ và quân độiVNCH, thực hiện đào, rã ngũ chạy sang với cách mạng ngày càng nhiều Từthực tiễn đặt ra, tiến công binh vận trên chiến trường B2 nhằm chống chiếnlược “Việt Nam hóa chiến tranh” càng quan trọng và ý nghĩa hơn bao giờ hết.Nhận thức rõ vai trò của công tác binh vận và âm mưu thủ đoạn của đế quốc
Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Trung ương Cục đã lãnh đạotoàn diện công tác binh vận, kịp thời đề ra chủ trương và sự chỉ đạo đúng đắn,sát với tình hình thực tiễn của cách mạng Với nhiều cách làm mới và hay, côngtác binh vận trên chiến trường B2 trong những năm chống chiến lược “ViệtNam hóa chiến tranh” đã giành những thắng lợi to lớn, làm suy sụp về tinh thầndẫn đến tan rã lớn binh sĩ VNCH, góp phần khuất phục cơ quan đầu não chínhquyền và quân đội VNCH, hạn chế thương vong tổn thất cho cách mạng, thúcđẩy mũi quân sự, chính trị nhanh chóng tiến lên giành thắng lợi trong giai đoạncuối của cuộc chiến tranh Với những thành công to lớn, công tác binh vậntrong những năm chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” trên chiếntrường B2 để lại những kinh nghiệm có giá trị to lớn, nhằm phục vụ thiết thựccho công tác tuyên truyền, đấu tranh làm thất bại hành động chống phá của cácthế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam hiện nay
Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu, tổng kết ở các cấp độ vàphạm vi khác nhau về lịch sử công tác binh vận trên toàn miền Nam nóichung và một số địa phương trên chiến trường B2 nói riêng Tuy nhiên, đếnnay chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác binh vận có tính chất hệthống, chuyên sâu, toàn diện làm rõ chủ trương, chỉ đạo, đánh giá ưu, khuyếtđiểm, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm từ quá trình Trung ương Cục lãnh đạocông tác binh vận trên chiến trường B2 Do đó, nghiên cứu quá trình Trung
Trang 6ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binh vận từ năm 1969 đến năm 1975trên chiến trường B2 là điều cần thiết nhằm góp phần tổng kết làm phong phúhơn lịch sử Đảng nói chung, lịch sử Trung ương Cục nói riêng trong khángchiến chống Mỹ, cứu nước Đồng thời, đúc kết những kinh nghiệm quý chocông tác binh vận của Đảng, có thể tham khảo vận dụng vào công tác tuyêntruyền hiện nay, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN
Với những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binh vận từ năm 1969 đến năm 1975” làm đề tài
luận án tiến sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Làm rõ quá trình Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binh vận
từ năm 1969 đến năm 1975 Trên cơ sở đó đúc rút những kinh nghiệm có giá trịvận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Nhiệm vụ
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Trung ương Cục miềnNam lãnh đạo công tác binh vận trong những năm 1969 - 1975
Hệ thống và phân tích làm rõ chủ trương, chỉ đạo của Trung ương Cục miềnNam về công tác binh vận từ năm 1969 đến năm 1975
Nhận xét và đúc rút một số kinh nghiệm từ quá trình Trung ương Cụcmiền Nam lãnh đạo công tác binh vận trong những năm 1969 - 1975
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam về côngtác binh vận từ năm 1969 đến năm 1975
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Công tác binh vận là công tác tuyên truyền vận động của
các lực lượng tác động vào tâm lý, tư tưởng binh lính, sĩ quan quân đội Mỹ,
Trang 7quân đội đồng minh và quân đội VNCH, nhằm làm hoang mang, rệu rã, chánghét và phản đối chiến tranh, đào rã ngũ hoặc chạy sang với cách mạng Đốitượng tiến công binh vận là binh sĩ Mỹ, đồng minh và binh sĩ VNCH
Nghiên cứu chủ trương của Trung ương Cục về công tác binh vậntrong hai giai đoạn 1969 -1972 và 1973-1975 Làm rõ quá trình chỉ đạo củaTrung ương Cục về công tác binh vận trong từng giai đoạn, trên 4 nộidung: Xây dựng lực lượng binh vận; xây dựng cơ sở và hoạt động nộituyến trong lòng địch; binh vận kết hợp với tiến công quân sự, đấu tranhchính trị và đấu tranh ngoại giao; thực hiện chính sách binh vận
Về thời gian: Từ năm 1969 đến tháng 5 năm 1975, đế quốc Mỹ thực hiện
chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” Giai đoạn 1969 - 1972, Trung ương Cụclãnh đạo công tác binh vận tham gia đánh bại một bước chiến lược “Việt Nam hóachiến tranh” của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ ký kết hiệp định Pari và rút hết quân Mỹ.Giai đoạn 1973 - 1975, Trung ương Cục lãnh đạo công tác binh vận tham giađánh bại hoàn toàn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, góp phần vào sựnghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Về không gian: Chiến trường B2 do Trung ương Cục miền Nam trực
tiếp lãnh đạo từ năm 1965 đến năm 1975 Bao gồm các tỉnh thuộc cựcNam Trung Bộ; miền Đông Nam Bộ; miền Trung Nam Bộ; miền Tây Nam
Bộ và đặc khu Sài Gòn - Gia Định
4 Cở sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng vềchiến tranh cách mạng và công tác binh vận
Cơ sở thực tiễn: Từ thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Trung ương Cục
miền Nam về công tác binh vận trong những năm 1969 - 1975 và hệ thốngnghị quyết, chỉ thị, thông tư, điện, báo cáo, tổng kết, đề án của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng, Bộ Chính trị, Trung ương Cục miền Nam, Quân ủy Miền,Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa MNVN, Ban Binh vận Trung ương
Trang 8Cục, Cục Chính trị Miền, Đoàn Thanh niên miền Nam, Ban Công vận, BanNông vận, các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về công tác binh vận.Phong trào tiến công binh vận của các địa phương từ năm 1969 đến năm
1975 Bên cạnh đó luận án sử dụng kết quả nghiên cứu của một số công trìnhkhoa học có liên quan đến địa bàn nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của chuyênngành Lịch sử Đảng Trong đó chương 1, sử dụng chủ yếu phương phápthống kê, phân tích, tổng hợp làm rõ tổng quan tình hình nghiên cứu liênquan đến luận án Chương 2 và chương 3 chủ yếu sử dụng phương pháplịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, so sánh làm rõ chủ trương và sự chỉ đạocủa Trung ương Cục về công tác binh vận trong từng giai đoạn Chương 4chủ yếu sử dụng phương pháp logic, phân tích, tổng hợp và so sánh làm rõ
ưu, khuyết điểm và rút ra kinh nghiệm từ quá trình Trung ương Cục lãnhđạo công tác binh vận
5 Những đóng góp mới của luận án
Hệ thống, khái quát hóa và luận giải những yếu tố tác động, làm rõ chủtrương, chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam về công tác binh vận từ năm
1969 đến năm 1975 Luận án dựng lại lịch sử về công tác binh vận trên chiếntrường B2 trong những năm 1969 - 1975
Đưa ra những đánh giá, nhận xét về sự lãnh đạo công tác binh vận củaTrung ương Cục miền Nam trong những năm 1969 - 1975
Đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo vận dụng trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần tổng kết, hoạt động lãnh đạo của
Đảng về công tác binh vận, thông qua hoạt động lãnh đạo thực tiễn của Trungương Cục miền Nam trên chiến trường B2
Trang 9Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp thêm những luận cứ khoa họccho việc hoạch định đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng trong sự nghiệpbảo vệ Tổ quốc hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần làm sáng tỏ, sâu sắc hơn thực tiễn lịch sử cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng(thông qua thực tiễn chiến trường B2)
Là tài liệu bổ ích cho việc giáo dục truyền thống, nghiên cứu giảng dạy lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Là cơ sở để đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu; 4 chương (10 tiết); kết luận; danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài
Mai-cơn-Mac-Lia (1990), Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày [105], tác phẩm chỉ rõ mũi binh vận làm cho quân đội VNCH suy sụp
về tinh thần và đào rã ngũ ở một số đơn vị Bên cạnh đó, việc chính quyền
Mỹ tăng thời gian phục vụ trên chiến trường và không ghi nhận sự hy sinhcủa binh sĩ trên chiến trường MNVN cũng làm cho tinh thần binh sĩ Mỹ suysụp trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” Sự suy sụp về tinh thầncủa lính Mỹ và đồng minh biểu hiện ở hành động chống lệnh, phản đối chiếntranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tự nêu khẩu hiệu “Đừng là người línhchết sau cùng ở Việt Nam” và mục tiêu chung là “Tự lo cho sinh mạng mình,sống qua giai đoạn này và ra khỏi Việt Nam” [105, tr 172]
Giac Đo-I-Ong (1993) “Những người lính da trắng của Hồ Chí Minh”
[82] Tác giả làm rõ công tác binh vận đã vận động những người lính quân độiPháp bỏ hàng ngũ theo Việt Minh trong đội “Com măng đô” năm 1949 Họtham gia kháng chiến ở Việt Nam và chiến đấu hết mình, can đảm và có ýthức kỷ luật vô cùng nghiêm túc khi quan hệ với nhân dân, nhất là đối với phụ
nữ Họ có lý tưởng cách mạng, khát vọng hòa bình, tham gia nhiều chiến dịchchủ yếu ở Liên khu 3 và lập được nhiều thành tích Tác phẩm cho thấy chínhsách binh vận đúng đắn của Đảng đã vận động và tập hợp được binh sĩ đốiphương phục vụ cho cách mạng
