Hiện nay, có nhiều phương pháp phẫu thuật được áp dụng để điều trị cho bướu tuyến đa dạng của tuyến mang tai chẳng hạn như cắt toàn phần tuyến mang tai có bảo tồn dây thần kinh mặt, cắt
Trang 1NHẬN ĐỊNH VỀ CÁC PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ BƯỚU TUYẾN ĐA DẠNG TUYẾN NƯỚC BỌT MANG TAI
Nguyễn Hồng Ri*, Trần Văn Thiệp*, Nguyễn Chấn Hùng*
TÓM TẮT
Bướu tuyến đa dạng còn được gọi là bướu hỗn hợp lành Bướu tuyến đa dạng là loại bướu lành của tuyến nước bọt, có đặc tính phát triển chậm, thường hay xuất hiện ở tuyến mang tai Về mặt vi thể, bướu có vỏ bọc bao chung quanh mà trước đây người ta có thể dựa vào đó để mổ bóc nhân Bướu tuyến đa dạng không có vỏ bao thật và bướu có thể có nhiều chồi giống như ngón tay thâm nhập vào mô tuyến nước bọt bình thường xung quanh Tái phát hoặc mổ còn sót đều do những ổ bướu này được để lại sau phẫu thuật, nhất là mổ “bóc nhân” với tỉ lệ tái phát rất cao Do vậy, người ta khuyên không nên áp dụng kỹ thuật này để điều trị bướu hỗn hợp lành của tuyến mang tai ngay cả dùng để chẩn đoán Hiện nay, có nhiều phương pháp phẫu thuật được áp dụng để điều trị cho bướu tuyến đa dạng của tuyến mang tai chẳng hạn như cắt toàn phần tuyến mang tai có bảo tồn dây thần kinh mặt, cắt thùy nông và cắt một phần tuyến mang tai Tuy nhiên, Phẫu thuật cắt thùy nông và cắt toàn phần tuyến mang tai có bảo tồn dây thần kinh mặt vẫn là những phẫu thuật điều trị chuẩn cho hầu hết bướu tuyến đa dạng Những phương pháp phẫu thuật điều trị khác còn đang bàn cãi
SUMMARY
DISCUSS ON THE SURGERY OF THE PAROTID PLEOMORPHIC ADENOMA
Nguyen Hong Ri, Tran Van Thiep, Nguyen Chan Hung * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 *
Supplement of No 1 * 2005: 123 – 130
Pleomorphic adenoma also known as the benign mixed tumor, the pleomorphic adenoma is a slow-growing benign salivary tumour most commonly arising in the parotid gland Macroscopically it has a surrounding capsule from which it can be enucleated often the treatment used in the past These tumours
do not have a true capsule but can press surrounding normal salivary gland, frequently having finger-like extensions into the normal tissues Recurrence, or more accurately residual disease, is thought to be due
to these small islands of tumour which can be left behind at surgery, in particular enucleation which is associated with high recurrence rate Therefore, the “enucleation technique” was not recommended for the purpose of treatment or diagnosis The pleomorphic adenoma was treated by the several methods in the recent time such as superficial parotidectomy, conservative parotidectomy and partial parotidectomy However, the superficial and conservative parotidectomies remain the procedures of choice for most benign tumor masses In the other method of surgical treatment for pleomorphic adenoma had been
controversial
MỞ ĐẦU
Vào những năm 1930, phương pháp được chọn
lựa để điều trị cho bướu tuyến đa dạng của tuyến
mang tai là kỹ thuật “bóc nhân” Trong một tạp chí
