Ở nước ta tài nguyên nước không chỉ có giá trị ựối với nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, mà còn là nguồn năng lượng sạch với công suất tiềm năng lên tới hàng vạn MW; nguồn vật liệu của rất nh
Trang 1Nhân loại ñang ñứng trước những triển vọng phát triển to lớn do tiến bộ khoa học và công nghệ ñem lại Mặt khác lại ñang phải ñối ñầu với những vấn ñề vô cùng gay cấn về tài nguyên thiên nhiên và môi trường So sánh với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam ñang có nguồn tài
nguyên nước lục ñịa khá phong phú và ña dạng Tuy nhiên với tiến trình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp, ñẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện ñại hoá, ñô thị hoá, tài nguyên và môi
trường nước lục ñịa của Việt Nam ñang thay ñổi hết sức nhanh chóng và ñang ñối mặt với nguy
cơ cạn kiệt về số lượng, ô nhiễm về chất lượng, tác ñộng tiêu cực tới cuộc sống của nhân dân và
sự lành mạnh về sinh thái của cả nước Tình trạng này ñang diễn biến như thế nào và triển vọng
sẽ ñược giải quyết ra sao, phần viết sau ñây góp phần trả lời câu hỏi quan trọng ñó
ðặc ñiểm của tài nguyên và môi trường nước lục ñịa
Thuận lợi cơ bản: tài nguyên nước tương ñối phong phú
Về nước mặt, trung bình hàng năm lãnh thổ Việt Nam nhận ñược từ không trung 1.944mm nước mưa Trong ñó khoảng 1.000mm bốc hơi trở lại không trung, số còn lại hình thành trên lãnh thổ nước ta một lượng nước mặt khoảng 310 tỷ m3 Tính bình quân, mỗi người dân Việt, có 3.870m3 nước mưa mỗi năm hoặc 10,6m3, tức 10.600 lít nước mỗi ngày Trong lúc tại các nước công nghiệp phát triển hiện nay, tổng nhu cầu về nước trong một ngày bình quân theo ñầu người, cũng chỉ vào khoảng 7.400 lít/người.ngày; bao gồm 340 lít cho sinh hoạt, 2.540 lít cho nông nghiệp và 4.520 lít cho công nghiệp [45] ở nước ta, tại các ñô thị lớn lượng nước sinh hoạt cấp cho mỗi người/ngày hiện nay chỉ mới vào khoảng 100 - 150 lít [33] ðối với nông thôn, mục tiêu là cung cấp cho mỗi người dân mỗi ngày 70 lít vào năm 2010, và 140 lít vào năm 2020 Nguồn nước ngọt từ mưa ñã vượt khá xa yêu cầu về cấp nước Ngoài nguồn nước mặt từ mưa, Việt Nam hiện còn có nguồn nước rất lớn, do các con sông ñem từ lãnh thổ các nước ngoài vào Lượng nước này ước tính khoảng 520 tỷ m3, gấp 1,7 lần lượng nước ng ọt hình thành trong nước Một số sông xuyên biên giới khác như sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn, Bằng Giang ở Cao Bằng, chuyển nước từ Việt Nam qua Trung Quốc Tuy nhiên, lượng này không ñáng kể so với tổng lượng nước hình thành trên lãnh thổ Việt Nam Các phụ lưu của sông Mê Công, như Nậm Rốm, Sê Kông, Sê Băng Hiêng, Sê San, Srê Pok chuyển một lượng nước khá lớn từ Việt Nam vào các nước láng giềng, nhưng rồi từ các nước này nước lại chảy trở về ðồng bằng sông Cửu Long.Tổng hợp nguồn nước hình thành trên lãnh thổ quốc gia và từ nước ngoài chảy vào, Việt Nam có tổng lượng nước mặt trung bình năm bằng khoảng 830 tỷ m3, trong ñó phần hình thành trong nước là 310 tỷ, chiếm 37%; phần từ nước ngoài vào là 520 tỷ, chiếm 63% Nước tồn tại trong sông, hồ, kênh, rạch, ñầm phá Tại ñây nước ñược lưu giữ, vận chuyển, chuyển hoá, cung cấp cho nhu cầu của người cùng sinh vật và góp phần tạo nên tài nguyên ña dạng sinh học và cảnh sắc thiên nhiên vô cùng phong phú
Bảng II.1 Số liệu so sánh tài nguyên nước của một số quốc gia của Viện Tài nguyên thế giới (WRI), 2003
Trang 2Về nước dưới ựất, nước ta cũng có tiềm năng tương ựối lớn
Tổng trữ lượng có tiềm năng khai thác ựược trên cả nước của
các tầng trữ nước trên toàn lãnh thổ, chưa kể phần ở hải ựảo,
ước tắnh gần 2000 m3/s, tương ứng khoảng 60 tỷ m3/năm
Trữ lượng này thay ựổi nhiều theo các vùng: dồi dào nhất ở
đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, đông Nam
Bộ; khá nhiều ở Tây Nguyên và ắt hơn tại các vùng núi Tây
Bắc, đông Bắc và duyên hải Bắc và Nam Trung Bộ Trữ lượng
ở giai ựoạn tìm kiếm và thăm dò sơ bộ mới ựạt khoảng 8 tỷ
m3/năm, tức khoảng 13% tổng trữ lượng Tắnh ựến năm 1999
trữ lượng nước ngầm ựược ựiều tra, ựánh giá và xét duyệt ở cấp công nghiệp (A+B) là
1.675.930m3/ngày và 12.855.616m3/ngày ở cấp triển vọng (C1+C2) [19] Hiện nay tổng lượng
ựã khai thác chỉ mới vào khoảng 5% tổng trữ lượng Trong các năm tới lượng khai thác có thể lên ựến khoảng 12 tỷ m3/năm [32] Việt Nam cũng có khoảng 400 nguồn nước khoáng và nước nóng
ựã ựược khảo sát, trong ựó 287 nguồn ựã ựược khai thác [3]
Ở nước ta tài nguyên nước không chỉ có giá trị ựối với nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, mà còn là nguồn năng lượng sạch với công suất tiềm năng lên tới hàng vạn MW; nguồn vật liệu của rất nhiều ngành sản xuất; cơ sở của các ngành thủy sản, giao thông; là nhân tố quan trọng cho sự phát triển của các hệ sinh thái, quyết ựịnh chất lượng của cuộc sống vật chất và tinh thần của con người Bên cạnh thuận lợi cơ bản nói trên tài nguyên nước của nước ta có nhiều khó khăn và phức tạp
Khó khăn thứ nhất: 2/3 tổng lượng nước mặt phụ thuộc vào nước ngoài
Như trên ựã trình bày, 63% tổng lượng dòng chảy nước mặt trên lãnh thổ Việt Nam là từ các nước láng giềng: Trung Quốc, Thái Lan, Mianma, Lào và Campuchia chảy vào Các nước này ựều ựang ở trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện ựại hoá, ựô thị hoá, phát triển nông nghiệp, dịch vụ một cách nhanh chóng, dẫn tới yêu cầu tận dụng tài nguyên nước sản sinh trên lãnh thổ của
Trang 3mình Chế ựộ thủy văn của các dòng sông xuyên biên giới chảy vào nước ta sẽ thay ựổi Dòng chảy nước sẽ có thể ựược ựiều tiết theo hướng có khi không phù hợp với yêu cầu của nước ta Khối lượng nước cần cho sinh hoạt, canh tác, ựẩy mặn, giao thông thủy vào mùa khô có thể sẽ không còn như trước Chất luợng nước của một số dòng sông sau khi ựã tiếp nhận xả thải từ nhiều ựô thị, khu dân cư, khu nông nghiệp trên các vùng thượng lưu sẽ không còn trong sạch như hiện nay Nếu trong tương lai các quốc gia ở thượng nguồn sông Mê Công sẽ sử dụng một lưu lượng nước khoảng 1.200 - 1.500m3/s trong mùa khô, thì đồng bằng sông Cửu Long sẽ có nguy cơ thiếu nước Nạn xâm nhập mặn sẽ ựe dọa toàn vùng Nhìn một cách lâu dài, không thể khẳng ựịnh là nước ta sẽ luôn luôn có tài nguyên nước với tổng lượng là 830 tỷ m3/năm, mà phải dựa chủ yếu trên 310 tỷ m3/năm hình thành trên lãnh thổ Lượng nước trên ựầu người sẽ phải tắnh theo dân số ổn ựịnh khoảng 100 triệu người.
Khó khăn thứ hai: tài nguyên nước phân bố rất không ựều theo không gian và thời gian Lượng mưa trên lãnh thổ nước ta phân bố rất không ựều theo không gian Bình quân toàn lãnh thổ lượng mưa năm là 1.944mm Tuy nhiên, có những nơi lượng mưa này ựạt 8.000mm như ở Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế) 5.000mm như ở Bắc Quang (Hà Giang) Trong lúc chỉ có 700mm ở Phan Rang, thậm chắ 400mm ở Phan Rắ Trong từng phạm vi lãnh thổ nhỏ hơn như tỉnh, huyện, lượng mưa phân bố cũng rất không ựều
Tại tất cả các vùng, hàng năm lượng nước trong khoảng ba tháng mùa lũ chiếm 75 - 85% tổng lượng nước trong năm Trong mùa khô, kéo dài từ 5 ựến 6 tháng, lượng dòng chảy trên rất nhiều con sông chỉ vào cỡ 15 - 20% tổng lượng dòng chảy năm Trong năm 2002 nhiều tỉnh ở Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ, trong 3 - 4 tháng hầu như không có giọt mưa nào Trong năm 2003 nhiều tỉnh ở Tây Nguyên, duyên hải miền Trung ựều không có mưa suốt trong 3 tháng mùa hè
Lượng dòng chảy trong sông, tổng hợp cả dòng chảy hình thành trong và ngoài lãnh thổ, cũng phân bố rất không ựều Lấy theo số liệu của ỘHồ sơ nguồn nước, 2002Ợ [38] thì suất dòng chảy năm bình quân của cả nước ta là 2,642 triệu m3/km2.năm Vùng đông Bắc, với diện tắch bằng 65.327km2, có suất dòng chảy năm là 0,236 triệu m3/km2 Vùng đồng bằng sông Cửu Long với diện tắch bằng 39.706km2, có suất dòng chảy năm khoảng 12,79 triệu m3/km2, gấp 54 lần suất của vùng đông Bắc Khác biệt giữa các vùng khác cũng tương ựối lớn Trong bối cảnh chung cả nước như vậy, sự phân bố nước không ựều theo không gian và thời gian làm cho tình trạng thiếu nước về mùa khô và lũ lụt tàn phá mạnh mẽ vào mùa mưa trở nên ựặc biệt trầm trọng tại một số nơi Tỷ lệ giữa lưu lượng tối ựa và lưu lượng cực tiểu của một số con sông lên tới 1.000, thậm chắ 10.000 lần
Khó khăn thứ ba: có nhiều thiên tai nghiêm trọng gắn liền với nước
Lũ lụt là thiên tai phổ biến nhất và ác liệt nhất ở nước ta Theo tài liệu ghi chép của các cơ quan quản lý nước thì trong thế kỷ XIX, chỉ riêng ở đồng bằng sông Hồng ựã có khoảng 30 năm lụt rất lớn, trong ựó 26 năm ựê tả ngạn sông Hồng bị vỡ, 18 năm ựê hữu ngạn bị vỡ Mỗi lần vỡ ựê gây thiệt hại cho hàng chục vạn ha mùa màng, cuốn trôi hàng ngàn làng xóm với hàng ngàn sinh mệnh người và rất nhiều gia súc, hủy hoại nhiều công trình công ắch, gây bệnh tật trên nhiều vùng Trong thế kỷ XX mặc dầu hệ thống ựê ựã ựược tu bổ, kiên cố hoá, nhưng do lũ lớn ựã có 23 năm có sự cố vỡ ựê lớn gây tai họa và tổn thất nghiêm trọng Trận lũ vỡ ựê năm 1971 gây ra trên đồng bằng sông Hồng thiệt hại hàng triệu tấn thóc, số dân bị ảnh hưởng lên tới 2,71 triệu người
Lũ do bão gây ra ở miền Trung từ năm 1992 ựến 1999 ựã làm chết 2.716 người, bị thương 1.655 người, gây thiệt hại kinh tế trên 8.000 tỷ ựồng Việt Nam Từ 1986 ựến 2002 ựã lần lượt xảy ra trên 30 trận lũ ựặc biệt lớn trên nhiều lưu vực sông trong cả nước
Khung II.1 Miền Trung - lũ chồng lên lũ
Ninh Thuận: thiệt hại nặng về người và của; Khánh Hoà: lốc xoáy làm sập 28 ngôi nhà; Phú Yên:
3 người chết, tàu bị cuốn trôi ra biển Tống tiễn trận lũ lớn vừa qua chưa ựược bao lâu, Bình định và các tỉnh Nam Trung Bộ lại phải ỘựónỢ một cơn lũ khác, cũng không kém phần dữ dằn như
Trang 4trận lũ trước Báo cáo nhanh của các ban phòng chống lũ bão Bình ðịnh, Khánh Hoà, Ninh Thuận cho biết, ñến 16 giờ ngày 13-11, ñã có 13 người chết, mất tích, hàng trăm ngôi nhà bị sập hoàn toàn Vậy là, lũ ñã chồng lên lũ, tang tóc cũng chồng lên nhau Tại Ninh Thuận mưa kéo dài trong hai ngày 12 và 13-11, ñã gây ngập lụt trên 20.000 ha ñất sản xuất, nuôi tôm, ước tính thiệt hại ban ñầu trên 10 tỷ ñồng Các xã An Hải, Phước Hải, Phước Sơn, huyện Ninh Phước, Xuân Hải, huyện Ninh Hải cùng hai huyện Ninh Sơn và Bác ái dường như bị cô lập hoàn toàn, các tuyến giao thông liên xã, liên tỉnh Ninh Thuận - Lâm ðồng, bị chia cắt Theo báo cáo nhanh của Ban Chỉ ñạo phòng chống bão lũ cho biết: tính ñến 13 giờ ngày 13-11, mực nước các sông vượt trên mức báo ñộng 3 là 0,12m (nước dâng cao trên mức lũ lịch sử xảy ra vào năm 1986 là 0,22m) ở xã Phước Sơn, huyện Ninh Phước có 70 hộ ñang bị kẹt trên các ụ ñất cao, trông chờ lực lượng cứu nạn ðoạn ñường sắt chạy qua xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, có 115m bị ngập nước từ 1 - 1,5m, nên từ lúc 4 giờ 55 phút sáng ngày 13-11-2003 ngành ñường sắt ñã cho dừng tàu lại Hiện Ninh Thuận ñã có 7 người chết, 7 người bị thương, thiệt hại nặng nhất là huyện Ninh Phước - có ñến 4 người chết Trạm cung cấp ñiện cho khu vực thị xã Phan Rang-Tháp Chàm bị ngập nước ở mức báo ñộng khẩn cấp và có khả năng không cung cấp ñiện vào những ngày tiếp theo
Nguồn: Báo Lao ðộng, ngày 14-11-2003
Hạn hán cũng là thiên tai gây tác hại hết sức lớn, trên diện rộng cho sản xuất nông, công nghiệp
và sinh hoạt của nhân dân Vào mùa khô tất cả các vùng trên nước ta từ ñồng bằng, trung du ñến miền núi ñều có thể bị hạn nặng Trong những năm gần ñây, ở Tây Nguyên ñã liên tiếp có 6 năm bị hạn: 1994, 1995, 1996, 1997, 1998 và 2003 ðặc biệt năm 1998 diện tích cây công nghiệp, cây ăn quả bị hạn là 111.000ha, bị chết 19.300ha, riêng cà phê bị hạn là 74.400ha, bị chết là 13.800ha và hơn 770.000 người thiếu nước sinh hoạt [38] Tại vùng Lục Khu thuộc tỉnh Cao Bằng, nhân dân ñịa phương cho biết, trong các năm 1978, 1998 mùa khô kéo dài từ tháng
10 ñến tận tháng 5 năm sau, nước cho trồng trọt và chăn nuôi cạn kiệt, nước ăn uống, sinh hoạt cho nhân dân vô cùng khan hiếm Nhân dân phải bỏ hết mọi việc ñể ñi tìm nước, “cõng” nước về nhà phục vụ ăn uống với mức tối thiểu Nhiều hộ hàng ngày phải ñi xa 4-8km, vượt núi cao, ñèo sâu ñể “cõng” nước, nhưng cũng chỉ ñáp ứng ñược khoảng 40% nhu cầu tối thiểu Trong những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, hàng trăm hộ dân vùng này ñã phải rời bỏ quê hương, di dân
tự do vào Tây Nguyên ñể kiếm sống [5] Tại các ñô thị, thậm chí ñô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế và một số thành phố duyên hải miền Trung về mùa khô cũng có nạn thiếu gay gắt nước ăn uống sinh hoạt cho nhân dân, cũng như nước cho sản xuất công nghiệp
Khung II.2 Thiệt hại do hạn tại Kiên Giang, Sóc Trăng, Ninh Thuận và ðồng Tháp
Do nắng hạn kéo dài, tỉnh Kiên Giang ñã có 20.000ha cây trồng thiếu nước tưới; mặn xâm nhập cũng gia tăng Ngoài hàng loạt diện tích mía bị chết khô, 400ha hồ tiêu cũng ñang thiếu nước nghiêm trọng, năng suất có thể giảm 40 - 50% Dự báo, diện tích cây trồng chịu ảnh hưởng nắng hạn, xâm nhập mặn vẫn tăng trong những ngày tới
Tỉnh Sóc Trăng thả nuôi hơn 35.000ha tôm sú, trong ñó, khoảng 4.000ha tôm công nghiệp Tuy nhiên, ñã có hơn 4.000ha tôm nuôi quảng canh bị thiệt hại do thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài, ñộ mặn tăng thêm 2 - 5‰ làm tôm bị sốc Nhiều nhất là huyện Mỹ Xuyên có tới 3.200ha tôm bị chết
