Do vậy, chúng tôi thiết nghĩ rằng các tácphẩm đó ít nhiều đã thể hiện một cách toàn diện hiện thực của cuộc sống vànhững vấn đề mà các tác giả những tác phẩm đạt giải ấy quan tâm cũng ch
Trang 1lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận này, chúng tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn tậntình, chu đáo của thầy giáo - giảng viên trởng Hồ Hồng Quang, sự góp ý chân tình của Tiến sĩ Đinh Trí Dũng, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hạnh và các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam 2, khoa Ngữ văn, Đại học Vinh; sự giúp đỡ, động viên khích lệ của bạn bè và ngời thân.
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đối với tất cả các thầy cô giáo và tất cả các bạn.
Trang 2sắc đến đời sống văn hoá, xã hội, con ngời Đặc biệt là hai cuộc kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ Trong suốt 30 năm ròng rã, toàn dân ta với sự handạ, lòng kiên trì đã liên tục đấu tranh không mệt mỏi để bảo nền độc lập tự do
và thống nhất tổ quốc
Từ sau tháng 4 năm 1975, hoà bình lập lại Cả hai miền Nam, Bắc phải
đơng đầu với những thử thách mới không kém phần khắc nghiệt Đó là: vừabảo vệ tổ quốc vừa xây dựng đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Nhữngbiến động lịch sử, xã hội lớn lao ấy đã kéo theo một cuộc cách mạng sâu sắctrong đời sống văn hoá của dân tộc Sự phản ánh và thể hiện hiện thực đờisống mới đã sản sinh ra dòng văn học mới Nó kế thừa những thành tựu đã đạt
đợc của văn học 30 năm chiến tranh, đồng thời tự phân biệt về bản chất so vớivăn học trớc đó
Đất nớc bắt đầu hồi sinh và đổi mới Văn học cũng sang trang cùng lịch
sử và có sự đổi mới của chính mình Dòng văn học sau 1975 ra đời đã kịp thời
bổ sung những gì còn thiếu của dòng văn học trớc Nếu nh trớc đây con ngờicá nhân bị lãng quên, không có chỗ đứng thì nay, với hiện thực cuộc sống
đang diễn ra nh chính bản thân nó đòi hỏi ngời viết phải thay đổi t duy nghệthuật, thay đổi cách nhìn, cách thể hiện trong sáng tác của mình Những trangvăn, bài thơ với giọng điệu hào hùng mang tính kêu gọi nh trớc đã không cònphù hợp nữa Trong cuộc sống thời bình, con ngời không còn sống với nghĩa
vụ nh trớc mà sống với mọi biểu hiện muôn mặt đời thờng của nó Vì thế, rấtnhiều vấn đề đợc đặt ra trớc ngòi bút của tác giả Họ luôn có “mối quan tâmkhắc khoải về sự hoàn thiện nhân cách, về những xói mòn trong lối sống,trong đạo lý, trong ngõ ngách tận cùng của đời sống cá nhân, cả những bănkhoăn không dứt về môi trờng nhân tính đang có chiều giảm sút hay lên tiếngbáo động về những thảm hoạ có thể đến với con ngời” [20]
Các nhà văn sau 1975, đặc biệt là những năm gần đây luôn đặt ngòi bútcủa mình trớc mọi biến chuyển của cuộc sống, suy nghĩ về con ngời với cáinhìn đa chiều, đa diện chứ không một chiều, phiến diện nh trớc nữa Chính vìvậy, văn học sau 1975 là văn học về con ngời với đầy đủ tính dân chủ và giátrị nhân bản của nó Có thể thấy rõ điều này qua các truyện ngắn đăng trên cáctuần báo Văn nghệ, đặc biệt là qua các cuộc thi sáng tác truyện ngắn do báoVăn nghệ tổ chức
Trang 3Nh chúng ta đã biết, dòng văn học sau 1975 đến nay vẫn đang phát triểnvới nhiều thể loại trong đó có truyện ngắn Truyện ngắn ngay từ khi mới xuấthiện đến nay vẫn là thể loại giữ vững đợc đặc trng của mình đó là: phản ánhhiện thực cuộc sống một cách nhanh, gọn, thể hiện trung thực sự mẫn cảm củangời viết trớc cuộc sống Chính vì thế mà nó rất phù hợp với đặc điểm thời đại,với không khí của đất nớc từ sau 1975
Nh đã trình bày ở trên, báo Văn nghệ những năm gần đây đã đăng tảirất nhiều truyện ngắn trong đó đã có những truyện ngắn hay và đạt giải cáccuộc thi do báo Văn nghệ tổ chức Do vậy, chúng tôi thiết nghĩ rằng các tácphẩm đó ít nhiều đã thể hiện một cách toàn diện hiện thực của cuộc sống vànhững vấn đề mà các tác giả những tác phẩm đạt giải ấy quan tâm cũng chính
là những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống, những vấn đề mang tính thời đạisâu sắc: đó là không gian đa chiều của đời thờng; là tâm t suy nghĩ, là nỗi dày
vò, trăn trở của con ngời trong cuộc sống thờng nhật; là niềm vui, nỗi buồn
tr-ớc những thành công và thất bại v.v đã hiện lên một cách tròn trịa dới ngòibút của ngời viết Vì thế chúng tôi chọn những truyện ngắn hay và đạt giảitrên báo Văn nghệ làm đối tợng nghiên cứu để làm nổi bật những vấn đề trọngtâm của khoá luận này
Bên cạnh đó, khi chọn đề tài này chúng tôi muốn thu đợc cái nhìn kháiquát, toàn diện mang tính chất nhận diện những vấn đề nổi bật mà các nhà vănquan tâm trong cuộc sống hôm nay
Hơn nữa, mảng văn học sau 1975 đã đợc đa vào chơng trình giảng văn ởtrờng phổ thông Việc đi sâu vào nghiên cứu dòng văn học này vì thế có ýnghĩa thực tiễn: Nó giúp chúng tôi – những ngời giáo viên trong tơng lai hiểu
rõ hơn, đầy đủ hơn mảng văn học này nhằm phục vụ cho công việc giảng dạy
về sau
2 Lịch sử vấn đề
Nh một tất yếu, văn học sau 1975 ra đời do yêu cầu bức xúc củahoàn cảnh, của cuộc sống con ngời Khi xuất hiện, lập tức nó đã gâynhững chấn động lớn bởi sự mới lạ mà cũng rất quen thuộc với con ngời
Do vậy, văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng đều đợc các nhànghên cứu, phê bình quan tâm Đó là:
1 Bích Thu - Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975 qua hệthống mô típ chủ đề Tạp chí văn học số 4 – 1995
Trang 42 Bích Thu – Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975 Tạp chí văn học
7 Mai Hơng - Nhìn lại văn xuôi 1992 Tạp chí văn học số 3 - 1993
8 Nguyên Ngọc - Văn xuôi sau 1975, thử thăm dò đôi nét về quy luật pháttriển Tạp chí văn học số 4 - 1991
9 Nguyễn Đăng Mạnh Một cuộc “nhận đờng” mới Tạp chí văn học số 4 1995
-10.Phạm Xuân Nguyên - Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay Tạp chí văn học
Trang 520.Nguyễn Khải - Cuộc thi lần này có nhiều truyện hay Báo Văn nghệ số tháng 3 năn 1991.
