Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005LYMPHÔÂM NGUYÊN PHÁT ĐƯỜNG TIÊU HÓA: CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ Phạm Hùng Cường*, Phạm Xuân Dũng*, Lê Tấn Đạt** TÓM TẮT Sau khi khảo sát 18 tr
Trang 1Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
LYMPHÔÂM NGUYÊN PHÁT ĐƯỜNG TIÊU HÓA:
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
Phạm Hùng Cường*, Phạm Xuân Dũng*, Lê Tấn Đạt**
TÓM TẮT
Sau khi khảo sát 18 trường hợp lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu TpHCM trong 2 năm 1999-2000, chúng tôi ghi nhận:
Về chẩn đoán: Các triệu chứng lâm sàng và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh thường không thể phân biệt được lymphôâm hoặc carcinôm của đường tiêu hóa, thường phải cần đến phẫu thuật mổ bụng sinh thiết để chẩn đoán xác định Vị trí thường gặp theo thứ tự là: ruột non, đại tràng và dạ dày
Kết quả giải phẫu bệnh hầu hết các trường hợp đều thuộc loại có độ ác tính trung bình và cao
Tiêu chuẩn chẩn đoán limphôm nguyên phát đường tiêu hóa: + Có bướu ở đường tiêu hóa với giải phẫu bệnh xác định là limphôm + Không có sự hiện diện limphôm ở các vị trí khác như: hạch ngoại biên, hạch trung thất, gan lách, tủy xương và máu ngoại vi Tuy nhiên khi hạch lớn hơn bướu hoặc hạch liên tục với bướu thành một khối thì việc phân định rạch ròi giữa limphôm nguyên phát và limphôm thứ phát thật không thể thực hiện được
Về điều trị: Phẫu thuật đươc dùng để chẩn đoán xác định (83% trường hợp), và để điều trị nếu còn có thể cắt bướu được (72% trường hợp) Hóa trị được chỉ định trong 100% trường hợp, với phác đồ chọn là CHOP
SUMMARY
PRIMARY GASTROINTESTINAL LYMPHOMA:
DIAGNOSIS AND TREATMENT
Pham Hung Cuong, Pham Xuan Dung, Le Tan Dat * Y Hoc TP Ho Chi Minh
* Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 163 – 171
Having retrospectively studied 18 cases of primary gastrointestinal lymphoma treated at HCMC Cancer Center from 1999 to 2000, the author noted:
In diagnosis: To have a positive diagnosis, a laparotomy must be performed in most of cases Symptoms, signs and imaging techniques are often unable to distinguish lymphoma from carcinoma of the gastrointestinal tract.The small bowel is the most frequent site, followed by the colon and stomach, respectively Most of cases are intermediate- and high-grade non-Hodgkin’s lymphoma
The criteria for diagnosis of primary gastrointestinal lymphoma are: + A tumor mass in the gastrointestinal tract is confirmed histologically as lymphoma + There is no evidence of lymphoma in other sites, such as: peripheral or mediastinal lymph nodes, liver or spleen, bone marrow or peripheral blood smear
Nevertheless, in case of the mesenteric lymph nodes much greater in dimension than the gastrointestinal tumor or the nodes and the tumor uniting with together into a mass, the distinction between primary or secondary lymphoma is not clear
* BV Ung bướu TP HCM
Trang 2choice is CHOP
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lymphôâm biểu hiện ở đường tiêu hóa có thể là
nguyên phát hoặc thứ phát Xác định là lymphôâm
nguyên phát hoặc thứ phát tuy không phải lúc nào
cũng dễ dàng nhưng lại rất cần thiết vì điều trị và tiên
lượng sẽ khác nhau(16)
Lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa là bệnh lý
phát xuất từ các mảng Peyer của ruột non và từ
những lymphô bào của niêm mạc dạ dày và ruột già
Gần như tất cả những lymphôâm biểu hiện ở đường
tiêu hóa đều là lymphôâm không Hodgkin(9,16) Bệnh
Hodgkin rất hiếm khi có biểu hiện ở đường tiêu hóa,
chỉ trong 0,25% các trường hợp Ngược lại các bướu ở