Nắng hạn gay gắt làm các sông suối trên ñịa bàn huyện miền núi Bắc ái, Ninh Thuận khô kiệt sớm Toàn huyện bị mất trắng 122ha lúa, ngô và rau màu; nhân dân 7/9 xã thiếu nước sinh hoạt trầm trọng Tại Bắc Giang do không có mưa, gần 3.000ha lúa xuân ở chân ruộng cao hoặc cuối kênh bị khô hạn, tập trung chủ yếu ở Yên Thế 700ha và Hiệp Hoà 1.600ha Ngoài ra, tại tỉnh ðồng Tháp trong mùa khô này có 56 kênh tạo nguồn nước bị cạn kiệt, trong ñó 14 kênh thiếu nước trầm trọng, cần nạo vét ngay, tập trung ở Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Tổng chiều dài các con kênh bị bồi lắng, cạn kiệt lên tới hơn 225km, khối lượng khoảng 2,7 triệu m3 ñất, ước tính kinh phí 16 tỷ ñồng Hiện tỉnh ñã cấp 2 tỷ ñồng cho công tác chống hạn, nạo vét kênh
Trang 5Nguồn: Báo Nhân dân, ngày 22-4-2003
Khó khăn thứ tư: chất lượng nước ñang giảm sút tại nhiều nơi
So sánh với một số nơi trên thế giới thì nước sông ngòi phần thượng lưu và tại một số hồ lớn ở Việt Nam còn tương ñối sạch Tuy nhiên với sự phát triển nhanh của công nghiệp hoá, ñô thị hoá, gia tăng dân số nông thôn và thành thị chất lượng nước mặt cũng như nước ngầm ñã có những biểu hiện suy thoái khá nghiêm trọng Mức ñộ ô nhiễm nước ở một số khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề ñã rất cao ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều ñô thị lớn và vừa, các khu công nghiệp mới và cũ nước thải sinh hoạt vẫn còn lẫn lộn với nước thải công nghiệp không qua xử lý tập trung mà trực tiếp thải ra các nguồn tiếp nhận là các sông, hồ, kênh, mương lộ thiên ñi qua các khu dân cư và sản xuất Nước thải từ phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế cũng ñược thải chung vào hệ thống nước thải công cộng ðộ ô nhiễm của các vực nước tiếp nhận nước thải ñều vượt quá tiêu chuẩn cho phép
Ô nhiễm nước ở nông thôn và các khu vực sản xuất nông nghiệp cũng rất nghiêm trọng ở ñây phần lớn chất thải của con người và gia súc không ñược xử lý, bị rửa trôi theo dòng chảy mặt, và thấm xuống ñất, làm cho nguồn nước mặt cũng như nước ngầm bị ô nhiễm về mặt hữu cơ và vi sinh Môi trường nước nông thôn còn bị ô nhiễm do sử dụng không hợp lý và ñúng quy cách các hoá chất nông nghiệp, trong ñó có không ít hoá chất ñộc hại Tỷ lệ số hộ ở nông thôn ñược dùng nước hợp vệ sinh chỉ mới ñạt khoảng 30 - 40% [34] Chỉ khoảng 28 - 30% số hộ có công trình vệ sinh ñạt tiêu chuẩn
Khung II.3 Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ở Bạc Liêu
Những năm gần ñây, vào mùa khô, người dân ở Bạc Liêu thường thiếu nước sinh hoạt ðể khắc phục tình trạng này, Nhà nước ñã phát ñộng nhân dân hưởng ứng phong trào khoan giếng bơm tay Tuy nhiên, hiện nay một số giếng bơm tay ñã bị nhiễm phèn nặng, không ñảm bảo vệ sinh khi sử dụng, và nếu “nhà nhà khoan giếng” mà không có sự quản lý chặt chẽ của cơ quan chức năng thì sẽ dẫn ñến tình trạng nguồn nước bị ô nhiễm Vì vậy, trong mấy năm trở lại ñây, Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn ñã và ñang ñầu tư xây dựng các trạm cấp nước tập trung ở các xã, thị trấn thuộc 5 huyện ðến nay, tỷ lệ hộ dân nông thôn ñã ñược sử dụng nước sạch ñạt 52%, tương ñương 310.000 dân Từ năm 1998 ñến nay, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, chính quyền ñịa phương ñã thực hiện
ña dạng hóa các loại hình cấp nước Trong ñó, chú trọng ưu tiên xây dựng các hệ thống cấp nước tập trung bằng hệ thống bơm dẫn, ñưa nước ñến các hộ dân ở các cụm ñiểm dân cư tập trung, hạn chế khoan giếng nhỏ lẻ nhằm bảo vệ tài nguyên nước ngầm ðến nay có 42 hệ thống cấp nước tập trung, công suất từ 50 ñến 300m3/ngày ñêm, ñã xây dựng và ñưa vào sử dụng ðể giúp những hộ dân nghèo ở nông thôn ñược sử dụng nước sạch, Uỷ ban nhân dân tỉnh ñã có chính sách hỗ trợ cho các hộ nghèo bằng các biện pháp rất cụ thể: Nhà nước ñầu tư vốn từ 85 ñến 90%, mỗi hộ dân nghèo chỉ bỏ ra 200.000 - 300.000 ñồng, chiếm 10 - 15% là có ống dẫn nước sạch kéo ñến tận nhà dùng thoải mái; giá nước sinh hoạt khoảng 1.500 - 2.200 ñồng/m3
Nguồn: Báo Nhân dân, ngày 16- 8-2003
Khó khăn thứ năm: yêu cầu về nước ñang tăng nhanh
Trang 6Ở nước ta, với quá trình công nghiệp hoá, hiện ñại hoá, ñô thị hoá, phát triển nông nghiệp và nâng cao ñời sống nhân dân, thì yêu cầu
về nước ñang tăng ngày càng nhanh Theo tài liệu nghiên cứu về tài nguyên nước của Việt Nam do Viện Quy hoạch thủy lợi hợp tác với Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu á thực hiện năm
1996, thì năm 1990 lượng tài nguyên nước ñược sử dụng ở nước ta mới chỉ có 50 tỷ m3/năm, chỉ mới bằng khoảng 6% tổng tài nguyên, trong ñó 92% ñược dùng cho nông nghiệp, 5% cho công nghiệ p và 4% cho cấp nước ñô thị Tài liệu này dự báo rằng lượng nước sử dụng sẽ tăng lên tới khoảng 65 tỷ m3/năm vào năm 2000; 72 tỷ m3/năm, năm 2010 (tức tăng khoảng 11%); 80 tỷ m3/năm, năm
2020 và 87 m3/năm, năm 2030 Tỷ lệ nước dùng cho nông nghiệp giảm xuống còn 75%, cho công nghiệp tăng lên 16% và cho sinh hoạt là 9% [41]
Những tài liệu nghiên cứu gần ñây hơn ñã ñưa ra những yêu cầu cao hơn nhiều về gia tăng dùng nước ở nước ta So sánh với năm 2000 tổng lượng nước sử dụng trong năm 2010 sẽ tăng 14%, năm 2020 là 25% và năm 2030 là 38% Riêng cho nông nghiệp, ñến năm 2010, với diện tích tưới là 12 triệu ha, lượng nước cần dùng ñã là 88,8 tỷ m3/năm Tỷ lệ dân số ñược sử dụng nước sạch hiện nay là 60%, dự kiến sẽ ñạt 80% năm 2005 và 95% năm
2010, nhu cầu nước cho sinh hoạt ñương nhiên phải tăng theo [5] Với ñà gia tăng ñược dự báo trên ñây, ñến năm 2030 lượng nước sử dụng sẽ có thể lên tới gần 90 tỷ m3/năm, tức bằng
khoảng 11% tổng tài nguyên nước, hoặc 29% tài nguyên nước hình thành trên lãnh thổ quốc gia
Về bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước
1) Nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về thực trạng, ñặc ñiểm tài nguyên và môi trường nước ở nước ta
2) Thực hiện ñầy ñủ Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường cùng các luật, pháp lệnh, quy ñịnh liên quan tới khai thác, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường nước bao gồm cả nước mặt và nước dưới ñất
3) Hoàn chỉnh và nâng cao chất lượng quy hoạch lưu vực các sông; nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt ñộng của Hội ñồng quốc gia về tài nguyên nước và của các ban quản lý lưu vực sông.4) Nâng cao hiệu quả, giảm nhu cầu dùng nước của tất cả các ngành sản xuất và sinh hoạt bằng các biện pháp khoa học, công nghệ và phương thức quản lý tiên tiến
Về nông nghiệp cần thực hiện các biện pháp tưới tiết kiệm nước; giảm tổn thất nước bằng kiên cố hoá hệ thống kênh mương, nâng cấp công trình ñầu mối và nâng cao hiệu quả quản lý; chuyển ñổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ưu tiên phát triển các cây con có nhu cầu sử dụng nước thấp, hiệu quả kinh tế cao; tích cực phòng chống ô nhiễm nước; sử dụng các hoá chất nông nghiệp theo ñúng các quy ñịnh và hướng dẫn kỹ thuật
Về công nghiệp và thủ công nghiệp theo kiểu làng nghề, cần nâng cao hiệu quả sử dụng nước; tái
sử dụng nước; xây dựng và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải; tích cực phòng chống ô nhiễm nước; thực hiện nghiêm túc luật pháp, các quy ñịnh về quản lý nước thải
Trang 7Về sinh hoạt và các hoạt ựộng du lịch, dịch vụ cần thực hiện các mục tiêu cấp nước cho ựô thị và nông thôn ựã ựược xác ựịnh trong các quyết ựịnh của Nhà nước; sử dụng nước một cách tiết kiệm nhất; giảm nhu cầu dùng nước; cải tiến thiết bị sử dụng nước; tắch cực phòng chống ô nhiễm nước
5) Xây dựng các hồ chứa nước sử dụng tổng hợp, khai thác nhiều bậc thang trên một dòng sông khi có ựiều kiện thuận lợi, nhằm mục ựắch cấp nước, chống hạn, ngăn ngừa ô nhiễm mặn, cung cấp năng lượng tái tạo ựược; hết sức chú ý giảm thiểu và phòng tránh tối ựa các tác ựộng môi trường tự nhiên và xã hội của các hồ, ựập, ựặc biệt là của các hồ, ựập lớn
6) Gắn liền việc quản lý tài nguyên nước mặt và nước dưới ựất với quản lý các tài nguyên thiên nhiên khác như: ựất, rừng, khoáng sản, năng lượng trong các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các lưu vực theo hướng bền vững
7) Hợp tác chặt chẽ, có hiệu quả với các nước láng giềng cùng chia sẻ tài nguyên nước trên các
hệ thống sông xuyên biên giới ựể xây dựng và thực hiện các quy hoạch phát triển chung và quy hoạch sử dụng nước, bảo vệ chất lượng nước trên các sông này
8) đối với tài nguyên nước dưới ựất, cùng với các phương hướng nói trên, cần chú ý tăng cường công tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới trong ựiều tra, thăm dò, khai thác, sử dụng và bảo
vệ nước ngầm, áp dụng các phương thức mới, như sử dụng hành lang thu nước, giếng tia, bổ sung nhân tạo ựể tăng cường khai thác các nguồn nước; cấm tuyệt ựối việc xây dựng các công trình chôn lấp chất thải trên phạm vi nguồn; bảo vệ và phát triển các công trình có khả năng làm tăng nguồn nước ngầm
Về kiểm soát lũ lụt
Trên ựồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình, chiến lược phòng chống lũ là kết hợp 6 biện pháp: 1) Trồng và bảo vệ rừng ựầu nguồn; 2) ựiều tiết lũ bằng các hồ chứa lớn ở thượng nguồn sông đà, sông Lô; 3) Củng cố hệ thống ựê và công tác hộ ựê, xây dựng các ựường tràn cứu hộ ựê, cho phép tràn nhưng không vỡ ựê khi gặp lũ vượt lũ thiết kế; 4) Tăng thoát lũ của lòng dẫn sông Hồng, sông Thái Bình; 5) Phân lũ sông đáy; 6) Sử dụng các khu chậm lũ Tam Thanh, Lương Phú, Quảng Oai, Lập Thạch
Trên đồng bằng sông Cửu Long là ựảm bảo cuộc sống an toàn cho nhân dân và sự thuận lợi cho phát triển kinh tế trong môi trường có lũ bằng các biện pháp: 1) Xây dựng các cụm dân cư - trung tâm hành chắnh - dịch vụ văn hoá - xã hội tương ựối an toàn về lũ; 2) Xây dựng nhà vượt
lũ, lên ựê bao, bảo vệ khu dân cư, vườn cây ăn quả ở các khu có mức ngập nông; 3) Chỉnh trị lòng sông, cửa sông ựảm bảo an toàn dân cư và thông thoát lũ cho cả 9 cửa sông kể cả sông Vàm Cỏ Tây; 4) Mở rộng kênh trục dẫn thoát lũ, tắch nước dùng cho mùa kiệt; 5) Mở rộng các lộ ven kênh, tạo mạng lưới giao thông kết hợp tuyến dân cư; 6) Mở rộng khẩu ựộ cầu cống hợp lý ựảm bảo thoát lũ nhanh Nói chung là Ộchung sống với lũ, nhưng phải ựảm bảo an toàn tắnh mạng, tài sản cho nhân dân, ổn ựịnh ựược sản xuất và ựời sống, phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long thành vùng kinh tế trù phú, bền vữngỢ
Trên vùng ựồng bằng ven biển miền Trung cần sử dụng các biện pháp: 1) Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng các công trình hạ tầng hợp lý nhằm chủ ựộng né tránh, thắch nghi ựể phát triển trong môi trường có nhiều thiên tai; 2) Giảm nhẹ thiệt hại với lũ chắnh vụ, kiểm soát lũ tiểu mãn, lũ ựầu vụ, lũ cuối vụ bằng cách xây dựng một số hồ lớn trên các sông chắnh như Rào Quán (Quảng Trị), Tả Trạch (Thừa Thiên - Huế), A Vương (Quảng Nam), Nước Trong (Quảng Ngãi), định Bình (Bình định), Ba Hạ (Phú Yên); 3) Chỉnh trị lòng sông, chống sạt lở, chống bồi lấp cửa sông, ổn ựịnh cửa thông thoát lũ, phát triển giao thông thủy thuận lợi; 4) Xây dựng công trình tiêu thoát ngập tại các thị xã, ựô thị ven biển; 5) Mở rộng khẩu ựộ cầu cống trên các ựường quốc lộ và ựường sắt Bắc Nam; 6) Thực hiện tốt bốn phương châm ứng cứu lũ với Ộbốn tại chỗỢ: vật tư tại chỗ, lực lượng tại chỗ, hậu cần tại chỗ, chỉ huy tại chỗ [35]
Trang 8
Tài nguyên và môi trường nước trên ba lưu vực ựiển hình
Ba trường hợp ựiển hình về hiện trạng tài nguyên và môi trường nước của ba lưu vực sông ở nước
ta là: lưu vực sông đáy - sông Nhuệ, trong ựó có Thủ ựô Hà Nội và một số khu công nghiệp ở phắa Bắc; lưu vực sông Cầu với một số tỉnh và thành phố ở vùng trung du phắa Bắc; lưu vực các sông đồng Nai - Sài Gòn, trong ựó có thành phố Hồ Chắ Minh và một số khu công nghiệp ở phắa Nam Tuy ba lưu vực có vị trắ, quy mô và tắnh chất rất khác nhau, nhưng ựều có những vấn ựề gay cấn cần giải quyết về lượng và chất của tài nguyên nước
Lưu vực sông Nhuệ - sông đáy có diện tắch trên 8.000km2 thuộc các tỉnh và thành phố Hoà Bình,
Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam định, Ninh Bình, dân số trên 9 triệu người, trong ựó có khoảng 3,5 triệu sống ven sông Thực tế cho thấy có rất nhiều vấn ựề cần ựược giải quyết trong bảo vệ tài nguyên và môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông đáy Trong ựó các vấn ựề cấp bách nhất là: giảm thiểu ô nhiễm nước sông do sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp; giảm thiểu ô nhiễm nước do hoạt ựộng nông nghiệp, ựặc biệt là ô nhiễm nước mặt và nước ngầm do hoá chất sử dụng trong nông nghiệp; khắc phục các tác ựộng xấu về kinh tế, xã hội ựối với các cộng ựồng nhân dân sinh sống trong vùng phân lũ sông Hồng khi có lũ lớn trên sông này
Lưu vực sông Cầu có diện tắch trên 6.000km2 thuộc các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh Cách ựây khoảng 50 năm, sông Cầu còn là ỘSông Cầu nước chảy lơ thơỢ, nhưng với ựà gia tăng dân số, phát triển nông nghiệp, công nghiệp và ựô thị hoá, sông Cầu hiện nay ựang phải ựối mặt với sự khan hiếm nước về mùa khô và ô nhiễm nước do hoạt ựộng công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt trên cả 5 ựoạn chắnh của sông
