1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tài liệu Thực tế về hoạt động tình dục ở con người doc

266 989 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Tế Về Hoạt Động Tình Dục Ở Con Người
Tác giả George D. Zgourides, Christie S. Zgourides
Người hướng dẫn Nguyễn Hồng Trang, Nguyễn Lưu Trọng Quyền
Trường học San Jose State University
Chuyên ngành Tình Dục Học
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố San Jose
Định dạng
Số trang 266
Dung lượng 3,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì sử dụng thuật ngữ sexual tình dục có thể gây nhầm lẫn nên trong cuốn sách này chúng tôi sử dụng từ sex tình dục, giới để nói đến các hành vi tình dục ví dụ "quan hệ tình dục" và bản c

Trang 1

Thực Tế về Hoạt Động Tình Dục

ở Con Người

George D Zgourides, Tiến Sĩ Christie S Zgourides, Thạc Sĩ

Trang 3

Thực Tế về Hoạt Động Tình Dục ở Con Người

George D Zgourides, Tiến Sĩ Christie S Zgourides, Thạc Sĩ

Nguyễn Hồng Trang dịch Nguyễn Lưu Trọng Quyền hiệu đính

10/21/06 San Jose, CA 95151

Trang 5

Mục Lục i

Lời Nói Đầu v

Tác Giả vii

Chương 1 1

Hoạt Động Tình Dục và Quan Điểm Tâm Sinh Lý Xã Hội 1

TẠI SAO CẦN NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG TÌNH DỤC CỦA CON NGƯỜI ? 2

QUAN ĐIỂM TÂM SINH LÝ XÃ HỘI LÀ GÌ? 6

CÁC QUAN ĐIỂM SINH HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG TÌNH DỤC Ở CON NGƯỜI 7

NHỮNG QUAN ĐIỂM TÂM LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG TÌNH DỤC Ở CON NGƯỜI 8

CÁC QUAN ĐIỂM XÃ HỘI VỀ HOẠT ĐỘNG TÌNH DỤC Ở CON NGƯỜI 10

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 12

Chương 2 14

Nghiên Cứu Về Tình Dục Là Gì? 14

TÌNH DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC 14

NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG NGHIÊN CỨU TÌNH DỤC 15

ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU TÌNH DỤC 16

CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÌNH DỤC 18

TÍNH ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU TÌNH DỤC 25

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 26

Chương 3 28

Các Khuôn Mẫu, Vai Trò và Nhận Dạng Về Giới 28

NHẬN DẠNG VỀ GIỚI 29

VAI TRÒ VỀ GIỚI 35

CÁC KIỂU MẪU VỀ GIỚI 36

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 39

Chương 4 40

Giải Phẫu Tình Dục và Sinh Lý Của Phụ Nữ 40

NHỮNG THUẬT NGỮ VỀ HƯỚNG VÀ VỊ TRÍ GIẢI PHẪU 40

CÁC CẤU TRÚC SINH DỤC BÊN NGOÀI CỦA PHỤ NỮ 40

CÁC CẤU TRÚC SINH DỤC BÊN TRONG CỦA PHỤ NỮ 42

HOOC MÔN VÀ CÁC TUYẾN SINH DỤC 44

Các vấn đề và Chu kỳ Kinh nguyệt 46

SINH HOẠT TÌNH DỤC VÀ CHU KỲ KINH NGUYỆT 48

BỘ NGỰC 49

KHÁM PHỤ KHOA 50

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 52

Chương 5 55

Giải Phẫu Tình Dục và Sinh Lý Của Nam Giới 55

CÁC CẤU TRÚC SINH DỤC BÊN NGOÀI CỦA NAM GIỚI 55

CÁC CẤU TRÚC SINH DỤC BÊN TRONG CỦA NAM GIỚI 59

CÁC TUYẾN VÀ HOOC MÔN SINH DỤC 61

CÁC KIỂM TRA Y TẾ 62

CÁC ĐIỂM CHÍNH 63

Trang 6

Chương 6 65

Hưng Phấn Tình Dục và Phản ứng Lại 65

HƯNG PHẤN TÌNH DỤC 65

NGUỒN GỐC TÂM LÝ HỌC VỀ HƯNG PHẤN TÌNH DỤC 69

CÁC NGUỒN GỐC XÃ HỘI VỀ HƯNG PHẤN TÌNH DỤC 71

MÔ HÌNH BỐN GIAI ĐOẠN VỀ PHẢN ỨNG TÌNH DỤC CỦA MASTERS VÀ JOHNSON 72

MÔ HÌNH BA GIAI ĐOẠN VỀ PHẢN ỨNG TÌNH DỤC CỦA KAPLAN 73

MÔ HÌNH NĂM GIAI ĐOẠN VỀ PHẢN ỨNG TÌNH DỤC CỦA ZILBERGELD VÀ ELLISON 74

MÔ HÌNH NHẬN THỨC-HÀNH VI LIÊN QUAN ĐẾN PHẢN ỨNG TÌNH DỤC CỦA WALEN VÀ ROTH.74 NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 74

Chương 7 76

Thiên Hướng Tình Dục 76

THIÊN HƯỚNG TÌNH DỤC LÀ GÌ? 76

HÀNH VI ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI PHỔ BIẾN NHƯ THẾ NÀO? 78

CÁC HỌC THUYẾT VỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI 79

SỰ ĐIỀU CHỈNH TÌNH TRẠNG ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI 81

LỐI SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI 83

ÁM ẢNH ĐỒNG TÍNH 84

CHỦ NGHĨA CHÍNH TRỊ TÍCH CỰC VỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI 86

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 87

Chương 8 89

Các Mối Quan Hệ Yêu Đương 89

TÌNH YÊU 89

CÁC HỌC THUYẾT VỀ TÌNH YÊU 90

CÁC DẠNG TÌNH YÊU 92

SỰ BẮT ĐẦU VÀ KẾT THÚC: TIẾN TRÌNH CỦA TÌNH YÊU LÃNG MẠN 94

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 99

Chương 9 101

Hành Vi Tình Dục 101

SEXPLAY 101

THỦ DÂM 102

QUAN HỆ TÌNH DỤC BẰNG MIỆNG 104

GIAO HỢP 104

QUAN HỆ TÌNH DỤC Ở HẬU MÔN 108

SAU KHI QUAN HỆ TÌNH DỤC 109

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 109

Chương 10 111

Hoạt Động Tình Dục, Sức Khỏe và Sự Tàn Tật 111

THÁI ĐỘ PHỔ BIẾN VỀ NHỮNG NGƯỜI TÀN TẬT 111

NHỮNG TÀN TẬT VỀ MẶT THỂ CHẤT 112

THIỂU NĂNG PHÁT TRIỂN 119

NHỮNG NGƯỜI TÀN TẬT VỀ MẶT TÌNH CẢM 120

KẾT LUẬN 121

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 122

Chương 11 123

Hoạt Động Tình Dục, và Vòng Đời 123

TUỔI CÒN ẴM NGỬA 123

GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA TUỔI THƠ 124

GIAI ĐOẠN GIỮA VÀ CUỐI CỦA TUỔI THƠ 126

THỜI THANH THIẾU NIÊN 127

Trang 7

THỜI KỲ ĐẦU VÀ GIỮA TUỔI TRƯỞNG THÀNH 131

THỜI KỲ CUỐI TUỔI TRƯỞNG THÀNH 134

GIÁO DỤC TÌNH DỤC VÀ VÒNG ĐỜI 137

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 138

Chương 12 139

Sự Thụ Thai, Mang Thai, và Sinh Nở 139

CHUẨN BỊ CHO VIỆC THỤ THAI VÀ MANG BẦU 139

CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA THAI NGHÉN VÀ BÀO THAI 141

CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRƯỚC KHI SINH 146

CÁC LỰA CHỌN KHI SINH 149

CÁC GIAI ĐOẠN CỦA SỰ SINH ĐẺ 151

NHỮNG BIẾN CHỨNG TIỀM ẨN KHI MANG THAI VÀ SINH NỞ 154

VÔ SINH 157

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 159

Chương 13 161

Tránh Thai và Nạo Phá Thai 161

TRÁNH THAI VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 161

NẠO PHÁ THAI 170

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 174

Chương 14 175

Các Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục 175

NHIỄM BỆNH DO VI KHUẨN 176

NHIỄM BỆNH DO VI-RÚT 180

SỰ PHÁ HOẠI CỦA KÝ SINH VẬT 186

CÁC VIÊM NHIỄM LÂY QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC KHÁC 187

PHÒNG NGỪA CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC 188

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 189

Chương 15 191

Rối Loạn Tình Dục và Cách Chữa Trị 191

CÁC RỐI LOẠN TÌNH DỤC 191

CÁC LIỆU PHÁP TÌNH DỤC 199

TÌM KIẾM NHÀ TRỊ LIỆU TÌNH DỤC PHÙ HỢP 203

LIỆU PHÁP TÌNH DỤC CÓ HIỆU QUẢ NHƯ THẾ NÀO? 204

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 205

Chương 16 207

Tình Dục Đồi Trụy 207

TÌNH DỤC ĐỒI TRỤY 207

NGUYÊN NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CHỨNG TÌNH DỤC ĐỒI TRỤY 214

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 216

Chương 17 217

Chợ Tình 217

GỢI TÌNH, KHIÊU DÂM, HAY TỤC TĨU? 217

ẢNH HƯỞNG CỦA KHIÊU DÂM BẠO LỰC 219

VẤN ĐỀ KHIÊU DÂM TRẺ EM 220

TÌNH DỤC TRONG QUẢNG CÁO 221

CÁC SẢN PHẨM TÌNH DỤC 222

CÁC DỊCH VỤ TÌNH DỤC 227

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 232

Chương 18 234

Trang 8

Tình Dục Và Luật Pháp 234

NGUỒN GỐC CỦA LUẬT TÌNH DỤC 235

MỤC ĐÍCH CỦA LUẬT TÌNH DỤC 237

ĐẠO LÝ VÀ ĐẠO ĐỨC TÌNH DỤC 239

SỰ ÉP BUỘC TÌNH DỤC VÀ LUẬT PHÁP: CƯỠNG ĐOẠT, LOẠN LUÂN VÀ QUẤY RỐI TÌNH DỤC 241 GIẢI QUYẾT KẺ QUẤY RỐI TÌNH DỤC 250

XU HƯỚNG LUẬT TÌNH DỤC TƯƠNG LAI 250

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH 251

Sách Tham Khảo 253

Trang 9

Lời Nói Đầu

Chào mừng các bạn đến với thế giới hấp dẫn của tình dục học - nghiên cứu khoa học về

hoạt động tình dục ở con người Bằng cách lựa chọn đọc cuốn Thực Tế về Hoạt Động Tình Dục

ở Con Người, bạn đã chấp nhận thách thức tìm hiểu về các khía cạnh tình dục để đưa ra những

quyết định mang tính hiểu biết về tình dục Chúng tôi thực sự hy vọng rằng, những thông tin được trình bày trong các chương sau của cuốn sách sẽ giúp bạn làm được điều này

Bạn có thể sẽ băn khoăn không biết lý do tại sao chúng tôi lại viết cuốn sách này Đã từng trải qua thời sinh viên và giảng viên đại học, chúng tôi đã thấy rất nhiều tài liệu về giáo dục tình dục giành cho người lớn, đặc biệt là những cuốn sách giáo khoa trong trường đại học, những tài liệu đó ở chừng mực nào đó có thể rất cụ thể, giản dị thái quá, mang tính chính trị, mang tính kinh nghiệm hay có thể bị phản đối Từ cách nhìn của chúng tôi thì hầu hết các tài liệu về giáo dục giới tính hoặc là (1) quá mang tính học thuật, (2) đơn giản một cách khiếm nhã, (3) thiên về tính chính trị, (4) quá "sôi nổi và thô ráp," hay (5) "chỉ dành cho độc giả là người lớn." Chúng tôi không đồng tình với tất cả năm cách tiếp cận trên Thay vào đó, chúng tôi tin rằng điều quan trọng đối với những tài liệu giáo dục giới tính giành cho người lớn là cần phải dễ hiểu, thực tế và khoa học, nhưng nó cũng cần trung tính trong cách thể hiện, trình bày

Mục đích của chúng tôi là viết cuốn Thực Tế về Hoạt Động Tình Dục ở Con Người một

cách súc tích, dễ đọc, không mang sự thành kiến về giới tính, không có những chi tiết thừa thãi,

và không có những bình luận xã hội chạy theo mốt Nhằm mục đích khuyến khích những suy nghĩ có tính bình phẩm và độc lập, chúng tôi đã giới thiệu những chủ đề mang tính tranh cãi trên quan điểm có sự cân nhắc, trình bày ý kiến của cả hai bên một cách bình đẳng và công bằng Chúng tôi cũng sắp xếp bài viết theo tính học thuật, xem xét các nhân tố sinh lý, tâm lý và xã hội của các khía cạnh khác nhau trong hoạt động tình dục ở con người Sự khác biệt và ảnh hưởng của văn hóa cũng được trình bày một cách cẩn thận Chúng tôi chọn việc tiếp cận tài liệu mang tính luận văn; bạn sẽ thấy những vấn đề về giới, toàn bộ những vấn đề liên quan đến xu hướng tình dục, và sự đa dạng của các quan hệ yêu đương trước khi bắt đầu đọc các tài liệu về hoạt động tình dục Những chương nói về hành vi tình dục được sắp xếp lại với nhau, nó bao quát những điều liên quan đến tình dục và thách thức cá nhân trong suốt đời người Điều này rất phù hợp với khái niệm thảo luận về các hành vi tình dục trên phạm vi rộng theo kinh nghiệm của con người Sự đa dạng trong các tương tác về tình dục ở cá nhân và cả xã hội được trình bày

ở những chương còn lại, những chương còn lại còn bao gồm cả tài liệu về các bệnh lây truyền qua đường tình dục Cuốn sách này được kết thúc bằng một chương sâu sắc về các vấn đề luật pháp, đạo đức và quy phạm liên quan đến tình dục Tóm lại, chúng tôi hy vọng rằng quyển sách này sẽ đóng một vai trò hữu ích trong việc giáo dục giới tính toàn diện cho các bạn

Trang 10

Trong những trang tiếp theo đây, chúng tôi xin trình bày một cách tổng quan những bài

giảng tiêu biểu dành cho sinh viên về hoạt động tình dục ở con người Theo cách đó cuốn Thực

Tế về Hoạt Động Tình Dục ở Con Người có thể phục vụ cả hai mục đích, vừa là sách hướng dẫn

cho sinh viên đại học, những người muốn có tài liệu bổ sung thêm cho các cuốn sách giáo khoa

về tình dục mà họ đã có, vừa là sách tham khảo thông tin cho các độc giả quan tâm

Một lần nữa, chào mừng các bạn đến với thế giới tình dục học!