17-21.Anh Đức - Khả năng to lớn của truyện ngắn Báo Văn nghệ số 17 – tháng
3 năm 1991
22.Nguyên Ngọc Diện mạo riêng của vụ mùa này Báo Văn nghệ số 17 tháng 3 năm 1991
-Trong các bài viết trên, các tác giả đã có nhìn khái quát về văn xuôi,
đặc biệt là truyện ngắn sau 1975 Các bài viết đó phản ánh đợc những thànhtựu, những đổi mới mà văn học sau 1975 đạt đợc Đáng chú ý là các ý kiến:
1 “Văn xuôi sau 1975 - thử thăm dò đôi nét về quy luật phát triển” của
Nguyên Ngọc Tác giả đã khái quát tiến trình phát triển của văn học ViệtNam Theo ông hai chữ “quán tính” rất đáng lu ý Nguyên Ngọc đã khẳng
định những bớc đi phù hợp với lịch sử văn học và sự phù hợp đó biểu hiệnbằng sự ra đời của thể loại văn học trong từng thời điểm khác nhau Kết luậncuối cùng của tác giả đã đợc nhiều ngời quan tâm “Hành trình văn học tamấy năm qua, từ cố gắng rút ra khỏi đề tài số phận chung của khối cộng đồng
đồng nhất đi đến hiện thực Xã hội ngổn ngang với nhiều tính chất tả thực vộivã, rồi tiếp tục đi sâu vào thế giới bên trong từng con ngời, cuộc hành hơng vôtận, cuộc tìm hiểu khó nhọc bên trong thế giới riêng từng con ngời ( ) Nhiềumặt “mới” (tức là cha biết hoặc bị tránh né lâu nay) của đời sống con ngời đ-
ợc khai phá, hoặc ít ra đợc bắt đầu chạm đến, giành quyền hợp pháp đợc xuấthiện: đời sống tiềm thức, vô thức, đời sống tình dục, lĩnh vực ngoại cảm ”
2 Với Bích Thu, trong “những thành tựu đạt đợc của văn học sau 1975”
thì có cái nhìn khái quát hơn Tác giả cho rằng “sự phát triển của truyện ngắn
từ 1975 đến nay là một hiện tợng mang tính tất yếu không chỉ bởi sự phát triểnnội tại của bản thân thể loại mà còn do sự tác động của những đổi mới về mọiphơng diện của môi trờng sáng tạo mới, của sự giao lu rộng rãi với văn hoá thếgiới ” Bên cạnh đó, tác giả còn nói lên sự cách tân về chủ đề, kết cấu, t duynghệ thuật, ngôn ngữ của truyện ngắn sau 1975
Nh chúng ta đã biết, báo Văn nghệ luôn là nơi đăng tải các sáng táctruyện ngắn đồng thời cũng là nơi thờng tổ chức các cuộc thi truyện ngắn hay.Nhiều năm qua, các truyện ngắn hay và đợc giải in trên các tuần báo văn nghệluôn là sự quan tâm lớn của bạn đọc Nhìn chung, các ý kiến đều thống nhất ởnhững giá trị mà các truyện ngắn đạt đợc
Trang 63 Sâu sắc hơn, khi nhận xét về tập “ánh trăng” ( Tập truyện ngắn hay
đợc giải năm 1991 của báo Văn nghệ), Phong Lê đã viết: “Trong các nhận xét
và cảm tởng chung giống nh nhiều ngời và giống nh ban chấm giải, tôi có nêumột cảm tởng riêng để làm rõ thêm các kết quả cuộc thi, theo nhận thức củatôi, đó là: “Một mặt là sự bâng khuâng và mờ ảo hơn trong các cảm nhận vềcon ngời và mặt khác là những vật vã, quằn quại hơn trong các cảnh đời ”
4 Cũng nói về tập “ánh trăng”, nhà văn Anh Đức trong “khả năng to
lớn của truyện ngắn “ (Trích th gửi cho ban giám khảo) có nhận xét xác đángrằng: “Nhìn chung các đề tài hôm nay đa dạng hơn, phong phú hơn, thậm chírất quyết liệt, giữa xấu và tốt, thiện và ác, giàu và nghèo, sáng và tối Nhng
điều này cũng dễ hiểu vì thực tế xã hội Việt Nam đang diễn ra nh thế, nên cáctruyện dự thi viết ra, vậy cũng là tơng ứng, là tất yếu, miễn là nó mang mộttinh thần trách nhiệm, xây dựng, miễn là nó mang tính nhân đạo và nhân bản– và hầu nh tất cả các truyện ngắn đều toát lên đợc ý thức đó ”
Chúng tôi thấy rằng, ngoài những bài viết mang tính khái quát về vănxuôi sau 1975 thì những bài viết, những ý kiến có liên quan đến truyện ngắnhay và đợc giải trên tuần báo Văn nghệ đều là những nguồn t liệu quý giá chochúng tôi trong việc nghiên cứu và học tập Tuy nhiên, chắc là do hạn chế bởikhuôn khổ bài viết, các tác giả cha có điều kiện đề cập sâu sắc và cụ thể vềcác tác phẩm ấy
Chính vì vậy, hớng của luận văn này sẽ là: Tiếp thu có chọn lọc những
ý kiến của các nhà nghiên cứu về truyện ngắn sau 1975; phân tích cụ thể, sâusát hơn để tìm ra những cái mới trong một số tác phẩm hay và đạt giải trêntuần báo Văn nghệ những năm gần đây
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận.
3.1 Đối tợng nghiên cứu.
Gồm hai tập truyện ngắn:
1.Tuyển tập “Truyện ngắn trên báo Văn nghệ 1987 - 1995”
2.Tập “ánh trăng” (tập truyện ngắn đợc giải báo Văn nghệ năm 1991)
Trong hai tuyển tập truyện ngắn nói trên, do khuôn khổ của một khoáluận tốt nghiệp đại học nên chúng tôi chỉ đề tới một số tác phẩm tiêu biểu:
* Tuyển tập “Truyện ngắn trên báo Văn nghệ 1987 – 1975”:
Ngời cha có chiến công (Vũ Bão)
Ngời đàn ông duy nhất (Võ Thị Hảo)
Trang 7* Tập “ánh trăng” (tập truyện ngắn đợc giải năm 1991):
Kẻ sát nhân lơng thiện (Lại Văn Long)
Đùa của tạo hoá (Phạm Hoa)
Vũ điệu của cái bô (Nguyễn Quang Thân)
Ngời hùng trờng làng (Tạ Nguyên Thọ)
Ngời vãi linh hồn (Vũ Bão)
Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát thêm một số truyện:
Ngời còn sót lại của rừng cời (Võ Thị Hảo)
Một giọt máu đào (Mai Huy Thuật)
Chuyện nhà tôi (Nguyễn Kim Châu)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tái hiện một cách khái quát, đầy đủ, có hệ thống về nội dung của cáctác phẩm nêu trên Phân tích những nét đặc sắc để thấy đợc những vấn đề nổibật của văn học sau 1975
4 Phơng pháp nghiên cứu.
Xuất phát từ lịch sử của đề tài, chúng tôi sử dụng phơng pháp: Đọc, táihiện, phân tích, bình luận, khái quát, tổng hợp có chọn lọc những bài nghiêncứu đã có, kế thừa và phát triển những ý kiến đúng đắn, đồng thời góp một vài
ý kiến nhỏ vào lĩnh vực này
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp so sánh, đối chiếunhững vấn đề các nhà văn quan tâm trong truyện ngắn sau 1975 với truyệnngắn 1945-1975 để thấy đợc những nét đặc sắc của truyện ngắn sau 1975
5 Cấu trúc khoá luận.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của khoáluận này gồm ba chơng:
Chơng 1: Những vấn đề lý luận
Chơng 2: Những vấn đề nổi bật của truyện ngắn sau 1975
Chơng 3: Một số đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn sau 1975
Trang 8Phần Nội dung
Chơng 1
Những vấn đề lý luận
Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là một bớc ngoặt vĩ
đại trong lịch sử dân tộc ta: Mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc
Tự do cha đợc bao lâu thì giặc Pháp quay trở lại đánh chiếm miền Bắc Đất
n-ớc thêm một lần chìm trong máu lửa chiến tranh Đánh Pháp cha xong thì giặc
Mỹ tràn tới Ba mơi năm ròng, dân tộc ta phải tiến hành liên tiếp hai cuộckháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để baỏ vệ nền độc lập tự do
và thống nhất đất nớc Hoà trong không khí sục sôi của cách mạng là sự hớng
về kháng chiến, “tất cả cho chiến thắng” của toàn Đảng, toàn dân toàn quân
ta Tất cả mọi ngời cùng chung lng đấu cật, cùng đồng sức, đồng lòng nhất tề
đứng lên để bảo vệ đất nớc với ý chí cao cả, quyết tâm sắt đá:
“Ta đi tới trên đờng ta tiếp bớcRắn nh thép, vững nh đồng
Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệpCao nh núi, dài nh sông
Chí ta lớn nh biển đông trớc mặt”
(Ta đi tới - Tố Hữu)
Với niềm tin ở tơng lai, ở phía trớc:
“Xẻ dọc Trờng sơn đi cứu nớc
Mà lòng phơi phới dậy tơng lai”
(Tố Hữu)
Tin chắc ở tơng lai và sống với tơng lai, con ngời đã đi vào chiến trờng, đi vàobom đạn nh trẩy hội:
Trang 9“Đờng ra trận mùa này đẹp lắmTrờng Sơn Đông nhớ Trờng Sơn Tây ” (Phạm Tiến Duật)
Nh vậy, với không khí đó của lịch sử, văn học chịu ảnh hởng gì ? vì vănhọc bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống cho nên nó phản ánh một cách chânthực khách quan những gì xẩy ra trong cuộc sống
Lịch sử Việt Nam 1945-1975 với những biến động lớn lao đã ảnh hởngmạnh mẽ tơí văn học Dới sự chi phối của lịch sử, của chế độ xã hội mới, sau
1945, ở nớc ta một nền văn hoá, văn nghệ mới ra đời trong chiến tranh và pháttriển trong chiến tranh Đặc biệt là đội ngũ các văn nghệ sĩ, họ là những ngời
đi từ “thung lũng đau thơng đến cánh đồng vui” với cuộc kháng chiến chốngPháp, thực tế mới của nó đã giúp cho các nhà văn vốn sống mới, đề tài mới
đầy sáng tạo Với cuộc chiến tranh chống Mỹ, thực tế xã hội “ra ngõ gặp anhhùng” đã mang laị cho nhà văn nguồn t liệu dồi dào trong sáng tác Thời đạicho phép các văn nghệ sĩ đợc tự do ca ngợi sự nghiệp cách mạng của tổ quốc.Nhiều tác phẩm mang đậm khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn bởinhững năm tháng đó, con ngời tuy đứng trong gian khổ tột cùng nhng tâm hồnchủ yếu sống với niềm tin yêu ấm áp của tình đồng chí, của tình dân nghĩa
Đảng và ánh sáng rực rỡ của lý tởng, của tơng lai Những tác phẩm sử thi ớng tới khai thác những đề tài chung của tập thể, dân tộc, cộng đồng, thiên vềkhẳng định, ca ngợi với giọng điệu hào hùng Nhân vật trung tâm của tácphẩm là những con ngời đại diện cho giai cấp, dân tộc, thời đại và kết tinh mộtcách chói lọi những phẩm chất cao quý của cộng đồng Chất sử thi của tácphẩm không mâu thuẫn với hiện thực mà lại có khả năng hoà hợp, gắn bó vớihiện thực Sự hoà quyện những khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạntrong các tác phẩm đã tạo nên chủ nghĩa anh hùng lãng mạn
h-Với đại thắng mùa xuân năm 1975, nớc nhà đã hoàn toàn thống nhất,Bắc-Nam từ đây sum họp một nhà Bài ca khải hoàn ấy đã mở ra kỷ nguyênmới, vận hội mới, nhiều tiềm lực mới đợc phát hiện trong công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội Cuộc sống có nhiều biến động, nhiều thay đổi, những khókhăn lâu dài và trớc mắt đang từng bớc đợc khắc phục Tuy vậy, cái xấu, cái
ác, tệ nạn xã hội, vẫn đang tồn tại trong cuộc sống, mặt tiêu tực vẫn đang pháttriển, vì vậy văn học phải có những đóng góp vào việc xác định những chuẩnmực, những giá trị chân chính trong xã hội mặc dù nhận thức đợc toàn diện
Trang 10“khuôn mặt” của cuộc sống mới không phải là điều đễ dàng, phát hiện ra cácvấn đề trong tìm hiểu các xung đột, mâu thuẫn về t tởng, khẳng định sự thắnglợi của cái mới, đẩy lùi cái cũ, đó là trách nhiệm và niềm cảm hứng đầy sángtạo của văn xuôi hôm nay.