Sông đồng Nai - Sài Gòn là một hệ thống sông phức tạp với lưu vực có diện tắch khoảng
36.000km2, bao gồm vùng đông Nam Bộ, vùng cao nguyên Lâm đồng và vùng cao của các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận Một số tài liệu ghép lưu vực của các sông Vàm Cỏ đông, Vàm Cỏ Tây và các sông ựộc lập ở ven biển các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Vũng Tàu vào lưu vực sông đồng Nai - Sài Gòn Trong trường hợp này diện tắch lưu vực sẽ lên tới 52.639km2, trong ựó 48.471km2, trên lãnh thổ Việt Nam Lưu vực sông này có diện tắch bằng 14,6% tổng diện tắch cả nước, nhưng
có GDP bằng 40% tổng GDP của cả nước, do nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ ựều tương ựối phát triển Lưu vực sông này có trữ lượng thủy năng tương ựối lớn, một phần ựã ựược khai thác Về chất lượng, nước ở các vùng cao của lưu vực sông này có chất lượng tốt, ở các vùng ựô thị, công nghiệp thì ô nhiễm nước ựã lên tới mức cao Về mùa khô có tình trạng thiếu nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp và chống xâm nhập mặn
Một số vấn ựề thời sự về tài nguyên nước và môi trường
Một số vấn ựề thời sự về tài nguyên nước ở nước ta hiện nay là: 1) Lũ lụt ở nước ta có xu thế diễn biến như thế nào trong thời gian tới? 2) Nguồn nước ngầm của nước ta sẽ biến ựổi như thế nào trong quá trình công nghiệp hoá và ựô thị hoá? 3) Hạn hán ở Tây Nguyên bao giờ có thể khắc phục? 4) Có ngăn chặn hoang mạc hoá ở Nam Trung Bộ ựược không? 5) Xâm nhập mặn ảnh hưởng như thế nào tới sản xuất và ựời sống trên hai vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long? 6) Hiện tượng lún sụt mặt ựất khi khai thác nước ngầm ở Hà Nội 7) Việc sử dụng tài nguyên nước ở nước ta ựã ựược quy hoạch hợp lý chưa? Hiện ựã có những ựề xuất của cán bộ khoa học với các cơ quan quản lý tài nguyên nước về việc giải quyết các vấn ựề nêu trên và vấn ựề còn cần nghiên cứu tiếp tục
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Việt Nam ựã khẳng ựịnh quan ựiểm ỘPhát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế ựi ựôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trườngỢ Phát triển kinh tế - xã hội với tốc ựộ tương ựối cao hiện nay của nước
ta chỉ có thể trở thành thực sự bền vững, khi tài nguyên và môi trường nước, nhân tố cơ bản của mọi hoạt ựộng phát triển vì hạnh phúc của con người và phồn vinh của quốc gia, ựược bảo vệ nghiêm ngặt, sử dụng hợp lý một cách toàn diện cả về lượng cũng như về chất
Trang 9Vị thế và tiềm năng
Vị trắ chiến lược
Là một quốc gia ven biển nằm ở phắa ựông bán ựảo đông Dương, Việt Nam có diện tắch vùng biển ựặc quyền kinh tế khoảng 1.000.000km2, trên 3.000 hòn ựảo lớn nhỏ phân bố tập trung ở ven bờ Tây - Bắc vịnh Bắc Bộ (Quảng Ninh - Hải Phòng) và hai quần ựảo ngoài khơi là Trường Sa và Hoàng Sa Nhiều ựảo có thể xây dựng thành các trung tâm kinh tế biển - ựảo và dịch vụ cho các hoạt ựộng biển xa Dải bờ biển Việt Nam kéo dài trên 3.260km (không kể bờ các ựảo) và trung bình cứ 1km ựường bờ biển có 100km2 ựất liền, trong khi tỷ lệ này của thế giới là 1/600 Ngoài
ra, cứ khoảng 1km2 ựất liền thì có gần 4km2 vùng lãnh hải và ựặc quyền kinh tế, gấp khoảng 1,6 lần trung bình của thế giới [13] đó là những nét ựặc trưng cơ bản của cấu trúc và sự phân hoá lãnh thổ Việt Nam, tạo ra cho ựất nước ta tắnh ựa dạng về cảnh quan thiên nhiên và nguồn lợi thủy sinh vật
Biển Việt Nam cũng chiếm một vị trắ ựịa chắnh trị rất quan trọng trên bình ựồ thế giới với tuyến hàng hải quốc tế lớn từ ấn độ Dương sang Thái Bình Dương đây cũng là một vùng biển phức tạp, luôn xảy ra những cuộc tranh chấp kéo dài, liên quan ựến chủ quyền trên biển Biển Việt Nam còn là kho lưu giữ các bắ mật của quá khứ, ghi nhận những trang sử hùng tráng về các cuộc chiến tranh giữ nước và lịch sử dựng nước của dân tộc Việt Nam Biển thực sự là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam, là di sản thiên nhiên của dân tộc, là chỗ dựa tinh thần và vật chất cho người dân Việt Nam hôm nay và mai sau Vì vậy, bảo vệ môi trường và tài nguyên biển là trách nhiệm của toàn xã hội như ựã ựược xác ựịnh trong Chỉ thị 36 CT/TW của Bộ Chắnh trị Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam năm 1998 về ỘTăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện ựại hoá ựất nướcỢ
đối mặt với biển cả
Việt Nam ba mặt giáp biển, người Việt cổ ựã xác lập cho mình một nguồn gốc biển ngay từ trong huyền thoại qua cuộc chia tay giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ Biển cũng ựã gắn bó với người dân Việt từ ngàn ựời, là chỗ dựa sinh kế cho hàng chục triệu người đứng trước biển, bao thế hệ người Việt ựã hình thành thói quen ứng xử rất ựặc trưng: khai hoang lấn biển ựể phát triển nền văn minh nông nghiệp, phần rất nhỏ tiến ra biển kiếm sống bằng nghề ựánh cá ảnh hưởng của lối tư duy nông nghiệp và phong cách nông dân trong cách ứng xử với biển cả nói trên còn mãi cho ựến ngày nay Thậm chắ, theo Phiên An [31] ỘNgay cả khi sống nhờ biển, ngư dân Việt Nam vẫn hướng về nông nghiệp, làng của họ ựược tổ chức ở nơi có nguồn nước ngọt, có ựất ựai mầu mỡ
ựể làm thêm nghề nông Có lẽ, người Việt ựã cố kéo nếp sống của ruộng ựồng ra biển và có thể nhìn thấy ựiều ựó trong tập quán sống của họỢ
Biển còn ẩn chứa nhiều tiềm năng không thể nhìn thấu bằng mắt, biển luôn khắc nghiệt với con người, hoạt ựộng trên biển thường chịu nhiều rủi ro Khai thác biển, vì thế phải là một nghề thực
sự, ựòi hỏi ựầu tư rất lớn, không thể khai thác biển theo lối tư duy giản ựơn và lối làm ăn nhỏ.Môi trường sống của các loài
đến nay, trong vùng biển Việt Nam ựã phát hiện ựược chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái ựiển hình, thuộc 9 vùng ựa dạng sinh học biển khác nhau, trong ựó ba vùng biển: Móng Cái - đồ Sơn, Hải Vân đại Lãnh và đại Lãnh - Vũng Tàu có mức ựa dạng sinh học cao hơn các vùng còn lại Trong tổng loài ựược phát hiện có khoảng 6.000 loài ựộng vật ựáy; 2.038 loài cá, trong ựó trên 100 loài cá kinh tế; 653 loài rong biển; 657 loài ựộng vật phù du;
537 loài thực vật phù du; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 12 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước [4,14] Các hệ sinh thái vùng bờ nước ta có năng suất sinh học cao và quyết ựịnh hầu như toàn bộ năng suất sơ cấp của toàn
Trang 10vùng biển phía ngoài Khoản lợi nhuận thuần có thể thu ñược từ các hệ sinh thái này sơ bộ ước tính là 60 - 80 triệu USD/năm.Trong vùng biển Việt Nam có khoảng 1.122km2 rạn san hô với khoảng 310 loài san hô ñá, phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam, nhưng chỉ 20% còn ở mức tốt và rất tốt Sống gắn bó với các vùng rạn san hô là trên 2.000 loài sinh vật ñáy và cá, trong ñó có khoảng trên 400 loài cá san hô và nhiều ñặc hải sản ðây là các vùng có tiềm năng bảo tồn ña dạng sinh học, du lịch sinh thái, nguồn lợi sinh vật biển và nguồn giống hải sản tự nhiên.
Rừng ngập mặn còn lại khoảng 252.500ha, tập trung ở ven biển ñồng bằng sông Cửu Long
(191.800ha) Sống dưới tán thảm thực vật ngập mặn là khoảng 1.600 loài sinh vật, trong ñó có nhiều thủy ñặc sản chỉ sống gắn bó với rừng ngập mặn Ngoài ra, rừng ngập mặn còn cung cấp các vật liệu hoá phẩm dùng làm thuốc nhuộm, lie làm mũ, sơn ta, bản thân rừng ngập mặn là bức tường tự nhiên bảo vệ bờ biển khỏi xói lở và là bộ lọc tự nhiên các chất ô nhiễm nguồn lục ñịa do sông mang ra
Các thảm cỏ biển phân bố từ Bắc vào Nam và ven các ñảo, ở ñộ sâu từ 0 ñến 20m, tập trung ở ven biển ñảo Phú Quốc, Côn ðảo, Trường Sa và một số cửa sông miền Trung ðây cũng là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao và có ñóng góp quan trọng về mặt cung cấp thức ăn và nguồn giống hải sản cho vùng biển, ñặc biệt ñối với rùa biển, thú biển và cá biển Cứ 1m2 thảm cỏ biển sản sinh ra 10 lít ôxy hoà tan/ngày, cho nên ñây là nơi thuận lợi cho sinh sản, ươm nuôi giống hải sản và là những bãi hải sản quan trọng ven bờ Tổng số loài cư trú trong thảm cỏ biển thường cao hơn vùng biển bên ngoài khoảng 2-8 lần Bản thân cỏ biển là nguyên liệu sử dụng trong ñời sống hàng ngày, như vật liệu bao gói, thảm ñệm, làm phân bón [13, 14]
Do nằm trong ñới chuyển tiếp giữa lục ñịa và biển, nên ba hệ sinh thái nhiệt ñới nêu trên có quan
hệ mật thiết và tương hỗ cho nhau, tạo ra những “dây xích sinh thái” quan trọng trong biển và vùng ven bờ, mà một mắt xích trong số chúng bị tác ñộng sẽ ảnh hưởng ñến các mắt xích còn lại Trên thực tế, ít ai nghĩ rằng việc phá rừng ngập mặn trên vùng triều ven biển lại có ảnh hưởng lớn ñến nguồn lợi sinh vật ở dưới biển sâu hơn Mất các hệ sinh thái này, biển nước ta có nguy cơ
Trang 11sẽ trở thành Ộthuỷ mạcỢ, không còn tôm cá nữa đó cũng là thông ựiệp mà các nhà môi trường và bảo tồn thiên nhiên nước ta ựã ựệ trình Quốc hội vào năm 2000.
đa dạng sinh học biển và các hệ sinh thái nói trên ựã cung cấp nguồn lợi hải sản to lớn cho nền kinh tế: khoảng 4,2 triệu tấn hải sản với khả năng khai thác 1,6 triệu tấn; khoảng 0,058 triệu tấn tôm biển và 0,123 triệu tấn mực Nước ta ựã trở thành một trong những nước xuất khẩu tôm lớn trên thế giới Tôm ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở vịnh Bắc Bộ và biển Tây Nam Bộ, ựồng thời ựã cung cấp các tiền ựề cực kỳ quan trọng, góp phần ựưa nước ta trở thành một quốc gia có tiềm năng phát triển thuỷ sản vững mạnh Thời gian qua, khoảng 80% lượng thủy sản khai thác ựã ựược cung cấp từ vùng biển ven bờ và ựã ựáp ứng khoảng gần 40% lượng prôtêin cho người dân Năm 2002, khai thác ven bờ ựạt khoảng 1.434.800 tấn; ựã góp phần ựưa ngành thủy sản nước ta ựạt mốc kim ngạnh xuất khẩu 2 tỉ USD, ựứng vị trắ thứ ba cả nước [12]
Kho nguyên liệu khoáng và các tiềm năng phát triển khác
Ngoài tài nguyên sinh vật, biển nước ta, cũng như phần ựáy và lòng ựất dưới nó, tiềm chứa một nguồn tài nguyên khoáng to lớn đến nay, hoạt ựộng khai thác dầu khắ ựược duy trì tại 6 mỏ ở thềm lục ựịa phắa Nam Sản lượng dầu thô khai thác ở nước ta tăng hàng năm 30% và ngành dầu khắ nước ta ựã ựạt mốc khai thác 100 triệu tấn dầu thô vào ngày 13-2-2001, tổng sản lượng khai thác năm 2003 ựạt: khoảng 17,6 triệu tấn dầu và hơn 3 tỷ m3 khắ Dọc ven biển ựã phát hiện ựược các sa khoáng khoáng vật nặng của các nguyên tố hiếm quý như titan, ziacôn và xeri, trong ựó sa khoáng Bình Ngọc ựạt trữ lượng 67.679 tấn Sản lượng khai thác inmênit từ các sa khoáng ven biển cả nước là 220.000 tấn/năm và ziacôn 1.500 tấn/năm Cát ven biển làm vật liệu xây dựng phân bố rộng rãi, thường giàu thạch anh, ắt tạp chất, nhưng thuộc loại cát mặn, nên việc sử dụng chúng vẫn có nhiều hạn chế và mang tắnh ựịa phương Gần ựây, ựã phát hiện một
số mỏ cát dưới ựáy biển ở Quảng Ninh và Hải Phòng với trữ lượng chừng trên 100 tỷ tấn Cát thủy tinh nổi tiếng là mỏ Vân Hải (trữ lượng 7 tỷ tấn), Vĩnh Thực (20.000 tấn) và một dải cát thạch anh ngầm dưới ựáy biển Quảng Ninh (gần 9 tỷ tấn)
Việt Nam cũng có lợi thế phát triển du lịch biển: khoảng 126 bãi cát biển ựẹp, trong ựó khoảng
20 bãi cát biển ựạt tiêu chuẩn quốc tế, dài 16km; ựấy là chưa kể ựến hàng trăm bãi biển nhỏ, ựẹp, nằm ven các vụng, vũng tĩnh lặng, ven các ựảo hoang sơ Năm 1994, vịnh Hạ Long ựược công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới; năm 2003 vịnh Nha Trang ựược công nhận là một trong
29 vịnh ựẹp nhất thế giới; 15 khu bảo tồn biển ựang ựược quy hoạch trình Chắnh phủ phê duyệt; hai thành phố ven biển là Huế và Hội An ựược công nhận là Di sản Văn hoá thế giới Ngoài ra, các khu di sản thế giới Di tắch Mỹ Sơn và ựộng Phong Nha ựều nằm ở vùng ven biển Du lịch lặn ựã bắt ựầu phát triển ở Nha Trang dựa trên cơ sở khai thác các giá trị dịch vụ của rạn san hô
Ở Việt Nam , cứ trung bình 20km bờ biển có một cửa sông lớn Các vũng, vịnh ven bờ chiếm khoảng 60% ựường bờ biển, trong ựó có 12 vũng vịnh lớn đó là những tiền ựề quan trọng ựối với phát triển cảng và hàng hải ở nước ta đến nay, Việt Nam có 8 cảng tổng hợp quan trọng thuộc các ựịa bàn: Quảng Ninh, Hải Phòng, Cửa Lò, đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu và Sài Gòn với tổng năng lực bốc xếp trên 10 triệu tấn/năm
Các ựe dọa ựối với môi trường biển
Dân số tăng, nghèo khó và lối sống giản ựơn
Vùng ven biển và các ựảo của Việt Nam là nơi tập trung sôi ựộng các hoạt ựộng phát triển của người dân: trên 50% số ựô thị lớn, gần 60% dân số tắnh theo ựơn vị cấp tỉnh; phần lớn các khu công nghiệp lớn và các khu chế xuất, các vùng nuôi thủy sản, các hoạt ựộng cảng biển - hàng hải
và du lịch sẽ ựược xây dựng ở ựây ựến năm 2010 đi kèm các hoạt ựộng trên là sự gia tăng hiện tượng di dân tự do, tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên và hình thành thói quen tiêu thụ tài nguyên lãng phắ Khoảng cách giàu nghèo giữa các cộng ựồng nông thôn ven biển vẫn ngày một tăng So với cả nước, 14% cộng ựồng dân cư các huyện ven biển (khoảng 1,8 triệu dân, 208
Trang 12xã) vẫn ở mức nghèo ựói và 6% thiếu thốn cơ sở hạ tầng cơ bản ở mức cộng ựồng [13] Tỷ lệ nghèo ựói cao sẽ rất khó cho việc ựầu tư phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện ựại hoá.