Philip B.Đavitson (1995), Những bí mật của cuộc chiến tranh Việt Nam
[76] Tác giả cho rằng “binh vận là các hoạt động nhằm gây tư tưởng bất mãntrong hàng ngũ binh lính kẻ thù” [76, tr 38] Tác giả khẳng định sự thất bại của
đế quốc Mỹ do nhiều nguyên nhân khác nhau và cho rằng không có một Tổngthống nào của nước Mỹ nhận thức được rằng địch vận là một bộ phận chiến lượccủa cách mạng Việt Nam, mục đích đánh tan sự ủng hộ của nhân dân Mỹ với cuộc
Trang 11chiến tranh Địch vận đã tận dụng triệt để các phương tiện thông tin đại chúng đểhủy hoại sự ủng hộ của dân chúng Mỹ đối với chiến tranh
Ron Moreau (2001), “Một anh hùng cộng sản được nuôi dưỡng trong
hàng ngũ lính Mỹ”, Việt Nam cuộc chiến không quên [110] Tác giả làm rõ
về hoạt động của cơ sở nội tuyến chiến lược Nguyễn Thành Trung được càicắm trong lòng địch và được Ban Binh vận Trung ương Cục hướng dẫn từkhi xây dựng thành cơ sở nội tuyến cho đến khi làm binh biến, khởi nghĩa,
sử dụng máy bay của VNCH ném bom vào Dinh Độc lập và sân bay TânSơn Nhất rồi trở về với cách mạng Tác giả chỉ rõ hành động của NguyễnThành Trung làm cho tinh thần quân đội và chính quyền VNCH hoangmang, lo sợ Tác phẩm đã cung cấp cho nghiên cứu sinh thấy rõ hơn thànhcông của hoạt động nội tuyến trong lòng địch trên chiến trường B2 vào thờiđiểm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Frank Snepp (2003), Cuộc tháo chạy toán loạn [128] Tác phẩm khẳng
định, tinh thần binh sĩ VNCH trong những ngày cuối của cuộc chiến tranh suysụp nặng nề và tan rã Nguyên nhân là do lực lượng cách mạng tiến công mạnh
về quân sự, chính trị và binh vận, bên cạnh đó đế quốc Mỹ cắt giảm viện trợ vềkinh tế, quân sự là nguyên nhân quan trọng làm cho tinh thần quân đội và chínhquyền VNCH suy sụp Tác phẩm khẳng định “Không có viện trợ quân sự, ítnhất một tỷ đô la thì Nam Việt Nam chỉ là cái bóng của họ” [128, tr 82]
Negel Cawthorne (2007), Chiến tranh Việt Nam được và mất [41] Tác
giả chỉ rõ nguyên nhân làm cho lính Mỹ suy sụp tinh thần chính là hoạt độngphản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ và hoạt động binh vận của lực lượngcách mạng miền Nam khi Mỹ triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiếntranh” Tác giả cho rằng binh vận đã xây dựng cơ sở cách mạng trong lòng đốiphương với nhiều hình thức và trong các đối tượng khác nhau, để lấy thông tin
từ binh lính Mỹ Tác giả tuy đề cập chưa sâu đến công tác binh vận, nhưng đãcho thấy phần nào vai trò công tác binh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,dưới sự nhìn nhận của người nước ngoài
Trang 12Jeferet Kimball (2007), Hồ sơ chiến tranh Việt Nam [101] Tác phẩm
khẳng định sự thất bại của chính quyền VNCH và sự sụp đổ về tinh thần củabinh sĩ VNCH xuất phát từ nhiều nguyên nhân Đó là, do việc xét đoán kém cỏi
về chiến lược trong suốt tháng 3 năm 1975, tình trạng tham nhũng của bộ máychính quyền, khủng hoảng tiền tệ thế giới và cú sốc xăng dầu những năm 1973-
1974 làm cho kinh tế VNCH khó khăn Quân đội thì “chịu sự lãnh đạo tồi nóichung và những yếu kém về cơ cấu nội tại và về tinh thần” [101, tr 80] Bêncạnh đó, mũi tiến công quân sự của quân Giải phóng diễn ra mạnh mẽ, sự nổidậy của quần chúng nhân dân ở khắp nơi vừa đấu tranh vừa tuyên truyền kêu gọibinh sĩ VNCH đầu hàng, góp phần làm cho binh sĩ VNCH tan rã
Những công trình của tác giả người nước ngoài mới đề cập đến một số hoạtđộng công tác binh vận nói chung và của một số cá nhân Tuy đề cập chưa nhiều,nhưng các công trình trên khẳng định vai trò của công tác binh vận góp phần làmsuy sụp tinh thần binh sĩ Mỹ và binh sĩ VNCH trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước của nhân dân Việt Nam
1.1.2 Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước
1.1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến công tác binh vận nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Nguyễn Ngọc Giao (1973), “Bước phát triển mới trong công tác binhvận của Quân giải phóng miền Nam” [83] Bài báo chỉ ra những điểm mới
về nội dung, hình thức đấu tranh binh vận của Quân giải phóng sau khi cóHiệp định Pari Nội dung là nêu cao ngọn cờ hòa bình, hòa hợp dân tộc củaMặt trận Dân tộc giải phóng MNVN và của Chính phủ Cách mạng lâm thờiCộng hòa MNVN Có nhiều hình thức mới, tiếp xúc cá nhân, tập thể tuyêntruyền giác ngộ binh sĩ VNCH, “Ở nhiều nơi đã tổ chức thành công hàngngàn, hàng vạn cuộc tiếp xúc trực tiếp với đông đảo binh sĩ Sài Gòn” [83,
tr 61] Ở nơi nào, đối phương lấn chiếm càn quét, các đơn vị Quân giảiphóng đã tiến công binh vận kết hợp với kiên quyết trừng trị thích đáng.Bài báo làm rõ sự bắt nhịp kịp thời của Quân giải phóng miền Nam trongđấu tranh binh vận sau Hiệp định Pari năm 1973
Trang 13Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - thắng lợi và bài học [18] Trong
kinh nghiệm đấu tranh chính trị tác phẩm chỉ rõ, mục tiêu đấu tranh là vì dânsinh, dân chủ, làm tan rã từng bộ phận ngụy quân, ngụy quyền nhất là ở cơ sở.Phương pháp đấu tranh “từ lẻ tẻ đến cao trào, vừa đấu tranh độc lập vừa kếthợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự và binh vận trên cả ba vùng chiến lược”[18, tr 175] Binh vận kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trịvừa tiêu diệt, tiêu hao lớn quân VNCH trong các chiến dịch tổng hợp chốngbình định, giành dân
Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, thắng lợi và bài học [19] Công trình
khái quát những thắng lợi và bài học trong hai cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Công trình chỉ rõ vai trò của công tácbinh vận đó là “binh vận tiến công vào hàng ngũ địch, làm phân hóa lựclượng, làm suy giảm ý chí của đội quân xâm lược góp phần làm tăng cườngthế và lực cho cách mạng” [19, tr 222] Công trình làm rõ vị trí của công tácbinh vận “Đó là mũi tiến công chiến lược, một vấn đề cơ bản trong cuộc vậnđộng cách mạng ở cả thành thị lẫn nông thôn” [19, tr 223]
Quân đội nhân dân Việt Nam - Tổng cục Chính trị (2002), Tổng kết công tác binh - địch vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước [117].
Công trình làm rõ một số chủ trương, chỉ đạo của Trung ương Đảng về côngtác binh - địch vận và chủ yếu làm rõ về hoạt động, kết quả của công tác binhvận trên chiến trường miền Nam Đồng thời, nhận xét đánh giá và rút ranhững kinh nghiệm công tác binh - địch vận trên chiến trường MNVN Đólà: Xác định đúng vị trí vai trò công tác binh - địch vận; Tổ chức toàn dânlàm công tác binh - địch vận; Sử dụng 3 mũi giáp công tiến hành công tácbinh - địch vận; Xây dựng cơ quan tham mưu và đội ngũ cán bộ chuyêntrách đủ mạnh Đây là công trình tương đối hoàn chỉnh về công tác binh -địch vận trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trang 14Nguyễn Xuân Tú (2002), Đảng chỉ đạo giành thắng lợi từng bước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thời kỳ 1965 - 1975 [206] Tác giả làm rõ
quá trình chỉ đạo của Đảng đánh bại từng bước cuộc chiến tranh xâm lược của đếquốc Mỹ tại Việt Nam Trong đó, đề cập đến một số chủ trương, chỉ đạo và kếtquả tiến công binh vận của Đảng, của Trung ương Cục Tác giả chỉ rõ tháng 7 -
1969 Trung ương Cục chủ trương “tăng cường công tác dân vận làm cơ sở chođấu tranh chính trị, binh vận, xây dựng và mở rộng căn cứ” [206, tr 85], để gópphần khôi phục lại phong trào cách mạng Tác phẩm có vai trò quan trọng, hìnhthành khung chung về quá trình chỉ đạo của Đảng chống chiến lược “Việt Namhóa chiến tranh”, là tài liệu nghiên cứu sinh kế thừa về nội dung và phương pháp
Nguyễn Văn Bạo (2007), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ
1965 đến 1/1973 [23] Tác giả làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về kết
hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứunước từ năm 1965 đến tháng 01 năm 1973 Trong đó chỉ rõ sau năm 1968, “cục diệnchiến tranh mới tạo ra cho đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao có điều kiện kếthợp và hỗ trợ cho nhau tốt hơn, thúc đẩy quá trình làm tan rã tinh thần của binh lính
Mỹ trên chiến trường làm cho ngụy quân, ngụy quyền nhanh chóng suy sụp” [23,
tr 101] Đồng thời, tác giả chỉ ra hoạt động kết hợp binh vận với phong trào đấutranh chính trị ở Sài Gòn - Gia Định của công nhân, học sinh, sinh viên, nhằmchống bắt lính, bắt sinh viên vào PVDS Tác phẩm không nghiên cứu trực tiếp
về công tác binh vận nhưng đã chỉ ra những yếu tố tác động đến sự suy sụp tinhthần và tan rã về tổ chức của binh sĩ Mỹ, binh sĩ VNCH
Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam - Cục Dân vận và Tuyên
truyền đặc biệt (2008), Công tác dân vận và tuyên truyền đặc biệt trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1947 - 2002) [198] Công trình làm rõ quá trình thammưu, chỉ đạo hướng dẫn công tác binh vận của Cục Dân vận và Tuyên truyềnđặc biệt qua các giai đoạn chống Pháp và chống Mỹ cho chiến trường miền Namnói chung và chiến trường B2 nói riêng Công trình mang tính chất liệt kê về nộidung chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan chuyên môn