được ấn bản năm 1936, McFarland lưu ý về mối quan
hệ giữa tỉ lệ tái phát cao sau mổ và kỹ thuật mổ “bóc
nhân” (McFarland, 1936) Sự kiện này đã được Thackray và Patey giải thích vào năm 1957, các tác giả chứng minh được vỏ bao của bướu có nhiều nơi bị thiếu và có nhiều ổ bướu vi thể bên ngoài bướu chính (Patey và Thackray, 1957) Vì vậy, tái phát hoặc mổ còn sót đều do những ổ bướu này được để lại sau
Trang 2phẫu thuật, nhất là mổ “bóc nhân” với tỉ lệ tái phát
rất cao Hơn nữa, cắt bướu bằng kỹ thuật cắt thùy
nông và kỹ thuật cắt tuyến mang tai toàn phần có
bảo tồn dây thần kinh mặt đã được nhiều phẫu thuật
viên ủng hộ (Janes, 1940; Bailey, 1947; Martin, 1952;
Patey, 1954) Phương pháp cắt thùy nông là một kỹ
thuật được chấp nhận rộng rãi nhất trong điều trị
bướu tuyến đa dạng ở thùy nông của tuyến mang tai
(Maynard 1988, Laskawi và cs 1996, Christensen và
Jacobsen 1997, Iizuka và Ishikawa 1998)
Trước năm 1940, phương pháp phẫu thuật điều trị
cho bướu tuyến đa dạng của tuyến mang tai không
được thỏa đáng vì tỉ lệ liệt mặt vĩnh viễn và tái phát sau
mổ cao, khoảng 20-45% (McFarland 1936, Leversteins
và cs 1997) Tác giả Janes (1940) và Bailey
(1941,1947) ủng hộ việc bóc tách tìm thân chính của
dây thần kinh mặt trước tiên và sau đó bóc tách lần
theo các nhánh để cắt bỏ thùy nông và/ hoặc thùy sâu
của tuyến mang tai Kỹ thuật này trở thành phương
pháp điều trị thích hợp cho bướu lành và những
thương tổn ác tính grad thấp (ví dụ, carcinôm nhầy-bì
grad thấp) của tuyến mang tai, giúp sự tái phát giảm
một cách đáng kể và liệt mặt vĩnh viễn hiếm khi có
(Martin 1952, Patey 1954, Patey và Thackray 1957,
Maynard 1988, Leversteins và cs 1997)
Trong những năm gần đây, kỹ thuật cắt một
phần thùy nông xuất hiện như là một phương pháp
bảo tồn hơn là cắt thùy nông trong điều trị các bướu
lành của tuyến mang tai Trong kỹ thuật này chỉ có
bướu cùng với một lớp nhu mô tuyến được cắt bỏ
Thân chính của dây thần kinh mặt và các nhánh
nằm gần bướu được bóc tách để giữ lại, không cần
phải bóc tách dây thần kinh mặt rộng hơn (Iizuka và
Ishikawa 1998)
Mục đích của báo cáo này chúng tôi
nhằm giới thiệu
∗ Quan điểm điều trị hiện tại của các tác giả
nước ngoài về bệnh lý bướu tuyến đa dạng của
tuyến mang tai
∗ Quan điểm điều trị về bệnh lý bướu tuyến đa
dạng của tuyến mang tai tại Bệnh Viện Ung Bướu
Thành Phố Hồ Chí Minh
CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ
Giải phẫu học
A
B
Hình 1 (A) Sơ đồ cho thấy mối liên hệ giửa tuyến
mang tai, dây thần kinh mặt và cơ (B) Hình cắt ngang tuyến mang tai: 1 Tuyến mang tai 2 Thùy nông 3 Cơ cắn 4 Ngành lên xương hàm dưới 5 Kuyết Juvara 6 Cơ nhị thân 7 Cơ trâm móng 8 Cơ trâm lưỡi 9 Cơ trâm hầu 10 Dây chằng trâm 11 Thần kinh sống 12 Động mạch cảnh ngoài 13 Hội lưu tĩnh mạch 14 Thần kinh mặt 15 Ống Sténon 16
Trang 3Cục mỡ Bichat 17 Động mạch cảnh trong 18.Tĩnh
mạch cảnh trong 19 Cơ ức đòn chũm 20 Nơi bám bờ
trước cơ ức đòn chũm vào bao tuyến mang tai
(Nguồn: Anderson và Byars, Surgery of the Parotid
