Chính vì vậy, trong quá trình hình thành và phát triển Nhà nớc cũng nh trong quá trình định hình bản sắc văn hoá của các dân tộc ở Đông Nam á, các quốc gia ở khu vực này hoặc tiếp thu ch
Trang 1Trờng đại học Vinh
khoa lịch sử -@
-từ khi tôi nhận đề tài cho đến lúc hoàn thành.
Tôi trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, Tổ lịch sử thế giới – ờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện và thời gian giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
Tr-đề tài này.
Trang 2Qua đây tôi xin cảm ơn tới các bạn sinh viên cùng lớp và các bạn bè giúp đỡ
tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài Xin chân thành cảm ơn các cán bộ ở
th viện: Th viện Trờng Đại học Vinh, Trờng Đại học khoa học xã hội & nhân vân,
Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, …
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tài liệu và khả năng nghiên cứu của bản
thân nên khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự chỉ dẫn và
góp ý xây dựng của quý Thầy Cô, bạn bè để khoá luận hoàn chỉnh hơn.
1.1 Vài nét khái quát lịch sử ấn Độ và nguồn gốc văn hoá - Văn minh ấn Độ cổ
1.2 Một số thành tựu chủ yếu của văn hoá ấn Độ cổ đại 8
2.1 Vài nét khái quát lịch sử và nguồn gốc văn hoá - văn minh Trung Quốc cổ đại 192.1.1 Vài nét khái quát lịch sử Trung Quốc cổ đại 192.1.2 Nguồn gốc của văn hoá - văn minh Trung Quốc 292.2 Một số thành tựu chủ yếu của văn hoá - văn minh Trung quốc cổ đại 31
Trang 3Chơng 3: ảnh hởng của Văn hoá ấn Độ và Trung Quốc cổ đại đối với
3.1 Điều kiện địa lý và sự xuất hiện các quốc gia ở khu vực Đông Nam á trong
3.1.1 Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam á 44
3.2 ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối với Đông Nam á 493.2.1 Quá trình lan toả và thâm nhập của văn hoá ấn Độ đến khu vực Đông Nam á 493.2.2 Nội dung ảnh hởng của văn hoá ấn Độ ở Đông Nam á 533.2.3 Một số nhận xét chung về ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối với Đông Nam á 653.3 ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối với văn hoá Đông Nam á 663.3.1 Nội dung ảnh hởng của văn hoá Trung Quốc đối với Đông Nam á 663.3.2 Một số nhận xét chung về ảnh hởng của văn hoá Trung Quốc đối với Đông
Đông Nam á là khu vực nằm giữa 2 trung tâm văn minh lớn của nhân
loại trong thời kỳ cổ đại - Đó là trung tâm văn minh ấn Độ và trung tâm văn
minh Trung Quốc Chính vì vậy, trong quá trình hình thành và phát triển Nhà
nớc cũng nh trong quá trình định hình bản sắc văn hoá của các dân tộc ở Đông
Nam á, các quốc gia ở khu vực này hoặc tiếp thu chịu ảnh hởng của trung tâm
này hoặc tiếp thu chịu ảnh hởng cuả trung tâm văn minh khác, có những quốc
gia chịu ảnh hởng của cả hai nền văn minh ấy
Văn minh ấn Độ đợc hình thành và phát triển trên lu vực của hai dòng
sông lớn: Sông ấn (Indus) và Sông Hằng (Ganga)
Đó là sự xuất hiện từ rất sớm cuả nền văn minh Sông ấn của ngời bản
địa Đravida Tiếp sau đó là sự ra đời và phát triển rực rỡ của nền văn minh
Sông Hằng mà chủ nhân của nó là ngời Aria
Văn minh ấn Độ đợc coi là một trong những trung tâm văn minh lớn,
đã có nhiều đóng góp vào kho tàng văn hoá và văn minh nhân loại Văn minh
Trang 4ấn Độ đã đạt đợc nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực nh chữ viết, văn học,khoa học, nghệ thuật, đặc biệt là tôn giáo và triết học.
Văn minh Trung Quốc đợc hình thành và phát triển trên lu vực của 2con sông lớn: Sông Hoàng Hà (dài 4.000 km) ở phía bắc và Sông Trờng Giang(còn gọi là Sông Dơng Tử dài 5.000 km) ở phía nam
Cùng nh ấn Độ, văn minh Trung Quốc đợc coi là một trong nhữngtrung tâm văn minh lớn, đã có nhiều đóng góp vào kho tàng văn hoá và vănminh nhân loại Văn minh Trung Quốc đã đạt đợc nhiều thành tựu trên tất cảcác lĩnh vực nh chữ viết, văn học, sử học, khoa học, đặc biệt là trên lĩnh vực ttởng
Nói về ý nghĩa khoa học, việc tìm hiểu những thành tựu chủ yếu của 2nền văn minh ấn Độ và Trung Quốc cổ đại cũng nh ảnh hởng của nó đối vớivăn hoá Đông Nam á là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, giúp cho chúng ta có nhậnthức đầy đủ và chính xác về quá trình định hình bản sắc văn hoá của mỗi dântộc cũng nh những nét chung về văn hoá của các quốc gia Đông Nam á
Cùng thông qua việc tìm hiểu này cho phép chúng ta rút ra những bàihọc bổ ích cho thực tiễn hôm nay, nhất là khi Việt Nam đang trên con đờnghội nhập khu vực cũng nh hội nhập Quốc tế
2 Lịch sử vấn đề :
Liên quan đến nội dung của đề tài, từ trớc tới nay đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nớc, vì còn hạn chế về khảnăng ngoại ngữ cho nên chúng tôi cha có điều điều kiện để tiếp cận với cáccông trình nghiên cứu bằng tiếng nớc ngoài Thông qua một số công trìnhnghiên cứu đã đợc dịch thuật và của các tác giả Việt Nam, chúng tôi tập trunggiải quyết những nội dung mà đề tài đặt ra
- Trong cuốn Một số chuyên đề lịch sử thế giới do tác giả Vũ Dơng
Ninh (chủ biên), NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2002 Đã đề cập đến vị trí địa
lý, điều kiện tự nhiên, nguồn gốc của văn minh ấn Độ, văn minh Trung Quốc
cổ đại và văn hoá khu vực Đông Nam á
- Trong cuốn Đại cơng lịch sử văn hoá Trung Quốc, của NXB Văn hoá
Thông tin đã đánh giá và nêu lên mối quan hệ giao lu văn hoá Trung Quốc
đối với thế giới nói chung và văn hoá Đông Nam á nói riêng
- Trong cuốn Lịch sử trung đại thế giới, quyển 2: Phần Phơng Đông,
NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 1984 Đã có đề cập đếnquá trình hình thành, phát triển của các quốc gia Đông Nam á
Ngoài ra, vấn đề này còn đợc đề cập trong một số bài viết đăng trên cáctạp chí, báo, và một số luận văn sau Đại học, luận văn tốt nghiệp…
Trang 5Từ những t liệu nêu trên, chúng tôi chọn đề tài Những thành tựu chủ“Những thành tựu chủ
yếu của văn ấn Độ, văn hoá Trung Quốc cổ đại và ảnh hởng của nó đối với văn hoá Đông Nam á” làm khoá luận tốt nghiệp mong đợc đóng góp một
phần nào nào đó để hiểu rõ, hiểu sâu về lịch sử ấn Độ, Trung Quốc và ĐôngNam á, phục vụ tốt cho công việc nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử các khuvực này
3 Đối t ợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Khi nghiên cứu đề tài “Những thành tựu chủnhững thành tựu chủ yếu của văn hoá ấn Độ,
văn hoá Trung Quốc cổ đại và ảnh hởng của nó đối với văn hoá Đông Nam
á” là một vấn đề khó và phức tạp nó đòi hỏi phải có trình độ và thời gian Bởivì tài liệu ít và còn rất rải rác cho nên rất khó cho việc xử lý tài liệu Hơn nữa
do thời gian ít và trình độ còn hạn chế, chúng tôi cố gắng làm rõ những vấn đềsau:
Về nội dung: Nghiên cứu những thành tựu chủ yếu của văn hoá ấn Độ,văn hoá Trung Quốc cổ đại và ảnh hởng của nó đối với khu vực Đông Nam á
Về mặt thời gian: Nghiên cứu trong thời kỳ cổ đại
4 Ph ơng pháp nghiên cứu:
Với đặc trng của khoá học lịch sử, để giải quyết những nội dung đề tài
đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng 2 phơng pháp: Phơng pháp lô gích và phơngpháp lịch sử
Ngoài ra, trong quá trình xử lý t liệu, chúng tôi còn kết hợp sử dụng một
số phơng pháp khác nh: So sánh, thống kê, tổng hợp, phân tích…
5 Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận
Khái quát những thành tựu chủ yếu
của văn hoá ấn độ cổ đại
Trang 6
-1.1: Vài nét khái quát lịch sử ấ n Độ và nguồn gốc văn hoá văn minh ấn Độ cổ đai.
ấn Độ cổ đại hình thành và phát triển trên bán đảo Hindustan (tiểu lục
địa), Tây, Đông, Nam đều giáp biển phía Bắc gắn với cổ đại, bởi dãyHymalays Bây giờ bán đảo ấy là lãnh thổ của 5 quốc gia ấn Độ, Pakisan,Butan, Nepan, Bangladet
- Về điều kiện tự nhiên: Bán đảo này đợc chia làm 3 vùng
+ Vùng phía bắc là dãy núi cao Hymalaya quanh năm tuyết phủ (là nơi
c trú của các vị thần)
+ Vùng tây bắc là và đông bắc ấn Độ Tây bắc là lu vực sông Indus(còn đợc gọi là vùng 5 sông tiếng ấn gọi là Pungiap Đây cũng chính là nơiphát sinh ra nền văn minh tố cổ - đó là nền văn minh Sông Ngân
Đông bắc là vùng lu vực sông hằng (gọi là Ganga theo tiếng ấn Độnghĩa là dòng sông thiêng Đây cũng chính là nơi phát sinh ra một nền vănminh cổ – nền văn minh sông Hằng Gọi là thời kỳ Veda Đây cũng chính làkhu vực địa lý vô cùng quan trọng nhất trong sự hình thành và phát triển củavăn minh ấn Độ
+ Vùng phía Nam chủ yếu là Cao Nguyên Đecan Đây là cao nguyênrộng vào loại rộng lớn nhất thế giới ở khu vực này chỉ có 2 dãi hẹp nằm sátbiển phía đông và phía tây có điều kiện tơng đối thuận lợi cho phát triển kinh
tế nông nghiệp chính vì vậy lợng dân c cũng tơng đối đông đúc đã góp phần ítnhiều làm cho văn minh ấn độ phong phú đa dạng hơn
Độ đa xắc diện
- Về quá trình lịch sử.
+ Thời kỳ văn minh sông ấn: Văn minh Harapha – Mohendodaro
Trang 7Trớc đây hầu nh các nhà nghiên cứu đều không nghĩ tới có sự tồn tạicủa một nền văn minh tối cổ trên lu vực sông ấn Nhng kết quả của các cuộckhai quật khảo cổ 1921 với việc phát hiện ra văn minh Harapha –Modendodaro thì các cứ liệu về văn minh tối cổ tơng đối rõ ràng.
