1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tài liệu Góp phần nghiên cứu một số mốc giải phẫu vùng mũi xoang ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang docx

8 1,2K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số mốc giải phẫu vùng mũi xoang ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang
Tác giả Nguyễn Thị Trung, Phạm Kiến Hữu, Nguyễn Hữu Khôi
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 275,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu :1 Đo khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến một số mốc giải phẫu quan trọng vùng mũi xoang và khảo sát vị trí, tỉ lệ lỗ thông xoang hàm phụ ở nhóm người có bệnh viêm xoang trong lúc

Trang 1

GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU MÔÏT SỐ MỐC GIẢI PHẪU VÙNG MŨI XOANG

ỨNG DỤNG TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI MŨI XOANG

Nguyễn Thị Trung*, Phạm Kiên Hữu**, Nguyễn Hữu Khôi**

TÓM TẮT

Sự thành công và an toàn trong phẫu thuật nội soi mũi xoang tuỳ thuộc phần lớn vào kiến thức của nhà phẫu thuật về giải phẫu mũi xoang, đặc biệt là giải phẫu thành ngoài hốc mũi Công trình nghiên cứu của chúng tôi cung cấp một số thông số có giá trị tham khảo hữu ích cho các phẫu thuật viên nội soi mũi xoang Mục tiêu :(1) Đo khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến một số mốc giải phẫu quan trọng vùng mũi xoang và khảo sát vị trí, tỉ lệ lỗ thông xoang hàm phụ ở nhóm người có bệnh viêm xoang trong lúc phẫu thuật nội soi mũi xoang;(2) Tìm mối tương quan hồi quy giữa các số đo trên với chiều dài mặt, chiều rộng mặt và dài tháp mũi

Từ tháng 12/2002 đến tháng 9/2003, Chúng tôi đã tiến hành đo đạc trên 99 mẫu của 50 bệnh nhân có bêïnh viêm xoang mạn tính trong lúc phẫu thuật nội soi mũi xoang tại khoa tai mũi họng BV Nhân dân Gia định, BV đại học Y dược cơ sở 2, BV Triều an Kết quả chính chúng tôi thu được như sau :

Khoảng cách trung bình từ bờ dưới lỗ lê đến bờ trước chân bám cuốn mũi giữa là 4,4cm (3,7-5,5), ống lệ mũi là 4,2cm (3,25-5,0), mỏm móc là 5,1cm(4,2-6,1), lỗ thông xoang hàm là 4,9cm(3,95-5,65), trần bóng sàng là 5,7cm(5,0-6,9), mảnh nền xương cuốn mũi giữa là 6cm(5,1-6,8), lỗ thông xoang bướm là 6,9cm(5,8-7,8)

Tỉ lệ có lỗ thông xoang hàm phụ ở nhóm người có bệnh viêm xoang là 20%, vị trí chủ yếu ở thóp mũi sau

Có mối tương quan tuyến tính mức độ chặt giữa khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến lỗ thông xoang

bướm với chiều dài tháp mũi (hệ số tương quan r =0,71) Phương trình hồi quy Y= a + bx như sau :

Khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến lỗ thông xoang bướm = 2,177cm + 1,207x dài mũi (cm)

Kết quả thu được bước đầu giúp gợi ý định hướng cho các phẫu thuật viên nội soi mũi xoang và có hướng nghiên cứu tiếp tục trong thời gian tới

SUMMARY

A STUDY ON SOME NASAL SINUS ANATOMICAL LANDMARKS APPLIED

IN ENDOSCOPIC SINUS SURGERY

Nguyen Thi Trung, Pham Kien Huu, Nguyen Huu Khoi * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 8

* Supplement of No 1 * 2004: 10 – 17

Success and safety in endoscopic sinus surgery depend heavily on the surgeon’s knowledge of nasal sinus anatomy, especially of surgical anatomy of the lateral nasal wall Our study supplies a number of useful referential parameters for endoscopic sinus surgeons It is aimed to (1) measure the distances from the inferior edge of piriform aperture to a number of important anatomical landmarks in the nasal sinus area, making an inspection of the position and rate of accessory maxillary sinus ostium in patients with

* Bệnh viện C Đà Nẵng

** Bộ môn Tai Mũi Họng – Đại Học Y Dược TP HCM

Trang 2

chronic sinusitis during the process of endoscopic sinus surgery; (2) find the regressive correlations between the identified measurements and the nasal length, facial length and width

Between December 2002 and September 2003, we did the measuring on 99 samples of 50 patients with chronic sinusitis while carrying out endoscopic sinus operations at the Otorhinolagyngology Department of Gia Dinh People’s Hospital, Medical University Centre No 2, and Triều An Hospital Here are the major results:

The average distance from the inferior edge of piriform aperture to the anterior attachment of the middle nasal concha is 4.4cm (3.7 - 5.5), to the nasolacrimal duct 4.2cm (3.25 – 5.0), to the posterior edge

of the uncinate process 5.1cm (4.2 – 6.1), to the natural maxillary sinus ostium 4.9cm(3.95 – 5.65), to the roof of ethmoidal bulla 5.7cm (5.0 – 6.9), to the basal lamella of middle nasal concha 6 cm (5.1 – 6.8), to the sphenoid sinus ostium 6.9 cm (5.8 – 7.8);

20% of the patients with chronic sinusitis showed the accessory maxillary ostium, mainly at the posterior nasal fontanelle;

There was a linear regressive correlation in strength between the distance from the inferior edge of

piriform aperture to the sphenoid sinus ostium and the nasal length (correlation coefficient r = 0.71);

The distance from the inferior edge of piriform aperture to the sphenoid sinus ostium is identified according to the regressive equation: Y = a + bx = 2.177 cm + 1.207 x nasal length (cm);

The outcomes of the study will help suggest an orientation for endoscopic sinus surgeons and serve

as the basis of further studies

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm xoang là một bệnh thường gặp ở các nước

trên thế giới cũng như Việt nam ta, điều trị viêm

xoang mạn tính bằng phương pháp phẫu thuật để tái

lập thông khí và dẫn lưu khi điều trị nội khoa thất bại

Vào những năm cuối thập niên 70, với những hiểu

biết mới về giải phẫu và bệnh lý mũi xoang từ những

nghiên cứu qua nội soi của Messerklinger và Wigand

cũng như có sự cải tiến các dụng cụ nội soi, đã có

một bước tiến mới trong phương thức phẫu thuật

mũi xoang: đó là phẫu thuật nội soi mũi xoang Trong

những trường hợp phẫu thuật nội soi xoang lần đầu,

các phẫu thuật viên có thể thấy rõ các mốc giải phẫu

qua nội soi, nhưng ở những trường hợp phẫu thuật lại

lần thứ hai, thứ ba, các mốc giải phẫu đã không còn

nữa, ngay cả những phẫu thuật viên có kinh nghiệm

cũng rất lo lắng do không ước lượng được độ sâu của

phẫu trường chật hẹp, dễ chảy máu như trong mũi và

có thể gây ra nhiều tai biến nguy hiểm

Chính vì vậy, đối với các phẫu thuật viên nội soi

mũi xoang nhất là các bác sĩ đang trong thời kỳ luyện

tập mổ nội soi mũi xoang, vấn đề quan trọng là phải

hiểu biết một cách sâu sắc giải phẫu mũi xoang, đặc

biệt là giải phẫu thành ngoài hốc mũi

Do đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích đưa ra thông số về số đo một số mốc giải phẫu quan trọng vùng mũi xoang ở người Việt nam trưởng thành, góp phần ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang, đặc biệt trong tình hình hiện nay của nước ta, phẫu thuật nội soi mũi xoang đang được ứng dụng ở nhiều cơ sở y tế trong toàn quốc, nhất là các

BV tuyến tỉnh

Tiến hành nghiên cứu đề tài: “Góp phần nghiên cứu một số mốc giải phẫu vùng mũi xoang ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang”, chúng tôi có các mục tiêu sau:

Đo các khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến 11 mốc giải phẫu vùng mũi xoang: bờ trước chân bám cuốn mũi dưới, bờ trước chân bám cuốn mũi giữa, ống lệ mũi, bờ sau mỏm móc, lỗ thông xoang hàm, trần bóng sàng, mảnh nền xương cuốn mũi giữa, lỗ thông xoang bướm, lỗ vòi nhĩ, chiều dài sàn mũi, gai mũi trước và khảo sát sự tồn tại của lỗ thông xoang hàm phụ ở nhóm người có bệnh viêm xoang, trong lúc phẫu thuật nội soi mũi xoang

Trang 3

Tìm mối tương quan hồi quy giữa kích thước

khuôn mặt và chiều dài mũi với các số đo đến các

mốc giải phẫu trên và có ý kiến ứng dụng

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Độ tuổi từ 18 trở lên,

Bệnh nhân bị viêm xoang mạn tính, không

đáp ứng vối điều trị nội khoa, không có polyp mũi

xoang, có chỉ định phẫu thuật nội soi xoang qua

đường mũi

Không có bất cứ phẫu thuật mũi xoang trước đó,

Không có bệnh lý u nào vùng mũi xoang,

Không có dị dạng bẩm sinh vùng mũi xoang

Phương pháp nghiên cứu:

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu chọn

99mẫu gồm 49 bên phải, 50 bên trái trên 50

bệnh nhân (21 nam; 29 nữ)

Dụng cụ

Ngoài màn hình tivi, bộ nguồn sáng, ống nội

soi cứng Karl Stortz 0 độ – 4mm, chúng tôi còn sử

dụng hai dụng cụ chính trong nghiên cứu là :