Sau 1975 với yêu cầu bức thiết của lịch sử, khuynh hớng sử thi và cảmhứng lãng mạn trong văn học không còn phù hợp, không đáp ứng đợc thị hiếuthẩm mỹ của ngời tiếp nhận Nhu cầu cổ vũ, động viên, ca ngợi không còn làvấn đề bức xúc, cấp thiết nữa “Ngời đọc mới hôm qua còn mặn mà là thếbỗng dng bây giờ quay lng lại với anh “ [10], cho nên văn học yêu cầu phảinhanh chóng có sự đổi mới
Xét đến cùng, mọi sự đổi mới, cách tân văn học đều xuất phát từ sự thay
đổi về t duy nghệ thuật, đặc biệt là sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật vềcon ngời Trong văn học Việt Nam, quan niệm nghệ thuật về con ngời luôn có
sự vận động và phát triển Nếu con ngời lý tởng của văn học trung đại chủ yếu
là những kẻ sĩ, những tài tử giai nhân; văn học 1930-1945 chú ý đến nhữngthanh niên trí thức hoặc hớng về tìm hiểu số phận, phẩm chất của những conngời nhỏ bé, những nạn nhân xã hội thì trong giai đoạn 1945-1975, thực tếcách mạng lại cho ngời cầm bút những định hớng mới về quan niệm con ngời
Văn học 1945-1975 nh ta đã biết ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, đất
n-ớc 30 năm có chiến tranh liên tục Văn học lúc này phục vụ đắc lực cho sựnghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất yếu thờngnghiêng về phản ánh các sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính cách toàn dân.Những điều văn học đề cập đến lúc đó phải là những vấn đề trung tâm, cốt lõi,liên quan đến cả sự sống còn của cả dân tộc, đất nớc Chính vì vậy: con ngờitrong văn học 1945-1975 là con ngời sống với cộng đồng, xả thân vì nghĩalớn, họ tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong sự gắn bó với cộng đồng Đời sống tậpthể, không gian cộng đồng đáng kể hơn đời sống riêng t, khuôn viên gia đình
Từ thực tế đó, một điều rất dễ hiểu là đề tài đời t, đời thờng, thế sự đạo
đức, số phận cá nhân giữ một vị trí thứ yếu không đáng kể trong đời sống vănhọc 1945-1975 “Các đề tài này không đủ t cách là một đề tài độc lập, nó nh là
một thứ văn học loại hai, không đợc khuyến khích (thơ tình Xuân Diệu; Đi
b-ớc nữa của Nguyễn Thế Phơng; Đêm không ngủ của Nguyễn Nh Hiên; Màu tím hoa sim của Nguyễn Hữu Loan )” [16].
Trang 11Sau 1975 và đặc biệt là những năm 80 do nhu cầu thẩm mĩ mới của bạn
đọc và đợc sự khuyến khích, động viên của Đảng, văn học của chúng ta đã có
sự cách tân, đổi mới Đây là thời kỳ văn xuôi có sự chuyển mình, “trở dạ”.Nghị quyết 05 về văn hoá Việt Nam đã mở ra trong đời sống văn nghệ một cơchế quản lí tạo điều kiện cho văn học nói chung và văn xuôi nói riêng pháttriển mang những tố chất mới so với thời kỳ trớc đó – thời kỳ mà những tácphẩm hay nhất là những tác phẩm về đề tài chiến tranh, ở đó là thế giới của cáicao cả, cái đẹp đang vơn lên trên sự tàn phá, huỷ diệt của bom đạn, là thế giớicủa lòng dũng cảm, của tình ngời và lòng chung thuỷ “Nhng khi những biến
động xã hội luôn luôn tác động đến cuộc sống, số phận của con ngời đổi thay,những vấn đề thế sự và nhân sinh luôn đặt ra những câu hỏi và dày vò lơngtâm của mỗi con ngời thì ngời viết cũng phải suy nghĩ và có thái độ thích hợp”[8] Nếu nh trớc đây con ngời là đối tợng hầu nh chỉ để ca ngợi hay phê phánthì giờ đây nó đợc nhà văn đi vào thế giới nội tâm, đi vào số phận, tìm đếnnhững vấn đề cụ thể, đời thờng mà vẫn mang ý nghĩa nhân loại
Cái mới, cái cách tân trớc tiên có thể kể đến của văn học sau 1975 làbình diện t duy nghệ thuật Văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng sau
1975 chuyển dần từ t duy sử thi sang t duy tiểu thuyết Hiện thực đời sốngthay đổi khác trớc rất nhiều, đòi hỏi các nhà văn cần có cách tiếp cận hiệnthực phù hợp Văn học lúc này không chỉ chú trọng vào hai đề tài Tổ quốc vàchủ nghĩa xã hội nh trớc Một mảng hiện thực lớn trớc đây hầu nh bị bỏ quên,nay đợc đặc biệt chú ý: Đó là vấn đề đời t, đời thờng và thế sự đạo đức “Hình
nh có một quan niệm mới ở mỗi nhà văn sau 1975, mọi vấn đề của cuộc sốnghay nói một cách khác tất cả những gì liên quan đến con ngời đều đợc các nhàvăn quan tâm và đa vào văn học Từ những vấn đề lớn nh lý tởng sống, đấutranh giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đến những vấn đề nhỏnhặt trong cuộc sống đời thờng đều đợc các nhà văn quan tâm Nếu nh vănhọc trớc đây quan tâm đến số phận, hạnh phúc chung của cả cộng đồng, củacả dân tộc thì nay các nhà văn quan tâm đến từng số phận cá nhân Cảm hứng
sử thi thời kỳ 1945-1975 hớng ngòi bút của ngời nghệ sĩ vào việc khám phá
và ca ngợi những con ngời tiên tiến, con ngời anh hùng Đó là những hìnhmẫu lý tởng của một thời kỳ vinh quang và oanh liệt, những con ngời của một
sự nghiệp chung, xả thân vì nghĩa lớn, vì tập thể “Mình vì mọi ngời, mọi ngờivì mình” là lẽ sống đạo đức của con ngời trong văn học sử thi Họ xuất hiện
Trang 12trong các trang văn, vần thơ nh là sự đại diện trọn vẹn cho đất nớc, cho lý ởng, lơng tâm khí phách của thời đại Họ đẹp một cách toàn diện, hoàn mĩ nhnhững viên ngọc không tì vết” [16] Ngợc lại, các tác phẩm sau 1975 viết về
t-đời t, t-đời thờng và thế sự đạo đức thì lại hớng tới những con ngời t-đời thờng,con ngời bình thờng trong cuộc sống, những số phận cá nhân hết sức phức tạp
Sự khác biệt giữa những con ngời đợc đa vào các tác phẩm qua hai thời kỳ là ởchỗ: Nếu nh nhân vật trong văn học 1945-1975 là những con ngời mẫu mực,
lý tởng mà Đảng, cách mạng, nhà văn mong muốn để nêu gơng cho mọi ngờinoi theo, học tập thì đến văn học sau 1975, con ngời hiện lên vốn nh trongcuộc sống Nh vậy, con ngời bình thờng, đời thờng trớc đây (1945-1975) hầu
nh bị bỏ quên thì nay đợc các nhà văn đặc biệt chú ý khám phá và miêu tả sâusắc Cách nhìn vào hiện thực và con ngời của các nhà văn đi vào các vấn đề
đời t, đời thờng và thế sự đạo đức, đa diện nhiều chiều và phức tạp hơn
Trớc đây với t duy sử thi và cảm hứng lãng mạn, cách nhìn cuộc đời vàcon ngời của các nhà văn chủ yếu là cách nhìn đơn giản, một chiều, phiếndiện và hết sức rạch ròi thiện - ác, địch – ta, cao cả - thấp hèn, không hề có
sự pha trộn trong các lĩnh vực ấy Tâm hồn con ngời ít phức tạp, không có sựgiằng xé nội tâm trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa cái chung và cái riêng,giữa nghĩa vụ và quyền lợi riêng t Ngời đọc có cảm giác nắm bắt, hiểu đợccon ngời một cách dễ dàng Nhân vật đợc tạo ra từ khuôn mẫu, na ná giốngnhau, thiếu cá tính
Tiếp xúc với những con ngời trong văn học sau 1975, ngời đọc có cảmnhận ngợc lại, con ngời ở đây là một tiểu vũ trụ vô cùng phức tạp, chiều sâutâm hồn khó nắm bắt Cái tốt, cái xấu đan xen một cách lẫn lộn, có khi cái caocả, cái thấp hèn cùng tồn tại trong một con ngời Các nhân vật lão Khúng, Lựccủa Nguyễn Minh Châu và nhiều nhân vật khác của Nguyễn Huy Thiệp, PhạmThị Hoài, Dơng Thu Hơng thực sự là những cá tính không hề giống ai, nhnglại hiện hữu trong muôn mặt của cuộc sống đời thờng Nhiều khía cạnh mớitrong tính cách của con ngời đời thờng đợc các nhà văn sau 1975 khám phá,khai thác “Đó là những con ngời đợc nhìn nhận trong nhiều mối quan hệphong phú và phức tạp: quan hệ xã hội, quan hệ đời t, quan hệ lịch sử, quan hệ
đời thờng , con ngời với những niềm vui và nỗi buồn, trong sự phấn khởi vànỗi khổ đau, trong niềm tin và sự hoài nghi chính đáng Họ đẹp trong chấtthép và cả sự mềm yếu” [16] Bên cạnh đó, quan niệm nghệ thuật về con ngời
Trang 13đổi mới đã khiến ngời viết phải mở rộng chân trời tìm kiếm của mình đếnnhững góc khuất và nhìn thấy ngoài cái “con ngời xã hội kinh điển còn có mộtloạt những con ngời trong cùng xã hội và ngay trong cùng một con ngời” [8].