Cơ cấu dân cư gồm nhiều nguồn, ựến từ tứ xứ, thậm chắ có bộ phận dân cư ngoài ựất Việt tới Bên cạnh tắnh phức tạp về nguồn gốc, do phải ựối mặt hàng ngày với tắnh khốc liệt của biển cả, sống với sóng nước, cột chặt cuộc ựời với con thuyền, nên tư duy của người vạn chài hết sức giản ựơn; hình thành trong các cộng ựồng này một lối sống, văn hoá, phong tục, tập quán sinh hoạt riêng điều ựó cũng giúp hình thành trong họ một bản lĩnh vững vàng, tắnh cạnh tranh cao trong cuộc sống, chấp nhận rủi ro và xem sản vật ựánh bắt ựược như là quà tặng của biển trời
Cơ sở hạ tầng phát triển văn hoá - xã hội (ựiện, ựường, trường, trạm, ) ở vùng ven biển còn thấp Một bộ phận Ộdân thuỷ diệnỢ tập trung thành các làng cá nổi, chuyên sống bằng nghề nuôi trồng, ựánh bắt và dịch vụ thủy hải sản, trên các vùng nước ven bờ như ựầm, phá, vũng, vịnh kắn Trên phá Tam Giang (tỉnh Thừa Thiên - Huế) có gần 10.000 Ộdân thuỷ diệnỢ, còn ở ngay vùng lõi của khu Di sản Thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long có cả ba làng cá nổi với hơn 500 hộ gia ựình Chất thải sinh hoạt và lượng thức ăn dư thừa trong nuôi trồng thuỷ sản lồng bè từ các làng nổi như vậy cũng tác ựộng ựến môi trường chung quanh
Tập quán và phong tục sống của cư dân ven biển nói chung và ngư dân nói riêng ựến nay còn lạc hậu, học vấn thấp do không có ựiều kiện học tập thuận lợi (ựa phần con em ngư dân chỉ học hết tiểu học) Ngư dân nói chung, trong lối sống của họ không có thói quen tắch luỹ, cứ hết con nước này thì trông vào con nước khác, ựến khi nhận ra rằng thiên nhiên không còn hào phóng như xưa, thì mọi chuyện ựã quá muộn màng Nhận thức về môi trường và tài nguyên biển của ựại bộ phận dân cư ở ựây vẫn còn thấp kém
Thể chế và chắnh sách còn bất cập
Biển và vùng bờ có nhiều cơ quan quản lý khác nhau, nhưng vẫn còn chồng chéo về chức năng
và nhiệm vụ, trong khi có những mảng trống bị bỏ ngỏ không ai có trách nhiệm giải quyết Mãi ựến cuối năm 2003, vấn ựề này mới ựược làm sáng rõ hơn qua quyết ựịnh của Chắnh phủ giao việc quản lý các khu bảo tồn biển cho Bộ Thuỷ sản, ựất ngập nước cho Bộ Tài nguyên và Môi trường và rừng cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tuy nhiên vẫn thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, cơ quan khoa học và các tổ chức phi chắnh phủ (NGO) trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển Sự tham gia của cộng ựồng ựịa phương vào tiến trình quản lý còn rất thụ ựộng và chưa thường xuyên thực hiện tốt nguyên tắc Ộdân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm traỢ Vấn ựề sở hữu ựất và mặt nước ở vùng bờ chưa rõ Luật Thuỷ sản mới ban hành tháng 11-2003 và phải một thời gian nữa mới phát huy hiệu lực Tình hình thực thi pháp luật trên biển và ở vùng ven bờ nước ta còn yếu Chắnh sách quản lý môi trường biển còn chưa ựồng bộ và
có hệ thống, phạm vi ựiều chỉnh của các chắnh sách ựôi khi chưa rõ ràng, chưa sát với thuộc tắnh của ựối tượng quản lý Mâu thuẫn lợi ắch trong việc sử dụng ựa ngành, ựa mục tiêu tài nguyên biển và vùng ven bờ không những không giảm, mà còn có chiều hướng gia tăng
Ngày càng nhiều chất thải ựổ ra biển
Các chất thải không qua xử lý từ các lưu vực và vùng ven biển ựược ựưa ra biển ngày càng nhiều, làm cho nhiều vùng biển ven bờ có nguy cơ bị thiếu ôxy trên diện rộng, khiến cho một số loài sinh vật biển bị ựe dọa Hàng năm, trên 100 con sông cần cù tải ra biển khoảng 880km3 nước,
270 - 300 triệu tấn phù sa, kéo theo nhiều chất có thể gây ô nhiễm biển, như các chất hữu cơ, dinh dưỡng, kim loại nặng và nhiều chất ựộc hại khác từ các khu dân cư tập trung, từ các khu công nghiệp và ựô thị, từ các khu nuôi trồng thuỷ sản ven biển và từ các vùng sản xuất nông nghiệp đến năm 2010, dự tắnh chất thải sẽ tăng rất lớn ở vùng nước ven bờ, trong ựó dầu
khoảng 35.160 tấn/ngày, nitơ tổng số 26 - 52 tấn/ngày và tổng amôni 15 - 30 tấn/ngày [4, 26]
Gần ựây, do sự tăng nhanh về số lượng tàu thuyền gắn máy loại nhỏ, công suất thấp, cũ kỹ và lạc hậu, không trang bị các máy phân ly dầu - nước, cho nên khả năng thải dầu vào môi trường biển nhiều hơn Các tàu nhỏ chạy bằng xăng dầu ựã ựóng góp khoảng 70% lượng dầu thải trong biển Ngoài ra, hoạt ựộng tàu thương mại qua tuyến hàng hải quốc tế cắt qua Biển đông cũng thải vào biển một lượng lớn dầu rò rỉ, dầu thải và chất thải sinh hoạt mà ựến nay chưa thể thống
Trang 13kê ựầy ựủ Sự cố tràn dầu cũng ựã xảy ra, từ năm 1994 - 2002 ựã xác ựịnh ựược trên 40 vụ tràn dầu với số lượng dầu tràn trên 4.000 tấn đầu năm 2003 có 2 vụ tràn dầu ở khu vực sông Sài Gòn và Vũng Tàu, gây thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường, nhất là các vùng nuôi trồng thủy sản Hiện nay, ở vùng biển nước ta có khoảng 340 giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khắ Ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn, trung bình mỗi năm hoạt ựộng này còn phát sinh khoảng 5.600 tấn rác thải dầu khắ, trong ựó có 20 - 30% là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãi chứa và nơi xử lý [4, 12, 26].
Môi trường biển bị ô nhiễm và suy thoái
Báo cáo Hiện trạng môi trường năm 2003 trình Quốc hội [4, 26] ựã chỉ ra rằng chất lượng môi trường biển và vùng ven bờ tiếp tục bị suy giảm Trầm tắch biển ven bờ là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật ựáy ựặc sản, nhưng chất lượng của nó cũng thay ựổi Các ựợt nắng nóng kéo dài trong các năm gần ựây, ựặc biệt trong các năm 2002 - 2003 ựã khiến cho nhiệt ựộ nước biển trong mùa hè (tháng 5 và 8) cao hơn nhiều mức thông thường Nước biển ấm lên làm thay ựổi ựiều kiện sinh thái biển và dẫn ựến san hô bị chết trắng ở nhiều vùng biển trong cả nước Một số vùng biển ven bờ bị ựục hoá, tăng hàm lượng phù sa lơ lửng và không chỉ ảnh hưởng ựến mỹ cảm của khách du lịch, mà còn làm giảm khả năng quang hợp của một số sinh vật biển và làm suy giảm nguồn giống hải sản tự nhiên Hàm lượng dầu trong nước biển ở tất cả các khu vực biến ựổi trong khoảng 0,14 - 1,10mg/l, còn trong trầm tắch biến ựổi trong khoảng 0,11 - 752,85ppm Khu vực Cửa Lục (Quảng Ninh) hàm lượng dầu trong trầm tắch cao nhất
Nước biển ở một số khu vực có biểu hiện bị Ộaxắt hoáỢ do ựộ pH trong nước biển tầng mặt biến ựổi trong khoảng 6,3 - 8,2 Hàm lượng trung bình nitrát (NO3) trong nước biển thuộc các khu vực phắa Bắc và Nam cao hơn giá trị cho phép 2 - 4 lần, nhất là vào mùa mưa lũ Hàm lượng amoniắc (NH3-N) cao nhất ở vùng cửa Ba Lạt (0,695mg/l), vượt quá giới hạn cho phép Tuy nồng ựộ phốt phát (PO4-P) trong nước biển ven bờ và ngoài khơi tương ựối nhỏ, nhưng ở Cửa Lục, đồ Sơn, Cồn
Cỏ, đà Nẵng, Dung Quất, Phan Thiết, định An, vào một số thời ựiểm quan trắc, cũng ựã vượt quá giới hạn quy ựịnh Vùng biển từ Nha Trang ựến Rạch Giá thường xuyên có chỉ số khuẩn côli cao hơn giới hạn cho phép 1 - 9,2 lần Trong nước biển ở khu vực miền Bắc và miền Trung hàm lượng xianua tuy còn tương ựối nhỏ (0,56 - 9,00mg/l) và chưa vượt quá giới hạn cho phép nhưng cũng cần phải cảnh báo Trong nước biển khu vực miền Bắc hàm lượng kẽm (Zn) khoảng 4,80-13,31mg/l, tại khu vực miền Trung và miền Nam, trị số này biến ựổi trong khoảng 9,86 -
38,70mg/l, cao nhất ở khu vực Rạch Giá và định An Trong trầm tắch khu vực biển miền Bắc hàm lượng Zn vào khoảng 63,32 - 162,48 ppm Các kim loại khác trong nước biển ven bờ còn khá thấp so với Tiêu chuẩn Việt Nam, như: hàm lượng ựồng (Cu), khoảng 1,00 - 8,42mg/l; chì (Pb), 1,50 - 7,74mg/l; cadimi (Cd) 0,16 - 3,49mg/l; asen (As) 0,20 - 4,00mg/l Trong trầm tắch biển ven bờ, Cu biến ựổi trong khoảng 14,48 - 44,57ppm ở khu vực biển phắa Bắc, trong khoảng 1,94-65,35ppm ở khu vực biển miền Trung và 2,46 - 15,48ppm ở khu vực biển phắa Nam Hàm lượng
Pb có giá trị cao nhất tại vùng biển Ba Lạt (51,29ppm) và Dung Quất (40,10ppm) Hàm lượng Cd trong trầm tắch biến ựổi trong khoảng 0,57-1,68 ppm ở khu vực biển phắa Bắc, trong khoảng 0,35
- 1,26ppm trong vùng biển miền Trung và từ dạng vết ựến 0,15ppm ở vùng biển phắa Nam Trầm tắch vùng biển đồ Sơn có hàm lượng Cd cao nhất (ựạt 1,68ppm) Hàm lượng As và Hg trong trầm tắch còn thấp so với tiêu chuẩn cho phép
Hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật gốc clo trong nước biển còn thấp so với giới hạn cho phép của Tiêu chuẩn Việt Nam Lượng hoá chất bảo vệ thực vật tồn lưu trong cơ thể các loài thân mềm hai mảnh vỏ ựược xác ựịnh tại Sầm Sơn và cửa Ba Lạt, 11,14 - 11,83mg/kg thịt ngao, thấp nhất tại Trà Cổ, 1,54 mg/kg Các chất lindan có hàm lượng thấp nhất (từ dạng vết tới 1,69mg/kg), thấp hơn so với giới hạn cho phép Các chất aldrin, endrin, diedrin, ựặc biệt là aldrin và endrin có ở hầu hết các mẫu phân tắch và luôn vượt quá giới hạn cho phép, biến ựổi từ 0,12 ựến 3,11mg/kg Như vậy, mặc dù trong nước biển hàm lượng hoá chất bảo vệ thực vật còn thấp dưới giới hạn cho phép, nhưng các loài sinh vật thân mềm này ựã sử dụng cơ chế lọc nước khi ăn, nên ựã tăng hệ
số tắch luỹ trong cơ thể
Ở nước ta, hiện tượng thủy triều ựỏ xuất hiện từ tháng 6 ựến trung tuần tháng 7 âm lịch tại vùng biển Nam Trung Bộ, ựặc biệt là tại Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận Người dân ựịa phương ở
Trang 14ựây gọi là Ộmùa bột bángỢ Năm 2002, thuỷ triều ựỏ xuất hiện khá nhiều ở Nam Trung Bộ: hơn 30km bãi biển từ Cà Ná ựến Long Hương nhầy nhụa những bột báng mầu xám ựen dầy cả tấc, trộn với xác chết của sinh vật tạo nên mùi hôi thối tanh tưởi Khối nhầy trong suốt bao quanh một số loài vi tảo biển là nguyên nhân làm cho nước biển ựặc quánh như cháo Thiệt hại gây ra
do bột báng rất lớn: nhiều chủ ngư trại tôm và cá mú trắng tay do tất cả các sản phẩm trong ao ựều chết hết; các rạn san hô ven bờ bị chết trắng; xác sinh vật biển chết bị vật lên bờ cả ựống Năm 2003, hiện tượng thuỷ triều ựỏ ở vùng biển Ninh Thuận, hiện tượng bùng nở tảo ở Nha Trang và đà Nẵng vẫn tiếp tục ựược ghi nhận
Nơi sống của các loài bị phá hủy
Dưới sức ép của các hoạt ựộng phát triển của con người, diện
tắch rừng ngập mặn ngày càng bị thu hẹp, môi trường rừng
bị suy thoái và nguồn lợi thủy sản ven biển bị cạn kiệt Tốc
ựộ mất rừng ngập mặn do các hoạt ựộng sản xuất trong giai
ựoạn 1985 - 2000 ước khoảng 15.000ha/năm Do mất rừng
ngập mặn, năng suất tôm nuôi quảng canh bị giảm sút, từ
200 - 250kg/ha.vụ (năm 1980) ựến nay chỉ còn 70 -
80kg/ha.vụ Theo ước tắnh, trước ựây cứ 1 ha rừng ngập mặn
có thể khai thác ựược 700 - 1.000kg thủy sản, nhưng hiện
nay chỉ thu ựược 1/20 so với trước Rạn san hô ựang bị khai
thác quá mức bằng các phương tiện mang tắnh hủy diệt như
ựánh mìn, sử dụng hoá chất ựộc ựể ựánh bắt hải sản sống trong rạn, khai thác san hô làm vôi và
ựồ vật lưu niệm khiến cho rạn bị suy thoái nghiêm trọng Viện Tài nguyên thế giới (2000, 2002)
ựã cảnh báo bức tranh ảm ựạm của san hô biển Việt Nam : 80% rạn san hô nằm trong tình trạng rủi ro, trong ựó 50% ở tình trạng rủi ro cao Tình trạng trên cũng diễn ra tương tự với hệ sinh thái thảm cỏ biển
Chất lượng môi trường biển thay ựổi, các nơi cư trú tự nhiên của loài bị phá hủy cũng ựã gây ra tổn thất lớn về ựa dạng sinh học vùng bờ: ựã có khoảng 85 loài hải sản có mức ựộ nguy cấp khác nhau và trên 70 loài ựã ựược ựưa vào Sách đỏ Việt Nam Nguồn lợi hải sản ở vùng biển gần bờ có dấu hiệu bị khai thác quá mức Hiệu suất khai thác hải sản giảm từ 0,92 xuống 0,48 tấn/CV.năm
Tỷ lệ cá tạp trong một mẻ lưới ngày càng tăng Nguồn lợi hải sản có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng và kắch thước cá ựánh bắt: trong vòng 10 năm (1984 - 1994) ựã giảm tới trên 30% trữ lượng cá ựáy Ngoài ra, nguồn giống hải sản tự nhiên cũng giảm sút nghiêm trọng so với trước ựây
Hướng tới phát triển bền vững biển
Các nỗ lực chắnh trong quản lý biển
Chắnh phủ, các ngành và các ựịa phương ựã có những nỗ lực quản lý biển và vùng bờ, ựặc biệt từ sau khi có Luật Bảo vệ môi trường (1993) Uỷ ban Nhà nước về biển và hải ựảo ựã ựược thành lập
ở cấp trung ương và một số ựịa phương Các chắnh sách và luật pháp về quản lý tài nguyên và môi trường nói chung và biển nói riêng ựã ựược ban hành ngày càng nhiều, trong ựó quan trọng
là các Luật: Bảo vệ môi trường, Khoáng sản, đất ựai, Dầu khắ, Hàng hải, Tài nguyên nước, Thủy sản Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia giai ựoạn 2001-2010, Chiến lược Bảo tồn và quản lý ựất ngập nước quốc gia, cũng như các kế hoạch hành ựộng quốc gia về môi trường, về bảo tồn ựa dạng sinh học và ứng cứu sự cố tràn dầu ựã ựược Chắnh phủ thông qua đặc biệt là Chỉ thị 36 CT/TW (1998) ựã chỉ ra những quan ựiểm lớn của đảng và Nhà nước về công tác bảo vệ môi trường biển Dự thảo Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam ựã ựề cập ựến môi trường biển, vùng
bờ và nghề cá Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường ựang chỉ ựạo việc dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa ựổi; còn Bộ Thủy sản ựã và ựang chuẩn bị Chiến lược Bảo vệ môi trường ngành thuỷ sản ựến năm 2010, Chiến lược Khai thác hải sản ựến năm 2020 và Kế hoạch Hành ựộng bảo tồn
Trang 15rùa biển Việt Nam ựến 2010 Bộ Thủy sản ựược giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về các khu bảo tồn biển theo tinh thần của Nghị ựịnh 43 Nđ/CP ký tháng 5-2003 Bộ này ựang tiến hành soạn thảo Quy chế quản lý các khu bảo tồn biển Việt Nam ựể trình Chắnh phủ ban hành vào cuối năm 2004.
