Đi vào vấn đề này ngời đọc không chỉ hiểu sâu hơn về cadao mà còn là bớc khám phá thú vị về ngôn ngữ giới tính trong xã hội xa và nay.Là sinh viên khoa Ngữ Văn, yêu thích văn học dân gia
Trang 1Mục Lục
Trang Lời nói đầu ………2
Mở đầu 1 Lý do chọn đề tài……… 3
2 Mục đích nghiên cứu……… …… .3
3 Lịch sử vấn đề ……… …… .4
4 Nhiệm vụ của khoá luận ……….5
5 Phơng pháp nghiên cứu và su tầm ……… 5
6 Cấu trúc của khoá luận ……… …… .6
Chơng I : Những giới thuyết liên quan đến đề tài……….7
I Giới thiệu về giới tính ……… 7
II Ca dao và sự thể hiện ngôn ngữ giới tính trong ca dao ………10
1 Đặc điểm ca dao ……… 10
2 Giới tính thể hiện trong ca dao ……….11
Chơng II : Những từ ngữ hình ảnh chỉ giới tính trong ca dao ………15
I Những từ ngữ chỉ giới tính trong ca dao ……… 15
II Những hình ảnh đợc sử dụng để so sánh, ví von về giới tính trong ca dao……… ……… 18
1 Hình ảnh đợc sử dụng so sánh ……… 18
2 Cách so sánh, ví von ……….22
III Cách phân loại nghĩa chỉ giới tính trong ca dao ……… …… 23
1 Về hình thức ……… … 24
2 Về hành động ……… 28
3 Về tính chất ……… 32
4 Về quan hệ ……… 40
Kết luận… ……… ……… .45
* Tài liệu tham khảo ……… 46
Lời Nói Đầu
Trang 2Những từ ngữ biểu thị quan niệm giới tính trong ca dao trữ tình Việt Nam là mộthớng đi vô cùng mới mẻ Đi vào vấn đề này ngời đọc không chỉ hiểu sâu hơn về cadao mà còn là bớc khám phá thú vị về ngôn ngữ giới tính trong xã hội xa và nay.
Là sinh viên khoa Ngữ Văn, yêu thích văn học dân gian, đặc biệt là ca dao trữ tình,chúng tôi mạnh dạn đề cập đến vấn đề này Đợc sự hớng dẫn tận tình chu đáo củaPGS TS Phan Mậu Cảnh, sự giúp đỡ, động viên chân thành của các thầy cô giáo trong
tổ ngôn ngữ nói riêng và khoa Ngữ Văn trờng Đại Học Vinh nói chung, cùng sự cổ vũ,khích lệ nhiệt tình của các bạn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song đây là một đề tài mới và do trình độ có hạncủa bản thân nên bản khoá luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận
đợc sự góp ý, bổ sung chân thành của các thầy cô giáo cũng nh của tất cả các bạn đã và
đang quan tâm đến vấn đề này
ơng lai, là lời phản kháng thế lực, là tình yêu nam nữ , tình yêu quê hơng, đất nớc
Trang 3Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện hữu và nuôi dỡng mọi thế hệ con ngờitrên đất nớc Việt Nam thân yêu
Do vị trí đặc biệt quan trọng của ca dao trong kho tàng Văn học dân gian cũng
nh trong lòng độc giã thởng thức, cho nên, việc tìm hiểu ca dao ở bất kỳ phơng diệnnào cũng đợc xem là một bớc khám phá rất có ý nghĩa Đã có nhiều công trình nghiêncứu về ca dao từ nhiều góc độ Trong hàng loạt bài tìm hiểu về ca dao thì “Những từngữ biểu hiện quan niệm giới tính” đang đợc xem là một hớng đi mới mẻ cần đợc khaithác Đây là lý do đầu tiên đễ chúng tôi đi vào tìm hiểu ca dao
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở thống kê, khảo sát cuốn “Ca dao trữ tình Việt Nam” trên 500 trang
do Vũ Dung chủ biên, chúng tôi tìm ra những câu biểu hiện quan niệm về giới tính và