Trang 15Lê Văn Mạnh (2012), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quân và dân ta chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ (1969 -1975)
[106] Tác giả dựng lại bức tranh chân thực Đảng lãnh đạo chống chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh”, trong đó đề cập đến một số hoạt động binh vận và
chỉ ra hạn chế của công tác binh vận trong giai đoạn này là “Đấu tranh chính trị vàbinh vận chưa phát triển kịp thời” [106, tr 46] Tác giả chỉ ra điểm hạn chế vềtinh thần quân đội VNCH và nguyên nhân dẫn đến suy sụp tinh thần quân độiVNCH Tác phẩm hình thành phông chung quá trình lãnh đạo của Đảngchống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước
1954 -1975, Tập VI, Thắng Mỹ trên trường ba nước Đông Dương [207] Tác
phẩm làm rõ âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ về bắt lính đôn quân, sử dụngcác biện pháp phản vận trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” Tácphẩm làm rõ một số hoạt động binh vận của quân và dân miền Nam trong cácchiến dịch đường 9 Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và trong họạt độngchống bình định trên toàn MNVN
Nguyễn Văn Bích (2016) “Công tác binh - địch vận góp phần làm nênthắng lợi” [24] Tác giả làm rõ vị trí vai trò công tác binh - địch vận trongcuộc kháng chiến chống Mỹ, chỉ ra khái niệm công tác binh - địch vận trongkháng chiến chống Mỹ “là công tác tuyên truyền, vận động, tranh thủ lôi kéonhững người Việt Nam vì lý do khác nhau đang cầm súng, làm việc cho Mỹ,ngụy trở về với dân tộc, đứng lên cùng nhân dân chống xâm lược và bè lũtay sai phản động, làm cho ngụy quân, ngụy quyền suy giảm, tê liệt dẫn đếntan rã về tư tưởng, tổ chức; đồng thời là mũi tiến công chính trị vào quânxâm lược Mỹ, chư hầu, làm cho chúng sa sút tinh thần, suy sụp ý chí xâmlược” [24, tr 308]
Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Cục Dân vận (2017),
Lịch sử Cục Dân vận (1947 - 2017) [199] Công trình làm rõ lịch sử của Cục
Dân vận qua các thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, trong đó làm rõ quá trình,
Trang 16tham mưu đề xuất với Tổng cục Chính trị về công tác binh vận trên chiến trườngmiền Nam Trong những năm chống Mỹ, cứu nước, công trình đề cập đến một
số chủ trương, chỉ đạo, hoạt động và kết quả binh vận Công trình có cách tiếpcận và giải quyết vấn đề binh vận mang đậm tính lịch sử, là tài liệu qúy khinghiên cứu về công tác binh vận
Các công trình nghiên cứu về công tác binh vận nói chung trong cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã làm rõ một số chủ trương, chỉ đạo củaĐảng và kết quả binh vận ở các giai đoạn kháng chiến Các công trình trêncung cấp cho nghiên cứu sinh nhìn nhận tổng quát hơn về công tác binhvận của Đảng, là nguồn tài liệu quý cung cấp về nội dung và phương phápcách tiếp cận giải quyết vấn đề binh vận Tuy nhiên, các công trình trênmới đề cập đến một số chủ trương và chỉ đạo của Đảng về công tác binhvận, chưa có công trình nào đề cập một cách hệ thống chuyên sâu về chủtrương, chỉ đạo công tác binh vận của Trung ương Cục trong chống chiếnlược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 - 1975)
1.1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến công tác binh vận ở các vùng miền, địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Tỉnh ủy Gia Lai (1998), Tổng kết công tác binh vận tỉnh Gia Lai trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) [196] Công trình dựng
lại bức tranh lịch sử chân thực về hoạt động binh vận ở tỉnh Gia Lai, đề cậpđến một số chủ trương và chỉ đạo của Tỉnh ủy Gia Lai về công tác binh vận,làm rõ các hoạt động binh vận của quân và dân Gia Lai trong cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước Công trình đã nhận xét đánh giá và rút ra một sốkinh nghiệm về hoạt động binh vận của Tỉnh ủy Gia Lai
Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1998), Tổng kết công tác binh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) [197] Công trình làm rõ một
số chủ trương của Tỉnh ủy và các hoạt động, hình thức tiến công binh vận củaquân và dân Thừa Thiên Huế Các hình thức tiến công binh vận được sử dụng
“quyết liệt chặn xe, xông vào đồn cho đến gọi loa, tuyên truyền văn nghệ vào
Trang 17các đồn bốt, phong trào “nói đồng bào tôi nghe và nghe đồng bào tôi nói” ởcác thành phố” [197, tr 126] Công trình rút ra một số kinh nghiệm hoạt độngbinh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ThừaThiên Huế Công trình là tài liệu quan trọng để đối chiếu so sánh với hoạtđộng công tác binh vận trên chiến trường B2.
Thường vụ Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1999), Tổng kết công tác binh vận chiến trường Khu V, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) [135] Công trình làm rõ một số chủ trương và sự chỉ đạo
của Khu ủy Khu V về công tác binh vận Đồng thời, làm rõ hoạt động và kết quảtiến công binh vận của quân, dân Khu V trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước Công trình chỉ ra những ưu, khuyết điểm và rút ra một số kinh nghiệmcông tác binh vận trên chiến trường Khu V Công trình thể hiện nội dung và bốcục chặt chẽ, là tài liệu quan trọng để so sánh đánh giá với kết quả công tác binhvận trên chiến trường B2 dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục
Vũ Quang Hiển (2008), “Mũi tiến công địch vận ở Huế, Xuân Mậu Thân1968” [86] Tác giả làm rõ hoạt động binh vận và địch vận của lực lượng vũ trangtrong tổng tiến công và nổi dậy ở Huế trong Xuân Mậu Thân Tác giả chỉ rõ mốiquan hệ của ba mũi tiến công “Mũi tiến công chính trị và mũi tiến công quân sựphối hợp nhịp nhàng và đều khắp có tác dụng tiêu diệt lực lượng đối phương,tạo đà cho mũi tiến công binh vận” [86, tr.16] Tác giả chỉ rõ hoạt động binh vậncủa lực lượng vũ trang là sử dụng phương pháp gọi loa kêu hàng, vận động nhândân tham gia tiến công binh vận rộng khắp và liên tục Bài báo khoa học mới đềcập đến hoạt động binh vận của lực lượng vũ trang trong phạm vi hẹp về khônggian và thời gian, nhưng nội dung và phương pháp tiếp cận rất khoa học
Trần Thị Lan (2011), “Hoạt động nội tuyến trong cuộc Tổng tiến công vànổi dậy Mậu Thân 1968 ở Đắk Lắk” [102] Tác giả cho rằng hoạt động nội tuyến
là hình thức đánh địch đơn tuyến, hoàn toàn bí mật, chiến sĩ nội tuyến tạo được sựtin tưởng của địch Hình thức hoạt động nội tuyến ở Đắk Lắk là “nắm chắc âmmưu, thủ đoạn, kế hoạch hoạt động của địch rồi báo cáo cơ quan cấp trên đánh
Trang 18phá các mục tiêu chiến lược do cấp trên chỉ định hoặc được cấp trên chấp nhận”[102, tr 18] Kết quả là “Cách đánh bất ngờ ngay trong cơ quan đầu não đốiphương khiến cho quân địch hoang mang, kinh hoàng, dẫn đến làm suy giảm tinhthần chiến đấu của binh lính địch tại Buôn Ma Thuột và trên chiến trường ĐắkLắk” [102, tr 21] Tác phẩm đề cập rất sâu về công tác nội tuyến, đây là một hoạtđộng của công tác binh vận
Hà Văn Ngọc (2012) “Đấu tranh binh vận ở Quảng Nam trong nhữngnăm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” [112] Tác phẩm làm rõ chủ trươngcủa Tỉnh ủy Quảng Nam về “phát huy vai trò đi đầu của lực lượng phụ nữ trongđấu tranh chính trị - binh địch vận” [112, tr 28] Chị em phụ nữ của Tỉnh là lựclượng nòng cốt làm binh vận, được bồi dưỡng tiếng Anh, tiếng Hàn Quốc để đấutranh trực diện với lính Mỹ và lính Nam Hàn Phụ nữ và thiếu nhi nói được nhữngcâu thông dụng bằng tiếng Hàn đã hướng dẫn quần chúng địa phương cách đấutranh trực diện, binh vận đối với lính Nam Hàn Phụ nữ phát tán truyền đơn,trương khẩu hiệu binh vận với nhiều hình thức, phối hợp với du kích, bộ đội địaphương, bám sát đồn địch, dùng loa đọc lời kêu gọi bằng tiếng Hàn Quốc
Hoàng Chí Hiếu (2015), “Công tác binh vận trên chiến trường QuảngTrị những năm 1961 - 1966” [87] Tác giả làm rõ hoạt động binh vận củaquân và dân Quảng Trị và chỉ rõ nhiệm vụ công tác binh vận là: Binh vận kếthợp với đấu tranh chính trị và tác chiến làm tan rã tiêu hao, tiêu diệt lực lượng
vũ trang của địch chủ yếu là lực lượng vũ trang địa phương; Tiến công binhvận nhằm phân hóa, tranh thủ cải tạo để triệt phá chính quyền của địch ở thônxã; Tổ chức binh vận chống càn quét, lấn chiếm; Chấp hành tốt các chínhsách binh vận để góp phần ổn định và củng cố nông thôn đồng bằng; Xâydựng bộ máy binh vận ở nông thôn và đội ngũ binh vận quần chúng Tácphẩm tuy viết về binh vận trong một giai đoạn ngắn nhưng khái quát tươngđối đầy đủ về nội dung và nhiệm vụ công tác binh vận
Các công trình trên tuy không nghiên cứu chuyên sâu về Trung ương Cụclãnh đạo công tác binh vận và không nghiên cứu riêng ở chiến trường B2 nhưng
Trang 19đã cho nghiên cứu sinh thấy rõ hơn về một số chủ trương, chỉ đạo hoạt động, kếtquả và kinh nghiệm công tác binh vận của nhiều địa phương trong cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước Các công trình trên là tài liệu quý để nghiên cứu sinhtiếp thu kế thừa về nội dung và phương pháp nghiên cứu, là cơ sở để so sánh đốichiếu với quá trình lãnh đạo binh vận của Trung ương Cục trên chiến trường B2trong những năm 1969 - 1975.