Thời gian qua, ựể có căn cứ hoạch ựịnh chắnh sách, nhiều hoạt ựộng ựiều tra nghiên cứu môi trường và tài nguyên biển ựã ựược tiến hành thông qua các chương trình ựiều tra nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp ngành, tỉnh và hợp tác quốc tế Từ năm 1995, hệ thống quan trắc môi trường biển quốc gia và ở một số ựịa phương ven biển ựã ựược thiết lập và ựưa vào hoạt ựộng Công cụ ựánh giá tác ựộng môi trường ựối với các dự án phát triển riêng lẻ ở vùng bờ cũng ựã ựược áp dụng.Vai trò của cộng ựồng trong quản lý tài nguyên và môi trường biển và ven biển ựược xác nhận và người dân bước ựầu ựược lôi cuốn vào tiến trình quản lý Rải rác cũng ựã có một số mô hình quản
lý dựa vào cộng ựồng, hoặc tự quản của nhân dân ựịa phương thành công bước ựầu như Khu Bảo tồn biển Rạn Trào và một vài khu rừng ngập mặn ở Khánh Hoà, Hải Phòng; bảo tồn rùa ở Ninh Thuận đóng góp của các tổ chức quần chúng - xã hội như Hội Liên hiệp Phụ nữ, đoàn Thanh niên, Thiếu niên, các hội nghề nghiệp ựã bước ựầu phát huy tác dụng thông qua phong trào Ộvì biển xanh quê hươngỢ Công tác giáo dục và ựào tạo môi trường biển ựã ựược triển khai trong cộng ựồng và trong các bậc học
Về hợp tác quốc tế, Việt Nam ựã ký và tham gia nhiều công ước quốc tế có liên quan ựến quản lý môi trường và tài nguyên biển như: Công ước RAMSAR, Công ước Luật biển, Công ước MARPOL, Công ước Di sản, Công ước đa dạng sinh học và Bộ Quy tắc ứng xử nghề cá trách nhiệm và Quy tắc ứng xử ở Biển đông (DOC)
Mục tiêu chủ yếu Quản lý biển và vùng bờ hiệu quả phải dựa trên cơ sở tiếp cận hệ thống, ựa ngành và tiếp cận hệ sinh thái, phải cân nhắc tắnh hữu hạn của các hệ thống tự nhiên ở vùng bờ và nhu cầu phát triển của các ngành khác nhau ở ựây Từ góc n hìn ựó, có thể hiểu phát triển bền vững biển và vùng bờ nước
ta theo mấy khắa cạnh cụ thể sau:
- Duy trì chất lượng môi trường và bảo toàn chức năng của các hệ sinh thái biển và vùng ven bờ;
- Phát triển một nền kinh tế biển hiệu quả, bảo ựảm lợi ắch lâu dài;
- Bảo ựảm quyền lợi của cộng ựồng dân cư ven biển, góp phần xoá ựói, giảm nghèo cho người dân, cân bằng hưởng dụng nguồn lợi giữa các thế hệ;
- Chấp nhận phát triển ựa ngành ở vùng bờ, tối ưu hoá việc sử dụng ựa mục tiêu các hệ thống tài nguyên vùng biển, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ắch trong sử dụng tài nguyên biển và ven bờ
Ớ Nâng cao nhận thức cộng ựồng, lôi cuốn cộng ựồng tham gia vào sử dụng và quản lý hiệu quả tài nguyên biển và bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái vùng ven biển;
Ớ Tăng cường thể chế và chắnh sách quản lý hiệu quả và bền vững theo cách tiếp cận liên ngành Lồng ghép các cân nhắc về môi trường vào các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội biển
và vùng bờ;
Trang 16Ớ Vì ỘTrăm sông ựổ về biển cảỢ cho nên phần lớn các nguồn gây tác ựộng ựến môi trường biển lại xuất phát từ bên ngoài vùng biển quản lý Cho nên, quản lý biển hiệu quả phải gắn chặt với quản lý lưu vực sông ven biển, trước hết là các lưu vực sông lớn có ảnh hưởng quan trọng ựến môi trường biển.
Khuyến nghị chắnh
Các chắnh sách quan trọng và những hoạt ựộng cần thiết ựể ựảm bảo phát triển kinh tế biển và ven biển bền vững ở Việt Nam là:
triển kinh tế biển theo ngành, vùng và lồng ghép các cân nhắc môi trường vào từng bước của quá trình quy hoạch;
Ớ Tăng cường chắnh sách hỗ trợ và cải thiện sinh kế các cộng ựồng dân cư nghèo; hoàn thiện chắnh sách phân cấp, giao quyền sử dụng, khai thác và quản lý tài nguyên biển và ven biển, trước hết là nguồn lợi thủy sản ven bờ;
Ớ Xây dựng và hoàn thiện, tiến tới ban hành một bộ luật về các vấn ựề biển và vùng bờ Việt Nam, nhằm bảo ựảm tắnh ựồng bộ, loại bỏ sự chồng chéo và tăng cường cơ chế phối hợp giữa các ngành liên quan;
Ớ Thực hiện kế hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ biển dựa trên cơ sở các chắnh sách liên ngành, ựiều chỉnh và kết nối các hoạt ựộng phát triển của các ngành trên biển và vùng ven bờ;
Ớ Quản lý tài nguyên biển có sự tham gia của cộng ựồng, tiến tới ựồng quản lý, gắn liền với nâng cao nhận thức về biển và vùng bờ cho cộng ựồng;
Ớ Thiết lập và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn và các khu dự trữ biển trong khuôn khổ quản lý tổng hợp vùng bờ Phấn ựấu ựến năm 2012 khoảng 7-10% diện tắch vùng biển ựược quản
lý và bảo tồn hiệu quả theo Cam kết Johanesburg;
Ớ Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về môi trường và tài nguyên biển - ven biển trên
cơ sở thiết lập một thiết chế tổ chức liên ngành;
Ớ Hạn chế việc mở rộng nuôi quảng canh thủy sản ven biển, khuyến khắch nuôi thâm canh, nuôi trên biển và triển khai các tiến bộ kỹ thuật tiến bộ ựể tăng năng suất nuôi trồng, giảm thiểu
ô nhiễm biển ven bờ;
Ớ Xây dựng và áp dụng có hiệu quả các tiêu chuẩn môi trường theo ngành và các chỉ số phát triển bền vững vùng bờ;
Ớ Tăng cường năng lực và ựưa vào hoạt ựộng có hiệu quả Trung tâm Ứng cứu sự cố tràn dầu quốc gia;
Ớ Thực hiện có hiệu quả Luật Bảo vệmôi tường, Luật Thủy sản và các luật pháp trong nướng
và quốc tế có liên quan ựến biển
Thế kỷ XXI là kỷ nguyên của biển và ựại dương, biển sẽ là cứu tinh của cả thế giới, vì biển là nơi
dự trữ cuối cùng của loài người về lương thực, thực phẩm và nguyên, nhiên liệu đầu tư bao nhiêu cho biển ựể ựạt ựuợc hiệu quả, bảo ựảm cân bằng giữa kinh tế - xã hội - môi trường là việc của các nhà hoạch ựịnh chiến lược phát triển Song chúng ta ựã từng giữ gìn từng ngọn cây, tấc ựất trên ựất liền thì cung phải ựối xử với biển như vậy đừng ựể kẻ ựốn dăm ba cây rừng thì
bị phạt tù, còn người phá tan hoang lòng biển không bị bắt tội
Nhận diện "Việt Nam biển" cung chắnh là bắt ựầu một cách nhìn mới và ựầy ựủ về chân dung kinh
tế Việt Nam - một Việt Nam mang sóng biển đông hòa vào bể lớn của thương trường quốc tế theo cách tiếp cận phát triển bền vững
Trang 17Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của ựất nước
Rừng là nguồn tài nguyên sinh vật quý giá nhất của ựất nước ta Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, mà còn giữ nhiều chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng Trước ựây, ựất nước Việt Nam có ựộ che phủ rừng khá cao, nhưng chỉ mới mấy thập kỷ qua, rừng ựã bị suy thoái nặng nề Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều vùng ựất rộng lớn ở phắa Nam ựã bị khai phá ựể trồng
cà phê, cao su, chè và một số cây công nghiệp khác Vào khoảng giữa thế kỷ XX, hầu như các khu rừng thuộc châu thổ sông Hồng, một phần lớn châu thổ sông Cửu Long, cùng với các khu rừng trên ựất thấp ven biển miền Trung ựã bị khai phá ựể trồng trọt và xây dựng xóm làng Vào lúc này, ựộ che phủ của rừng còn lại vào khoảng 43 % diện tắch ựất tự nhiên
Suy thoái rừng là vấn ựề ựáng lo ngại
Ba mươi năm chiến tranh tiếp theo là giai ựoạn mà rừng Việt nam bị thu hẹp lại khá nhanh Hơn 80 triệu lắt chất diệt cỏ cùng 13 triệu tấn bom ựạn, với khoảng 25 triệu hố bom ựạn, bom cháy cùng với ựội xe ủi ựất khổng lồ ựã tiêu hủy hơn 2 triệu ha rừng nhiệt ựới các loại Trong những năm sau chiến tranh, ựể ựáp ứng nhu cầu của số dân ngày càng tăng, ựể hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng nền kinh tế còn yếu của mình, nhân dân Việt Nam phải tiếp tục khai thác một cách mạnh mẽ diện tắch rừng còn lại Số liệu thu ựược nhờ phân tắch ảnh Landsat chụp năm 1979-1981 và KATE 140 trong cùng thời gian, cho thấy trong giai ựoạn này rừng chỉ còn lại 7,8 triệu ha, chiếm khoảng 24% diện tắch cả nước (Viện điều tra và Quy hoạch rừng), trong ựó khoảng 10% là rừng nguyên sinh ở nhiều tỉnh, tỷ lệ rừng tự nhiên giàu còn lại rất thấp, như Lai Châu còn 7,88%; Sơn La, 11,95%; và Lào Cai, 5,38% Sự suy giảm về ựộ che phủ rừng ở các vùng này là do mức tăng dân
số cao ựã tạo nhu cầu lớn về lâm sản và ựất trồng trọt Kết quả ựã dẫn tới việc biến nhiều vùng rừng thành ựất hoang cằn cỗi Những khu rừng còn lại ở vùng núi phắa Bắc ựã xuống cấp, trữ lượng gỗ thấp và bị chia cắt thành những ựám rừng nhỏ phân tán
Theo kết quả của Viện điều tra và Quy hoạ ch rừng (1995) thì trong thời gian 20 năm, từ năm
1975 ựến năm 1995, diện tắch rừng tự nhiên giảm 2,8 triệu ha đặc biệt nghiêm trọng ở một số vùng như Tây Nguyên mất 440.000ha, vùng đông Nam Bộ mất 308.000ha, vùng Bắc Khu IV cũ mất 243.000ha, vùng Bắc Bộ mất 242.500ha Nguyên nhân là do sau thời kỳ chiến tranh, dân ựịa phương tranh thủ chặt gỗ làm nhà và lấy ựất trồng trọt
Tuy có ựược hạn chế, nhưng tình trạng mất rừng và khai thác gỗ trái phép vẫn còn tiếp diễn cho ựến ngày nay Các vụ phá rừng ở Tánh Linh, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Nghệ An, Bắc Giang, Vườn quốc gia Phú Quốc và Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, ựã chứng minh sự buông lỏng quản lý của các cơ quan có trách nhiệm, ựặc biệt là các cơ quan cấp phép và quản lý khai thác Theo số liệu thống kê chưa ựầy ựủ, sáu tháng ựầu năm 2003, cả nước ựã xảy ra khoảng 15 nghìn vụ vi phạm lâm luật, hàng chục vụ kiểm lâm viên bị lâm tặc tấn công Do giá trị mang lại từ lâm sản lớn, cho nên bọn lâm tặc không từ một thủ ựoạn nào ựể ựối phó, hành hung người thi hành công
vụ (Báo Nhân dân, 14-12-2003)
Thật khó mà ước tắnh ựược tổn thất về rừng và lâm sản hàng năm ở Việt Nam Theo tài liệu thống kê, năm 1991 có 20.257ha rừng bị phá, năm 1995 giảm xuống còn 18.914ha và năm 2000
là 3.542ha Tuy nhiên theo Báo cáo Hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000 thì có thể ước tắnh
Trang 18rằng tỷ lệ mất rừng hiện nay vào khoảng 120.000 ựến 150.000ha/năm và rừng trồng hàng năm khoảng 200.000ha và mục tiêu là trồng càng nhanh càng tốt ựể ựạt 300.000ha/năm.
