Kể từ khi có danh xưng Hưng Nguyên đến năm 2009, địa giới hànhchính Hưng nguyên đã nhiều lần được điều chỉnh, thay đổi và những thay đổiđịa giới hành chính đó đã có ảnh hưởng không nhỏ đ
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
Trang 2Đại Học Vinh, Thư viện Quân khu IV, phòng văn hóa huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An…đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do năng lực và nguồn tư liệu có hạn nên luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo cùng bạn đọc để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn !
Tác giả Hoàng Thị Thảo
Trang 3MỤC LỤC
Mục Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Về mặt khoa học 1
1.2 Về mặt thực tiễn 2
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu .4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Nguồn tư liệu 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Bố cục của đề tài .7
NỘI DUNG: Chương I: Khái quát vùng đất Hưng Nguyên trước năm 1469 8
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và xã hội huyện Hưng Nguyên 8
1.1.1 Điều kiện tự nhiện 8
1.1.2 Điều kiện xã hội 13
1.2 Duyên cách địa lý Hưng Nguyên trước năm 1469 18
1.2.1 Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc đến trước khi họ Khúc dựng nền tự chủ (năm 905) 18
1.2.2 Thời kỳ Nhà nước phong kiến độc lập tự chủ (từ năm 905 đến trước năm 1469) 22
Trang 4Chương II: Những thay đổi địa giới hành chính ở Hưng Nguyên từ
nửa sau thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XXI (1469-2009) 28
2.1 Những thay đổi địa giới hành chính ở Hưng Nguyên từ năm 1469 đến năm 1885 28
2.1.1 Thời Lê 28
2.1.2 Thời Tây Sơn 35
2.1.3 Thời Nhà Nguyễn (1802 - 1884) 37
2.2 Những thay đổi địa giới hành chính ở Hưng Nguyên từ năm 1885
đến năm 1945 42
2.2.1 Hưng Nguyên từ năm 1885 đến năm 1918 42
2.2.2 Hưng Nguyên từ năm 1919 đến năm 1945 45
2.3 Những thay đổi địa giới hành chính ở Hưng Nguyên từ năm 1946 đến năm 2009 48
2.3.1 Hưng Nguyên từ năm 1946 đến năm 1975 48
2.3.2 Hưng Nguyên từ năm 1975 đến năm 2009 57
Chương III: Một số tác động của thay đồi địa giới hành chính đến đời sống kinh tế, văn hoá – xã hội ở Hưng nguyên 72
3.1 Mặt tích cực .72
3.1.1 Tác động đến kinh tế 72
3.1.2 Tác động đến văn hoá – giáo dục 78
3.1.3 Tác động đến chính trị - an ninh quốc phòng 83
3.2 Mặt hạn chế 86
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC
Trang 5Vào thời Hùng Vương, Hưng Nguyên là địa bàn cư ngụ của người Việt
Cổ Từ đời Hán, đời Đường rồi đời Lý, đời Trần, vùng đất này có duyên cáchđịa dư khi rộng khi hẹp, với các tên gọi khác nhau như huyện Thượng Lộ đời
Hồ, huyện Lộ Bình đời Minh Đến năm 1469, vua Lê Thánh Tông ra chỉ dụđiều chỉnh lại bản đồ hành chính cả nước và tên huyện Hưng Nguyên ra đời
từ đó
Kể từ khi có danh xưng Hưng Nguyên đến năm 2009, địa giới hànhchính Hưng nguyên đã nhiều lần được điều chỉnh, thay đổi và những thay đổiđịa giới hành chính đó đã có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế, vănhoá, xã hội của cư dân nơi đây Tuy nhiên, cũng như nhiều vùng đất khác trênlãnh thổ nước ta, việc nghiên cứu những biến đổi về tên gọi, địa giới hànhchính ở Hưng Nguyên vẫn chưa được quan tâm đúng mức, còn bị bỏ ngõ.Những thay đổi đó chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, khái quát toàndiện Đây trở thành một trong những vấn đề tương đối mới góp phần bổ sung,hoàn thiện những khoảng trống trong lịch sử Hưng nguyên nói riêng, lịch sửNghệ an nói chung
Đặc biệt, vào năm 2009, Đảng bộ và nhân dân Hưng Nguyên náo nứcchào mừng 540 năm danh xưng Hưng Nguyên Cho nên, vấn đề này càng cầnđược nghiên cứu, tìm hiểu một cách đầy đủ, chi tiết
Trang 6Thông qua việc tìm hiểu những thay đổi địa giới hành chính ở HưngNguyên từ năm 1469 đến năm 2009, đề tài hy vọng sẽ giải quyết được yêucầu bức thiết đó trong nghiên cứu lịch sử Hưng Nguyên và góp phần vào việcnghiên cứu những thay đổi địa giới hành chính trên phạm vi toàn tỉnh NghệAn.
1.2 Về mặt thực tiễn:
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh THPT,sinh viên chuyên ngành lịch sử khi biên soạn bài giảng, làm bài tập lớn, luậnvăn tốt nghiệp Đại học có nội dung liên quan
- Đề tài cũng có thể làm tài liệu tham khảo để biên soạn lịch sử Nghệ
An, lịch sử huyện Hưng Nguyên…
- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi hy vọng một phần nào đó
sẽ giúp các địa phương khác nói chung, huyện Hưng Nguyên nói riêng rút rađược những kinh nghiệm nhất định trong quá trình điều chỉnh, thay đổi địagiới hành chính
Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Những thay đổi
địa giới hành chính ở Hưng Nguyên từ năm 1469 đến năm 2009” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Những năm gần đây, thực hiện chủ trương của BCH TW Đảng và Nghịquyết của BTV Tỉnh ủy Nghệ An, các địa phương trong tỉnh đang tích cựcviết lịch sử Đảng bộ, lịch sử xã, nhưng vấn đề biến đổi địa giới hành chínhcủa các địa phương trong đó có Hưng Nguyên vẫn chưa được quan tâm, chú ýđúng mức
Và cho đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên sâu nào nghiên cứu
đề tài: “Những thay đổi địa giới hành chính ở Hưng Nguyên từ năm 1469
Trang 7đến năm 2009” một cách đầy đủ, có hệ thống Tuy nhiên, trong thời gian qua,
một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến một số khía cạnh của vấn đề này
Cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Hưng Nguyên” tập I (1930 - 1945),
tập II (1945 - 2005) của Ban chấp hành Đảng bộ ĐCSVN huyện HưngNguyên, NXB Nghệ An, năm 2007 đã giành một phần nhỏ đề cập về lãnh thổ,địa giới hành chính huyện Hưng Nguyên và việc nhập, tách, thành lập một số
xã mới trong huyện
Cuốn sách “Địa chí văn hóa Hưng Nguyên” của tác giả Ninh Viết
Giao, NXB khoa học xã hội, năm 2009 đã viết tương đối đầy đủ về địa lý, conngười, phong tục tập quán của huyện Hưng Nguyên Trong đó, phần đầu có
đề cập đến duyên cách địa lý hành chính Hưng Nguyên từ xưa đến nay Phầnphụ lục có thống kê tên chữ, tên nôm và sự thay đổi của làng xã HưngNguyên qua các thời kỳ
Cuốn “Hưng Nguyên - Những trang lịch sử” của BCH huyện ủy,
HĐND, UBND huyện Hưng Nguyên, NXB Nghệ An, năm 1995 đã nghiêncứu chi tiết, đầy đủ về đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quá trìnhphát triển của huyện Hưng Nguyên từ cổ đến
Trong cuốn sách “Địa lý các huyện, thành phố, thị xã tỉnh Nghệ An”
của Trần Kim Đôn, NXB Nghệ An, năm 2004, tác giả có đề cập đến vị trí địa
lý, địa giới và sự phân chia hành chính của huyện
Cuốn sách “ Khâm định Việt sử thông giám cương mục” chính biên
quyển thứ XXI có chép về duyên cách Hưng Nguyên qua các đời đến năm1831
Cuốn sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” của tác giả Đào Duy Anh,NXB văn học, năm 2006 có viết về duyên cách địa lý hành chính Nghệ Antrong đó có Hưng Nguyên trải qua các đời từ thời Văn Lang đến thời NhàNguyễn
Trang 8Đặc biệt, vào tháng 8/2009, hội thảo 540 năm danh xưng Hưng Nguyênđược tổ chức, và các bài viết trong kỷ yếu hội thảo có đề cập đến quá trìnhbiến đổi địa giới hành chính, tên gọi của Hưng Nguyên qua các thời kỳ lịch sửnhưng còn khá sơ lược.
Ngoài ra các tài liệu khác được liệt kê trong phần tài liệu tham khảocũng đề cập ít nhiều đến những thay đổi địa giới ở Hưng Nguyên
Như vậy, tất cả những cuốn sách, bài viết trên đã ít nhiều đề cập vấn đềbiến đổi địa giới hành chính ở Hưng Nguyên nhưng còn mang tính chất sơlược, riêng lẽ Tuy nhiên, đây là cơ sở, tài liệu quan trọng để chúng tôi sosánh, đối chiếu và đi sâu vào nội dung mà đề tài đề cập đến
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu “Những thay đổi địa giới hành chính ở
Hưng nguyên từ năm 1469 đến năm 2009” Do đó, chúng tôi chủ yếu đi sâu
vào tìm hiểu, phân tích các vấn đề có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới đốitượng đã xác định trên
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian huyện HưngNguyên nhằm mục đích tìm hiểu những thay đổi địa giới hành chính củaHưng Nguyên từ năm 1469 đến năm 2009 Từ đó, đề tài rút ra một số tácđộng của những thay đổi đó đến đời sống cộng đồng cư dân Hưng Nguyên vàquá trình phát triển của Hưng Nguyên trong suốt 540 năm qua
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu:
4.1 Nguồn tài liệu:
Để phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã dựa vào cácnguồn tư liệu khác nhau:
- Các bộ sử cũ:
Trang 9Đề tài đã sử dụng nhiều bộ sử phong kiến như “Khâm định Việt sửthông giám cương mục” của Quốc sử quán triều Nguyễn, “Nghệ An ký” củaBùi Dương Lịch, bản dịch, NXB KHXH năm 1993; “Đại Nam nhất thốngchí” (Phần tỉnh Nghệ An) của Quốc sử quán triều Nguyễn; “Đại Việt sử ký
toàn thư” của Ngô Sĩ Liên và sử thần triều Lê…Đây là những bộ sử viết
đương thời nên về mặt tư liệu rất đáng tin cậy
- Tài liệu nghiên cứu:
Các tài liệu mà chúng tôi tham khảo là các tài liệu nghiên cứu lịch sửvăn hoá, cụ thể như cuốn “Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào DuyAnh, NXB văn học, Hà Nội, 2006; cuốn “Địa chí văn hoá Hưng Nguyên” củaNinh Viết Giao, NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 2009; “Nghệ An: Lịch sử vàvăn hoá” cuả Ninh Viết Giao (chủ biên), NXB Nghệ An, 2005…và các tàiliệu khác được đề cập trong phần danh mục tài liệu tham khảo
Ngoài ra, còn tham khảo các tài liệu viết về lịch sử địa phương như “Lịch sử Đảng bộ huyện Hưng nguyên” tập I (1930 - 1945), tập II (1945 -1975); “Hưng Nguyên - những trang lịch sử”; các báo cáo tổng kết, báo cáotình hình địa giới hành chính Hưng Nguyên lưu tại văn phòng huyện uỷ HưngNguyên, phòng lưu trữ UBND tỉnh Nghệ An
- Tài liệu luận văn:
Chúng tôi còn tham khảo một số luận văn, luận án có đề cập đến một sốkhía cạnh mà đề tài đang nghiên cứu như luận án “Ly sở Nghệ An từ thế kỷ
XX đến thế kỷ XXIII”, luận văn “Những biến đổi địa giới hành chính ở Nghệ
An từ năm 1945 đến năm 2000”
- Tài liệu khác:
+ Báo cáo kỉ niệm 540 năm danh xưng Hưng Nguyên
+ Báo “Văn hoá Nghệ An”, số 154 (ngày 10/08/2009) của sở văn hoá,
thể thao và du lịch Nghệ An
Trang 10Bản đồ địa lý hành chính của huyện Hưng Nguyên.