đi sâu vào phân loại nghĩa của chúng Từ đó khoá luận đa ra những nhận xét, đánh giá,phẩm bình về ngôn ngữ chỉ giới tính trong ca dao, và qua đó góp phần tìm hiểu cáchthức biểu thị tâm hồn, tình cảm, t tởng, quan niệm của dân gian qua ngôn ngữ ca daoViệt Nam
Trang 4Một số công trình khác cũng đề cập đến giới tính hoặc liên quan đến giới tính
nh : “Phong cách giáo tiếp của ngời lớn với trẻ em , giới , giai tầng xã hội và vùng địalý” của Lơng Văn Hy (1996) “Ngôn ngữ giao tiếp trong các cuộc nói chuyện giữa bathế hệ Ông bà - Cha mẹ – Con cháu tại một số gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh”của Nguyễn Thị Thanh Bình (1998)
Bùi Minh Yến 1996 , Lơng 1990 , ThomSơn 1965 và một số tác giả khác cũng
4 Nhiệm vụ của khoá luận:
Để đạt đợc mục đích trên , nội dung nghiên cứu của đề tài này tập trung giảiquyết một số vấn đề sau :
- Khảo sát thống kê những câu ca dao biểu hiện quan niệm về giới tính
- Phân loại nghĩa các câu theo góc nhìn ngôn ngữ
- Đa ra đánh giá về quan niệm đó trong hoàn cảnh xã hội và thực tiển sử dụngngôn ngữ
5 Ph ơng pháp nghiên cứu và s u tầm :
5.1 Ph ơng pháp nghiên cứu :
Với nhiệm vụ mà khoá luận này đã đặt ra , chúng tôi phải dùng nhiều phơngpháp khác nữa mang tính kết hợp hoặc độc lập theo nội dung và công đoạn nghiêncứu
- Phơng pháp khảo sát thống kê phân loại
- Phơng pháp phân tích tổng hợp
Trang 5Trong quá trình khám phá , tìm hiểu những câu ca dao biểu hiện quan niệmgiới tính , chúng tôi dùng phơng pháp phân tích các dẫn chứng để làm sáng rõ các luận
điểm đã nêu , từ đó đa ra kết luận nhất định
- Phơng pháp so sánh , đối chiếu Song song với việc phân tích ngôn ngữgiới tính nữ , chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu với ngôn ngữ giới tính nam Hoặc
so sánh ngôn ngữ của một giới trong các giai đoạn khác nhau
5.2 Ph ơng pháp s u tầm t liệu:
Cuốn sátr : “ Ca dao trữ tình Việt Nam” hơn 500 trang do Vũ Dung chủ biên(NXBGD - 1998) chứa hàng nghìn câu ca dao và bao hàm rất nhiều nội dung đa dạng
Để tìm ra quan niệm giới tính của ca dao thể hiện nh thế nào , trớc hết chúng tôi thống
kê tất cả về câu nói về giới tính , thuộc về giới tính Sau đó chúng tôi đi vào chọn lọc ,tuyển lựa những câu tiêu biểu nhất, bộc lộ rõ nhất quan điểm giới tính của dân gian
Bên cạnh tài liệu cơ bản này, chúng tôi còn tham khảo thêm một số tài liệukhác nh cuốn “Tục ngữ - Ca dao” của Vũ Ngọc Phan và một số công trình nghiên cứu
về ca dao nói chung Trên cơ sở tài liệu cơ bản , chúng tôi còn tham khảo thêm một sốbậc thầy Văn học dân gian để giúp ích cho đề tài
5.3 Kết quả s u tầm:
Chúng tôi đã su tầm đợc 210 câu ca dao nói về giới tính Trong đó có:
117 câu dành riêng cho giới nữ
64 câu dành riêng cho giới nam
và 39 câu để chỉ chung cho cả hai giới
6 Cấu trúc của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu và kết luận , nội dung chính của khoá luận gồm hai ch
-ơng :
chơng I : Những giới thuyết liên quan đến đề tài
Chơng II : Những từ ngữ , hình ảnh chỉ giới tính trong ca dao
Chơng I: Những giới thuyết liên quan đến đề tài .