Trong giai ựoạn từ 1990 ựến nay, chiều hướng biến ựộng rừng cơ bản vẫn ở tình trạng suy thoái, còn xa mức ổn ựịnh và ựạt ựược mức cần thiết ựể bảo vệ môi trường Tuy một số diện tắch rừng thứ sinh tự nhiên có ựược phục hồi, nhưng nhiều diện tắch rừng già và rừng trồng chưa ựến tuổi thành thục ựã bị xâm hại, ựốn chặt, Ộkhai hoangỢ Từ năm 1999 ựến nay, cháy rừng ựã ựược hạn chế mạnh mẽ và việc khai thác gỗ trái phép ựã kiểm soát ựược một phần, nhưng tình trạng mất rừng vẫn ở mức ựộ nghiêm trọng Rừng phòng hộ ựầu nguồn trên lưu vực những con sông lớn ở nước ta vẫn ựang bị phá hoại Diện tắch rừng trồng có tăng lên hàng năm, nhưng với số lượng rất khiêm tốn và phần lớn rừng ựược trồng lại với mục ựắch kinh tế, sản xuất cây lấy gỗ ngắn ngày, cây mọc nhanh mà chưa ưu tiên trồng rừng tại các khu vực ựầu nguồn
Tổn thất kinh tế - xã hội vì mất rừng là rất lớn
Sự mất mát và suy giảm rừng là không thể bù ựắp ựược và ựã gây ra nhiều tổn thất lớn về kinh
tế, về công ăn việc làm và cả về phát triển xã hội một cách lâu dài Các trận lụt rất lớn trong những năm gần ựây ở hầu khắp các vùng của ựất nước, từ Bắc chắ Nam, từ miền núi ựến miền ựồng bằng ựã gây ra nhiều tổn thất nặng nề về tắnh mạng, mùa màng, nhà cửa, ruộng vườn, ựường sá, một phần quan trọng cũng do sự suy thoái rừng, nhất là rừng ựầu nguồn bị tàn phá quá nhiều Trận lũ lớn xảy ra vào cuối tháng 10 năm 2003 tại các tỉnh miền Trung: Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình định, Phú Yên ựã cướp ựi sinh mạng của 52 người, hàng nghìn gia ựình không còn nhà cửa, hàng chục nghìn ha lúa và hoa màu bị thiệt hại, ước tắnh hơn 260 tỷ ựồng (Báo Lao ựộng, Vietnam News, 10-2003, UNDP 13-11-2003) Trận lũ tiếp theo tại các tỉnh từ Bình định ựến Ninh Thuận vào giữa tháng 11 năm 2003 gây thiệt hại còn nặng nề hơn trận lũ trước (VTV1, ngày 13-11-2003)
Trong những năm qua, hạn hán xảy ra ở nhiều nơi Theo một số người là do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, nhưng cũng cần nói thêm rằng là các hoạt ựộng phát triển kinh tế thiếu cân nhắc
ựã phá huỷ nhiều hệ sinh thái rừng, nhất là rừng ựầu nguồn ựã làm cho hậu quả của thiên tai này tăng thêm bội phần
Khung IV.1 Hạn hán ở Tây Nguyên
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (4-2003), đắk Lắk bị thiệt hại nhiều nhất, 250.000
hộ dân ở ựây ựang lâm vào cảnh ựói và rất cần sự hỗ trợ 62.000 hộ khác ựang ngóng trời cầu mưa và hơn hai tháng nay họ phải ựi vài cây số mới lấy ựược một hai bình nước Về nông nghiệp, 5.790ha lúa đông Xuân, 40.440ha cà phê, 1.420ha rau màu tập trung ở các huyện Krông Pắk, Krông Buk, Krông Năng, Ea Kar, ựang bị cạn kiệt nguồn nước tưới tiêu Tỉnh ựã chi khoảng 40
tỷ ựồng và nhân dân ựầu tư 35 tỷ ựồng cho công tác chống hạn, tuy nhiên vẫn ựành chấp nhận
ựể nhiều diện tắch lúa và cà phê bị mất trắng
Tỉnh Gia Lai dù ựã trắch ngân sách 800 triệu ựồng cho công tác chống hạn, nhưng hiện vẫn có 37.000 người thiếu lương thực, hơn 4.000 hộ dân với 21.420 nhân khẩu tập trung ở các huyện phắa đông Trường Sơn bị khan hiếm nguồn nước sinh hoạt 998ha lúa đông Xuân, 1.170 ha cà phê, 740ha ngô cũng ựang bị nứt nẻ, héo rũ
Tại Kon Tum hiện có 32.500 người thiếu ăn, 2.800 hộ dân với 11.520 người tập trung ở huyện Ngọc Hồi, Kon Rẫy, đắk Tô, Sa Thầy, thị xã Kon Tum bị thiếu nước sinh hoạt 360ha lúa đông Xuân, 59ha cà phê, 50ha mắa cũng trong cảnh khát nước Kon Tum ựã trắch 100 triệu ựồng từ ngân sách của tỉnh ựể mua 5 máy bơm và nhiên liệu phục vụ cho việc bơm nước tưới tiêu
Nguồn: Vietnam Express, ngày 19-4-2003
Nhận thức ựược việc mất rừng là tổn thất nghiêm trọng ựang ựe dọa sức sinh sản lâu dài của nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo, nhân dân Việt Nam ựang thực hiện một chương trình rộng lớn nhằm xanh hóa những vùng ựất bị tổn thất do chiến tranh và sửa chữa những sai lầm trong
Trang 19sử dụng không hợp lý tài nguyên thiên nhiên trong những năm qua Mục tiêu là ựến năm 2010 sẽ phủ xanh ựược 43% diện tắch cả nước, với hy vọng phục hồi lại sự cân bằng sinh thái ở Việt Nam , bảo tồn ựa dạng sinh học và góp phần vào việc làm chậm quá trình nóng lên toàn cầu.
Trong những năm qua, Chắnh phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và chắnh quyền các ựịa phương ựã quan tâm nhiều hơn ựến vấn ựề bảo vệ rừng và trồng rừng Diện tắch rừng bị phá
có giảm so với những năm trước, việc trồng rừng tăng nhanh hơn Tuy nhiên việc trồng rừng hiện nay mới chú ý ựến việc trồng thuần một loại cây, trồng các loài cây nhập nội, mà ắt chú ý tạo những loại rừng hỗn giao với các loài cây bản ựịa, có giá trị kinh tế cao, phù hợp với ựiều kiện ựất ựai và khắ hậu ựịa phương
Các chắnh sách hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển rừng như Quy ựịnh về giao ựất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia ựình, cá nhân sử dụng ổn ựịnh lâu dài vào mục ựắch lâm nghiệp (Nghị ựịnh số 02/CP), Quy ựịnh về việc khoán bảo vệ rừng và phát triển rừng (Quyết ựịnh 202/TTg), Chỉ thị của Chắnh phủ về việc tăng cường quản lý bảo vệ rừng (Chỉ thị 286/TTg) ựã ựược quần chúng hoan nghênh và thực hiện
Công tác trồng rừng và bảo vệ rừng ựã ựược thúc ựẩy khá mạnh mẽ trong những năm qua Theo tài liệu thống kê, từ năm 1990 ựến
1999, chúng ta ựã trồng thành rừng trung bình ựạt khoảng 86.600ha/năm Từ năm 2000 ựến nay kết quả trồng rừng khá hơn, ựạt trung bình khoảng 130.000ha/năm Tuy nhiên, với tốc ựộ trồng rừng như vậy thì khó ựạt ựược chỉ tiêu trồng 5 triệu ha rừng trong 10 năm như kế hoạch ựã ựặt ra
Trong mười năm qua, ựộ che phủ rừng có chiều hướng tăng lên: 28,8% năm 1998, 33,2% năm
2000, và ựến cuối năm 2002 là 35,8%, nhưng trong ựó phần lớn là rừng nghèo, rừng thưa, còn rừng giàu và rừng trung bình có tỷ lệ rất thấp
Dù cho các chương trình trồng rừng có ựạt ựược sớm, nhưng kết quả thành rừng thấp như trong
10 năm vừa qua thì cũng chưa thể bù ựắp ngay ựược mức phá rừng hiện tại và cũng khó ựạt ựược mục tiêu ựề ra là sau cuối thập kỷ này ựộ che phủ rừng ựạt 43% diện tắch tự nhiên cả nước, tương ựương mức che phủ rừng trước chiến tranh
Vì rừng có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn ựa dạng sinh học và trong công cuộc phát triển bền vững của ựất nước, chúng ta cần phải cố gắng nhiều hơn nữa trong công tác trồng rừng và bảo vệ rừng
Phá rừng ngập mặn ựể nuôi tôm, hậu quả sinh thái và kinh tế
Rừng ngập mặn ựóng vai trò quan trọng ựối với cuộc sống của hàng triệu người dân ven biển Việt Nam đây là nơi nuôi dưỡng nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm biển, cua, cá bớp,
sò, ngán, ốc hương đã có tới 43 loài cá ựẻ hoặc có ấu trùng sống trong rừng ngập mặn ở Việt Nam Rừng ngập mặn là nơi cư trú và kiếm ăn của nhiều loài bò sát quý hiếm như cá sấu, kỳ ựà hoa, rùa biển Một số loài thú như rái cá, mèo rừng, khỉ ựuôi dài cũng rất phong phú trong rừng ngập mặn đặc biệt rừng ngập mặn là nơi làm tổ, kiếm ăn, nơi trú ựông của nhiều loài chim nước, chim di cư, trong ựó có một số loài ựang bị ựe dọa tuyệt chủng
Rừng ngập mặn là bức tường xanh vững chắc bảo vệ bờ biển, ựê biển, hạn chế xói lở và các tác hại của bão lụt Hệ thống rễ chằng chịt trên mặt ựất thu hút và giữ lại các trầm tắch, góp phần
mở rộng ựất liền ra phắa biển, nâng dần ựất lên; mặt khác chúng là hàng rào ngăn giữ những chất ô nhiễm, các kim loại nặng từ các sông ựổ ra biển, bảo vệ các sinh vật vùng ven bờ
Mối ựe dọa của nghề nuôi tôm ựối với rừng ngập mặn
Trang 20Do chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của hệ sinh thái rừng ngập mặn, hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt, ñặc biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi xuất khẩu, nên rừng ngập mặn Việt Nam ñã bị phá nghiêm trọng.
Hậu quả của việc phá rừng ngập mặn lấy ñất nuôi tôm một cách bừa bãi như hiện nay là hủy hoại môi trường, làm suy giảm mức sống của nhiều người dân nghèo ven biển, ảnh hưởng xấu ñến chủ trương xoá ñói, giảm nghèo và phát triển bền vững của Chính phủ
Trong gần hai thập kỷ qua, ñược Nhà nước hỗ trợ và khuyến khích nên nghề nuôi tôm nước lợ ở vùng cửa sông, ven biển phát triển rất mạnh, vượt ra ngoài tầm kiểm soát và quản lý của ngành thủy sản và chính quyền một số ñịa phương Ví dụ như việc cho người thuê ñất và phá 108ha rừng ngập mặn phòng hộ ven biển thuộc Chương trình 327 của Chính phủ ñể xây dựng 50 ao tôm nuôi công nghiệp ở Tiền Hải (Báo Thái Bình, số 4218, ra ngày 1-9-2003); những ha rừng này do người dân ñã cật lực trồng trong nhiều năm mới giữ ñược Từ cuối 2002 ñến giữa 2003, có tới 154ha rừng ngập mặn phòng hộ ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, thuộc các chương trình
327, 661 và dự án trồng rừng của Hội Chữ thập ñỏ Việt Nam, ñã bị phá ñể làm ñầm ðiều may mắn là nhờ các cơ quan thông tin ñại chúng nên nhiều vụ phá rừng ñã ñược phát hiện, ngăn chặn
và xét xử
Nhiều rừng ngập mặn khá tốt trước ñây ở phía Tây bán ñảo Cam Ranh, các huyện Ninh Hoà, Vạn Ninh (Khánh Hoà) nay hầu như ñã bị xoá sổ do làm ñầm ươm và nuôi tôm ở ñầm Nại (Ninh Thuận), hơn 200ha rừng ngập mặn , tạo vành ñai rộng hàng trăm mét bảo vệ cho ñầm không bị xói lở, nay ñã bị thay thế bằng các ñầm tôm bán thâm canh, chỉ còn lại vài vệt ñước và mắm diện tích chưa ñầy 2ha Cồn Chim nằm giữa ñầm Thị Nại - Bình ðịnh, trước ñây có rừng ngập mặn gần 200ha, là nơi cư trú của nhiều loài hải sản, và là “thủ ñô” của các loài chim (tên Cồn Chim bắt nguồn từ ñó), gần ñây ñã bị gần 100 gia ñình “khai tử” ñể làm ñầm tôm Tỉnh ñang lập ñề án ñể phục hồi hệ sinh thái (Báo Lao ñộng, số 22, ngày 22-1-2003)
ðối chiếu với tài liệu của Maurand, ta thấy một sự giảm sút ñáng báo ñộng về diện tích rừng ngập mặn trong 60 năm qua Vào thời gian trước Cách mạng Tháng Tám 1945, cả nước có 408.500ha rừng ngập mặn , trong ñó có 329.000ha ở Nam Bộ; Bến Tre có 48.000ha với ñộ che phủ rừng là 21,75%, nay chỉ còn khoảng 2%; Trà Vinh có 65.000ha, ñộ che phủ rừng 29,20%, nay còn
khoảng 3%; Sóc Trăng có 41.000ha, ñộ che phủ 12,72%, nay chỉ còn khoảng 3%; Cà Mau có 140.000ha, ñộ che phủ 27%, nay chỉ còn khoảng 11% [16,49]
Việc phá rừng ngập mặn làm ñầm tôm không chỉ làm suy giảm tài nguyên ña dạng sinh học tại chỗ, mà còn làm mất nguồn thức ăn phong phú của nhiều sinh vật vùng triều, hậu quả là sản lượng cá, tôm, cua ñánh bắt ở biển cũng giảm
Việc nuôi tôm thiếu quy hoạch ñã gây ô nhiễm tại nhiều nơi ở một số ñịa phương, những người nuôi tôm ñã thải nước bẩn có hoá chất ñộc từ các ñầm tôm ra rừng ngập mặn, làm cho cây chết
Ví dụ như khu rừng phòng hộ ở 2 xã Chí Công và Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, Bình Thuận, cây
bị chết nhiều do nước thải từ ñầm tôm (Nguyễn Nguyên Vũ, Báo Lao ñộng, số 190, ngày 2003) Tháng 8-2001 gần 6.000 lồng nuôi tôm hùm ngoài khơi làng Xuân Tú (Khánh Hoà) bị chết
9-7-do các ñầm nuôi tôm sú gần ñó thải nước có hoá chất ñộc
Gần ñây (6 tháng ñầu năm 2003), ở vùng ven biển Thái Bình, Nam ðịnh, ở nhiều bãi nuôi vạng, vạng bị chết hết, một số gia ñình mất hết vốn, một số khác không có tiền trả ngân hàng Nguyên nhân là do các ñầm tôm ñã thải nước có hoá chất ñộc hại nên vạng và các loài thân mềm khác bị ñầu ñộc Những người dân nghèo hàng ngày “mò cua bắt ốc” trên bãi triều cũng bị ảnh hưởng.Dịch bệnh lan tràn trong các vùng nuôi tôm ở 9 tỉnh ñồng bằng sông Cửu Long những năm 1994
- 1995 và vào những năm 2000 - 2001 lại tái phát, làm cho hàng vạn gia ñình trở lại cảnh nghèo ñói là một bài học quá ñắt do sự buông lỏng quản lý sử dụng ñất, di dân tự do Một số cơ quan, cán bộ do bản thân trục lợi, phá rừng nuôi tôm nên không thể xử lý những người sai phạm khác
Do thiếu sự phối hợp chặt chẽ của các ngành thủy sản và lâm nghiệp, nên không những mất rừng, mà sự cân bằng sinh thái suy giảm và cuộc sống của cộng ñồng ven biển bị xáo trộn
Trang 21Cĩ thể khẳng định, việc nuơi tơm khơng cĩ quy hoạch là mối đe dọa lớn nhất đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn Nhà nước, các ban ngành hữu quan cần sớm cĩ quy hoạch tổng thể, và cĩ biện pháp giải quyết cụ thể, tránh để tình trạng “mất bị mới lo làm chuồng”.