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã tiến hành sưu tầm tài liệu tại thưviện tỉnh Nghệ An, thư viện Quân khu 4, thư viện Trường Đại học Vinh, vănphòng UBND huyện Hưng nguyên…
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu như phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp sosánh đối chiếu Trong đó, phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sửdụng để trình bày một cách có hệ thống quá trình thay đổi địa giới hành chính
ở Hưng Nguyên trong khoảng thời gian từ năm 1469 đến năm 2009 Cònphương pháp so sánh, đối chiếu được dùng để rút ra tác động của biến đổi địagiới hành chính đến sự phát triển kinh tế, xã hội ở Hưng Nguyên
5 Đóng góp của luận văn:
- Đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tương đốitoàn diện, có hệ thống về những thay đổi địa giới hành chính ở Hưng Nguyên
- Luận văn có đánh giá một số tác động của thay đổi địa giới hànhchính đến đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội trên địa bàn huyện Hưng Nguyên
Từ đó, luận văn đề xuất một số ý kiến hi vọng có thể góp phần giúp các cấplãnh đạo có những hoạch định thích hợp trong việc phân chia, quản lý địa giớihành chính để quản lý xây dựng huyện Hưng Nguyên ngày càng giàu mạnh,phồn vinh
Trang 116 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Khái quát vùng đất Hưng nguyen trước năm 1469
Chương 2: Những thay đổi địa giới hành chính ở Hưng nguyên từ nửasau thế kỷ X đến đầu thế kỷ XXI (1469 - 2009)
Chương 3: Một số tác động của thay đổi địa giới hành chính đến đờisống kinh tế, văn hoá, xã hội ở Hưng Nguyên
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT HƯNG NGUYÊN TRƯỚC NĂM 1469
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và xã hội
1.1.1 Điều kiện tự nhiên:
- Vị trí địa lý: Hưng Nguyên có tọa độ địa lý: 18035’ - 18047’ vĩ độ Bắc
và 103035’ - 105040’ kinh độ Đông Phia Bắc giáp huyện Nghi Lộc; phía Namgiáp huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh); Đông giáp Thành Phố Vinh, huyện NghiXuân (Hà Tĩnh); Tây giáp Nam Đàn
Diện tích tự nhiên 163.98km2, xếp thứ 17 trong 19 huyện, thành phố,thị xã trong tỉnh Dân số năm 2000 là 121.236 người Hưng Nguyên là huyện
có vị trí quan trọng về kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Nghệ An
Hưng Nguyên có vị trí cửa ngõ phía Tây thành phố Vinh, nằm trênquốc lộ 46 lên quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, lên cửa khẩu Thanh Thuỷ,
có đường sắt Bắc Nam đi qua, có sông Lam vòng từ xã Hưng Lĩnh xuống xãHưng Lợi, nhân dân lương giáo đoàn kết, cần cù lao động…nên có điều kiện
để phát triển kinh tế, xã hội
Mảnh đất huyện Hưng Nguyên được bồi tụ từ phù sa của sông Lam vàcát biển tiến nên có địa hình thấp, trũng và thấp dần từ Tây sang Đông “Cao
độ tủng bình từ 1.5 – 2m, nơi cao nhất 3m (một số làng ở Hưng Yên, HưngTrung), thấp nhất 0.6m (các xã Hưng Mỹ, Hưng Phúc, Hưng Thông, HưngTân…)”.[16;17] Cho nên, vào mùa mưa, úng lụt thường đe doạ, gây khókhăn cho sản xuất và đời sống, nhất là đối với cư dân ở vùng ngoài đê tả Lam
Tuy là huyện đồng bằng nhưng Hưng Nguyên cũng có núi Đó là núiThành (tên chữ là Đồng Trụ, Hùng Sơn, Phượng Hoàng, Nghĩa Liệt, TuyênNghĩa), núi nhón (Nhuyến Sơn), núi Gai (tên chữ là Đại Hải), núi Đại Bàn, rồi
Trang 13núi Dẻ, núi Nẹn (núi Rậm) ở Hưng Yên, núi Chùa Khê ở xã Hưng Lĩnh…Hưng Nguyên không nhiều núi nhưng mỗi ngọn núi lại mang những dấu ấn,nét đặc sắc riêng
Sách Đại Nam nhất thống chí có chép: “Núi Đại Hải: ở cách huyện
Hưng nguyên 5 dặm về phía Tây Bắc, thế núi cao lớn ngay ngắn, trông nhưbức bình phong, phía đông cách Ngư Hải chừng 5.6 dặm; Có lẽ vì bể dâu biếnđổi từ xưa, nên đặt tên núi là Đại Hải” [9;181]
Trong đó, Lam Thành là ngọn núi bao đời nay đã trở thành biểu tượng
cho mảnh đất Hưng Nguyên “địa linh nhân kiệt” đầy nắng gió nhưng hết sức
anh hùng Ngọn núi này gắn với lị sở Nghệ An trong một thời gian dài, gắnvới mảnh đất Hưng nguyên Sách Nghệ An ký có viết: “Núi Lam Thành ở xãPhú Điền, huyện Hưng Nguyên, xưa gọi là núi Đồng Trụ, lại có tên là núiTuyên Nghĩa và Hùng Sơn (núi gấu) Núi cao lớn hùng vĩ đột xuất nổi lêngiữa đồng bằng, trong một ngọn có thành của Trương Phụ nhà Minh Trênđỉnh có lỗ cắm cờ Tương truyền là chỗ này ngày xưa Mã Viện có dựng cộtđồng” [26;118] Thân núi có chùa An Quốc Thời vua Trùng Quang nhà Trần(1409 - 1413), ngự sử Nguyễn Biểu vâng mệnh đi sứ cầu phong bị TrươngPhụ giết ở nơi này Phía Tây núi có một con suối, nước rất ngon ngọt PhíaNam núi, Sông Lam chảy qua rất rộng, là nơi sông La ở huyện Thiên Lộc(Đức Thọ ngày nay) chảy vào Từ bao đời nay, Lam Thanh Sơn được xem làđại danh thắng, nơi sơn thủy hữu tình bậc nhất của Nghệ An
Như vậy, địa hình Hưng Nguyên chia thành 2 vùng rõ rệt:
- Vùng đồi núi gồm các xã: Hưng Tây, Hưng Yên
- Vùng thấp trũng gồm các xã: Hưng Phúc, Hưng Thịnh, Hưng Mỹ,Hưng Châu, Hưng Thông, Hưng Tân, Hưng Đạo
Và một số làng ở ngoài đê Sông Lam thuộc các xã Hưng Nhân, HưngLợi, Hưng Châu, Hưng Lĩnh, Hưng Long
Trang 14Khí hậu thời tiết Hưng Nguyên mang đặc điểm chung của khí hậu đồngbằng Nghệ An Đó là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với hai mùa rõ rệt “Mùanóng từ tháng 4 đến tháng 10, thời kỳ đầu có gió Tây Nam gây nắng nóng,nhiệt độ trung bình 23.90C Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, có gió
mùa Đông Bắc mang theo không khí lạnh gây mưa dầm gió rét, trời âm u,
nhiệt độ trunh bình 190C, thấp nhất 60C” [16;233]
Số giờ nắng trung bình trong năm 1.637 giờ Bức xạ mặt trời 74.6 kcal/
cm2 Lượng mưa trung bình hàng năm 1.500 – 1.900mm, lớn nhất 2.500mm,nhỏ nhất 1.100mm Độ ẩm trung binhg 86%, cao nhất 89% (tháng 12 đếntháng 2), thấp nhất 60% (tháng 6 đến tháng 10) Điều kiện khí hậu ở đâythuận lợi để phát triển đa dạng cây trồng và vật nuôi Tuy nhiên, biên độ lớn,phân li theo mùa, nhiều yếu tố bất lợi như nắng nóng, rét đậm, lụt…còn gây
ra nhiều khó khăn cho việc sản xuất cũng như cuộc sống của cư dân ở đây
Về sông ngòi, Hưng Nguyên có 4 con sông (Sông Lam, Sông Vĩnh,Sông Long, sông Tam Đăng) và kênh đào chảy qua với chiều dài 76km.Trong đó, sông Lam còn gọi là sông Cả là con sông lớn nhất Nghệ An, chảyqua 10 xã trên địa bàn Hưng Nguyên từ xã Hưng Lĩnh đến xã Hưng Lợi, dài25km Đặc biệt, đến làng Thanh Liệt, nay thuộc xã Hưng Lam, sông Lamnhận thêm nguồn nước của sông La, tạo nên một ngã ba sông nước rộng mênhmông
Đền Thanh Liệt còn lưu đối câu đối cổ ca ngợi vùng sông nước nàynhư sau:
“Thanh thuỷ lưu thanh nhị hà hội lưu thanh miếu ngoại; Liệt Sơn tư
liệt quần phong trường cộng liệt đàu truy” (Nghĩa là: Sông Lam lưu nước từ
hai sông hợp lại thành dòng sông xanh ngoài miếu; Núi liệt nối đỉnh từ nhiềunúi hình thành nên dải núi hùng trước đài)
Trang 15Hưng Nguyên có kênh đào Hoàng Cần dài 21 km được chia thành hainhánh qua vùng giữa huyện đổ vào sông Vinh Còn kênh Gai dài 21km, từCầu Đước, Hưng Chính qua Hưng Tây, Hưng Yên đến Hưng Trung Sách
“Đại Nam nhất thống chí” có chép về kênh Gai như sau: “Bản triều năm GiaLong thứ 8, hạ lệnh cho dân đào một con kênh từ cửa Đích, về phía Bắc quađịa phận các xã Hương Cái và Bùi Nghĩa vòng quanh phía Tây núi Đại Hoạch
15 dặm đỏ vào Sông Gấm, đặt tên là kênh Hương Cái (dân gọi là kênh Gai).Xét sử chép: đời Lê Đại Hành, năm Ứng thiên thứ 16, xa giá tuần du HoanChâu, đào kênh Đa Cái tức là kênh này” [9;201]
Các sông ở Hưng Nguyên với gần 1.500 ha mặt nước, lượng mưa hàngnăm 1.500 – 1.900mm nên lượng nước mặt khá lớn, ước khoảng 2 tỷm3/năm.Các con sông đóng vai trò quan trọng trong việc phục vụ sản xuất cũng nhưđời sống của nhân dân Hưng Nguyên Trong đó, sông Lam đóng vai trò rấtquan trọng gắn chặt với quá trình thịnh suy của mảnh đất này Hàng năm,sông Lam đã bồi đắp một lượng phù sa lớn, hai bên triền sông Lam nơi nàocũng được phù sa bồi đắp Những nơi đó đều trở thành đồng lúa, nương dâu,bãi mía,…tốt tươi cho năng suất cao Sông Lam không chỉ tiêu nước mà còn
là nguồn cung cấp nước phục vụ cho các trạm bơm điện và cấp nước cho nhàmáy thành phố Vinh Sông Lam còn là con đường giao thông thuỷ thuận lợi,bao người ở Hưng Nguyên đã ngược xuôi trên dòng Lam giang Các chợ lớn
ở đây như chợ Tràng, chợ Vực, chợ Liễu…cũng đều nằm bên bờ sông Lam.phố phù Thạch - một phố buôn bán lớn vào đời Lê cũng ở bên dòng sôngLam
Tuy nhiên, sông Lam cũng là nguồn tai hoạ cho mảnh đất HưngNguyên Vào mùa mưa lũ, sông Lam nước thường chảy xiết cuốn trôi, pháhoại nhiều khúc sông làng mạc Hàng năm, Hưng Nguyên có gần 2.000 ha
Trang 16diện tích lúa, bãi bị ngập lụt Cho nên, vấn đề trị thuỷ trở thành vấn đề cấpbách cho cư dân nơi đây.