đường tiêu hóa có thể gặp trong 10 – 15% các trường
hợp lymphôâm không Hodgkin(16)
Lymphôâm không Hodgkin của đường tiêu hóa
chiếm 4 – 20% các trường hợp lymphôâm không
Hodgkin và là vị trí ngoài hạch thường gặp
nhất(11,20,23)
Theo ghi nhận ung thư quần thể năm 1997 tại
Thành phố Hồ Chí Minh, xuất độ chuẩn cho cả hai
giới của lymphôâm không Hodgkin là 1,7/100.000 dân,
đứng hàng thứ 11 trong các loại ung thư thường gặp
tại TpHCM(6) Tại Bệnh viện Ung Bướu TpHCM
đường tiêu hóa là vị trí thường gặp nhất của các
lymphôâm nguyên phát ngoài hạch(2)
Lymphôâm là một bệnh lý nội khoa, nhưng các
lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa lại thường
được chẩn đoán và điều trị đầu tiên tại các khoa
ngoại (do triệu chứng lâm sàng gợi ý đến bệnh lý
bướu của đường tiêu hóa(11)) Phác đồ điều trị tối ưu
các lymphôâm này cho đến nay vẫn chưa được xác
định(9,11)
Các công trình nghiên cứu trong nước về
lymphôâm thường khảo sát về chẩn đoán và điều trị
chung tất cả các loại lymphôâm Hodgkin hoặc không
Hodgkin(1,2,3,4,8) Khảo sát về lymphôâm nguyên phát
đường tiêu hóa chỉ dừng ở mức chẩn đoán giải phẫu
bệnh(5,7)
THỰC HIỆN CÔNG TRÌNH NÀY, CHÚNG TÔI NHẰM
Khảo sát về chẩn đoán
Khảo sát về điều trị
Để có thể hiểu rõ hơn về loại bệnh lý này
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Các bệnh nhân đã được phẫu thuật tại Khoa Ngoại II hoặc hóa trị tại Khoa Nội II Bệnh viện Ung Bướu TPHCM trong 2 năm 1999 – 2000
Tiêu chuẩn chọn lựa bệnh
+ Khám lâm sàng không ghi nhận hạch ngoại vi lớn
+ Nội soi hoặc tường trình phẫu thuật ghi nhận có bướu ở đường tiêu hóa
+ Kết quả giải phẫu bệnh là lymphôâm
+ Đánh giá trước hóa trị không ghi nhận có hạch trung thất, tủy đồ và phết máu ngoại biên bình thường
Tổng cộng có 18 bệnh nhân được chọn
Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu hồ sơ bệnh án, so sánh các số liệu ghi nhận với y văn
KẾT QUẢ Tuổi
Bảng 1: Phân bố tuổi của nhóm bệnh nhân khảo sát
11-19 20-29 30-39 40-49 50-59 60-69 70-79 Tổng cộng
3 0 6 2 3 2 2 18 _ Tuổi nhỏ nhất: 16
_ Tuổi lớn nhất: 74 _ Tuổi trung bình: 45 ± 18
Trang 3Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Giới
11
Nữ
Biểu đồ 1: Phân bố giới của nhóm bệnh nhân khảo
sát
Lâm sàng
Triệu chứng cơ năng
Bảng 2: Các triệu chứng cơ năng
Các triệu chứng Số lượt
Sốt 5
Đau bụng là triệu chứng cơ năng thường gặp
nhất
Vị trí bướu
Bảng 3: Vị trí bướu
Dạ dày Ruột non Đại tràng
Vị rí bướu nguyên phát thường gặp nhất theo thứ
tự là: ruột non, đại tràng và dạ dày
Nội soi tiêu hóa
Có 6 trường hợp nội soi dạ dày tá tràng và đại
tràng bằng ống soi mềm trước khi điều trị, trong đó
có 3 lần sinh thiết kết quả giải phẫu bệnh là
lymphôm (2 ở dạ dày và 1 ở tá tràng), 3 lần chẩn
đoán sau soi là ung thư và kết quả sinh thiết 2 lần ra
carcinôm tuyến (1 ở dạ dày, 1 ở tá tràng) và 1 lần ra
viêm đại tràng mạn tính
Siêu âm
16 trường hợp được làm siêu âm trước mổ, có 4 trường hợp chẩn đoán nghĩ đến lymphôâm đường tiêu hóa (28%)
Xét nghiệm
Tất cả đều được thử LDH trước điều trị, có 9 trường hợp kết quả cao hơn bình thường (50%)
Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàng Bảng 4: Chẩn đoán lâm sàng trước và sau mổ
Chẩn đoán sau mổ
Ung thư đại tràng: 3 Ung thư dạ dày: 3 Lymphôâm: 2 Carcinôm tá tràng: 1 Bướu bụng: 3 Tắc ruột hoặc Viêm phúc mạc: 4
Ung thư đại tràng: 4 Ung thư dạ dày: 3 Lymphôâm đường tiêu hóa:
5 Carcinôm tá tràng: 1 Bướu ruột non: 3
1 trường hợp chẩn đoán trước mổ là carcinôm đại tràng phải, sau mổ lại chẩn đoán là lymphôâm
3 trường hợp được nội soi chẩn đoán là lymphôm nguyên phát đường tiêu hóa, 2 không can thiệp phẫu thuật