I Giới thiệu về khái niệm giới tính:
Lịch sử nhân loại dợc đánh dấu bằng sự xuất hiện của Ađam và Eva Sau khi
tự ý ăn trái cấm thì nhân loại cứ tăng dần Cho đến ngày nay, con cháu của Ađam vàEva vẫn không ngừng phát triển , và đợc gọi là Con Ngời
Trang 6Nhng có một điều đặc biệt là con ngời luôn đứng ở hai thái cực Âm – Dơng
đều đặn Một nữa thế giới này là đàn ông và nữa kia là đàn bà
Thế giới tự nhiên do hai thái cực hiện hữu , khi đi vào thế giới nghệ thuật haithái cực này giờng nh vẫn song song tồn tại với nhau , và con ngời không chỉ có sự phânbiệt thái cực mà kéo theo đó là những sự phân biệt khác tuỳ vào mỗi thời đại , mỗi lĩnhvực mà ngời ta có những suy nghĩ, những đánh giá, những hình ảnh, hình tợng Haynói cách khác là ngời ta có những khái niệm khác nhau về giới tính
Đối với xã hội phơng Đông thời phong kiến , ngời ta có những quy định có thểnói là rất hà khắc cho mỗi con ngời Ngời phụ nữ gắn với “Tứ đức tam tòng” còn ngời
đàn ông gắn với “Tam cơng ngũ thờng” Đó là tiêu chí bất di bất dịch cho tất cả mọicon ngời trong xã hội Trung đại Sự khác biệt giới tính đợc thể hiện rất nhiều lĩnh vực Trớc hết đó là việc đặt tên cho mỗi giới Việc đặt tên cho hai giới không chỉ có ý nghĩaphân biệt giới tính mà một phần nào đó nói lên trách nhiệm mà mỗi giới phải hoànthành
Nam đợc gắn với “Văn” có nghĩa là khát vọng ngời đàn ông thành đạt trên con
đờng nghiên bút Trách nhiệm của ngời đàn ông thời bấy giờ đợc đánh giá bằng kếtquả khoa cử , quan trờng
Nữ đợc gắn với “Thị” ấy là mong ớc có nhiều con Thời phong kiến ngời phụnữ mẫu mực là ngời phụ nữ sinh đợc nhiều con , đặc biệt là con trai nối dõi tông đờng
Xã hội phong kiến đơng thời chấp nhận một thực tế:
“Trai năm thê bảy thiếpGái chính chuyên thủ tiết chờ chồng”
Mãi sau này, đến thời “Nguyễn Đình Chiễu “ vẫn còn quan niệm :
“Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”
Vào lúc này ngời ta xem giới tính là một vấn đề trọng đại , mỗi giới gắn vớimột chuẩn mực , và nhất thiết hai giới phải :
“Nam nữ thọ thọ bất tơng thân”
Cho nên Lục Vân Tiên mới nói với Kiều Nguyệt Nga rằng:
“Khoan khoan ngồi đó chớ ra Nàng là phận gái, ta là phận trai”
Cách ứng xử này nếu đặt trong thời đại này đã có sự thay đổi Nhng đó lại làchuẩn mực thời bấy giờ Cũng chính vì thế mà ngời ta xem hành động “Xăm xămbóng tối vờn khuya một mình” Của nàng Kiều là “Tắc dâm” :
Trang 7“Nam đáo nữ phòng nam tắc loạnNữ đáo nam phòng nữ tắc dâm”.
Đến thời hiện đại thì quan niệm về giới tính có phần phóng khoáng hơn , đó là
“Nam nữ bình quyền” Giờng nh lúc này mọi quy định thời phong kiến đã trở nên lỗithời Lúc này tiêu chí về mỗi giới là “Chấp chính tòng quyền” ( Chấp hành quy địnhnhng có những thay đổi tuỳ vào hoàn cảnh, đối tợng - Khổng Tử )
Nh vậy, giới tính là một vấn đề liên quan nhiều mặt trong xã hội loài ngời , và
Quan niệm của mọi ngời về mỗi giới cũng khác nhau Những quan niệm ấy có
từ lâu đời , chúng kết thành những “Định kiến” Và điều đó cũng thể hiện rất rõ quangôn từ ( vốn từ vựng ) chẳng hạn :
- Phái mạnh, mạnh mẽ, táo tợn, táo bạo thờng dùng để chỉ nam giới
- Phái yếu, yểu điệu, thớt tha, đanh đá thờng dùng để chỉ nữ giới
Rồi cách dùng ngôn ngữ ( Trong nói năng hàng ngày ) cũng thể hiện rất rõ giớitính Nữ có thiên hớng ăn nói nhẹ nhàng , tử tế , ít khi dùng những từ ngữ thô tục cáchnói bổ bã, sổ sàng, còn nam có xu hớng ăn nói mạnh mẽ , lời nói thờng bổ bã , thẳngthắn
Ta nghe một cuộc đối thoại sau đây:
Chồng : Em chuẩn bị mai về quê!
Trang 8Cần nói ngay rằng : Ca dao là ghi lại , là phản ánh tình cảm , tâm hồn của conngời , nên phần lớn ca dao là sự thể hiện cách thức quan niệm về giới tính chứ nókhông trực tiếp bộc lộ ngôn ngữ giới tính :
- Nam nói nh thế nào ?
- Nữ nói ra sao ?
II Ca dao và sự thể hiện ngôn ngữ giới tính trong ca dao
Nhìn cách tổng quát , đại đa số ca dao đợc sáng tác theo thể lục bát Thể loạinày có nhịp điệu rất uyển chuyển , linh hoạt Ngoài ra, với sự không gò bó, không hạnchế về độ dài ngắn của tác phẩm, khả năng ghép vô hạn các cặp lục bát vần chân ,khiến cho thể thơ này nhanh chóng thành thể thơ tiện dụng , có sở trờng trong việcdiễn đạt cảm xúc , các nội dung phong phú, đa dạng của hiện thực đời sống
Khuôn hình cơ bản của một câu lục bát là trên 6 dới 8:
“Vầng trăng ai xé làm đôi
Đờng trần ai vẽ ngợc xuôi hỡi chàng?