Gland, 1965, tr 4, 10)
Tuyến mang tai là một tuyến nước bọt to nhất
nằm trong một khu chật hẹp ở dưới ống tai ngoài, giữa
quai hàm và mỏm chũm-mỏm trâm Gồm có hai thùy
nông và sâu, nối liền nhau bởi một eo thường ở trên
dây thần kinh mặt và đôi khi ở giữa các nhánh của dây
thần kinh mặt Sự sắp xếp "hỗn loạn" này khiến cho
việc bóc tách dây thần kinh rất khó khăn (Hình 1) Là
thành phần ở nông nhất, dây thần kinh mặt sau khi
thoát ra ở lỗ trâm chũm được 1 cm, nó lách vào khe
trâm móng nhị thân để vào giữa hai thùy của tuyến
mang tai và phân chia ra hai nhánh: thái dương mặt
và cổ mặt Hai thùy dính liền vào nhau ở ngay phía
trên dây thần kinh nên dây thần kinh giống như bị gài
vào giữa hai tờ giấy của một quyển sách Nhánh thái
dương mặt phân ra làm hai nhánh cùng: nhánh thái
dương và nhánh gò má Nhánh cổ mặt phân ra làm ba
nhánh cùng: nhánh miệng, nhánh bờ xương hàm dưới
và nhánh cổ Các nhánh gò má và nhánh miệng có
thể thông nối với nhau
Giải phẫu bệnh
Bướu tuyến đa dạng, trước đây người ta còn gọi là
bướu hỗn hợp do trong bướu có nhiều thành phần
khác nhau và các thành phần này được coi như phát
xuất từ nguồn gốc biểu mô và trung mô Tuy nhiên,
hiện nay, người ta thấy rằng các thành phần giống
như trung mô cũng có nguồn gốc chuyển sản từ biểu
mô nên gọi tên là bướu tuyến đa dạng
Các bướu có thành phần biểu mô chiếm ưu thế
thường phát triển nhanh hơn và dễ tái phát sau mổ
hơn Bướu tuyến đa dạng là bướu lành, nhưng
trong vấn đề điều trị bướu, bướu dễ tái phát vì
những lý do sau:
Khi bướu ở tuyến mang tai, gần dây thần kinh
mặt, đôi khi rất khó mổ lấy hết mô bướu dù bướu
có vỏ bao
Vỏ bao của bướu đôi khi mỏng và có chỗ thiếu
vỏ bao, khó xác định khi mổ
Ở những nơi vỏ bao bướu bị thiếu, có thể có mô bướu trồi ra ngoài (như chân giả), dễ bị bỏ sót lại sau khi mổ bóc tách bướu
Vì vậy, tỉ lệ tái phát sau khi mổ lấy bướu là 5 - 50% các trường hợp bướu ở tuyến mang tai, và tỉ lệ này cao hơn nếu bướu ở các tuyến nước bọt phụ Khi tái phát, bướu thường có nhiều ổ (do các chân giả còn sót lại sau mổ), trong khi tổn thương ban đầu gần như luôn luôn chỉ thấy có một ổ (Hình 2)
Hình 2 Hình ảnh đại thể đa ổ của bướu tuyến đa
dạng ở bệnh nhân bị tái phát 3 lần với kỹ thuật mổ bóc nhân ở nơi khác
Các yếu tố nguy cơ
Bất cứ loại phẫu thuật nào được áp dụng để điều trị cho bướu tuyến đa dạng cũng cần đáp ứng một
nguyên tắc cơ bản là cắt lấy bướu với một lớp mô
rộng bình thường bao quanh
Để chọn phương pháp điều trị thích hợp, người
ta thường dựa vào các yếu tố:
Vị trí của bướu: thùy nông hay thùy sâu Ở thùy nông, cực trên hoặc giữa hoặc cực dưới
Kích thước của bướu
Nguyên phát hay tái phát
Kết quả giải phẫu bệnh trước mổ
Tóm lại khi phẫu thuật, PTV nhắm tới giải quyết tốt hai vấn đề:
Điều trị khỏi bệnh
Không hoặc ít gây tổn thương dây thần kinh mặt
Trang 4CÁC LOẠI PHẪU THUẬT
Bóc nhân (tumour enucleation)
Phương pháp này được nhiều tác giả vào thời
những năm đầu thế kỷ XX áp dụng điều trị cho
bướu lành của tuyến nước bọt mang tai, trong đó