1.1.2.3 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến công tác binh vận trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường B2
Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1995), Lịch sử Khu 6 kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975) [134] Công trình làm rõ về lịch sử chống Mỹ, cứu
nước của quân và dân Khu 6, công tác binh vận được đề cập đến một số chủtrương của Khu ủy Khu 6 và hoạt động, kết quả binh vận của quân và dân Khu 6trong các giai đoạn chống Mỹ, cứu nước Tuy nhiên, công trình mới đề cập đếnhoạt động binh vận đơn lẻ, chưa đề cập một cách hệ thống sự lãnh đạo của Khu ủyKhu 6 và Trung ương Cục về công tác binh vận
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (1998), Tổng kết công tác binh vận tỉnh Đồng Nai, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975) [17] Công trình làm rõ hoạt động, kết quả và chỉ ra một số kinh nghiệm tiến
công binh vận của quân và dân tỉnh Đồng Nai trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước: Một là, quán triệt đường lối cách mạng, chính sách binh vận của Đảng Hai là, công tác binh vận là nhiệm vụ chiến lược trong kháng chiến, thực chất là công tác vận động quần chúng Ba là, nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công trong công tác binh vận Bốn là, xây dựng đội ngũ cán
bộ làm công tác binh vận vững vàng
Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh - Tổ biên tập công tác binh vận
(2000), Tổng kết công tác binh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) trên chiến trường B2 cũ [132] Công trình nghiên cứuchuyên sâu về hoạt động và kết quả công tác binh vận trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ Công trình đưa ra đánh giáchung công tác binh vận của Trung ương Cục trong kháng chiến chống Mỹ,
Trang 20cứu nước là “góp phần quan trọng vào thắng lợi chung, xứng đáng với nhiệm
vụ chiến lược mà Đảng đã giao” [132, tr 165] Công trình rút ra những bàihọc kinh nghiệm về chỉ đạo công tác binh vận là: Vị trí chiến lược công tácbinh vận; Quán triệt và phục vụ cao nhất yêu cầu phương hướng chiến lượccủa cách mạng; Gắn với nền tảng đoàn kết đấu tranh của các tầng lớp nhândân và GĐBS, phát huy khả năng tiềm ẩn của binh sĩ; Gắn trong hình thái bamũi giáp công; Tổ chức nội tuyến là khâu then chốt của công tác binh vận;Khai thác, lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ địch; Chỉ đạo tương xứng vị tríchiến lược công tác binh vận Công trình nghiên cứu trực tiếp về hoạt độngbinh vận, nhưng mới chỉ nghiên cứu trên chiến trường Nam Bộ, một bộ phậncủa chiến trường B2 Công trình chưa hệ thống sự lãnh đạo và nhận xét về vaitrò của Trung ương Cục lãnh đạo công tác binh vận
Bộ Tổng Tham mưu (2001), Tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương, chuyên đề kết hợp đấu tranh hai chân, ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, tại địa bàn Quân khu 9 [35] Công
trình khẳng định tiến công binh vận là mũi tiến công có ý nghĩa chiến lược rấtlợi hại trong sự kết hợp hai chân, ba mũi giáp công Trong đó binh vận tạothuận lợi cho quân sự, giảm thương vong cho mũi quân sự Binh vận diệt ác trừgian đánh trúng vào những tên đầu sỏ, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh trựcdiện với địch Mũi binh vận còn cung cấp thông tin có lợi cho đấu tranh chínhtrị và đấu tranh vũ trang
Đảng ủy, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh (2001), Lịch sử lực lượng võ trang tỉnh Tây Ninh (1954 - 1975) [72] Công trình chỉ rõ hoạt
động của lực lượng vũ trang tỉnh Tây Ninh thực hiện ba mũi giáp côngtrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Tiến công vũ trang hiệu quả
là cơ sở để đấu tranh chính trị, binh vận được thuận lợi, “hoạt động võtrang 3 thứ quân hiệu quả trên cả 3 vùng phục vụ tốt cho đấu tranh chính trị
và binh vận” [72, tr 505] Hình thức đấu tranh binh vận của lực lượng vũtrang Tây Ninh là tổ chức các đội vũ trang tuyên truyền, đấu tranh kêu gọi quânđội và chính quyền VNCH, lôi kéo đông đảo quần chúng tham gia đấu tranh
Trang 21Sau Hiệp định Pari, Tỉnh ủy chủ trương, “Mũi võ trang phải làm đòn xeo phục
vụ đắc lực cho chính trị để tạo đà tiến công địch về binh, địch vận” [72, tr 569].Đây là công trình thể hiện sự kết hợp 3 mũi khá rõ trên chiến trường B2
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương (2002), Công tác binh vận tỉnh Bình Dương (1954 - 1975) [16] Công trình làm rõ hoạt động, kết
quả và rút ra một số kinh nghiệm tiến công binh vận của quân và dân tỉnh
Bình Dương: Một là, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác binh vận là nhân tố thắng lợi có ý nghĩa quyết định; Hai là, thực chất hoạt động binh vận là dân vận; Ba là, mũi tiến công binh vận kết hợp chặt chẽ với tiến công vũ trang, tiến công chính trị; Bốn là, đội ngũ cán bộ
làm binh vận phải được lựa chọn kỹ lưỡng, bao gồm những đồng chí bảnlĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm có năng lực tuyên truyền với sứcthuyết phục cao Mặc dù công trình mới làm rõ về hoạt động binh vận củamột địa phương trong chiến trường B2, nhưng công trình đã luận giải, thểhiện tương đối đầy đủ về nội dung hoạt động binh vận
Hà Bình Nhưỡng (2003), Vỏ bọc nhiệm màu [113] Tác giả làm rõ quá
trình hoạt động của các cơ sở trong lòng địch: Nguyễn Hữu Hạnh vận độngDương Văn Minh và các tướng tá VNCH đầu hàng, trong những ngày cuốicùng của cuộc chiến tranh, hạn chế đổ máu và hy sinh cho quân và dân miềnNam Thiếu tá Lê Quang Ninh, đảng viên Đảng Cộng sản, tiểu đoàn trưởng cơ
sở nội tuyến dẫn cả tiểu đoàn địch ra đầu hàng Quân giải phóng “Ninh dẫn cảmột tiểu đoàn còn nguyên vẹn về với cách mạng, với nhân dân” [113, tr 134].Nguyễn Thành Trung lấy máy bay ném bom Dinh Độc lập và sân bay TânSơn Nhất, v.v Tác giả đề cập đến những hoạt động cơ sở nội tuyến chiến lượctiêu biểu của Ban Binh vận Trung ương Cục trên chiến trường B2
Ban Biên soạn lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến (2010), Tây Nam Bộ kháng chiến, tập 3, (1969 - 1975) [3] Công trình làm rõ quá trình chống Mỹ,
cứu nước của quân và dân Tây Nam Bộ, trong đó chỉ rõ một số chủ trươngcủa Khu ủy, hoạt động và kết quả binh vận Năm 1972 công tác binh vận góp
Trang 22phần thực hiện chiến dịch Tổng hợp mật danh Nguyễn Huệ II, kết quả làmcho 31.000 binh sĩ đào, rã ngũ, mang theo 399 súng Phá rã hơn 10.000 phòng
vệ, thu 1000 súng, xây dựng được hơn 2.000 cơ sở trong lòng đối phương (tăng
3 lần so với năm 1969) [3, tr 68] Công trình nghiên cứu dưới góc độ tổng kếtlịch sử của địa phương, do vậy mới đề cập đến một số hoạt động và kết quảbinh vận trong chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
Nguyễn Văn Định (2010), “Một đóng góp quan trọng của mũi binh - địchvận trong thời điểm kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” [77] Tác giảcho rằng việc tuyên bố của Dương Văn Minh và nhật lệnh của Nguyễn Hữu Hạnhcũng đã có tác dụng nhất định làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân độiVNCH vào những giờ chót của chiến tranh, tạo điều kiện thuận lợi để Quân giảiphóng miền Nam tiến nhanh vào giải phóng Sài Gòn Đánh giá về vai trò củangành Binh vận, tác giả hoàn toàn nhất trí với nhận xét của Ban Bí thư Trungương Đảng khóa IX khẳng định “Thúc đẩy Dương Văn Minh ra lệnh ngừng bắntức thời là thành công của công tác binh - địch vận đã biết chọn đúng đối tượng đểtác động vào đúng thời điểm Đó là đóng góp quan trọng của mũi binh - địch vậntrong thời điểm kết thúc chiến tranh” [77, tr 65]
Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2012),
Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập II, 1954 -1975 [92] Công trình dựng lại
bức tranh của quân và dân Nam Bộ tham gia chống Mỹ, cứu nước trên cácmặt trận, trong đó đề cập đến một số hoạt động và kết quả công tác binhvận trên chiến trường Nam Bộ Công trình làm rõ kết quả hoạt động khôiphục, xây dựng lực lượng binh vận và hoạt động binh vận trong Tổng tiếncông và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam Công trình làm rõ vềkhung lịch sử chung nhất ở Nam Bộ và một số hoạt động binh vận tronggiai đoạn chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
Ban Tổng kết chiến tranh Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2015), Lịch
sử Sài Gòn, Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945 - 1975) [22] Công trình đề
cập đến hoạt động chiến đấu của quân và dân Sài Gòn, Chợ Lớn - Gia Định
Trang 23trong chống Pháp và chống Mỹ Công trình làm rõ một số hoạt động binh vận ởSài Gòn, Chợ Lớn - Gia Định, hoạt động tiến công binh vận của phụ nữ, họcsinh, sinh viên của dân quân du kích, của cơ sở nội tuyến; làm rõ một số hoạtđộng và kết quả binh vận trong giai đoạn chống chiến lược “Việt Nam hóa chiếntranh” Hoạt động và kết quả binh vận ở Sài Gòn, Chợ Lớn - Gia Định là rấtphong phú và đa dạng, tuy nhiên công trình chưa đề cập đến chủ trương và chỉđạo công tác binh vận của Khu ủy một cách hệ thống.