Theo các nhà nghiên cứu, nền văn minh này tồn tại từ khoảng thiên niênthế kỷ thứ III đến giữa thiên niên kỷ thứ II trớc công nguyên, chủ nhân là ngờibản địa Dravida Các phát triển khảo cố học cho thấy trình độ kinh tế xã hội t-
ơng đối phát triển Đặc biệt thời kỳ này đã sáng tạo ra chữ viết Duy chỉ cómột vấn đề cho đến nay vẫn cha đợc làm sáng rõ là tại sao nền văn minh nàyphát triển rực rỡ nh vậy, nhng nhanh chóng lùi tan ?
Có ngời cho rằng do bão lụt
Do chính ngời Arian thủ tiêu (ý kiến này ít đợc ủng hộ)
+ Thời kỳ văn minh sông hằng (thời kỳ Veda)
Từ đầu thiên niên kỷ II trớc công nguyên đến giữa thiên niên kỷ I trớccông nguyên Chủ nhân của nền văn minh này là ngời Arian (ngời cao quý)
đây là thời kỳ ở ấn Độ xuất hiện 2 vấn đề quan trọng có tác động rất to lớn
đối với sự hình thành và phát triển của văn minh ấn Độ Đó là sự ra đời củacác công xã nông thôn và sự ra đời của chế độ đẳng cấp
Từ thế kỷ IV trớc công nguyên đến thế kỷ II trớc công nguyên, một đếquốc rộng lớn đầu tiên bao trùn cả niềm bắc ấn Độ đã đợc vơng triều Moria(321 –184 trớc công nguyên) tạo dựng nên Nền văn minh của ấn Độ cổ đạibắt đầu ảnh hởng xuống miền nam ấn Độ và ra bên ngoài Sau khi vơng triềuMoria sụp đổ, ấn Độ bị phân xẻ làm nhiều quốc gia nhỏ, trong đó có một sốvùng bị ngời ngoại tộc thống trị (tộc Saka lập ra vơng triều Kusana ở miền bắc
ấn Độ) Một số yếu tố văn hoá ngoại lai (Hylap, Trung á) du nhập vào nềnvăn hoá ấn Độ, làm cho nền văn hoá ấn Độ cổ đại thêm phong phú và phổbiến rộng rãi Từ thế ký IV, khi vơng triều Gupta (320 – 525) khôi phục lạinền cho ấn Độ và xây dựng nên một đế quốc rộng lớn bao gồm phần lớn bán
đảo ấn Độ thì nớc này bắt đầu bớc vào thời trung đại
- Về kinh tế:
Nền kinh tế chủ đạo của ấn Độ cổ đại là nền kinh tế nông nghiệp trồnglúa nớc Tham gia vào hoạt động kinh tế này chiếm 90% dân số, họ chính lànông dân Cũng giống nh các quốc gia phơng đông khác, kinh tế nông nghiệpcủa ấn Độ mang tính chất tự cấp tự túc và phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên.Chính vì vậy những ngời nông dân ấn Độ luôn mong muốn có những vị thầnbảo hộ cho việc làm ăn của mình Đó cũng là cơ sở để lý giải vì sao ở ấn Độ
Trang 8xuất hiện rất nhiều vị thần và các vị thần đã trở thành biểu tợng trung tâm chonhiều lĩnh vực văn hoá, văn minh.
- Về chính trị – xã hội.
Xét về mặt chính trị, cũng giống nh các quốc gia phơng đông khác, ở
ấn Độ duy trì và phát triển chế độ chuyên chế trung ơng tập quyền (thời kỳ
đầu của vua ấn Độ đợc đợc gọi là Gaia Sau này vơng quyền kết hợp với thầnquyền nên vua đợc coi nh một vị thần) Nhng khác với các quốc gia khác là ởchổ lịch sử ấn Độ gắn liền với sự thống trị của các vơng triều ngoại tộc Vàchính điều đó đã có tác động rất lớn đối với quá trình hình thành phát triểncủa văn minh ấn độ
- Về mặt xã hội.
Có hai yếu tố lớn tác động đến xã hội ấn Độ là công xã nông thôn vàchế độ đẳng cấp
Công xã nông thôn: Ra đời rất sớm tồn tại dai dẳng
Sự xuất hiện sớm của công xã nông thôn có ý nghĩa tích cực, bởi vì nólàm cơ sở vững chắc cho Nhà nớc chuyên chế trung ơng tập quyền Nó tạo nênsức mạnh đồng bộ cho cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, cải thiện sản xuất.Nhng sự tồn tại dai dẳng cùng với những quy định có tinh chất bảo thủ củacác công xã nông thôn lại cản trở đối với việc phát triển sản xuất cũng nh đốivới sự phát triển của văn hoá
Chế độ đẳng cấp:
Xuất hiện trong thời Veda, có thể nói ấn Độ là một trong những nơi cóchế độ phân biệt đẳng cấp ngặt ngẹo nhất trên thế giới Đây cũng là một trongnhững yếu tố có tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển của văn minh
ấn Độ Chế độ đẳng cấp Vacna (chủng tính Vacna) đợc một tôn giáo cổ là đạoBalamon và một bộ luật cổ là Manu
Theo chế độ đẳng cấp Vacna xã hội đợc phân làm 4 đẳng cấp
Đẳng cấp Balamon (tăng lừ) đợc hởng nhiều đặc quyền đặc lợi là đẳngcấp có chức năng cai trị, nhiệm vụ chính là lo về mặt tinh thần
Đẳng cấp Kstoria (quý tộc võ sỹ) đây là đẳng cấp đợc hởng khá nhiều
đặc quyền đặc lợi và chính năng chính của nó là năm bộ máy lãnh đạo Nhà
n-ớc Mặc dù là đẳng cấp có vai trò và vị trí rất quan trọng trong hệ thống v ơngquyền nhng trong thực tế vẫn bị phân biệt so với đẳng cấp trên
Đẳng cấp Vaisia (bình dân) đây là đẳng cấp đông đảo nhất trong xã hội
đóng vai trò chính trong việc sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống xã hội,
nh-ng họ vẫn là đẳnh-ng cấp bị trị
Đẳng cấp Sudra (nô lệ) họ có thân phận nh là những ngời nô lệ
Trang 9Đặc biệt chế độ đẳng cấp này còn quy định về sự phân biệt chủng tộc:
Ba đẳng cấp trên là ngời Arian, có quyền theo đạo Balamon, đẳng cấp bốncủa ngời bản địa không có quyền theo đạo Balamon
Đồng thời nó còn kèm theo những quy định hết sức khắc khe: Đẳngcấp dới không đợc kết hôn với đẳng cấp trên Chính sự ngặt ngèo của chế độ
đẳng cấp đã làm cho văn hoá văn minh ấn Độ có nhiều góc cạnh Và đâycũng chính là cơ sở để hình thành một nền văn minh đa diện với nhiều lĩnhvực đan xen nhau
- Gia đình:
Cũng giống nh các quốc gia phơng đông khác gia đình ở ấn Độ đợc coi
là tế bào của xã hội, là cơ sở để xác lập trật tự xã hội Nhng khác với các quốcgia khác, trong cả một thời kỳ dài gia đình ở ấn Độ tồn tại chủ yếu là gia đình
đông tộc, trong một gia đình cùng chung sống nhiều thế hệ việc chung sốngtrong một gia đình nhiều thế hệ tạo điều kiện cho việc lu giữ những phong tụctập quán truyền thống, lối sống gia đình Đó chính là những yếu tố để lu giữ,phát triển văn minh
Tuy nhiên, sự tồn tại lâu dài của gia đình đồng tộc cũng đồng nghĩa vớiviệc lu giữ những thói quen có tính chất bảo thủ lạc hậu đối với sự phát triểncủa văn minh
Gia đình của ấn Độ là một trong những yếu tố có vai trò và vị trí rất lớntrong quá trình hình thành và phát triển của văn minh ấn Độ
1.2: Một số thành tựu chủ yếu của văn hoá ấ n Độ cổ đại.Ngời ấn Độ cổ đại đã để lại nhiều thành tựu văn hoá rực rỡ Nổi bậtnhất là những bộ kinh tôn giáo (kinh Vêđa, các bộ kinh của đạo Bàlamôn, của
đạp Phật …) Những tác phẩm văn học chữ Phạn (Sanscrit), chữ số, đền thápPhật giáo …
1.2.1: Chữ viết và Văn học.