Có thể nói đây là thời kỳ mà trong văn học con ngời đợc soi chiếu từ rất nhiềuphía
Nh vậy, văn xuôi nói chung và truyện ngắn sau 1975 nói riêng đã bổsung một mảng hiện thực to lớn trong đời sống mà văn học 1945-1975 trớc
đây hầu nh bị bỏ quên Chính vì vậy, hiện thực cuộc sống trong các trang văn
đầy đủ, phong phú hơn, gần hơn với hiện thực vốn đang tồn tại Văn học lúcnày “thực hơn”, “đời hơn” [16]
Cũng chính bởi thế, cho nên ngời đọc luôn nhiệt tình đón nhận cáctruyện ngắn trên các tuần báo Văn nghệ những năm gần đây Các cây búttruyện ngắn đã tỏ ra sắc sảo khi đi sâu vào cuộc sống của con ngời đời thờng,
đặc biệt là các vấn đề đạo đức thế sự Sự nghiệp đổi mới đất nớc cùng nhữngnới mở trong đời sống văn học đem đến cho những cây bút truyện ngắn nhữngcảm hứng và “sức chứa lớn” Họ là Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Minh Dậu,
Vũ Bão, Võ Thị Hảo, Lại Nguyên Long, Tạ Nguyên Thọ Các tác phẩm của
họ đã tiếp bớc sự thay đổi, cách tân trong văn học sau 1975 Do vậy, những
đứa con tinh thần ấy đã không những đề cập đến nhiều vấn đề của thời đại màcòn làm nên những vấn đề đặt ra cho cả nền văn học
Chơng 2
Những vấn đề nổi bật của truyện ngắn sau 1975
2.1 Hiện thực chiến tranh và hình tợng ngời lính cách mạng.
2.1.1 Chiến tranh và hình tợng ngời lính cách mạng
trong những sáng tác trớc 1975.
Lịch sử dân tộc ta là lịch sử trờng kỳ chống giặc ngoại xâm Đó lànhững cuộc đấu tranh của 4000 năm dựng nớc và giữ nớc, là 30 năm khángchiến trờng kỳ mà dân tộc ta phải đơng đầu với những đế quốc xâm lợc đầu sỏ
Trang 14trên thế giới Với tấm lòng gan dạ, sự kiên trì, quyết tâm không mệt mỏi, nhândân ta đã giành chiến thắng.
Đề tài chiến tranh là một đề tài quen thuộc không những của văn họcViệt Nam mà còn ở trên toàn thế giới Văn học luôn bắt nguồn từ cuộc sốngnên khi viết về chiến tranh luôn thể hiện đúng hơi thở của lịch sử, của thời đại.Với lịch sử mấy nghìn năm dựng nớc và giữ nớc, dân tộc ta đã phải đơng đầuvới bao kẻ thù, khó khăn, bao thử thách tởng nh không thể vợt qua để làm nêncuộc cách mạng tháng Tám lẫy lừng - mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sửnớc nhà Nhng độc lập tự do cha đợc bao lâu, giặc Pháp lại trở lại, rồi giặc Mỹkéo vào Lòng yêu nớc, tinh thần dân tộc – cái huyệt thần kinh nhạy cảmnhất của ngời Việt Nam bị chạm mạnh Cả nớc đứng dậy, tất cả sẵn sàngchống giặc, tất cả cùng hớng về chiến thắng Trớc không khí đó, những ngờicầm bút chân chính đều đứng trên lập trờng kháng chiến, tuyên truyền chínhtrị, cổ vũ chiến đấu Họ luôn bám sát hiện thực và phản ánh kịp thời mọi vấn
đề bức xúc của chiến tranh, kịp thời ngợi ca, biểu dơng những anh hùng vớinhiều hành động phi thờng, xả thân vì nghĩa lớn Các văn nghệ sĩ sẵn sàngnhập cuộc, sẵn sàng đi vào chiến trờng với đầy tinh thần nhiệt huyết, với mộttấm lòng luôn hớng về tổ quốc cao cả và thiêng liêng Tác phẩm của họ đợc
đổi từ mồ hôi, nớc mắt có khi cả bằng máu của mình để viết nên những “đứacon tinh thần“ chân chính, gắn liền với thời đại, với rộng rãi quần chúng nhândân, cách mạng
Sinh ra trong hoàn cảnh lịch sử ấy, văn học tập trung phản ánh những sựkiện, hiện tợng có ý nghĩa đối với vận mệnh dân tộc, với cuộc sống và sự đấutranh anh dũng của nhân dân trong chiến tranh Cái cá nhân, cái riêng t không
đợc đề cập đến, lợi ích cá nhân lại càng trở nên tầm thờng nhỏ bé, thậm chí vônghĩa Nói chung, tình cảm chủ yếu của văn học từ 1945 đến 1975 là nhữngtình cảm công dân, tình cảm chíng trị: tình đồng bào, tình đồng chí, tình quândân, tình cảm với Đảng với Bác Hồ
Cũng xuất phát từ nhiệm vụ cổ vũ chiến đấu, chiến tranh trong quanniệm của các nhà văn trớc năm 1975 là những ngày hội, là những cuộc hànhquân trùng trùng điệp điệp, cả nớc ra quân trong không khí tng bừng nh ngàyhội:
“Ta qua sông qua suối
Ta qua núi qua đèo
Trang 15Lòng ta vui nh hội
Nh cờ bay gió reo”
(Tố Hữu)Chế Lan Viên cũng thốt lên rằng: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
” Đó là những cuộc hành quân có một không hai trong lịch sử Chiến tranh làmôi trờng tốt nhất để thử thách, rèn luyện con ngời anh hùng, là thớc đo giá trịphẩm chất, để phân biệt đợc “đồng” và “vàng thau”, cái thiện và cái ác, cáicao cả - thấp hèn, đâu là anh hùng, đâu là tiểu nhân
Ra đời và phát triển trong không khí lịch sử đó, văn học giai đoạn
1945-1975 là văn học của những sự kiện lịch sử, của số phận toàn dân, của chủnghĩa anh hùng Nhân vật trung tâm của nó là những con ngời đại diện chogiai cấp dân tộc, thời đại và kết tinh một cách chói lọi những phẩm chất caoquý của cộng đồng Đây cũng là những năm tháng con ngời tuy đứng tronggian khổ tột cùng nhng tâm hồn chủ yếu sống với niềm tin ấm áp của tình dânnghĩa Đảng và trong ánh sáng rực rỡ của lý tởng, của tơng lai Chính vì vậy,văn học 1945-1975 mang đậm huynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Nói tới chiến tranh, chúng ta nghĩ ngay tới sự mất mát, sự hy sinh đầy
đau thơng, tang tóc Nhng do yêu cầu bức thiết của hoàn cảnh, văn học phải ớng con ngời vào tơng lai chiến thắng, phải vợt lên hoàn cảnh, xem cái chếtnhẹ tựa “lông hồng” Cho nên vấn đề không có lợi cho cách mạng nh cái chết,
h-sự mất mát, tang tóc hầu nh không đợc đề cập đến, nếu có thì cũng đợc cácnhà văn phản ánh bằng hào khí, tâm lý của một dân tộc anh hùng Cái chếtnếu có đợc nói đến thì cũng là “những cái chết hoá thành bất tử”, cũng là sựkhẳng định cái bất diệt trờng tồn của lý tởng cách mạng, của lòng quả cảm hy
sinh cho đất nớc, cho dân tộc Nguyễn Thiều Nam trong truyện ngắn Gieo
mầm cũng nói đến cái chết để khẳng định sự bất tử Hiên và Tuân (hai nhân
vật chính trong tác phẩm ấy) sinh ra và lớn lên trên cùng một mảnh đất, họ đãtừng là bạn bè “con chấy cắn đôi” của nhau Lớn lên, Hiên trở thành nhà hoạt
động cách mạng Còn Tuân cũng có “lý tởng” riêng của mình: học tập để quaytrở về quê hơng đàn áp cách mạng Khi bắt đợc Hiên, hắn tuyên bố đểu cángrằng vì tình bạn bè hắn sẽ tự tay tra tấn anhvà cũng vì bạn bè hắn cho Hiên đ -
ợc chọn cái chết Hiên đã dũng cảm chấp nhận cái chết đau đớn về thể xác:kéo lê trên đờng đi khắp làng xóm cho đến chết Tác giả miêu tả sự hy sinhcủa chiến sĩ cách mạng với ý nghĩa lớn lao vô cùng: “Thấy trái rụng xin đừng
Trang 16vội khóc Một trái rụng muôn vàn cây mọc” (Trái rụng – Bùi Công Trừng).