Lê Quang Đức (2015) “Công tác binh vận trong giai đoạn “Việt Namhóa chiến tranh” ở chiến trường B2” [81] Tác giả làm rõ hoạt động và kếtquả tiến công binh vận trong chiến dịch tổng hợp năm 1972 ở đồng bằngsông Cửu Long và hoạt động tiến công binh vận trong chiến dịch Hồ ChiMinh Tác giả cho rằng “mũi tiến công quân sự là mũi quyết định thắng lợi,mũi chính trị, binh vận tạo nên sức mạnh tổng hợp làm chuyển biến cụcdiện kết thúc gọn cuộc chiến tranh gần như không đổ máu và củng cố nềntảng chính trị đại đoàn kết toàn dân, xóa bỏ hận thù” [81, tr 417]
Nguyễn Quý (Chủ biên) (2015), Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 - 1975) [127] Các tác giả làm rõ một số chủ trương, chỉ
đạo và kết quả tiêu biểu công tác binh vận của Trung ương Cục miền Namtrong cuộc kháng chiến chống Mỹ Trong những năm 1969 - 1975, các tác giảlàm rõ một số chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Cục và của một số Khu
ủy về công tác binh vận Tuy nhiên, những chủ trương và sự chỉ đạo được đềcập chưa đầy đủ, mang tính tản mạn, chưa hệ thống và logic Các tác giả chỉ rađiểm sáng của Khu ủy Tây Nam Bộ sau Hiệp định Pari, trên cơ sở đánh giáđúng tình hình, tháng 2 năm 1973, Ban Thường vụ Khu ủy họp bất thường đề
ra chủ trương “Ta cần dựa vào pháp lý của Hiệp định vừa dùng quân sự đểngăn chặn hành động lấn chiếm của địch, vừa phải đẩy mạnh đấu tranh chínhtrị, binh vận, giữ vững thành quả đã đạt được ” [127, tr 448] Công trình là tàiliệu đề cập về nội dung và phương pháp phù hợp khi bàn về chủ trương và chỉđạo của Trung ương Cục đối với công tác binh vận
Trang 24Các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác binh vận trên chiếntrường B2 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mới đề cập đến một sốchủ trương, chỉ đạo của Trung ương Cục, làm rõ về một số hoạt động, kết quảtiến công binh vận ở một số địa phương trên chiến trường B2 Tuy nhiên, chưa
có công trình nào đề cập một cách đầy đủ chủ trương, chỉ đạo của Trung ươngCục về công tác binh vận nhằm chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”,những công trình trên là tài liệu quý giá cung cấp cho nghiên cứu sinh về cả nộidung và phương pháp, tạo thuận lợi cho nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu các công trình
đã công bố và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết
1.2.1 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố
Một là, về tư liệu
Các công trình nghiên cứu về công tác binh vận trong kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước rất phong phú và đa dạng với nhiều loại tài liệu khácnhau Các tài liệu đó bao gồm sách tham khảo, sách tổng kết lịch sử và cácbài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo khoa học của nhiều tập thể và tác giả khácnhau, bao gồm tác giả trong nước và ngoài nước Điều đó phản ánh công tácbinh vận trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được rất nhiều nhà khoa họcquan tâm, nghiên cứu, khai thác dưới nhiều góc độ, với phạm vi không gian
và thời gian khác nhau Tuy nhiên, các công trình phần lớn nghiên cứu côngtác binh vận dưới dạng sách, bài báo khoa học viết về tổng kết hoạt động binhvận mà chưa có cuốn sách chuyên khảo hay luận án tiến sĩ viết về sự lãnh đạocủa Đảng về công tác binh vận
Hai là, về phương pháp
Những công trình nghiên cứu liên quan đến công tác binh vận trongcuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của tác giả trong nước và nước ngoàinghiên cứu tiếp cận dưới nhiều khoa học khác nhau như Lịch sử quân sự,Lịch sử Đảng, Chính trị học, Lịch sử Việt Nam, v.v Sử dụng nhiều phươngpháp nghiên cứu như phương pháp lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, so
Trang 25sánh, thống kê, v.v Không gian nghiên cứu rất phong phú đa dạng bao gồmtoàn chiến trường MNVN, chiến trường B2 (cũ), chiến trường Khu V, một sốđịa phương, khu, tỉnh của MNVN trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.Các công trình thể hiện sự đa dạng về phương pháp tiếp cận và không giannghiên cứu công tác binh vận trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Điềunày, giúp nghiên cứu sinh tham khảo kế thừa lựa chọn phương pháp tiếp cận,
để phân tích, luận giải, tổng hợp, đánh giá về công tác binh vận trên chiếntrường B2, bảo đảm toàn diện, cụ thể, khoa học hơn
Ba là, về nội dung
Những công trình nghiên cứu về công tác binh vận đã đề cập làm rõkhái niệm, vị trí và vai trò binh vận Các công trình nghiên cứu cho rằngbinh vận là công tác tuyên truyền vận động làm suy sụp về tinh thần, tổ chứcbinh sĩ đối phương Binh vận là mũi tiến công chiến lược của cách mạng, là
bộ phận công tác vận động cách mạng của Đảng, ở cả thành thị lẫn nôngthôn Binh vận có vai trò quan trọng làm hoang mang, dao động, rệu rã, suysụp về tinh thần, đi đến hành động chống lệnh, phản chiến, binh biến và khởinghĩa làm tan rã tổ chức quân đội đối phương
Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã luận giải về cácyếu tố tác động đến hoạt động binh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước Đó là tính chất phi nghĩa cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ gây ra, tính chính nghĩa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhândân miền Nam tiến hành; Công tác binh vận diễn ra trong cuộc chiến tranhnhân dân phát triển cao, nhân dân Việt Nam có truyền thống và kinh nghiệmlàm binh vận; Thất bại của tiến công quân sự trên chiến trường miền Namcủa quân Mỹ và quân VNCH, thất bại trên mặt trận chính trị, ngoại giao tácđộng lớn đến công tác binh vận của Đảng; Bên cạnh đó, việc đế quốc Mỹhạn chế rồi chấm dứt viện trợ kinh tế cho chính quyền VNCH, chính sáchđối xử phân biệt, bất công của chính quyền VNCH đối với binh sĩ, GĐBSlàm cho tinh thần binh sĩ hoang mang, dao động
Trang 26Các công trình chỉ ra một số chủ trương, chỉ đạo công tác binh vậncủa Đảng, của Trung ương Cục miền Nam và của một số Khu ủy, Tỉnh ủytrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở các thời điểm, địa bàn khácnhau, nhưng chưa đề cập một cách hệ thống Những công trình trên đề cậpmột số hình thức hoạt động binh vận của quân và dân miền Nam ở một sốkhu, tỉnh và trên toàn MNVN: Hoạt động tiến công binh vận ở nông thôn,
đô thị, trong các chiến dịch tổng hợp, chiến dịch quân binh chủng, binhvận kết hợp với quân sự, chính trị, sử dụng cơ sở nội tuyến kết hợp trongđánh ra ngoài đánh vào, binh vận bao vây đồn bốt, đeo bám quân chủ lựcthực hiện kêu gọi, phóng loa, rải truyền đơn, binh vận kết hợp với đấutranh chính trị, huy động thanh niên, phụ nữ, sư sãi chống bắt lính đônquân, v.v Các công trình làm rõ nội dung và kết quả hoạt động tiến côngbinh vận ở một số địa bàn khu, tỉnh trên chiến trường MNVN như: Binhvận kết hợp với tiến công quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoạigiao làm tan rã binh sĩ VNCH; Hoạt động xây dựng cơ sở nội tuyến tronglòng địch, với những kết quả hoạt động của cơ sở nội tuyến tiêu biểu thựchiện binh biến, phản chiến và khởi nghĩa ở một số đơn vị quân đội VNCH,sau đó trở về với cách mạng Một số hoạt động xây dựng lực lượng binhvận và thực hiện chính sách binh vận đối với binh sĩ Mỹ, binh sĩ VNCH vàGĐBS Cùng với việc làm rõ nội dung hoạt động binh vận, các công trình tậptrung làm rõ một số kết quả tiến công binh vận ở các giai đoạn, thời điểm trêncác địa bàn thuộc chiến trường B2 và toàn miền Nam
Những công trình trên có đánh giá chung về hoạt động binh vận: Binhvận cùng với đấu tranh quân sự, chính trị làm nên thắng lợi vĩ đại của dântộc và nêu cao chính nghĩa cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trêntrường quốc tế Đồng thời đánh giá về một số hoạt động và kết quả mũi binhvận, mũi binh - địch vận trong từng giai đoạn của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước ở các chiến trường khác nhau
Trang 27Một số công trình đã rút ra kinh nghiệm hoạt động binh vận, binh địch vận, tiêu biểu là các công trình: Tổng kết công tác binh - địch vậntrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975); Tổng kết côngtác binh vận chiến trường Khu V, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước (1954 - 1975) Trong đó đúc kết một số kinh nghiệm như: Xác địnhđúng vị trí vai trò công tác binh vận; Tổ chức toàn dân làm công tác binhvận; Sử dụng 3 mũi giáp công tiến hành công tác binh vận; Xây dựng cơquan tham mưu và đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ mạnh tiêu biểu; Có
-chính sách binh vận đúng Công trình Tổng kết công tác binh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) trên chiến trường B2 cũ của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá về hoạt động binh vận trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã “góp phần quan trọng vào thắng lợichung, xứng đáng với nhiệm vụ chiến lược mà Đảng đã giao” [132, tr 165] vàrút ra 7 kinh nghiệm về hoạt động binh vận trên chiến trường Nam Bộ Đây
là những công trình khoa học quan trọng, là nguồn tài liệu để nghiên cứusinh kế thừa trong nghiên cứu luận án Tuy nhiên, các công trình trên chưa
đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Trungương Cục miền Nam về công tác binh vận
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu và đánh giá khái quát kết quảnghiên cứu các công trình liên quan đến đề tài luận án cho thấy, chưa có côngtrình nào nghiên cứu có tính hệ thống chuyên sâu và toàn diện về chủ trương vàchỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam đối với công tác binh vận từ năm 1969đến năm 1975, từ đó nhận xét và rút ra kinh nghiệm lãnh đạo về công tác binhvận của Trung ương Cục miền Nam
Do đó, có thể khẳng định vấn đề: “Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binh vận từ năm 1969 đến năm 1975” đang là “khoảng trống” trong đối
tượng nghiên cứu của khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sảnViệt Nam Vì thế nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề này làm đề tài luận án là cần
Trang 28thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, không bị trùng lặp với các công trình đãcông bố cả ở trong và ngoài nước
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Một là, các yếu tố tác động và chủ trương, sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam về công tác binh vận trong những năm 1969 - 1972.