Đất đai Hưng Nguyên đa dạng bao gồm 4 nhóm đất “Đất phù sa 10.735
ha, trong đó: đất phù sa được bồi hàng năm 751 ha, đất phù sa không đượcbồi 8.790ha, đất feralit biến đổi do trồng lúa, đất dốc tụ” [16;235] Thànhphần cơ giới đất cát pha, thịt nhẹ đến sét, độ phì cao thích hợp cho trồng câylương thực, cây công nghiệp ngắn ngày Còn đất lầy úng, thấp trũng, khó tiêunước có thể trồng rau nước hoặc cải tạo để nuôi trồng thuỷ sản
Đất lúa vùng đồi núi 322ha, trong đó: đất feralit biến đổi do trồng lúanước 280ha, đất dốc tụ 42 ha Đất feralit vàng đỏ phát triển đá cát kết 100 ha
ở độ cao dưới 10m là đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ trên trung bình, độphì kém
Đất feralit xói mòn, trơ sỏi đá là 1.050 ha, ở độ cao trên 10m được sửdụng trồng cây lâm nghiệp chống xói mòn
Đất đai chủ yếu của Hưng Nguyên là đất phù sa Loại đất này đượckhai thác và sử dụng trong sản xuất nông nghiệp
Ngoài ra, Hưng Nguyên còn có các nguồn tài nguyên khác vô cùngquan trọng như rừng, khoáng sản… Hưng Nguyên có tài nguyên rừng phongphú với trữ lượng là 1.055 ha Trong đó, rừng trồng là 1.054,78ha và đất ươmcây giống 1,19ha Về tài nguyên khoáng sản, hiện nay, mỏ măng gan, sắt ởnúi Thành đang được điều tra đánh giá về trữ lượng chất lượng Các loại đấtsét, cát, sỏi, đá có trữ lượng lớn đặc biệt là đá riôlít ở núi Mượu (Hưng Đạo)chất lượng cao có trên 18 triệu m3 thuận tiên giao thông, khai thác dễ dàng.Đây là điều kiện tốt để phát triển công nghiệp khai thác, chế biến, sản xuất vậtliệu xây dựng như gạch, ngói, đá nghiền sàng, cung cấp cho thị trường xâydựng trong và ngoài tỉnh
Trang 17Hệ thống đường giao thông ở huyện Hưng Nguyên cũng khá đa dạng
và phong phú với nhiều loại hình khác nhau như giao thông đường thuỷ,đường bộ và đường sắt Bình quân là 9km/km2 Nhờ đó, Hưng Nguyên cóđiều kiện giao lưu, buôn bán thuận lợi với các vùng đất khác
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của huyện Hưng Nguyên có nhữngthuận lợi và khó khăn nhất định ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triểnkinh tế - xã hội của vùng đất này Hưng nguyên có điều kiện tự nhiên thuậnlợi với địa hình phong phú đa dạng, giao thông thủy lợi, non nước hữu tình,
có nhiều danh lam thắng cảnh…Nhờ đó Hưng Nguyên sớm phát triển giaolưu buôn bán với bên ngoài, trở thành địa bàn chiến lược để đánh giặc giữnước Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên nói trên cũng đưa lại cho cư dân HưngNguyên không ít khó khăn như khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, lũ lụt
thường xuyên xảy ra…Trong cuốn “Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh”
Giáo sư Nguyễn Đổng Chi khẳng định: “Hưng nguyên đất tốt, nhiều nơi là
lòng cũ của sông Lam thuộc vùng trũng nên làm ăn khá vất vả” [8;50] Bởi vậy, dân gian có câu: “Được mùa Hưng Nguyên lấy nước mà chở” ý nói được
nhiều lúa nhưng nước sâu thường phải dùng thuyền để gặt Khi lũ lụt xảy rathì nhiều vùng trong huyện nước ngập tràn như biển, cuốn phăng hàng trămnhà cửa và tài sản…Điều này đã ảnh hưởng nhất định đến việc tổ chức vàquản lý đời sống của cư dân Hưng Nguyên Trong đó, việc phân chia địa giớihành chính giữa các xã trong huyện gặp rất nhiều khó khăn Bởi vì việc phânchia phải phù hợp về mặt địa hình, điều kiện tự nhiên cũng như dân cư để cóthể tạo điều kiện thuận lợi nhất trong công tác quản lý hành chính cũng như
sự cư trú của cộng đồng dân cư
1.1.2 Điều kiện xã hội:
1 Hưng Nguyên là vùng đất được hình thành khá sớm, có lịch sử pháttriển lâu đời, tràn đầy sức sống Ngay từ thuở vua Hùng khai cơ lập nghiệp,
Trang 18Hưng Nguyên đã có cư dân người Việt cổ sinh sống Điều này được minhchứng qua hàng loạt các di chỉ tìm thấy ở “Vùng rú trăn, rú trác đánh dấu con
người sinh sống ở giai đoạn văn hoá Đông Sơn” [5;5] Theo dọc triền sông
Cả, lại nằm trong vùng phù sa màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển cây lúanước và các loại cây trồng khác, Hưng Nguyên sớm trở thành một trongnhững nơi “đất lành chim đậu” Sự quần tụ đầu tiên của lớp người cổ trên đấtHưng Nguyên là từ nhiều hướng khác nhau: “Men theo bờ sông Cả, từ phíaTây xuống và cũng có thể từ hướng cửa bể phía Đông ngược lên” [5;6].Chính các tộc người đó đã góp phần tạo nên nền văn hoá Đông Sơn tạo dựngNhà nước Văn Lang – Âu Lạc
Từ khi có con người sinh sống cho đến nay, vùng đất Hưng Nguyên đãtrường tồn, gắn bó với những bước thăng trầm, biến động của lịch sử dân tộc.Trong quá trình đó, do tác động của nhiều yếu tố khác nhau, thành phần và sốlượng dân cư ở đây luôn có sự thay đổi liên tục
Hưng Nguyên có thành phần dân cư khá đa dạng với một số tộc ngườisinh sống như người kinh, người Hoa…Trong đó, người kinh có số lượng chủyếu, đóng vai trò quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế - xã hội củahuyện Bên cạnh đó, người ChămPa cũng chiếm số lượng và vai trò đáng kể ởđây Họ sinh sống ở 3 làng là “Sở vện chính nay là làng Vệ Chính ở xã HưngPhú, sở Mộc Hoàn, sau đổi là phục Hoàn, nay là làng Long Giang ở xã HưngLam; sở Thượng phù sau là làng Thượng Phù ở tổng phù Long, sau cáchmạng chuyển sang huyện Đức Thọ”[17;75] Dân ở các sở này vốn là chiến từChămPa (Chiêm Thành) Đến nay, họ đều là người Việt, sinh sống như ngườiViệt với phong tục tập quán của người Việt Cư dân Hưng Nguyên trước đâycòn có người Trung Hoa Họ sống ở Lam Thành sơn mà chủ yếu ở phố PhùThạch, tất cả đều làm nghề buôn bán Hầu hết họ đều là người đời Minh Đếncách mạng tháng 8, người ta còn thấy họ ở Phù Thạch Nhưng rồi chiến tranh
Trang 19Việt Pháp diễn ra dữ dội, đến năm 1946 cộng hoà nhân dân Trung Hoa đượcthành lập, những người này xin về nước và giờ đây, việc xác định ở HưngNguyên còn có ai là gốc gác người Trung Hoa sinh sống hay không là mộtđiều không dễ dàng.