Cái chết của Hiên nh càng hun đúc lòng căm thù giặc, càng thổi bùng thêmngọn lửa ý chí quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta Đó là cái chết “gieomầm” – cái chết nhng không lụi tắt, không bị quên lãng mà trái lại , nó càngtiếp thêm sức mạnh, tiếp thêm nghị lực, thêm lòng tin cho những ngời hoạt
động cách mạng ở quê hơng anh
Nh vậy, đề tài chiến tranh và ngời lính cách mạng trong văn học trớc
1975 mang đậm dấu ấn của lịch sử Ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh nhthế, văn học 1945-1975 tất yếu phải khoác trên mình một nhiệm vụ lớn lao: cổ
vũ chiến đấu, phục vụ chíng trị, hớng về đại chúng trớc hết là công nông binh
Do vậy, việc phản ánh đề tài chiến tranh và ngời lính cách mạng đã góp phầnkhông nhỏ trong việc động viên tinh thần và cổ vũ chiến đấu
2.1.2 Vài nét về chiến tranh và hình tợng
ngời lính cách mạng trong truyện ngắn sau 1975
Năm 1975 - cái mốc chấm dứt một giai đoạn lịch sử của dân tộc đểchuyển sang một vận hội mới Đối với văn học, bối cảnh mới đã tạo nênnhững chấn động sâu xa trong ý thức nghệ thuật Từ một nền văn học của đấutranh, của chiến tranh, của những yêu cầu nghiêm ngặt về chính trị và t tởng,toàn bộ văn học với những kinh nghiệm tích luỹ đợc, không phải chỉ là 40năm cách mạng, mà trên cả chặng đờng dài lịch sử văn học dân tộc, đang cónhững nhu cầu mới, nhu cầu trở lại với sự sáng tạo trong dân chủ, nhu cầusống trong mọi vấn đề của đời sống con ngời để tìm kiếm và thiết lập nhữnggiá trị đích thực của tinh thần con ngời Muốn vậy, nhà văn cần có sự đổi mớicách nhìn nhận, đánh giá hiện thực cuộc sống, đổi mới t duy, quan niệm nghệthuật về con ngời: Từ t duy sử thi chuyển sang t duy tiểu thuyết, việc miêu tả
số phận con ngời trong chiến tranh và sau chiến tranh
Chiến tranh đã qua đi, đất nớc đang hồi sinh và phát triển mạnh mẽ vềmọi mặt: Kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội v.v Nhng dấu ấn của một thời kỳ
đau thơng tàn khốc do bom đạn của chiến tranh vẫn còn in đậm trong kí ứcmỗi con ngời Văn học cũng phát triển với sự đi lên của đất nớc, nó phản ánhcuộc sống trong sự phong phú, đa dạng “nhiều màu sắc”, nhng nó không vì sựtrôi chảy của thời gian mà bỏ quên quá khứ Văn học vẫn tiếp tục viết về chiếntranh, viết về cái thời oanh liệt đẫm máu bằng cái nhìn đa chiều của con ngờimới
Trang 17Đề tài chiến tranh ngày càng mở rộng, bao quát hơn, nó không chịu bóhẹp trong sự xung đột giữa hai phe đối lập, giữa cái thiện và cái ác mà còn đềcập đến mọi vấn đề của cuộc sống Ngày hôm nay bắt đầu từ ngày hôm qua,cho nên để viết về chiến tranh, ngời sau thời chiến phải lấy con mắt nhìn củangời hôm nay để soi vào sự kiện của ngày hôm qua Với điều kiện hiện có, ng-
ời đời nay sẽ có cái nhìn tỉnh táo hơn, khách quan hơn thậm chí thực hơn đốivới hiện thực chiến tranh
Nhắc đến truyện ngắn sau 1975 viết chiến tranh và ngời lính cáchmạng, không thể không nhắc đến Nguyễn Minh Châu Ông là ngời đi tiênphong trong phong trào cách tân văn học sau 1975 Truyện ngắn viết về chiếntranh của ông dã đạt đợc những giá trị về nội dung cũng nh nghệ thuật Đó là
Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện – 1983); Bến quê (tập
truyện ngắn - 1985); Cỏ lau (tập truyện - 1989) Truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu sau 1975 đã gây chấn động lớn trong lòng độc giả bởi ông đã đềcập đến những vấn đề bức xúc, nóng bỏng của cuộc chiến tranh, trong đó conngời là một “tiểu vũ trụ” chứ không đơn giản, một chiều
Bên cạnh đó, cũng có nhiều nhà văn quan tâm đến đề tài này Có thể kể
đến tập truyện ngắn Gió từ miền cát của Xuân Thiều; Ngời còn sót lại của
rừng cuời, Biển cứu rỗi (Võ Thị Hảo); Th gửi mẹ Âu Cơ (Y Ban); Ngời đàn bà trên đảo (Hồ Anh Thái) Nhìn chung, càng về sau, chiến tranh và ngời lính
cách mạng càng đợc các tác giả khai thác ở nhiều khía cạnh mới và ở khíacạnh nào mảng văn học này cũng đạt đợc những thành tựu đáng kể
Có thể thấy rằng, chiến tranh và ngời lính cách mạng là một trongnhững vấn đề nổi bật của truyện ngắn sau 1975, trong đó gắn liền với tên tuổicủa Nguyễn Minh Châu Vấn đề Nguyễn Minh Châu đã đợc đề cập tơng đốinhiều ở các bài viết khác Chúng tôi chỉ nghiên cứu vấn đề hiện thực chiếntranh và ngời lính trong khuôn khổ tập truyện ngắn đạt giải năm 1991 và tậptruyện ngắn 1987 – 1995 trên tuần báo Văn nghệ nhằm góp vào bức tranhvăn học sau 1975 viết về chiến tranh một cách nhìn nhận
2.1.3 Chiến tranh và hình tợng ngời lính cách mạng
qua một số truyện ngắn tiêu biểu sau 1975
Với độ lùi của thời gian, nhà văn có cơ hội nhìn nhận lại chiến tranh,kiểm chứng lại hậu quả xã hội của nó, quan niệm về hiện thực chiến tranh đãthay đổi Văn học nhìn hiện thực chiến tranh bằng cái nhìn đa chiều, đa diện,
Trang 18chiến tranh đợc khúc xạ qua tâm hồn, qua số phận nhân vật Đó là những conngời đã đi qua chiến tranh và đang sống trong thời hậu chiến D âm của haicuộc chiến tranh, hậu quả nặng nề mà nó để lại đã tác động rất lớn đến đờisống riêng t của từng con ngời.
Đăc biệt, văn học sau 1975 viết về chiến tranh đã mạnh dạn đặt chân
đến vùng cấm trớc đây: mạnh dạn nói đến cái xấu, đến mặt trái của chiếntranh, khôi phục lại chân lý Văn học hôm nay phản ánh và đánh giá hiệnthực, chiến tranh trung thực hơn, mạnh dạn hơn Mọi vấn đề đều bình đẳng tr-
ớc ngòi bút của tác giả Nhà văn với cái nhìn khách quan đã phát hiện ranhững cái mới, cái rất riêng mà chỉ văn học sau 1975 mới có Ngời viết khôngchỉ tái hiện lại những cái tàn khốc, ác liệt của chiến tranh mà hơn thế nữa họcòn nói những gì còn tồn tại, những trang viết về chiến tranh của những conngời hậu chiến, ngời lính đợc đề cập bằng nhiều màu sắc, với sự chân thực,với đầy đủ những cung bậc tình cảm của con ngời Họ không còn là viên ngọckhông tì vết nh trong văn học trớc nữa, họ có thể có niềm vui, nỗi buồn, cótình thơng, lòng dũng cảm, tính nhu nhợc đớn hèn, những giây phút giao động và cả lòng trung thành
Cuộc mu sinh thời hậu chiến đã khiến ngời lính phải gồng mình lên vớinhững khó khăn, thử thách mới Trong cuộc vật lộn với cuộc sống mới ấy, ng-
ời lính trong truyện ngắn sau 1975 hình nh không theo kịp với nhịp sống hốihả, gấp gáp đặc biệt là trái tim ngời lính đã không cho phép họ quỳ gối trớc
đồng tiền Chính vì vậy, tác giả truyện ngắn sau 1975, khi viết về ngời lính họcòn nói lên một cách trung thực hiện thực với những bi kịch đầy xót xa củangời lính sau chiến tranh Đó mãi mãi là vấn đề nhức nhối của xã hội và củanhững ngời cầm bút
Thật vậy, văn học sau 1975 nói chung là văn học gắn bó với hiện thực,nhng không chỉ phản ánh hiện thực mà còn suy ngẫm về hiện thực Đối tợngnghiên cứu và khám phá của văn học không chỉ là xã hội mà là con ngời vớitất cả sự phức tạp và bí ẩn của nó Chính vì vậy, khi chiến tranh đã lùi vào quákhứ, ngời viết hôm nay với sự tỉnh táo, khách quan, trung thực, tấm lòng thiếttha với cuộc sống, chắc hẳn sẽ có cái nhìn nhân văn hơn
Trong số những nhà văn viết về chiến tranh sau 1975 thì Vũ Bão là câybút có nhiều sáng tạo, khám phá mới Đối với cây bút này thì chiến tranh lại
Trang 19đợc đề cập ở những khía cạnh khá bất ngờ, nghe rất “hóm hỉnh, dí dỏm vàthâm thuý”.