Thước đo các mốc giải phẫu trong mũi: thước

vạch, có hình tròn làm bằng vật liệu Inox, có cán

cầm, dài 15cm, đường kính khoảng 3mm, được

khắc vạch đến 0,5mm Thước được đặt làm tại

công ty dụng cụ cắt và đo lường cơ khí, thuộc tổng

công ty máy và thiết bị công nghiệp, chi nhánh

phía nam Thước đã được thử nghiệm tại “Trung

tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng

3”(Quatest 3), thành phố Hồ Chí Minh, có sai số

tích luỹ trên 100mm từ 0 đến 10cm là 0,17mm

Thước đo chiều dài mặt, chiều rộng mặt và dài

tháp mũi là thước cặp đã được hiệu chuẩn tại

“Quatest 3”, đạt yêu cầu kỹ thuật và đo lường theo

tiêu chuẩn VN 2650:1978, cấp chính xác 2

Kỹ thuật đo

Chúng tôi tiến hành đo kích thước khuôn mặt và chiều dài tháp mũi trước lúc phẫu thuật Chiều dài mặt là đoạn Tn-M (Trichion - Mention): giữa đường chân tóc đến đường viền mô mềm quanh cằm Chiều rộng mặt: khoảng cách xa nhất của hai gò má Dài tháp mũi là đoạn N-Tp (Nasion -Tip defining point): tại rễ mũi ở đường khớp trán mũi đến đỉnh mũi thực là điểm nhô ra trước nhất của sống mũi.(8((16(

Xác định điểm mốc gốc là bờ dưới lỗ lê : vị trí bờ

trước chân tiểu trụ giao với sàn mũi

Đo ngay trước khi mổ (sau khi đã đặt thuốc co mạch): các khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến các mốc

giải phẫu : gai mũi trước(GMT), bờ trước chân bám cuốn mũi dưới (CMD), bờ trước chân bám cuốn mũi giữa (CMG), bờ sau mỏm móc (MM): giao điểm giữa phần đứng và phần ngang của mỏm móc, ống lệ mũi (OLM): vị trí mào lệ ngay phía trước vị trí đo mỏm móc, mảnh nền xương cuốn mũi giữa (MNXCMG): góc giữa phần đúng và phần ngang của mảnh nền xương cuốn mũi giữa, lỗ vòi nhĩ (LVN): gờ trước lỗ vòi nhĩ, chiều dài sàn mũi (CDSM): từ điểm tận cùng phía sau của chân vách ngăn đến bờ dưới lỗ lê

Đo trong lúc mổ: mốc trần bóng sàng(TBS): sau

khi mở mỏm móc, có thể thấy được toàn bộ mặt trước bóng sàng và đo vị trí cao nhất của bóng sàng

Đo bờ trước lỗ thông xoang hàm(LTXH) trong những trường hợp thấy được lỗ thông xoang hàm ngay sau khi mở mỏm móc Nếu cuộc mổ có can thiệp đến xoang bướm hoặc phẫu thuật viên cho phép bộc lộ lỗ thông xoang bướm thì đo mốc bờ dưới lỗ thông xoang bướm(LTXB):

Xác định vị trí và số lượng của lỗ thông xoang hàm phụ trong lúc phẫu thuật

Thu thập và xử lý số liệu:

Chúng tôi lập phiếu thu thập số liệu trước và ghi các số liệu đo vào phiếu

Xử lý các số liệu bằng phần mềm Epi-Info 6 và các phép kiểm T Student, T Student “bắt cặp”,, phép kiểm Z, các công thức tính cỡ mẫu vối độ tin cậy 95% và sai số ước lượng không quá 0,05

Trang 4

Địa điểm nghiên cứu

Khoa tai mũi họng BV Nhân dân Gia Định, BV

Đại học Y Dược cơ sở 2, BV Triều An

Thời gian từ tháng 12/2002 đến tháng 9/2003

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Bảng 1: Kích thước trung bình chiều dài, chiều rộng

khuôn mặt và dài tháp mũi ở giới nam và nữ (tính

bằng centimet)

Chỉ tiêu đo Số mẫu TB nam TB nữ TB nam+nữ

Dài mặt 29 19,65 18,68 19,09

Rộng mặt 29 13,75 13,27 13,47

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa giới

nam và nữ đối với các số đo chiều dài mặt, rộng mặt,

và dài tháp mũi (P< 0,01, phép kiểm T Student)

Bảng 2: Số đo trung bình khoảng cách từ bờ dưới lỗ

lê đến các mốc giải phẫu bên phải và trái

Bên phải Bên trái

Mốc giải

Khác biệt (T“bắt cặp”)

MNXCMG 49 5,95 50 6,0 Không.P>0,05

Có sự khác biệt giữa bên phải và bên trái của

các số đo khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến 6 mốc

giải phẫu : CMD, CMG, OLM, MM, LTXH, LTXB (P

<0,01, kiểm T Student “bắt cặp”)