George D Zgourides, Tiến Sĩ

Christie S Zgourides, Thạc Sĩ

Trang 11

Tác Giả

George D Zgourides, Psy D., là một nhà bác sĩ lâm sàng, một nhà giáo dục và mục sư chuyên về tâm lý tinh thần-thể xác, hoạt động tình dục ở con người, các rối loạn do lo lắng, các vấn đề của mục sư và tiếp cận y học Phương Đông để chữa bệnh Ngoài việc viết hơn 30 bài báo

và báo cáo về nhiều chủ đề khác nhau, Tiến sĩ Zgourides còn là tác giả của một số cuốn sách

bao gồm Hoạt Động Tình Dục ở Con Người: Viễn Cảnh Hiện Tại (HarperCollins, 1996), Tâm

Lý Học Tiến Triển (Cliffs Notes, 2000), Xã hội học (Cliffs Notes,2000), và Hội Chứng Bong Bóng Nhút Nhát: Hướng Dẫn Từng Bước Từng Bước Để Vượt Qua Paruresis (Nhà xuất bản

New Harbinger, 2001) Trước đây, ông từng là giảng viên chính thức của Đại học Portland, bang Oregon

Christie S Zgourides, M.A., là một nhà sư phạm và người quản lý y tế trên các lĩnh vực

tư tưởng phê phán, logic phi-quy-ước, lý thuyết cấu tạo, tu từ học và quản lý y tế Trước đây, bà

là phó giáo sư của Đại học Warner Pacific College ở Portland, bang Oregon

Nguyễn Hồng Trang, Cử Nhân, Đại Học Quốc Gia Hà Nội Hiện tại sống ở Hà Nội Nguyễn Lưu Trọng Quyền, M.A., giảng viên Đại Học Cộng Đồng West Valley

Trang 13

Chương 1

Hoạt Động Tình Dục và Quan Điểm Tâm Sinh Lý Xã Hội

Hầu hết mọi người Mỹ đều có sự hiểu biết mang tính trực giác về nghĩa của cụm từ hoạt động tình dục của con người Đối với nhiều người hoạt động tình dục đơn thuần là theo đuổi thú vui xác thịt Đối với những người khác, nó là chức năng sinh lý - một vấn đề liên quan đến giới

và sinh sản Và đối với những người khác thì nó là sự thân mật - một phương tiện để thể hiện tình yêu Nếu bạn yêu cầu 10 người đưa ra định nghĩa của họ về tình dục thì bạn có thể nhận được ít nhất 10 câu trả lời khác nhau

Tất cả các nền văn minh đều xây dựng cho mình những định nghĩa về tình dục và cách miêu tả những hành vi tình dục, cho dù những cách này không phải lúc nào cũng nhất quán với các thuật ngữ và cách miêu tả của Phương Tây Từ sexual (tình dục) trong Tiếng Anh bắt nguồn

từ tiếng La Tinh sexualis và sexus, mỗi từ nói đến vấn đề giải phẫu sinh sản ở người - dù cho là nam hay nữ Đến thế kỷ 19, từ sexuality (hoạt động tình dục) bao gồm cả các hành vi liên quan đến cơ quan sinh dục phục vụ mục đích sinh sản Khoảng 100 năm trước sexuality (hoạt động tình dục) hay sex (tình dục, giới) không chỉ được dùng để nói đến các hoạt động liên quan đến

sự sinh sản (procreational) (có nghĩa là sinh con), mà còn được dùng để nói đến sự tiêu khiển (recreational) (quan hệ tình dục vì mục đích vui thú) và quan hệ (relational) (tận hưởng tình yêu

và sự thân mật)

Vì sử dụng thuật ngữ sexual (tình dục) có thể gây nhầm lẫn nên trong cuốn sách này chúng tôi sử dụng từ sex (tình dục, giới) để nói đến các hành vi tình dục (ví dụ "quan hệ tình dục") và bản chất sinh học ("Giới tính của đứa trẻ là nữ"), trừ khi trong bối cảnh của đoạn viết

từ sex được dùng như từ rút ngắn cho hai từ chuẩn tắc là sexual (tình dục) và sexuality (hoạt động tình dục) (“giáo dục tình dục", "nghiên cứu tình dục," và "trị liệu tình dục") Chúng tôi cũng sử dụng từ gender (giới) để nói đến việc giải phẫu tình dục của cá nhân và các khía cạnh tâm lý của nam hay nữ; gender identity (nhận dạng giới) được dùng để chỉ ý thức cá nhân của từng người về việc bản thân là nam hay nữ; gender role (vai trò về giới) để chỉ sự thể hiện bên ngoài về nhận dạng giới của một người đặt trong bối cảnh văn hóa hay xã hội; và sexual

orientation (xu hướng tình dục) để nói đến sự hấp dẫn tình dục của một cá nhân đối với những người cùng giới và/hay khác giới Chúng tôi cũng sử dụng từ sexual identity (nhận dạng tình dục) để nói về tất cả những điều này Với sự xuất hiện của các phương pháp nghiên cứu tinh vi, việc hiểu biết về tình dục đã tăng lên một cách đáng kể trong những thập niên gần đây Nhiều

Trang 14

chuyên gia bây giờ đã coi hoạt động tình dục của con người là một lĩnh vực nghiên cứu khoa

học nghiêm túc Và mặc cho tính sẵn có của nhiều thông tin mới thì rõ ràng rằng môn khoa học

về hoạt động tình dục ở con người là thuộc chỉnh thể luận, và do đó nó bao gồm nhiều quan

điểm khác nhau Việc tiếp cận theo hướng chỉnh thể luận đối với các vấn đề về tình dục liên

quan đến những ảnh hưởng mang tính xã hội, tâm lý và sinh lý mà những mặt này tác động qua

lại với nhau, hình thành nên kinh nghiệm tình dục của một người Những ảnh hưởng tác động

qua lại với nhau này sẽ được đề cập cụ thể hơn ở phần sau của chương này và trong suốt cuốn

sách này

Mọi người đều có liên quan đến tình dục từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi Cho dù một

số người chọn việc sống độc thân (không quan hệ tình dục), nhưng họ vẫn là những thực thể

tình dục Hơn nữa, con người là năng động và thay đổi không ngừng Người càng có nhiều trải

nghiệm trong cuộc sống càng thay đổi thái độ của họ về vấn đề tình dục

Cho dù kinh nghiệm của từng người về tình dục là khác nhau nhưng có các xu hướng và

kiểu mẫu chung đối với kinh nghiệm về tình dục của mọi người Khả năng giải thích và hiểu

những kiểu mẫu và xu hướng tình dục này sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về hoạt động tình dục

của người khác cũng như của chính bản thân mình Nhiều người quên mất rằng, sinh hoạt tình

dục ở con người là một hiện tượng mang tính toàn cầu chứ không phải là thú vui của chỉ người

Mỹ

Do đó, tình dục học là một môn khoa học đòi hỏi coi con người của mọi nền văn hóa

như thực thể tình dục trong quá trình, nhận biết sự tác động qua lại của các khía cạnh sinh lý,

tâm lý và xã hội ảnh hưởng đến quá trình này Cái nhìn khái quát toàn diện về lĩnh vực tình dục

bao gồm các thảo luận về nghiên cứu tình dục, nhận dạng giới, vai trò của tình dục, giải phẫu

sinh lý và tình dục, việc gợi tình và sự đáp lại, xu hướng tình dục, các quan hệ yêu đương và

giao tiếp, hành vi tình dục, hoạt động tình dục và sự bất lực, hoạt động tình dục trong suốt

quãng đời, thụ thai, mang thai, sinh đẻ, tránh thai, phá thai, các bệnh lây truyền qua đường tình

dục, rối loạn tình dục và phương pháp điều trị, sự khác biệt về tình dục, buôn tình, quấy rối tình

dục, ngược đãi tình dục và những chuẩn mực luật pháp, quy phạm liên quan đến tình dục

Trong những chương tiếp theo, chúng tôi sẽ trình bày những điều này và các chủ đề liên

quan đến tình dục khác

TẠI SAO CẦN NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG TÌNH DỤC CỦA CON NGƯỜI ?

Tại sao cần nghiên cứu hoạt động tình dục ở con người? Những người tránh né việc suy

nghĩ một cách nghiêm túc về những khía cạnh quan trọng của cuộc sống, bao gồm cả sinh hoạt

tình dục của họ, là những người có khuynh hướng đưa ra những quyết định tồi khi phải đối mặt

với những tình huống rắc rối Học cách đưa ra những quyết định hợp lý, có hiệu quả về tình dục

là mục tiêu đầu tiên của việc nghiên cứu hoạt động tình dục ở con người Chúng tôi xin trích

dẫn câu nói của Susan Walen (1985)1, “Tình dục là hoàn toàn tự nhiên, nhưng hiếm khi được

hoàn hảo một cách tự nhiên" (trang 131) Mọi người đều có thể thu được lợi ích từ việc học

thêm về chủ đề quan trọng này

Trang 15

Dưới đây là 10 trong số nhiều lý do tại sao mọi người nên học thêm về hoạt động tình dục ở con người

• Để có thêm kiến thức

Kiến thức là sức mạnh Nếu bạn có những thông tin đúng đắn về một chủ đề, bạn sẽ ở một vị thế vững chắc hơn để đưa ra những quyết định đúng đắn, có hiệu quả trong cuộc sống Bạn có thể chịu trách nhiệm hơn với cuộc sống và hoàn cảnh của mình, và có thể lựa chọn cách

để nâng cao chất lượng cuộc sống cho chính bạn và người khác

• Để có được Sự sáng suốt Cá nhân

Vì niềm tin của bạn có ảnh hưởng đến cách cư xử của bạn và ngược lại, nên sự sáng suốt

cá nhân sẽ giúp bạn đưa ra những quyết định đúng đắn về hành vi xư xử của mình Có được sự sáng suốt đối với bản thân và hiểu lý do tại sao bạn tin hay làm việc gì đó là bước đầu tiên để hiểu thấu được người khác Khi bạn hiểu và chấp nhận bản thân mình, bạn sẽ thấy dễ dàng hơn trong việc hiểu và chấp nhận người khác, bao gồm cả những quyết định liên quan đến tình dục

mà họ có thể đưa ra

• Để trở nên Thoải mái hơn Đối với vấn đề Tình dục

Có kiến thức — và sự tôn trọng đối với — tình dục giúp bạn trở nên thoải mái hơn với phần quan trọng này của cuộc sống Nhiều người thiếu tự tin vào bản thân trong quan hệ tình dục, sự không thoải mái của họ bắt nguồn từ những thông tin sai lạc và quan niệm sai lầm về tình dục Đây là một trong những lý do cho thấy tại sao giáo dục tình dục lại quan trọng như thế

• Để xây dựng Sự tự công nhận về Tình dục

Xây dựng sự tự công nhận về tình dục là một lợi ích của việc trở nên thoải mái hơn với hoạt động tình dục của chính bản thân mình Mọi người thường nhầm lẫn giữa các từ tự nhận thức, lòng tự trọng và tự công nhận Tự nhận thức dùng để chỉ những quan điểm và ý kiến mà bạn cho là của bản thân, cho dù chúng có tích cực hay tiêu cực Lòng tự trọng liên quan đến những cảm giác về sự tự giá trị, và nghĩa rộng là đo lường những tiêu chuẩn bên trong hay bên ngoài Sự tự công nhận dùng để chỉ mức độ mà bạn chấp nhận bản thân như nó vốn có bất kể ý kiến của người khác về hành vi cư xử của bạn có như thế nào ( có nghĩa là "sự thể hiện" của bạn, sử dụng tâm lý học nhận thức)

Albert Ellis và các nhà tâm lý học khác tranh cãi với nhau rằng sự tự công nhận được ưa chuộng hơn lòng tự trọng Lòng tự trọng liên quan đến việc đánh giá bản thân dựa trên sự thể hiện của bạn, điều này có thể dẫn đến cảm giác không thỏa đáng trong tình dục khi bạn thể hiện

"kém" Ngược lại, sự tự công nhận có nghĩa là chấp nhận bản thân như nó vốn có, không quan tâm đến những lỗi lầm hay điểm yếu của bạn Khả năng tình dục của bạn, cho dù có thế nào, cũng không ảnh hưởng đến cách bạn nhìn bản thân

• Để Tối đa hóa việc Trao đổi và Sự thân mật

Trang 16

Nhiều người cho rằng nói những chuyện có liên quan đến tình dục gây bối rối, suy nghĩ

như vậy bắt đầu từ thời thơ ấu Các kỹ năng giao tiếp, một khi đã được học và áp dụng vào thực

tế, có thể giúp bạn cải thiện mối quan hệ của bạn với bạn tình của mình Nói chuyện về kinh

nghiệm tình dục của bạn là cần thiết, trao đổi về các vấn đề như thích, không thích, mong muốn,

và sợ hãi, sẽ giúp quan hệ tình dục an toàn hơn Khi trao đổi cởi mở, sự thân mật xuất hiện và

tăng lên Có khả năng chia sẻ bản thân toàn diện với người khác là một trong những điều thú vị

nhất của cuộc sống Theo một khách hàng:

Ghi Chép Cá Nhân (John, 66 tuổi)

Khi tôi trở nên già hơn, tôi chậm chạp hơn trong phòng ngủ Tôi cho đó là điều

tự nhiên Nhưng trong một thời gian dài, tôi lo lắng không biết vợ tôi sẽ nghĩ gì Ý tôi là,

không hiểu cô ấy có còn nghĩ rằng tôi là đàn ông nữa không? Liệu cô ấy có còn yêu tôi

không? Và lo lắng đó khiến cho việc quan hệ thậm chí khó khăn hơn Cuối cùng, tôi đã

thấy rằng chúng tôi cần nói chuyện về vấn đề đó Chúng tôi đã biến một câu chuyện dài

thành ngắn và đúng là có sự khác biệt Cô ấy hiểu và sẵn sàng giúp đỡ tôi Tôi đã quyết

định rằng sẽ tốt hơn khi sử dụng năng lượng của mình để nói chuyện về cảm giác của

mình thay vì cố gắng che giấu chúng (Hồ sơ của Tiến Sĩ Zgourides)