Khi chiến tranh đi qua, con ngời ngoảnh lại mới thấy nó thật là đáng sợnhng cũng đầy tự hào Khi đất nớc lên tiếng gọi, những con ngời Việt Namluôn mang trong mình một trái tim yêu nớc, sẵn sàng hiến dâng, hy sinh tuổixuân của mình để bảo vệ Tổ quốc Trong chiến tranh, con ngời sống với nhauthật đẹp, họ dờng nh quên đi những quyền lợi cá nhân để tất cả hớng về tổquốc, hớng về dân tộc Văn học giai đoạn 1945-1975 đã thể hiện điều đó mộtcách xuất sắc Nhng đến sau 1975, những ngời cầm bút khi viết về chiến tranh
đã khác trớc rất nhiều Vũ Bão với hai truyện ngắn Ngời vãi linh hồn và Ngời
cha có chiến công thực sự đã để lại một dấu ấn khó quên trong lòng bạn đọc.
Vũ Bão dờng nh với cái nhìn khách quan, tỉnh táo đã đa ra vấn đề nhìnnhận lại cuộc chiến tranh và con ngời sau chiến tranh Viết về chiến tranh,
cũng nh Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Trong cơn gió lốc (Khất Quang Thuỵ), truyện ngắn Ngời vãi linh hồn của Vũ Bão cũng miêu tả những trận
đánh tàn khốc, ác liệt, không cân sức giữa ta và địch Muốn chiến thắng thìngoài chiến lợc tác chiến đúng đắn còn phải có một sự quyết tâm, lòng dũng
cảm Ngời vãi linh hồn kể về một trung đoàn đã dành thắng lợi trong trận
đánh bốt Chè và trận đánh ấy đã đợc dựng thành phim Ngời đợc chọn cầm cờcắm vào bốt Chè lại là Vĩnh - kẻ mà vì quá sợ đã “vãi linh hồn toé ra quần”.Trong chiến đấu ngời lính không có thời gian để nghĩ tới sự trớ trêu ấy Thếnhng, khi hoà bình lập lại thì chiến thắng bốt Chè vẫn còn âm vang mãi vàhình ảnh Vĩnh đợc chụp lên các báo, các con tem, các tờ lịch và nguy hại hơnchính Vĩnh chứ không phải ai khác lại là ngời luôn “bốc phét” về vinh quangcủa trận đánh ấy Song, đồng đội cũ – những ngời trực tiếp làm nên chiếncông của trận đánh ấy đã cảm thấy bị xúc phạm, lơng tâm ngời lính không chophép họ im lặng Nhng sự lên tiếng của họ cũng chẳng có ích gì vì “Ai dám hạtấm ảnh Vĩnh phất cờ ở bức tờng giữa phòng truyền thống Ai dám huỷ hàngtriệu con tem, hàng chục vạn bìa lịch có in ảnh Vĩnh phất cờ nữa chứ”
Điều mà Vũ Bão muốn nhìn nhận lại ở trận đánh này là vấn đề thực-giả.Trong chiến đấu, khi phải kề cận với cái chết mới thấy đợc bản chất của từngcon ngời Khi Luật - đại đội trởng ra lệnh tiến quân thì Vĩnh đã tụt lại khá sâu
và “giọng Vĩnh lạc hẳn đi: - Đạn nó bắn nh ma, lên sao đợc” Vĩnh đã không
có đủ tự tin, dũng cảm để xông lên giết giặc nhng điều đó không làm ảnh
Trang 20h-ởng đến những ngời xung quanh Dờng nh đối lập với không khí hò reo chiếnthắng là hình ảnh Vĩnh “vãi linh hồn toé ra quần” Tất nhiên ngời lính cũng làcon ngời và ngời cầm bút sau 1975 không lý tởng hoá họ, đã không thi vị hoácuộc chiến tranh nữa Do vậy, hành động “vãi linh hồn” của Vĩnh đợc xem
nh là một phút giây yếu lòng, một phút giây dao động mà thôi chứ không phải
là không chấp nhận đợc nh trong văn học giai đoạn trớc 1975 Đây phải chăng
là vùng khuất mà văn học trớc đây ít nói đến
Thế nhng, đó cha phải là vấn đề chính mà Vũ Bão muốn nói đến trongtác phẩm này Cái cốt lõi, cái trọng tâm ở đây chính con ngời ấy – con ngờihèn nhát không dám xông lên giữa trận mạc, lại may mắn trở thành anh hùng,
đợc lu danh mãi về sau, đợc lớp trẻ nhìn bằng con mắt ngỡng mộ “Những sựtrớ trêu, may rủi thờng gặp trong cuộc sống Kẻ hèn ăn may mà láu cá, cơ hội,biết triệt để lợi dụng, có khả năng bóp chẹt cả chân lý, bắt những cơ quan
“đèn trời” cũng phải ngậm miệng” Ngời viết đã mạnh dạn đa ra ánh sángnhững sự thật trớ trêu lại đợc nhiều ngời tôn thờ, ngỡng mộ Trong cuộc sốngthời bình, dờng nh cái giả dối ấy lại có cơ hội để phát triển hơn Đau đớn thay,Vĩnh lại tự bằng lòng, tự khoác lên mình những thành tích mà mình không hề
có và cũng càng xót xa hơn khi Vĩnh – ngời lính năm xa lại càng trợt dài trêncon đờng công danh hão huyền ấy Vĩnh còn đợc mời sang Anh bốc phét vềchuyện cắm cờ ( ) “ở bên Anh, làm sao ngời ta biết đợc nó đã vãi linh hồntrong trận đánh bốt Chè Cái quần trong phim là cái quần khác đấy”
Song song với sự lên án, sự chê trách, Vũ Bão muốn lên tiếng đòi lại vịtrí xứng đáng của sự thật - một sự thật lịch sử đợc nhiều ngời biết đến Cuộcsống thời bình đã bắt đầu manh nha những mặt trái, những cái tiêu cực mà conngời nếu không kịp trang bị cho mình một hành trang thích hợp thì sẽ chẳngkhác gì Vĩnh Sự giả dối của Vĩnh, sự “bốc phét” của Vĩnh đã không làm cho
đồng đội của anh im lặng đợc nữa Những ngời đồng đội đã từng vào sinh ra
tử với anh luôn dõi theo từng việc làm của anh và họ đau đớn, dày vò khi Vĩnh
“kể diễn biến trận đánh nh thật , có quên chăng chỉ là đoạn nó nằm bẹp xuống
đất sợ đến vãi linh hồn” Những ngời lính đã trải qua bao khó khăn, thử thách,
đã bao lần đối mặt với cái chết mới thấm thía hết cái khốc liệt cũng nh sự vinhquang trong chiến đấu Do vậy, khi “sự việc chúng mình tận mắt còn bị bẻquẹo đi nh thế huống chi là những sự việc xẩy ra từ 50 năm, 100 năm” về tr ớcthì những ngời đã bị “cớp mất thành quả cách mạng” phải lên tiếng lấy lại sự
Trang 21công bằng, khẳng định sự thật và vạch trần chân tớng của sự giả dối Đau đớnthay, ngời lính nh Luật mặc dù khi kề cận với cái chết vẫn còn khắc khoải,day dứt trớc cái xấu, cái giả tạo nhng rút cuộc chúng vẫn ngang nhiên tồn tại,phát triển Dờng nh bản chất tốt đẹp của ngời lính vẫn còn đợc gìn giữ và đó là
động lực để họ chiến thắng kẻ thù Thế nhng, khi đất nớc đã vào thời bình thì
họ lại thất bại trớc cái giả dối do chính đồng đội của mình gây nên
Cũng viết về đề tài chiến tranh, Ngời cha có chiến công có cách viết
hóm hỉnh, hài hớc nhng đằng “sau cái mủm mỉm cời nụ, ngời đọc không thểkìm nén một tiếng thở dài” Với ngòi bút mạnh dạn đi sâu vào mặt trái củachiến tranh và không thi vị hoá nó, Vũ Bão cũng nhìn nhận lại cuộc chiến,
đánh giá nó một cách khách quan bằng cái nhìn thật tỉnh táo, thật nghiêm
khắc Ngời cha có chiến công cũng có một sự trớ trêu thật đáng buồn cời và
đó cũng là sự băn khoăn chứa đầy cái chát, cái đắng của lơng tri trớc một việcngợc đời
Ngời cha có chiến công đề cập đến một cách nhìn nhận, cách đánh giá
con ngời trong chiến tranh bằng chiến công Vũ Bão muốn lên tiếng phê pháncách đánh giá con ngời cứng nhắc, công thức, rập khuôn mà một thời tồn tạitrong cuộc kháng chiến thần thánh của đất nớc Răng – một tân binh nhng có