Cư dân ở đây có nguồn gốc vô cùng phức tạp: Một bộ phận là ngườiViệt hoá, một bộ phận từ đồng bằng Bắc Bộ vào, một bộ phận là cư dân bảnđịa và cón có cả tù binh trong chiến tranh (Người ChămPa) Ngay người Việtcũng cố nguồn gốc phong phú, không chỉ có người Nghệ An Riêng làng Phúc
Mỹ ở xã Hưng Châu, trong số 25 họ, có họ ở Hà Đông vào như họ Lê Xuân
và Trần Đình, có họ ở xứ Đông vào như họ Dương và họ Trương, có họ ởThanh Hoá vào như họ Nguyễn, có họ ở Thuận Hoá ra như họ Hoàng Đăng…Riêng làng Phúc Mỹ đã vậy, có lẽ cả Hưng Nguyên cũng như vậy Tuy nhiên,
dù có nguồn gốc ở đâu nhưng sinh sống trên mảnh đất Hưng Nguyên yêu dấu,cộng đồng cư dân đều mang một sắc thái bản địa rõ nét, một tình cảm quêhương gắn bó sâu nặng với vùng đất thân yêu này
Cư dân Hưng Nguyên sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thácnguồn lợi của sông Lam và mặc dù phải đương đầu với nhiều khó khăn thửthách, nền kinh tế tiểu nông với cơ sở vật chất nghèo nàn nhưng con ngườinơi đây đã sáng tạo và lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống như nghề dệtchiếu gon ở Yên Lưu, nghề đóng thuyền ở Xuân Giang; nghề đan dè cót ởXuân Nha, nghề làm mũ nón ở Rú Ráng…Các nghề thủ công này đã thu hútđược một lực lượng nhàn rỗi nhất định, cải thiện phần nào đời sống của cưdân các làng xã nơi đây Một số nghề thủ công trở thành nghề truyền thốngcủa nhiều gia đình, còn chủ yếu là những nghề làm ăn trong những ngàytháng nông nhàn Đến nay, đời sống cư dân Hưng nguyên ngày càng được cảithiện
Trang 20Do thuận lợi về giao thông đường bộ lẫn đường thuỷ nên việc giao lưubuôn bán ở đây khá phát triển Nhiều trung tâm buôn bán xuất hiện như ChợSáo (Hưng Đạo), chợ Thị trấn, chợ Liễu (Hưng Lĩnh)…Ngay từ thế kỷ XVI-XVIII, phố Phù Thạch xã Phục Lễ và các làng dưới chân núi Lam Thanh lànơi nhộn nhịp buôn bán, không chỉ với người trong nước và còn cả ngườiNhật Bản và người Trung Hoa Trên bản đồ nước ta ngày ấy, người Nhật Bản
đã khoanh một vòng trong đậm nét quay chữ Hưng nguyên cho thấy vị trígiao thông quan trọng của Hưng Nguyên lúc bấy giờ
2 Hưng Nguyên là một vùng đất giàu truyền thống văn hoá, yêu nướccách mạng Với vị trí địa lý ở khu vực trung tâm xứ Nghệ, Hưng nguyên đãtiếp thu, thụ hưởng cũng như chắt lọc nhiều tinh hoa văn hoá của cả vùng xứNghệ Trong suốt dòng chảy lịch sử, Hưng nguyên mang đậm truyền thốngvăn hoá lâu đời phong phú của xứ Nghệ song cũng hằn rõ sắc thái riêng củamình
Nhận thấy ưu thế về vị trí địa lý của Hưng nguyên, nhiều vị vua hiềnxưa đã về đây luận bàn việc nước hoặc trực tiếp cầm quân đốc chiến như vua
Lê Đại Gành (1003), Lê Thái Tổ (1426), Lê Thánh Tông (1470), QuangTrung (1789)
Hệ thống di tích lịch sử văn hoá ở Hưng nguyên đa dạng về loại hình,niên đại và có ý nghĩa giá trị cao về mặt lịch sử văn hoá Trước đây, toànhuyện có trên 2.500 di tích Hiện nay, huyện có 61 di tích được công nhận là
di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 11 di tích lịch sử xếp hạng quốc gia, 5 ditích xếp hạng tỉnh Tiêu biểu như đền Chiêu Trưng (Hưng Khánh) thờ LêKhôi, đền An Quốc (Hưng Lam) thờ nghĩa sĩ Nguyễn Biểu; đền Vua Lê(Hưng khánh) thờ Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, đền thờ và mộHoàng Mười (Hưng Thịnh)…Hưng Nguyên còn có dấu tích của thành Nghệ
An ở núi Thành, nơi đặt trường thi hương của Nghệ An, bên bờ sông Lam
Trang 21(xưa gọi là Thanh Long) có phố Phù Thạch từng là nơi buôn bán sầm uất nhấtvùng.
Hưng Nguyên còn nổi tiếng bởi những dâu tích lịch sử, những conngười, địa danh được lưu truyền trong sử sách Vùng đất Hưng Lam – HưngPhú – Hưng Khánh đã từng là lỵ sở của đạo Nghệ An qua các triều đại Trần –
Lê - Nguyễn suốt gần 300 năm Núi Lam Thành đã chứng kiến những chiếntích hào hùng chống quân Minh gắn liền với tên tuổi nghĩa sĩ Đại vươngNguyễn Biểu và Bình Ngô Thành
Là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, từ mảnh đất này đã sản sinh ra nhiều
bậc anh hùng, danh nhân nổi tiếng Hưng Nguyên là đất tổ của vị anh hùngdân tộc kiệt xuất Nguyễn Huệ (Hưng Thái), người đã lãnh đạo quân dân ta đạiphá quân Thanh (1789) Đây còn là quê hương của nhà cải cách NguyễnTrường Tộ (Hưng Trung), của Tổng bí thư Lê Hồng Phong (Hưng Thông),liệt sĩ Phạm Hồng Thái (Hưng Nhân)…
Hưng nguyên còn là vùng đất giàu truyền thống cách mạng Đây là mộttrong những ngọn cờ đầu trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (12/03/1930).Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, huyện được nhà nước tuyên dương
danh hiệu “Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” Đến nay, Hưng Nguyên có 6 xã và một thị trấn được nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân” Ngày nay, đài tưởng niệm các liệt sĩ Xô
Viết nghệ Tĩnh, nghĩa trang liệt sĩ, bia tưởng niệm liệt sĩ của huyện, xã, thịtrấn đã trở thành biểu tượng ghi dấu đóng góp của nhân dân Hưng Nguyêntrong sự nghiệp cách mạng của dân tộc
Hưng Nguyên được biết đến là một vùng đất giàu truyền thống hiếuhọc Từ thời nhà Lê đến nhà Nguyễn, toàn huyện có 13 người đậu tiến sĩ vàphó bảng, 26 người đậu hương cống và cử nhân, hàng trăm người đậu tú tài…Trong số đó, danh nhân Đinh Bạt Tuỵ (Hưng Trung) là tấm gương sáng về
Trang 22khổ học và học giỏi Ông là người đậu đầu khoa thi năm 1554, văn võ songtoàn làm đến chức Thượng thư Bộ binh.
Nói đến Hưng Nguyên là nói đến vùng đất của lễ hội, của hát phườngvải, hát giao duyên, của những câu hò xứ Nghệ làm say lòng người Hàngnăm, Hưng Nguyên có hàng chục lễ hội như Lễ hội Nước Hến, hội đuathuyền trên sông Lam…Trong đó, lễ hội đền Hoàng Mười (Hưng Thịnh) là lễhội vùng đậm nét văn hoá tâm linh, tính cộng đồng làng xã cao, khơi dậy tiềmnăng du lịch gắn với quần thể du lịch dọc sông Lam
Như vậy, trải qua những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, nhândân Hưng nguyên đã gây dựng nên những truyền thống văn hoá lịch sử tốtđẹp Họ luôn giữ vững và phát huy tinh thần kiên cường, dũng cảm trongchiến đấu, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất Trong quá trình sinh sống,
cư dân Hưng Nguyên đã vượt qua bao khó khăn, thử thách cùng chung lưngđấu cật giúp đỡ lẫn nhau Mối quan hệ cộng đồng ngày càng khăng khít, gắn
bó nhiều khi đã vượt qua ranh giới của một huyện, một xã Cho nên, việcphân chia địa giới hành chính cần phải phù hợp với phong tục tập quán, bảnsắc văn hoá của cư dân nơi đây
1.2 Duyên cách địa lý Hưng Nguyên trước năm 1469
1.2.1 Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc đến trước khi họ Khúc dựng nền tự chủ năm 905
Trong dòng chảy lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, vùng đấtHưng Nguyên đã trải qua bao biến cố thăng trầm, lúc thịnh lúc suy Cùng với
đó, tên gọi và địa giới hành chính của mảnh đất này cũng có nhiều thay đổi.Bản đồ Hưng Nguyên đã nhiều lần được điều chỉnh
Nhà nước đầu tiên của đất nước ta là Văn Lang do 18 đời Vua Hùngnối tiếp nhau trị vì Sau nhà nước Văn Lang là nhà nước Âu Lạc Thời HùngVương, đất nước ta ngày nay chia thành 15 bộ: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh,
Trang 23Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định HoàiHoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức và bộ Văn Lang Theo cácnhà nghiên cứu, vùng đất Nghệ An xưa thuộc bộ Việt Thường Sách lịch triềuhiến chương loại chí có chép: “Đời cổ là thuộc đất Việt Thường” [7;62] Thời
kỳ này Hưng Nguyên là “một bộ phận trên nền đất cổ Nghệ An, liền một dảivới Nam Đàn, Thanh Chương về phía Tây và Tây Nam với Nghi Lộc, Diễn
Châu ở phía Đông Bắc và phía Bắc”[7; 5] là một bộ phận của vùng dất Nghệ
An từ xưa đến nay, cho nên Hưng Nguyên được xác định là thuộc đất ViệtThường vào thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc Đất Việt Thường chính là 1 trong 15
bộ bộ của nước Văn Lang, có tên: Bộ Hoài Hoan, bộ Cửu Đức” Trong đó, bộHoài Hoan là tên gọi tương ứng với vùng đất Diễn Châu xưa, phía Bắc tỉnhNghệ An; bộ Cửu Chân là tên gọi của vùng đất tương ứng với phía Nam củatỉnh Nghệ An ngày nay
Năm 179 TCN, cuộc xâm lược của Triệu Đà mở đầy một thời kỳ đentối trong lịch sử dân tộc: Thời kỳ bị bọn phong kiến Trung Quốc đô hộ kéodài hơn 1000 năm Từ đó đến đầu thế kỷ X, các chính quyền Triệu, Hán (TâyHán – Đông Hoá), Ngô, Nguỵ Tấn, Tống, Tề, Lương, Tuỳ, Đường kế tiếpnhau xâm lược và đô hộ nhằm biến nước ta thành quận huyện của chúng vàđồng hoá dân tộc ta về mọi mặt Và trong quá trình cai trị, chúng đã chia nước
ta thành quận, châu, phủ xây dựng bộ máy chính quyền từ Trung ương đếnđịa phương
Sau khi chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà sáp nhập vào nước Nam việt củaTriệu Đà rồi chia nước ta làm 2 quận để cai trị là Giao Chỉ và Cửu Chân.Trong đó, Giao Chỉ gồm vùng Bắc Bộ ngày nay, còn Cửu Chân gồm vùng đấtThanh Hoá và Nghệ Tĩnh Dưới thời cai trị của Nhà triệu (207 – 111 TCN)Hưng Nguyên thuộc quận Cửu Chân Năm 111 TCN, nhà Hán chiếm nướcNam Việt (trong đó có Âu Lạc), chia Âu Lạc thành 3 quận: Giao Chỉ, Cửu
Trang 24Chân, và Nhật Nam Quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) gồm 12 huyện, Cửu Chân (BắcTrung Bộ) gồm 7 huyện và Nhật Nam (Nam Trung Quốc) gồm 5 huyện Nghệ
An trong đó có Hưng Nguyên vẫn thuộc quận Cửu Chân Cả Nghệ An và HàTĩnh lúc đó chỉ là một huyện Hàm Hoan, huyện lớn nhất của quận Cửu Chân.Trong sách ‘Đất nước Việt Nam qua các đời”, giáo sư Đào Duy Anh có viết:
“ Thành Hàm Hoan (Nơi quận trị mà cũng là huyện lỵ) thì chúng tôi đoánrằng, nó hẳn là trên sông Lam là con sông to nhất của muền Nghệ An, có thể
là vào khoảng núi Lam Thành hay còn gọi là Rú Thành, nơi truyền thuyết dângian nói về cột đồng của Mã Viện” [1;53]
Vào thời nhà Hán, Hưng Nguyên là vùng đất thuộc huyện Hàm Hoan.Sách “Đại Nam nhất thống chí” (quyển 14, tỉnh Nghệ An) chép về đất HưngNguyên như sau: “Đời Hán là đất huyện Hàm Hoan” [9;140] Sách “Nghệ Ancác huyện” (bản chép tay) viết về Hưng Nguyên thời nhà Hán như sau:
“Huyện Hưng nguyên, xưa thuộc đất Hàm Hoan (chữ hán)” [29;11]
Đời Tam quốc và Lưỡng Tấn, huyện Hàm Hoan được đổi thành quậnCửu Đức Quận Cửu Đức lúc bấy giờ chia làm 6 huyện bao gồm hầu hết đấtđai hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay Đó là huyện Hàm Hoan, CửuĐức, Dương Thành, Việt Thường, Phù Lĩnh và Khúc Tư Hưng Nguyên thuộchuyện Cửu Đức của quận Cửu Đức Việc thành lập quận Cửu Đức bên cạnhquận Cửu Chân không phải chỉ là sự chia nhỏ khu vực hành chính mà cònnhằm tăng cường ách thống trị của quân xâm lược đối với vùng biên cươngphía Nam Điều này chứng tỏ vị trí quan trọng của đất Nghệ an nói chung,Hưng Nguyên nói riêng
Đời Nam Bắc triều, thời nhà Tống, bản đồ Giao Châu thu lại còn vùngBắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay Vùng Nghệ Tĩnh vẫn mang tên Cửu Đức.Nhà Lương “Chia Giao Châu cũ ra làm nhiều châu huyện mới ( 6 châu và nhiềuquận huyện:, đổi Cửu Chân làm Ái Châu và Cửu Đức thành Đức Châu” [3;69]
Trang 25Đời Tuỳ (581-618), năm khai Hoàng thứ 8 (588) đời Tuỳ Văn Đế, đổiĐức Châu làm Hoan Châu Năm 607 Tuỳ Dưỡng Đế tiếp tục đổi Hoan Châulàm quận Nhật Nam, gồm 8 huyện: Cửu Đức (lỵ sở của quận), Hàm Hoan,Phố Dương, Việt Thường, An Viễn, Quảng An, Kim Ninh, Giao Cốc CửuĐức tương đương với miền đất Nghệ An cũ Hưng Nguyên lúc bấy giờ thuộchiện Cửu Đức của quận Nhật Nam.