- Chữ viết:
Chữ cổ nhất của ấn Độ, khắc trên các con dấu đợc phát hiện ở lu vựcsông ấn, đã có lịch sử từ hơn 2000 năm TCN Chữ này mất đi cùng với nềnvăn hoá sông ấn và không còn ai dùng, hoặc biết đọc chữ đó nữa
Dân bản địa cũng nh các bộ lạc nói ngôn ngữ ấn - Âu đến, từ giữ thiên
kỉ II TCN đến trớc năm 800 TCN, không có chữ viết
Trang 10Khoảng năm 800 TCN, bắt đầu xuất hiện chữ viết đợc khắc trên các đồvật Sớm nhất là chữ Kharoxthi, có nguồn gốc từ Aramaic ở Tây á, đợc dùng
ở Iran và ở vùng Tây Bắc ấn Độ Trên bán đảo ấn Độ, còn dùng rộng rãi chữBrami, có nguồn gốc từ chữ Sêmitic cũng ở Tây á
ít lâu sau, khoảng thế kỷ VII TCN, từ những chữ viết này, ngời ta cảibiên mẫu tự Devanagải để ghi chép ngôn ngữ ấn - Âu: chữ Phạm (sanxcrit) ra
đời
Nhng ở các địa phơng Bắc ấn, nhất là vùng Magađa, ngời ta ngày càngquen nói một thứ tiếng ấn - Âu đã chuyển hoá, cải biên, trở thành thổ ngữ(Prâkrita: thổ ngữ) Khi Đức Phật truyền đạo, Ngời dùng thổ ngữ này để mọingời dễ hiểu Sau đó, ngời ta lại cải biên và sáng tạo nên một hệ thống mẫu tựmới - đó là chữ Pali
So với chữ Sanxcrit, chữ Pali đơn giản hơn về âm tiết, biến cách, cúpháp và cả nét chữ
Chữ Pali đợc dùng để viết kinh Phật, nhng cũng vì thế mà ít đợc bổsung từ ngữ, ít cải biến và kém phát triển so với Sanxcrit
Khaoxthi và Brami vẫn đợc dùng mấy thế kỷ nữa, đặc biệt trong nhữngtrờng hợp giao tiếp và giao dịch Asôca cho dựng nhiều cột đá để ghi chép cácchiến công của mình, ở rải rác hầu khắp bán đảo ấn Độ Các cột này đợc khắcbằng chữ viết thông dụng ở địa phơng ở vùng Tây Bắc khắc chữ Kharoxthi, v-
ợt qua dãy Hinđucuc còn khắc cả chữ Hi Lạp, nhng ở miền Bắc và miền Nam
ấn khắc chữ Brami Rất nhiều con dấu và đồ trang sức đã đợc tìm thấy ở ấn
Độ và nớc ngoài, khắc bằng chữ Brami Việc I.Prinsep giải mã đợc chữ Brami(1837) đã giúp cho ngời thời đó đọc đợc các cột Asôca và rất nhiều chữ khắcrời nói trên Tuy nhiên, chữ Kharoxthi và Brami không có cơ hội phát triển vìkhông phải là ngôn ngữ và văn tự bản địa ấn Độ
Vì thế còn lại chữ Sanxcrit và tiếng Sanxcrit trở thành tiếng thông dụngchính thức ở ấn Độ từ thứ kỷ VI TCN cho đến khoảng thế ký X, trớc khi nótrở thành cầu nối chữ Sanxcrit với các ngôn ngữ tộc ngời hiện đại (Hindi,Bengali, Marathi, Panjabi…)
- Văn học:
Ngời ấn Độ cổ đại đã để lại hai bộ sử thi vĩ đại vừa có giá trị về vănhọc, vừa có giá trị về sử liệu (phản ảnh tình hình xã hội ở miền Bắc ấn Độ vàonhững thế kỷ đầu của Thiên niên kỷ I TCN), đó là bộ sử thi Mahabharata(Bharat vĩ đại) và Ramayana (những chién tích Rama)
Mahabrahata là một trờng ca dài 110.000 khổ thơ, kể lại cuộc tranhchấp ngôi báu của hai dòng họ vơng tộc, dòng Kauravas và dòng Pandavas
Trang 11Pandavas là dòng chính đợc kế ngôi, nhng dòng Kauravas là dòng thứ, dùngmọi mu kế để tranh ngôi, đã dẫn đến một cuộc chiến tranh huynh đệ tơng tàntrong suốt 18 ngày đêm Cuối cùng bên Padavas đã thắng nhng chỉ còn sótmỗi Bhisma lên ngôi còn bên Kauravas bị giết hết, không còn một ai Trờng
ca này mang tên là Mahabharata (Bharat vĩ đại), vì đây là truyện trong nội bộcủa vơng tộc Bharat Bharat là vị “Những thành tựu chủvua” đầu tiên của bộ lạc Bharat, một trongnhững bộ lạc đầu tien của ngời Arya xâm nhập vào ấn Độ Cuộc tranh chấpgiữa hai dòng ho Kauravas và Pandavas đều thuộc vơng tộc Bharat chứng tỏxã hội đã phân hoá, chế độ t hữu tài sản đã phát sinh và phát triển, t tởng cánhân chủ nghĩa đã dẫn đến sự tranh giành của cải, đất đai và quyền lực chínhtrị ngay trong nội bộ một vơng tộc Trờng ca Mahabharata là một bản anhhùng ca chiến trận của tyầng lớp Kshatriya, nhng, sự tích chiến trận chỉ chiếm20% số câu, phần còn lại mợn lời của các nhân vật để nói về thiết chế đẳngcấp, về lễ nghi, luật phát, về những nguyên tắc đạo đức … đặc biệt đợc đa vàocả một tác phẩm tôn giáo Bhagavadgita dài trên 700 câu thơ mà các tín đồ đạoHinđu sùng tín ngang với các kinh điển khác
Ramayana là một trờng ca dài 24.000 khổ thơ (cha bằng 1/4 trờng caMahabharata), kể lại những chiến tích của hoàng tử Rama, nớc Koshana(vùng trung lu sông Găng) Tại cuộc thi tài trong ngày hội kén chồng của côngchúa Sita, Rama đã giành đợc thắng lợi và cới Sita làm vợ Nhng đợc ít lâu sauthì vợ chồng Rama – Sita bị vua cha (vì nghe theo lời xúi bẩy của thứ phi)
đẩy vào rừng sâu, chịu đựng biết bao khó khăn vất vả ở trong rừng, Sita bị
“Những thành tựu chủvua quỷ” Ravana bắt về đảo Lanka (tức đảo Xâylan)) Rama lại phải vợt quabiết bao gian nguy, nhờ sự giúp sức của “Những thành tựu chủvua khỉ” Hanuman sang tận sàoHuyệt của lũ quỹ ở đảo Lanka, giành lại Siat, Rama chiến thắng trở về kinh đôlên ngôi vua Nhng hạnh phúc của vợ chồng Sita – Rama phải trải qua nhiềuthử thách vì lòng ghen tuông của Rama Cuối cùng, Sita đã xin Mẹ Đất trở vềvới luống cày là nơi nàng đã sinh ra Bộ sử thi Ramayana ra đời muộn hơn sovới bộ Mahayana, vào thời gian mà các quốc gia của ngời Arya đã đợc xâydựng vững chắc ở vùng lu vực sông Hằng (Găng) và đã bắt đầu diễn ra cáccuộc xung đột với các bộ lạc sống bằng nghề săn bắn, hái lợm ở vùng Nam ấn
mà tác giả bộ Ramayana gọi là “Những thành tựu chủlũ quỹ Ravana ở đảo Lanka”
Bên cạnh các bản anh hùng ca, còn có những tập truyện kể của tầng lớptăng lữ, nh tập Puranas của các tăng lữ Bàlamôn, gồm những truyện thần thoạihay hoang đờng, những truyện ngụ ngôn, những truyện liên quan đến lễ nghihay những quan niệm khác nhau của đạo Bàlamôn; tập Jatakas của tăng lữPhật giáo viết dới hình thức văn xuôi, thỉnh thoảng xen vào những đoạn văn
Trang 12vần, bằng tiếng Pali, gồm những truyện kể về cuộc đời và những tiền kóêp củaPhật tổ, cùng với những đức Phật và Bồ tát khác, thỉnh thoảng xen những bàithơ ngụ ngôn, thờng lấy truyện vật để răn ngời.
ở ấn Độ cổ đại còn thịnh hành những cuốn khảo luận về văn học, chínhtrị, kinh tế xã hội nh cuốn văn phạm(Asthadhiyayi) của Panini (thế kỷ VTCN), chỉnh lý cách kết cấu của những từ ngữ và âm thanh của tiếng Sanscric(Phạm ngữ) làm hoàn thiện ngôn ngữ này; cuốn Dharmasastra (chính phápluận), bàn về các lý thuyết của đạo lý, cùng những vấn đề có liên quan đếnphong tục, tập quán và những vấn đề xã hội khác; cuốn Arthasastra (luận vềthực lợi hay khoa học chính trị) của Hautilya (thế kỷ IV TCN) khảo về các
định chế chính trị, kinh tế, xã hội ở thơi vua Sanđra Gupta của vơng triềuMôrya; cuốn Kamasastra (Khoái lạc luận) bàn về các khoái lạc nhục thể,trong đó có miêu tả lại cuộc sống ăn chơi trác táng trong triều đình …v.v…
Ngoài ra, luật pháp thành văn ở ấn Độ cổ đại cũng ra đời sớm, nhnhững bản Pháp lệnh của vua Asôka (thế kỷ III TCN) đợc khắc trên cột đá; Bộluật Manu xuất hiện từ thế kỷ II TCN, pháp điển Narada ở thế kỷ III,Brihaspati ở thế kỷ IV v.v.v
1.2.2: Tôn giáo.
Khi ngời Arya (nói ngôn ngữ ấn - Âu) từ vùng Trung á xâm nhập vàomiền Bắc ấn Độ, thì họ đã chuyển dần từ đời sống du mục của xã hội thị tộcsang đời sống định c của xã hội công xã nông thôn Cuộc sống của ngời Aryathời kỳ này cùng với tín ngỡng, tôn giáo của họ đã đợc phản ánh trong bộ kinhVêđa (vì thế thời gian này còn gọi là thời đại Vêđa) Tôn giáo trong kinh Vêđa(hay đạo Vêđa) là tín ngỡng đa thần mang nhiều yếu tố tinh linh, tôn thờ lực l-ợng tự nhiên Trong kinh Vêđa đầu tiên có nói tới những tinh linh nh thần cây(Yakshas), rắn thần (Naga), khỉ thần (Hanuman), bò thần (Nandi)…, sau đó
mở rộng đến những lực vực tự nhiên nh Trời (Varuna), Đất (Prithvi), thần mabão, sấm sét (Indra), Lửa (Agni), gió (Vayu)…
Vào khoảng 800 năm TCN, xuất hiện một số bộ kinh mới nh Brahmana(Tế nghi th), Upanishad (áo nghĩa th …) là những tác phẩm tôn giáo đề caothần Brahma Brahma lúc đầu là một khái niệm trừ tợng, “Những thành tựu chủtinh tuý kinh hồncủa toàn thể vũ trụ, là bản thân chân lý hay chân nh, là bản ngã, là chính ngời”(Upanishad) Đến bộ kinh Brahmana, Brahma đã đóng vai trò thần tối cao,thần sáng tạo Thần Brahman đã sáng tạo ra bốn đẳng cấp (hay sắc đẳng –Varna) từ bốn bộ phận thân thể của thân Đồng thời, những quan niệm về sốphận, định mệnh cũng ra đời Mỗi ngời đều có cái Nghiệp (Karma) tức là sốphận của mình Cái Nghiệp đời nay lại do cái Kiếp trớc tạo ra, đó là luật Nhân
Trang 13quả hay luân hồi (Samsara) Ngời ta cứ phải chịu đựng hết kiếp này đến kiếpkhác Con ngời khao khát sự giải phóng hay giải thoát (Moksha), tức là thoátkhỏi kiếp luân hồi Tất cả sợi dây ràng buộc con ngời đó là quy luật tất yếu, làkhuôn khổ của cuộc sống không thể thoát ra đợc, gọi là Đạo pháp (Dharma).