Giải phẫu bệnh
Có 2 trường hợp không xếp loại theo Working Formulation, kết quả giải phẫu bệnh của các trường hợp còn lại được trình bày trong Bảng 5
Bảng 5: Kết quả giải phẫu bệnh theo Working
Formulation
B Dạng nang, ưu hế tế bào nhỏ có khía 1
E Dạng lan tỏa, tế bào nhỏ có khía 3
F Dạng lan tỏa, hỗn hợp tế bào lớn và nhỏ 2
G Dạng lan tỏa, tế bào lớn có khía và không khía
8
H Nguyên bào miễn dịch tế bào 1
Các trường hợp lymphôm grad trung bình và cao
chiếm đại đa số (94%)
Chẩn đoán giai đoạn: (theo Ann - Arbor) Bảng 6: Giai đoạn lâm sàng các trường hợp khảo sát
Trang 43 trường hợp có nội soi chẩn đoán lymphôm
nguyên phát đường tiêu hóa và chỉ có 1 trường hợp
được phẫu thuật
Phẫu thuật cắt cơ quan mang bướu (cắt ½ đại
tràng phải, cắt đoạn ruột non, ) thực hiện được
trong 13 trường hợp (72%), tuy nhiên vẫn còn để lại
bướu hoặc hạch trong 50% trường hợp
Hóa trị
Có 2 trường hợp điều trị hóa chất đầu tiên, 15
trường hợp hóa trị bổ túc sau mổ
17 trường hợp hóa trị với phác đồ CHOP hoặc
CEOP, trong đó 14 trường hợp theo đủ 6 chu kỳ hóa
chất, 3 trường hợp chỉ theo được 2-5 chu kỳ rồi bỏ
điều trị
3 được điều trị với nhiều phác đồ CHOP, rồi
IMVP-16, ESHAP do tái phát sau điều trị hoặc bệnh
chỉ đáp ứng một phần
Trong 14 trường hợp điều trị đủ 6 chu kỳ CHOP
có 13 trường hợp được đánh giá đáp ứng hoàn toàn
Độc tính của hoá trị:
Bảng 7: Độc tính của hóa trị
Độc tính Số bệnh nhân
Các độc tính độ 3-4 (41%) đều là các độc tính
huyết học: giảm bạch cầu, giảm bạch cầu hạt
Xạ trị
Không có trường hợp nào được chỉ định điều trị
xạ
Kết quả điều trị
1 trường hợp tái phát sau điều trị 2 tháng (cắt ½
đại tràng phải, sau đó hóa trị 6 chu kỳ CHOP, đánh
giá đáp ứng toàn phần)
Tỉ lệ sống còn 4 năm sau điều trị là 64 – 84%
Biểu đồ 2: Đường biểu diễn thời gian sống còn sau
điều trị
BÀN LUẬN Dịch tễ học
Theo N.V Hồng(5), khi hồi cứu 18 trường hợp lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa ở bệnh viện
108 và bệnh viện K Hà nội trong ba năm 1996-1998, tuổi thường gặp nhất: 21 – 40 tuổi (50%), tỉ lệ nam/nữ = 2,6
Theo Pandey M và cs(15), khi khảo sát 30 trường hợp lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa tại một trung tâm ung thư ở Ấn độ 1990-1994, tuổi thường gặp của lymphôâm dạ dày là 61 và của lymphôâm ruột non là 20, tỉ lệ nam/nữ lại là 1/2,33
Nhiều tác giả đều ghi nhận tuổi thuờng gặp của lymphôâm dạ dày là 50-70 tuổi(19,20,23), nhưng tỉ lệ nam/nữ lại thay đổi từ 1 đến 2
Theo Paty P.B.(16), các trường hợp lymphôâm nguyên phát ở đại tràng có tuổi thường gặp là 40 – 79 tuổi, nam mắc bệnh hơi nhiều hơn nữ
Trong khảo sát này,
Chúng tôi ghi nhận tuổi thường gặp là 45 (Bảng 1), tỉ lệ nam/nữ = 1,6 (Biểu đồ 1)
Có sự khác biệt với y văn có thể là do tỉ lệ lymphôm ruột non trong loạt khảo sát này có tỉ lệ cao (50%) so với lymphôm đại tràng và dạ dày
Trang 5Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Lâm sàng
Theo Rosen P.J.(18), đa số bệnh nhân có các triệu
chứng: suy kiệt, buồn nôn và nôn, sụt cân, xuất huyết
tiêu hóa hoặc đau bụng Có thể khám thấy khối bướu
ở bụng nhưng không thấy hạch ngoại vi lớn
Theo Crump M.(11), các bệnh nhân có các triệu
chứng lâm sàng chủ yếu gợi ý đến tình trạng bệnh lý
ở đường tiêu hóa, thay đổi tùy theo vị trí bướu như:
đau bụng, buồn nôn và nôn, sụt cân, xuất huyết
tiêu hóa (dạ dày);
đau bụng, bán tắc ruột, sụt cân (ruột non);
đau bụng, xuất huyết tiêu hóa, tiêu chảy (đại
tràng)
Vị trí bướu xảy ra theo thứ tự: dạ dày (55 – 65%),
ruột non (25 – 35%), đại tràng (10 – 15%)
Theo Coit D.G.(10), dạ dày là vị trí thường gặp