Trao đổi có thể rất có ích trong việc làm giảm hay loại bỏ những xung đột trong các mối

quan hệ chung Mặc dù các cặp vợ chồng thường phàn nàn về các vấn đề liên quan đến tiền

nong và tình dục, nhưng phần lớn thời gian vấn đề thực sự không được giải quyết bằng các

phương pháp trao đổi hiệu quả Mọi người thường thấy vấn của họ được giải quyết dễ dàng hơn

khi họ sẵn sàng nói chuyện cởi mở với người khác

• Để Tối đa hóa Khoái lạc Tình dục

Đối với hầu hết mọi người, hoạt động tình dục mang lại niềm vui thích mãnh liệt Làm

tăng hiểu biết của bạn về sự kích thích tình dục ở con người và cách đáp lại có thể làm tăng

thêm sự khoái lạc này Ví dụ, biết cách làm thế nào để khích thích những điểm nhạy cảm đặc

biệt của bạn tình có thể tạo ra sự khác biệt cho dù cả hai bạn đều có những trải nghiệm tình dục

thú vị dịu dàng hay ở trạng thái mê ly, ngây ngất, vui vẻ, hồ hởi Như đã đề cập ở trên, trao đổi

đóng một vai trò rất quan trọng ở đây Khi bạn tự do bày tỏ những điều bạn thích và mong muốn

của bạn thì sự ức chế có xu hướng biến mất Bạn và bạn tình của mình có thể hỏi về bất kỳ điều

gì khiến bạn cảm thấy thỏa mãn nhất

• Để Kiểm soát được việc Sinh sản

Nghiên cứu về hoạt động tình dục ở con người cung cấp cho bạn những thông tin thực tế

về việc kiểm soát sinh sản Với những thông tin này, bạn có thể nâng cao hay làm giảm cơ hội

thụ thai của mình Ít người có đủ những thông tin thực tế có giá trị liên quan đến việc sinh sản

Trang 17

• Để Tránh những Rối loạn Tình dục

Ở một chừng mực nào đó, hầu hết mọi người đều đã từng trải qua những khó khăn trong hoạt động tình dục Phần lớn những giai đoạn khó khăn đó đều là tạm thời Nhưng nếu những khó khăn đó trở thành mãn tính thì rối loạn tình dục (vấn đề liên quan đến các cơ chế gợi tình và

sự đáp lại) có thể đã xuất hiện Khi có những thông tin chính xác, các rối loạn tình dục thường

có thể được tránh hay loại bỏ ở giai đoạn đầu khi mới xuất hiện Ví dụ, một người đàn ông có một giai đoạn bị bất lực (không có khả năng đạt được sự cương cứng) có thể sẽ lo sợ mình sẽ bị bất lực mãi mãi đến nỗi anh ta không thể cương cứng bất kỳ khi nào có quan hệ Nếu điều này

cứ tiếp diễn, anh ta có thể sẽ phát triển nó thành bệnh rối loạn dương cương Tương tự như vậy, một người phụ nữ tập trung quá mức vào việc làm thế nào để trở nên gợi tình có thể sao nhãng bản thân đến mức việc gây hứng thú tình dục trở nên rất khó khăn hoặc không thể làm được Nếu tình trạng này tiếp diễn, cô ta có thể sẽ mắc chứng rối loạn ham muốn tình dục ở phụ nữ Trong cả hai trường hợp, những dạng thức của vòng luẩn quẩn là kết quả của việc dự đoán sự hoàn thành ước nguyện của mình, mà ở đó sự sợ hãi và kỳ vọng của một người thực sự đã đi đến chỗ gay go

• Để Tránh những Bệnh Lây truyền qua đường Tình dục

Nghiên cứu về hoạt động tình dục ở con người phải bao gồm cả chủ đề liên quan đến những bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiều bệnh trong số những bệnh này đã phát triển thành bệnh dịch, có thể gây chết người, có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh ra những đứa trẻ khỏe mạnh của hai vợ chồng, và/hoặc có thể gây những đau đớn phiền toái Bởi vậy, trước khi có quan hệ tình dục, mọi người cần phải xem xét nguy cơ bị nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục Vào "thời điểm nóng", nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ thường quên không để ý đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục "Điều đó sẽ không bao giờ xảy đến với tôi Tôi không phải là đối tượng có nguy cơ cao Tôi không phải là kẻ tiêm ch ma túy." Hay "Tôi ghét sử dụng bao cao su Dù sao đi nữa, cũng chẳng phải là vấn đề gì lớn nếu ngày nào đó tôi bị mắc bệnh lậu Chỉ cần tiêm penicillin là xong." Cảm giác không thể bị đánh bại thường là đặc điểm của những người trẻ tuổi Hãy nhớ rằng những bệnh lây truyền qua đường tình dục càng trở nên phổ biến thì nguy cơ nhiễm bệnh lại càng cao nếu như một người không

áp dụng các biện pháp phòng tránh thích hợp

• Để Mang đến những Thay đổi Xã hội Tích cực

Bằng việc cải thiện bản thân và những mối quan hệ của mình, bạn đang làm việc để cải tạo xã hội Bất kỳ những thay đổi tích cực và lành mạnh nào mà bạn làm đối với bản thân cũng

sẽ ảnh hưởng đến sự tương tác của bạn với những người khác Ví dụ, bằng việc trang bị những thông tin và với sự sáng suốt của bản thân bạn có thể làm việc để phòng chống sự lan truyền của những bệnh lây qua đường tình dục; bạn có thể giúp người khác hiểu hơn về những người thuộc những chủng tộc, tôn giáo và những nền văn hóa khác họ; và bạn có thể dạy người khác biết tôn trọng sự khác biệt về đức tin, giá trị, quyền lợi và sự lựa chọn quan hệ Bạn cũng có thể gánh những trách nhiệm xã hội và chính trị để cung cấp thông tin khi tranh luận liên quan đến những vấn đề về tình dục nảy sinh, chẳng hạn như việc sử dụng bào thai trong nghiên cứu y học, việc

sử dụng "thuốc phá thai" RL-486 và những nỗ lực coi đồng tính nam và đồng tính nữ là chuyện bình thường

Trang 18

Suy Nghĩ Cá Nhân

(Trong suốt cuốn sách này, chúng tôi đã trình bày nhiều câu hỏi gây suy nghĩ khác nhau để làm tăng nhận thức của bạn về các vấn đề tình dục Nhiều người thấy rằng

việc giữ lại những câu trả lời của họ đối với những câu hỏi khác nhau "Suy Nghĩ Cá

Nhân" được nêu ra trong cuốn sách này là một việc làm hữu ích - dưới dây là những câu

hỏi mà chúng tôi đưa ra.)

Bạn có dễ dàng nói chuyện cởi mở về tình dục với những người bạn? Với gia đình? Với người hướng dẫn? Với bạn đời? Với mục sư? Với các chuyên gia chăm sóc

sức khỏe của mình không? Tại sao có? Hay tại sao không? Bạn dã học để biết về tình

dục từ đâu? Hay từ ai? Ảnh hưởng nào có tác động lớn nhất trong việc hình thành các

giá trị và thái độ của bạn đối với vấn đề tình dục? Bạn cảm thấy những điều mình học

được là đúng đắn hay không đúng đắn?

Những điều tán thành và phản đối đối với giáo dục giới tính là gì? Có nên giảng dạy môn giáo dục giới tính ở trường phổ thông của nhà nước, của tư nhân không? Nếu

có thì nên giảng ở lớp mấy? Vai trò của gia đình và tôn giáo trong quá trình giáo dục

giới tính là gì? Những yếu tố nào là quan trọng để có một chương trình giảng dạy giáo

dục giới tính hay? Những yếu tố nào cần tránh? Người hướng dẫn có thể giúp hay gây

cản trở Suy Nghĩ Cá Nhân hay thảo luận nhóm về vấn đề tình dục như thế nào?

QUAN ĐIỂM TÂM SINH LÝ XÃ HỘI LÀ GÌ?

Định nghĩa về tình dục học được nêu ra ở trên nói đến mối tương quan giữa các quan

điểm về sinh lý, tâm lý và xã hội Sự tác động qua lại của ba yếu tố này hình thành nên bản chất

quan điểm tâm sinh lý xã hội của hoạt động tình dục ở con người, mà quan điểm này quy những

hiện tượng hay sự kiện phức tạp liên quan đến tình dục là do nhiều nguyên nhân Trái ngược với

quan điểm tâm sinh lý xã hội là quan điểm giản hóa luận, quan điểm này "làm giảm" những sự

kiện hay hiện tượng phức tạp liên quan đến tình dục, cho nó là do một nguyên nhân

Xem xét ví dụ áp dụng mô hình tâm sinh lý xã hội vào hoạt động tình dục của con

người Một số phụ nữ thấy khó khăn hoặc không thể đạt được sự cực khoái khi quan hệ tình

dục Loại vấn đề liên quan đến tình dục này có thể là do các nguyên nhân như: sự huấn thị, hay

những thông điệp nhận được từ thời thơ ấu - ví dụ như quan hệ tình dục là tội lỗi và phụ nữ

không được hưởng những khoái lạc do nó mang đến; sợ mang bầu; không trao đổi với người

bạn tình về nhu cầu và mong muốn của mình; không điều khiển được các cơ xương chậu;

và/hay chưa nhận đủ sự kích thích tự nhiên Một ví dụ thực tế về quá trình tương tác của các yếu

tố sinh lý, tâm lý, xã hội gây ra vấn đề tình dục kinh niên: Sally được nuôi dạy với niềm tin rằng

phụ nữ "tốt" không được hưởng thụ thú vui từ quan hệ tình dục hay không được có sự cực

khoái Do trải nghiệm về việc không được đạt đến cực khoái khi quan hệ tình dục với chồng của

mình (có nghĩa là yếu tố tâm lý) nên cô tập trung quá nhiều vào việc "thể hiện", điều này khiến

cô xao lãng khỏi việc đắm chìm bản thân vào trong hoạt động tình dục (tâm lý) Trong lúc đó,

Trang 19

hệ thống thần kinh của cô trở nên khuấy động đến nỗi việc đạt đến cực khoái là rất khó hoặc không thể (sinh lý) Nhiếc móc bản thân về việc không đạt đến cực khoái (tâm lý), cô đòi hỏi thái quá ở người chồng và tình cờ đã tạo nên môi trường tình dục mang tính thù địch mà điều này chỉ làm tăng thêm các vấn đề của cô (xã hội)

Phần còn lại của chương này được dành để nói về từng quan điểm trong ba quan điểm chính của mô hình tâm sinh lý xã hội của hoạt động tình dục ở con người, phần này cũng nói về những quan điểm khác nhau được xếp vào trong từng nhóm

CÁC QUAN ĐIỂM SINH HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG TÌNH DỤC Ở CON NGƯỜI

Điều được quan tâm đầu tiên trong những quan điểm sinh học là ảnh hưởng của các quá trình sinh học và tự nhiên đến hoạt động tình dục của một cá nhân Những chủ đề về tình dục liên quan đến phạm trù này bao gồm giải phẫu tình dục và sinh lý học nam và nữ, sự gợi tình và việc đáp lại, thu thai, mang thai, sinh nở, tránh thai, phá thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, và những ảnh hưởng của chứng bất lực và bệnh tật đối với hoạt động tình dục Một lần nữa, các nhân tố tâm lý và xã hội lại có ảnh hưởng đến từng lĩnh vực này Ví dụ, mặc dù việc phá thai có liên quan đến những can thiệp y học nhằm loại bỏ bào thai khỏi tử cung, nhưng có một chuỗi các hành động phức tạp có liên quan đến việc phá thai như những xem xét về thái độ, xã hội, luật pháp, quy tắc và đạo đức Những quan điểm sinh học bao gồm cả những quan điểm hóa sinh và tâm thần học

1 Quan điểm hóa sinh

Trọng tâm của quan điểm hóa sinh là tất cả những mặt chức năng của con người - tình dục và những mặt khác - đều phản ánh các quá trình sinh học và hóa học Theo mô hình này, những rối loạn tình dục là do các bệnh tật trong cơ thể, những vấn đề về cấu trúc, hay sự mất cân bằng hóa học Những nhà trị liệu sinh học, chẳng hạn như các bác Sĩ điều trị những vấn đề liên quan đến tình dục bằng cách cố gắng sửa chữa hay đảo lộn những quá trình sinh học bị suy yếu Ví dụ, liệu pháp sinh học điều trị chứng bất lực có thể bao gồm việc sử dụng thuốc và việc cấy dương vật giả Hai phạm trù nhỏ phổ biến của quan điểm hóa sinh là quan điểm vô tính và quan điểm di truyền Theo quan điểm vô tính, tất cả các mặt thuộc chức năng của con người (bao gồm cách cư xử, suy nghĩ và tình cảm) có cơ sở nằm trong hoạt động của hệ thống thần kinh Mặc dù các quá trình vô tính được hiểu một cách khá rõ, nhưng hoạt động của hệ thống thần kinh nói chung trong việc điều khiển hành vi tình dục thì lại chưa được hiểu nhiều Những người đưa ra quan điểm di truyền cho rằng tất cả các mặt thuộc chức năng con người đã được quyết định bởi yếu tố di truyền trước khi được sinh ra Hầu như tất cả các tế bào trong cơ thể người có đều có 23 cặp nhiễm sắc thể, những cấu trúc mang yếu tố di truyền Trong mỗi một cặp, một nhiễm sắc thể được di truyền từ bố, và một nhiễm sắc thể được di truyền từ mẹ Các nhiễm sắc thể mang gien, thông tin "lên kế hoạch" về cấu trúc và chức năng của cơ thể, bao gồm

cả chức năng tình dục

Trang 20

2 Quan điểm Tâm thần học

Quan điểm tâm thần học có cơ sở từ quan điểm hóa sinh, và từ một hay nhiều quan điểm

tâm lý Đối với các chuyên gia về tâm thần học sử dụng mô hình của Freud thì những rối loạn

về tình dục là kết quả của sự mất cân bằng hóa sinh và những mong muốn bị kìm nén hoặc

những xung đột Do đó việc điều trị các rối loạn này phải bao gồm cả việc sử dụng thuốc để

điều chỉnh sự mất cân bằng hóa học và cả liệu pháp phân tâm học để giúp bệnh nhân tháo gỡ

những kìm nén của họ Mặc dù ngày nay các chuyên gia về tâm thần học nhìn chung đều cho

rằng thuyết nguyên nhân (các căn nguyên gây bệnh) về sinh học, phân tâm học và tâm lý xã hội

là quan trọng như nhau, nhưng tâm thần học truyền thông vẫn còn dựa quá nhiều vào học thuyết

cổ điển của Freud Mọi người thường nhầm lẫn quan điểm tâm thần học với một hay nhiều quan