Đa nhau một bớc lên đàng
Cỏ xanh hai dãy, mấy hàng châu sa”
Tuy nhiên, trong thực tế các dòng lục bát có thể co giãn tuỳ vào yêu cầu biểuhiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm :
- Trờng hợp giảm dòng lục:
“Nón hạ quai thao tơ
Lấy ai thì lấy, Kẻ Mơ xin đừng”
ở đây dòng lục chỉ có 5 tiếng, còn dòng bát đủ 8 tiếng
- Trờng hợp giảm cả dòng lục cả dòng bát:
“Gần sông quen với cá
Gần rừng không lạ với chim” Cặp lục bát này, dòng lục chỉ có 5, dòng bát cũng chỉ có 6
- Trờng hợp tăng dòng bát:
“Râu răm ngắt đọt khó trồng Cho em say mê đi nữa cũng là chồng ngời ta”
Trang 9Qua đó cũng thấy rằng , dù là lục bát chính thể hay lục bát biến thể đi chăngnữa thì đó vẫn là những bài tình tứ , là khuôn thớc cho lối thơ tình của ta
Trong ca dao , tình yêu của ngời lao dộng biểu hiện rất phong phú Đó có thể làtình yêu đôi bên trai gái , là tình yêu gia đình , cũng có thể là tình yêu lao động , yêuquê hơng , yêu thiên nhiên hay yêu hoà bình Không những thế , ca dao còn là nơibiểu hiện t tởng đấu tranh của nhân dân lao động đối với thiên nhiên hà khắc, với chế
độ xã hội bất công ngang trái
Nh vậy, ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của con ngời, cadao còn phản ánh ý thức lao động sản xuất của Nhân dân và tình hình của xã hội
Đồng thời ca dao cũng chính là món ăn tinh thần của nhân dân lao động
2 Giới tính thể hiện trong ca dao
Trong văn học dân gian nói chung và trong ca dao nói riêng thì ngoài mộtmảng đề tài trung hoà , ca dao còn có một số lợng lớn dành riêng để bàn về hai giới.2.1 Đối với phụ nữ :
Một nửa thế giới này là phụ nữ Phụ nữ đợc mệnh danh là phái đẹp Đã cókhông ít những thiên tài sinh ra chỉ cốt để ngợi ca vẻ đẹp của phụ nữ Có một nhà nổi
tiếng nào đó đã nói rằng : “Chỉ nguyên phụ nữ thôi cũng đủ dễ chịu lắm rồi! ” Bởi phụ
nữ nh thanh nam châm khác cực với nam giới Họ cuốn hút ngời khác không chỉ ở thânhình nõn nà , yểu điệu thớt tha, mà những việc họ làm , ngôn ngữ họ nói cũng rất duyêndáng , dễ thơng Trở thành một phần tất yếu của cuộc sống , một “bộ phận” không thểthiếu đợc đối với thế giới đàn ông
Thực tế trong lịch sử loài ngời cũng đã từng có một thời kỳ mà ngôi thứ ngời
phụ nữ đợc đặt lên hạng nhất Song cái thời “Mẫu hệ” đó chỉ rất ngắn ngủi thôi ! Còn
cơ bản cả quá trình lịch sử , ngời phụ nữ luôn phải chịu thân phận thiệt thòi Từ đó màvô hình chung đã hình thành trong họ tính cách rụt rè , ngôn ngữ nhẹ nhàng , lịch sự :
“Chàng ơi! phụ thiếp làm chi Thiếp nh cơm nguội đỡ khi đói lòng”
Hoặc :
“Chàng ơi! Thơng thiếp mồ côi
Nh bèo cạn nớc biết trôi đằng nào”
Và:
“Xin chàng đọc sách ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót , đèn mờ thiếp khêu” Theo Lakoff , ở nữ giới do vị thế và quyền lực hoặc đợc coi trọng , hoặc yếu hơnnam , cho nên phụ nữ thờng hay nói vòng vo, uyển chuyển
Khi nói với ngời yêu hãy chung thuỷ :
Trang 10“Con dao cái kéo ai cầm
Em xin cắt nốt một vòng chàng ra Những lời chàng nói với taNgọt ngào đầu lỡi cùng ta thì bồi Cho nên thiếp chẳng nghe ai,
Để không mang tiếng, mang tai với chàng
Bây giờ nhìn mặt sao đang?