Phân tích làm rõ các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Trung ươngCục về công tác binh vận Đó là: Vị trí, vai trò công tác binh vận đối với cuộcchiến tranh giải phóng dân tộc; Tình hình thế giới, khu vực và chiến lược “ViệtNam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ; Tình hình trong nước, đặc điểm củachiến trường B2 và thực trạng công tác binh vận trước năm 1969; Chủ trươngcủa Đảng về công tác binh vận ở miền Nam
Hệ thống hóa, phân tích chủ trương, sự chỉ đạo của Trung ương Cụcmiền Nam về công tác binh vận trên chiến trường B2 giai đoạn 1969 - 1972.Tập trung đi sâu phân tích làm rõ phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải phápcủa Trung ương Cục về công tác binh vận qua các thời điểm cách mạng Trìnhbày sự chỉ đạo và kết quả công tác binh vận của Trung ương Cục trong xâydựng lực lượng binh vận; hoạt động cơ sở nội tuyến; binh vận kết hợp với tiếncông quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; thực hiện chính sáchbinh vận trong giai đoạn 1969 - 1972
Hai là, các yếu tố mới tác động và chủ trương, sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam về đẩy mạnh công tác binh vận trong những năm 1973 - 1975.
Làm rõ các yếu tố mới tác động tới sự lãnh đạo của Trung ương Cụcmiền Nam về đẩy mạnh công tác binh vận trên chiến trường B2 Đó là: Sựphát triển nhanh chóng về kinh tế và phong trào ủng hộ của các tổ chức, cácnước đối với các dân tộc bị đô hộ áp bức đấu tranh giành độc lập; Nhữngbiến đổi phức tạp về kinh tế, chính trị nội bộ nước Mỹ tác động đến tinh thầnbinh sĩ VNCH ở MNVN, hạn chế khó khăn của quân đội và chính quyền
Trang 29VNCH trên chiến trường B2; Chủ trương của Đảng về công tác binh vận,thắng lợi của cách mạng miền Nam trên mặt trận quân sự, chính trị và ngoạigiao trong giai đoạn 1973 - 1975; Âm mưu phản vận và tăng cường bắt línhđôn quân của chính quyền VNCH, những khó khăn công tác binh vận saukhi có Hiệp định Pari
Hệ thống hóa, phân tích chủ trương của Trung ương Cục miền Namgồm phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm đẩy mạnh tiếncông binh vận khi thực hiện phương châm bạo lực cách mạng và tổng tiếncông nổi dậy làm tan rã hoàn toàn binh sĩ VNCH Trình bày sự chỉ đạo và kếtquả đạt được của Trung ương Cục về đẩy mạnh xây dựng lực lượng binh vận;xây dựng cơ sở và hoạt động nội tuyến; kết hợp binh vận với tiến công quân
sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh pháp lý của Hiệp định Pari; thực hiện chínhsách binh vận trong giai đoạn 1973 - 1975
Ba là, ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân trong lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam về công tác binh vận trong những năm 1969 - 1975.
Để đánh giá khách quan, trung thực về quá trình Trung ương Cục lãnh đạocông tác binh vận trên chiến trường B2 trong những năm 1969 - 1975, nghiên cứusinh bám sát kết quả trình bày trong hai chương lịch sử, nắm chắc nghị quyết,đánh giá của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác binh vận từ đó làm rõnhững ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong hoạch định chủ trương, quá trìnhchỉ đạo và kết quả đạt được của công tác binh vận từ năm 1969 đến năm 1975
Bốn là, những kinh nghiệm từ quá trình Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binh vận (1969 - 1975)
Để đúc kết kinh nghiệm lịch sử, nghiên cứu sinh nắm chắc những ưuđiểm, hạn chế, kết quả quá trình lãnh đạo công tác binh vận của Trung ươngCục trên chiến trường B2 Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh nghiên cứu nắmchắc hoạt động, kết quả binh vận của toàn chiến trường miền Nam, các chiếntrường B1, B3, B4 để bổ sung, bổ trợ, củng cố thêm kiến thức cho nghiên
Trang 30cứu sinh rút ra những kinh nghiệm của Trung ương Cục miền Nam lãnh đạocông tác binh vận trong những năm 1969 - 1975 Thực tiễn hiện nay các thếlực thù địch bên trong lẫn bên ngoài đang ra sức chống phá cách mạng nước
ta với nhiều thủ đoạn hình thức tuyên truyền vận động, tập hợp lực lượng rấttinh vi và xảo quyệt Để làm thất bại các thủ đoạn chống phá của kẻ thù,chúng ta rất cần vận dụng những kinh nghiệm lịch sử trong lãnh đạo đấutranh binh vận để xác định đối tượng, lực lượng, nội dung, phương pháp vàhình thức tuyên truyền vận động phù hợp, hiệu quả
Trang 31Kết luận chương 1
Binh vận là mũi tiến công chiến lược của cách mạng, đem lại thắng lợi
to lớn trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đánh đuổi xâm lăng Binhvận trực tiếp làm suy sụp tinh thần tư tưởng và tan rã về tổ chức binh sĩ đốiphương, góp phần to lớn vào thắng lợi của dân tộc Vì vậy, nghiên cứu vềcông tác binh vận đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả trong vàngoài nước Số lượng công trình phong phú, được tiếp cận ở nhiều góc độ vàphạm vi không gian khác nhau, các công trình nghiên cứu bước đầu đã luậngiải và khái lược về tình hình công tác binh vận nói chung và ở một số địaphương trên chiến trường miền Nam
Các công trình nghiên cứu về công tác binh vận trên chiến trường B2bước đầu đã làm rõ các yếu tố tác động, một số chủ trương và sự chỉ đạo củaTrung ương Cục, trong đó có công trình đi sâu làm rõ hoạt động công tác binhvận của các địa phương như tỉnh, khu thuộc chiến trường B2 Tuy nhiên, chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách độc lập, có tính hệ thống về Trungương Cục lãnh đạo công tác binh vận trên chiến trường B2 trong những nămchống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiêncứu sinh nhận thấy vấn đề “Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binhvận từ năm 1969 đến năm 1975” đang là “khoảng trống” khoa học cần đượcnghiên cứu, luận giải thấu đáo Thông qua tổng quan đã gợi mở giúp cho nghiêncứu sinh về hướng tiếp cận, luận giải, làm rõ sự lãnh đạo của Trung ương Cục vềcông tác binh vận, cung cấp thêm cứ liệu khoa học để đánh giá, nhận xét cũngnhư đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình Trung ương Cục lãnh đạo công tácbinh vận trong những năm 1969 - 1975
Trang 32Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN
NAM
VỀ CÔNG TÁC BINH VẬN TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1972 2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam đối với công tác binh vận (1969 - 1972)
2.1.1 Vị trí, vai trò của công tác binh vận trong chiến tranh giải phóng dân tộc
Công tác binh vận có vị trí vai trò chiến lược quan trọng trong các cuộcchiến tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam Công tác binh vận là một trong
ba mũi tiến công địch phổ biến, tiến công binh vận, quân sự và chính trị tạothành 3 mũi giáp công vừa tiêu diệt vừa làm tan rã binh sĩ đối phương, gópphần to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc
Công tác binh vận có vai trò đánh vào tư tưởng tinh thần của binh sĩ đốiphương, trước tiên làm cho họ nhận thức rõ tính phi nghĩa cuộc chiến tranhxâm lược mà họ tiến hành, đồng thời thấy được tính chính nghĩa cuộc chiếntranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam Công tác binh vận tuyêntruyền giáo dục vận động với nhiều nội dung, làm cho tinh thần binh sĩ đốiphương bị rệu rã, chán nản, hoang mang, sợ sệt, suy sụp, dẫn đến hành độngbinh biến, phản chiến, tan rã về tổ chức và chạy sang phía cách mạng
Công tác binh vận thực chất là công tác tuyên truyền vận động binh sĩđối phương với nhiều hình thức, biện pháp khác nhau như sử dụng truyềnđơn, thư tay, băng zôn, khẩu hiệu, kêu gọi, vận động trực tiếp, gián tiếp, v.v,
để cho binh sĩ đối phương thay đổi về tư tưởng và hành động Công tác binhvận bao gồm nhiều hoạt động, từ xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạchđến tổ chức rút kinh nghiệm Công tác binh vận tiến hành với nhiều bướckhác nhau, xây dựng lực lượng, bảo đảm phương tiện phục vụ cho đấu tranhbinh vận, kết hợp chặt chẽ với tiến công quân sự, đấu tranh chính trị làm tan
rã binh sĩ đối phương và thực hiện chính sách binh vận, chính sách đối với
tù, hàng, đào, rã binh, v.v Thực tiễn trong các cuộc chiến tranh giải phóng
Trang 33dân tộc của nhân dân Việt Nam, công tác binh vận luôn đem lại hiệu quảcao, làm tan rã lớn binh sĩ đối phương, góp phần đánh bại các cuộc chiếntranh xâm lược của kẻ thù.
Từ vị trí, vai trò chiến lược quan trọng của công tác binh vận, đòi hỏiTrung ương Cục cần nhận thức và quán triệt đầy đủ về vị trí, vai trò to lớncủa công tác binh vận, kịp thời hoạch định chủ trương và chỉ đạo công tácbinh vận sát đúng, hiệu quả trong giai đoạn 1969 - 1972
2.1.2 Tình hình thế giới, khu vực và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ
Những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX phong trào cách mạng trênthế giới tiếp tục phát triển mạnh, ba dòng thác cách mạng với mục tiêu hòabình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội đã tác động lớn đến chủ nghĩa
đế quốc và các thế lực phản động đứng đầu là đế quốc Mỹ Phong trào hệthống các nước XHCN phát triển, Liên Xô và Trung Quốc hai nước XHCNgiành được những thành tựu to lớn trên lĩnh vực kinh tế, quân sự, văn hóa xãhội và đuổi kịp Mỹ trên một số lĩnh vực, về quân sự trở thành đối trọng chiếnlược với Mỹ Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhiều nướcthuộc địa đã đạt được thắng lợi to lớn, làm sụp đổ gần như hoàn toàn hệ thốngthuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, từ năm 1960 đến năm 1968 đã có 25 nướcgiành được độc lập, trong đó có cả những nước là sân sau của Mỹ Phong tràođấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tại các nước tư bảndiễn ra mạnh mẽ và giành được nhiều thắng lợi Bên cạnh đó, sự phát triểncủa nền kinh tế Nhật Bản và Tây Âu đã đe dọa vị trí số 1 của nền kinh tế Mỹ.Đồng minh chiến lược của Mỹ là Pháp tuyên bố rút khỏi NATO, kêu gọitrung lập hóa toàn bộ Đông Nam Á Những yếu tố trên làm cho vị thế củanước Mỹ trên trường quốc tế bị đe dọa và uy tín của Mỹ xuống thấp, đế quốc
Mỹ gặp nhiều khó khăn trong quan hệ quốc tế và áp đặt chính sách quân sựvới các nước Do vậy, đế quốc Mỹ triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiếntranh” đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của nhân dân tiến bộ ở nhiều nướctrên thế giới, làm cho tinh thần tư tưởng binh sĩ Mỹ và đồng minh trên chiến
Trang 34trường miền Nam hoang mang dao động, đó là điều kiện thuận lợi cho côngtác binh vận đối với quân Mỹ và đồng minh.