Đạo Bàlamôn (Brahmanism) ra đời từ đó, lấy thần Brahma là thần tối cao,thần sáng tạo và tầng lớp quý tộc tăng lữ Bàlamôn (Brahman) đợc xếp hàng
đầu trong bốn đẳng cấp (hay sắc đẳng) của xã hội ấn Độ cổ đại
Vào thế kỷ VI TCN, nhiều quốc gia lớn đợc thành lập trên lu vực sôngHằng (Găng), kinh tế phát triển đáng kể, tầng lớp quý tộc vĩ sĩ (Kshatriya) trởnên giàu có và có thế lực, không chịu đựng mãi phải đứng hàng thứ hai trong
hệ thống đẳng cấp (Varna) Hai đẳng cấp cuối cùng (Vaishya và Sudra) cũngkhá giả lên và ngày càng có ý thức giác ngộ về quyền lợi giai cấp của mình.Cuộc đấu tranh giai cấp đợc diễn ra giữa ba đẳng cấp dới với đẳng cấp tăng lữBàlamôn, chủ yếu trên lĩnh vực t tởng và tôn giáo Trong hoàn cảnh đó, đạoGiaina (Jainism – Kỳ na giáo) và đạo Phật (Buddhism) ra đời Đạo Giaina doVardhamana (540 – 468 TCN), hiệu là Đại Hùng (Mahavira) hay Vạn Thắnggiáo chủ (Jina) sáng lập ra Ông xuất thân dòng dõi quý tộc, chủ trơng muốnsiêu thoát linh hồn, phải suy nghĩ và hành động chính trực, không ham muốn.Nếu không có quần áo thì sống trần truồng, nếu không có thức ăn thì nhịn ăn,chứ không làm điều phi pháp Ông cho rằng, chết đói và chế rét là một phơngtiện giải phóng công hiệu và nhanh nhất Đạo Giaina có nhiều tín đồ trongtầng lớp thơng nhân Hiện nay ở ấn Độ vẫn có khoảng 1,5 triệu tín đồ đạoGiaina
Đạo Phật do Thái tử Siddharta Gautama, hiệu là Sakya Muni (Thích CaMầu Ni), con vua nớc Kapilavastu (thuộc vơng quỗc Nêpan ngày nay) sánglập Ông sinh ra vào khoảng năm 563 TCN và mất năm 483 TCN Ông bỏ nhà
đi tu năm 29 tuổi, đắc đạo năm 35 tuổi và truyền đạo trong 46 năm và mấtnăm 80 tuổi Giáo ly cơ bản của đạo Phật là Tứ diệu đế (bốn điều suy xét vềcuộc đời) Đó là: Khổ đế (suy xét về sự khổ cực, phép luân hồi, nghiệp báo);tập đế hay nhân đế (nguyên nhân của sự khổ hay nghiệp báo là lòng hammuốn); diệt đế (ngăng ngừa luân hồi, tiêu diệt nghiệp báo); đạo đế (tìm ra con
đờng để giải thoát, lên cõi Niết bàn) Tám con đờng chính trực để t hành (Bátchính đạo) của đạo Phật là: chính kiến (thành thực mà tu đạo); chính tduy(thành thực mà suy xét); chính ngữ (thành thực mà nói năng); chínhnghiệp (thành thực mà làm việc); chính mệnh (thành thực mà mu sinh); chínhtinh tiến (thành thực mà mong tới); chính niệm (thành thực mà tởng nhớ);
Trang 14chính định (thành thực mà ngẫm nghĩ) Qua đó, chúng ta thấy, đạo Phật lúc
đầu không phải là một tôn giáo mà là một triết lý về nhân sinh quan
Đạo Phật sơ khai không thờ bất cứ một thần thánh nào, ngay SiddhartaGautama khi đắc đạo tự gọi là Phật (Buddha có nghĩa là giác giả hay ngời giácngộ chân lý) và lấy biệt hiệu là Sakya Muni (có nghĩa là nhà hiền triết họSakya), chứ không coi mình là thần thánh Tuy Sakya Muni có tổ chức ra tăng
đoàn Tỳ khu (đoàn thể những tăng lữ khất thực) để di truyền bá Phật giáo,
nh-ng đó khônh-ng phải là một tổ chức Phật giáo có chùa chiền, tu viện nh sau này
Đạo Phật lấy lòng thơng ngời, làm việc thiện (từ bi hỉ xả) để lôi kéo nhân dân
đi theo tín ngỡng của mình Trong hoàn cảnh xã hội đầy rẫy bất công bởi chế
độ đẳng cấp gây ra và bạo lực bởi những cuộc chiến tranh của các quốc giathôn tính lẫn nhau, thì chủ trơng nh vậy của đạo Phật là tích cực, do đó đợcnhân dân hởng ứng ngày càng đông đảo Đạo Phật đợc truyền bá rộng rãi nhất
ở ấn Độ vào thời Asôka (thế kỷ III TCN) Cũng vào thời gian này, đạo Phật
đ-ợc truyền bá ra nớc ngoài, đặc biệt là ở các nớc Đông Nam á Nhng ở ấn Độ,
đạo Phật đã không vợt lên nổi với sự cạnh tranh của đạo Hinđu và sự đàn ápcủa đạo Hồi Cho nên, từ thế kỷ X, đã dần dần không còn ảnh hởng ở ấn Độ
1.2.3: Nghệ thuật.
Trớc thời đại Asôka (thế kỷ III TCN) các công trình kiến trúc hầu nhkhông còn dấu tích đến ngày nay, có lẽ do nguyên vật liệu để xây cất thời đóchủ yếu bằng đất và gỗ nên đã bị h hỏng cả Đến thời Asôka, ngời ta bắt đầuxây dựng các công trình bằng đá nh những cột đá, những tháp mộ (stupa…)Asoka đã cho xây dựng nên ở nhiều nơi những cột đá để ghi những nhữnghoạt động chiến công, những pháp lệnh của mình Những cột này cao khoản1m20 đến 1m50, trên đầu các cột có khắc hình một con vật (nh s tử trên đầucột đá ở Sarnath, bò đực trên đầu cột đá ở Rampuva …) Cũng vào thời Asôka,những công trình kiến trúc Phật giáo đầu tiên đợc xây dựng, đó là những tháp
mộ Tháp mộ lúc đầu có hình dáng một cái nấm hình bán cầu khổng lồ, đợcxây dựng gạch sống, phần ngoài đợc xây bằng gạch nung và ngoài cùng cótrát một lớp thạch cao dày Bên trong nấm mộ có một khoang nhỏ chứa di cốthoặc vật thiêng (xá lợi) của đức Phật Xá lợi của đức Phật đựng trong một cáitiểu nhỏ bằng pha – lê rất đẹp Phía trên đỉnh của nấm mộ, ngời ta dựng mộtcái lọng lớn bằng gỗ hay đá để che cho xá lợi Xung quanh ngôi mộ có một
Trang 15hàng lan can bằng gỗ bọc ngoài một lối đi nhỏ dùng làm lối đi hành lễ hay rớcsánh.
Hiện nay, chỉ còn một ngôi tháp mộ duy nhất ở Nêpan giữ đợc hìnhdáng nguyên thuỷ từ thời Asôka, còn các ngôi khác đều đã đợc sửa đổi nhiều.Trong các ngôi tháp mộ đợc xây về sau, nổi tiếng nhất là pháp mộ sở Sanchi
đợc xây vào thế kỷ II – I TCN Tháp mộ này đợc xây lớn gấp đôi các ngôitháp cổ, có bán kính tới 36m, hàng lan can vây quanh tháp trớc kia đợc dựngbằng gỗ nay đợc xây lại bằng đá cao gần 3m, có 4 chiếc cổng bằng đá quay vềbốn hớng chính, đợc điêu khắc rất tỉ mỉ, công phu Ngoài ra, ngời ta còn xâythêm một lối đi vòng quanh ngôi tháp cách mặt đất gần 5m Đến nay, nhữngngôi tháp mộ nh thé vẫn còn tồn tại ở nhiều đô thị cổ của ấn Độ
Những chùa Phật cũng đợc xây dựng rất nhiều ở ấn Độ Chùa thờnggồm một hậu cung, nơi đặt tợng Phật (trớc khi có tợng Phật, ngời ta đặt mộtbiểu trng về Phật nh hình bánh xe, cây bồ đề, đài sen …), bên ngoài là đại đ-ờng dành cho khách thập phơng hành lễ Muốn vào đại đờng, ngời ta phải điqua một chiếc cổng lớn có ba cửa (tam quan) Đằng sau là hậu cung có dựngmột ngôi tháp mộ Chùa Phật ở ấn Độ thờng đồ sộ, vững chắc và thờng đợctrang trí rất công phu, tỷ mỉ Các chùa thờng đợc xây dựng ở những nơi xa lôihẻo lánh hau trên các định núi cao để giới tăng lữ tu hành đợc kín đáo và cáctín đồ từ xa xôi lặn lội đến tỏ lòng mộ đạo
Đặc biệt, ở ấn Độ có những chùa hang (thạch động) đào khoét tronghang đs rất công phu Ngay từ thời Asôka, ngời ta đã kiến tạo nên hai ngôichùa hang ở gần Gaya Nhng chùa hang khi đó còn trang trí đơn giản, chỉ gồmmột phòng lớn hình chữ nhật và một phòng nhỏ kế bên, có vách cong vớinhững hàng hiên giả xây nhô ra Tiếp sau, có nhiều chùa hang đợc đào khoét ởnhiều vùng núi non Trong đó, nổi tiếng nhất là chùa hang ở Agianta, phía TâyBắc xứ Hyderabad và chùa hang ở Ellora gần Aurangabad Chùa hàng Agianta
đợc kiến tạo từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ VII SCN mới xong Cả vùng này có
đến 30 hang động đợc khoét, trong đó động số 1 là động lớn nhất và phongphú ơn cả về kiến trúc, điêu khắc và hội hoạ ở đây có hàng trăm cột, mớinhìn rhì giống hệt nhau nhng nếu quan sát kỹ thì lại thấy các hình này là khácnhau Trên vách đá có chạm khắc các hình tợng thuật lại các giai đoạn trong
đời sống của đức Phật TRên trần và trên vách hang còn có những hoạ tiết vớinét rất điêu luyện là đầy sức sống hiện thực, mầu sắc sống động Đến Ellora,
Trang 16ngời ta lại bị hấp dãn bởi một cảnh kỳ diệu khác ở đây cũng có nhiều hang
động đợc đục đẽo, trong đó có công trình vĩ đại nhất là chua hang Kaisala.Hang núi đá lớn đợc đục thành một khu cung điện nguy nga với những lâudài, cửa cột, tợng ngời, tợng voi chầu … chạm trổ cực kỳ tinh xảo Hang độngEllora kết hợp nghệ thuật của cả ba tôn giáo: Phật giáo, Giaina giáo và Hinđugiáo, trong đó, chủ yếu alf Hinđu giáo
ấn Độ đã phát minh ra những chữ số mà sau này ngời ta gọi lầm là “Những thành tựu chủchữ số
ảrập”, biết đợc 8 phép tính cơ bản của số học (cộng, trừ, nhân, chia, bình