đầy kinh nghiệm chiến đấu, ham học hỏi lại thông minh, xử lý mọi việc cực
kỳ nhạy bén bởi sự dự đoán tài tình Răng làm việc, chiến đấu một cách vô t,lạc quan bởi ở anh cống hiến cho sự nghiệp giải phóng là một nhiệm vụthiêng liêng, cao cả Anh không để ý đến những tiêu chuẩn để đợc ghi chiếncông là nh thế nào Cùng với Răng, có Bành cũng là tân binh nhng cậu ta rấtgiỏi “vụng chèo khéo chống” Chính vì vậy, mà Bành đã đợc cấp giấy khen và
đợc tuyên dơng, nêu gơng cho mọi ngời học tập “Mỗi chiến sĩ trong đại đội taphải là một Lê Bành ( ) đồng chí Bành đã nêu cao tinh thần tiến công cáchmạng ” Và từ đó “tinh thần tiến công cách mạng” là câu khẩu hiệu luôn gắnliền với cái tên Lê Bành Những ngời trong cuộc hiểu đợc thực chất của vấn đềthì xem thờng cái danh hão ấy và cho rằng “Bĩnh ra quần vội đi giặt quần lại
đợc khen là tích cực giặt giũ”
Thực chất vấn đề của tác phẩm là ở chỗ nào ? Những tấm gơng , nhữngthành tích lại gắn liền với sự giả dối Những ngời đáng ghi công, đáng tuyêndơng nh Răng thì bị cho là “cha có chiến công thật nổi nh Bành” Những ngờilãnh đạo, cấp trên không nhìn đợc cuộc chiến với những nét bản chất của nó
Trang 22mà chỉ thấy đợc những gĩ hào nhoáng hiện lên trên bề mặt của cuộc chiến.Còn Răng – ngời cha có chiến công nhng thực ra lại nhiều chiến công nhấtthì “anh chẳng bao giờ gây nên khó khăn cho mình để rồi sau đó lại dũngcảm khắc phục hậu quả do chính bệnh cẩu thả của anh vừa gây ra để lập mộtchiến công nổi bật hơn anh em khác trong đại đội” Nh vậy, chiến công là cái
“nổi bật” hơn ngời khác chứ không phải là thành tích chiến đấu hàng ngày
Điều đau xót nhất một thời là chuẩn mực của ngời lính lại đợc đo bằng thànhtích mà thực ra cái gọi là thành tích đó thật là kệch cỡm, thật nh một tấn hàikịch không hơn không kém
Từ sự thay đổi t duy nghệ thuật , ngời cầm bút sau 1975 đã nhìn cuộcchiến tranh thần thánh của dân tộc trong cái nhìn đa diện, nhiều chiều, nó đợckhúc xạ qua tâm hồn nhân vật Những ngòi bút ấy, không còn phải lỡng lự khiviết về chiến tranh và ngời lính nh trớc đó nữa Mặt trái của chiến tranh, đặcbiệt là những cái giả tạo, đợc gói ghém rất kỹ lỡng bởi vỏ bọc hào nhoáng bênngoài lại đợc phanh phui, đợc nói đến một cách nghiêm khắc nhất Họ khôngnhìn cuộc chiến bằng con mắt lãng mạn, không viết về chiến tranh bằng cảmhứng sử thi nh trớc mà với sự nhạy cảm trớc cuộc sống và yêu cầu đổi mớitrong nghệ thuật đã buộc các nhà văn phải tôn trọng sự thật, phải đào sâu, mổ
xẻ bản chất vấn đề của hiện thực Do vậy, ngòi bút của ngời viết đã mạnh dạntìm đến những vùng khuất mà văn học bấy lâu nay lớt qua
Nh vậy, đề tài chiến tranh trong văn học sau 1975 đã đợc mở rộng hơnrất nhiều Nếu nh văn học 1945-1975 viết về chiến tranh với những gì hàohùng nhất, đẹp nhất, nó gắn với cảm hứng ngợi ca, cổ vũ chiến đấu thì đến vănhọc sau 1975, chiến tranh không chỉ là tàn khốc đợc phản ánh một cách trungthực mà còn cả những mặt trái lẩn khuất sau nó, trong đó có bi kịch của ngờilính sau chiến tranh
Kẻ sát nhân kơng thiện của Lại Văn Long nói đến cuộc sống của ngời
lính sau chiến tranh Chính họ là những ngời hy sinh cả tuổi thanh xuân, hisinh tất cả những gì mình có cho vận mệnh của dân tộc Thế nhng, khi đất nớchoà bình, họ lại bị coi rẻ, khinh ghét mà đau đớn hơn chính kẻ thù của cả dântộc, lại có quyền dẫm đạp lên những thành quả mà chính họ đã đổ xơng máumới có đợc Cuộc mu sinh của thời hậu chiến đã đặt ngời lính trớc những thửthách mới không kém phần nghiệt ngã và đời sống nền kinh tế thị trờng cũng
là loại thuốc thử về năng lực, phẩm hạnh của họ Một vị đại tá “ba mơi năm
Trang 23cầm súng chiến đấu có tổ chức” nhằm thanh toán món nợ mấy đời bị áp bứcbóc lột, sau chiến thắng không lâu lại trở về điểm xuất phát ban đầu: khôngnhà, không cửa, không tiền, không luôn cả chức danh, địa vị “Hai vợ chồng
đại tá cộng sản già đợc bao thầu thức ăn cho mấy con ngựa trong thời gian dài
để tích luỹ tiền làm nhà” Có một cái gì đó trớ trêu quá khiến ngời đọc có cảmgiác cời ra nớc mắt Về mặt ý nghĩa, cái hài đối lập với cái bi, nhng trong sựthể hiện nghệ thuật, dờng nh cảm hứng về cái hài lại luôn gợi ra nỗi đau, ítnhất cũng là cảm giác chua xót Có những số phận bi kịch, sinh ra từ một tìnhthế hài kịch nh trong “Kẻ sát nhân lơng thiện” Cuối cùng “thịnh tình củathiếu tá bại trận đã đợc đại tá thắng trận ghi nhớ bằng sự đảm bảo danh dựquân nhân qua chất lợng các bao cỏ” Bi kịch của vị đại tá là hậu quả của tấnhài kịch thời “mở cửa”: “mác Việt kiều và sự liên tởng về những con số đầu tbằng đôla qua những lời hứa hẹn đã giúp cho một số ngời công kênh tàn tích
đổi màu của một chế độ đã đợc đánh đổ bằng máu của chính họ”
Rõ ràng, cơ chế cũ đơng nhiên là đáng cời vì lạc hậu, lỗi thời Nhng cơchế mới không phải không có mặt trái Vấn đề là ở chỗ xã hội nhận thức về nó
nh thế nào Tính thực dụng thiển cận, đem t duy “kinh tế thị trờng” áp dụngvào mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực tình cảm, tinh thần đã biến không ít kẻ thành
mù loà, méo mó nhân tính trong khi chúng không tự biết Vị đại tá trong Kẻ
sát nhân lơng thiện tiêu biểu cho số phận của những ngời lính sau chiến
tranh Họ dờng nh lạc lõng trong cơ chế mới để rồi dẫn đến những bi kịch thật
đáng thơng – bi kịch của ngời lính thắng trận – những ngời “may mắn đếnkhông ngờ”, vợt qua cái chết trong đầy rẫy bom đạn nhng không một chútthanh thản trong cuộc sống thời bình Họ cảm thấy mình “bị bắn khỏi lề đ-ờng”, “bị mắc kẹt lại trên cõi đời này” Có cái gì đó rất giống nhau giữa vị đại
tá già trong Kẻ sát nhân lơng thiện (Lại Văn Long) với những nhân vật ngời
lính khác trong văn học sau 1975 Có thể dẫn lời của Lực trong truyện ngắn
Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu để thấy đợc bi kịch này là có tính phổ biến, là
bi kịch của một thế hệ: “chiến tranh, kháng chiến ( ) nh một nhát dao phạtngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn liền lại nh cũ, nhng đauhơn là hai nửa cuộc đời tôi cũng không bị cắt lìa hẳn ( ) Tôi chỉ làm rối thêmcuộc sống, tôi chỉ quấy rầy những số phận đã an bài” Có gì xót xa hơn, phảisống cuộc đời với nhiều kiếp khác nhau, mà kiếp nào cũng bất hạnh ?