điểm tâm lý học Khác biệt chủ yếu của quan điểm tâm thần học với quan điểm tâm lý học là

tâm thần học tập trung vào cả quá trình sinh học lẫn quá trình tinh thần

NHỮNG QUAN ĐIỂM TÂM LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG TÌNH DỤC Ở CON NGƯỜI

Những người ủng hộ quan điểm tâm lý về hoạt động tình dục ở con người xem xét xem

những suy nghĩ, thái độ, tình cảm và hành vi được tích lũy từ những trải nghiệm trong cuộc

sống có ảnh hưởng đến thái độ và chức năng tình dục như thế nào? Những quan điểm này có

liên quan đến thái độ đối với tình dục (ví dụ "Tôi tin rằng quan hệ tình dục trước hôn nhân là

việc làm trái với đạo đức"), sự cởi mở trong việc thảo luận về cảm giác ("Vợ tôi có thể sẽ từ

chối tôi nếi tôi nói cho cô ý biết tôi muốn gì"), các dạng khác biệt về hành vi tình dục, những

người có hoạt động tình dục bất thường mong muốn gì, rối loạn tình dục phát triển như thế nào,

và các phương pháp gây ảnh hưởng đến những lĩnh vực này Những quan điểm tâm lý bao gồm

tâm lý động học, nhận thức-hành vi, tồn tại-chủ nghĩa nhân văn, các hệ thống, và quan điểm

phát triển

3 Quan điểm Tâm lý động học

Dựa trên học thuyết của Freud, quan điểm tâm lý động học là việc xem xét những động

cơ vô thức và mong muốn của một cá nhân và quyết định xem anh ta hay cô ta sẽ tương tác với

thế giới như thế nào Quan điểm này gần giống với quan điểm của tâm thần học truyền thống,

nhưng điểm khác biệt là ở chỗ nó tập trung hơn vào những ảnh hưởng tâm lý học so với ảnh

hưởng sinh học Ví dụ phương pháp điều trị tâm thần học truyền thống đối với bệnh vaginismus

(đau khi co thắt ở phần ngoài âm đạo khiến cho dương vật không thể hoặc rất khó có thể vào

được bên trong) là sử dụng thuốc trong khi điều trị bằng liệu pháp tâm lý động học không dùng

thuốc Tuy nhiên, cả hai hướng tiếp cận có thể cho thấy các phương pháp chung liên quan đến

cách giải thích học thuyết của Freud Một chuyên gia về tâm thần học theo thuyết Freud và một

nhà trị liệu tâm lý động học có thể coi người phụ nữ bị bệnh vaginismus có những xung đột

thầm kín liên quan đến những mong muốn tình dục "không thể chấp nhân" và điều này dẫn đến

"triệu chứng" ngăn cản khiến cô không nói ra những mong muốn của mình

Trang 21

4 Quan điểm Nhận thức - Hành vi

Quan tâm đầu tiên của những người theo quan điểm hành vi là vai trò của hành vi và kiến thức trong chức năng tổng thể của một cá nhân Chúng dựa trên vị trí của họ về học thuyết kiến thức, mà học thuyết này nói rằng những thay đổi thường trực (hay khá thường xuyên) trong hành vi xuất hiện là do những trải nghiệm Những người theo quan điểm hành vi rất nghiêm khắc như B F Skinner đã khẳng định rằng hoạt động nhận thức (suy nghĩ) tương đối không quan trọng khi nghiên cứu về hành vi Trong những thập niên gần đây, những nhà nghiên cứu như David Barlow không thừa nhận quan điểm này, điều này dẫn đến việc một số nhà khoa học hành vi đã dán mác "cuộc cách mạng nhận thức" - công nhận một cách rộng rãi vai trò của quá trình nhận thức gây ảnh hưởng đến hành vi và cảm giác

Trung tâm của học thuyết nhận thức là ý kiến cho rằng quá trình tư duy có ảnh hưởng to lớn đến cuộc sống hàng ngày Hay như nhà triết học Hi Lạp cổ đại Epictetus đã nói "Con người không bị đảo lộn bởi những sự việc, mà họ bị đảo lộn do cách nhìn nhận sự việc của mình." Nói một cách đơn giản, nhận thức của một cá nhân về sự kiện là rất quan trọng chứ nhất thiết không phải là bản thân sự kiện đó

Nhiều chuyên gia tin rằng quan điểm về kiến thức sẽ là không hoàn thiện nếu như không quan tâm đến vai trò của nhận thức Điều này làm tăng quan điểm nhận thức - hành vi, mà quan điểm này kết hợp với cả học thuyết kiến thức lẫn học thuyết nhận thức Một ví dụ về mô hình toàn diện của nhận thức - chủ nghĩa hành vi là ví dụ về liệu pháp hành vi - cảm xúc - lý trí của Albert Ellis, một loại liệu pháp dùng để xóa bỏ những niềm tin vô lý Ngoài ra, liệu pháp hành

vi - cảm xúc - lý trí còn được áp dụng một cách thành công trong việc chữa trị nhiều vấn đề bệnh lý lâm sàng bao gồm cả rối loạn tình dục và lo lắng

5 Quan điểm Tồn tại - Chủ nghĩa nhân văn

Quan điểm Tồn tại - Chủ nghĩa nhân văn nhấn mạnh tầm quan trọng của trải nghiệm tức thì, sự tự chấp nhận và sự thể hiện đầy đủ tiềm năng của mình Nhận thức được cảm giác là một mặt quan trọng của quan điểm này Trên phương diện của tình dục, việc tập trung quá nhiều vào quá khứ hay tương lai làm giảm những khoái lạc tình dục hiện tại là nguyên nhân thường xuyên gây ra các vấn đề về tình dục Ngược lại, tự chấp nhận và thoải mái với hoạt động tình dục rất

có tác dụng trong việc thúc đẩy sự hoàn thành ước nguyện của chính mình trong quan hệ yêu đương

6 Quan điểm Hệ thống

Phần lớn con người tồn tại như những thành viên của một hay nhiều nhóm hay hệ thống

xã hội Quan điểm hệ thống quan tâm đến việc những hệ thống xã hội khác biệt tương tác và gây ảnh hưởng đến các cá nhân, các cặp vợ chồng và các gia đình như thế nào Hệ thống xã hội phổ biến nhất là gia đình, trường học, công sở, cộng đồng và tôn giáo

Con người có thể nhận được những thông điệp mâu thuẫn hay không lành mạnh về tình dục từ cha mẹ, nhà trường và/hay tôn giáo của họ Biết được hệ thống nào đưa ra những thông điệp nào vừa giúp có thêm kiến thức và vừa có ích đối với việc chống lại những thông điệp này

Trang 22

Hơn nữa, việc nhận biết và phân tích xem những hệ thống xã hội cụ thể tương tác như thế nào là

cơ sở để hiểu về hành vi tình dục Hãy xem một đứa trẻ hành động mang tính nhục dục ở trường

học Cậu bé hành động như vậy có thể là để phản ứng lại với những vấn đề mà nó gặp phải ở gia

đình, chẳng hạn như những rắc rối do không hòa hợp được với anh chị em ruột hay cậu bé là

nạn nhân của việc lạm dụng tình dục

7 Quan điểm phát triển

Tình dục là một quá trình năng động, thậm chí nhiều kiểu mẫu tình dục được hình thành

từ thời thơ ấu Từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi, con người là những thực thể tình dục Con

người tiếp tục học, thay đổi và phát triển Quan điểm phát triển xử lý những vấn đề liên quan

đến những thay đổi khác nhau, bao gồm cả tình dục, mà những thay đổi này xuất hiện trong suốt

cuộc đời Những chuyên gia về phát triển đối đầu với những câu hỏi như: Liệu trẻ con có hoạt

động tình dục không? Tuổi dậy thì có ảnh hưởng như thế nào đến quan điểm của một cá nhân về

thế giới? Cái gì là nhu cầu tình dục đáng chú ý ở người già?

Suy Nghĩ Cá Nhân

Hãy viết ra một số thông điệp liên quan đến tình dục mà bạn nhận được từ thời thơ ấu và thời niên thiếu Nếu có thì kiểu mẫu nào là rõ ràng?

CÁC QUAN ĐIỂM XÃ HỘI VỀ HOẠT ĐỘNG TÌNH DỤC Ở CON NGƯỜI

Kiểu mẫu của một nhóm người cụ thể là gì? Đây chính là một trong những khía cạnh mà

quan điểm xã hội quan tâm Quan điểm xã hội quan tâm đến những ảnh hưởng và giá trị về văn

hóa và xã hội Những chủ đề liên quan đến hoạt động tình dục ở con người nằm trong phạm trù

này bao gồm: nhận dạng và vai trò của giới, hoạt động tình dục trong suốt đời sống con người,

xu hướng tình dục, buôn bán tình dục, ngược đãi tình dục, pháp luật, đạo đức và tôn giáo Tất

nhiên, yếu tố sinh học và tâm lý có ảnh hưởng mạnh mẽ đến những quan điểm này Ít nhất, một

giải thích hiện tại đang dùng về xu hướng tình dục cũng thừa nhận sự có mặt của cả yếu tố xã

hội và sinh học đứng trước Quan điểm xã hội bao gồm các quan điểm về sự so sánh giữa các

loài, sự so sánh giữa các nền văn hóa, thống kê, lịch sử, luật pháp và đạo đức, và tôn giáo

1 Quan điểm so sánh giữa các loài

Quan điểm so sánh giữa các loài xem xét những tương đồng và khác biệt giữa hành vi

tình dục của con người và hành vi tình dục của những loài động vật khác So sánh hành vi tình

dục giữa các loài với nhau có thể mang đến sự hiểu biết có giá trị về bản chất hoạt động tình dục

ở con người Ví dụ, ngoài con người ra hành vi thủ dâm và đồng tính luyến ái cũng xuất hiện ở

một số động vật có vú khác nữa

Trang 23

2 Quan điểm so sánh giữa các nền văn hóa

Nghiên cứu về hoạt động tình dục ở con người cũng cần phải đề cập đến những vấn đề

và sự khác biệt về văn hóa Những nghiên cứu và điều tra xã hội đã xác định rằng những giá trị, tập quán và niềm tin về tình dục ở các nền văn hóa khác nhau là khác nhau Điều được chấp nhận ở nhóm này có thể không được chấp nhận ở nhóm khác Do đó cụm từ tính tương đối giữa các nền văn hóa được dùng để chỉ tính chất tương đối của phong tục và các chuẩn mực hành vi Cảnh báo đối với sự khác biệt văn hóa làm tăng cơ hội để phủ nhận những khuôn mẫu vai trò - tình dục, hay niềm tin trong một xã hội về việc các thành viên của từng giới nên ăn mặc và hành động như thế nào Do đó quan điểm so sánh giữa các nền văn hóa quan tâm đến sự khác biệt tồn tại trong những nền văn hóa khác nhau

Suy Nghĩ Cá Nhân

Đâu là những ích lợi của cảnh báo đối với các vấn đề về văn hóa khi nghiên cứu hoạt động tình dục ở con người? Hãy phỏng vấn những người thuộc nền văn hóa khác với bạn để xem xét thái độ của họ đối với hoạt động tình dục của con người Điều gì được xem là bình thường và bất thường ở những nền văn hóa đó? Những người thuộc nền văn hóa đó có tự do nói chuyện cởi mở về các vấn đề liên quan đến tình dục không? Những người thuộc nền văn hóa đó có nhạy cảm đối với những chuẩn mực của các nền văn hóa khác không?

3 Quan điểm Thống kê

Quan điểm thống kê được xây dựng dựa trên tần suất xuất hiện của thái độ hay thông lệ trong một xã hội Cho dù ở bất kỳ nhóm nào cũng có những thái cực được ghi nhận nhưng khuôn khổ thống kê chỉ quan tâm đến những đặc điểm của số đông nhất các thành viên, nói cách khác là "sự trung bình" đặc điểm của các thành viên Ví dụ, nghiên cứu chỉ ra rằng việc thủ dâm

ở nam giới là rất phổ biến, đặc biệt là ở các nam thanh niên

4 Quan điểm Lịch sử

Quan điểm lịch sử quan tâm đến những vấn đề và chủ đề liên quan đến tình dục trên góc

độ những bối cảnh, tập quán, giá trị, thái độ mang tính lịch sử Sẽ dễ dàng hơn trong việc làm rõ những vấn đề phức tạp liên quan đến hoạt động tình dục của con người khi ta xem xét vai trò mà những vấn đề đó đã từng đóng trong lịch sử Lấy ví dụ, nhiều quan điểm xã hội ngày nay liên quan đến đồng tính luyến ái phản ánh những chuẩn mực của người Do thái, có lẽ lần đầu tiên được giải thích là vào khoảng năm 1400 trước công nguyên

5 Quan điểm Luật pháp và Đạo đức

Như tên của quan điểm đã ngụ ý, quan điểm luật pháp và đạo đức quan tâm đến những ảnh hưởng của chuẩn mực về luật pháp và đạo đức lên các cá nhân Những thành viên của xã hội bầu ra những nhà lãnh đạo, những người phê chuẩn luật pháp cho phép hay ngăn cấm những

Trang 24

loại hành vi cụ thể nào đó Luật pháp cho phép xã hội nói chung được quy định hành vi cư xử

của các thành viên trong xã hội đó

Đạo đức là những nguyên tắc chỉ đạo tự điều chỉnh Các cá nhân sử dụng đạo đức để

định hướng những quyết định trong cuộc sống hàng ngày của họ Họ cũng sử dụng đạo đức xác

định những tổ chức mang tính chuyên nghiệp của mình và xác định hành vi có thể của các thành

viên khác Có rất nhiều tổ chức như thế chẳng hạn như Hiệp hội Tâm lý học Mỹ, Hiệp hội

những nhà Giáo dục, Tư vấn và Trị liệu Tình dục Mỹ, những Hiệp hội này đã xây dựng các quy

tắc đạo đức nhằm hướng dẫn những người đang hành nghề để họ tự điều chỉnh hành vi của mình

với mục đích không gây hại đến người khác bằng việc đảm bảo sử dụng những phương pháp và

kỹ năng một cách thích hợp

6 Quan điểm Tôn giáo

Quan điểm tôn giáo quan tâm đến những ảnh hưởng của các học thuyết, kinh thánh và sự

duy linh lên các cá nhân và xã hội Đối với những người lớn lên trong môi trường tôn giáo,

những lời dạy, bài học và các giá trị được tôn giáo có tổ chức đưa ra có thể đóng một vai trò lớn

trong cuộc sống, nó có thể lành mạnh, có hại hoặc trung tính Không đâu có nhiều trường hợp

như tình dục

Một phạm trù nhỏ cụ thể của quan điểm tôn giáo là quan điểm siêu nhiên, quan điểm này

cho rằng những thế lực siêu nhiên (Ví dụ như Chúa, các thiên thần, ác quỷ, và/hay linh hồn) có

thể gây ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi của con người Ngày nay, quan điểm siêu nhiên vẫn

còn được nhiều nhóm ủng hộ, quan điểm siêu nhiên là phương pháp nguyên thuỷ dùng để giải

thích những bệnh tật của con người, những quan điểm này thịnh hành nhất từ thời xa xưa cho

đến tận thế kỷ 18

7 Quan điểm Cá nhân

Trong chừng mực nào thì quan điểm tôn giáo đóng một vai trò quan trọng trong cách

nhìn cá nhân của bạn đối với hoạt động tình dục ở con người?