Kết qủa phân tích này trong nghiên cứu của

chúng tôi khác với Phạm Kiên Hữu (không có sự

khác biệt giữa bên trái và bên phải có ý nghĩa

thống kê(4() Calhoun không so sánh điều này

trong nghiên cứu của mình

Bảng 3: Số đo trung bình khoảng cách từ bờ dưới lỗ

lê đến các mốc giải phẫu ở giới nam,nữ

Gi ùi 21 Gi ùi õ 29 Mốc giải

phẫu đo mẫu Số (cm) TB mẫu Số (cm) TB Khác biệt

CMD 42 2,54 57 2,52 KhôngP>0,05

MNXCMG 42 6,12 57 5,87 Có P<0,01

GMT 21 0,91 29 0,86 KhôngP>0,05

So sánh các số đo từ các mốc giải phẫu trong mũi đến bờ dưới lỗ lê ở giới nam và nữ bằng phép kiểm Z và phép kiểm T”Student”(1( cho thấy Có sự khác biệt giữa giới nam và giới nữ với khuynh hướng nam lớn hơn nữ đối với các số đo từ bờ dưới lỗ lê đến 9 mốc giải phẫu: CMG, OLM, MM, LTXH, TBS, MNXCMG, LTXB, LVN, CDSM.(P<0,01)

So sánh này trong lô nghiên cứu của chúng tôi khác với kết quả phân tích của Phạm Kiên Hữu (Không có sự khác biệt giữa nam và nữ(4() Calhoun không so sánh điều này trong nghiên cứu của mình Dixon nghiên cứu trên sọ khô, đo từ gai mũi trước đến lỗ thông xoang bướm, theo tác giả thì khoảng cách này không thay đổi theo chủng tộc nhưng thay đổi theo giới,nữ ít hơn nam khoảng 3mm(15(, trong nghiên cứu chúng tôi khoảng cách từ lỗ thông xoang bướm đến bờ dưới lỗ lê ở nữ ít hơn nam 3,7mm

Để kết quả phân tích trong nghiên cứu của chúng tôi có ý nghĩa thống kê, phải tăng cỡ mẫu theo công thức(1(:

Số mẫu n ≥ (Cα2xS2) / ε2 S: độ lệch chuẩn lấy ở mẫu nghiên cứu

Cα: đọc ở bảng Student độ tự do vô cực ε: sai số ước lượng cho sẵn

Với độ tin cậy 95%, sai số ước lượng cho phép ε < 0,05(cm) thì phải tăng cỡ mẫu ít nhất là:

Trang 5

Số mẫu bên trái =bên phải = 323 mẫu

Số mẫu nam = nữ = 270

Bảng 4: Số đo trung bình khoảng cách từ bờ dưới lỗ

lê đến các mốc giải phẫu chung hai giới nam và nữ

Mốc giải phẫu đo Số mẫu Trung bình (cm) Giới hạn (cm)

Bàn luận về các mốc giải phẫu đo:

Chúng tôi đo từ bờ dưới lỗ lê đến 11mốc giải

phẫu, chia làm 2 nhóm:

Nhóm 7 mốc giải phẫu phẫu thuật quan trọng có

tính ứng dụng: CMG, OLM, MM, LTXH,

TBS,MNXCMG,LTXB

Nhóm 4 mốc giải phẫu đo có tính chất tham

khảo: CMD, LVN, CDSM, GMT

- Phạm Kiên Hữu chọn 8 mốc giải phẫu đo,,

Calhoun chọn 10 mốc giải phẫu đo trong nghiên cứu

của mình

Chúng tôi có thêm 4 mốc giải phẫu: CMG, LTXH,

CDSM, GMT, nhưng không có mốc thành sau xoang

bướm

- CMG là mốc giải phẫu rất quan trọng, có tính

chất bảo vệ: phía trong chân bám cuốn mũi giữa là

biểu mô khứu giác, phía trên là mảnh ngoài của

mảnh sàng và trần các tế bào sàng, nơi động mạch

sàng trước vượt qua mảnh ngoài mảnh sàng để vào

hố sọ trước cũng là điểm yếu nhất của sàn sọ

trước(13((19(, và có nguy cơ thấu vào hố sọ trước, tổn

thương động mạch sàng trước tại chỗ yều này Vì vậy,

cần phải xác định vị trí bờ trước chân bám cuốn mũi

giữa và giữ lại cuốn mũi giữa trong phẫu thuật nội soi

mũi xoang

- MM và LTXH là 2 mốc đầu tiên cấn phải xác

định khi bắt đầu phẫu thuật nội soi mũi xoang

- OLM cần nhận biết để tránh làm tổn thương nó trong động tác mở rộng lỗ thông xoang hàm về phía trước, gây chảy nước mắt sống sau mổ

- Khoảng các từ bờ dưới lỗ lê đến TBS là khoảng cách ngắn nhất có thể có từ trần các tế bào sàng trước đến bờ dưới lỗ lê