nhất, sau đó đến ruột non và đại tràng Ở ruột non,
xuất độ tăng dần từ gần đến xa; với vị trí thường gặp
nhất là tại hồi tràng, tương ứng với sự phong phú
nhất của mô lymphô ở đây Ở đại tràng (9), manh
tràng và trực tràng là hai vị trí thường gặp nhất, triệu
chứng lâm sàng hoàn toàn không thể phân biệt với
carcinôm của đại tràng
Theo Koniaris và cs(13), vị trí thường gặp ở các
nước phương Tây theo thứ tự là dạ dày, ruột non và
đại tràng; trong khi các khảo sát ở Trung Đông
(Jordan), châu Phi (Nigeria) và Nam Thái Bình Dương
(New Guinea) lại cho thấy các vị trí thường gặp lại là
ruột non, dạ dày và đại tràng
Nhiều tác giả đều thống nhất các triệu chứng lâm
sàng của lymphôm nguyên phát đường tiêu hóa hoàn
toàn không đặc hiệu(12,14,15,23)
Trong khảo sát này,
Chúng tôi cũng ghi nhận các triệu chứng cơ
năng chỉ gợi ý đến chẩn đoán bệnh lý của cơ quan
tiêu hóa chứ không đặc hiệu để chẩn đoán lymphôâm
đường tiêu hóa (Bảng 2)
Về vị trí của bướu, chúng tôi cũng có ghi nhận
tương tự như N.V Hồng(5), tại Hà nội, ruột non và đại
tràng lại là vị trí thường gặp nhất, sau đó mới đến dạ
dày (Bảng 3) Ghi nhận này hoàn toàn khác với ghi nhận của các tác giả nước ngoài
Chẩn đoán + Chẩn đoán lymphôâm nguyên phát đường tiêu
hóa theo Dawson và cs phải có đủ các tiêu chuẩn sau(9,16):
Khối bướu ở đường tiêu hóa có giải phẫu bệnh xác định là lymphôâm
Hạch ngoại vi, gan, lách không to
Không ghi nhận hạch trung thất trên phim x quang hoặc CT ngực
Phết máu ngoại biên và tủy đồ bình thường Theo Yoon S.S và cs(23), phân biệt giữa lymphôm nguyên phát đường tiêu hóa giai đoạn trễ với lymphôm không Hodgkin có biểu hiện thứ phát ở đường tiêu hóa không phải lúc nào cũng dễ dàng Do vậy nhiều tác giả chấp nhận chẩn đoán lymphôm nguyên phát đường tiêu hóa khi (1) bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng bệnh lý ở đường tiêu hóa và (2) có giải phẫu bệnh xác định ở sang thương đường tiêu hóa là lymphôm
+ Theo Rosen P.J.(18), qua x quang và nội soi lymphôâm nguyên phát ở dạ dày có thể bị chẩn đoán nhầm là carcinôm dạ dày; đôi khi về vi thể cũng không thể phân biệt giữa một carcinôm không biệt hóa và một lymphôâm grad cao, phải cần đến chẩn đoán hóa mô miễn dịch để xác định Trong nhiều trường hợp phải cần đến phẫu thuật mổ bụng thám sát để xác định chẩn đoán Paty P.B.(16) cũng có nhận định tương tự với lymphôâm nguyên phát ở đại tràng Theo Crump M.(11), sinh thiết qua ngã nội soi có thể giúp chẩn đoán bệnh trong đa số các trường hợp lymphôâm ở dạ dày và đại tràng Tuy nhiên để xác định chẩn đoán lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa cần phải làm thêm các xét nghiệm để loại trừ sự hiện diện sang thương ở các vị trí khác như: x quang phổi, chụp CT bụng, phết máu ngoại biên, soi mũi họng, chọc tủy xương sinh thiết, xạ hình xương, Loại giải phẫu bệnh thường gặp của dạ dày là: lymphôâm loại MALT (mucosa-associated lymphoid tissue), lymphôâm lan tỏa tế bào lớn loại tế bào B; của
Trang 6lan tỏa tế bào lớn loại tế bào B, lymphôâm loại MALT
Lymphôm nguyên phát đường tiêu hóa thường là
lymphôm grad cao (60%)(20) Lymphôm loại MALT
luôn kết hợp với nhiễm H pylori, lymphôm lan tỏa tế
bào lớn loại tế bào B có thể xảy ra sau khi đã có
lymphôm loại MALT (khoảng 1/3 trường hợp)(19)
Lymphôm Burkitt là loại lymphôm có diễn tiến rất
nhanh, một số trường hợp có liên quan với tình trạng
nhiễm virút Epstein-Barr(13)
Theo Coit D.G.(10), chẩn đoán lymphôâm nguyên
phát ruột non thường chỉ có được sau khi mổ bụng
thám sát và sinh thiết
Theo N.V Hồng(5), tại Hà nội, loại giải phẫu bệnh
thường gặp nhất là lymphôâm lan tỏa tế bào lớn (WF7)