Nhà Đường (618 - 907) đổi quận Nhật Nam thành Hoan Châu, sau táchmột phần phía Bắc của Hoan Châu đặt Diễn Châu “Diễn Châu đặt từ nămTrịng Quán thứ nhất (627) nhưng chỉ một thời gian ngắn, năm thứ 16 (642) bỏDiễn Châu, cho lệ vào Hoan Châu Nhưng rồi 122 năm sau, năm Quảng Đứcthứ 2 đời vua Đường Đại Tông (763 - 780) chia Hoan Châu đặt lại DiễnChâu” [3;9] Trong đó, Diễn Châu là đất của 3 huyện Diễn Châu, Yên Thành,Quỳnh Lưu hiện nay Còn Hoan Châu là vùng đất từ Cầu Cấm trở vào đèoNgang.Trụ sở Hoan Châu theo khảo chứng của H.Maxpêrô là vùng NhãnTháp (Hồng Long, Nam Đàn) còn theo Đào Duy Anh thì vẫn ở vùng nùi LamThành thuộc huyện Hưng Nguyên ngày nay
Hưng Nguyên lúc đó thuộc huyện Cửu Đức, một trong 4 huyện củaHoan Châu (Cửu Đức, Phố Dương, Việt Thường, Hoài Hoan) Trong sách
“Đất nước Việt Nam qua các đời”, giáo sư Đào Duy Anh viết “Huyện Cửu
Đức vốn là quận sở đời Ngô, đời Tấn, đời Tống, lại là huyện đứng đầu củalưu vực sông Lam, tức là miền xung quanh Lam Thành thuộc huyện Hưng
Nguyên hiện tại” [1;78].
Như vậy, từ thời kỳ Văn Lang Âu Lạc cho đến trước khi Khúc Thừa
Dụ dựng nền tự chủ (905), Hưng nguyên luôn được xem là một vùng đất quantrọng mà chính quyền Trung ương muốn thiết lập bộ máy cai trị của mình.Đặc biệt trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, danh xưng và diên cách của huyệnHưng Nguyên có nhiều thay đổi: từ một vùng đất thuộc bộ Việt Thường (thời
Trang 26Văn Lang – Âu Lạc) đến huyện Hàm Hoan (thời Hán) của quận Cửa Chân,huyện Cửu Đức của quận Cửu Đức (thời Tam Quốc, Lưỡng Tấn), thuộc quậnNhật Nam (thời nhà Tuỳ) và thuộc quận Hoan Châu (thời nhà Đường)
Trong suốt thời gian này, núi Lam Thành ở Hưng Nguyên đã ba lầnđược chọn là quận trị, châu trị, huyện lỵ của chính quyền đô hộ Điều đó chothấy vị trí quan trọng của mảnh đất Hưng Nguyên đồng thời cũng phản ánhnhững nỗ lực của các triều đại phong kiến phương Bắc trong việc xác lậpquyền thống trị tại vùng đất này Tuy nhiên, nhân dân Hưng Nguyên nóiriêng, nhân dân ta nói chung với sức sống mạnh mẽ, bản lĩnh văn hoá vữngvàng đã đẩy lùi ách đô hộ trường kỳ, tàn bạo, tiếp thu chắt lọc những tinh hoavăn hoá để nhào nặn nhuần nhuyễn vào nền văn hoá của dân tộc mình, quêhương xứ sở mình
1.2.2 Thời kỳ nhà nước phong kiến độc lập tự chủ (từ năm 905 đến trước năm 1469)
Năm 905, Khúc Thừa Dụ, một hào trưởng ở đất Hồng Châu, đứng lênđánh đuổi bọn đô hộ nhà Đường, tự xưng là Tiết Độ Sứ dựng nền tự chủ chodân tộc Từ đây, đất nước ta bước sang một thời kỳ mới - Thời kỳ độc lập tựchủ dưới chế độ phong kiến Lúc bấy giờ, nước ta được chia thành 5 cấp hànhchính: lộ, phủ, châu, xã, giáp Năm 917 Khúc Thừa Mĩ làm Tiết độ sứ nhưngđược 6 năm thì bị quân Nam Hán đánh chiếm và bị bắt
Đến năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ở cửa Sông BạchĐằng, xưng vương đóng đô ở Cổ Loa, lập nên nhà Ngô Nền độc lập tự chủcủa nước ta càng được khẳng định
Sau khi giành được độc lập, các triều vua nước ta đã chú ý tổ chức lạicác khu vực hành chính trong nước “Sau nhà Ngô (939 - 967) là Nhà Đinh(968 - 980), nhà Tiền Lê (980 - 1009)đều bỏ hẳn chế độ quận, huyện Đinh
Tiên Hoàng chia nước ta làm 10 đạo” [17;10] Tuy nhiên, do những khó khăn
Trang 27trong bước đầu xây dựng đất nước, chính quyền Trung ương chưa tới đượcnhững miền hẻo lánh và xa xôi như Nghệ An nói chung, Hưng Nguyên nóiriêng Vì thế, từ đầu thế kỷ X đến thời Đinh, vùng đất Hưng nguyên hầu nhưkhông có những thay đổi lớn về tổ chức hành chính Bấy giờ, đất cực Nam haitỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay là biên giới cuối cùng của quốc gia phongkiến Đại Việt,
Thời Tiền Lê (980 - 1009), Lê Hoàn “Định luật lệnh, chọn quân lính,chia tướng hiệu làm 2 ban, đổi mười đạo làm lộ, phủ châu” [27;20] Nghệ Anlúc bấy giờ bao gồm Hoan Châu và Diễn Châu, Nghệ An được xem là “Nơi
hiểm yếu như thành đồng ao nóng của nước”, “then khoá của các triều đại”,
là “phên dậu” phía Nam của tổ quốc Đại Việt Vua Lê Đại Hành từng trực
tiếp chỉ huy quân dân đào vét kênh Đa cái (nay thuộc xã Hưng Tây) nhằmphục vụ cho việc vận chuyển quân lương, xây dựng căn cứ vào bảo vệ biên
giới đất nước Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” có chép: “Quý Mão [ứng thiên]
năm thứ 10 (1003) - Tổng Hàm Bình (năm thứ 6) vua đi Hoan Châu, vét kênh
Đa Cái (hay là Hoa Cái) cho thông thẳng đến Tư củng trường ở Ám Châu”
[27;21] kênh Đa Cái sau gọi là Hoa Lái, lại đổi gọi là Hương Cái, nay là kênhĐước ở xã Hưng Chính và Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên Tuyến kênhthông qua sông Lam về hướng Đông, thông về hướng Bắc qua Phương Tích(thuộc Hưng nguyên) ra Thanh Hoá và Ninh Bình
Qua các tài liệu đó, ta có thể khẳng định: Vào thời Ngô, Đinh, Tiền Lê,vùng đất Hưng nguyên có những thay đổi nhất định về tên gọi và địa giớihành chính Tuy nhiên, hiện nay chúng ta vẫn chưa rõ danh hiệu, vị trí cùngduyên cách các đơn vị hành chính đời Ngô, Đinh, Tiền Lê như thế nào
Thời nhà Lý (1010 - 1225), vào tháng 12 năm Canh Tuất, niên hiệuThuận Thiên thứ nhất (năm 1011) vua Lý Thái Tổ đã cho đổi 10 đạo làm 24
lộ, Châu Hoan, Châu Ái làm trại Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” có
Trang 28chép: “Buổi đầu nhà Ký đổi Hoan Châu làm trại, đời Thái Tông năm ThiênThành thứ 3 (1030), đổi gọi là Nghệ An, Diễn Châu tách ra làm Châu” [7;62].Đây chính là lần đầu tiên danh xưng Nghệ An xuất hiện trong chính sử củanước ta Năm 1036, vua Lý Nhật Quang vào làm tri châu Nghệ An Với tấmlòng yêu nước thương dân, với tầm nhìn chiến lược, ông đã biến Nghệ An từmột vùng biên viễn hẻo lánh nhiều gian lao và thử thách thành một châu phồnthịnh về mọi mặt, tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của Nghệ An.