Hoặc : “ Thân em nh cái cọc rào
Mọt thời anh đổi , cớ sao anh phiền”
Và : “ Trời cao chi lắm hỡi trời
Cho thiếp chẳng đợc tới nơi cùng chàng”
Bởi trong giao tiếp , họ luôn nhận về mình những phần xấu nhất Thậm chíkhi họ đẹp nh “Tấm lụa đào”, thơm nh “Lọn hơng trầm”, trong sáng nh “Hạt ma sa” Họ vẫn than vãn về một lẽ gì đó :
“Thân em nh tấm lụa đào,Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai? ”
“Thân em nh lọn hơng trầm Không cha, không mẹ, muôn phần cậy anh”
Rồi :
“Thân em nh hạt ma saHạt vào đài các, hạt sa ruộng cày”
Trang 11Với tính cách đó , tác giả dân gian đã diễn tả rất tài tình tâm trạng của phụ nữlúc xuân thời Bằng thứ ngôn ngữ đặc thù của giới nữ , phụ nữ đã đi vào ca dao nh nhcon sông mợt mà xuôi về biển cả
2.2 Đối với đàn ông:
Đây là phần còn lại của thế giới Trong thực tế đời sống , đàn ông là trụ cộtcủa gia đình Là ngời đứng mũi chịu sào trong các hoạt động sôi nỗi khác Thờiphong kiến , ngời đàn ông rất đợc coi trọng Họ đợc học hành tử tế , vật chất đầy đủ
và đề huề vợ con Đến thời hiện đại , ngời đàn ông vẫn hiện diện với một dáng vẻkhoẻ mạnh , cứng cỏi , có ý chí
Ca dao đã dành cho nam giới một thứ ngôn ngữ mạnh mẽ , dứt khoát :
- “Thơng em cau tới , trầu đa Trăm năm mà nỡ bông đùa thế sao? ”
- “Thơng em không lấy đợc em
Anh về ở vậy chẳng thèm lấy ai ! ”.
Với nữ giới , họ thờng vòng vo , lắt léo còn nam giới khi nói về vấn đề gì làbộc lộ một cách thẳng thắn , trực tiếp :
“Chẳng tham nhà ngói rung rinh,Tham vì một nỗi em xinh miệng cời
Miệng cời em đáng mấy mơi, Chân đi đáng nén , miệng cời đáng trăm” Hoặc :
“Dẫu răng da trắng tóc mây,
Đẹp thì đẹp vậy dạ này không a
Vợ ta dù có quê mùa Thì ta cũng cứ sớm tra vui cùng” Đặt trong tơng quan với phụ nữ , ca dao vẫn dùng một thứ ngôn ngữ phóngkhoáng Khác hẳn với phụ nữ :
- “Đàn ông tính khí hoang toàng Đàn bà con gái giữ dàng nết na”
- “Em nh ngọn cỏ phất phơ
Anh nh con nghé đứng ngơ ngơ giữa đồng”
Qua đó ta thấy , không chỉ trong thế giới tự nhiên mà trong ca dao cũng cónhững biểu hiện khác biệt với nữ giới Ngôn ngữ ca dao có sự thay đổi để phù hợp vớimỗi giới
Trang 12Chơng II : Những từ ngữ, hình ảnh chỉ giới tính
trong ca dao .
I Những từ ngữ chỉ giới tính trong ca dao:
Khi nói về giới tính nữ, ca dao thờng dùng những từ nh “Thân em”, “Thângái”, “Em là”, “Thiếp”
+ Về từ “Thân em” chúng tôi thống kê đợc khoảng 30 từ:
“Thân em lấy lẽ chẳng hề”
“Thân em nh lọn hơng trầm”
“Thân em nh thể cành bèo”
Bên cạnh từ “Thân em” , từ “Thân gái” cũng đợc dùng khá phổ biến :
- “Thân gái bến nớc mời hai”
- “Làm thân con gái loã lồ ai khen”
- “Làm thân con gái phải nghe lời chồng”
Đọc những từ “Thân em”, từ “Thân gái” nghe có vẻ gì đó cực nhọc, nặng nề
ở đó nh ẩn chứa bao nỗi niềm xót xa cho thân phận ngời phụ nữ :
“Thân em nh quả xoài trên cây,Gió Đông, gió Nam , gió Tây, gió Bắc
Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành,Một mai rụng xuống biết vào tay ai? ” Hình ảnh quả xoài treo lơ lững trên cành , bị gió tứ phơng ập đến Thật khốn
khổ thay cho nó ! Phải đâu vững bền gì , nó chỉ là một quả xoài mong manh , yếu đuối
nên không thể chống chọi đợc , phải “lúc la lúc lắc” ở trên cành Một tấm thân nh thểhiện có đáng thơng hay không?