có bướu tuyến đa dạng Cơ sở cho kỹ thuật này là
các tác giả dựa vào bướu có vỏ bao nằm trong nhu
mô tuyến dễ bóc tách và dễ lấy trọn Tuy nhiên kỹ
thuật này cho tỷ lệ tái phát sau mổ cao và dễ gây
tổn thương dây thần kinh mặt
Cắt tuyến mang tai toàn phần có bảo
tồn dây thần kinh mặt hay PT Redon
(Total parotidectomy with
preservation of the facial nerve or
hamburger technique)
Kỹ thuật này được Henri Redon và Padovani đề
xuất và thực hiện vào năm 1934 và được mang tên là
Phẫu thuật Phẫu thuật này dựa trên cơ sở bướu có
nhiều ổ và có thể có những ổ ở xa (thùy sâu) Phẫu
thuật Redon bao gồm trước tiên tìm thân chính dây
thần kinh mặt và sau đó bóc tách lần theo hai nhánh
chia và các nhánh cùng để cắt thùy nông Mạng thần
kinh mặt được nâng lên và thùy sâu được cắt bỏ Ngoài
ra phẫu thuật này còn được chỉ định trong các tình
huống bướu tái phát hoặc bướu ở thùy sâu (Hình 3)
Hình 3a Một bệnh nhân nữ 36t có bướu hỗn hợp
tuyến mang tai (trái) bị tái phát 3 lần do điều trị bằng
kỹ thuật “bóc nhân” ở nơi khác Sau đó được mổ lại
bằng PT Redon tại Bệnh Viện Ung Bướu ngày
10/11/03 (Nguồn: ảnh chụp tại phòng mổ Bệnh Viện
Ung Bướu)
Hình 3b Một trường hợp bệnh nhân nữ có bướu tuyến
đa dạng ở thùy sâu tuyến mang tai, được mổ lần đầu với PT Redon tại Bệnh Viện Ung Bướu (Nguồn: ảnh chụp tại phòng mổ Bệnh Viện Ung Bướu)
Kỹ thuật mổ
Đường rạch da
Tùy thuộc vào kích thước và vị trí của bướu, người ta có thể sử dụng một trong ba đường rạch da
cơ bản hoặc kết hợp với nhau (Hình 4) Tuy nhiên đường rạch da phổ biến và có thể áp dụng cho mọi
trường hợp là đường rạch da hình chữ S
Hình 4 Đường rạch da: có ba đường rạch da cơ bản
là đường trước tai, đường dưới xương hàm dưới và đường-tóc chẩm
Bóc tách vạt da
Hai vạt da trước, sau được bóc tách rộng và dày
khoảng 1cm Vạt trước rộng đến quá bờ cành lên
xương hàm dưới 1cm (càng ra trước các nhánh thần
kinh càng ở nông hơn, dễ bị chấn thương khi bóc
tách), vạt sau đến mặt ngoài ở bờ trước cơ ức đòn
Trang 5chũm và sát thành ống tai ngoài
Tìm thân chính dây thần kinh mặt
Dựa vào những mốc cơ thể học như khe trâm
móng nhị thân hoặc có một nhánh luôn luôn đi đôi
với ống tuyến mang tai khi nó chui ra khỏi tuyến
hoặc nhánh nằm trên tĩnh mạch mặt (Hình 5)
Hình 5 Một nhánh của dây thần kinh mặt (mũi tên
trên) luôn luôn đi đôi với ống tuyến mang tai khi nó
chui ra khỏi tuyến Nhánh này và nhánh nằm trên
tĩnh mạch mặt (mũi tên dưới) là hai nhánh mốc
thường được dùng để tìm dây thần kinh mặt (Hình
mượn của Anderson và Byars, Surgery of the Parotid
Gland, 1965, tr 12)
Cắt bỏ thùy nông
Bóc tách lần theo 5 nhánh của dây thần kinh mặt
để cắt bỏ trọn thùy nông và bảo vệ mạng thần kinh
Cắt bỏ thùy sâu
Bóc tách và nâng mạng thần kinh mặt khỏi thùy
sâu, tách và cắt bỏ thùy sâu kể cả phần chân hầu Bảo
vệ tốt bó mạch cảnh chạy qua tuyến
Khâu da
Đặt một ống dẫn lưu và khâu da 2 lớp
Cắt thùy nông tuyến mang tai
(Superficial parotidectomy or
Conventional superficial
parotidectomy)
Là giai đoạn một của PT Redon, kỹ thuật này