và lymphôâm lan tỏa tế bào nhỏ nhân có khía (WF5)
+ Có nhiều hệ thống xếp giai đoạn bệnh
lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa được đề nghị,
gần đây(11, 23) một hội thảo quốc tế năm 1994 đã đề
xuất hệ thống xếp giai đoạn sau:
Giai đoạn I: Bướu khu trú ở đường tiêu hóa
Giai đoạn II: Bướu đã lan tràn đến các hạch trong
ổ bụng
Giai đoạn II1: Hạch còn tại vùng (các hạch cạnh
dạ dày, cạnh ruột)
Giai đoạn II2: Hạch lan xa (các hạch mạc treo,
cạnh bó mạch chủ bụng)
Giai đoạn III: Bướu xâm lấn gây thủng hoặc ăn
lan các tạng lân cận
Giai đoạn IV: Bệnh lan tràn đến các cơ quan
ngoài hạch khác hoặc đến các hạch phía trên cơ
hoành
Trong khảo sát này
Tiêu chuẩn chọn bệnh của chúng tôi đã tôn trọng
đầy đủ các tiêu chuẩn của Dawson
Trong các trường hợp giai đoạn sớm, hạch chưa
bị di căn hoặc hạch có kích thước nhỏ thì việc chẩn
đoán lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa khá dễ
dàng Nhưng trong các trường hợp hạch lớn hơn
và lymphôâm thứ phát thật không thể thực hiện được Chúng tôi cũng ghi nhận không thể phân biệt một bướu đường tiêu hóa là carcinôm hay lymphôâm khi nội soi Tuy nhiên nên nghĩ đến chẩn đoán lymphôâm khi hình ảnh nội soi nghĩ đến carcinôm mà kết quả sinh thiết chỉ là mô viêm mạn tính, cần làm thêm hóa mô miễn dịch và các xét nghiệm hướng về lymphôâm khác
Siêu âm mặc dù theo y văn không được liệt kê như là một phương tiện chẩn đoán lymphôâm tiêu hóa, nhưng chúng tôi vẫn thấy đó là một xét nghiệm có ích, đặc biệt trong điều kiện thực tế Việt Nam (bệnh thường ở giai đoạn trễ, vừa có sang thương lớn
ở đường tiêu hóa vừa có nhiều hạch ổ bụng)
Xét nghiệm LDH cho thấy không có giá trị chẩn đoán xác định lymphôâm
Không thể phân biệt một bướu đường tiêu hóa là carcinôm hay lymphôâm bằng lâm sàng, có đến 50% trường hợp sau mổ vẫn chẩn đoán là carcinôm dạ dày hoặc carcinôm đại tràng (Bảng 4)
Kết quả giải phẫu bệnh hầu hết các trường hợp đều thuộc loại có độ ác tính trung bình và cao theo Working Formulation (Bảng 5) Đặc biệt khác so với các tác giả nước ngoài, không có trường hợp lymphôm dạ dày nào có giải phẫu bệnh là lymphôm loại MALT
14/18 trường hợp (78%) khi đến điều trị đã có kèm tổn thương hạch vùng hoặc hạch lân cận trong ổ bụng, giai đoạn II theo Ann - Arbor (Bảng 6)
Điều trị
Do gần như tất cả những lymphôâm biểu hiện ở đường tiêu hóa đều là lymphôâm không Hodgkin(9,16), nên khi điều trị lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa cũng phải xem xét đến các nguyên tắc chung trong điều trị lymphôâm không Hodgkin
Theo Rosen P.J.(18), loại giải phẫu bệnh là yếu tố quyết định khả năng sống còn của bệnh nhân lymphôâm không Hodgkin Chỉ định điều trị cũng khác nhau tùy theo bệnh có độ ác tính thấp hoặc
Trang 7Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
bệnh có độ ác tính trung bình và cao
Các lymphôm có grad trung bình và cao đều cần
dùng hóa trị, phác đồ hóa trị CHOP cho đến nay vẫn
được chọn là phác đồ chuẩn, các phác đồ phức tạp
hơn và nhiều độc tính hơn vẫn không chứng tỏ sự
vượt trội hơn(13,18,21)
Các lymphôm có grad thấp không đáp ứng với
hóa trị, điều trị với phác đồ CHOP không làm thay đổi
tỉ lệ sống còn, tuy nhiên bệnh lại diễn tiến khá chậm
(phần lớn bệnh nhân tử vong sau 5-15 năm) Các
bệnh nhân lymphôm tế bào B có đáp ứng với
Rituximab (một loại kháng thể đơn dòng tác động lên
các yếu tố tăng trưởng bướu), trong khi các lymphôm
tế bào T thì không(13)
Theo Koniaris L.G và cs(13), đối với các trường
hợp lymphôm dạ dày grad trung bình và cao giai
đoạn sớm, điều trị bao gồm một phương pháp điều trị