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

1 Từ sexual (tình dục) ban đầu được dùng để chỉ giới tính của một người, là nam hay

nữ 100 năm trước đây sexuality (tình dục), hay sex (tình dục, giới) bắt đầu được dùng để chỉ

các hoạt động liên quan đến procreational (sự sinh sản), recreational (sự tiêu khiển), và

relational (quan hệ)

Trang 25

2 Sexology (Tình dục học) là một môn khoa học đòi hỏi coi con người của mọi nền văn hóa như thực thể tình dục trong quá trình, nhận biết sự tác động qua lại của các khía cạnh sinh

lý, tâm lý và xã hội ảnh hưởng đến quá trình này

3 Có nhiều lý do để nghiên cứu hoạt động tình dục ở con người Một số lý do phổ biến

là để có thêm kiến thức, để có được sự sáng suốt cá nhân, để trở nên thoải mái hơn đối với vấn

đề tình dục, để xây dựng sự tự chấp nhận về tình dục, để tối đa hóa sự trao đổi và thân mật, để tối đa hóa khoái lạc tình dục, để kiểm soát được việc sinh sản, để tránh những rối loạn tình dục,

để tránh những bệnh lây truyền qua đường tình dục, để mang đến những thay đổi xã hội tích cực

4 Đọc những cuốn sách viết về tình dục là một cách để giáo dục tình dục, mục tiêu đầu tiên của nó là học cách đưa ra những quyết định có lý và hiệu quả về những vấn đề liên quan đến tình dục

5 Lĩnh vực liên quan đến hoạt động tình dục của con người thuộc chỉnh thể luận và nó bao gồm rất nhiều quan điểm khác nhau Sự tương tác giữa các quan điểm sinh học, tâm lý học

và xã hội hình thành nên bản chất quan điểm tâm sinh lý xã hội về hoạt động tình dục ở con người

6 Những quan điểm sinh học gồm có quan điểm hóa sinh và quan điểm tâm thần học, nó quan tâm đến ảnh hưởng của các quá trình sinh học và tự nhiên lên hoạt động tình dục

7 Những quan điểm tâm lý gồm tâm lý động học, nhận thức-hành vi, tồn tại-chủ nghĩa nhân văn, các hệ thống, và quan điểm phát triển quan tâm đến những vai trò mà các suy nghĩ, thái độ, tình cảm, hành vi đóng vai trò trong hoạt động tình dục

8 Những quan điểm xã hội bao gồm các quan điểm về sự so sánh giữa các loài, sự so sánh giữa các nền văn hóa, thống kê, lịch sử, luật pháp và đạo đức, và tôn giáo quan tâm đến ảnh hưởng của những sức mạnh văn hóa và xã hội lên hoạt động tình dục

Trang 26

Chương 2

Nghiên Cứu Về Tình Dục Là Gì?

Nghiên cứu về tình dục là một phương thức khoa học thu thập thông tin về những khía

cạnh khác nhau của tình dục nhằm mục đích thu được những hiểu biết có thể ứng dụng được

cho các cá nhân và xã hội Những phương pháp sớm nhất nghiên cứu về tình dục là xem xét

những trường hợp lịch sử của các bệnh nhân và phỏng vấn rất nhiều người Những phương pháp

gần đây là quan sát những phản ứng tình dục của các tình nguyện viên ở trong phòng thí nghiệm

và tiến hành các thử nghiệm Tình dục học đã có nhiều tiến bộ trong những thập niên gần đây vì

các nhà nghiên cứu về tình dục đã sử dụng những phương pháp tinh tế và vì mọi người đã trở

nên cởi mở hơn đối với quan điểm thuộc hình thức này của nghiên cứu

Suy Nghĩ Cá Nhân

Tại sao bạn nghĩ rằng nghiên cứu tình dục là một lĩnh vực được quan tâm ít nhất cho đến tận thế kỷ 20?

TÌNH DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC

Định nghĩa về tình dục học được trình bày ở Chương 1 đã sử dụng cụm từ một môn khoa

học Khoa học là gì? Và nghiên cứu tình dục như một môn khoa học là thế nào?

Một số người không nghĩ rằng các môn khoa học "xã hội" chẳng hạn như xã hội học và

tâm lý học là những môn khoa học "thực sự" giống như vật lý hay hoá học Trong khi có những

khác biệt cố hữu giữa các khoa học "mềm" và "cứng", thì những nguyên tắc cơ bản chung của

khoa học vẫn được áp dụng Từ khoa học bắt nguồn từ tiếng La Tinh scire, nó có nghĩa là "hiểu

biết." Qua nhiều thế kỷ, khoa học gần như bao gồm tất cả các lĩnh vực Chỉ trong vòng khoảng

vài trăm năm trước, từ này đã bắt đầu được dùng để chỉ những giá trị và phương pháp nghiên

cứu cụ thể nào đó Ngày nay, một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể được gọi là một môn khoa học nếu

như các nhà nghiên cứu nó sử dụng phương pháp khoa học - một hướng tiếp cận có hệ thống để

nghiên cứu những câu hỏi và các vấn đề bằng việc quan sát một cách khách quan và chính xác,

tiến hành thực nghiệm trực tiếp, thu thập và phân tích thông tin, và tái tạo những quá trình này

Nói cách khác, các nhà khoa học nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thu thập thông tin một

Trang 27

cách cẩn thận, không thiên vị khi đánh giá các số liệu, quan sát các hiện tượng, tiến hành thử nghiệm, ghi chép các bước và kết quả một cách chính xác Các nhà khoa học cũng quan tâm đến việc những phát hiện của họ được các nhà khoa học khác công nhận

Nghiên cứu tình dục có phải là một khoa học? Đúng như vậy Theo như định nghĩa thì tình dục học là một môn khoa học nghiên cứu về tình dục Nhưng tại sao tình dục học là khoa học? Bởi vì những người nghiên cứu về tình dục (có nghĩa là những nhà nghiên cứu về tình dục chuyên nghiệp, những nhà giáo dục, những nhà trị liệu) dựa vào các phương pháp khoa học để nghiên cứu Giống như các nhà khoa học khác, những nhà nghiên cứu về tình dục nhấn mạnh vào việc thu thập và phân tích số liệu một cách chính xác, không thiên vị, quan sát một cách có

hệ thống, tiến hành thực nghiệm, và hoài nghi về những phát hiện của họ Nói tóm lại, một môn

cụ thể nào đó có phải là khoa học hay không phụ thuộc nhiều vào phương pháp nghiên cứu được sử dụng chứ không phải là lĩnh vực nghiên cứu cụ thể nào đó

NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG NGHIÊN CỨU TÌNH DỤC

Trước khi thảo luận về những phương pháp nghiên cứu tình dục, chúng ta nên xem xét một số khái niệm nghiên cứu cơ bản Những điều tra viên thường bắt đầu nghiên cứu sau khi tìm được những ý tưởng cho việc nghiên cứu của họ từ một học thuyết cụ thể nào đó, hay từ những phát biểu kết hợp nhằm giải thích những hiện tượng khác nhau Bởi vì một học thuyết là quá chung chung hay mơ hồ để có thể kiểm tra một nghiên cứu nên các nhà nghiên cứu tạo ra một giả thuyết, hay một suy luận có thể kiểm chứng cụ thể từ học thuyết, và kiểm tra nó thay vì kiểm tra học thuyết Kết quả của việc nghiên cứu hoặc chứng minh giả thuyết đưa ra là sai hay

là đúng Nếu kết quả bị chứng minh là sai, những nhà nghiên cứu không thể đưa ra những dự báo và phải đặt câu hỏi về tính chính xác của học thuyết Còn nếu kết quả được chứng minh là đúng, những nhà nghiên cứu có thể đưa ra dự đoán căn cứ trên giả thuyết

Mục đích trước tiên của việc nghiên cứu về tình dục là phát hiện ra những khác biệt, xu hướng và kiểu mẫu liên quan đến tình dục của những thành viên trong một cộng đồng dân cư, hay một nhóm là đối tượng của nghiên cứu Đối tượng là các thành viên của một cộng đồng dân

cư, những người tham gia vào trong nghiên cứu Những nhà nghiên cứu hy vọng rằng các đặc điểm của những ví dụ tiêu biểu của họ lấy trong cộng đồng dân cư là đại diện cho những đặc tính của toàn bộ tất cả các cộng đồng Nếu như vậy, họ có thể khái quát hóa, hay áp dụng kết quả của họ vào cộng đồng Ví dụ đại diện tiêu biểu nhất nhìn chung là ví dụ ngẫu nhiên, ở đó mỗi thành viên của một cộng đồng dân cư có cơ hội như nhau trong việc được lựa chọn là đối tượng của nghiên cứu

Những nhà nghiên cứu sử dụng một bài kiểm tra hay một bảng câu hỏi thăm dò trong nghiên cứu, họ quan tâm đến độ tin cậy của bài kiểm tra, hay khả năng cung cấp những kết quả nhất quán khi áp dụng vào những trường hợp khác nhau của bài kiểm tra đó Họ cũng quan tâm đến căn cứ vững chắc của bài kiểm tra, hay khả năng đo lường những cái mà họ muốn đo lường của bài kiểm tra đó Trong nghiên cứu định tính, thông tin được thu thập từ các đối tượng, có thể được lấy từ việc miêu tả bằng lời về các sự kiện cụ thể nào đó, chẳng hạn như cảm thấy thế nào khi quan hệ tình dục, hay từ việc quan sát trực tiếp các sự kiện, chẳng hạn như quan sát hành vi tình dục của các động vật thuộc loài linh trưởng Trong nghiên cứu định lượng, thông tin được

Trang 28

thu thập từ các đối tượng (ví dụ: tình trạng hôn nhân của đối tượng) có thể được lấy từ dạng hay

được chuyển sang các con số (độc thân = 1; đã có gia đình = 2) Mặc dù những miêu tả bằng lời

và những quan sát có thể hữu ích trong và đối với bản thân, nhưng nhiều nhà khoa học vẫn thích

những thông tin được thu thập dưới dạng số hơn vì chúng tạo điều kiện dễ dàng cho việc phân

tích số liệu

Những nhà nghiên cứu sử dụng số liệu thống kê, hay các bước toán học để miêu tả và rút

ra kết luận từ các số liệu Có hai loại số liệu thống kê: mang tính miêu tả, sử dụng để miêu tả số

liệu (ví dụ: "72% phụ nữ trong nghiên cứu này có những ý nghĩa kỳ quặc về tình dục khi quan

hệ"), và mang tính suy luận, sử dụng để đưa ra dự báo về một số lượng lớn hơn dân số dựa trên

những khác biệt đáng kể được thấy giữa các cá nhân hay các nhóm ("Đàn ông thể hiện hành

động khiêu dâm một cách bạo lực có xu hướng coi việc sử dụng bạo lực với phụ nữ là chấp

nhận được nhiều hơn so với những người đàn ông không thể hiện hành động khiêu dâm một

cách bạo lực") Những nhà nghiên cứu sử dụng cả hai loại thống kê để rút ra những kết luận

chung về những ví dụ và dân số của họ

ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU TÌNH DỤC

Các nguồn tài liệu nghiên cứu tình dục - những tạp chí và sách học thuật, những khảo sát

mang tính quốc gia của các tạp chí, và "những tin vắn trên truyền hình" - rất đa dạng về chất

lượng thông tin được xuất bản Bởi thế sẽ là khôn ngoan nếu ta không chấp nhận giá trị bề ngoài

của tất cả các nghiên cứu về tình dục Khả năng đánh giá nghiên cứu và những khám phá của nó

là rất quan trọng khi nghiên cứu hoạt động tình dục ở con người (hay bất kỳ chủ đề nào khác

liên quan đến vấn đề này) Mặc dù có khá nhiều thông tin chính xác, nhưng cũng có không ít

những thông tin không chính xác Thật không may khi những nghiên cứu có ý đồ tồi hay được

thực hiện một cách kém cỏi có xu hướng mang lại những quan niệm sai lầm về tình dục cho xã

hội

Những tạp chí chuyên ngành và tạp chí xuất bản định kỳ có thể là những nguồn thông tin

quan trọng cung cấp những thông tin khoa học về tình dục vì những nhà nghiên cứu chuyên

nghiệp và những bác sĩ lâm sàng là những người đóng góp số lượng lớn tài liệu cho các tạp chí

này, và cũng vì ban biên tập xem xét lại những tài liệu mà họ gửi, do đó những nghiên cứu được

xuất bản có chất lượng cao hơn Một số tạp chí đứng đầu về tình dục là Tạp Chí Thường Niên

Về Nghiên Cứu Tình Dục, Những Tài Liệu Lưu Trữ Về Hành Vi Tình Dục, Nhà Giáo Dục

Cuộc Sống Gia Đình, Những Quan Điểm Quy Hoạch Gia Đình, Tạp Chí Về Đồng Tính Luyến

Ái, Tạp Chí Về Hôn Nhân Và Gia Đình, Tạp Chí Về Tâm Lý Học Và Hoạt Động Tình Dục ở

Con Người, Tạp Chí Về Tình Dục Và Liệu Pháp Hôn Nhân, Tạp Chí Về Giáo Dục Giới Tính

Và Liệu Pháp, Tạp Chí Về Nghiên Cứu Tình Dục, Những Khía Cạnh Y Học Về Tình Dục ở

Con Người, Và Tạp Chí Về Kế Hoạch Hóa Gia Đình Những tạp chí thông thường và truyền

hình nhìn chung không cung cấp những nguồn thông tin khoa học chính xác về tình dục, bởi vì

những nghiên cứu được thông báo trên các phương tiện truyền thông này có xu hướng thuộc

phong cách gây xúc động mạnh và được xây dựng một cách kém cỏi

Các độc giả nên suy nghĩ về một số các vấn đề chung khi quyết định xem một nghiên

cứu có giá trị hay không Hỏi những câu hỏi dưới đây có thể có tác dụng:

Trang 29

• Liệu những nhà nghiên cứu đó có trình độ để thực hiện những nghiên cứu liên quan đến tình dục? Những giấy tờ, bằng cấp chứng minh trình độ của họ? Họ có liên hệ gì với bệnh viện, viện nghiên cứu hàn lâm hay phòng thí nghiệm không?

• Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là gì? Lợi thế và bất lợi của phương pháp nghiên cứu đó là gì? Liệu những nhà nghiên cứu đó có thừa nhận những hạn chế đi kèm với các phương pháp cụ thể của họ không?

• Liệu những bảng câu hỏi hay bài kiểm tra được sử dụng có đáng tin cậy hay có căn cứ vững chắc không?

• Liệu các nhà nghiên cứu có đưa ra sự khái quát hóa dựa trên số đông không? Nếu có thì đại diện nào của số đông được dùng làm ví dụ tiêu biểu của họ?

• Liệu ví dụ tiêu biểu của họ có sự thiên vị về giới, có nhiều nam giới hơn phụ nữ hay ngược lại nhiều phụ nữ hơn nam giới không? Liệu ví dụ tiêu biểu đó có mang tính thiên

vị ở bất kỳ cách nào khác không? Nó có tính đến nhóm thiểu số không? Ví dụ tiêu biểu

đó chỉ được dành riêng cho đô thị hay nông thôn không?

• Nếu nghiên cứu là một thử nghiệm thì liệu có một nhóm chỉ đạo không cho phép tiết lộ những điều kiện thực nghiệm so sánh với nhóm thử nghiệm không?

• Liệu những nhà nghiên cứu có sử những các bài kiểm tra thống kê phù hợp nhất để phân tích số liệu không? hay họ chỉ đơn giản đưa ra nhận xét về cái có vẻ như là kiểu mẫu thôi

• Liệu những kết luận được rút ra từ các số liệu có biểu thị theo cách thừa nhận những khả năng khác không?

• Có những nghiên cứu được xuất bản ủng hộ hay phản đối phương pháp nghiên cứu hay những khám phá của các nhà nghiên cứu này không?

Bất kỳ nhà nghiên cứu dày dạn kinh nghiệm nào cũng sẽ chứng thực rằng danh sách những câu hỏi này đã bao quát hết các mặt Các trường cao đẳng và đại học có đưa ra toàn bộ chương trình về nghiên cứu thống kê và các phương pháp nghiên cứu, nội dung của các chương trình đó không nằm trong phạm vi của cuốn sách này Tuy nhiên, đọc và suy nghĩ về những chương đó sẽ cung cấp cho bạn ý niệm chung về các loại vấn đề giúp bạn đánh giá các bài nghiên cứu khác nhau

Suy Nghĩ Cá Nhân

Đâu là những lý lẽ tán thành và phản đối việc chọn trở thành một nhà nghiên cứu tình dục? Bạn dã bao giờ từng suy nghĩ đến việc chọn nghiên cứu tình dục là nghề nghiệp của mình? Tại sao có hay tại sao không?

Trang 30

CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÌNH DỤC

Các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để nghiên cứu về tình dục

Dưới đây là 6 phương pháp nghiên cứu phổ biến nhất: Nghiên cứu trường hợp, khảo sát, quan

sát, so sánh giữa các nền văn hóa, tương quan, và thực nghiệm

1 Nghiên cứu Trường hợp

Trong nghiên cứu trường hợp, các nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu tập trung vào

một cá nhân, hay trong một số trường hợp là một nhóm nhỏ các cá nhân Cá nhân tiêu biểu có

điều kiện hiếm hay có phản ứng thuận lợi với phương pháp điều trị mới Do đó, nghiên cứu

trường hợp thường mang tính đơn giản về bản chất Người nghiên cứu (thường là bác sĩ, nhà

tâm lý học, nhân viên xã hội, nhà tư vấn, hay nhà giáo dục) có thể sử dụng hoặc không sử dụng

bản tự báo cáo và bảng câu hỏi để có được những số liệu có thể xác định số lượng về người

bệnh Giống như nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu trường hợp có thể được tiến hành trong

hàng tuần, hàng tháng hay thậm chí hàng năm giữa nhà nghiên cứu và đối tượng

Một báo cáo trường hợp điển hình tuân theo 4 phần sau:

• Trình bày vấn đề: Điều kiện hay vấn đề khiến người bệnh đi chữa trị, bao gồm cả

những đánh giá về vấn đề

• Hoàn cản lịch sử: Tóm tắt lịch sử xã hội liên quan điều kiện của người bệnh

• Điều trị:Miêu tả quá trình chữa trị, bao gồm các bước và chi tiết mỗi buổi chữa

• Các kết quả điều trị: Miêu tả hiệu quả của việc điều trị, nếu có

Những nghiên cứu trường hợp rất có giá trị vì chúng cung cấp thông tin hữu ích về các

cá nhân, những điều kiện hiếm, và các liệu pháp chữa trị mới Nhiều thông tin về lạm dụng tình

dục, sự cưỡng hiếp, và các rối loạn tình dục đã được phát hiện theo cách này Mặt tiêu cực của

phương pháp nghiên cứu này là, các nghiên cứu trường hợp có xu hướng tập trung vào bệnh lý

học, và kết quả của nó chỉ được áp dụng cho những cá nhân có các điều kiện tương tự thay vì

được áp dụng đại chúng Sác xuất thiên kiến cao của người phỏng vấn ảnh hưởng đến các phản

ứng của người bệnh đối với việc chữa trị cũng hạn chế sự tổng quát của phương thức nghiên cứu

này

Hai trong số những nhà nghiên cứu tiên phong nổi tiếng nhất sử dụng phương pháp

nghiên cứu trường hợp để nghiên cứu về tình dục là Kraft-Ebing và Freud

Kraft-Ebing Richard von Kraft-Ebing (1840-1902) là bác sĩ sống dưới triều đại của nữ

hoàng Victoria, ông chủ yếu làm việc với những bệnh nhân mắc các chứng bệnh liên quan đến

rối loạn tình dục Những bài viết của ông về tình dục dựa trên 200 nghiên cứu trường hợp

Kraft-Ebing ủng hộ quan điểm phổ biến của triều đại nữ hoàng Victoria về tình dục Trong tác

phẩm nổi tiếng của ông có tựa đề Psychopathia Sexualis (Tình Dục Tâm Thần) (1886/1978)2,

Kraft-Ebing đã tranh luận rằng hoạt động tình dục vì bất kỳ mục đích gì ngoài mục đích sinh sản

đều là lầm đường lạc lối Tập trung vào những hành vi tình dục kỳ dị đôi khi xảy ra của bệnh

Trang 31

nhân của mình, Kraft-Ebing đã giúp việc duy trì chuyện hoang đường ở thời đại Victoria về tình dục, coi nó như "căn bệnh" và do đó có gì đấy thật đáng sợ

Freud Giống với người người đồng nghiệp Kraft-Ebing của mình, những bài viết của Sigmund Freud (1856-1939) về tình dục dựa trên công việc khám và điều trị những bệnh nhân mắc các bệnh liên quan đến rối loạn tình dục, mặc dù hầu hết các bệnh nhân ban đầu đến với Freud đều phàn nàn về những vấn đề đủ loại, không liên quan đến tình dục Freud được đào tạo thành bác sĩ ở Đại học Vienna, nhưng sau đó ông quyết định cống hiến sức lực của mình cho việc nghiên cứu các quá trình tinh thần vô thức và có ý thức Kết quả là Freud đã xây dựng một học thuyết toàn diện về hành vi của con người được biết đến dưới tên học thuyết phân tâm học

Freud tin rằng con người là những thực thể tình dục từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi, và hầu hết những rối loạn tâm thần là do những mâu thuẫn tình dục vô thức nảy sinh trong các giai đoạn phát triển nhạy cảm Ví dụ học thuyết của Frued cho rằng một cậu bé 6 tuổi bị phạt vì đã

sờ mó vào vùng sinh dục có thể xây dựng những mâu thuẫn về việc nghịch ngợm với vùng sinh

dục và sau này trở nên bất lực Tác phẩm nổi tiếng nhất của Freud viết về tình dục là Ba Bài

Tiểu Luận Về Học Thuyết Tình Dục (1905)3

Những nghiên cứu trường hợp gần đây hơn Kraft-Ebing và Freud không phải là hai nhà khoa học duy nhất sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp Các nhà nghiên cứu ngày nay thường công bố những báo cáo về phương pháp điều trị mới cho bệnh nhân với các điều kiện bất thường Hầu hết các tạp chí hàng đầu về tình dục học đều xuất bản những nghiên cứu trường hợp Nhiều sách về tình dục cũng có một hay nhiều báo cáo trường hợp dùng để minh họa các

hướng tiếp cận mang tính đổi mới đối với phương pháp điều trị Ví dụ cuốn Các Nguyên Tắc Và

Thực Hành Trị Liệu Tình Dục 4 do Sandra Leiblum và Raymond chủ biên là một tập hợp các chương và các báo cáo trường hợp về những rối loạn tình dục khác nhau và cách điều trị được các chuyên gia về tình dục viết

2 Nghiên cứu Khảo sát

Một phương pháp thu thập thông tin về chủ đề quan tâm là hỏi mọi người về các trải nghiệm tình dục của họ Nghiên cứu khảo sát là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu tình dục, liên quan đến việc phỏng vấn hay thực hiện những khảo sát bằng văn bản đối với rất nhiều người Những nhà nghiên cứu phân tích số liệu thu thập được từ các khảo sát

và quyết định các xu hướng, sự tương đồng và khác biệt Sau đó họ rút ra kết luận về các kiểu mẫu dân số điều tra

Thực hiện nghiên cứu khảo sát vừa có ưu điểm vừa có nhược điểm Ưu điểm nằm ở chỗ thông tin thu thập từ nhiều đối tượng, linh hoạt trong thời gian phỏng vấn (ví dụ, thực hiện phỏng vấn cá nhân khi nào đối tượng thấy thuận tiện) và phương tiện sử dụng để phỏng vấn (qua điện thoại), và khá tiết kiệm chi phí Khảo sát "bằng thư" có lợi thế đặc biệt vì nó đảm bảo tính bí mật, không có tên và do đó khiến cho các đối tượng trả lời một cách trung thực

Những nhược điểm của phương pháp này là sự bóp méo, thiên kiến của người phỏng vấn, và thiên kiến của người tình nguyện Sự bóp méo xuất hiện khi một đối tượng, vì bất kỳ lý

do gì, không trả lời các câu hỏi một cách trung thực Thiên kiến của người phỏng vấn liên quan

Trang 32

đến những kỳ vọng của người phỏng vấn hay những điệu bộ cử chỉ không có nghĩa, chẳng hạn

như cười hay nhăn mặt, gây ảnh hưởng một cách không cố ý đến các phản ứng của đối tượng

theo cách này hay cách khác Thiên kiến của người tình nguyện xuất hiện khi người tình nguyện

được chọn không phải là đại diện cho dân số nói chung Những người tình nguyện nói về các

vấn đề tình dục có thể phản ứng một cách khác đối với khảo sát so với những người không tình

nguyện

Có một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả của bất kỳ nghiên cứu, khảo sát Yếu tố

đầu tiên là người được chọn làm ví dụ, đó là đại diện cho dân số được nghiên cứu Một yếu tố

khác là khống chế những biến số bên ngoài, chẳng hạn như nhiệt độ trong phòng hay mức độ

tiếng ồn, những điều này có thể làm thay đổi kết quả nghiên cứu Vẫn còn một thiên kiến nữa đó

là thiên kiến của người nghiên cứu, đó là những kỳ vọng của người nghiên cứu về cái gì nên hay

không nên diễn ra trong nghiên cứu, điều này gây ảnh hưởng đến kết quả

Ellis Một nhân vật quan trọng trong thời kỳ đầu nghiên cứu về tình dục là Henry

Havelock Ellis (1859-1939), ông là một trong những người nghiên cứu đầu tiên sử dụng phương

pháp khảo sát tình dục Là một nhà tâm lý học người Anh, Ellis đã làm việc để nâng cao hiểu

biết và sự chấp nhận của xã hội về tình dục bằng việc thu thập thông tin từ những cá nhân đúng

mực chứ không phải từ những cá nhân lúng túng Nhiều đức tin của ông về tình dục - chẳng hạn

như việc thủ dâm không gây ra bệnh điên, rằng trẻ em cần được học về tình dục từ khi còn nhỏ,

rằng hành vi tình dục của các nền văn hóa khác nhau là khác nhau - là "đi trước thời đại lúc đó"

và đi ngược lại với những niềm tin chung được chấp nhận thời bấy giờ Tác phẩm nổi tiếng nhất

của Ellis về tình dục là một loạt các tập sách có tiêu đề Các Nghiên Cứu Về Tâm Lý Học Tình

Dục (1896-1928/1936)5 và Tâm Lý Học Tình Dục: Sách Giáo Khoa Dành Cho Sinh Viên

(1933)6

Kinsey Phải nói chắc chắn rằng những khảo sát về tình dục trên diện rộng nổi tiếng nhất

là những khảo sát của Alfred Kinsey (1894-1956), một nhà sinh vật học có kiến thức về các quá

trình tiến hóa Năm 1937, khi được yêu cầu dạy một khóa học về hoạt động tình dục ở con

người tại Đại học Indiana, Kinsey đã không thể kiếm đủ số lượng những thông tin đáng tin cậy

về chủ đề này Trong suốt 16 năm tiếp theo Kinsey và những cộng sự của ông đã thu thập số

liệu bằng cách phỏng vấn và lấy tư liệu lịch sử tình dục của 5.300 nam giới và 5.940 phụ nữ Mỹ

ở các lứa tuổi và trình độ học vấn khác nhau Nghiên cứu của ông phát triển đến cực điểm khi

các tác phẩm Hành Vi Tình Dục ở Nam Giới (1948)7 và Hành Vi Tình Dục ở Nữ Giới (1953)8