được chỉ định trong trường hợp bướu ở cực dưới thùy nông của tuyến mang tai hoặc bướu có kích thước nhỏở cách xa diện bóc tách dây thần kinh mặt
Cắt một phần thùy nông tuyến mang
tai (Segmental resection)
Theo tác giả Iizuka và Ishikawa, thùy nông của tuyến mang tai được chia ra làm 4 phần tùy thuộc vào sự phân bố của bướu Về mặt phẫu thuật, thân chính dây thần kinh mặt chạy thẳng đứng và sau đó chia hai nhánh trên, dưới chạy theo mặt ngang Vì vậy, vị trí của bướu cũng được chia làm 4 nơi (ví dụ, trên nhánh chia trên; ở giữa nhánh chia trên và nhánh chia dưới; trên nhánh chia dưới và dưới nhánh chia dưới) Tùy thuộc vào vị trí của bướu, 4 phần cắt bỏ cũng được xác định Trong phần cắt bỏ dạng I, khối mô tuyến được cắt bỏ ở phía trên nhánh chia dưới Phần cắt bỏ dạng II, thì tương đương với cắt bỏ thùy nông bình thường Phần cắt bỏ dạng III, khối mô tuyến được cắt bỏ ở phía dưới nhánh chia trên
Trong phần cắt bỏ dạng IV, khối mô tuyến được cắt bỏ nằm phía dưới nhánh chia dưới (Hình 6)
Hình 6 Sơ đồ cắt bỏ từng phần, Cắt toàn phần có bảo
tồn, Cắt khối bướu ngoài vỏ bao I: cắt bỏ từng phần loại I; II: cắt bỏ từng phần loại II; III: cắt bỏ từng phần loại III; IV: cắt bỏ từng phần loại IV
Cắt thùy nông tuyến mang tai “hạn chế” (Limited superficial parotidectomy or “appropriate” parotidectomy) Christopher j
O’brien nhấn mạnh rằng phẫu thuật điều trị lần
Trang 6đầu cho bướu thùy nông thì không cần thiết phải cắt
bỏ trọn thùy Tác giả cho rằng kỹ thuật cắt thùy nông
tuyến mang tai “hạn chế” (Hình 7) là phương pháp
điều trị thực dụng và an toàn cho những bướu thùy
nông tuyến mang tai
Cắt khối bướu ngoài vỏ bao
(Extracapsular lumpectomy)
Đây là phương pháp điều trị bằng cách bóc tách
và cắt bỏ bướu với bờ giới hạn an toàn
Hình 7 Sơ đồ tuyến mang tai và bướu ở mặt phẳng
bên Cắt bỏ bướu chỉ cần cắt hạn chế thùy nông
Nguồn: J Otolaryngol Head Neck Surg 1997; 123:
1091-6
NHẬN ĐỊNH
Bướu tuyến đa dạng là loại bướu lành của tuyến
nước bọt, có đặc tính phát triển chậm thường hay
xuất hiện nhiều ở tuyến mang tai chiếm tỉ lệ 63% Về
mặt vi thể, bướu có vỏ bọc bao chung quanh mà trước
đây người ta có thể dựa vào đó để mổ bóc nhân Bướu
tuyến đa dạng không có vỏ bao thật và bướu có thể có
nhiều chồi giống như ngón tay thâm nhập vào mô
tuyến nước bọt bình thường xung quanh Tái phát
hoặc mổ còn sót đều do những ổ bướu này được để lại
sau phẫu thuật, đặc biệt trong kỹ thuật mổ “bóc
nhân” với tỉ lệ tái phát rất cao, khoảng 20-45%
(McFarland 1936, Leversteins và cs 1997) và theo
Rush là 50% sau theo dõi 10-15 năm; Nguyễn hồng
Ri (1995) là 59,2% Hơn nữa bướu tuyến đa dạng đa
ổ nguyên phát cũng là lý do khác mặc dù khả năng
xẩy ra rất thấp (theo Leverstein và cs., 1997 là 0,5%
và Delarue chứng minh tỉ lệ này là 0,4%) Vì vậy, “bóc nhân” không được mọi người chấp nhận là phương pháp điều trị hiệu quả và người ta khuyên không nên áp dụng kỹ thuật này ngay cả khi dùng để chẩn đoán
Cắt thùy nông và cắt toàn phần tuyến mang tai có bảo tồn thần kinh mặt