Tại Hưng Nguyên, ông đã tiến hành công cuộc khai hoang đi đôi vớichiều dân lập ấp Lý Nhật Quang đã “chiêu dân lập ấp khai canh một số làng
mà đến nay các làng này còn đền thờ ông như đền kiêm đình làng Vạn Lộc,
xã Hưng Phúc; đền Vĩnh Yên, xã Hưng Vĩnh; đền Bến Lở thuộc làng Phúc
Lộc, tổng Yên Trường…” [17;54] Ông còn khởi xướng việc đắp đê sông Lam
ở phía Tả Ngạn (tả Lam), tiền thân của đê 42 sau này để ngăn nước lũ, tiếp tụcnạo vét sông Đa Cái ở Hưng Chính và Hưng Tây Thời kỳ này, nước ta chialàm 24 lộ thì Diễn Châu và Hoan Châu là hai lộ Nhưng đến nay, các tài liệughi chép thời gian này không nói đến các đơn vị hành chính dưới lộ nên cũngkhông rõ địa danh vùng đất Hưng Nguyên thời đó là gì và địa vực ra sao
Thời nhà Trần (1225 - 1400), tháng 2 năm năm Nhâm Dần (1242) đãchia nước làm hai lộ Các lộ đều đặt hai viên Anh Phú sứ, chánh và phó đểgiữ việc cai trị Ở xã và sách thì đặt chức Đại, Tiểu tư xã
Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” có chép rằng: Mườihai lộ: sử cũ không chép rõ, nhưng căn cứ những tài liệu ghi chép từ trước thìthấy các lộ: Thiên Trường, Long Hưng, Quốc Oai, Bắc Giang, Hải Đông,Trường Yên, Kiến Xương, Hồng, Khoái, Thanh Hoá, Hoàng Giang, DiễnChâu Lại có phủ, châu, trấn như Tân Bình, Nghệ An, Thái Nguyên, LạngGiang Lúc bấy giờ, theo quy chế của nhà Trần, những phủ, châu, trấn thìthuộc cả vào lộ Nghệ An khi đó không phải là lộ mà chỉ là cấp phủ Vì theo
Trang 29như năm Quý Sửu (1313) “Chiêm Thành thường bị người nước Tiêm sangcướp, nhà vua hạ lệnh cho An Phủ sứ là Đỗ Thiên Thử đi kinh lược hai lộNghệ An và làm bình để cứu viện” [27;23]
Phan Huy Chú trong sách “Lịch triều hiến chương loại chí” có chép:
“Nhà Trần buổi đầu cũng theo như thế, gọi Nghệ An là phủ” [7;62] Sách
“Đại Nam nhất thống chí” có chép: “Đời Trần, năm Nguyên phong thứ 6, lạigọi là năm Long Khánh thứ 3, đổi Châu Diễn làm lộ Diễn Châu Châu Hoanlàm các lộ Nghệ An Nam, Nghệ An Bắc và Nghệ An Trung, cũng gọi là phủNghệ An” [9;134]
Tuy nhiên, địa giới các lộ Nghệ An Nam, Nghệ An Bắc, Nghệ AnTrung ra sao thì không thể xác định được Đến tháng 4 năm Đinh Sửu (1397),
vì muốn dời kinh đô vào Thanh Hoá nên Hồ Quý Ly đã đổi các Lộ, phủ làmtrấn như Nghệ An làm trấn Lâm An, Diễn Châu làm trấn Vọng Giang…phủNghệ An sau này là trấn Lâm An có huyện Thượng Lộ mà nhiều nhà nghiêncứu cho đó là huyện Hưng Nguyên hiện nay
Sau một thời gian chuẩn bị các mặt cho mưu đồ xâm lược, năm 1406,nhà Minh đưa 20 vạn quân tràn sang nước ta Cuộc kháng chiến của nhà Hồnhanh chóng bị thất bại, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đều bị quân nhàMinh bắt giải về nước Đánh bại nhà Hồ, nhà Minh thủ tiêu ngay nền độc lậpcủa đất nước ta, đổi nước ta làm quận Giao Chỉ xem như một địa phương củaphong kiến Trung Quốc nhằm muốn vĩnh viễn xoá bỏ nước ta và sáp nhậphẳn vào lãnh thổ Trung Quốc “Dưới quận, chúng chia lại các phủ, chậu,huyện Nước ta bị chia ra 15 phủ Nghệ Tĩnh lúc bấy giờ gồm 2 phủ: DiễnChâu và Nghệ An Phủ Nghệ an lúc đó quản 16 huyện” [3;111] Phủ Nghệ Anthời thuộc Minh có 4 Châu (Nam Tĩnh, Hoan Châu, Trà Lung và Ngọc Ma),
16 huyện (Nha Nghi, Phi Lộc, Cổ Đỗ, Chi La, Chân Phúc, Kệ Giang, ThổHoàng, Thượng Sán, Khả Hoàng, Trại Thạch, Hà Hoa, Kỳ La, Thạch Đường,
Trang 30Đông Ngạn, Lộ Bình và Sa Nam) Huyện Thượng Lộ (được xem là huyệnHưng Nguyên ngày nay) thời thuộc Minh được đổi là Lộ Bình Đây là mộttrong 16 huyện của Phủ Nghệ An lúc bấy giờ
Tại Nghệ An, quân Minh đã cho xây đắp 3 thành là thành Lam, thànhTrài và Thành Trà Lân Thành Lam được chọn là trị sở của chúng ở vùng
Nghệ An, Hà Tĩnh và là “bàn đạp” lợi hại cho mọi hướng tấn công, càn quét.
Từ điểm núi Thành, quân Minh nhìn rộng ra 4 phía, sát chân núi Thành là hợplưu sông Lam rất tiện đường thuỷ cho chúng đi ngược về xuôi Nhận thấy rõ
vị trí xung yếu của Lam Thành, nhà Minh đã cử tướng Trương Phụ - Một viêntướng sừng sỏ đến cai quản ở nơi đây Nhưng chính Lam Thành cũng là
‘chứng nhân” cho bi kịch, thất bại thảm hại của quân Minh Mùa xuân năm
Mậu Tuất (1418), Lê Lợi cùng với 18 nghĩa sĩ đã dựng cờ khởi nghĩa ở LamSơn kêu gọi nhân dân hưởng ứng đánh giặc cứu nước Tháng 2 năm 1425,nghĩa quân Lê Lợi tiến về vùng Hưng Nguyên tổ chức lực lượng vây đánhquân Minh ở Thành Lam Tại đây, quân Minh bị thất bại thảm hại, tướng Thái
Phúc phải xin đầu hàng, nộp lại thành Nghĩa quân đã chiếm được “giang sơn
đầu tiên” của Châu Hoan, giang sơn ấy là núi Thành.
Như vậy, từ đầu thế kỷ X đến đầu thế kỷ XV, Hưng nguyên đã trải quanhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính Những thay đổi này khôngchỉ là việc làm thường xuyên của các nhà nước phong kiến mà còn là kết quảcủa sự mở mang diện tích canh tác và sự phát triển mau lẹ của dân số HưngNguyên trong năm thế kỷ xây dựng và phát triển của quốc gia Đại Việt Sựthay đổi liên tục về địa giới hành chính, việc triều đình Lý, Trần, Hồ, Lê…cắt
cử các vương công quý tộc, các công thần trong triều vào trấn trị HưngNguyên càng khẳng định vai trò cũng như vị trí quan trọng của vùng đất này
Nhìn chung, cho đến trước năm 1469, cũng như các miền đất khác củanước ta, tên gọi và địa giới hành chính của Hưng Nguyên đã có nhiều lần thay
Trang 31đổi Sự thay đổi này gắn liền với các biến động của lịch sử dân tộc, sự thịnhsuy thay thế lẫn nhau của các triều đại Trong mỗi thời kì, mỗi giai đoạn lịch
sử cụ thể, mỗi lần thay đổi vương triều là bấy nhiêu lần tên gọi, địa giới HưngNguyên thay đổi
Với vị trí ở Trung tâm xứ Nghệ, cho nên các vương triều tuy khác nhau
về cách thức cai trị và tổ chức bộ máy nhà nước nhưng đều muốn thiết lập vàcủng cố quyền thống trị của mình trên vùng đất này Sự thay đổi liên tục địagiới hành chính của Hưng Nguyên từ thời dựng nước cho đến thời thuộcMinh đã góp phần phản ánh những nỗ lực, cố gắng của các triều đại phongkiến trong việc xác lập quyền thống trị cũng như tạo sự phát triển bền vữnglàm “phên dậu”, “thành đồng” cho quốc gia, bàn đạp để tiến về phía Nam.Đặc biệt, vào đầu thế kỷ XV, Lam Thành – Phù Thạch được chọn là nơi đóng
lỵ sở Nghệ An càng khẳng định thêm quyết tâm củng cố quyền cai trị củachính quyền phong kiến
Trang 32CHƯƠNG 2:
NHỮNG THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH Ở HƯNG NGUYÊN TỪ NỬA SAU THẾ KỶ XV ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XXI (1469 - 2009) 2.1 Những biến đổi địa giới hành chính ở Hưng Nguyên từ năm 1469 đến năm 1885.
2.1.1 Thời Lê:
Sau khi đánh đuổi quân Minh xâm lược ra khỏi bờ cõi, Lê Lợi lên ngôihoàng đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, lập nên nhà Lê (còn gọi là Lê Sơ), đặttên nước là Đại Việt Ngay sau khi lên ngôi, để xác lập quyền thống trị, vào
tháng 3 năm Mậu Thân (1412), vua Lê Thái Tổ đã “chia nước ta thành 5 đạo:
Nam Đạo, Bắc Đạo, Đông Đạo, Tây Đạo và Hải Tây đạo; chia các lộ Trấn
Phủ châu huyện thuộc vào các đạo” [1;130] Nghệ An thuộc đạo Hải Tây, Lỵ
sở của trấn đặt tại Lam Thành - Triều Khẩu (Hưng nguyên)
Đến “năm Quang Thuận thứ 10 (1469), vua Lê Thánh Tông thực hiệncải cách hành chính, định lại bản đồ cả nước, chia nước ta làm 12 thừa tuyên.Nghệ An là một Thừa tuyên Thừa tuyên Nghệ An có 8 phủ, 18 huyện, 2
châu Hưng Nguyên nằm trong phủ Anh Đô, cái tên Hưng Nguyên có từ đó và
tồn tại đến nay” [17;167] Như vậy, tên gọi Hưng nguyên bắt đầu ra đời từtriều vua Lê Thánh Tông năm 1469 và kéo dài mãi cho đến ngày nay Sách
“Địa lý các huyện, thành phố, thị xã tỉnh Nghệ An” có viết: “năm 1469, hiệuQuang Thuận thứ 10, vua Lê Thánh Tông cùng với việc hợp nhất Diễn Châu
và Hoan Châu thành Nghệ An Thừa tuyên thì đồng thời bỏ tên huyện NhaNghi mà chia thành hai huyện Hưng Nguyên và Nghi Xuân Tên huyện HưngNguyên ra đời từ đó” [16;231]
Sách “Tiếng Việt trong lòng đất và trên mặt đất” cũng viết: “Địa danh
huyện Hưng Nguyên ra đời từ năm 1469 triều Lê Thánh Tông” [15;49].