Từ đầu năm 1969, đế quốc Mỹ triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiếntranh” ở MNVN với nhiều nội dung: Xây dựng quân đội VNCH thật mạnh đủsức đánh bại lực lượng vũ trang giải phóng, làm nòng cốt cho lực lượng vũtrang chống cộng ở Đông Nam Á; Bình định nông thôn, kiểm soát hầu hếtđất đai và dân số ở MNVN; Đẩy lùi lực lượng cách mạng ra khỏiCampuchia và Lào, kiềm chế viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc cho ViệtNam; Ổn định tình hình kinh tế, chính trị ở MNVN Giai đoạn 1 (1969 -1972) đế quốc Mỹ đầu tư rất nhiều, mục tiêu là bình định, kiểm soát đượcnhiều vùng nông thôn đông dân cư quan trọng, chuyển giao nhiệm vụ chiếnđấu trên bộ cho quân VNCH, rút dần quân Mỹ về nước Tuy nhiên, tronggiai này đế quốc Mỹ gặp rất nhiều hạn chế và khó khăn khi triển khai thựchiện Binh sĩ Mỹ trên chiến trường MNVN bị thương vong ngày càngnhiều, chỉ tính từ 1/1968 đến 1/1969 “có đến 14.958 lính Mỹ chết và95.798 bị thương, tức là mỗi ngày có 290 lính Mỹ bị thương vong, tính từđầu cuộc chiến tranh đến thời điểm đó có 31.000 lính Mỹ về nước trongquan tài”[92, tr 693 - 694], dẫn đến binh sĩ Mỹ trên chiến trường miềnNam rất lo sợ bi thương và chết trận, không còn là chỗ dựa tinh thần choquân VNCH Nội bộ nước Mỹ tiếp tục mâu thuẫn và chia rẽ sâu sắc vìkhủng hoảng kinh tế và bất đồng quan điểm về chiến tranh ở MNVN Ngânsách của nước Mỹ thâm hụt lớn, lạm phát tăng cao, thất nghiệp ngày càngnhiều, yêu cầu chi phí cho cuộc chiến tranh ở MNVN ngày càng lớn Chínhquyền R.Nixon tuyên bố rút quân khỏi MNVN, nhưng thực hiện rút quânnhỏ giọt và mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương Từ đó, làm chophong trào phản chiến của nhân dân, binh sĩ Mỹ, kể cả những binh sĩ Mỹ
đã tham chiến ở MNVN diễn ra vô cùng mạnh mẽ bên trong nước Mỹ, họyêu cầu chính phủ Mỹ chấm dứt chiến tranh, đưa chồng, con, em họ vềnước Những yếu tố trên càng làm cho tư tưởng tinh thần của binh sĩ Mỹ vàbinh sĩ VNCH trên chiến trường MNVN hoang mang dao động vì cuộc
Trang 35chiến tranh phi nghĩa không lối thoát, lo sợ phải chết trận, quân đội VNCH
sợ không còn chỗ dựa khi Mỹ rút quân, đây là yếu tố rất thuận lợi cho côngtác binh vận đối với cả quân Mỹ và quân đội VNCH
Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương vấp phải sự chốngđối quyết liệt của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia Ba nước đã phát huy sứcmạnh tổng hợp đánh bại các chiến dịch quân sự của Mỹ trên chiến trườngCampuchia và Lào Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào làm cholực lượng trên chiến trường B2 bị dàn mỏng ở địa bàn rộng lớn, cùng một lúcchúng phải đối phó với nhiều lực lượng của cách mạng, dẫn đến tâm lý binh sĩ
Mỹ và binh sĩ VNCH ngày càng hoảng loạn, lo sợ đối đầu với Quân giải phóng
Những đặc điểm về tình hình thế giới, 3 nước Đông Dương và khó khăncủa chính phủ Mỹ khi triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đặt rayêu cầu đối với Trung ương Cục là tận dụng triệt để phong trào phản đối chiếntranh của nhân dân thế giới, nhân dân Mỹ, những mâu thuẫn trong lòng nước Mỹ,những hạn chế của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, những yếu kém vềtâm lý, tư tưởng của binh sĩ Mỹ, binh sĩ VNCH để kịp thời xác định chủ trương vàchỉ đạo linh hoạt công tác binh vận trên chiến trường B2
Bên cạnh yếu tố thuận lợi, sự bất đồng sâu sắc giữa Trung Quốc vàLiên Xô để đế quốc Mỹ lợi dụng, sử dụng chính sách ngoại giao nhamhiểm và xảo trá chia rẽ phong trào cách mạng làm hạn chế sự ủng hộ vềvật chất của hai nước đối với cách mạng Việt Nam Đế quốc Mỹ tuy nội
bộ mâu thuẫn, nền kinh tế suy giảm nhưng tiềm lực kinh tế vẫn còn mạnh,vẫn đầu tư lớn cho chính quyền VNCH thực hiện chiến lược “Việt Namhóa chiến tranh” bước đầu chúng đã chiếm được ưu thế, nhanh chóngđánh chiếm và bình định được vùng nông thôn rộng lớn, dẫn đến phongtrào cách mạng mất dân mất đất Những hạn chế trên, đặt ra Trung ươngCục phải nhận thức đúng, kịp thời đề ra chủ trương binh vận đối phó với
âm mưu, diễn biến mới của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, kịpthời có chủ trương chuyển hướng công tác binh vận về nông thôn làm tan
rã binh sĩ VNCH, nhằm hạn chế đế quốc Mỹ chuyển hướng bình địnhđánh chiếm nông thôn để giành dân, chiếm đất
Trang 362.1.3 Tình hình trong nước và chiến trường B2
2.1.3.1 Tình hình trong nước trong chống chiến lược “Việt nam hóa chiến tranh”.
Thắng lợi của các đợt Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 bước đầu mở
ra thế và lực mới cho cách mạng miền Nam Thắng lợi đó buộc đế quốc Mỹphải xuống thang chiến tranh, phải ngồi vào bàn đàm phán thương lượng vớiChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ đó mở ra mặt trận đấu tranh ngoạigiao trực tiếp với đế quốc Mỹ Phong trào cách mạng XHCN ở miền Bắc tiếptục giành thắng lợi lớn, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày đượcnâng lên, các nước XHCN và các nước tiến bộ trên thế giới tiếp tục ủng hộcách mạng Việt Nam Miền Bắc đã nhanh chóng khắc phục hậu quả ném bomđánh phá của đế quốc Mỹ, củng cố và đẩy mạnh phát triển kinh tế, tiếp tụckhẳng định vai trò là hậu phương lớn cho miền Nam đánh giặc và miền Bắcđánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, mà đỉnh cao làđập tan cuộc tập kích chiến lược bằng B52 trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.Phong trào cách mạng miền Nam giai đoạn này, ban đầu tuy gặp nhiều khókhăn, nhưng đã kịp thời khắc phục để vươn lên Thắng lợi trên mặt trận ngoạigiao, phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị và đặc biệt sự ra đời của Chính phủCách mạng lâm thời Cộng hòa MNVN, thắng lợi quân sự ở Tây Nguyên, BìnhTrị Thiên, Đường 9 Nam Lào và chiến trường B2 năm 1972 đã tác động làmsuy sụp lớn tinh thần tư tưởng binh sĩ VNCH trên chiến trường B2 Từ tìnhhình trong nước yêu cầu Trung ương Cục khai thác triệt để thắng lợi của mũitiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, để xác định chủ trương, chỉ đạo côngtác binh vận, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp binh vận kết hợp với tiến côngquân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao làm cho binh sĩ Mỹ, binh sĩVNCH nhanh chóng suy sụp và tan rã
2.1.3.2 Thực trạng công tác binh vận trên chiến trường B2 trước năm
1969 và tình hình mới trong những năm 1969 - 1972
Thực trạng công tác binh vận trên chiến trường B2 trước năm 1969: Dưới
sự lãnh đạo của Trung ương Cục công tác binh vận trong giai đoạn 1965 - 1968
Trang 37trên chiến trường B2 đã đạt được những kết quả tích cực Trung ương Cục kịpthời đề ra chủ trương, chỉ đạo công tác binh vận đối với cả quân Mỹ, đồngminh và quân đội VNCH Chỉ đạo binh vận kết hợp chặt chẽ với tiến công quân
sự và đấu tranh chính trị, khai thác mâu thuẫn giữa quân Mỹ và quân VNCH,làm cho nhiều đồn bốt quân VNCH án binh bất động dẫn đến quân Mỹ khôngtin quân VNCH và mâu thuẫn giữa chúng ngày càng gay gắt Công tác binhvận sử dụng nhiều hình thức, nhiều lực lượng, đặc biệt là quần chúng nhân dântrong vành đai diệt Mỹ tiến công bằng truyền đơn, băng rôn, thư tay, loa kêugọi, trực tiếp thuyết phục, bằng tiếng Anh, tiếng Thái Lan v.v, làm cho một bọphận quân Mỹ chán ghét chiến tranh, thường xuyên đấu tranh phản chiến đòi
về nước, chống hành quân càn quét, đào rã ngũ, quan hệ giữa lính da trắng và
da mầu ngày càng phức tạp Công tác binh vận góp phần quan trọng mở ra thời
cơ và thuận lợi cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1968 Trong Tổngtiến công và nổi dậy, binh vận làm tan rã nhiều binh sĩ VNCH và binh sĩ Mỹ,làm cho chúng hoang mang, dao động, gây ra phong trào phản chiến mạnh mẽ,quyết liệt hơn, quân Mỹ biểu tình phản đối chiến tranh diễn ra ở nhiều đơn vị,nhiều binh sĩ Mỹ đã quay súng bắn chỉ huy và tình trạng tự vẫn, tự thươngkhông ra trận ngày càng nhiều Nhiều binh sĩ Mỹ, binh sĩ VNCH tham giaphong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam phản đối chiến tranh với mongmuốn được về nước, v.v Những đặc điểm trên là điều kiện thuận lợi, là độnglực lớn để công tác binh vận tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp, khoét sâuvào điểm yếu của binh sĩ VNCH khi Mỹ rút quân, tiếp tục đẩy mạnh xây dựnglực lượng binh vận ở cơ sở, binh vận kết hợp chặt chẽ với quân sự, chính trị vàngoại giao làm tan rã binh sĩ VNCH và binh sĩ Mỹ