Như đã trình bày ở trên, phương pháp điều trị bướu tuyến đa dạng bằng kỹ thuật mổ “bóc nhân”
cho tỉ lệ tái phát rất cao hoặc bị liệt mặt vĩnh viễn Do vậy vấn đề đặt ra là việc chọn lựa phương pháp phẫu thuật nào khả dĩ có khả năng giải quyết tốt hai vấn đề trên và đạt hiệu quả cao nhất trong điều trị khỏi bệnh của bướu tuyến đa dạng như chính Henri Redon đã
từng mong muốn " một điều hiển nhiên là nếu có
một loại phẫu thuật nào đó cho phép chữa khỏi bệnh ngay lần đầu thì người ta sẽ càng ngày càng ít gặp những bướu tái phát hoặc không tái phát " và vào
năm 1934, Henri Redon và Padovani đề xuất và thực
hiện việc cắt bỏ tuyến mang tai toàn phần có bảo
tồn thần kinh mặt (được gọi là phẫu thuật Redon)
bằng cách bóc tách tỉ mỉ và giữ lại tất cả các nhánh của dây thần kinh này Phương pháp và nguyên tắc của phẫu thuật này đã được nhiều tác giả khác ủng hộ và thực hiện hoàn chỉnh như Janes (1940), Bailey (1947), Martin (1952), Patey (1954) Phương pháp này đã giải quyết được gốc rễ của vấn đề, tuy nhiên cũng để lại nhiều biến chứng như liệt mặt tạm thời kéo dài, tỉ lệ mắc phải hội chứng Frey cao và không thẩm mỹ (do để lại khuyết hỗng vùng mang tai) Hiệu quả của phương pháp này thể hiện qua các công trình nghiên cứu của O’Dwyer và cs (1948-1979) với
308 ca bướu lành tuyến mang tai trong 31 năm gồm
274 ca bướu nguyên phát và 34 ca bướu tái phát với kết quả 274 ca bướu nguyên phát có 98% cắt thùy nông hoặc cắt toàn phần tuyến mang tai có bảo tồn thần kinh mặt và 2% cắt rộng tại chỗ Tỉ lệ tái phát sau mổ được theo dõi 5-20 năm là 3,2% và theo công trình hồi cứu của Trần Thanh Cường (1999) với 190
ca bướu tuyến đa dạng, đường kính trung bình ≤ 3cm (73,6%) tại Bệnh Viện Ung Bướu TP.HCM cho thấy phẫu thuật điều trị bướu tuyến đa dạng hầu hết là phẫu thuật Redon chiếm tỉ lệ 94,2% (theo Nguyễn hồng Ri là 94%) và tỉ lệ tái phát sau mổ khoảng 0,79%
Trang 7-1,1%, liệt mặt vĩnh viễn không có, liệt mặt tạm thời
65,9%, hội chứng Frey 0,9-2%, thời gian theo dõi
trung bình 24,1 tháng Hơn nữa, nhiều tác giả cho
rằng trong trường hợp bướu tuyến đa dạng ở thùy
nông có kích thước nhỏ (≤ 2cm) và hoặc cách xa
diện bóc tách dây thần kinh mặt (bướu ở cực
dưới thùy nông) thì không nhất thiết phải điều
trị bằng phẫu thuật Redon mà chỉ cắt thùy nông
là đủ và an toàn Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ
quan điểm này vì tỉ lệ bướu đa ổ nguyên phát
thấp (0,5%) và tái phát sau cắt thùy nông thấp
(theo Iizuka và Ishikawa từ 0-2%)
Đối với bướu nguyên phát ít gặp tái phát nếu
được điều trị bằng phương pháp cắt thùy nông
hoặc cắt toàn phần tuyến mang tai Donovan và
Conley nhấn mạnh rằng cắt thùy nông hoặc cắt
toàn phần tuyến mang tai có bảo tồn thần kinh
mặt là phương pháp điều trị đáng được áp dụng
phổ biến hiện nay
Vào những năm gần đây, có nhiều tác giả đề
xuất và nghiên cứu nhiều phương pháp điều trị
mới cho bướu tuyến đa dạng như Phẫu thuật cắt
một phần tuyến mang tai, cắt bướu ngoài vỏ
bao (Iizuka và Ishikawa, 1998) hay Cắt thùy