được xuất bản, hai cuốn sách này được phổ biến rộng rãi ở trên cả các tạp chí khoa học lẫn các

phương tiện thông tin Đến giữa thập kỷ 60, nghiên cứu của Kinsey là thông tin về tình dục duy

nhất thuộc loại này có giá trị đối với các nhà khoa học xã hội

Kinsey bắt đầu xua tan đi những chuyện hoang đường về tình dục Với hứng thú đặc biệt

về thị trường tình dục của người Mỹ, Kinsey đã tích lũy những số liệu về các chủ đề như thủ

dâm, những quan hệ ngoài hôn nhân, và đồng tính luyến ái Cố nhiên, một số phát hiện của ông

đã (và vẫn) gây tranh cãi Ví dụ, những bị đơn trong các vụ kiện ly hôn theo báo cáo có quan hệ

tình dục ngoài hôn nhân nhiều hơn so với những gì mà các nhà nghiên cứu nghi ngờ Điều

tương tự cũng đúng đối với những bị đơn có quan hệ đồng tính luyến ái

Trang 33

Mặc dù, khảo sát của Kinsey được cho là khảo sát lớn và toàn diện nhất về tình dục cho đến ngày nay, nhưng nghiên cứu của ông đã bị lấy làm ví dụ cho một số vấn đề cố hữu thường gặp trong các nghiên cứu khảo sát Những báo cáo của ông được lập dựa trên những thông tin từ các tình nguyện viên, những người có thể có hoặc có thể không nói ra động cơ tham dự vào nghiên cứu của họ (nghĩa là thiên kiến của tình nguyện viên) Báo cáo ghi lại những điều mà các đối tượng nói là họ đã làm, chứ không nhất thiết là điều mà họ thực sự đã làm (sự bóp méo) Và những đối tượng của Kinsey hầu hết là những người có học vấn, cư dân thành thị, là người da trắng (không phải là đại diện tiêu biểu) Trong khi hầu hết các nhà tình dục học đều tôn trọng các tác phẩm của Kinsey, coi các tác phẩm của ông là khảo sát có quy mô lớn đầu tiên về thái

độ và hành vi tình dục của người Mỹ, ghi nhận sự xuất sắc về khả năng thực hiện nghiên cứu tình dục của ông, thì một số người khác lại khẳng định rằng, nhiều trong số các phương pháp của ông là không khoa học - và nó trở thành nguồn gốc của một số thông tin sai lầm về tình dục ngày nay

Hunt Đầu những năm 1970, Tổ chức Playboy (Những kẻ ăn chơi) uỷ nhiệm cho

Research Guild, một tổ chức nghiên cứu độc lập, tiến hành một khảo sát trên quy mô lớn về thói quen tình dục của người Mỹ Nhà báo Morton Hunt đã viết ra những phát hiện của mình trong một loạt bài báo trên tạp chí Playboy Tổ chức Playboy rất quan tâm đến những phát hiện mới của Kinsey, trong đó bao gồm cả nghiên cứu về những nhóm người mà Kinsey không tiến hành khảo sát, cũng như so sánh kết quả của Kinsey và Hunt để thấy xem có gì thay đổi trong kiểu mẫu tình dục từ những năm 40 đến những năm 50 Trên thực tế Hunt đã phát hiện ra những thói quen tình dục nhất định như quan hệ tình dục trước hôn nhân, điều này xảy ra phổ biến hơn so với thời kỳ của Kinsey Ông cũng thấy một số ít khác biệt trong vai trò về giới Những phát hiện

của Hunt sau này xuất hiện trong cuốn Hành Vi Tình Dục ở Thập Niên 1970 (1974)9

Ví dụ của Hunt được thu thập bởi sự chọn lựa ngẫu nhiên từ danh bạ điện thoại trên khắp nước Mỹ, bao gồm 982 nam giới và 1.044 phụ nữ Chỉ có 20% trong số những người được liên lạc lúc đầu đồng ý tham gia vào nghiên cứu, nghiên cứu này bao gồm những cuộc thảo luận nhóm nhỏ được tiến hành nhờ các bảng câu hỏi tự thực hiện Hunt sau đó cũng thực hiện một số cuộc phỏng vấn Ví dụ của Hunt được cho là đã đại diện cho dân số của toàn nước Mỹ trên phương diện giới tính, tuổi tác, chủng tộc, trình độ học vấn, nghề nhiệp, cư dân thành thị, nông thôn Bảng câu hỏi tự thực hiện bao gồm 1.000 đến 1.200 hạng mục bao quát các chủ đề như thói quen, trải nghiệm và thái độ đối với tình dục

Những nhà phê bình nghi ngờ báo cáo của Hunt bởi một số lý do Vì chỉ có 20% trong

số các đối tượng tiềm năng đồng ý tham gia vào nghiên cứu, và tỷ lệ từ chối là 80% nên con số này làm tăng khả năng thiên kiến của người tình nguyện, gây ảnh hưởng đến kết quả Hơn nữa, đối tượng của Hunt được lấy từ danh bạ điện thoại, vậy còn những người mà số điện thoại không được liệt kê hay không có điện thoại thì sao, họ đã bị loại ra khỏi nghiên cứu

Hite Shere Hite công bố kết quả khảo sát của bà về tình dục của phụ nữ trên cuốn Báo cáo của Hite (1976)10 Bà đã gửi qua đường bưu điện bảng câu hỏi mang phong cách bài luận đến 100.000 cá nhân và các tổ chức của phụ nữ từ năm 1972 đến năm 1976, nhiều người trong

số những người đó đã trả lời các quảng cáo của Hite trên những tạp chí như Phụ nữ, Tiếng nói Làng quê, và Tiểu thư Hite đã nhận được 3.019 bài trả lời hoàn thiện cho bảng câu hỏi của mình từ những người phụ nữ, những người này đã bày tỏ quan điểm và cảm xúc của mình về

Trang 34

các chủ đề tình dục khác nhau, từ sự cực khoái, thủ dâm đến tình dục đồng giới Hite cũng đã

tiến hành khảo sát 7.000 nam giới để lấy thông tin cho cuốn Báo Cáo Của Hite Về Tình Dục

Nam Giới (1981)11

Liệu các báo cáo của Hite có đại diện cho quan điểm tình dục của đàn ông và phụ nữ Mỹ

nói chung không? Rõ ràng là không Trên thực tế, những nhà phê bình vẫn nhắc lại các nghi vấn

của mình đối với phương pháp nghiên cứu và kết luận đưa ra của bà, vì tính thiên kiến của đối

tượng được chọn, tỷ lệ hồi âm đối với bảng câu hỏi được gửi đi thấp, và dấu hiệu mang tính vặt

vãnh của dạng thức bài luận chứ không phải phân tích thống kê số liệu

Các khảo sát của Tạp chí Khoảng 30 năm trước, có một số tạp chí đã tiến hành các khảo

sát trên quy mô lớn về thái độ và hành vi tình dục đối với các độc giả của mình Một số tạp chí

nổi tiếng đã tiến hành khảo sát là Tâm lý học Ngày nay, Sách đỏ, Tạp chí Phụ nữ Gia đình, Tạp

chí của McCall, Người theo chủ nghĩa thế giới, Các báo cáo của Người tiêu dùng, Phụ nữ Mới,

Tạp chí của những kẻ ăn chơi, Sức khoẻ Con người, và Tạp chí Chi tiết/Tiểu thư Số liệu đưa ra

từ những tạp chí này và những khảo sát phổ biến khác đôi khi có thể làm "mở mắt", cho dù nó

thường nhận được số lượng phản hồi rất lớn từ người đọc Nếu có, thì chỉ có một số rất ít những

thông tin của chúng được áp dụng cho quảng đại quần chúng

3 Nghiên cứu Quan sát

Không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng sự bóp méo là một hạn chế nghiên trọng của

phương pháp khảo sát tình dục Các đối tượng có thể không hoàn toàn trung thực khi nói với các

trải nghiệm và phản ứng đối với tình dục Họ có thể cảm thấy bối rối, không thể nhớ nổi một sự

kiện, hay không thực hiện khảo sát một cách nghiêm túc Bắt đầu từ những năm 60, một số nhà

nghiên cứu đã quyết định rằng cách để giải quyết vấn đề về sự bóp mép là giám sát các phản

ứng liên quan đến tình dục của đối tượng trực tiếp ở trong phòng thí nghiệm Phương pháp

nghiên cứu này được biết đến dưới tên nghiên cứu quan sát

Masters và Johnson Có lẽ nhóm nghiên cứu nổi tiếng nhất sử dụng các phương pháp

quan sát là nhóm của William Masters và Virginia Johnson Mục đích thực hiện nghiên cứu

khảo sát hoạt động tình dục ở con người của họ tập trung "vào việc nam giới và phụ nữ làm gì

để phản ứng lại với các kích thích tình dục có hiệu quả, và tại sao họ lại làm như thế chứ không

phải như những gì mọi người nói hay nghĩ là họ sẽ có thể có phản ứng khác" (Phản ứng Tình

Dục Của Con Người, 1966, trang 20)12

Nghiên cứu quan sát của Masters và Johnson được thực hiện với 312 đối tượng là nam

giới và 382 đối tượng là nữ giới, tham gia vào những hoạt động tình dục khác nhau trong khi đó

nhiều loại thiết bị đã được thiết kế, lắp đặt để đo các phản ứng sinh lý Ví dụ, một số đối tượng

là phụ nữ đã thủ dâm khi sử dụng dương vật giả có gắn camera Masters và Johnson đã quan sát

và phân tích khoảng observed and 10.000 tình tiết tình dục khác nhau trong vòng 12 năm, sau

đó cho xuất bản cuốn sách nổi tiếng có tên là Phản ứng Tình Dục Của Con Người (1966) Một

thời gian ngắn sau đó, một cuốn sách nữa của họ về chữa trị các bệnh liên quan đến tình dục

cũng được xuất bản có tên là Sự không thỏa đáng trong Tình dục của Con người (1970)13

Trang 35

Masters và Johnson cũng sử dụng nghiên cứu quan sát để nghiên cứu về các phản ứng tình dục của những người đồng tính luyến ái nam, nữ Họ quan tâm đến việc phát hiện nếu có bất kỳ sự khác biệt nào giữa phản ứng của những người đồng tính luyến ái và của những người

có quan hệ tình dục với người khác giới Không có khác biệt nào được ghi nhận

Nghiên cứu quan sát cũng có những hạn chế, đặc biệt ở sự thiên kiến của tình nguyện viên Các tình nguyện viên có thể không phải là đại diện cho toàn bộ dân số Các cá nhân đồng ý

để người khác quan sát khi họ quan hệ tình dục có thể thực hiện khác đi so với những người không đồng ý Các đối tượng có thể hành động khác khi ở trong phòng thí nghiệm so với khi thực hiện ở nhà

4 Nghiên cứu So sánh giữa các nền văn hóa

Để có thể thông cảm với những thói quen, thái độ và phong tục của người khác chúng ta cần phải có kiến thức về văn hóa và xã hội của họ Đây là lý do tại sao một số nhà nghiên cứu

về tình dục đã thực hiện nghiên cứu so sánh giữa các nền văn hóa, hay nghiên cứu nhằm phát hiện những khác biệt tồn tại giữa các nhóm người khác nhau Hầu hết nghiên cứu so sánh giữa các nền văn hóa đều sử dụng các phương pháp nghiên cứu như khảo sát, quan sát trực tiếp, và quan sát người tham dự Ở phương pháp quan sát người tham dự, “người quan sát” thực sự trở thành một thành viên của nhóm của những đối tượng của anh ta hay cô ta Lợi thế của nghiên cứu quan sát người tham dự là cơ hội được thấy những điều liên quan đến tình dục thực sự xảy

ra trong một nhóm, và sau đó xem xét thông tin này trong hệ thống xã hội, chính trị, kinh tế và tôn giáo đang tồn tại

Mangaia, Nam Thái Bình dương, thuộc quần đảo Pô-li-nê-di, là xã hội được chọn làm chủ thể cho nghiên cứu so sánh về tình dục giữa các nền văn hóa Thói quen tình dục của người Mangaians rất khác biệt so với thói quen tình dục của những người sống ở miền Bắc nước Mỹ Người Mangaia tin rằng quan hệ tình dục thường xuyên là có lợi và cần thiết để có sức khỏe tốt,

và tập luyện quan hệ tình dục bắt đầu từ rất sớm Gia đình đặc thù của người Mangaia sống trong những túp lều có một gian, ở đó trẻ con xem cha mẹ chúng quan hệ tình dục Cha mẹ cũng khuyến khích bọn trẻ thủ dâm Và thanh thiếu niên nâng cao các kỹ năng làm tình của chúng bằng cách tập luyện với nhau, với hy vọng rằng cuối cùng chúng sẽ thu hút được một người bạn đời thích hợp Những người đàn ông nhấn mạnh vào việc mang đến sự cực khoái cho bạn tình là

nữ giới, mà điều này ở xã hội của người Mangaia có vẻ là rất phổ biến đối với cả hai giới

Tất cả mọi xã hội đều có những quan niệm về hành vi tình dục nào được coi là chấp nhận được trong gia đình hay xã hội Nghiên cứu so sánh giữa các nền văn hóa chứng tỏ rằng cái được cho là tình dục “bình thường” hay chấp nhận được ở một nền văn hóa có thể là “bất thường” hay không chấp nhận được ở một nền văn hóa khác Nói cách khác, các chuẩn mực Phương Tây không nhất thiết phải được áp dụng đối với các nền văn hóa, xã hội khác và ngược lại

5 Nghiên cứu Tương quan

Các nhà nghiên cứu có thể chọn thực hiện nghiên cứu tương quan Tương quan là quan

hệ giữa hai biến số (hay “nhân tố”), mà biến số đó có thể là các sự kiện hành vi, đặc điểm hay

Trang 36

thái độ Mục đích của phương pháp nghiên cứu này là xác định xem liệu có tồn tại mối quan hệ

giữa hai biến số không, và mức độ của mối quan hệ đó như thế nào Các nhà nghiên cứu sử

dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, khảo sát, phỏng vấn, nghiên cứu quan sát và nghiên

cứu người tham dự để xác định xem có mối tương quan hay không

Mối tương quan hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực Ở mối tương quan tích cực, giá trị của

các biến số cùng tăng hoặc cùng giảm Ở mối tương quan tiêu cực, một giá trị tăng trong khi đó

giá trị kia giảm

Mọi người thường nhầm lẫn mối tương quan với sự tạo ra kết quả Các số liệu tương

quan không nói đến mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả Chúng không cho biết liệu một

biến số có là nguyên nhân hay có ảnh hưởng đến biến số khác hay không – mà nó chỉ nói rằng

cả hai biến số trong chừng mực nào đấy có liên quan đến nhau Bởi vậy, khi có sự tương quan

thì những thay đổi trong giá trị của một biến số phản ánh những thay đổi trong giá trị của biến

số kia Để nghiên cứu những ảnh hưởng mà một biến số tác động lên biến số kia, nhà nghiên

cứu phải tiến hành thử nghiệm

6 Nghiên cứu Thử nghiệm

Mục đích của nghiên cứu thử nghiệm là kiểm tra ảnh hưởng mà một biến số độc lập

(biến số mà nhà thử nghiệm dùng) tác dụng lên một biến số phụ thuộc (biến số mà nhà thử

nghiệm quan sát) Nói một cách đơn giản, nghiên cứu thử nghiệm quan tâm đến mối quan hệ

giữa nguyên nhân và kết quả hay tại sao điều gì đó lại xảy ra Chỉ khi nhà thử nghiệm kiểm soát

một cách cẩn thận những biến số ngoại lai có thể gây trở ngại thì họ mới có thể đưa ra được

những kết luận có giá trị về ảnh hưởng của các biến số cụ thể lên các biến số khác