Trang 24Có thể thấy rằng, đề tài chiến tranh đã đợc mở rộng, đợc soi rọi từ rấtnhiều phía Những ngời cầm bút thực sự đã tìm ra một hớng đi mới phù hợpvới xu thế của thời đại Cần phải khẳng định rằng: các nhà văn sau 1975 vớicách nhìn đầy khách quan, tỉnh táo đã nhìn cuộc chiến tranh và ngời lính mộtcách trung thực hơn Vấn đề quan tâm của truyện ngắn hôm nay cũng có thể
là đã đợc nói đến từ trớc rất lâu nhng chỉ đến giai đoạn văn học này thì đề tàichiến tranh mới thực sự đợc phản ánh đầy đủ với những biểu hiện mọi mặt của
nó Các tác giả đã bám chặt lấy hiện thực mà không hề né tránh mặt trái củachiến tranh, không tô vẽ cho ngời lính với những phẩm chất tuyệt vời nh trớcnữa mà dới sức nóng của ngòi bút giai đoạn này, mọi vấn đề trở nên bình
đẳng: có ngợi ca, có phê bình và đặc biệt các tác phẩm tràn đầy tính nhân vănmặc dù giọng văn có vẻ lạnh lùng Với những trang viết về chiến tranh và ngờilính của truyện ngắn sau 1975, chúng ta hiểu đợc sự mất mát, khốc liệt củacuộc chiến nhiều khi không phải bắt nguồn từ bom đạn mà còn do những mặttrái của nó gây nên trong tâm hồn Rõ ràng, vết thơng lòng ấy còn đau đớnhơn rất nhiều, còn đắng chát hơn rất nhiều Hơn thế nữa, chúng ta cũng hiểurằng chiến tranh không phải là trò đùa, những mất mát của nó là có thực, tàn
d của nó còn in dấu mãi mãi
Quan tâm đến vấn đề chiến tranh và ngời lính, truyện ngắn sau 1975thấm đẫm t tởng nhân văn sâu sắc Nói nh Durkheim, “khi lơng tâm lên tiếng,
ấy là xã hội lên tiếng trong ta” Các nhà văn sau 1975 thật sự đã lên tiếng vềnhững vấn đề đang là mối quan tâm của toàn xã hội Mặc dù chiến tranh đã lùisâu vào quá khứ nhng những d âm, tàn tích của nó vẫn còn vọng mãi, vẫn làvấn đề quan tâm của nhiều ngời
2.2 Vấn đề đạo đức thế sự, đời thờng.
2.2.1 Vài nét về vấn đề đạo đức thế sự, đời thờng
trong truyện ngắn sau 1975.
Văn xuôi từ sau 1975 đến nay đặc biệt là truyện ngắn đã có những khởisắc và những “tín hiệu mới” Cuộc chiến lui vào dĩ vãng, sau một quãng lùilịch sử, sau một khoảng cách thời gian, chất sử thi “nhạt dần” Văn xuôi sau
1975 đã chuyển dần từ t duy sử thi sang t duy tiểu thuyết Cảm hứng sáng tạochuyển từ ngợi ca, tự hào, khâm phục đến chiêm nghiệm, lắng đọng, suy t.Thay vì cách nhìn đơn giản, rạch ròi thiện ác, bạn thù, cao cả, thấp hèn là cách
Trang 25nhìn đa chiều, phức hợp về hiện thực và số phận con ngời Đề tài chiến tranh
và cách mạng, lịch sử và dân tộc dần dần nhờng chỗ cho đề tài thế sự và đời t
Nếu nh ở giai đoạn văn học trớc 1975, đề tài đời t, đời thờng, thế sự đạo
đức, số phận cá nhân giữ một vị trí thứ yếu, thậm chí bị xem thờng thì đến vănhọc sau 1975 nó lại trở thành đề tài quan trọng, đợc mọi ngời chú ý Sau 1975,hiện thực đời sống thay đổi khác trớc rất nhiều, đòi hỏi các nhà văn cần phải
có cách tiếp cận phù hợp Văn học lúc này không chỉ chú trọng vào hai đề tài
Tổ quốc và xã hội chủ nghĩa nh trớc Một mảng hiện thực lớn trớc đây hầu nh
bị bỏ quên, nay đợc đặc biệt chú ý Đó là vấn đề đời t, đời thờng và thế sự đạo
đức Mọi vấn đề của cuộc sống hay nói cách khác, tất cả những gì liên quan
đến con ngời đều đợc các nhà văn quan tâm và đa vào văn học kể cả nhữngvấn đề nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống của con ngời
Tập truyện ngắn đợc giải ánh trăng năm 1991 của báo Văn nghệ gồm mời hai truyện thì chỉ có Ngời vãi linh hồn (Vũ Bão) viết về ngời lính chiến
tranh, còn lại 11 truyện ngắn đề cập đến đời t, đời thờng, thế sự đạo đức
Tuyển tập truyện ngắn Bốn cây bút nữ (Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Lý
Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ) gồm 39 truyện mà chỉ có 3 truyện viết về chiến
tranh và ngời lính: Ngời còn sót lại ở rừng cời, Biển cứu rỗi (Võ Thị Hảo);
Bảy ngày trong đời (Nguyễn Thị Thu Huệ) Truyện ngắn trên báo Văn nghệ
(tuyển 1987-1975) có 21 truyện thì chỉ có 1 truyện Ngời cha có chiến công
(Vũ Bão) viết về ngời lính cách mạng, còn 20 truyện viết về con ngời đời
th-ờng: ngời tàn tật hát rong (Ngời đàn ông duy nhất) , về ngời thân trong gia
đình (Nỗi buồn của ông), về ngời phụ nữ đời thờng (giai nhân, Ngời đàn bà
họ Hoàng, ngời đàn bà trên sân ga, Thợ nhuộm tóc ) Có thể nói muôn mặt
cuộc sống đều có những trang truyện ngắn của các nhà văn nh Nguyễn MinhChâu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Thiều, Xuân Thiều,Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài,Nguyễn Minh Dậu
Nói tóm lại, đề tài đạo đức thế sự, đời thờng đến văn xuôi sau 1975 đợccác nhà văn đặc biệt chú ý và khai thác một cách triệt để Do vậy, số lợng tácphẩm viết về đề tài này rất lớn, gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà văn Chínhmảng đề tài này đã bổ sung vào những gì còn thiếu trong văn học giai đoạn tr-
ớc và thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc của các cây bút truyện ngắn hôm nay
2.2.2 Vấn đề đạo đức thế sự, đời thờng trong một số
Trang 26truyện ngắn tiêu biểu sau 1975
Hiện thực cuộc sống với mọi biểu hiện phức tạp và sinh động là nguồnnuôi dỡng vô tận trong sáng tác văn học, trong đó, con ngời luôn là đối tợngmiêu tả và thể hiện Hiện thực luôn phát triển, biến động và con ngời cũngluôn biến đổi - chính điều này tạo nên chân dung và đặc điểm của mỗi thời
đại Và mỗi thời đại văn học, do nhiều yếu tố chính trị – xã hội và do cả tầmvóc nhận thức của nó, cũng đa ra một cách quan niệm, một kiểu t duy nghệthuật về hiện thực và con ngời nhằm chiếm lĩnh thực tại một cách có hiệu quả
Văn học 1945-1975 ra đời trong hoàn cảnh đất nớc có chiến tranh Vănhọc lúc này phục vụ đắc lực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủnghĩa xã hội Vì thế nó thờng phản ánh những sự kiện mang ý nghĩa lịch sử.Văn học phải quan tâm đến những vấn đề thời đại, của dân tộc Cho nên vấn
đề trung tâm, cốt lõi mà văn học lúc này phản ánh là vấn đề sống còn của cảdân tộc Chính vì vậy, đề tài đời t, đời thờng, thế sự đạo đức, số phận cá nhângiữ một vị trí thứ yếu Lúc này, tất cả đều hớng về tiền tuyến với quyết tâmchiến thắng Những gì liên quan đến tập thể, cộng đồng đều đợc đề cao, đợcbiểu dơng Số phận của từng con ngời cụ thể, vấn đề cá nhân lúc này bị xemnhẹ, thậm chí cảm thấy tầm thờng
Từ sau 1975, lịch sử nớc nhà đã sang trang mới, cảm hứng sử thi vàlãng mạn trong văn học 1945-1975 giờ đây không còn là khuynh hớng chủ
đạo và gần nh là duy nhất nữa Lúc này, trớc yêu cầu bức thiết của lịch sử, củabạn đọc, văn học phải có sự cách tân, đổi mới cho phù hợp
Văn học Việt Nam trớc 1975 là văn học đặt trên niềm tin rất vững chắc
và đúng đắn: tin vào con đờng đang đi, tin vào cái đích cuối cùng sẽ đến Khicuộc sống thay đổi, những “cái lới” trong sinh hoạt thờng ngày xuất hiện,hàng loạt câu hỏi về thế sự đợc đặt ra và mỗi câu trả lời lại làm nẩy sinh câuhỏi mới Thái độ tin tởng, khẳng định một chiều không còn phù hợp nữa Dovậy, văn học sau 1975 có rất nhiều giọng điệu riêng, các vấn đề trớc đây bịxem nhẹ thì bây giờ lại đợc quan tâm và phản ánh một cách triệt để Dờng nhkhông còn những vùng cấm kỵ với văn học và dờng nh những đề tài mà nhàvăn một thời phải né tránh, nay xem ra lại càng có sức thu hút mạnh mẽ ngòibút của họ Vì thế, văn học sau 1975 đã có nhiều cái mới
Quan niệm nghệ thuật về con ngời là yếu tố chi phối các yếu tố khácnhau của nghệ thuật biểu hiện Mỗi giai đoạn lịch sử, văn học gắn với quan