- MNXCMG giúp xác định ranh giới giữa các tế bào sàng trước và sau Điểm chúng tôi đo mốc MNXCMG là đỉnh của góc mà từ đó lên trên khoảng 3-4mm là vị trí mở mảnh nền để vào sàng sau.(4((5(

- LTXB giúp xác định vị trí chính xác của xoang bướm, nhất là trong trường hợp cò tế bào sàng bướm Khi xác định lỗ thông xoang bướm, hướng phẫu thuật

an toàn là mở lỗ thông xoang bướm về phía dươi và phía trong để tránh các cấu trúc quan trọng như động

mạch cảnh trong và dây thần kinh thị

Bảng 5 : Tương quan giữa số đo khoảng cách đến các

mốc giải phẫu với chiều dài mặt

Mốc GP Hsố R R^ 2 Tương quan

CMD 0,1 0,01 Không (R =0, P >0,1) CMG 0,28 0,08 Có(R≠0; 0,025<P<0,05) OLM 0,1 0,01 Không (R =0, P >0,1)

MM 0,02 0,00 Không (R =0, P >0,1) LTXH 0,09 0,01 Không (R =0, P >0,1) TBS 0,25 0,06 Không (R =0, P >0,05) MNXCMG 0,06 0,00 Không (R =0, P >0,1) LTXB 0,18 0,03 Không (R =0, P >0,1) LVN 0,22 0,05 Không (R =0, P >0,1) CDSM 0,13 0,02 Không (R =0, P >0,1) GMT 0,14 0,02 Không (R =0, P >0,1)

Bảng 6: Tương quan giữa số đo khoảng cách đến các

mốc giải phẫu với chiều rộng mặt

Mốc giải phẫu đo Hệ số R R^ 2 Tương quan

CMD -0,05 0,00 Không (R =0, P >0,1) CMG 0,36 0,13 Có.(R ≠0, P< 0,01) OLM 0,05 0,00 Không (R =0, P >0,1)

MM -0,08 0,01 Không (R =0, P >0,1) LTXH -0,03 0,00 Không (R =0, P >0,1) TBS 0,06 0,00 Không (R =0, P >0,1) MNXCMG 0,16 0,03 Không (R =0, P >0,1) LTXB 0,05 0,00 Không (R =0, P >0,1) LVN 0,12 0,02 Không (R =0, P >0,1) CDSM 0,13 0,02 Không (R =0, P >0,1) GMT 0,33 0,11 Có (R≠0, P < 0,025)

Trang 6

Bảng 7: Tương quan giữa các số đo khoảng các đến

các mốc giải phẫu với dài mũi

Mốc giải phẫu đo Hệ số R R^ 2 Tương quan

CMD 0,17 0,03 Không (R =0, P >0,1)

CMG 0,35 0,12 Có.(R ≠0, P< 0,01)

OLM 0,36 0,13 Có.(R ≠0, P< 0,01)

MM 0,17 0,03 Không (R =0, P >0,1)

LTXH 0,05 0,00 Không (R =0, P >0,1)

TBS 0,29 0,09 Có(R≠0; 0,25<P<0,05)

MNXCMG 0,39 0,15 Có.(R ≠0, P< 0,01)

LTXB 0,71 0,50 Có.(R ≠0, P< 0,005)

LVN 0,36 0,13 Có.(R ≠0, P< 0,01)

CDSM 0,29 0,08 Có(R≠0; 0,25<P<0,05)

GMT 0,12 0,01 Không (R =0, P >0,1)

Bàn luận về sự tương quan

Chúng tôi kiểm định sự tồn tại của hệ số tương

quan“R”, và hệ số hồi quy “b” bằng phép kiểm T

“Student” (1( và kết quả cho thấy :

Tương quan với chiều dài mặt

Hầu như các số đo từ bờ dưới lỗ lê đến các mốc

giải phẫu không có tương quan với chiều dài mặt

Tương quan với chiều rộng mặt

Số đo khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến mốc CMG

vàGMT có tương quan thuận mức độ trung bình với

chiều rộng mặt Hệ số tương quan R tương ứng là

0,36 và 0,33; chiều dài mặt chỉ giải thích được sự biến

thiên của số đo đến CMG và GMT theo thứ tự là 13%

và11%.Phương trình hồi quy Y= a + bx là:

Khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến CMG

= 2,128cm + (0,164x rộng mặt) cm

Khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến GMT

= 0,056cm + (0,061x rộng mặt) cm

Tương quan với dài tháp mũi

Số đo khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến 7 mốc giải

phẫu có tương quan thuận với dài mũi ở các mức độ

Các số đo đến mốc giải phẫu CMG, OLM,

MNXCMG, LVN có tương quan thuận mức độ trung

bình với chiều dài mũi Hệ số tương quan R tương

ứng là 0,35; 0,36; 0,39; 0,36 Chỉ có 12% sự biến

thiên của số đo đến CMG, 13% sự biến thiên của số

đo đến OLM, 15% sự biến thiên của số đo đến

MNXCMG và 13% sự biến thiên của số đo đến LVN là

do chiều dài mũi quy định

Số đo đến mốc giaiû phẫu LTXB có tương quan thuận mức độ chặt với dài mũi, hệ số tương quan R