“Thân phận”, “Thân gái” vừa chứa đựng những nỗi nhọc nhằn , vất vả , lại vừa
nh chỉ một số phận nhỏ nhoi , tủi cực trăm bề
Trang 13+\ Về từ “Em là”, “Em”, “Em nh” Là những những từ ngữ xuất hiện với tần sốrất lớn Có trên 100 lần dùng đến loại từ này Bởi đây là loại từ mang mang rất nhiềunghĩa Vốn nó là từ trung tính , đợc dùng để chỉ ngời con gái , song khi đi vào ca dao,dân gian đã khoác cho nó những sắc vị riêng rất thú vị
Đó có thể là từ do ngời con gái tự xng với chàng trai, với ngời khác:
- “ Em thấy anh nh thấy mặt trời Chói chang khó ngó, trao lời khó trao”
- “Em nh tố nữ trong tranh Anh nh thuyền ván lên ghềnh đợc chăng”
Với số lợng lớn nh thế , chứng tỏ dân gian rất a dùng những từ này Điều đócũng có nghĩa là mọi ngời coi con gái bao giờ cũng bé nhỏ hơn , đồng thời ngời congái cần ý thức đợc thân phận mình luôn là “Em” trong mắt mọi ngời
+\ Về từ “Thiếp” : Cũng nh từ “Em”, từ “Thiếp” trớc đây vốn là một từ trungtính , đợc dùng song song với từ chàng , song nó đảm nhiệm vai trò của từ “Thiếp”trong thân phận làm mọn : “Thê - Thiếp”, nên lâu dần từ “Thiếp” cũng trở nên có hồn, có màu sắc
- “Chàng ơi! Thơng thiếp mồ côi
Nh bèo cạn nớc biết trôi đằng nào”
- “Thiếp than cha mẹ thiếp nghèo, Thiếp than phận thiếp nh bèo trôi sông”
Thì từ “Thiếp” đã mang một tâm trạng tủi cực, đắng cay thay cho cô gái
Đằng sau từ “Em”, từ “Thân em” là sự góp mặt của từ “Thiếp” Từ “Thiếp”xuất hiện với số lợng khoảng gần 30 lần
Nh vậy, trong ca dao nói về giới tính nữ thì dân gian ta dùng từ ngữ rất phongphú , đa dạng Mặc dù lúc thì đợc dùng với từ này, lúc thì đợc dùng với từ khác songhầu hết các từ đều nh nhuốm một quan niệm của dân gian về một giới tính mongmanh , yếu đuối , lúc nào cũng cần tình thơng và mái ấm
Trang 14- “Thân anh khó nhọc trăm phần” Điều này vừa nói lên ngời đàn ông trong xã hội ít chịu khổ tâm , lại có ý phản
ánh rằng ngời đàn ông ít than vãn hơn phụ nữ
Nếu nh với ngời phụ nữ , ca dao hay dùng từ “Em”, từ “Nàng” thì với ngời đàn
ông ca dao lại hay dùng từ “Anh” và “Chàng”
Từ “Chàng” trong ca dao mang ý nghĩa rất hào hoa phong nhã , bao chứa mộtcái phong thái nho nhã, đủ đầy :
- “Chàng ơi ! Trẩy sớm hay tra
Để em gánh gạo tiễn đa hành trình”
- “Chàng về thiếp nắm lấy tay Mua chăn chàng đắp , áo may cho chàng”
Với cách xng gọi của ngời con gái đối với chàng trai này , từ “Chàng” khôngchỉ đơn thuần là từ chỉ giới tính , mà đó còn là một từ mang hàm ý gửi gắm tâm t , tìnhcảm , nỗi niềm và thân phận của ngời phụ nữ đối với chàng
Bên cạnh từ “Chàng” thì từ “Anh” đợc dùng nhiều hơn , phổ biến hơn Xuấthiện trên 100 lần , gấp 3 so với từ “Chàng”, từ “Anh” Đợc dùng trong nhiều lĩnh vực Đó có thể là “Anh” do ngời con gái gọi ngời con trai :
- “Anh về thăm quán thăm quê Thăm cha thăm mẹ hay là thăm ai ? ”
- “Anh về mai sớm mà lên Đừng vui bên nọ mà quên bên này”
Từ “Anh” có lại là từ do ngời con trai tự xng mình với ngời con gái:
- “Anh về rồi anh lại lên
Tỉnh Bắc giá thóc mời hai, Tỉnh Đông mời tám , tỉnh Đoài hai mơi”
Nếu nh cách dùng từ cho nữ giới chỉ về thân phận “làm em”, thì cách dùng từcho nam giới ở đây ta cũng ngầm hiểu , ấy là một giới cao hơn giới nữ một bậc Xã hội
Trang 15đã ban tặng cho nam giới quyền lực, uy thế qua cách xng gọi hàng ngày Qua đó cũngcần phải hiểu đợc trách nhiệm và vị trí của mình đối với nữ giới , đối với xã hội
II Những hình ảnh đ ợc sử dụng để so sánh, ví von ứng với mỗi giới
trong ca dao
1 Những hình ảnh đ ợc sử dụng để so sánh ví von
1.1 Đối vớivữ giới.