tại chỗ (phẫu hoặc xạ trị) và hóa trị Theo một nghiên
cứu so sánh giữa phẫu và xạ trị sau đó bổ túc thêm
hóa trị, tỉ lệ sống 5 năm không bệnh lân lượt là 84 và
82% Việc chọn lựa giữa phẫu và xạ trị tùy thuộc vào
giai đoạn bệnh, kích thước bướu và ý muốn của bệnh
nhân Tuy nhiên tác giả đề nghị chọn lựa phẫu trị khi
bệnh nhân < 60 tuổi với lý do là để giảm bớt các biến
chứng muộn do xạ trị Các biến chứng này có thể là
hẹp niệu quản, viêm ruột, viêm bàng quang, rối loạn
chức năng cơ vòng hậu môn, nguy cơ bị một ung thư
thứ hai Tỉ lệ các biến chứng này là 5-10% sau 10
năm khi xạ trị với tổng liều 30 Gy, và nếu bệnh nhân
sống thêm được 30 năm thì tỉ lệ biến chứng này có
thể ba lần nhiều hơn
Đối với các trường hợp lymphôm ruột non và đại
tràng grad trung bình và cao, kết quả không được cao
như lymphôm dạ dày Tỉ lệ sống 5 năm không bệnh
khi kết hợp phẫu và hóa trị các trường hợp giai đoạn I
và II là 50-70%, nhưng nếu chỉ phẫu hoặc hóa trị thôi
thì chỉ là 30-50% Riêng lymphôm loại Burkitt do
bướu phát triển rất nhanh, nên điều trị chủ yếu là hóa
trị; phẫu trị có chỉ định chỉ khi có biến chứng thủng
ruôt hoặc xuất huyết tiêu hóa
Đối với các trường hợp grad thấp, tác giả đề nghị
điều trị tại chỗ với phẫu hoặc xạ trị, và bổ túc thêm
với Rituximab nếu là lymphôm tế bào B
Theo Coit D.G.(10), đối với lymphôâm ruột non hóa trị nên được thực hiện sau mổ các bướu có độ ác tính cao, ngay cả khi bướu ở giai đoạn I
Theo Paty P.B.(16), Đối với lymphôâm đại tràng, cắt đại tràng tận gốc đơn thuần có thể điều trị khỏi với tỉ lệ sống thêm 5 năm 67-87% khi bướu ở giai đoạn I Thông thường phác đồ điều trị bao gồm: phẫu thuật cắt đại tràng kết hợp với xạ hoặc hóa trị hậu phẫu Các yếu tố quyết định tiên lượng khả năng sống thêm là: giai đoạn bệnh, có thực hiện phẫu thuật cắt đại tràng hay không
Đối với lymphôâm trực tràng, phẫu thuật và tia xạ đều có kết quả tốt như nhau, nhưng tỉ lệ sống thêm sau phẫu thuật đạt 50-60% trong khi
tỉ lệ sống thêm sau tia xạ chỉ đạt không tới 20% Theo Fan C.W và cs(12), Phẫu trị vẫn là điều trị cơ bản đối với lymphôm đại-trực tràng ví các lý do: (1) cung cấp chính xác các thông tin có giá trị tiên lượng như giải phẫu bệnh, giai đoạn bệnh; (2) có thể điều trị khỏi bệnh; (3) phòng ngừa các biến chứng xuất huyết, thủng hoặc tắc ruột
Trong khảo sát này Chỉ cóù 3 trường hợp được chẩn đoán xác định nhờ nội soi sinh thiết, 83% các trường hợp còn lại phải nhờ phẫu thuật mổ bụng Phẫu thuật cắt cơ quan mang bướu thực hiện được trong 72% trường hợp
Hóa trị được chỉ định trong 100% trường hợp, với phác đồ chọn là CHOP Không có trường hợp nào dùng xạ trị Lý do chọn lựa hóa trị sau mổ là do gần 100% các trường hợp đều có giải phẫu bệnh thuộc loại độ ác tính trung bình và cao (Bảng 5) Một trường hợp có giải phẫu bệnh ác tính thấp, tuy nhiên lại có nhiều hạch mạc treo kèm theo nên chỉ định dùng hóa trị sau mổ cũng là hợp lý Độc tính độ 3-4 của hóa trị là 41% (Bảng 7), nhưng không có trường hợp nào bỏ điều trị vì các độc tính này
Thời gian sống còn sau điều trị trung bình là 40 –
58 tháng (Biểu đồ 2)
Trang 8Theo Crump M.(11), Lymphôâm loại MALT ở dạ dày
có thể biến mất sau khi được điều trị diệt vi khuẩn
Helicobacter pylori, tuy nhiên phải cần nội soi dạ dày
theo dõi sát vì phải nhiều tháng bướu mới biến mất
hoàn toàn
Các công trình nghiên cứu cũ cho rằng phẫu
thuật cần thực hiện để chẩn đoán xác định các
lymphôâm đường tiêu hóa, việc cắt bỏ bướu ở giai
đoạn còn khu trú giúp cải thiện khả năng sống còn và
cũng giúp tránh các biến chứng xảy ra trong quá
trình điều trị nội khoa (tắc ruột, xuất huyết, thủng)