Trang 33Có lẽ, để đánh dấu một thời đại mới hưng thịnh triều Lê ngay trênmảnh đất mà quân Minh xâm lược từng đóng quân gây không biết bao nhiêutang tóc cho dân tộc và người dân xứ Nghệ, mà vua Lê Thánh Tông đã quyếtđịnh đặt tên là Hưng Nguyên Hưng có nghĩa là nổi lên, làm cho thịnh vượng
và đổi mới, phát triển Nguyên là bắt đầu - mở đầu một thời kỳ mới Tên gọinày giàu ý nghĩa triết học và nhân văn, đó là ngọn nguồn cháy mãy, hưngthịnh và phát triển và đã 540 năm trôi qua, tên gọi Hưng Nguyên vẫn đượccác triều đại, các bậc tiền nhân và các thế hệ cư dân Hưng Nguyên trân trọng,nâng niu, giữ gìn đến tận ngày nay So với nhiều vùng đất khác ở Nghệ An,việc địa danh Hưng Nguyên tồn tại cho đến nay là một điều hiếm
Và kể từ khi có địa danh Hưng Nguyên trên bản đồ Nghệ An, địa giớihành chính và diện tích tự nhiên của Hưng Nguyên có nhiều biến đổi
Vào năm 1490, vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng Đức thứ 21) đổitên từ Nghệ An Thừa tuyên thành xứ Nghệ An (gọi tắt là xứ Nghệ) đồng thờivới các đơn vị hành chính khác lúc bấy giờ như: Xứ Kinh Bắc, xứ Thanh Hoá,
xứ Lạng Sơn…Xứ Nghệ lúc bấy giờ gồm 8 phủ: Phủ Đức Quang, quản lĩnh 6huyện, phủ Anh Đô quản lĩnh 2 huyện, phủ Diễn Châu quản lĩnh 2 huyện, phủ
Hà Hoa quản lĩnh 2 huyện, phủ Trà Lân quản lĩnh 4 huyện, phủ Quỳ Châuquản lĩnh 2 huyện, phủ Ngọc Ma quản lĩnh 1 châu, phủ Lâm An quản lĩnh 1châu Hưng Nguyên trực thuộc phủ Anh Đô
Trong suốt thời nhà Lê, trị sở Nghệ An vẫn được đặt tại Lam Thành Sơn.Thời Lê, vua Lê đã quan tâm nhiều mặt đối với công cuộc xây dựng lạiđất nước, phát triển kinh tế và ổn định đời sống nhân dân Thời kỳ này, HưngNguyên đất rộng người thưa được chia nhỏ thành nhiều xã, thôn…trên nhiềuvùng đất khác nhau (đất đồng bằng, đầm phá, đất bãi ven sông, đất rú,…)lượn vòng vèo từ ven sông Lam lên vùng Hương Cái, Hương Tích ra đếnBiển Xá Biển Hiền,…Lúc bấy giờ, trấn Nghệ An gồm 9 lộ, phủ, 25 huyện, 3
Trang 34châu, 479 xã Vào đầu thế kỷ XV, huyện Hưng Nguyên có 42 xã, 3 thôn, 3 sở,
2 giáp Ở các xã có quan về sau đổi là xã trưởng Xã trưởng là những ngườithừa hành ở cơ sở nắm giữ cả việc hành chính và tư pháp, do các xã cử ra vàđược chính quyền trên chấp nhận
Với vị trí quan trọng hiểm yếu, Hưng Nguyên được vua Lê chọn làmdoanh trấn Nghệ An, trung tâm kinh tế, chính trị trong trấn Các vị đứng đầu
là hiệp trấn (sau đổi là Thừa Tuyên) đều là các bậc khoa bảng, ít nhiều có hiểubiết về quốc kế dân sinh…Trong suốt thời Lê Sơ, trị sở Nghệ An vẫn đượcđặt ở Lam Thành – Phù Thạch (thuộc huyện Hưng Nguyên) Núi Lam Thànhđứng bên tả ngạn sông Lam, trên địa phận các xã Nghĩa Liệt, Phú Điền nay làcác xã Hưng Lam, Hưng Phú, Hưng Khánh, huỵên Hưng Nguyên Xưa dângian gọi núi này là Rú Rum và sông Lam là Rào rum Rú Rum – Lam Sơnnhưng do trên núi có ngôi thành cổ nên gọi là Lam Thành hoặc núi Thành,
Từ bao đời nay, Lam Thành đã được xem là một thắng địa…”Phíatrước núi có sông Lam chảy quanh, và có sông La, sông Minh chảy vào…lênnúi trông xa thì thấy phía Tây có núi Hùng Lĩnh và núi Đại Huệ, phía Bắc cónúi Đại Hải và núi La Nham, phía Nam có núi Thiên Nhẫn và núi Hồng Lĩnh,phía Đông có núi Kim Nguyên và núi Dũng Quyết, đều chầu về núi này.Nước sông trong sạch, cây cối tốt tươi, phố gần thôn xa, phong cảnh như cũ,thật là một nơi danh thắng ở xứ Nghệ” [26;120]
Ngọn núi này đã gắn với Lỵ sở Nghệ An trong một thời gian dài, gắnvới bao thăng trầm, phế truất của vùng đất Hoan Diễn và Hưng Nguyên, đãtừng chứng kiến bao sự kiện lịch sử và văn hoá của cả xứ Nghệ và HưngNguyên Theo giáo sư Đào Duy Anh, “Lam Thành không chỉ là lỵ sở của phủ(rồi trấn) Nghệ An mà còn cho rằng Lam Thành là lỵ sở của châu, huyệnNghệ An suốt từ đời Hán cho đến hết đời đường” [17;38] vào thời nhà Minh,Nghệ An được đổi làm phủ, phù trị được đặt ở Lam Thành Đến thời Lê sơ, lỵ
Trang 35sở của Nghệ An vẫn được đặt tại Lam Thành – Phù Thạch Điều này cho thấy
sự nhìn nhận tiếp nối của các triều đại trước đó cũng như vị trí quan trọng củaLam Thành sơn đối với lịch sử dân tộc Ở đây có điều kiện tự nhiên thuận lợi,địa hình bằng phẳng, giao thông đi lại dễ dàng, là nơi có thể chống cự lạiđược với cuộc tấn công từ bên ngoài Cho nên, nhà Lê tiếp tục chọn địa điểmnày để xây dựng lỵ sở cho bộ máy quan lại giúp việc cho triều đình
Trị sở nghệ An đặt tại Lam Thành Sơn nên ở đây có dinh trấn thủ, dinhthừa chính, sinh Hiến sát và có các vệ sở khác, có trường thi Hương Trườngthi Hương Nghệ An lập ra vào đời Lê Thái Tông Sĩ tử Thanh Hoá cũng vàothi Hương ở trường thi này Đây là cái nôi kén chọn nhân tài, tuyên dương cácnhà khoa bảng ở bậc trung khoa không chỉ cả xứ Nghệ mà cả xứ Thanh Lúcbấy giờ, ở đây có phố Phù Thạch và triều khẩu là vùng “kẻ chợ” giao tiếpbuôn bán với người tứ xứ Phố Phù Thạch là một trong những đô thị thuộcloại lớn nhất ở nước ta Phố Phù Thạch nằm bên nửa ngạn sông Lam thuộclàng Vĩnh Đại, huyện La Sơn (nay là xã Đức Vĩnh, huyện Đức Thọ, tỉnh HàTĩnh) Phố Phù Thạch ở phía dưới Lam Thành (nay thuộc huyện HưngNguyên) ở bờ bắc, đối diện ở phía bờ Bắc là Trường thi Hương của Nghệ Anxưa
Sách “Nghệ An ký” chép rằng: “…trước, đất mé sông Lam rất rộng,
sông La ở La Sơn, sông Minh Hương ở Thiên Lộc chảy vào chỗ ấy, chỗ sôngMinh chảy vào có đá nổi, phía Đông có bến đò gọi là bến đò Phù Thạch Trênbến đò có phố buôn bán của khách trú Nhà cửa san sát, thuyền bè tấp nập.Tên phố là Phù Thạch Phố” [26;73]
Từ thế kỷ XIII, XIV đời trần, Phù Thạch đã là thắng địa có tiếng ở xứNghệ Trong bài thơ “Qua đò Phù Thạch”, Hoàng Giáp Nguyễn Trung Ngạnđời Trần có mô tả:
Trang 36“Trào sinh, trào lạc đông tây thuỷ
Vân hợp, vân khai thượng hạ san Ngư đỉnh phù trầm yên cảnh ngoại Tăng gia ân ước hoạ đồ gian”
(Thuỷ triều lên xuống phía Đông phía TâyMây hợp mây tan ở trên núi dưới núiThuyền chài chìm nổi ngoài cảnh khói mù)Nhà chùa lờ mờ trong khoảng tranh vẽ” [9;193]
Sách ‘Đại Nam nhất thống chí” cũng miêu tả cảnh thơ mộng của PhùThạch: “…Ở đây nước sông trong mát, cây cỏ tươi xanh, gần có phố, xa cóthôn, phong cảnh như tranh vẽ là nơi danh thắng ở Châu Hoan” [9;193]
Nhìn chung, thời Lê Sơ, Lam Thành sơn ở Hưng Nguyên đã trở thànhmột trung tâm về mặt địa lý của cả xứ Nghệ, là trị sở, trung tâm kinh tế, chínhtrị, văn hoá của cả vùng Với vị trí hiểm yếu quan trọng, trấn lỵ Lam Thành
đã được nhiều vị vua chú ý đến, trong đó sử sách có chép về vua Lê ThánhTông: “Nguyên chú bài Thập nhị nguyệt sơ tứ nhật (ngày mồng bốn tháng
chạp) trong tập thơ “Chinh tây kỷ hành” của Vua Lê Thánh Tông cho biết:
Canh ba đoàn thuyền tiến vào kênh Hoa Cái, canh tư đến cửa kênh, rạng sáng
ra sông lớn (sông Lam) Đi vài dặm nữa tới chân thành Nghệ An đóng quân,ngắm nhìn núi sông, nhà thơ làm bài thơ tức cảnh, cụ Hoàng Xuân hãn tríchdịch:
“Hồng Đức cuối đông ngày mồng bốn
Tạm nghỉ cờ tinh Nghệ An Thành Cửa biển Đan Nhai triều nhộn nhịp Đỉnh non tuyên nghĩa bóng chênh vênh” [35;18]
Vào thời Lê Sơ, công cuộc khai hoang phục hoá của nhân dân cũngđược đẩy mạnh, nhất là ở những vùng ven biển và trung du Do đó, nhiều làng
Trang 37mới được thành lập và đồng ruộng được mở mang thêm Diện tích đất nướctrong đó có diện tích Nghệ An được mở rộng Địa giới Hưng Nguyên cũng có
sự thay đổi Lê Khôi - Một công thần quốc thích được nhà Lê cử làm tổngtrấn Nghệ An (năm 1433), là một trong những người có công đứng ra chiêudân khẩn hoang lập làng Sau nhiều lần đi chinh phạt quân ChămPa, Lê Khôi