Một ví dụ về thử nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu tình dục là thử nghiệm thuốc Từ

những năm 1980, các nhà nghiên cứu trở nên quan tâm hơn đến việc thử nghiệm thuốc để có thể

kéo dài cuộc sống của những người nhiễm HIV (vi rút làm suy giảm khả năng miễn dịch ở

người) và bệnh nhân AIDS (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) Trên thực tế, nhiều

nghiên cứu thử nghiệm đã được tiến hành với thuốc zidovudine (trước đây được gọi là AZT,

hay azidothymidine) và các loại thuôc ức chế khác nhau đã cho thấy rằng những loại thuốc này

có thể làm châmj sự phát triển của bệnh AIDS

Các nhà nghiên cứu đôi khi thực hiện những thử nghiệm về thuốc trên động vật để kiểm

tra tác dụng của thuốc định sử dụng cho con người Ví dụ, nhà nghiên cứu có thể thử nghiệm

thuốc chữa AIDS trên một nhóm các con khỉ bị AIDS (“nhóm A”), nhưng không thử nghiệm

thuốc trên một nhóm các con khỉ khác (“nhóm B”), nhóm này sau đó được xem là nhóm đối

chứng Sau một vài thử nghiệm thuốc, nhà nghiên cứu này có thể muốn thấy một nhóm khỉ nào

đó sẽ sống lâu hơn một nhóm khỉ kia Nếu nhóm A sống lâu hơn nhóm B, nhà nghiên cứu thận

trọng kết luận rằng loại thuốc mới đó có tác dụng kéo dài cuộc sống của những con khỉ bị bệnh

AIDS Nếu không nhóm nào sống lâu hơn nhóm nào hoặc nhóm B sống lâu hơn nhóm A, thì

nhà nghiên cứu sẽ nghi ngờ tác dụng của thuốc thử nghiệm Một thủ tục tiêu chuẩn của trong tất

cả các môn khoa học, nhà nghiên cứu này cũng như các nhà nghiên cứu khác phải thử nghiệm đi

thử nghiệm lại và khẳng định kết quả của họ nhiều lần trước khi đưa ra kết luận chắc chắn

Trang 37

Suy Nghĩ Cá Nhân

Trong những phương pháp nghiên cứu tình dục chính được để cập ở chương này, phương pháp nào bạn cho là cung cấp thông tin có giá trị nhất về tình dục?

TÍNH ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU TÌNH DỤC

Đạo đức là những nguyên tắc chỉ đạo tự điều chỉnh mà các cá nhân và các nhóm người

sử dụng để đưa ra quyết định, định nghĩa các tổ chức chuyên nghiệp của họ và hành vi ứng xử được trông đợi ở các thành viên Bằng việc thực hiện quy tắc đạo đức, các tổ chức duy trì sự toàn vẹn của nghề nghiệp và bảo vệ lợi ích của các khách hàng và chủ thể Hơn nữa, các quy tắc đạo đức giúp các chuyên gia định hướng khi họ phải giải quyết những tình huống rắc rối Ở trường hợp cụ thể nào đó, nhà nghiên cứu là người đưa ra quyết định xem có nên hay khi nào cần thiết phải lừa dối các chủ thể một cách có mục đích

Mặc dù nhiều nhà chuyên môn và các tổ chức, chẳng hạn như Hiệp hội Tâm lý học Mỹ, đều có những nguyên tắc đạo đức, nhưng nhu cầu cần có đường lối chỉ đạo trong nghiên cứu tình dục là rất cần thiết Đa số những nhà nghiên cứu tình dục ngày nay đều tuân theo những nguyên tắc đạo đức của các tổ chức mà họ là thành viên Bản chất của tình dục là một vấn đề rất nhạy cảm, nên các nhà nghiên cứu phải có những quan tâm đặc biệt để bảo vệ các đối tượng của mình khỏi bất kỳ điều bất lợi nào do việc tham dự vào nghiên cứu Ví dụ, nhà nghiên cứu cần có các phỏng vấn chi tiết cụ thể về lịch sử tình dục của các đối tượng nên bảo vệ các đối tượng của mình trước để đảm bảo rằng cuộc phỏng vấn đó sẽ không làm đảo lộn mọi thứ Họ cũng nên thông báo cho các đối tượng về vai trò của họ trong nghiên cứu và những nguy cơ tiềm ẩn khi tham gia vào nghiên cứu Các đối tượng cần hiểu rằng họ có thể từ chối không tham gia hoặc rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào Đồng ý tham gia vào một nghiên cứu trên cơ sở có loại thông tin này được xem như sự đồng ý am hiểu Một khi nghiên cứu hoàn thành, nhà nghiên cứu nên cung cấp cho các đối tượng của họ toàn bộ chi tiết về nghiên cứu Cung cấp những chi tiết này khi kết thúc thử nghiệm được cho là sự thẩm vấn

Việc lừa dối, hay che đậy mục đích và trình tự nghiên cứu không cho những người tham

sự biết là việc làm đặc biệt bị phản đối bởi nhiều nhà nghiên cứu Một số người thậm chí tin rằng việc sử dụng có mục đích hành vi lừa dối là không bao giờ có thể biện minh Đối với những nhà nghiên cứu này, sự lừa dối làm giảm sự công nhận và ủng hộ của công chúng dành cho nghiên cứu Đối với những nhà nghiên cứu khác, việc lừa dối là cần thiết nếu như việc biết trước về nghiên cứu ảnh hưởng đến phản ứng của đối tượng và làm hỏng kết quả nghiên cứu Chẳng hạn như nếu đối tượng biết mục đích của nghiên cứu là để xem xét các thái độ liên quan đến sự phân biệt đối xử trong tình dục thì họ có thể cố gắng làm tránh sự xuất hiện của thành kiến

Nhiệm vụ đầu tiên của các nhà nghiên cứu là bảo vệ quyền lợi của đối tượng Tuy nhiên, ngay cả những nhà nghiên cứu có đạo đức và cần thận nhất cũng có thể không lường hết được tất cả các rủi ro liên quan đến việc tham gia vào nghiên cứu Bằng việc bảo vệ một cách cần thận các đối tượng, cung cấp càng nhiều thông tin cho các đối tượng trước khi nghiên cứu càng tốt, thông báo cho các đối tượng biết về quyền lợi của họ, tránh lừa dối bất cứ khi nào có thể và

Trang 38

thẩm vấn đối tượng theo nghiên cứu, các nhà nghiên cứu có thể làm được nhiều điều để hạn chế

đến mức tối thiểu các nguy cơ gây hại đến đối tượng

Suy Nghĩ Cá Nhân

Hãy nghĩ xem bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu như bạn tham gia vào một thử nghiệm và mãi đến sau này bạn mới biết rằng mình đã bị lừa như là một phần của nghiên

cứu Liệu bạn có cảm thấy khác không nếu bạn biết về sụ lừa dối này từ nhà nghiên cứu

trong thời gian phỏng vấn, chứ không phải từ người trợ lý của nhà nghiên cứu hàng tuần

hay hàng tháng sau đó? Bạn sẽ nói với người nghiên cứu như thế nào nếu bạn ở trong hai

hoàn cảnh nêu trên?

Hầu hết các bài báo và các cuốn sách nói về tính đạo đức trong nghiên cứu tình dục đều nêu trách nhiệm của người nghiên cứu đối với đối tượng và đối với nghề nghiệp

Nhưng còn các đối tượng thì sao? Liệu các đối tượng có tuân thủ đạo dức trong việc trả

lời các câu hỏi một cách trung thực nhất không? Liệu có thể chấp nhận được những đối

tượng đồng ý tham gia vào nghiên cứu không phải với mục đích nâng cao hiểu biết mà là

vì tiền không?

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

1 Nghiên cứu tình dục là phương pháp khoa học thu thập thông tin về tình dục Tình dục

học là một môn khoa học bởi vì những nhà nghiên cứu tình dục sử dụng phương pháp khoa học

Các nhà khoa học đặt câu hỏi và điều tra các vấn đề một cách có hệ thống thông qua các quan

sát khách quan và chính xác, thử nghiệm trực tiếp, thu thập và phân tích dữ liệu, làm đi làm lại

quá trình này

2 Để tiến hành nghiên cứu tình dục, các nhà tình dục học phải tạo ra một giả thuyết có

thể kiểm chứng được từ một học thuyết về tình dục Sau đó họ chọn phương pháp nghiên cứu

thích hợp nhất để nghiên cứu chủ thể cụ thể mà khoa học quan tâm

3 Việc đánh giá các phát hiện của nghiên cứu căn cứ trên các thông tin như phẩm chất

của nhà nghiên cứu, kỹ thuật được sử dụng, chất lượng của ví dụ mẫu, và việc sử dụng phân tích

thống kê là rất quan trọng

4 Các nhà nghiên cứu sử dụng bất kỳ phương pháp nào trong các phương pháp để

nghiên cứu vể tình dục Trong nghiên cứu trường hợp, các nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu

tập trung vào một cá nhân hay một nhóm nhỏ các cá nhân Nghiên cứu khảo sát liên quan đến

việc phỏng vấn hay thực hiện những khảo sát bằng văn bản đối với rất nhiều người Trong

nghiên cứu quan sát các nhà nghiên cứu thường giám sát bằng hình ảnh và/hay sinh lý các phản

ứng của đối tượng trong phòng thí nghiệm Các nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu so sánh

giữa các nền văn hóa để phát hiện ra những khác biệt tồn tại giữa những nhóm người khác nhau

Trang 39

Trong nghiên cứu quan sát người tham gia, nhà nghiên cứu quan sát các đối tượng bằng cách biến mình thành thành viên của nhóm đối tượng của mình Các nhà nghiên cứu sử dụng nghiên cứu tương quan để xác định xem có mối quan hệ nào tồn tại giữa hai biến số hay không Mục đích của nghiên cứu thực nghiệm là xác định các mối quan hệ nhân quả

5 Đạo đức trong nghiên cứu tình dục là điều rất cần thiết Đụng đến một vấn đề có bản chất nhạy cảm như tình dục, các nhà nghiên cứu phải đặc biệt cẩn thận để bảo vệ đối tượng của mình tránh khỏi những nguy hại có thể xuất hiện do tham gia vào việc nghiên cứu

Trang 40

Chương 3

Các Khuôn Mẫu, Vai Trò và Nhận Dạng Về Giới

Con trai ngỗ ngược và hiếu chiến Con gái cẩn thận và chu đáo Con trai độc lập Con

gái phụ thuộc Con trai có óc phân tích Con gái dễ bị ảnh hưởng Con trai tự tin Con gái có

lòng tự trọng thấp Đối với người Mỹ, quy định giới nào có những đặc tính nào là điều đáng

được nghiên cứu Trong một môi trường xã hội có quyền bình đẳng về giới thì đó là xã hội lý

tưởng nhưng nó lại nhân gấp đôi các quy tắc mà những người theo thuyết nam nữ bình quyền

đấu tranh bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, việc quấy rối tình dục là vấn đề hàng ngày đối với nhiều

phụ nữ và nam giới, dường như thật mỉa mai khi các nhà máy sản xuất tã lót cho trẻ em tiếp tục

tung ra thị trường tã lót màu hồng dành cho bé gái và màu xanh dành cho bé trai Đấy mới chỉ là

sự khởi đầu Ở các trung tâm chăm sóc, trông nom trẻ con, các nhân viên đưa những chiếc xe tải

và hình khối cho bé trai, còn đưa búp bê cho các bé gái Ở trường học, các giáo viên khuyến

khích con trai trở thành vận động viên, còn con gái trở thành các cô quý phái Ở những trường

cấp 3, các nhà tư vấn khuyên nam thanh niên tham dự các khóa học bán hàng, còn nữ thanh niên

đem các bài tập kinh tế về nhà làm Nhưng ai dám nói con trai không nên khâu vá còn con gái

không nên đấu vật? Tại sao lại có tất cả những điều vớ vẩn về việc thấm nhuần vai trò truyền

thống về giới ở trẻ em? Tại sao không cho phép bọn trẻ khám phá và phát triển tài năng theo sở

thích và mong muốn của chúng?

Câu trả lời cho những câu hỏi này rất đơn giản đối với nhiều người Mỹ: Nam giới và nữ

giới ở mọi lứa tuổi đều được cho là đóng những vai trò dành cho đàn ông và cho phụ nữ mang

tính văn hóa được quy định tương ứng Nhưng ở đây có sự ngụy biện Tin rằng một người phải

sống đúng với vai trò giới đã được quy định từ trước chỉ là một trong những quy tắc vô lý trong

cuộc sống mà hầu hết mọi người đều tuân theo nhưng có rất ít người hiểu thực sự về nó Chỉ bởi

vì xã hội xác định hành vi, sự nhận thức, và tình cảm nào là của “nam giới” và của “nữ giới”

không có nghĩa là những vai trò đó nhất thiết được tất cả mọi người mong muốn

Những hậu quả của việc văn hóa quyết định bổn phận về giới và vai trò của giới là có

thật – trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, tự nhiên và tâm lý Trong những trang tiếp theo, chúng tôi sẽ

xem xét những điều được biết đến về giới nhằm mục đích có được kiến thức để mang lại lợi ích

cho bản thân chúng ta, cho con cái của chúng ta, và cho xã hội

Ngày đăng: 20/12/2013, 19:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình bị kích động bởi các ngành công nghiệp truyền thông và quảng cáo, những ngành công - Tài liệu Thực tế về hoạt động tình dục ở con người doc
Hình b ị kích động bởi các ngành công nghiệp truyền thông và quảng cáo, những ngành công (Trang 140)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w