= 0,71 và 50% sự biến thiên của số đo trên là do chiều dài mũi quy định Đây là mối tương quan tương đối có giá trị

Các phương trình hối quy Y = a + bx như sau:

Khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến CMG

= 2,825cm + (0,383 x dài mũi)cm

Khoảng cách từ bờ dưới hố lê đến OLM

= 2,18cm +(0,496 x dài mũi)cm

Khoảng cách từ bờ dưới hố lê đến MNXCMG

= 4,005cm + (0,495 x dài mũi)cm

Khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến LVN

= 5,708cm + (0,488 x dài mũi)cm

Khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến LTXB

= 2,177cm + (1,207 x dài mũi)cm Đồ thị của phương trình hồi quy trên như sau :

Chiều dài tháp mũi(cm))

Vì mức ý nghĩa của sự tương quan tuỳ thuộc vào độ lớn của mối tương quan và độ lớn của số quan sát Cho nên để sự tương quan trên có ý nghĩa thống kê thí phải tăng cỡ mẫu đủ lớn theo công thức(1 (: Số

mẫu n = (Uα / ε’ 2) + 3 (Uα : đocï trong bảng phân phối chuẩn ; ε’ : tính được qua biến đổi Fisher từ hệ

số R của mẫu thăm dò và sai số ε cho sẵn.) Với mối tương quan giữa khoảng cách từ LTXB đến bờ dưới lỗ lê và dài mũi, hệ số tương quan R = 0,71, ở khoảng tin cậy 95% và để cho hệ số tương quan không có sai số quá 0,05 thì cỡ mẫu nghiên cứu

phải tăng lên đủ lớn là 352 mẫu Tương tự như vậy,

đối với mốc giải phẫu MNXCMG, hệ số tương quan

) 8 7

6

5

4

3

2

1

Trang 7

với dài mũi là 0,39 thì phải tăng cỡ mẫu lên 1071

mẫu Có nghĩa là hệ số tương quan càng nhỏ thì phải

tăng cỡ mẫu càng lớn để cho sự tương quan có ý

nghĩa thống kê

So sánh kết quả các số đo trong lô

nghiên cứu của chúng tôi với công trình

nghiên cứu của Calhoun và Phạm Kiên

Hữu (4,10)

Bảng 8: Khoảng cách trung bình đến các mốc giải phẫu

so vời các tác giả Calhoun và Phạm Kiên Hữu (cm)

Mốc giải phẫu

Phạm Kiên Hữu

Nguyễn Thị Trung

CMD 1,4 2,2 2,5

OLM 2,5 3,4 4,2

MM 3,6 3,8 5,1

TBS 5,0 5,2 5,7

LTXB 5,6 7,0 6,9

LVN 6,4 6,5 7,7

GMT - - 0,9

Trung bình các số đo của chúng tôi lớn hơn của

Phạm Kiên Hữu, có lẽ do điểm mốc gốc khác nhau,

Phạm Kiên Hữu chọn gai mũi trước làm điểm mốc

gốc, chúng tôi chọn bờ dưới lỗ lê làm điểm mốc gốc

So với Calhoun, các số đo của chúng tôi lớn hơn,

Chúng tôi nghĩ có lẽ do (1) Calhoun chẻ nửa đầu xác

ướp ra và đo bằng thước cặp, còn chúng tôi đo trên

bệnh nhân có bệnh viêm xoang và đo trong lúc phẫu

thuật, thước đo được đưa vào môi trường chật hẹp

trong mũi và bị cuốn mũi dưới cản trở, do đó đôi lúc

phải đi một đường dài hơn mới đến được điểm

đo,(2)Calhoun lấy số đo là khoảng cách ngắn nhất sau

2 lần đo, còn chúng tôi lấy trung bình của hai lần

đo,(3) Do cách chọn điểm đo trên mốc giải phẫu

Bảng 9: Số lượng và vị trí lỗ thông xoang hàm phụ trong

99 mẫu nghiên cứu ở nhóm người bị viêm xoang

Nam: n =7 (35%) Nữ: n = 13(65%)

Vị trí

Bên phải Bên trái Bên phải Bên trái

Thóp trước

Thóp sau

Bảng 10: So sánh tỉ lệ và vị trí lỗ thông xoang hàm

Tác giả Vị trí Tỉ lệ Đối tượng

nghiên cứu

Schaeffer(1920) Thóp trước+sau 43% Xác người (Myerson(1932) Không nói rõ 31% Xác người Van Alyea(1936) Không nói rõ 23% Xác người May và cộng sự