Nh ta đã nói ở trên , ca dao là thể loại có số lợng lớn mà tác giả sáng tác cũngphong phú , đa dạng Họ có thể sáng tác khi kéo gỗ , khi đi rẫy, lúc lên n ơng, khi lênnon , lúc xuống biển , khi đi hội, đi hè…Cho nên , họ có thể lấy cảm hứng từ rất nhiềuhình ảnh trong thực tế , thậm chí trong tởng tợng nữa
ở thơ ca dân gian UCRAINA , ngời ta lấy biểu tợng là hoa hồng ở Nga lấybiểu tợng từ cây thuỳ dơng Còn ở Việt Nam , hình ảnh con cò đi vào ca dao rất phổbiến :
- “Con cò bay lả bay la
Bay từ cửa phủ , bay ra cánh đồng”
- “Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao” Tuy nhiên , hình ảnh con cò không phải là độc tôn , mà trong ca dao Việt Namhình ảnh đợc sử dụng rất phong phú đa dạng :
+\ Nó có thể là những hình ảnh rất đời thờng , gần gũi , thân thuộc với cuộcsống xung quanh chúng ta :
- “ Thân em nh hạt ma sa Hạt rơi xuống giếng, hạt ra ngoài đồng”
- “ Thân em nh giếng giữa đàng
Ngời thanh rửa mặt , ngời phàm rửa chân”
- “ Bây giờ em đã có chồng
Nh chim vào lồng , nh cá cắn câu”
Những hình ảnh nh “Hạt ma sa”, “Giếng giữa đàng”, “ Chim vào lồng”, “Cácắn câu”…Thì chắc hẳn trong chúng ta ai ai cũng biết đến Ca dao dùng những hình
ảnh này để ví von với ngời con gái thì ngời thởng thức sẽ rất dễ hiểu, và do đó hiệuquả sẽ rất lớn
+\ Cũng có thể ca dao dùng những hình ảnh rất chải chuốt , mĩ miều , giàu chấtthơ để so sánh ví von :
- “Thân em nh tấm lụa điều
Trang 16Đã đông nơi chuộng, lại nhiều nơi thơng”
- “ Ước gì sông hẹp một gang Bắc cầu giải yếm, mời chàng sang chơi”
- “ Thân em nh thể trăng rằm Mây đen có phủ muôn lần giá gơng”
Còn gì đẹp hơn “ Một tấm lụa điều” ? ở Phơng Tây, ngời ta nói “Vẻ đẹp của
ng-ời thiếu nữ không nằm trên đôi má hồng mà nằm trong mắt kẻ si tình” Thế nhng ở đây,
“Thân em” không chỉ “Nh tấm lụa điều” trong mắt một kẻ si tình mà trong hết thảy
“Thân em” đều rất đẹp Có nh vậy thì mới đợc “đông nơi chuộng” và lại có “nhiều nơithơng” Dùng hình ảnh “Tấm lụa điều” để so sánh với ngời con gái chứng tỏ đó là một
vẻ đẹp tinh khôn , trong ngần , óng ánh Không những thế, vẻ đẹp của nàng còn đợc vívới “Trăng rằm” sáng lung linh huyền diệu , bất chấp những gì ngăn trở Cho dù đó là
“mây đen” đi chăng nữa thì em vẫn đẹp và sáng nh gơng
+\ Đó còn là hình ảnh rất đỗi tình tứ , yêu kiều của những cô yếm thắm bên sông.Nếu nh chàng trai mời cô gái bằng một “Cành hồng” :
“Cô kia cắt cỏ bên sông
Có sang anh ngã cành hồng cho sang”
Thì cô gái lại mợn “Dải yếm” để bắc cầu Thật là lãng mạn, nên thơ và rấttình
+\ Bên cạnh đó , ca dao còn dùng những hình ảnh phi thực tế , nhằm làm cho nộidung bài ca dao trở nên dí dỏm , đáng yêu :
“Bao giờ chạch đẻ ngọn đa Sao đẻ dới nớc thì ta lấy mình” Hay : “Chừng nào muối ngọt chanh thanh
Em đây mới dám bỏ anh đi lấy chồng”
Nghe những câu ca dao nh thế này ta nh bắt gặp những con ngời vui nhộn, lạcquan , yêu đời Tâm hồn ta nh đợc gột bỏ những u phiền , cằn cội Bởi những câu cadao này toát lên một phong thái rất dân giã Họ đặt ra những điều kiện không thể cótrong thực tế để chối bỏ Thử hỏi đến bao giờ thì “Chạch đẻ ngọn đa”? Bao giờ thì “Sáo
đẻ dới nớc”? Bao giờ thì “Muối ngọt” và “Chanh thanh” để họ thực hiện ?