ph-ơng, tam thừa, căn số bậc hai, bạc ba) và những khái niệm về số vô tỉ, lýthuyết về đại số học cao cấp, về lợng giác học v.v Những nhà toán học, nhàthiên văn học nổi tiêng nhất của ấn Độ cổ đại là Aryabhata (thế kỷ V),Brahma Gupta (thế kỷ VII), Mahavira (thế kỷ IX) và Bhaskara (thế kỷ XII)
Ngời ấn Độ cũng đã soạn ra Niên lịch từ rất sớm Buổi đầu họ dùng âmlịch có 12 tháng, mỗi tháng chia làm 2 nguyệt bán, mỗi nguyệt bán gồm 15ngày và cứ hai hoặc ba năm lại có một tháng nhuận Từ thời đại Gupta, dơnglịch đã đợc du nhập vào ấn Độ: một năm đợc chia thành 12 tháng, gọi têntheo 12 cung trong hoàng đới, tuần lễ có 7 ngày, cũng theo tên của các tinh tú
nh lịch Hy Lạp – Rôma Từ thế kỷ I TCN, ngời ấn Độ cũng đã đạt ra các kỷnguyên để ghi chép các biến đố quan trọng Thoạt đầu, đó ;à những năm lênngôi của các vua Vếau, một số kỷ nguyêNhà nớc đợc đặt ra có tính toán lâudài, nh kỷ nguyên Vikrama (bắt đầu từ năm 58 TCN do vua Vikramaditya đặt
ra để kỷ niệm cuộc đánh đuổi ngời Saka ra khỏi xứ Ujjain), kỷ nguyên Saka(bắt đầu từ năm 78, do vua Kaniska của vuông quốc Kusana đặt ra, kỷ nguyênnày khá phổ biến ở ấn Độ và nhiều nớc Đông Nam á), kỷ nguyên Gupta (bắt
đầu từ năm 320, do vua Chandra Gupta I đặt ra), kỷ nguyên Harsha (bắt đầu từnăm 606, do vua Harsha – Vardhana đặt ra)
Trang 17Ngời ấn Độ cổ đại cũng đạt đợc nhiều thành tựu trong ngành thực vậthọc và y dợc học Sự hiểu biết về các loại cây cổ cần thiết cho sự chuẩn bịcúng tế và làm thuốc Về dợc liệu, ngời ấn Độ biết sử dụng cả hai loại vô cơ
và hữu cơ Một vài chất có công hiệu rất cao (nh chữa bệnh hủi) Trong khoahọc giải phẫu, tuy cha hiểu biết đợc đầy đủ và chính xác về cơ thể con ngời,thầy thuốc ấn Độ đã có thể mổ bụng bệnh nhân để lấy sạn trong bàng quan,
mổ dạ con để lấy thai nhi ra khỏi bụng mẹ, giải phẫu thẩm mĩ, vá môi, chữamũi, tai … ngời ấn Độ rất quan tâm đến khoa trờng sinh học, chú ý phòngbệnh, giữ vệ sinh Hai thầy thuốc nổi danh ở ấn Độ cổ đại là Charaka (thế kỷ I– II), ngự y của vua Kaniska và Susruta (thế kỷ IV) Trong xã hội ấn Độ cổ
đại, giới Vaidyas (y sĩ) rất đợc mọi ngời tôn trọng Các thầy thuốc luôn phảilấy lơng tâm nghề nghiệp làm trọng Khi mới thành nghề, họ phải đọc lời thềcủa Charaka, giống nh các thầy thuốc phơng Tây đọc lời thề của Hippôcrat
Trung Hoa cổ đại do tộc Hoa Hạ (sau gọi là tộc Hán) thành lập đầu tiên
ở vùng Trung Nguyên (lu vực sông Hoàng Hà và phía bắc sông Trờng Giang)
Ba triều đại đã thay thế nhau cai trị ở Trung Hoa cổ đại là: nhà Hạ (thế kỷXXI – XVI TCN), nhà Thơng (còn gọi là Ân hay Ân thơng, thế kỷ XVI –
XI TCN) và nhà Chu (thế kỷ XI – III TCN) Nhà Chu đợc chia làm hai giai
Trang 18đoạn: Tây Chu (1066 – 771 TCN), Đông Chu (711 – 221 TCN) Nhà ĐôngChu lại đợc chia làm hai thời kỳ: Xuân Thu (770 – 454 TCN) và Chiến Quốc(475 – 221 TCN) Nền văn minh Trung Hoa cổ đại đã phát triển từ rất sớm,nhng đén thời Xuân Thu, Chiến Quốc mới thực sự tạo lập lên nền văn hoá cổ
đại và đợc tiếp tục lu truyền, phát triển dới thời phong kiến, tạo thành nền vănhoá Trung Hoa truyền thống
- Sự ra đời Nhà nớc.
Trong sử sách Trung Quốc đã ghi lại nhiều truyền thuyết về sự xuấthiện loài ngời và đơ3ì sống của xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc Đó lànhững truyền thuyết về Nã Oa, Phục Hi, Hữu Sào, Toại Nhân v.v…
Truyền thuyết kể rằng, đầu tiên trên núi Côn Lôn chỉ có hai anh em làPhục Hi và Nữ OA Hai ngời kết thành vợ chồng, từ đó loài ngời đợc sinh ra
Vè sau, họ cấm anh em láy nhau và đặt ra quy chế kết hôn
Truyền thuyết về Hữu Sào và Toại Nhân thì kể rằng: Thời thợng cổ,nhân dân ít mà muông thú nhiều, nhân dân không chống đợc muông thú, rắnrết Có một thánh nhân kết cành cây làm tổ để tránh mọi tai hoạ, nhân dân quýtrọng ông, tôn ông làm vua thiên hạ, hiệu là Hữu Sào Lúc bấy giờ cha có lửa,nhân dân ăn các thứ sò, ốc sống, hôi tanh hại đến ruột và dạ dày, sinh nhiềubệnh tật Có một thánh nhân khoét gỗ lấy lửa làm cho thức ăn hết mùi tanh,nhân dân vui mừng, tôn ông làm vua thiên hạ, hiệu là Toại Nhân
Gạt bỏ những yếu tố hoang đờng, những truyền thuyết nói trên có thể coi
là sự phản ánh cuộc sống của loài ngời ở giai đoạn bầy ngời nguyên thuỷ
Đến thời công xã thị tộc, ở vùng Hoàng Hà có nhiều bộ lạc c trú do cácthủ lĩnh Si Vu, Viêm Đế, Hoàng Đế đứng đầu Giữa các bộ lạc này đã diễn ranhững cuộc đấu tranh quyết liệt, kết quả Si Vu và Viêm Đế lần lợt bị Hoàng
Đế đánh bại
Có thuyết nói Viêm Đế tức Thần Nông Tơng truyền, Thần Nông là
ng-ời phát minh ra cái cày và dạy dân làm ruộng Thần Nông còn nếm các loạicây phát minh ra thảo dợc, dạy dân chữa bệnh
Hoàng Đế họ Cơ, hiệu là Hiên Viên, còn có hiệu là Hữu Hùng Theotruyền thuyết, thời Hoàng Đế đã phát minh ra binh khí bằng ngọc (đá cứng),thuyền xe, cung tên, đã biết nhuộm 5 màu Vợ Hoàng Đế là Luy Tổ phát minh
ra việc nuôi tằm, Thơng Hiệt đặt ra chữ viết Đại Nao phát minh ra can chi,Linh Luân chế tạo ra nhạc khí Về sau, Hoàng Đế đợc coi là thuỷ tổ của tộcHoa Phái Đạo gia thời Chiến Quốc tôn Hoàng Đế cùng với Lão Tử là Thuỷ tổcủa phái này, do đó còn gọi là phái Hoàng Lão
Trang 19Sau Hoàng Đế có các nhân vật nh Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Đế Cốc,
Đế Chí, Đờng Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ Họ đều là hậu duệ của Hoàng Đế
Địa bàn hoạt động chủ yếu của Nghiêu là vùng Sơn Tây ngày nay ThờiNghiêu, Hi Trọng, Hi Thúc, Hoà Trọng, Hoà Thúc đợc giao nhiệm vụ đóng ở
4 nơi Đông, Nam, Tây, Bắc để quan sát bầu trời theo dõi thời tiết, đặt ra lịch
Để chuẩn bị tìm ngời thay mình làm thủ lĩnh, Nghiêu đã hỏi ý kiến của cácthủ lĩnh bộ lạc bốn phơng, gọi là Tứ nhạc Tứ nhạc đã đề cử Thuấn Sau 3 nămthử thách, Nghiêu giao cho Thuấn tham gia việc quản lý liên minh bộ lạc Saukhi Nghiêu chết, Thuấn lên thay Đến khi Thuấn già, THuất lại hỏi ý kiến của
Tứ nhạc về ngời thay thế, Tứ nhạc đã đề cử Hạ Vũ là ngời có nhiều thành tíchchống lụt Tơng truyền, Hạ Vũ đã vận động nhân dân khơi thông dòng sông,
đào nhiều kênh thoát nớc nên đã hạn chế đợc nạn lụt Vũ lại là ngời có tinhthần trách nhiệm rất cao, trong 13 năm mải mê với công việc trị thuỷ, ông đã
đi qua ngõ 3 lần mà không ghé vào nhà Sau khi Thuấn chết, Vũ lên thay chứcthủ lĩnh liên minh bộ lạc Để chuẩn bị ngời thay thế, quần chúng cử Cao
Đào(1), nhng Cao Đào chết sớm, họ lại cử Bá ích (con của Cao Đào) làm ngờithừa kế Chế độ tiến cử và truyền ngôi thủ lĩnh liên minh bộ lạc này trong lịch
sử Trung Quốc gọi là chế độ thiện nhợng Do Thiện nhợng là chế độ truyềnngôi cho ngời có đạo đức và năng lực nên đến thời phong kiến, Nghiêu vàThuấn đợc coi là hai ông vua tốt nhất trong lịch sử Trung Quốc
Ca ngợi sự tốt đẹp của xã hội công xã thị tộc, thiên “Những thành tựu chủLễ vận” trong sách
lễ kí chép:
“Những thành tựu chủThi hành đạo lớn thiên hạ là chung, chọn ngời hiền tài, chú trọng tínnghĩa và sự hoà mục Do vậy, ngời ta không chỉ thân với ngời thân của mình,không chỉ yêu con của mình Làm cho ngời già có chỗ dỡng lão, trai tráng cóchỗ dùng, trẻ nhỏ có chỗ nuôi nấng, những kẻ goá vợ, goá chồng, cô đơn, tàntật đều có chỗ nuôi Trai có nghề nghiệp, gái có chồng Của cải không vứtxuống đất cũng không phải cất cho riêng mình, sức lực đều dốc hết nhngkhông phải vì mình Vì vậy, mu mô xảo quyệt không dùng, trộm cớp giặc giãkhông có, do đó cửa ngoài không cần đóng, gọi là xã hội đại đồng”
Khi Vũ đang sống, Bá ích thuộc bộ lạc Đông Di đã đợc cử làm ngờithay thế chức thủ lĩnh liên minh bộ lạc, nhng sau khi Vũ chết , con của Vũ làKhải lên nối ngôi Chế độ bầu cử thủ lĩnh liên minh bộ lạc đến đây chấm dứt
Sự kiện đó đánh dấu xã hội công xã thị tộc, giai đoạn lịch sử mà sử sáchTrung Quốc gọi là thời kỳ “Những thành tựu chủđại đồng” kết thúc
- Sự phát triển của các Vơng Triều Hạ, Thơng, Chu trong lịch sử cổ đại
Trung Quốc.
Trang 20+ Triều hạ.