Tuy nhiên, trong giai đoạn 1965 - 1968 công tác binh vận còn bộc lộ một
số điểm hạn chế, chủ trương và chỉ đạo công tác binh vận có lúc chưa phù hợp,chỉ tiêu quá cao so với khả năng, vì có lúc, có nơi đánh giá quá thấp trạng tháichính trị, tinh thần quân đội VNCH Trong tổng tiến công và nổi dậy Tết MậuThân 1968, công tác binh vận ở trọng điểm Sài Gòn – Gia Định không thựchiện được các kế hoạch như dự định Chỉ đạo công tác binh vận tập trung nhiều
Trang 38vào các mục tiêu đô thị, dẫn đến ở nông thôn nhiều nơi bị bỏ lỏng Chưa tậndụng hết thời cơ quân đội VNCH hoang mang cao độ để tiến công làm tan rãlớn Mũi tiến công binh vận còn chậm so với các mũi quân sự và chính trị,không tương xứng với yêu cầu và khả năng ngày càng lớn từ khi Mỹ tiến hànhchiến tranh cục bộ Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 9 (7-1969) đánh giá côngtác binh vận qua các đợt tổng tiến công năm 1968 “mũi tiến công binh vận cònquá yếu nên chưa tận dụng được thuận lợi to lớn để thúc đẩy mạnh sự suy sụpcủa ngụy quân, ngụy quyền” [63, tr 332]
Do vậy, công tác binh vận trên chiến trương B2 gặp nhiều khó khăn, lựclượng và phong trào binh vận ở thành thị và nông thôn bị tổn thất nặng nề Lựclượng binh vận nhiều nơi bị trắng, Ban Binh vận ở cơ sở, huyện, tỉnh nhiều nơi
bị tan rã Phong trào binh vận quần chúng mất thế hợp pháp, địa bàn hoạt động
bị thu nhỏ, quần chúng nhân dân tham gia công tác binh vận hạn chế, sợ bị pháthiện, bị thanh lọc và bị liên lụy Nhiều nơi cán bộ binh vận cơ sở bị bắt và bịgiết, nhiều người dao động cắt liên lạc, lo sợ khi ta móc nối, chần chừ khôngdám hành động, thậm chí có một số đầu hàng phản bội Ở đặc khu Sài Gòn -Gia Định, một số cán bộ chủ chốt của Ban Binh vận bị địch bắt, không chịu nổitra tấn đã khai báo, làm cho địch mở rộng diện khủng bố, truy quét, bắt nhiềucán bộ chỉ đạo, mật giao và cơ sở nội tuyến Một số cán bộ binh vận bị địch bắtgiữ khống chế, làm lộ ký tín ám hiệu hợp đồng tác chiến, để địch lợi dụng gây
ra những tổn thất lớn cho cách mạng Bộ máy và lực lượng binh vận ở cácvùng nông thôn mỏng yếu, nhất là ở xã ấp, các mục tiêu ở cơ sở xã ấp chưađược bố trí đầy đủ lực lượng, hoạt động chưa thông suốt Việc phối hợp giữabinh vận với quân sự, chính trị chưa nhịp nhàng ăn khớp, công tác vận độngbinh sĩ VNCH gây binh biến, phản chiến và khởi nghĩa trong quân đội VNCHcòn quá yếu Bên cạnh đó, do địa bàn chiến trường B2 rộng lớn, có nhiều mụctiêu đầu não quan trọng của quân đội VNCH tập trung lớn ở đô thị, lực lượngbinh sĩ VNCH đông, đế quốc Mỹ và chính quyền VNCH ưu tiên nhiều hơn sứcngười, sức của cho khu vực này Do vậy, yêu cầu đối với Trung ương Cục miềnNam trong lãnh đạo công tác binh vận trên chiến trường B2 cần có chủ trương
và chỉ đạo khắc phục kịp thời những yếu kém hạn chế
Trang 39Tình hình chiến trường B2 trong những năm 1969 - 1972: Chiến trường
B2 có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự đối vớitoàn miền Nam Chiến trường B2 chiếm 1/2 đất đai, 2/3 dân số và chiếm 3/4đường biên giới của toàn miền Nam với Campuchia, có bờ biển và thềm lục địarộng lớn, nơi đứng chân của các trung tâm đầu não chính trị, kinh tế, quân sự của
bộ máy xâm lược Mỹ và chính quyền VNCH Chiến trường B2 có cả ba vùngchiến lược, chiến trường rừng núi rộng lớn thuộc một phần của “Mái nhà ĐôngDương”, có đồng bằng nông thôn rộng lớn, trù phú nơi đông dân cư, vùng đồngbằng sông Cửu Long vựa lúa lớn nhất miền Nam, có các đô thị lớn như Sài Gòn -Gia Định, Cần Thơ, Mỹ Tho, v.v, nơi đứng chân của Bộ Chỉ huy Quân đoàn 3,Quân đoàn 4 và một phần Quân đoàn 2 của quân đội VNCH Do vậy, tiến côngbinh vận làm sụp đổ cơ quan, đơn vị đầu não của quân đội VNCH trên chiếntrường B2 có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ làm tan rã binh sĩ VNCH khu vựcnày mà còn gây hoang mang lo sợ cho binh sĩ VNCH ở các chiến trường khác
Thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, chính quyền VNCHtăng cường bắt lính, đôn quân dẫn đến quân đội VNCH, nhất là quân địaphương trên chiến trường B2 tăng lên đột ngột Riêng năm 1971 chúng dựkiến bắt 19,3 vạn tân binh, 19,8 vạn lính tình nguyện để phát triển thêm 8,4vạn quân, còn lại bổ sung tổn thất, tan rã và dự trữ Bảo an tập trung củng cố1.636 đại đội, 147 khung Ban Chỉ huy Liên đội, lập thêm các tiểu đoàn bảo
an Dân vệ phát triển lên 6.531 trung đội (mức cao nhất dự kiến là 7.200 trung đội) Nhân dân tự vệ 5 triệu, trong đó 1 triệu nòng cốt và 50 vạn nhân
dân tự vệ chiến đấu thường, cấp phát 50 vạn súng (có 10 vạn súng dự trữ), tổchức 2,5 vạn liên toán nòng cốt Chiêu hồi dự kiến là 3,5 vạn người và vậnđộng mua chuộc 1,5 vạn thân nhân gia đình những người tham gia khángchiến [202, tr 2] Tuy nhiên, việc bắt lính trên chiến trường B2 diễn ra thiếuchặt chẽ, coi trọng về số lượng dẫn đến chất lượng kém, bắt cả thiếu niên 15,
16 tuổi, số quân đào rã ngũ, bọn đầu hàng, tội phạm xã hội, đầu thú, học sinh,sinh viên, đặc biệt có cả nhiều quần chúng cách mạng, cán bộ, đảng viên,nòng cốt binh vận vào lính, đây là điểm yếu của quân đội VNCH để công tácbinh vận khoét sâu làm suy sụp và tan rã binh sĩ VNCH
Trang 40Cùng với bắt lính, đôn quân, đế quốc Mỹ nhanh chóng thực hiện kế hoạchbình định nông thôn, với nội dung “bình định cấp tốc” (10/1968 - 1/1969), “bìnhđịnh xây dựng” (2/1969 - 6/1970) và từ tháng 7/1970 trở đi thực hiện “bình định
bổ sung” Tập trung bình định ở vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, đồngbằng trọng điểm ở Đông Nam Bộ, Ninh Thuận và Bình Thuận Bình định đến đâu
là xây dựng đồn bốt ở các xã ấp để thực hiện kìm kẹp quần chúng nhân dân, bàngiao việc quản lý kìm kẹp cho quân địa phương, PVDS, dân vệ, bảo an và cảnhsát cơ động Thực hiện quân sự hóa cán bộ cấp phường, xã, khóm ấp, đưa sĩquan quân đội VNCH về phụ trách cơ sở và thực hiện chia nhỏ các phường, xã,khóm để dễ bề cai trị Bên cạnh đó, chính quyền VNCH đã ra sức sử dụng cácbiện pháp phản vận, đẩy mạnh công tác tuyên truyền xuyên tạc thắng lợi củacách mạng miền Nam, sử dụng lực lượng “Phượng hoàng” để tiêu diệt lựclượng cán bộ đảng viên, lực lượng binh vận các cấp Mục tiêu chúng đề ra từnăm 1969 đến năm 1972, mỗi tháng ít nhất phải diệt 350 cán bộ (vùng 2),trung bình 400 - 450 (vùng 3), cao nhất là 600 (vùng 4) [21, tr 201].Hoạtđộng phản vận của địch làm cho phong trào binh vận những năm đầu chốngchiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” gặp nhiều khó khăn Vì thế dẫn đếnđời sống nhân dân vùng nông thôn bị kìm kẹp, o ép, cướp bóc, cưỡng ép, yêucầu khách quan lúc này là làm tan rã lực lượng quân địa phương để giải phóngnhân dân, tạo chỗ đứng chân vững chắc cho lực lượng cách mạng ở nông thôn
Ngày 28 tháng 4 năm 1970, đế quốc Mỹ thực hiện mở rộng chiến tranh
ra toàn Đông Dương, đánh nhiều lần sang Campuchia Mỹ sử dụng phần lớnquân Mỹ và quân chủ lực VNCH trên chiến trường B2, bao gồm 6 sư đoànchính quy, 1 sư đoàn dù, 2 lữ thủy đánh bộ, 6 liên đoàn biệt động ở Nam Bộ và
2 sư đoàn Mỹ, Quân đoàn 4 VNCH đã huy động đại bộ phận của 3 sư đoàn 21,
9, 7 kết hợp với hai lữ lính thủy đánh bộ và 2 - 3 liên đoàn biệt động quân tậndụng các tiểu đoàn bảo an, các giang đoàn, liên tiếp mở 25 cuộc hành quân mệnhdanh “Cửu Long” đánh sang Campuchia Đây là cơ sở thuận lợi để công tác binhvận tập trung lực lượng tiến công làm tan rã quân địa phương PVDS, dân vệ, bảo
an, khi quân chủ lực VNCH bị phân tán đi chiến trường Campuchia