Tuy nhiên sinh thiết qua ngã nội soi hiện nay có thể
chẩn đoán đúng 80-90% các lymphôâm dạ dày, một số
công trình cho thấy mức độ phẫu thuật (cắt bướu
hoặc chỉ sinh thiết) không ảnh hưởng đến kết quả
điều trị lymphôâm dạ dày và không ghi nhận trường
hợp nào thủng dạ dày hoặc xuất huyết tiêu hóa nặng
Do vậy trong trường hợp nội soi sinh thiết dạ dày
chẩn đoán lymphôâm, có thể tiến hành điều trị hóa
chất hoặc hoá chất ít chu kỳ kết hợp với xạ trị tuỳ
theo giai đoạn bệnh lan tràn hoặc còn khu trú
Đối với lymphôâm ruột non, vai trò của phẫu thuật
ít bị tranh cãi hơn Vì phần lớn bệnh nhân lymphôâm
ruột non nhập viện vơí triệu chứng bán tắc ruột hoặc
thủng nên nhiều trường hợp chỉ chẩn đoán xác định
bệnh lúc mổ bụng Các bệnh nhân được cắt bướu ở
giai đoạn bệnh còn khu trú có tiên lượng tốt hơn nếu
còn để lại bướu Tỉ lệ thủng ruột non trong quá trình
hóa trị lymphôâm ruột non cao hơn so với lymphôâm
dạ dày và lymphôâm đại tràng (5-15%)
Theo Willich N.A và cs(22), Trong một nghiên cứu
đa trung tâm ở Đức, thực hiện từ 10/1992 đến
11/1996, đối với lymphôm dạ dày so sánh giữa hai
nhóm bệnh nhân được điều trị vớp phẫu thuật và sau
đó bổ túc bằng xạ hoặc hóa trị (tùy theo giải phẫu
bệnh thuộc nhóm grad thấp hoặc cao) với nhóm
bệnh nhân điều trị bằng xạ và hóa trị ngay từ đầu
Kết quả cho thất thời gian sống thêm 3 và 5 năm của
hai nhóm không có sự khác biệt Biến chứng xuất
huyết tiêu hóa ở nhóm không phẫu thuật chỉ có 1
Theo Koniaris L.G và cs(13), Phác đồ hóa trị CHOP cho đến nay vẫn được chọn là phác đồ chuẩn cho các lymphôm grad trung bình và cao, các phác đồ phức tạp hơn và nhiều độc tính hơn vẫn không chứng tỏ sự vượt trội hơn
Phác đồ điều trị đề xuất
+ Nếu có kết quả giải phẫu bệnh qua nội soi tiêu hóa là lymphôm grad trung bình hoặc cao, hóa trị sẽ là chọn lựa đầu tiên
+ Nếu không có giải phẫu bệnh, phẫu thuật mổ bụng để chẩn đoán và cắt cơ quan mang bướu (nếu có thể được) trước, sau đó bổ túc bằng hoá trị
+ Phác đồ hoá trị sử dụng là CHOP
KẾT LUẬN
Sau khi khảo sát 18 trường hợp lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu TpHCM từ 1999-2000, chúng tôi ghi nhận:
Về chẩn đoán
Các triệu chứng lâm sàng và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh thường không thể phân biệt được lymphôâm hoặc carcinôm của đường tiêu hóa, thường phải cần đến phẫu thuật mổ bụng sinh thiết để chẩn đoán xác định
Vị trí thường gặp theo thứ tự là: ruột non, đại tràng và dạ dày
Kết quả giải phẫu bệnh hầu hết các trường hợp đều thuộc loại có độ ác tính trung bình và cao
Tiêu chuẩn chẩn đoán lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa:
+ Có bướu ở đường tiêu hóa với giải phẫu bệnh xác định là limphôm
+ Không có sự hiện diện limphôm ở các vị trí khác như: hạch ngoại biên, hạch trung thất, gan lách, tủy xương và máu ngoại vi
Tuy nhiên khi hạch lớn hơn bướu hoặc hạch liên tục với bướu thành một khối thì việc phân định rạch ròi giữa limphôm nguyên phát và limphôm thứ phát
Trang 9Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
thật không thể thực hiện được 10 Coit D.G.: Cancer of the Small Intestine In: Cancer:
Principles and Practice of Oncology De Vita V.T., Hellman S., Rosenberg S.A., 1997, 5 th edition, J.B.Lippincott Company: 1137-1139
Về điều trị
Phẫu thuật đươc dùng để chẩn đoán xác định
(83% trường hợp), và để điều trị nếu còn có thể cắt
bướu được (72% trường hợp)
11 Crump M., Gospodarowicz M., Shepherd F.A.:
Lymphoma of the Gatrointestinal Tract Seminars in
Oncology, Vol 26, No 3 (June), 1999: 324 – 337 (x)
Koniaris L.G et al: Management of Gastrointestinal
Lymphoma J Am Coll Surg (2003) July, 197 (1): 127