Khi mới thành lập, triều Hạ đóng đô ở Dơng Trạch (Hà Nam ngày nay),sau đời đến An ấp (Sơn Tây ngày nay) Do Khải phá hoại chế độ thiện nhợng,Bá ích thuộc bộ lạc Đông Đi và Hữu Hổ cùng bộ lạc với Khải đã nổi dậy phản
Sau khi Khảt chết, con là Thái Khang nối ngôi Thái Khang thờng đemcả nhà đi săn mấy tháng ở bên ngoài Nhân dịp ấy, thủ lĩnh của Đông Di làHậu Nghệ đã chiếm kinh đô An ấp, tự mình lên làm vua, hiệu là Hữu Cùng.Hậu Nghệ là một ngời bán giỏi, chỉ thích đi săn nên một hôm trong khi đi săn,Hậu Nghệ đã bị bộ hạ của mình là Hàn Trác lập mu giết chết để cớp ngôi vàchiếm vợ con, tài sản
Trong khi đó, Thái Khang và con cháu của ông phải lu lạc bên ngoài
Họ không ngừng bị Hậu Nghệ và tiếp đó là Hàn Trác đánh đuổi Cháu củaThái Khang là Tơng bị Hàn Trác giết chết Vợ của Tơng đang có mang chạy
về nhà mẹ sinh ra Thiếu Kháng Thiếu Khang lại bị Hàn Trác đuổi phải chạy
đến nhiều nơi, sau làm Bào chính cho họ Hữu Ngu Thiếu Khang là một ngờitài năng, đã có “Những thành tựu chủruông một thành (1 dặm vuông), bộ chúng một lữ (500 ng-ời)”; sau đó, đợc sự ủng hộ của những ngời cùng họ đã diệt đợc Hàn Trác Nhvậy, sau mấy chục năm, các vua Thái Khang, Trọng Khang, Tơng phải lu lạcbên ngoài, đến đây nền thống trị của triều Hạ đợc khôi phục, lịch sử gọi là sự
“Những thành tựu chủtrung hng của Thiếu Khang” Tuy vậy, cuộc đấu tranh giữa Hạ và Đông Divẫn cha kết thúc Chính từ thực tiễn của cuộc chiến tranh này mà đế Trữ (concủa Thiếu Khang) lần đầu tiên đã phát minh ra áo giáp để đối phó với tài thiệnxạ của ngời Đông Di
Đến thời vua cuối cùng của triều Hạ là Kiệt (khoảng thế kỷ XVI trớccông nguyên), mâu thuẫn trong xã hội đã phát triển rất gay gắt Kiệt là bạochúa nổi tiéng đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc Kiệt áp bức bóc lột nhân
Trang 21dân rất thậm tệ, bắt nhân dân xây dựng nhiều cung thất và nhiều lần gây chiếntranh chinh phạt các tộc nhỏ yếu nh họ Hữu Mân, họ Hữu Thi v.v… Trongcuộc tấn công họ Hữu Thi, Kiệt đợc họ Hữu Thi dâng cho một ngời con gáixinh đẹp tên là Muội Hỉ, sau đó trở thành ái phi của Kiệt Các vua triều Hạ đãdời đô nhiều lần, đến đời Kiệt thì đóng đô ở Lạc Dơng.
Trong khi đó, ở hạ lu Hoàng Hà, thế lực của tộc Thơng ngày càng lớnmạnh Nhân khi nội bộ nớc Hạ mâu thuẫn gay gắt, vua Thơng là Thang trớchết đánh bại các nớc nhỏ phụ thuộc Hạ là Cố (ở Sơn Đông ngày nay), Vi vàCôn Ngô (ở Hà Nam ngày nay) rồi thừa thắng tấn công Kiệt Kiệt đem quân
đến Minh đièu nghênh chiến nhng bị thát bại phải chạy đến dựa vào Côn Ngô.Thang diệt Côn Ngô, Kiệt chạy đến Nam Sào (ở An Huy ngày nay) rồi chết ở
đó Triều Hạ đến đây diệt vong
+ Triều thơng (khoảng thế kỷ XVI – XI TCN.
Bộ tộc Thơng ở hạ lu Hoàng Hà cũng là một tộc ngời có lịch sử lâu đời,
là hậu duệ của Đế Cốc Thuỷ tổ của tộc Thơng tên là Khế Tơng truyền, mẹKhế một hôm đi tắm thấy chim đẻ trứng bèn nhặt lấy cho vào miệng nuốt rồi
về sinh ra Khé Truyền thuyết ấy nói lên rằng Khế không biết cha, nh vậy là từKhế về trớc bộ lạc Thơng vẫn ở giai đoạn công xã thị tộc mẫu hệ, từ Khế vềsau mới tiến vào xã hội thị tộc phụ hệ Truyền thuyết còn cho biết Khế đã từng
có quan hệ với Hạ Vũ, qua đó có thể biết Khế sống vào khoảng thế kỷ XXITCN, và khi bộ lạc Hạ chuản bị chuyển sang xã hội có giai cấp thì bộ lạc Th-
ơng mới bắt đầu bớc vào xã hội thị tộc phụ hệ, tức là giai đoạn tan rã của xãhội công xã nguyên thuỷ
Đến cháu 14 đời của Khế là Thang (khoảng thế kỷ XVI TCN), tộc
Th-ơng bắt đầu mở rộng thế lực ra bên ngoài, đã chinh phục đợc mời mấy bộ lạckhác nên thế nớc càng thêm mạnh Trong khi dó, nội bộ nớc Hạ mâu thuẫngay gắt, giai cấp thống trị thối nát, nhân dân oán hờn, Thang đã đem quân diệtHạ, triều Thơng chính thức thành lập Từ đây, Thơng trở thành một quốc giarộng lớn, địa bàn hoạt động bao gồm cả vùng trung và hạ lu lu vực Hoàng Hà
Khi mới thành lập, triều Thơng đóng đô ở đất Bạc, phía nam Hoàng Hà,thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay Nhng nội bộ giai cấp thống trị thờng xẩy ranhững vụ tranh giành ngôi vua Để làm yếu thế lực của tầng lớp quý tộc, đồngthời để tránh nớc lụt, các vua Thơng đã dời đô nhiều lần Đến Bàn Canh, cháu
9 đời của Thanh, kinh đô đợc dời từ đất Yểm (Khúc Phụ, Sơn Đông ngày nay)
đến đất Ân (ở tây bắc An Dơng, Hà Nam ngày nay) Từ đó cho đến khi triềuThơng diệt vong, chỉ trừ vua cuối cùng là Trụ đóng đo ở Triều Ca (huyện Kì,tỉnh Hà Nam ngày nay) còn thì điều lấy đất Ân làm kinh đô, vì vậy triều Th -
Trang 22ơng từ Bàn Canh về sau gồm 12 đời vùa gọi là triều Ân, nhng có khi toàn bộtriều Thơng cũng gọi là Ân hoặc Thơng ân, hoặc Ân Thơng Trong số các vuanối tiếp Bàn Canh, Vũ Đinh (con của em Bàn Canh) có thể coi là một ông vuatốt của triều Thơng Tơng truyền, thuở thiếu thời, Vũ Đinh sống trong dângian, hiểu đợc “Những thành tựu chủnỗi vất vả của việc cấy gặt”, do đó sau khi lên làm vua khôngdám ăn chơi mà chỉ lo làm cho đất nớc thịnh trị Vũ Đinh làm vua đợc 59năm, trong thời gian đó đã từng đánh ngời Quỷ Phơng, Thổ Phơng ở phía bắc,ngời Khơng ở phía tây, ngời Di ở phía đông, ngời Hổ Phơng ở phía Nam.Trong một lần tấn công tộc Khơng, Vũ đinh đã huy động từ 13.000 đến30.000 quân Do vậy, cơng giới của triều Thơng đợc mở rộng Nhng nhữngvua cuối triều Thơng phần nhiều đều dâm loạn bạo ngợc, “Những thành tựu chủkhông biết nỗi cựckhổ của việc cấy gặt, hởng lạc”(1), thời gian ở ngôi của họ đều ngắn ngủi,
“Những thành tựu chủhoặc mời năm, hoặc bảy, tám năm(2) Đặc biệt, vua cuối cùng của triều Thơng
là Trụ (còn gọi là Đế Tân) cũng là một bạo chứa nổi tiếng trong lịch sử TrungQuốc, vì vậy Trụ thờng đợc ghép với Kiệt của triều Hạ để chỉ bạo chúa Trụtham lam xa xỉ, suốt ngày say đắm tửu sắc, đặc biệt là mê say nàng Đát Kỉ
Thiên “Những thành tựu chủÂn bản kỉ” sách Sử kí của T Mã Thiên chép:
“Những thành tựu chủTrụ đánh thuế nặng để lấy tiền chất vào kho Lộc Đài, lấy thóc chứavào kho Cự Kiều, tăng thu chó ngựa, của lạ để chất vào cung thất, mở rộng bãi
gò, vờn uyển, đình đài … lấy rợu làm hồ, treo thịt làm rừng”
Hơn nữa, Trụ lại còn dùng hình phạt tàn khốc, lại luôn luôn gây chiếntranh với các bộ lạc xung quanh làm cho nhân dân càng thêm cực khổ, và vôcùng oán giận Nhân tình hình ấu, nớc Chu ở phía tây vốn là một nớc phụthuộc của Thơng đã đem quân tấn công Triều Ca Trụ hết đờng trốn chạy phảilên Lộc Đài tự thiêu Triều Thơng diệt vong
+ Triều tây chu (thế kỷ XI – 771 TCN)
Chu còn là một bộ lạc c trú ở thợng lu Hoàng Hà (vùng Thiểm Tây,Cam Túc ngày nay) Khi tộc Thơng đã tiến vào xã hội có giai cấp thì bộ lạcChu đang sống trong xã hội nguyên thuỷ
Tơng truyền, thuỷ tổ của tộc Chu tên là Khí, vì giỏi trồng lúa nên đợcgọi là Hậu Tắc và đợc tôn làm Nông thần Truyền thuyết kể rằng mẹ của Khí
là Khơng Nguyên vì dẫm vào vết chân ngời khổng lồ mà có mang rồi ra ông
Có lẽ bắt đầu từ Khí, tộc Chu mới quá độ sang xã hội thị tộc phụ hệ
Đến thời cháu 12 đời của Khí là Cổ Công Đản Phụ, sự phân hoá giàunghèo trong bộ lạc Chu đã diễn ra rõ rệt Vì bị ngời Nhung lấn chiếm , CổCông Đản Phụ phải dời bộ lạc mình từ đất Bân đến đất Kỳ (thuộc Thiểm Tâyngày nay) và định c ở cánh đồng Chu Tại đây, tộc Chu làm nhà cửa, xây
Trang 23thành quách, đặt quan lại Nh vậy, tộc Chu bắt đầu bớc lên ngỡng cửa của xãhội có Nhà nớc Cổ Công Đản Phụ lại thần phục nớc Thơng, đã tiếp thu đợcnhiều ảnh hởng về văn hoá của triều Thơng, nên xã hội bộ tộc Chu càng có
điều kiện phát triển nhanh chóng Những cuộc chiến tranh với các bộ lạc xungquanh đã đem lại cho bộ tộc Chu nhiều chiến lợi phẩm và tù binh, càng đẩynhanh sự phân hoá giai cấp trong Chu