đã đưa về đây một số lượng lớn tù binh người ChămPa Ông cho họ khaihoang dải đất phù sa sông Lam dưới chân Lam Thành lập nên 5 làng: Quảng
Dụ, Nghĩa Liệt, Vệ Chính, Khánh Sơn và Triều Khẩu
Nhà Lê đến đời Lê Hiến Tông (1498 - 1504) thì suy yếu Các vua kếtiếp sau thích chơi bời, ham mê tửu sắc, không lo triều chính…dẫn đến triềuđình rối ren, các thế lực phong kiến địa phương nổi lên Các phe phái phongkiến tranh giành quyền bính gây nên nội chiến và dẫn đất nước đến thảm hoạ
bị phân chia Đó là tình trạng phân chia và hỗn chiến giữa Lê - Mạc (hay Nam
- Bắc triều)và Trịnh - Nguyễn (hay Đàng Trong – Đàng Ngoài) Cùng vớinhững biến động của dân tộc, Hưng Nguyên cũng xảy ra nhiều biến độngnghiêm trọng Trong thế kỷ XVI và thế kỷ XVIII, hai cuộc chiến tranh Trịnh -Mạc và Trịnh - Nguyễn từ phía Bắc hay phía Nam tới quần nhau trên đấtNghệ An, biến đất Hưng Nguyên thành một trong những vùng chiến địa
Trong chiến tranh Nam - Bắc triều (1533 - 1592) “trong khoảng từnăm 1570 – 1587, nhà Mạc đã 13 lần mang quân vào Thanh Nghệ Theo sửchép và truyền thuyết trong dân thì hai phía quân Lê - Mạc đánh nhau ở vùngCảo Trình rồi đến Rào Gang và có lần quân Mạc đã chiếm Lam Thành”[5;29] Cũng trong thời gian này, đạo quân (phò Lê) của tướng Đinh Bạt Tuỵcùng quần nhau với quân mạc trên đất Hưng nguyên và các nơi khác cho đếnkhi đánh đuổi quân Mạc ra khỏi Nghệ An Vùng đất Hưng Nguyên biến thànhmột bãi chiến trường
Trang 38Cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa Lê và Mạc tạm dứt chưađược bao lâu thì lại diễn ra cuộc hỗn tranh giữa hai tập đoàn phong kiến TrịnhNguyễn Trong 45 năm (1627 - 1672), hai bên đánh nhau 7 lần, cuối cùngkhông bên nào thôn tính được bên nào Sông Gianh (Quảng Bình) trở thànhgiới tuyến tạm thời Thời gian ấy xứ nghệ có câu:
“Giặc ra thuyến chúa lại vào,
Cửa nhà lại phá, hầm hào lại xây”
Trong 7 lần ấy, có một lần vào tháng 3 năm 1655, quân Nguyễn hùngmạnh hơn, đẩy quân Trịnh ra mãi bờ Bắc sông Lam Sông Lam bỗng trởthành chiến tuyến, giới tuyến trong những năm 1655 – 1660
Hưng Nguyên, nằm bên tả ngạn sông Lam, sát chiến tuyến nên luôn bịtàn phá trong suốt thời gian chiến tranh diễn ra Trong thời gian 8 năm (1655 -1663) chiến tranh liên tục diễn ra trên đất Nghệ Tĩnh suốt từ Đèo Ngang đếntận bờ sông Lam Riêng chiến dịch năm 1655, quân Nguyễn vượt Đèo Ngangchiếm dinh Cầu (Hà Tĩnh) rồi chiếm luôn 7 huyện ở bờ nam sông Lam, đónggiữ trong 7 năm Khoảng thời gian đó, quân Nguyễn có những phen vượtsông Lam càn quét vùng Hưng Nguyên Chúng bắt một số dân vào khai phá ởBình Định Một người trong dố đó là Hồ Phi Khang ở thông Trăng Vương(nay thuộc xã Hưng Đạo) Vào ấp Tây Sơn, Phi Khang đổi sang họ Nguyễn
Đó là tổ 3 đời của 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ Lúcbấy giờ, dinh trấn thủ ở Rú Thành có thời gian phải chuyển tới Vĩnh Yên (tứcVinh ngày nay) gọi là Vĩnh dinh “Thời Ninh quận công trịnh toàn vào làm tả
đô đốc thống lĩnh chư dinh, một loạt thành ở bờ Bắc sông Lam cả cũ lẫn mới
đều được xây dựng, bồi đắp vững chắc, trong đó có cả thành Nghệ An ở Lam
Thành Sơn, nhân dân cũng thường gọi là Thành ông Ninh” [17;173]
Trong suốt thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, Hưng Nguyên đã diễn rabao biến cố lịch sử với những cuộc chiến đẫm máu, giằng co, bao tai hoạ đã
Trang 39giáng xuống đầu người dân, nhà cửa hoang tàn, thôn xóm xơ xác Địa giớihành chính Hưng Nguyên có sự biến động Nhưng, Lam Thành (thuộc HưngNguyên) vẫn được chọn làm lỵ sở Nghệ An Cho đến nay, địa vực các xã thôn
ở Hưng Nguyên trong thời gian này vẫn chưa được xác định rõ
2.1.2 Thời Tây Sơn:
Vào giữa thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến ở Đàng Trong cũng nhưĐàng Ngoài bước vào giai đoạn khủng hoảng suy tàn Trong nước, nhiềucuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra Các cuộc khởi nghĩa cuối cùng đều thấtbại Nhưng nó đã làm mọt rỗng, suy yếu nền thống trị của giai cấp phongkiến, tạo điều kiện cho phong trào nông dân Tây Sơn do ba anh em NguyễnNhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo vào năm 1771 giành được thắng lợi.Sau khi làm chủ Đàng Trong, năm 1778 Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đếthành lập vương triều nhưng không làm được gì thêm Đến cuối năm 1788,trước khi xuất quân lên đường ra Bắc chiến đấu chống quân Thanh xâm lược,Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế chính thức xây dựng vương triều mới thốngtrị trên vùng đất từ Thuận Hoá trở ra Bắc
Và trong suốt thời Tây Sơn, địa giới hành chính Hưng Nguyên ít có sựbiến đổi Các đơn vị hành chính vẫn giữ nguyên như thời Lê, lỵ sở Nghệ Anvẫn được đóng tại Lam Thành – Phù Thạch Tuy nhiên, vào thời gian này, tạivùng đất Hưng Nguyên lại diễn ra biết bao sự kiện trọng đại gắn liền với têntuổi của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ
Trong phong trào nông dân Tây Sơn, năm 1786 nhân dân Hưng nguyên
và cả Nghệ An đã giúp Nguyễn Huệ hạ thành Nghệ An (còn gọi là TriềuKhẩu) không tốn một mũi giáo nào Trên đường ra Bắc giết Vũ Văn Nhậm về,Nguyễn Huệ đã mời Nguyễn Thiếp, một danh sĩ nổi tiếng đang ở ấn đến hộikiến và nhờ ông chọn đất lập đô Nguyễn Huệ muốn dời đô từ Phú Xuân raNghệ An Vì theo Nguyễn Huệ “chỉ đóng đô ở Nghệ An là độ đường vừa cân,
Trang 40vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc, và sẽ làm cho người vốnphương đến kêu kiện tiện việc đi về” [38;32] Ý định ban đầu của vua QuangTrung là dựng quốc đô ở Phù Thạch, Hưng Nguyên Vua Quang Trung yêucầu “ Cho phu tử nên sớm cùng ông Trần Thủ Thận tính toán mà làm việcxem đất đóng đô tại Phủ Thạch” [38;30] Vì ở đây có vị trí khá hiểm yếu, cóthể làm nơi bố trí phòng thủ chống giặc khá tốt Bởi phía trên bến đò PhùThạch là ngã 3 sông (đời Lê gọi là ngã 3 Phủ) nơi hợp của 3 sông: Sông Ngàn
Cả, Sông La và sông Lam Tại ngã ba này đã xảy ra nhiều biến cố lịch sử nhưthời Trịnh Nguyễn phân tranh đã đánh nhau ác liệt tại đây Mặt khác, bêncạnh Phù Thạch là Núi Thành có thể quan sát thế trận tốt Nếu người cầmquyền có tài bài binh bố trận tốt thì có thể dựa vào địa thế song núi này đểlàm thế chủ động trong việc chống giặc
Nhưng La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã khuyên nên chọn vùng đấtgiữa núi Kỳ Lân và núi Phượng Hoàng để xây dựng Phượng Hoàng Trung Đôkhông nên chọn Phù Thạch Vì “La Sơn Phu Tử bảo chỗ Phù Thạch chật hẹp,
kề cận núi sông, bờ sông thì hay bị lở” [38;97] Qua đó, ta có thể thấy vị tríquan trọng chiến lược của vùng đất Lam Thành – Phù Thạch, Hưng Nguyên
Với vị trí quan trọng hiểm yếu, vua Quang Trung cũng đã chọn LamThành làm nơi tuyển quân, duyệt binh Tháng 10 (âm lịch)/1788, 29 vạn quânThanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy ồ ạt kéo sang xâm lược nước ta Được tin cấpbáo, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế rồi kéo đại quân ra Bắc Đến “Thángchạp năm Mậu Thân (1788), vua Quang Trung cùng ba quân xuất hiện trênđất Triều Khẩn – Phù Thạch, quần chúng Nghệ An vô cùng phấn khởi Mộttrong những việc đầu tiên là tuyển quân sung vào đạo binh của Tây Sơn để
dẹp loạn ở phía Bắc” [38;32] Tại đây, Quang Trung dừng lại 10 ngày để
tuyển thêm quân và hội kiến với Nguyễn Thiếp để hỏi kế hoạch đánh quânThanh Quang Trung đã giao cho tướng Hàm Hổ Hầu tổ chức cứ 3 suất định