Khu sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ - một điểm sáng về phục hồi rừng
Khu Rừng Sát cĩ diện tích 40.000ha thuộc huyện Duyên Hải, tỉnh ðồng Nai Trong những năm 1962-1970, phần lớn diện tích Rừng Sát đã bị bom napan và chất độc hố học của Mỹ huỷ hoại Năm 1978, diện tích rừng chỉ cịn khoảng 4.500ha chà là ( Phoenix paludosa), 10.000ha đất trống, bùn khơ nứt nẻ và 5.588ha đất lâm nghiệp Số diện tích cịn lại là thảm thực vật xơ xác với các loại cây lùm bụi Các cây gỗ cĩ giá trị như đước, vẹt khơng cịn
Trong năm 1978, thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập lâm trường Duyên Hải để tiến hành phục hồi rừng Do sức ép về dân số và việc làm ở nội đơ quá lớn, thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập các nơng trường quốc doanh trên đất lâm nghiệp cịn hoang hố để sản xuất các loại cây lương thực và cây cơng nghiệp, trồng và bảo vệ rừng mới trồng Nhưng do thiếu kinh nghiệm quản lý
và đặc biệt là do thiếu hiểu biết về sự chuyển hố của đất ngập mặn thành đất phèn, nên việc trồng cây nơng cơng nghiệp khơng thành cơng Cuối năm 1989, nhiều đơn vị quốc doanh phải trả đất và rừng lại cho thành phố Tình trạng này đã khiến cho một số khu rừng trồng bị xem như vơ chủ, bị chặt phá, khai thác gỗ củi bất hợp pháp ðứng trước khĩ khăn đĩ, thành phố đã giao đất, giao rừng cho các hộ nghèo ở địa phương, đồng thời thành lập Ban Quản lý rừng phịng hộ mơi trường thành phố thay cho lâm trường để điều hành việc bảo vệ và tiếp tục trồng mới trên đất trồng cây cơng nghiệp và nơng nghiệp khơng cĩ hiệu quả Các hộ vào định cư trong rừng được chính quyền cung cấp cho một số tiền để xây dựng nhà ở, mua sắm lu đựng nước và một số dụng
cụ, xuồng thuyền để đi lại Nhiệm vụ của các hộ là bảo vệ, quản lý và sử dụng đất rừng được giao theo đúng quy chế của Ban Quản lý rừng phịng hộ thành phố 167 hộ nghèo, trong đĩ cĩ một số đã từng chặt phá rừng vì quá nghèo, nhận khốn giữ 14.198ha với diện tích rừng trồng là 8.502ha, 2.881ha là rừng tái sinh tự nhiên và 2.814ha là đất khác Họ được trả cơng bảo vệ, sử dụng lâm sản phụ, hưởng tỷ lệ sản phẩm tỉa thưa Các gia đình cĩ nhu cầu được tạo điều kiện khai thác thủy sản, tận dụng các mặt nước hiện cĩ để nuơi thủy sản nhờ thế rừng ngập mặn Cần Giờ được bảo vệ và phát triển tốt
Từ khi được UNESCO/MAB cơng nhận là Khu Dự trữ sinh
quyển rừng ngập mặn Cần Giờ (1-2000), cuộc sống của
những người giữ rừng được quan tâm nhiều hơn Nhờ cơng
tác tuyên truyền của các cơ quan thơng tin đại chúng và các
nhà khoa học, nên nhiều người đã hiểu giá trị của rừng ngập
mặn Cần Giờ Mong mỏi chính đáng của những người giữ
rừng đã được đáp ứng khi thành phố cùng các tổ chức, đồn
thể xã hội trong nước, các tổ chức phi chính phủ thế giới đã
đầu tư kinh phí để trang bị hệ thống pin năng lượng mặt trời
cấp điện cho 155 hộ lao động, giữ rừng cùng với 14 tiểu khu
bảo vệ rừng Nước ngọt dự trữ được tăng cường bởi hệ thống
29 bồn chứa nước 10m3 Thành phố đã thực hiện chính sách
tín dụng ưu đãi, tín dụng thương mại cho nhân dân trong
huyện Cần Giờ để giúp họ ổn định sản xuất và cũng đã trang bị thuyền y tế lưu động để chăm sĩc sức khoẻ cho những người giữ rừng Khi đời sốn g của nhân dân được nâng cao thì áp lực xấu đối với rừng ngập mặn cũng giảm mạnh
Rừng Cần Giờ hiện đã trở thành khu rừng ngập mặn phục hồi lớn nhất ở Việt Nam với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và thành phần lồi động thực vật phong phú, đa dạng Lượng hải sản ở Cần Giờ lúc này phát triển gấp 10 tới 20 lần so với trước đây Giờ đây, Cần Giờ khơng chỉ được biết đến như những cánh rừng phịng hộ với các chức năng điều hồ khí hậu, chống xĩi lở đất ven sơng, ven biển, nuơi dưỡng các lồi động vật hoang dã, mà cịn trở thành một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, đồng thời trở thành mơ hình học tập, nghiên cứu của các nhà trồng rừng trong nước
và thế giới Thực tế sinh động của Cần Giờ là một trong những cách tuyên truyền tốt nhất về ý thức bảo vệ thiên nhiên, mơi trường
Trang 22
Hậu quả của chiến tranh hóa học ựối với rừng
Trong cuộc chiến tranh đông Dương lần thứ hai, quân ựội Mỹ ựã tiến hành một cuộc chiến tranh hoá học từ 1961 - 1972 với quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến tranh Hơn 80 triệu lắt chất diệt
cỏ và phát quang, trong ựó phần lớn là chất ựộc da cam, là chất có chứa tạp chất ựộc ựiôxin, ựã rải xuống một diện tắch khoảng 24,67% tổng diện tắch lãnh thổ Nam Việt Nam
Với số lượng rất lớn, chất ựộc hoá học rải, lặp ựi lặp lại nhiều lần trong thời gian dài với nồng ựộ cao, không những ựã làm chết cây cối, ựộng vật, mà còn gây ô nhiễm môi trường trong một thời gian dài, làm ựảo lộn các hệ sinh thái tự nhiên và ựã ựể lại một hậu quả tàn khốc lên tài nguyên rừng
Những hậu quả tức thời và lâu dài của chất ựộc hoá học ựối với tài nguyên và môi trường rừng nội ựịa rất rõ ràng Trong quá trình bị tác ựộng, hàng trăm loài cây ựã bị trút lá, nhất là những cây gỗ lớn thuộc tầng nhô và tầng ưu thế sinh thái thuộc họ dầu (Dipterocarpaceae), họ ựậu (Fabaceae) Nhiều loài cây gỗ quý, hiếm như giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), gụ
(Sindora siamensis), gõ (Afzelia xylocarpa), sao ựen (Hopea odorata) và một số cây họ dầu thuộc tầng cao trong rừng ựã bị chết, dẫn ựến khan hiếm nguồn hạt giống của một số loài cây quý Chỉ có một số ắt loài có khả năng chống chịu với chất ựộc, như cây cơ nia (Irvingia
malayana), cây cám (Parinari annamensis), cây cọ (Livistona) Tán rừng bị phá vỡ, môi trường rừng bị thay ựổi nhanh chóng, những loài cây của rừng thứ sinh như tre, nứa, các loài cây gỗ ưa sáng mọc nhanh, kém giá trị kinh tế xuất hiện và lấn át cây gỗ bản ựịa [43]
Nhiều khu rừng ựã bị phá hủy nặng nề do quy mô rải chất ựộc rộng lớn và lặp ựi lặp lại nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm, kèm theo với các tác ựộng khác của bom ựạn, máy ủi, bom napan ựã thiêu cháy cả lớp cây tái sinh tự nhiên dưới tán rừng Hậu quả là cây rừng bị chết ựi, các loài cây
cỏ dại như cỏ Mỹ (Pennisetum polystachyon), cỏ tranh (Imperata cylindrica), lau lách xâm lấn đến nay rừng vẫn chưa ựược phục hồi, nhiều băng rải chất ựộc vẫn chỉ là những trảng cỏ ựược thể hiện rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay qua các thời kỳ khác nhau
Kết quả nghiên cứu cho biết ựã có trên 3,3 triệu h a ựất ựai tự nhiên bị rải chất ựộc, (với chiều rộng băng rải là khoảng 1.000m) trong ựó rừng nội ựịa bị tác ựộng nặng nề với nhiều mức ựộ khác nhau, làm tổn thất trên 100 triệu mét khối gỗ, trong ựó vùng đông Nam Bộ là vùng có trên 50% diện tắch tự nhiên bị tác ựộng Chiến khu D, chiến khu C, rừng Bời Lời, rừng Củ Chi, là những vùng ựã bị rải hàng triệu lắt chất ựộc cùng với hàng triệu tấn bom ựạn, trong ựó có nhiều khu rừng ựã bị triệt phá hoàn toàn như khu Mã đà, thuộc tỉnh đồng Nai, khu Phú Bình, Bù Gia Mập thuộc tỉnh Bình Phước Chất ựộc hoá học còn ựược rải ở một số vùng trọng ựiểm khác, như khu vực hàng rào ựiện tử Mắc Namara thuộc tỉnh Quảng Trị, khu A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, khu Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, khu Cần Giờ (Duyên Hải), thành phố Hồ Chắ Minh và khu Cà Mau tỉnh Minh Hải
Hậu quả của chiến tranh hoá học của Mỹ còn dẫn ựến nhiều thiệt hại khác về môi trường và tắnh ựa dạng sinh học Quá trình trút lá ồ ạt ựã dẫn ựến hiện tượng ứ ựọng dinh dưỡng Mười ựến 15 triệu hố bom chiếm khoảng 1% diện tắch rừng Nam Việt Nam làm cho lớp ựất mặt bị ựảo lộn và thúc ựẩy quá trình rửa trôi ựất Hậu quả này cản trở trực tiếp ựến diễn thế phục hồi rừng, và tác ựộng xấu ựến rừng phòng hộ ựầu nguồn của 28 lưu vực sông, trong ựó có: 16 lưu vực có 30% diện tắch lưu vực bị rải chất ựộc; 10 lưu vực có 30 - 50% diện tắch lưu vực bị rải chất ựộc; 2 lưu vực có trên 50% diện tắch lưu vực bị rải chất ựộc Phần lớn các lưu vực trên có dòng sông ngắn, ựịa hình phức tạp, nhiều dốc, có dòng chảy ảnh hưởng trực tiếp tới vùng hạ lưu điển hình là lưu vực sông Hương, sông Thạch
Trang 23Hãn, sông Hàn, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Côn, sông Vệ, sông Cầu, sông Ba, trong nhiều năm qua ựã bị lũ lụt lớn tàn phá.
Việc hồi phục lại những khu rừng bị rải chất ựộc hoá học là rất cấp bách, nhưng cũng rất khó khăn, tốn nhiều sức lực và công của
đa dạng sinh học
đa dạng sinh học là cơ sở sống còn, sự thịnh vượng và sự phát triển bền vững của nhân loại Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này ở nước ta ựang xuống cấp một cách nghiêm trọng, làm tổn hại ựến khả năng phát triển kinh tế - xã hội của ựất nước
Việt Nam ựược xem là một trong những nước thuộc vùng đông Nam á giàu về ựa dạng sinh học
Do sự khác biệt lớn về khắ hậu, từ vùng gần xắch ựạo tới giáp vùng cận nhiệt ựới, cùng với sự ựa dạng về ựịa hình, ựã tạo nên tắnh ựa dạng sinh học cao ở Việt Nam Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tắch rừng và các hệ sinh thái khác trong một thời kỳ kéo dài nhiều thập kỷ, hệ thực vật rừng Việt Nam vẫn còn phong phú về chủng loại Cho ựến nay ựã thống kê ựược 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật), khoảng 1.030 loài rêu, 2.500 loài tảo và 826 loài nấm Theo dự ựoán của các nhà thực vật học, số loài thực vật bậc cao
có mạch ắt nhất sẽ lên ựến 15.000 loài, trong ựó có khoảng trên 5.000 loài ựã ựược nhân dân ta dùng làm nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu
và nhiều nguyên vật liệu khác Chắc rằng trong hệ thực vật Việt Nam còn nhiều loài mà chúng ta chưa biết công dụng và rất nhiều loài có tiềm năng cung cấp sản vật quan trọng, chẳng hạn như dược liệu Hơn nữa, hệ thực vật Việt Nam có mức ựộ ựặc hữu cao
Hệ thực vật Việt Nam không có các họ ựặc hữu và chỉ có khoảng 3% số chi ựặc hữu nhưng số loài ựặc hữu chiếm khoảng 33% số loài thực vật ở miền Bắc Việt Nam (Pocs Tamas, 1965) và hơn 40% tổng số loài thực vật toàn quốc (Thái Văn Trừng, 1970) Phần lớn số loài ựặc hữu này tập trung ở bốn khu vực chắnh: khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phắa Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, cao nguyên Lâm Viên ở phắa Nam và khu vực rừng mưa ở phần Bắc Trung Bộ (Bắc Trường Sơn) Nhiều loài là ựặc hữu ựịa phương, chỉ gặp trong một vùng rất hẹp với số cá thể rất nhỏ Các loài này thường rất hiếm vì các khu rừng ở ựây thường bị chia cắt thành những mảnh nhỏ hay bị khai thác một cách mạnh mẽ [2]
Hệ ựộng vật Việt Nam cũng hết sức phong phú Hiện ựã thống kê ựược 300 loài thú, 830 loài chim, 260 loài bò sát, 158 loài ếch nhái, 547 loài cá nước ngọt, khoảng hơn 2.000 loài cá biển và hàng chục nghìn loài ựộng vật không xương sống ở cạn, ở biển và nước ngọt [2, 18, 28] Hệ ựộng vật Việt Nam không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét ựộc ựáo, ựại diện cho vùng đông Nam á
Cũng như thực vật giới, ựộng vật giới Việt Nam có nhiều dạng ựặc hữu: hơn 100 loài và phân loài chim; 78 loài và phân loài thú ựặc hữu Có rất nhiều loài ựộng vật có giá trị khoa học và thực tiễn cao như voi, tê giác một sừng, bò rừng, bò tót, trâu rừng, bò xám, nai cà tông, hổ, báo, cu ly, vượn, voọc vá, voọc xám, voọc mông trắng, voọc mũi hếch, voọc ựầu trắng, sếu cổ trụi, cò quắm cánh xanh, cò quắm lớn, ngan cánh trắng, nhiều loài trĩ, cá sấu, trăn, rắn và rùa biển [48]
Về mặt ựa dạng hệ sinh thái, Việt Nam có nhiều kiểu rừng khác nhau, từ kiểu rừng kắn thường xanh ựến kiểu rừng rụng lá ở các ựộ cao khác nhau, từ ựai thấp (lowland), cận núi (sub-
montane), núi (montane), cận núi cao (sub-alpine), các kiểu rừng núi ựất, rừng núi ựá vôi, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng tre nứa, Việt Nam cũng có vùng ựất ngập nước khá rộng, trải ra khắp ựất nước, nhưng chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng đồng bằng sông Hồng Ngoài ra, Việt Nam còn có phần nội thủy và lãnh hải rộng khoảng 226.000km2 trong ựó có hàng nghìn hòn ựảo lớn nhỏ và nhiều rạn san hô phong phú
Chỉ trong 2 năm 1992 và 1994 tại Việt Nam ựã phát hiện ựược hai loài thú lớn cho khoa học là loài sao la (Pseudoryx nghetinhensis) và loài mang lớn hay còn gọi là mang bầm (Megamuntiacus
Trang 24vuquangensis) Cả hai loài ựó ựã phát hiện ựầu tiên tại vùng rừng Hà Tĩnh nơi mà trước ựây không lâu ựã phát hiện loài trĩ cuối cùng trên thế giới, loài gà lam ựuôi trắng hay còn gọi là gà lừng (Lophura hatinhensis) Năm 1997 một loài thú lớn mới nữa cho khoa học ựược mô tả, ựó là loài mang Trường Sơn (Caninmuntiacus truongsonensis) tìm thấy lần ựầu tiên ở Vùng Hiên, thuộc tỉnh Quảng Nam Gần ựây chúng ta mới mô tả thêm loài chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) ở vùng Tây Nguyên và loài thỏ vằn (Nesolagus temminsi) phát hiện tại Vườn quốc gia Pù Mát Nghệ
An Ba loài chim mới ựược tìm thấy ở Tây Nguyên là khướu Ngọc Linh (Garrulax ngoclinhensis), khướu vằn ựầu ựen (Actinodura sodangorum) và khướu Kon Ka Kinh (Garrulax kongkakingensi) [2]
Nguồn tài nguyên ựa dạng sinh học này, ựã là cơ sở vững chắc của sự tồn tại của những dân tộc
ở Việt Nam thuộc nhiều thế hệ ựã qua, và sẽ là cơ sở cho sự phát triển của nhân dân Việt Nam trong thời gian tới Tuy nhiên thay vì phải bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này, ở nhiều nơi, dưới danh nghĩa phát triển kinh tế, một số người ựã và ựang khai thác tài nguyên ựa dạng sinh học quá mức và phắ phạm, thậm chắ, còn sử dụng các phương tiện huỷ diệt như các chất ựộc, kắch ựiện, ựể ựánh bắt [30]
Việc khai thác và buôn bán các loài ựộng, thực vật hoang dã ựang diễn ra ngày càng gay gắt, chưa kiểm soát ựược, làm cho nguồn tài nguyên sinh học của ta ựang bị cạn kiệt, nhiều loài ựộng vật, thực vật quý ựang hiếm dần, một số loài có nguy cơ bị tiêu diệt [48] Nếu biết sử dụng ựúng mức và quản lý tốt, nguồn tài nguyên sinh học của Việt Nam có thể trở thành tài sản rất có giá trị điều ựáng lo là hiện nay nguồn tài nguyên này ựang suy thoái nhanh chóng
Bảo vệ ựa dạng sinh học