– 142
Hóa trị được chỉ định trong 100% trường hợp, với
Colon Rectum (2000) 43: 1277 – 1282
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13 Koniaris L.G et al: Management of Gastrointestinal
Lymphoma J Am Coll Surg (2003) 197 (1): 127 – 142
1 Phạm Xuân Dũng, Trần Chánh Khương, Ngô Thị
Thanh Thủy: Lymphôâm ở trẻ em: dịch tễ học, chẩn
đoán và điều trị Tạp chí Y học TPHCM, số đặc biệt
chuyên đề ung bướu học, phụ bản số 4, tập 4, tr
407-415, 12/2000
14 Maisey N et al: Chemotherapy for Primary Gastric
Lymphoma: Does In-patient Observatio Prevent Complications ? Clinical Oncology (2004) 16: 48 – 52
15 Pandey M et al: Malignanl Lymphoma of the
Gastrointestinal Tract European Journal of Surgical
Oncology (1999) 25: 164 – 167
2 Phạm Xuân Dũng, Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn
Chấn Hùng: Lymphôâm không Hodgkin ở người lớn:
lâm sàng, giải phẫu bệnh và điều trị Tạp chí Y học
TPHCM, số đặc biệt chuyên đề ung bướu học, phụ bản
số 4, tập 3, tr 426-435, 12/1999
16 Paty P.B., Sigurdson E.R.: Lymphoma In: Cohen
A.M., Winawer S.J (eds) Cancer of the Colon, Rectum and Anus New York, McGraw-Hill, 1995: 991-995
17 Rooney N., Dogan A.: Gastrointestinal Lymphoma
Current Diagnostic Pathology (2004) 10: 69 – 78
3 Phạm Xuân Dũng, Lưu Hùng Vũ, Cung Thị Tuyết Anh,
Nguyễn Chấn Hùng: Lymphôâm Hodgkin ở người lớn:
dịch tễ học, chẩn đoán, điều trị Tạp chí Y học
TPHCM, số đặc biệt chuyên đề ung bướu học, phụ bản
số 4, tập 4, tr 395-401, 12/2000
18 Rosen P.J.: Hodgkin’s Disease and Malignant
Lymphoma In: Casciato D.A., Lowitz B.B Manual of
Clinical Oncology, 1995, 3 rd edition Little, Brown and Company: 363-382
4 Nguyễn Bá Đức, Nguyễn Tuyết Mai, Lê Thanh Đức:
Các yếu tố tiên lượng trong điều trị hóa chất u
lymphôâm ác tính không Hodgkin Tạp chí Thông tin Y
Dược, chuyên đề ung thư 8/2000, tr 271-279
19 Ruskoné - Fourmestraux A et al: Les Lymphomes
Gastriques du MALT La Revue de Médecine Interne
(2004) 25: 573 – 581
20 Ruskoné - Fourmestraux A., Rambaud J.C.:
Gastrointestinal Lymphoma: Prevention and treatment
of Early Lesions Best Practice & Research Clinical
Gastroenterology (2001) 15 (2): 337 – 354
5 Nguyễn Văn Hồng, Lê Đình Hoè, Lê Đình Roanh:
Nghiên cứu mô bệnh học u lymphôâm ác tính không
Hodgkin tiên phát ở đường tiêu hóa Tạp chí Thông
tin Y Dược, chuyên đề ung thư 8/2000, tr 284-287
21 Vose J.M.: Current Approaches to the Management of
Non-Hodgkin’s Lymphoma Seminars in Oncology, Vol
25, No 4 (August), 1998: 483 – 491
6 Nguyễn Chấn Hùng và cs: Kết quả ghi nhận ung thư
quần thể tại TPHCM năm 1997 Tạp chí Y học
TPHCM, số đặc biệt chuyên đề ung bướu học, phụ bản
số 3, tập 2, tr 11-19, 12/1998 22 Willich N.A et al: Operative and Conservative
Management of Primary Gastric Lymphoma: Interim Results of a German Multicenter Study Int J
Radiation Oncology Biol Phys (2000) 46 (4): 895 –
901
7 Lê Văn Thảo, Trần Đăng Khoa, Hoàng Xuân Kháng,
Nguyễn Ngọc Kha: Thông báo nhân một trường hợp
Hodgkin biểu hiện tại dạ dày Tạp chí Y học Việt
Nam, 158, tr 212-213, 1991
23 Yoon S.S et al: The Diminishing Role or Surgery in
the Treatment of Gastric Lymphoma Ann Surg (2004)
240: 28 – 37
8 Trịnh Toàn Thắng, Phan Bích Liên và cs: Tình hình
chẩn đoán và điều trị ung thư hạch tại Bệnh viện Chợ
Rẫy Tạp chí Y học TPHCM, số đặc biệt chuyên đề ung
bướu học, phụ bản số 4, tập 4, tr 402-406, 12/2000
9 Cohen A.M., Minsky B D., Schilsky R.L.: Cancer of
the Colon In: Cancer: Principles and Practice of
Oncology De Vita V.T., Hellman S., Rosenberg S.A.,
1997, 5 th edition, J.B.Lippincott Company: 1185