Đến thời cháu của Cổ Công Đản Phụ là Cơ Xơng, nớc Chu chính thứcthành lập Thời vua Trụ đời Thơng, Cơ Xơng đợc làm Tây Bá, từng bị vua Trụbắt giam ở Dụ Lý (hà Nam ngày nay), sau nhờ có quan Thái s Khơng Thợng(1)dùng gái đẹp, châu báu , vật lạ chuộc về Thời Cơ Xơng, lãnh thổ của Chucàng đợc mở rộng Để phát triển thế lực về phía đông, Cơ Xơng xây dựng ấpPhong (Thiểm Tây ngày nay) để làm kinh đô Cơ Xơng chính là Chu Văn V-
ơng, còn Cổ Công Đản Phụ đợc truy tôn làm Thái Vơng
Văn Vơng không ngừng củng cố và phát triển thế lực của mình, phạm
vi thống trị mở rộng đến vùng Trờng Giang và gần sát với kinh đô Triều Cacủa Trụ Trong khi đó, nớc Thơng đang ngày càng suy yếu Văn Vơng địnhtấn công để tiêu diệt nớc Thơng nhng cha kịp thực hiện kế hoạch thì chết
Bốn năm sau, con của Van Vơng là Vũ Vơng chỉ huy 300 cỗ xe, 3.000quân xung phong, 45.000 binh sĩ ào ạt tất công nớc Thơng Khi quân Chu tiến
đến Mục Dã cách Triều Ca 70 dặm, vuảTụ mới biết tin, bèn ngừng ca múa,giải tán tiệc rợu, vội vàng thảo luận kế hoạch để đối phó Lúc bấy giờ, quânchủ lực của Thơng còn đang đi đánh các tộc ở phía đông nam không điều vềkịp Vua Trụ phải ra lệnh trang bị vũ khí cho nô lệ và tù binh để đa họ ranghênh chiến Nhng khi đến Mục Dã, đội quân này của triều Thơng đã quaygiáo khởi nghĩa Quân Chu tiến thẳng đến Triều Ca Vua Trụ phải tự tử
Do căm ghét sự thống trị tàn bạo của vua Trụ, nhân dân kinh đô Triều
Ca ra tận ngoại ô để đón chào quân Chu Sau khi vào thành, Chu Vũ Vơng mởnhà lao thả tù phạm, lấy tiền ở kho Lộc Đài và lơng thực ở kho Vự Kiều phânphát cho dân nghèo Tiếp đó, Vũ Vơng đem một vùng đất ở kinh kì phong chocon của vua Trụ và Vũ Canh, đồng thời phong vùng đất bên cạnh cho 3 ngời
em của mình là Quản Thúc, Thái Thúc và Hoắc Thúc để giám sát Vũ Canh.Sau khi mọi việc đã xong xuôi, Chu Vũ Vơng rút về phía tây, đóng đô ở CảoKinh (Thiểm Tây ngày nay)
Hai năm sau, Vũ Vơng chết, con là Thành Vơng mới mời mấy tuổ lênnối ngôi, Chu Công (tên là Cơ Đán), con của Vũ Vơng nhiếp chính QuảnThúc, Thái Thúc và Hoắc Thúc cho rằng Chu Công sẽ giành ngôi của ThànhVơng Vũ Canh nhân dịp ấy lôi kéo Quản Thúc, Thái Thúc, Hoắc Thúc và cac
Trang 24Di ở phía đông nổi dậy chống Chu Năm Thành Vơng thứ ba, chu Công đemquân đi đánh, sau 3 năm mới dẹp đợc Vũ Canh và Quản Thúc bị giết, TháiThúc bị đi đày, các nớc nhỏ tham gia vụ phiến loạn bị tiêu diệt Để quản lývùng lãnh thổ mới bình định đợc, Chu Công chia đất đem phong cho nhữngngời thân thích và những ngời có công.
Sau phong trào phục quốc bị thất bại, tầng lớp quý tộc của nớc Thơngtrớc kia vẫn thờng nổi dậy phản kháng nên ngời Chu gọi họ là “Những thành tựu chủngoan dân”(dân ngang ngạnh) Để tiện việc khống chế hộ, Chu công cho xây dựng Lạc
ấp (Lạc Dơng, tỉnh Hà Nam) thành đông đô, rồi dời “Những thành tựu chủngoan dân” của triềuThơng cũ đến đó, cho họ nhà cửa và ruộng đất để sinh sống, đồng thời cònphái 8 s gồm 20.000 quân đến đóng bên cạnh để giám sát Đến khi Thành V-
ơng trởng thành, Chu Công giao chính quyền lại cho Thành Vơng(1) Nhân dịp
đó, các tộc Từ Nhung và Hoài Di ở phía đông lại nổi dậy chống nhà Chu,Thành Vơng phải đem quân đi đánh, sau 3 năm mới dẹp đợc Cả một vùnglãnh thổ rộng lớn bao gồm toàn bộ lu vực Hoàng Hà từ phía tây cho đến biển
Đông đều nằm trong bản đồ của nhà Chu Trên vùng đất đai mới chinh phục
đợc, Thành Vơng lại thi hành chính sách phân phong Tơng truyền, Vũ Vơng,Chu Công và Thành Vơng đã phân phong 71 nớc ch hầu (trong đó họ Cơchiếm 53 nớc) là Lỗ, Vệ, Tấn, Tề, Yên …v.v… là những nớc tơng đối lớn Từ
đó, nhà Chu bớc vào thời kỳ cờng thịnh
Đến giữa thế kỷ IX TCN, do sự tham lam tàn bạo của Lệ Vơng, mâuthuẫn trong xã hội trở nân gay gắt Lệ Vơng thi hành chính sách độc quyền
đối với những sản phẩm của núi rừng, ao hồ làm cho nhân dân không ngừngoán thán Trớc tình hình ấy, Lệ Vơng dùng bọn đồng cốt thám thính, nhữngngời bị cáo giác đều bị giết hại Vì vậy, nhân dân không dám bàn tán nữa,thậm chí gặp nhau ngoài đờng chỉ đa mắt ra hiệu cho nhau Một cận thần làThiệu Mục Công nói với Lệ Vơng rằng: “Những thành tựu chủCấm nhân dân nói, còn nguy hiểmhơn ngăn chặn dòng sông lớn Nếu chặn dòng không cho nớc chay, đê đập cóngày sẽ bị vỡ Nếu đê bị vỡ thì mối nguy hại đối với con ngời càng lớn Đốivới nhân dân cũng nh vậy, nếu không cho họ nói thì sự oán hờn tích luỹ tronglòng một khi bộc phát lại càng ghê gớm Vì vậy ngời trị thuỷ thì phải khơi đ-ờng cho nớc chảy thông suốt, kẻ thống trị nhân dân thì phải mở đờng cho họnói năng”
Lệ Vơng không tiếp thu những lời khuyên can ấy nên sau 3 năm (năm
841 TCN) nhân dân vùng kinh đô đã nổi dậy bạo động Lệ Vơng phải chạy
đến đất Trệ (Sơn Tây ngày nay), rồi chết ở đó Trong thời gian 841 – 828
Trang 25TCN, nhà Chu bị đứt quãng 14 năm, lịch sử Trung Quốc bớc vào thời kỳ
“Những thành tựu chủCộng Hoà hành chính”(1)
Đến năm Cộng Hoà thứ 14 (828 TCN), con của Lệ Vơng là Thái tửTĩnh đợc sống sót trong cuộc khởi nghĩa năm 841 TCN(2) lên làm vua, hiệu làTuyên Vơng Ngay sau khi lên ngôi, Tuyên Vơng chú ý sử dụng những ngời
có tài đức, chỉnh đốn lại tình hình trong nớc, tấn công chinh phục các tộc xungquanh làm cho chính quyền của nhà Chu đợc ổn định, cơng giới đợc mở rộng.Cuối đời Tuyên Vơng, hạn hán xẩy ra liên tiếp, chiến tranh với bên ngoài th-ờng thất bại, lãnh thổ bị thu hẹp, nhà Chu ngày càng suy yếu
Sau tuyên vơng chết, tình hình lại trầm trọng Kẻ nối ngôi U Vơng chỉbiết ăn chơi xa xỉ, suốt ngày say đắm tửu sắc Vì quá yêu Bao Tự, U Vơng đãphế Thân Hậu và Thái tử Nghi Cữu rồi lập bao Tự làm Hoàng hậuvà con traicủa BaoTự là Bá Phục làm Thái tử năm 771 tr CN, cha của Hoàng hậu bị phếtruất là Thân Hầu, vua của một nớc ch hầu nhỏ liên kết với nớc Tăng (cùng ở
Hà Nam ngày nay) và tộc KhuyểnNhung tấn công, giết chết U Vơng và BáPhục Bao Tự bị ngời Kuyển nhung bắt Giai đoạn thứ nhất của triều Chu, màlịch sử gọi là Tây Chu đến kết thúc
+ Thời xân thu – chiến quốc (770 –221 tr CN)
Sau khi Chu U Vơng bị liên quân của nớc Thân, nớc Tăng và KhuyểnNhung giết chết, Thái tử Nghi Cữu đợc các nớc Thân, Lỗ, Hứa … lập nên làmvua tại đất Thần, hiệu là Bình Vơng Lúc bấy giờ, kinh đô của Tây Chu là CảoKinh bị ngời Khuyển Nhung chiếm Sau đó, nhờ sự giúp sức của các vua chhầu nh Trịnh Bá, Vệ Công, Bình Vơng đã đánh bại Khuyển Nhung, thu phục
đợc kinh đô Nhng nơi đây đã bị tàn phá nặng nề, nên năm 770 TCN, Bình
V-ơng đem vùng đất này phong cho Tấn Hầu và Tần Bá rồi dời đô sang Lạc ấp
Từ đó, triều Chu chuyển sang giai đoạn thứ hai, gọi là Đông Chu
Thời kỳ đông Chu bắt đầu năm Chu Bình Vơng thứ nhất (770 TCN) vàkết thúc vào năm 256 TCN với sự kiện Chu Noãn Vơng hiến đát cho nớc Tần
Giai đoạn đông Chu tơng đơng với hai thời kỳ là Xuân Thu và ChiếnQuốc (1) Thời Xuân Thu – Chiến Quốc là thời kỳ uy quyền và thế lực của
Đông Chu ngày càng giảm sút, suy yếu, trái lại thế lực của một số nớc ch hầungày càng lớn mạnh; do đó giữa các nớc ở Trung Quốc đã diễn ra những cuộcchiến tranh liên miên trong nhiều thế kỉ để giành quyền bá chủ và tiến tới tiêudiệt lẫn nhau nhằm thống nhất Trung Quốc
Năm 221 TCN, nớc Tần tiêu diệt các nớc Ch hầu khác, thống nhấtTrung Quốc Lịch sử cổ đại Trung Quốc chấm dứt chuyển sang giai đoạnphong kiến
Trang 262.1.2: Nguồn gốc của văn hoá - văn minh Trung Quốc.
đạo của Trung Quốc cổ đại là ngành kinh tế nông nghiệp trồng lúa nớc, nềnkinh tế nông nghiệp này mang tính tự cấp tự túc và phụ thuộc rất lớn vào thiênnhiên
- Chính trị – xã hội.