Việt Nam còn chưa làm ựược nhiều trong công cuộc bảo vệ ựa dạng sinh học và xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên vì một lẽ ựơn giản là ựất nước còn gặp nhiều khó khăn Công cuộc phát triển kinh tế, sản xuất lương thực, công nghiệp hóa, hiện ựại hóa công nghiệp và nông nghiệp phải ưu tiên hàng ựầu Tuy nhiên, Chắnh phủ nước Việt Nam cũng ựã chú ý ựến nhiệm vụ này ngay từ năm 1962 với việc thành lập khu bảo tồn thiên nhiên ựầu tiên là Vườn quốc gia Cúc Phương Nhưng rồi mọi công việc tiếp theo ựã bị chậm trễ do chiến tranh ác liệt kéo dài Từ năm 1983, công việc này lại ựược tiếp tục một cách khẩn trương
Trong vài năm vừa qua, công tác xây dựng các khu bảo tồn ở nước ta ựã phát triển khá nhanh chóng, nhiều khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng ựã ựược Chắnh phủ nâng cấp thành vườn quốc gia đến nay ở Việt Nam ựã có một hệ thống các khu bảo tồn với 126 khu trong ựó có 27 vườn quốc gia, 60 khu bảo tồn thiên nhiên, gồm 11 khu bảo tồn loài/sinh cảnh, 49 khu dự trữ thiên nhiên, và 39 khu bảo vệ cảnh quan ựược phân bố ựều trong cả nước với tổng diện tắch hơn 2,5 triệu ha, chiếm khoảng 7,6% lãnh thổ tự nhiên [6]
Việt Nam cũng ựã thành lập hai khu Di sản thiên nhiên thế giới là vịnh Hạ Long và Phong Nha -
Kẻ Bàng; hai khu bảo tồn sinh quyển (MAB) là Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ (thành phố Hồ Chắ Minh) và Khu Dự trữ sinh quyển Cát Tiên (đồng Nai); khu bảo tồn RAMSAR Xuân Thuỷ ở cửa sông Hồng ựể bảo vệ ựất ngập nước và các loài chim di cư
Khung IV.2 Một vài con số về buôn bán trái phép ựộng vật hoang dã
Kết quả ựiều tra 20 ựiểm nóng trong toàn quốc từ Bắc chắ Nam ựã thấy rằng: Tổng lượng ựộng vật hoang dã sống và thịt ựược buôn bán trên ựịa bàn Việt Nam hàng năm vào khoảng 3.050 tấn, trong ựó 45-50% ựược tiêu thụ trong nước, số còn lại ựược xuất bất hợp pháp qua biên giới Trung Quốc và các nước đông á khác Hầu hết thịt ựộng vật hoang dã ựược tập trung tiêu thụ ở Hà Nội
và thành phố Hồ Chắ Minh, mà ựiển hình là ở làng Lệ Mật, chợ đồng Xuân (Hà Nội) và ở quận Bình Chánh, chợ Cầu Mống (thành phố Hồ Chắ Minh)
Trang 25Tổng doanh thu hàng năm do hiện tượng buôn bán bất hợp pháp ựộng vật hoang dã mang lại ước tắnh 66,5 triệu ựôla, trong ựó 21 triệu ựôla tiền lãi Số tiền lãi do buôn bán ựộng vật hoang dã bất hợp pháp lớn hơn 31 lần so với ngân sách của các cơ quan chức năng và các tổ chức bảo tồn quốc
tế ựầu tư cho giám sát, bảo tồn ựộng vật hoang dã hàng năm Số lãi này lớn gấp khoảng 3,2 lần tổng ngân sách của Nhà nước dành cho ngành kiểm lâm và gấp 4 lần so với số tiền phạt mà các ngành chức năng bắt giữ ựược
Tổng doanh thu ước tắnh do buôn bán ựộng vật hoang dã bất hợp pháp lớn gấp 12 lần tổng doanh thu do buôn bán hợp pháp ựộng vật hoang dã ựem lại (5,2 triệu ựôla, năm 2000) Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, số lượng ựộng vật sống và thịt tiêu thụ nội ựịa và qua biên giới bị phát hiện, bắt giữ bình quân từ năm 1997 ựến năm 2002 mới chỉ bằng 3,1% so với thực tế
Nguồn: TS Nguyễn Văn Song, đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Còn nhiều hệ sinh thái ựiển hình, nhiều loài ựộng, thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt còn nằm ngoài hệ thống các khu bảo tồn hiện có Việt Nam còn có vùng biển đông rộng lớn với nhiều rạn san hô phong phú, nhiều ựầm phá và tài nguyên sinh vật thủy sinh ựa dạng cần ựược bảo vệ
Vì thế trong hệ thống khu bảo tồn quốc gia, cũng cần lưu ý xây dựng các khu bảo tồn hệ sinh thái biển, hệ sinh thái ựất ngập nước cùng tài nguyên sinh vật ở ựó
Ngoài việc thành lập các khu bảo tồn, Việt Nam cũng ựang thực hiện một số dự án ựặc biệt, bằng cách khuyến khắch nhân dân tham gia bảo vệ một số loài ựộng vật quý, hiếm ựang có nguy cơ bị tiêu diệt, như bảo vệ loài gà lam ựuôi trắng ở vùng Kẻ Gỗ, Hà Tĩnh, loài voọc mông trắng ở Cúc Phương, Ninh Bình, loài voọc mũi hếch ở Na Hang, Tuyên Quang, loài hổ ở Thừa Thiên - Huế và Chư Mom Rây ở Kon Tum, voọc ựầu trắng ở Cát Bà, Hải Phòng, tê giác một sừng ở Cát Tiên Có thể nói rằng, một khi nhân dân hiểu ựược tầm quan trọng của việc bảo vệ, thì công việc bảo vệ
sẽ có nhiều triển vọng ựạt kết quả
Kinh nghiệm cho thấy rằng, ựể thực hiện công tác bảo tồn, ựiều quan trọng hơn hết là không tạo thêm sự ựối lập giữa nhân dân ựịa phương và cơ quan quản lý khu bảo tồn Cơ quan này phải cộng tác với nhân dân một cách chặt chẽ, chấp nhận những yêu cầu chắnh ựáng của họ và tạo ựiều kiện ựể họ ựược hưởng những lợi ắch trực tiếp từ khu bảo tồn Cần thiết phải xây dựng vùng ựệm, tạo thêm công ăn việc làm hợp lý cho nhân dân ở ựó, giúp họ giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống ựể họ tự nguyện giảm dần sức ép lên khu bảo tồn và tham gia tắch cực vào việc bảo vệ rừng vì lợi ắch thiết thực của họ [29] Một số khu bảo tồn và vườn quốc gia ựã thực hiện các phương hướng nêu trên và bước ựầu ựạt kết quả khả quan
đã có nhiều mô hình tốt về trồng rừng, bảo vệ rừng, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, cần
tổ chức phổ biến rộng rãi những mô hình này đồng thời phải ựẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của mọi người về ựa dạng sinh học ựối với cuộc sống và tăng quyền chủ ựộng và trách nhiệm của họ trong việc quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên Bằng cách này, chúng ta dần dần xã hội hoá công tác bảo vệ rừng, bảo vệ thiên nhiên và ựa dạng sinh học
Nước ta ựang gặp nhiều khó khăn trong công việc bảo vệ rừng và ựa dạng sinh học, bảo vệ thiên nhiên và sử dụng một cách bền vững tài nguyên thiên nhiên Thử thách quan trọng nhất ựối với nước ta trong công cuộc bảo vệ là sớm tìm ựược biện pháp ngăn chặn kịp thời sự suy thoái của rừng nhiệt ựới, suy thoái các hệ sinh thái ựiển hình cùng với hệ ựộng vật và hệ thực vật phong phú ở ựó
Nước ta là một trong những nước nghèo trên thế giới, dân số lại ựông để duy trì cuộc sống trước mắt, nhiều người buộc phải khai thác bằng mọi cách các tài nguyên thiên nhiên, trong nhiều trường hợp ựã làm suy thoái nghiêm trọng tài nguyên thiên nhiên và môi trường và gây tổn hại lớn cho phát triển trong tương lai để giải quyết vấn ựề bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ rừng, bảo vệ ựa dạng sinh học, kể cả những
Trang 26giống cây trồng, vật nuôi, cứu các loài khỏi nạn diệt vong, không phải chỉ tăng cường giáo dục, thực thi pháp luật, nâng cao kỹ t huật và tìm vốn ñầu tư, mà còn phải chú ý ñến cải thiện mức sống của mọi người dân, nhất là những người dân nghèo ðồng thời phải nâng cao nhận thức của
họ về bảo vệ môi trường, rừng, các hệ sinh thái ñiển hình, sử dụng hợp lý và bền vững tài
nguyên thiên nhiên, kể cả ñất, rừng, nước, các loài ñộng thực vật, làm cho họ hiểu trách nhiệm bảo vệ và ñược quyền quyết ñịnh về cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên tốt nhất vì cuộc sống của họ, của con cháu họ và cho cả cộng ñồng
Vì rừng và ña dạng sinh học có vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển bền vững của ñất nước, cần phải cố gắng nhiều hơn nữa trong công tác trồng rừng, bảo vệ rừng và bảo vệ ña dạng sinh học ðể có thể hoàn thành ñược nhiệm vụ khó khăn này cần phải ñộng viên ñược sự ñồng tâm của ñông ñảo nhân dân với nhận thức sâu sắc về vấn ñề môi trường Phát ñộng phong trào rộng rãi trong toàn dân về bảo vệ rừng, bảo vệ ña dạng sinh học, bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, ñồng thời ñẩy mạnh chương trình kế hoạch hoá gia ñình và sớm hoàn thành công cuộc xoá ñói giảm nghèo
Cần bổ sung, hoàn thiện chính sách giao ñất, giao rừng, chính sách ñối với người làm công tác quản lý bảo vệ rừng, chính sách hưởng lợi của những người sản xuất, bảo vệ rừng Cần ñề cao ý thức trách nhiệm, quyền hạn của chính quyền ñịa phương, nơi nào ñể xảy ra phá rừng, chính quyền nơi ñó phải chịu trách nhiệm chính
Trang 27đô thị hóa và môi trường
Quá trình ựô thị hóa từ 1990 ựến nay
Sau năm 1990 cùng với những chuyển biến tắch cực về mặt kinh tế - xã hội, mạng lưới ựô thị quốc gia ựã ựược mở rộng và phát triển nhanh Năm 1990 cả nước mới có khoảng 500 ựô thị lớn nhỏ, ựến năm 2000 ựã có 649 ựô thị và ựến năm 2003 ựã tăng lên 656 ựô thị Tăng trưởng dân
số ựô thị từ 11,87 triệu người năm 1986 lên 18 triệu người năm 1999 và khoảng 20 triệu người năm 2002, nâng tỷ lệ dân ựô thị từ 19,3% năm 1986 lên 25,3 % năm 2002 [8, 35] Tuy vậy, ựô thị hoá ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới
Một số vấn ựề môi trường bức xúc trong quá trình ựô thị hóa
Phát triển hạ tầng ựô thị chậm hơn gia tăng dân số
Nhiều làng xã ựược ựô thị hoá nhanh thành phường, cùng với dân di cư từ nông thôn vào thành thị ngày càng tăng, ựã gây ra nhiều vấn ựề gay cấn ở ựô thị, như thiếu nhà ở, dịch vụ, thông tin, giáo dục, chăm sóc y tế, giao thông, cấp thoát nước, việc làm và gia tăng ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội
ỘXóm liều, xóm bụiỢ - ung nhọt của ựô thị hiện ựại
Diện tắch nhà ở bình quân ựầu người tại các ựô thị nước ta còn quá thấp (bình quân 5,4m2/người) Chất lượng nhà ở không bảo ựảm, các ựiều kiện về hạ tầng, môi trường ựều kém cỏi Nhà Ộổ chuộtỢ còn chiếm tỷ trọng cao tại các ựô thị Cung cầu nhà - ựất ở ựô thị mất cân ựối nghiêm trọng, cộng với những tác ựộng của chắnh sách không hợp lý và quản lý yếu kém, làm cho giá ựất, giá nhà ở quá cao so với thu nhập của nhân dân ựô thị [11]
Vì vậy bức tranh ựô thị ựã có ựối lập thật sự giữa một bên là tốc ựộ phát triển ngày càng nhanh các nhà ở cao tầng, các nhà không phải ựể ở, một bên là sự tồn tại ảm ựạm của các dãy nhà Ộổ chuộtỢ, nhà trên và ven kênh rạch với diện tắch ở khoảng 2 - 4m2/người, nhà ở lụp xụp, tạm bợ,
hệ thống hạ tầng kỹ thuật rất thấp kém, bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Chết vẫn chưa ựược yên thân
Công tác quy hoạch các nghĩa trang, nghĩa ựịa ở ựô thị còn tuỳ tiện; các khu nghĩa trang, nghĩa ựịa ựều nằm sát các khu dân cư, hiện tượng lấn chiếm ựất nghĩa trang diễn ra khá phổ biến Việc lấn chiếm ựất và chôn cất lộn xộn ựã dẫn ựến tình trạng lãng phắ quỹ ựất rất lớn và khi phát triển
ựô thị và giao thông thường gặp phải vấn ựề rất nan giải là di chuyển mồ mả ựể giải phóng mặt bằng
ỘLá phổiỢ của ựô thị bị tàn phá
Tại nhiều ựô thị trong quá trình phát triển ựã mắc sai lầm là các vành ựai xanh, diện tắch cây xanh, diện tắch mặt nước ao hồ không ựược bảo tồn, nên chỉ tiêu ựất trồng cây xanh hiện nay trong các ựô thị quá thấp, trung bình mới ựạt 0,5m2/người Tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chắ Minh con số này cũng không quá 2 m2/người, chỉ bằng khoảng 1/5 - 1/10 chỉ tiêu cây xanh của các thành phố tiên tiến trong khu vực Kết quả phân tắch ảnh vệ tinh cho thấy sau 10 năm phát triển (1986 - 1996), diện tắch ựất cây xanh của 4 quận nội thành cũ của Hà Nội
ựã giảm 12%; diện tắch mặt nước ao, hồ giảm 64,5%, ngược lại, diện tắch xây dựng nhà tăng thêm 22,4% [8] đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra úng ngập ở Hà Nội trong mùa mưa
Giao thông ựô thị và môi trường
Tốc ựộ phát triển hệ thống hạ tầng giao thông ựô thị chậm hơn rất nhiều so với tốc ựộ ựô thị hoá
và tốc ựộ gia tăng phương tiện giao thông cơ giới Diện tắch ựất giao thông ựô thị không ựủ, mạng
Trang 28lưới ựường giao thông phân bố không ựồng ựều, thông số kỹ thuật tuyến ựường rất thấp, hành lang ựường thường bị lấn chiếm Theo số liệu thống kê, tại các ựô thị lớn, các chỉ tiêu về hạ tầng giao thông cũng rất thấp, chỉ ựáp ứng ựược khoảng 35 - 40% nhu cầu cần thiết Tại Hà Nội, diện tắch ựất giao thông khoảng 7,8%, mật ựộ ựường ựạt 3,89km/km2; tại thành phố Hồ Chắ Minh diện tắch ựất giao thông khoảng 7,5%, mật ựộ ựường ựạt 3,88km/km2 chỉ bằng khoảng một nửa so với các thành phố hiện ựại trong khu vực Một số hậu quả chắnh của hiện trạng giao thông ựô thị yếu kém là: tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, ô nhiễm không khắ và tiếng ồn.
Công nghiệp hóa và môi trường
Trong 10 năm qua và 20 năm tới, công nghiệp hóa ở nước ta phát triển tương ựối nhanh Các ngành phát triển mạnh là khai thác khoáng sản, ựặc biệt là dầu khắ, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông - lâm - thuỷ sản, dệt may, da giày, cơ khắ, hóa chất và năng lượng ựiện Hầu hết các cơ sở công nghiệp cũ ựều có công nghệ và thiết bị lạc hậu, tiêu hao nguyên liệu và năng lượng lớn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Các cơ sở công nghiệp mới, nói chung có công nghệ và thiết bị hiện ựại, nhưng ựầu tư cho bảo vệ môi trường chưa tương xứng, nên một số cơ
sở vẫn gây ô nhiễm môi trường
Phát triển các khu công nghiệp
Tắnh ựến cuối năm 2003 nước ta ựã có 82 khu công nghiệp ựược xây dựng với tổng diện tắch khoảng 15.800ha (không kể khu Dung Quất) Khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp nhất là miền đông Nam Bộ Khu vực này hiện có 42 khu công nghiệp với diện tắch 10.001ha đồng bằng sông Hồng là khu vực ựứng thứ hai, có 17 khu công nghiệp, với diện tắch 2.441ha Vùng duyên hải miền Trung có 14 khu công nghiệp, với diện tắch 2.112ha Vùng Tây Nguyên có 1 khu công nghiệp với diện tắch 181ha, vùng trung du miền núi phắa Bắc có 2 khu công nghiệp với diện tắch 139ha [40] Hiệu quả sử dụng ựất của các khu công nghiệp còn rất thấp do thành lập quá nhiều Tắnh ựến tháng 12 năm 2002, mới có 45% diện tắch ựất khu công nghiệp có thể cho thuê ựể sản xuất, diện tắch ựã cho thuê khoảng 4.831ha Nhìn chung, các khu công nghiệp ựã góp phần thúc ựẩy phát triển công nghiệp, tăng trưởng kinh tế Năm 2002, doanh thu của khu vực này ựạt khoảng 18% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Quyết ựịnh 64
Thủ tướng Chắnh phủ ựã ra Quyết ựịnh số 64/2003/Qđ-TTg về ỘKế hoạch xử lý triệt ựể các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọngỢ Mục tiêu trước mắt của kế hoạch là ựến năm 2007 tập trung xử lý triệt ựể 439 cơ cở gây ô nhiễm nghiêm trọng, trong ựó 284 là cơ sở sản xuất kinh doanh Mục tiêu lâu dài của kế hoạch là ựến năm 2012 sẽ tiếp tục xử lý 3.856 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng còn lại và các cơ sở mới phát sinh, ựồng thời ựẩy mạnh công tác phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm
Thoát nước