nông tuyến mang tai “hạn chế” (Christopher j
O’brien, 1999) Nhìn chung đây là những phẫu
thuật biến đổi của phẫu thuật cắt thùy nông
chuẩn nhằm mục đích giảm thời gian mổ, ít gây
liệt mặt, giảm biến chứng Frey và bảo tồn chức
năng tuyến mang tai Những phẫu thuật này dựa
trên nguyên lý cơ bản là với vài milimét mô
tuyến bình thường bao quanh bướu cũng đủ để
ngăn ngừa tái phát
Phẫu thuật cắt một phần tuyến mang tai
Theo Iizuka và Ishikawa, thùy nông tuyến mang
tai được chia ra làm 4 phần dựa vào sự phân chia trên
và dưới của dây thần kinh mặt Để cố gắng bảo tồn
chức năng của mô tuyến còn lại và tránh hội chứng
Frey thì cần thiết phải giảm thể tích mô tuyến cắt bỏ
càng nhiều càng tốt Kỹ thuật cắt từng phần rất hữu
ích trong loại phẫu thuật cắt một phần tuyến mang
tai Tuy nhiên, khởi đầu cần có cho kỹ thuật này là
chuẩn bị và bóc tách, dĩ nhiên nguy cơ liệt mặt cao
hơn với phẫu thuật cắt khối bướu ngoài vỏ bao
Phẫu thuật cắt khối bướu ngoài vỏ bao
Phương pháp cắt khối bướu ngoài vỏ bao cũng đã được Iizuka, và Ishikawa thực hiện Ưu điểm của kỹ thuật này là bảo tồn được chức năng của tuyến nước bọt, tính nhạy cảm của tai và tránh được hội chứng
Frey Thời gian mổ ngắn nhất và liệt mặt không xẩy ra
McGurk và cs còn ghi nhận 380 bệnh nhân có bướu tuyến đa dạng được điều trị bằng phẫu thuật cắt khối bướu ngoài vỏ bao với tỉ lệ tái phát chỉ 2% sau thời gian theo dõi trung bình 12,5 năm Các tác giả không xem kỹ thuật cắt khối bướu ngoài vỏ bao là một kỹ thuật chuẩn mực nhưng cho rằng phương pháp điều trị này có hiệu quả như kỹ thuật cắt thùy nông Kết quả này cho thấy kỹ thuật cắt khối bướu ngoài vỏ bao có thể giải quyết được sự tái phát của bướu tuyến đa dạng
Mặc khác, các kỹ thuật biến đổi này chưa giải thích thoả đáng tình huống vỏ bao của bướu tiếp xúc với dây thần kinh mặt nơi mặt phân chia mà theo McGurk và cs, bướu nằm sát dây thần kinh mặt được
ghi nhận khoảng 51% và theo loạt nghiên cứu của
Iizuka và Ishikawa là 98% Hơn nữa, theo Piekarski và Dariusz thống kê 98 ca bướu tuyến đa dạng được điều trị bằng phẫu thuật cắt khối bướu ngoài vỏ bao (1979-2002) với đường kính trung bình 3.6cm cho
tỉ lệ tái phát là 8.2% (8/98 ca) và khả năng dễ tái phát nhất nằm ở nhóm có đường kính lớn hơn 4-6cm Tác giả đề nghị trong những trường hợp này nên làm phẫu thuật cắt thùy nông có thể tốt hơn, thậm chí khuyên không nên dùng kỹ thuật cắt khối bướu ngoài vỏ bao để điều trị bướu tuyến đa dạng vì chắc chắn có những tai biến không thể tránh được (ví dụ, cắt bướu không an toàn) Kỹ thuật cắt khối bướu ngoài vỏ bao được khuyến cáo chỉ dành cho phẫu thuật viên nhiều kinh nghiệm Ngoài những ưu điểm đáng lưu tâm kể trên của các phẫu thuật biến đổi, cũng còn có nhiều vấn đề phải làm rõ thêm và có chọn lọc trong chỉ định
Trang 8KẾT LUẬN 6 Comoretto R, Barzan L., “Benign parotid tumour enucleation a reliable operation in selected cases”, J
Laryngol Otol 1990 Sep;104(9):706-8), Division of
Otolarynoglogy, General Hospital, Pordenone, Italy
Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả về điều trị
bướu hỗn hợp lành của tuyến mang tai cho thấy tỉ lệ
tái phát sau mổ của kỹ thuật “bóc nhân” rất cao Do
vậy, người ta khuyên không nên áp dụng kỹ thuật này
để điều trị bướu hỗn hợp lành của tuyến mang tai
ngay cả khi dùng để chẩn đoán
7 Edgerton M.T., Angel M.F., Morgan R.F., M.D (1991),
“The Mouth, Tongue, Jaws and Salivary Glands”,
Textbook of Surgery, W.B Saunders, Philadelphia, pp
1232-1233
8 Iizuka K, Ishikawa K “Surgical techniques for benign parotid tumors: segmental resection vs extracapsular
lumpectomy”, Acta Otolaryngol Suppl1998; 537:75-81
Department of Otolaryngology, Kushiro City General Hospital, Kushiro, Japan
Hiện nay, hầu hết các tác giả vẫn áp dụng phẫu
thuật Cắt thùy nông và phẫu thuật Redon (cắt bỏ
toàn phần tuyến mang tai có bảo tồn dây thần kinh
mặt) với ưu điểm là điều trị khỏi bệnh ngay lần mổ
đầu tiên với tỉ lệ tái phát thấp
9 O'Dwyer PJ, Farrar WB, Finkelmeier WR, McCabe
DP, James AG.,) , “Facial nerve sacrifice and tumor
recurrence in primary and recurrent benign parotid
tumors”, Am J Surg 1986 Oct;152(4):442-5
parotidectomy: technical modifications based on
tumour characteristics”, European Association for Cranio- Maxillofacial Surgery, Department of Oral
and Maxillofacial Surgery, School of Dental Medicine, University of Athens, Athens,Greece
Các phương pháp Cắt từng phần thùy nông
tuyến mang tai; Cắt thùy nông tuyến mang tai “hạn
chế” và Cắt khối bướu ngoài vỏ bao là những kỹ
thuật điều trị mới, đáng được lưu ý và nghiên cứu
trong tương lai
11 Piekarski J., Dariusz N., “Results of extracapsular dissection of pleomorphic adenoma of parotid gland”,
J O & Max Surg 2004 Oct; 62(10): 1198-1202
Department of Surgical Oncology, Medical University
of Lodz, Lodz, Poland
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Thanh Cường (1999), Bướu Lành Tuyến Mang
Tai: Dịch Tễ Học, Chẩn Đoán Và Điều Trị, Luận Văn
Tốt Nghiệp Chuyên Khoa I Ung Thư Học, Đại Học Y
Dược TP.HCM
12 Prichard AJ, Barton RP, Narula AA., “Complications
of superficial parotidectomy versus extracapsular lumpectomy in the treatment of benign parotid
lesions”, J R Coll Surg Edinb 1992 Jun;37(3):155-8,
Department of Otolaryngology/Head and Neck Surgery, Leicester Royal Infirmary, UK
2 Nguyễn Chấn Hùng (1986), “Bướu của các tuyến nước
bọt”, Ung Thư Học Lâm Sàng Tập 2, Nhà xuất bản y
Principles of Surgery, McGraw-Hill Book Company,
New York, pp 609-618
3 Nguyễn Hồng Ri (1995), Góp phần nghiên Cứu Điều
Trị Bướu Tuyến Mang Tai, Luận Án Tốt Nghiệp
Chuyên Khoa II Ung Thư Học, Đại Học Y Dược
TP.HCM 14 Woods JE., “Parotidectomy versus limited resection for benign parotid masses”, Am J Surg 1985
Jun;149(6):749-50
4 Nguyễn Sào Trung (1998), “Bệnh tuyến nước bọt”,
Bệnh học các tạng và hệ thống, Bộ Môn Giải Phẫu
Bệnh Lý Đại Học Y Dược TP.HCM, tr 33-52
5 Anderson R, Byars LT, M.D., F.A.C.S (1965),
“Pathology of the parotid gland”, Surgery of the
Parotid gland, The C V Mosby Company, USA, pp
21-29