+ Xét về mặt chính trị, cũng giống nh các Quốc gia Phơng Đông cổ đạikhác ở Trung Quốc sớm xuất hiện, duy trì và phát triển chế độ chuyên chếtrung ơng tập quyền Chính điều này có tác động rất lớn đến sự hình thànhphát triển của văn hoá - văn minh Trung Quốc cổ đại
+ Sự tập trung và cứ trú bên lu vực các dòng sông lớn nh Hoàng Hà, ờng Giang có điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp Sự phát triển kinh tếnông nghiệp đã tạo nên các cộng đồng làng, xã, bản (công xã nông thôn) Cáccông xã nông thôn còn có tác dụng tích cực bởi vì nó làm cơ sở vững chắc choNhà nớc trung ơng tập quyền, tạo ra sức mạnh đồng bộ trong việc đấu tranhchống thiên nhiên, cải tạo tự nhiên để sản xuất Từ các công xã nông thôn ấyhình thành nên các thói quen, phong tục tập quán, lối sống đạo đức … Gópphần tạo nên văn hoá Trung Quốc cổ đại
Tr+ Trong thời kỳ cổ đại, sự ra đời và phát triển của các triều đại Hạ, Th
-ơng, Chu mà đặc biệt là dới triều đại nhà Chu, giai đoạn Đông Chu (770 –
221 TCN)
Giai đoạn Đông Chu tơng ứng với 2 thời kỳ là Xuân Thu – ChiếnQuốc Thời Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kỳ uy quyền và thế lực của ĐôngChu ngày càng giảm sút, suy yếu Trái lại thế lực của một số nớc ch hầu ngàycàng lớn mạnh; Do đó, giữa các nớc ở Trung Quốc đã diễn ra những cuộcchiến tranh liên miên trong nhiều thế kỷ để dành quyền Bá Chủ và tiến tới tiêudiệt lẫn nhau nhằm thống nhất Trung Quốc Chiến tranh liên miên một mặt nó
đã làm cho đời sống nhân dân hết sức cơ cực, những mặt khác nó lại làm xuấthiện nhiều nhà t tởng lớn, các nhà t tởng Trung Quốc quan tâm trớc hết đếnviệc tìm kiếm đờng lối tối u để đa đất nớc đến ổn định, thống nhất, nhân dân
đợc an c lạc nghiệp Số nhà t tởng thời chiến Quốc rất nhiều, họ lập thành các
Trang 27phái nh: Nho Gia, Mặc Gia, Pháp Gia, Đạo Gia, Âm Dơng Gia … tạo nêntình hình mà lịch sử Trung Quốc gọi là “Những thành tựu chủBách gia tranh minh” (trăm nhà đuatiếng)
- Gia đình.
Cũng giống nh ấn Độ cổ đại, gia đình ở Trung Quốc đợc coi là tế bàoxã hội, là cơ sở để xác lập tật tự xã hội Trong cả một thời kỳ dài gia đình ởTrung Quốc tồn tại chủ yếu là gia đình đồng tộc (gia đình cùng chung sốngnhiều thế hệ) sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lu giữ phong tục tập quán lốisống gia đình đó cũng chính là những yếu tố để lu giữ, phát triển văn hoá
Tuy nhiên sự tồn tại lâu dài của gia đình đồng tộc cũng đồng nghĩa vớiviệc lu giữ những thói quen có tính chất bảo thủ lạc hậu đối với sự phát triểncủa văn hoá
Gia đình có yếu tố, vai trò rất lớn trong quá trình hình thành văn hoá văn minh Trung Quốc cổ đại
-2.2: Một số thành tựu chủ yếu của văn hoá - văn minh Trung Quốc cổ đại
2.2.1: Chữ viết, văn học và sử học.
- Chữ viết:
Theo truyền thuyết, từ thời Hoàng Đế, sử quan Thơng Hiệt đã sáng tạo
ra chữ viết Sự thực, đến đời Thơng, chữ viết của Trung Quốc mới ra đời Loạichữ viết đầu tiên này khắc trên mai rùa, yếm rùa, xơng thú, phát hiện lần đầutiên vào năm 1899 và đợc gọi là chữ giáp cốt
Sở dĩ chữ viết đời Thơng đợc khắc trên mai rùa, xơng thú (chủ yếu là
x-ơng quạt của bò) vì đó là những quẻ bói Thời bấy giờ, mỗi khi ngời TrungQuốc muốn bói việc gì thì họ khắc những điều muốn bói lên mai rùa hoặc x-
ơng thú, đục lỗ ở giữa rồi cho vào lửa nung, sau đó dựa vào những đờng rạnnứt để đoán ý của trời đất, quỷ thần
Phơng pháp cấu tạo chữ giáp cốt chủ yếu là phơng pháp tợng hình, ví dụchữ ng thì vẽ hình con cá, chữ mã thì vẽ hình con ngựa, chữ sơn thì vẽ 3 đỉnhnúi, chữ thuỷ thì vẽ 3 làn sóng
Dần dần, do yêu cầu ghi chép các động tác và các khái niệm trừu tợng,trên cơ sở phơng pháp tợng hình đã phát triển thành các loại chữ biểu ý (thểhiện ý) và hài thanh (mợn âm thanh)
Ngày nay, ở Trung Quốc đã phát hiện đợc hơn 100.000 mảnh mai rùa
và xơng trú có khắc chữ giáp cốt Tổng số chữ giáp cốt đã phát hiện đợc cókhoảng 4.500 chữ, trong đó đã đọc đợc 1.700 chữ Chữ giáp cốt đã ghép đợcnhững đoạn văn tơng đối dài, có đoạn dài trên 100 chữ
Trang 28Thời Tây Chu, số lợng chữ càng nhiều và cách viết càng đơn gian Chữviết tiêu biểu thời kỳ này là kim văn (chữ viết trên đồ đồng), cũng gọi làchung đỉnh văn (chữ viết trên chuôgn đỉnh) Kim văn từ đời Thơng đã có nh-
ng còn ít Đến thời Tây Chu, nhà vua thờng đem ruộng đất và ngời lao độngban thởng cho các quý tộc Mỗi lần nh vậy, vua Chu thờng ra lệnh đúc đỉnh
đồng và ghi sự việc ấy lên đỉnh để làm kỷ niệm, do đó kim văn rất phát triển.Ngoài đồ đồng, chữ viết thời Tây Chu còn đợc khắc trên trống đá, đợc gọi làthạch cổ văn hoặc trứu văn Các loại chữ giáp cốt, kim văn, trứu văn đợc gọichung là chữ đại triện hay cổ văn
Thời Xuân Thu – Chiến Quốc, do đất nớc cha thống nhất nên chữ viết
ở các nớc không hoàn toàn giống nhau Sau khi nớc Tần thống nhất TrungQuốc, Lý T đã dựa vào chữ nớc Tần kết hợp với các thứ chữ của các nớc khác,cải tiến cách viết tạo thành một loại chữ thống nhất gọi là chữ tiểu triện Sau
đó, chữ viết tiếp tục cải tiến và đến đời Hán thì đợc định hình thành chữ viếtngày nay của Trung Quốc, nên gọi là chữ Hán
- Văn học.
Thời kỳ này, nền văn học Trung Quốc bao gồm hai thể loại chủ yếu làthơ và văn xuôi Thơ bao gồm Kinh Thi và Sở từ Kinh Thi là tập thơ gồmnhững bài ca dao và những bài thơ do tầng lớp trên sáng tác Thời Chu, thơ th-ờng đợc dùng để làm lời của bài hát, vì vậy vua Chu và vua các nớc ch hầu th-ờng sai các viên quan phụ trách về âm nhạc của triều đình su tầm thơ ca củacác địa phơng để hát Do đó, những bài thơ hay sáng tác từ đầu thời Tây Chu
đến giữa thời Xuân Thu trong vòng 5 thế kỷ phần lớn đã đợc tập hợp lạithành một tác phẩm gọi là Thi (nghĩa là Thơ) Tơng truyền rằng Khổng Tử đãchỉnh lý lại, về sau tác phẩm ấy trở thành một trong những sách kinh điển củanhà Nho nên gọi là Kinh Thi
Kinh Thi có tất cả 305 bài thơ chia làm ba phầm là Phong, Nhã, Tụng.Phong là dân ca của các nớc, nên gọi là Quốc Phong, gồm 15 phần Nhã lànhững bài thơ do tầng lớp trên sáng tác, chia làm hai phần gọi là Tiểu Nhã và
Đại Ngã(1) Tụng bao gồm 3 phần: Chu Tụng, Lỗ Tụng và Thơng Tụng, lànhững bài thơ do các quan phụ trách việc tế lễ và bói toán sáng tác, dùng đểhát khi cúng tế ở miếu đờng
Trong Kinh Thi, Quốc phong là phần có giá trị t tởng và nghệ thuật caonhất Bằng lời thơ gọn gàng, mộc mạc, nhng đầy kình tợng, những bài dân canày đã vạch mặt hoặc mỉa mai sự áp bức bóc lột và cảnh giàu sang của giaicấp thống trị, nói lên nỗi khổ cực của nhân dân Ví dụ, trong bài chặt gỗ đàn(Nguỵ Phong) có những câu
Trang 29Không cấy không gặt, Lúa có ba trăm.
Không bắn không săn, Sân trao đầy thú.
Này ngài quân tử!
Chớ ngồi ăn không.
Tuy nhiên, chiếm tỉ lớn nhất và hay nhất là các bài thơ mô tả tình cảmyêu thơng gắn bó hoặc buồn bã nhớ nhung hoặc bâng khuông mong đợi giữanhững đôi trai gái Bốn câu đầu tiên của bài Quan th, bài thơ đầu tiên củaKinh Thi là một khổ thơ rất hay về chủ đề đó:
Quan quan th cu, Tại hà chi châu.
Yểu điệu thực nữ, Quân tử hảo cầu
(Đôi chim đang hót,
ở trên bãi bồiCô em xinh đẹp,Anh muốn sánh đôi)Bài Cắt cây sắn dây thì viết:
Em đi cắt dây sắn mới một ngày
Mà tởng ba tháng rày không g thấy mặt nhau
Em đi hái cỏ hơng mới một ngày,
Mà tởng ba thu rày không đợc thấy mặt nhau
Em đi hái ngải cứu một ngày,
Mà tởng ba năm rày không đợc thấy mặt nhau
Kinh Thi không những chỉ có giá trị văn học mà còn là một tấm gơng
phản chiếu tình hình xã hội Trung Quốc thời bấy giờ Ngoài ra, tác phẩm nàycòn đợc các nhà Nho đánh giá cao về tác dụng giáo dục t tởng Chính Khổng
Từ đã nói: “Những thành tựu chủCác trò sao không học Thi? Thi có thể làm cho ta phấn khởi, có
thể giúp ta mở rộng tầm nhìn, có thể làm cho mọi ngời đoàn kết với nhau, có thể làm cho ta biết oán giận Gần thì có thể vận dụng để thờ cha, xa thì thờ vua, lại biết đợc nhiều tên chim muông, cây cỏ ”
Đến thời Chiến Quốc, thơ ca càng phát triển, trong đó quan trọng nhất
là Sở từ (từ của nớc Sở), một thể thơ sáng tác dựa theo dân ca của địa phơng.Tác giả tiêu biểu nhất là khuất nguyên