0%

10%

Xác người Nội soi Kennedy

Zinreich(1991) Không nói rõ 15% Nội soi Lang+Wurburg Không nói rõ 28% XaÙc người Stammberger

+Kennedy (1995) Thóp trước+sau

4,5%

25%

Dân số Viêm xoang ĐHYK Lady Harding,

Aán độ (2001)

Thóp trước+sau, khe bán nguyệt 30% Xác người N.T.TRUNG Thóp trước+sau 20% Viêm xoang

Tỉ lệ có lỗ thông xoang hàm phụ ở nhóm người có bệnh viêm xoang khảo sát qua nội soi trong lô nghiên cứu của chúng tôi là 20%, so với tỉ lệ 25% trong nghiên cứu của Stammberger và Kennedy ở nhóm người có bệnh viêm xoang là có nhỏ hơn chút ít, Có lẽ do mẫu nghiên cứu của chúng tôi chưa đủ lớn

Để kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong cộng đồng thì phải tăng cỡ mẫu theo công thức(1( : số mẫu

n ≥ (Cα2 x f x (1 – f)( / ε2 (Cα đọc trong bảng phân phối chuẩn; f là tỉ lệ có được ở mẫu thăm dò; ε : sai số ước lượng cho sẵn)

Với độ tin cậy 95% và sai số ước lượng không quá

0,05 thì số mẫu phải tăng lên tối thiểu là 246 mẫu

Về vị trí lỗ thông xoang hàm phụ, chúng tôi quan sát thấy chủ yếu là ở thóp sau (chiếm 90%), phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Trong 20 trường hợp có lỗ thông xoang hàm phụ, chúng tôi thấy có 8 mẫu (40%) có “concha bulosa” cuốn mũi giữa (quan sát trên những trường hợp có chụp CT Scan) Đây là điều lưu ý để có thể có những nghiên cứu thêm nữa

KẾT LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi tuy số mẫu còn chưa đủ lớn, nhưng bước đầu cũng có tính chất gợi ý đưa

ra các số đo trung bình khoảng cách từ bờ dưới lỗ lê đến các mốc giải phẫu quan trọng thành ngoài hốc mũi, có giá trị hướng dẫn giúp định hướng trong

Trang 8

phẫu thuật nội soi mũi xoang (nhất là các bác sĩ đang

thời kỳ luyện mổ nội soi mũi xoang) Ngoài ra chúng

tôi còn gợi ý nên sử dụng loại ống hút có khắc vạch

đến millimet để các phẫu thuật viên vừa hút dịch vừa

có thể đo khoảng cách từ các mốc giải phẫu ở thành

ngoài mũi tới bờ dưới lỗ lê, ước đoán được mình đang

ở vị trí nào trong mũi và tránh các tai biến nguy hiểm

các thể xảy ra

8 Phan Ngọc Toàn, Phân tích đặc điểm thẩm mỹ mũi ở người Việt nam trưởng thành, Nội san Tai Mũi Họng số 2 - 2002, Tổng hội Y dược học Việt nam, Hội Tai Mũi Họng Việt nam

9 Bolger,William E, MD,Philadelphia Pennsylvania, Analysis of the suprabullar and retrobullar recesses for endoscopic sinus surgery, Ann Otol Laryngol 2001 ( Suppl 186(: 1-14 Internet: www.Google.com (www.annals.com/2001/ May 2001)

10 Calhoun, Karen H., MD, William H Rotzler, MD, and Stiernberg,MD Surgical anatomy of the lateral nasal wall, Department of Otolaryngology, University of Texas Medical branch, Galveston, Texas

Thống nhất danh pháp giải phẫu trong

Terminology), Terminalogia Anatomica / International Anatomical Terminology, Thiem Stuttgart.New York,1998, pages: 9-15;57-58

1/ Lateral nasal wall Thành ngoài hốc mũi

2/ Middle /inferior/ superior

nasal concha

cuốn mũi giữa/ dưới / trên

3/ Basal lamella of middle

nasal concha

mảnh nền xương cuốn mũi giữa

4/ Acessory maxillary sinus

ostium

lỗ thông xoang hàm phụ

5/ Nasolacrimal duct ống lệ mũi

6/ Concha bullosa tế baò khí trong cuốn mũi

7/ Uncinate process mỏm móc

8/ Ethmoid bulla bóng sàng

9/ Suprabulla recess ngách trên bóng sàng

10/ Retrobulla recess ngách sau bóng sàng

11/ Nasal fontanelle Thóp mũi

12/ Roof of ethmoid trần các tế bào sàng

13/ Sphenoethmoidal cell tế bào sàng bướm (trước đây

gọi là tế bào Haller) 14/ Sphenoethmoidal recess ngách sàng bướm

15/ Lateral lamella of

cribriform plate

mảnh ngoài của mảnh sàng 16/ Piriform aperture lỗ lê=lỗ mũi trước

12 Kurmar, H ; Choudhry, H ; Kakar, S, Department of Anatomy, Lady Hardinge Medical College, New Delhi, India Accessory Maxilary Ostia: Topography and Clinical Application, JASI: Journal of the Anatomycal society of India, Issue June 2001 Vol 50 N0 1 Internet : http: // www google.com