Từ những hình ảnh nh vậy ta thấy dân gian ta rất tài tình Dùng những hình
ảnh trần trụi mà vẫn không thô tục , dùng những hình ảnh chải chuốt mĩ miều mà vẫnkhông quá cờng điệu , dùng những hình ảnh phi thực tế mà vẫn rất dễ hiểu, rất dângiã… Thế mới biết dân gian ta thời bây giờ ăn nói có duyên và điêu luyện đến mứcnào
1.2 Đối với đàn ông
Trang 17Tuỳ thuộc vào việc ví với ngời con trai hay ngời con gái mà hình ảnh ấy thay
đổi để ứng với tính chất của từng ngời
Nếu nh với ngời con gái nõn nà , yếu điệu thì không có hình ảnh nào xứng
đáng hơn là hình ảnh “Tấm lụa đào”, “Lọn hơng trầm” hay hình ảnh “Đoá hoa sen”…Thì đối với ngời đàn ông ca dao cũng không ngần ngại khi dành cho họ những hình
ảnh đẹp :
- “Anh nh tàn tía tàn vàng
Em nh manh chiếu nhà hàng bỏ quên”
- “Anh nh cánh phợng song loan
Em nh nụ rữa hoa tàn đêm khuya”
Hay : - “Thân anh nh trống nh bng
Vợ anh nh khỉ trong rừng mới ra
Thân anh nh ngọc nh ngà” Khác với phụ nữ , khi nói về đàn ông , ca dao dành cho họ những hình ảnhbóng loáng nh “Tàn tía tàn vàng”, nh “Ngọc nh ngà” Thế nhng có một điều khác biệt lànhững hình ảnh ấy không có đợc một cách hiển nhiên nh nữ giới , mà có đợc khi đứngcảnh nữ giới “Tàn tía tàn vàng” là khi đứng bên cạnh “Mảnh chiếu rách”…
Bên cạnh những hình ảnh lỗng lẫy đó thì cũng có lúc ngời đàn ông trong mắtphụ nữ thật kém cỏi :
“Có chồng mà chẳng có con Khác nào hoa nở trên non một mình”
Và : “Ngời ta vợ trớc con sau Thân anh không vợ nh cau không buồng”
Nh vậy, qua dùng hình ảnh cho từng đối tợng trong ca dao đã phần nào nóilên sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới Giờng nh dân gian ta giành một sự u ái,nâng niu đối với nữ giới hơn là nam giới Bởi trong đời sống thực của ngời phụ nữngày xa , xã hội không cho phép một một sự tự do nào Thế nhng trong ca dao ngờicon gái đợc hiện lên với vẻ đẹp , thanh tao và có phần phóng khoáng :
“ Đàn ông đóng khố đuôi lơn Đàn bà mặc áo hở lờn mới xinh”
Trang 18Điều này cũng chứng tỏ tâm hồn nhạy cảm , tinh tế và khát vọng trỗi dậycủa nhân dân ta về một xã hội thanh bình , yên vui và giàu chất thơ
1.2 Cách thức so sánh
Dân gian ta khi nói về bất cứ việc gì cũng hay so sánh So sánh là để ngờinghe dễ dàng nhận biết đợc vật đang đợc nói đến có giá trị nh thế nào Đồng thời sosánh cũng nhằm làm tăng thêm chất thơ cho lời nói
Trong thực tế , khi nói về một ngời con gái đẹp ta hay nói: “Đẹp nh tiên”, “Hiền
nh bụt”, còn nói vật mềm mại thì “Mềm nh lụa”… Điều đó có nghĩa là cô gái đó rất đẹp, rất hiền , rất đáng yêu Nhng khi nói “Kín nh bng”, “Xấu nh ma”, “Đen nh cột nhàcháy” là tỏ ý chê trách về một sự bất thờng quá mức chịu đựng
Khi đi vào ca dao , dân gian ta cũng dùng cách so sánh này để nói Cũng có sự
so sánh khập khiểng song thờng thì ca dao chỉ a dùng cách so sánh ngang bằng, với cácquan hệ từ: “Nh”, “Nh thể” hoặc so sánh ngầm
- “Nh” là cách nói phổ biến để diễn tả hai vật tơng đơng:
“Thân em nh tấm lụa đào”
A nh B
A nh thể B “Thân em nh tấm lụa đào”