13 (Kuppersmith, Ronald B, MD (Ben Taub general Hospital) and Bobby R Alford, MD (Department of Otorhinolaryngology and Communication Sciences, Baylor College of Medicine), Grand Round

14 Internet : http: // www.bcm.tmc.edu/oto/cms/sld001-sld042, Date 19/5/2002

15 Lanza, Donald C and David W Kennedy, Endoscopic Sinus Surgery, Head and Neck Surgery-Otolaryngology, (Second Edition) edited by Byron J Bailey Lippincort–Raven publishers Philadelphia

1998 Volum one, pages 469-474

16 Lawson,william, MD The intranasal Ethmoidectomy Evolution and an Assessment of the procedure, The Laryngoscope journal 104, Supplement No 64, June

1994 Pages 1 –7

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17 McGraw – wall, Becky, Facial Analysis, Head and Neck Surgery Otolaryngology Second Edition edited

by Byron J Bailey Lippincott –Raven publisher Philadelphia 1998 Volum two, chapter 172, pages 2532- 2533

1 Bộ môn Toán, Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ

Chí Minh, Tài liệu ôn tập môn toán Thống kê thi

tuyển Cao học –NCS năm 2001

18 Miller, Andrew J and Ronald G Amedee, Sinus Anatomy and Function, Head and Neck Surgery – Otolaryngology Second Edition edited by Byron J Bailey Lippincort – Raven publishers, Philadelphia,1998 Volume one, pages 413 – 421

2 Đỗ Văn Dũng, Căn bản thống kê Y học, Đại học Y

dược,TP Hồ Chí Minh, 2002

3 Nguyễn Văn Đức, Giải phẫu mũi xoang, Bài giảng cho

học viên cao học và chuyên khoa I, 2002

4 Phạm Kiên Hữu, Luận án Tiến sĩ Y học: Phẫu thuật

nội soi mũi xoang, qua 213 trường hợp mổ tại Bệnh

viện Nhân dân Gia định, Đạihọc Y dược Thành phố

Hồ Chí Minh, năm 2000

19 Stammberger, Heinz R, MD and David W Kennedy,

MD, Paranasal sinuses : Anatomic Terminology and Nomenclature, From Annuals of Otology, Rhinology and Laryngology Suppl.167- Oct 1995 Vol104, No 10, Part 2, pp 7-16

5 Nguyễn Tấn Phong, Phẫu thuật nội soi chức năng

xoang, Nhà xuất bản Y học Hà nội, 1999

6 Nguyễn Quang Quyền, Bài giảng giải phẫu học (tập 1),

Nhà xuất bản Y học, 1995

7 Võ Tấn, Tai Mũi Họng thực hành, tập 1, chương II,

trang 99-100, Nhà xuất bản Y học, 1993

20 Stammberger, Heinz R, Functional Endoscopy Sinus Surgery Copyright 1991 by Mosby-Year Book of which B.C Decker is an Imprint Pages 49-87 ; 145-203

Ngày đăng: 20/12/2013, 19:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Số đo trung bình khoảng cách từ bờ dưới lỗ - Tài liệu Góp phần nghiên cứu một số mốc giải phẫu vùng mũi xoang ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang docx
Bảng 2 Số đo trung bình khoảng cách từ bờ dưới lỗ (Trang 4)
Bảng 1: Kích thước trung bình chiều dài, chiều rộng khuôn mặt và dài tháp mũi ở giới nam và nữ (tính  bằng centimet) - Tài liệu Góp phần nghiên cứu một số mốc giải phẫu vùng mũi xoang ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang docx
Bảng 1 Kích thước trung bình chiều dài, chiều rộng khuôn mặt và dài tháp mũi ở giới nam và nữ (tính bằng centimet) (Trang 4)
Bảng 7: Tương quan giữa các số đo khoảng các đến - Tài liệu Góp phần nghiên cứu một số mốc giải phẫu vùng mũi xoang ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang docx
Bảng 7 Tương quan giữa các số đo khoảng các đến (Trang 6)
Bảng 8: Khoảng cách trung bình đến các mốc giải phẫu - Tài liệu Góp phần nghiên cứu một số mốc giải phẫu vùng mũi xoang ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang docx
Bảng 8 Khoảng cách trung bình đến các mốc giải phẫu (Trang 7)
Bảng 9: Số lượng và vị trí lỗ thông xoang hàm phụ trong - Tài liệu Góp phần nghiên cứu một số mốc giải phẫu vùng mũi xoang ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang docx
Bảng 9 Số lượng và vị trí lỗ thông xoang hàm phụ trong (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w