1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những giá trị đặc sắc của truyện kim lân

53 770 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những giá trị đặc sắc của truyện Kim Lân
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn T. S. Phan Huy Dũng
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lí luận văn học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 182 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở loại bài viết thứ nhất, trừ hai bài tìm hiểu khá sâu, đánh giá khá toàn diện các tác phẩm của Kim Lân là Văn xuôi Kim Lân [3] của Lại Nguyên ân và Kim Lân với những thú chơi ngày xuân

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Trang 2

Mục lục

Trang

Mở đầu

Chơng 1: T tởng nghệ thuật của kim lân

1.1 Về khái niệm t tởng nghệ thuật

1.2 T tởng nghệ thuật của Kim Lân

Chơng 2: Giá trị nhân bản của truyện kim lân

2.1 Cảm thông, bênh vực quyền sống của con ngời

2.2 Ca ngợi tinh thần lạc quan, nghị lực, nhân phẩm của con ngời

2.3 Khẳng định đời sống tâm hồn phong phú của ngời dân thôn quê, khẳng định nền văn hoá dân tộc

2.4 Ca ngợi tình ngời, tình quê hơng đất nớc

Chơng 3: Bút pháp, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật

trong truyện kim lân3.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện

Trang 3

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Kim Lân là một trong những cây bút viết truyện, truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại Số lợng tác phẩm của Kim Lân không nhiều: chỉ trên hai mơi truyện, truyện ngắn và một truyện phim Vẫn biết rằng, đánh giá một nhà văn phải tính cả chất lợng lẫn số lợng tác phẩm của nhà văn ấy Nhng dù sao, vẫn phải nhấn mạnh điều này: văn chơng nghệ thuật vốn không quen đo đếm ở số lợng Cho nên, tuy không có những đỉnh cao, những kiệt tác nhng khi kể ra những gơng mặt làm nên bản sắc của văn xuôi Việt Nam trong mấy chục năm trở lại đây thì khó có thể bỏ sót tên tuổi của Kim Lân Bằng phong cách viết truyện độc đáo, tự nhiên, tinh tế, Kim Lân đã có những đóng góp quý báu vào bức tranh phản ánh những phơng diện khác nhau của hiện thực xã hội, phong tục tập quán, phong cảnh thiên nhiên và tâm hồn Việt Tuy nhiên, qua tìm hiểu, chúng tôi thấy: cho đến nay, những bài nghiên cứu, phê bình, tiểu luận về sáng tác của Kim Lân đang còn rất ít Nghiên cứu tác phẩm của Kim Lân trên cơ sở lý luận mới, góp phần khẳng định vị trí của nhà văn trong văn học Việt Nam hiện đại là cần thiết và hứa hẹn nhiều phát hiện mới mẻ

1.2 Văn học là một loại hình nghệ thuật, đồng thời là yếu tố để lu giữ, bảo tồn những giá trị văn hoá của dân tộc Từ những sáng tác đầu tay, Kim Lân chuyên viết về làng quê Việt Nam, về những nỗi thống khổ của con ngời

và các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tinh hoa văn hoá dân gian của vùng đất Kinh Bắc ông rất sành về cảnh quê, ngời quê, đã tạo nên những trang viết sâu sắc, cảm động với một vốn hiểu biết thấu đáo và một tấm lòng tha thiết hiếm có về thế giới của hơng đồng gió nội này Đề tài vì vậy sẽ mang một ý nghĩa thiết thực trong việc tìm hiểu những giá trị văn hoá, lịch sử của dân tộc qua văn học - nghệ thuật – một nhiệm vụ cần thiết của việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong thời hiện đại

1.3 Từ lâu, tác phẩm của Kim Lân đã đợc đa vào giảng dạy trong nhà trờng Phổ thông ở lớp 9-THCS: Truyện Làng (Văn 9, tập 1, Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 2000) và lớp 12 – THPT: truyện Vợ nhặt (Văn 12, tập 1, Nxb Giáo

dục, Hà Nội, 2000) Chính vì vậy, tìm hiểu những đặc sắc nghệ thuật trong

Trang 4

truyện của Kim Lân còn mang một ý nghĩa thiết thực trong thực tiễn dạy - học các tác phẩm của Kim Lân trong nhà trờng Phổ thông.

2 Lịch sử vấn đề

Cho đến nay, khi tiến hành thực hiện đề tài này, chúng tôi mới chỉ đợc tiếp xúc với một số bài viết hoặc là tóm tắt, nhận xét, đánh giá khái quát sự nghiệp văn học của Kim Lân, hoặc là phân tích, bình giá một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Bên cạnh hai loại bài viết trên, còn có một số bài ghi chép những ý kiến của Kim Lân qua các cuộc phỏng vấn Ngoài ra, chúng tôi cha biết tới một công trình nào cả

ở loại bài viết thứ nhất, trừ hai bài tìm hiểu khá sâu, đánh giá khá toàn diện các tác phẩm của Kim Lân là Văn xuôi Kim Lân [3] của Lại Nguyên ân

Kim Lân với những thú chơi ngày xuân Kinh Bắc [45] của Lữ Huy

Nguyên, còn lại hầu hết các ý kiến đánh giá thờng đợc viết xen kẽ với phần tiểu sử của nhà văn nh trong Từ điển văn học [48], Nhà văn của các em [2] Tổng tập văn học Việt Nam [40], Lời giới thiệu trong Tuyển tập Kim Lân

[37], phần Tiểu sử và sự nghiệp văn chơng trong sách Nhà văn và tác phẩm

bài viết này, các tác giả đều có những điểm thống nhất khi cho rằng: Văn Kim Lân trớc Cách mạng tháng Tám viết nhiều về đời t, mang tính chất tự truyện và các phong tục văn hoá dân gian; còn sau Cách mạng tập trung vào phơng diện xã hội chính trị của đời sống ngời nông dân gắn liền với vận mệnh của đất nớc

Đi sâu vào phân tích, Lại Nguyên ân trong Văn xuôi Kim Lân cho rằng:

“Đọc văn xuôi Kim Lân ta bắt gặp cái thế giới của những thờng dân nghèo khổ, là hạng “hạ lu” của xã hội, những đầu thừa đuôi thẹo ở khắp các xó xỉnh của cuộc sống ” và “Ông không bao giờ quên nêu lên những nét đẹp đáng quý của họ, những nét thậm chí vẫn có thể là tiêu biểu cho đạo lý truyền thống” [3, 56]*∗ Tuy nhiên, trong bài viết này, Lại Nguyên Ân đã không đề cập tới mảng truyện viết về phong tục của Kim Lân Còn trong Từ điển văn học, Trần Hữu Tá viết: “Tuy nghiêng nhiều về phía phong tục, trình bày cặn

 Các chú thích trong luận văn này đợc đặt vào ngoặc đơn Số đầu chỉ thứ tự theo danh mục Tài liệu tham

Trang 5

kẽ những thú chơi lành mạnh nhng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của ngời nông dân trớc Cách mạng Những ngời sống cực nhọc, khổ nghèo nhng vẫn yêu đời, trong sáng, thông minh, tài hoa” và “Sau Cách mạng ông

đề cập đến sự đổi mới về mặt tình cảm của ngời nông dân” [48, 360] Cũng vậy, Nguyên An viết: “Giữa cuộc sống nhọc nhằn đầy bức xúc lúc bấy giờ, những trang văn ấy của Kim Lân đã giúp ngời đọc củng cố thêm một ý nghĩ rằng: Sau luỹ tre xanh kia từ bao đời nay, ngời nông dân sống lam lũ thế nh-

ng tháng ba ngày tám và những buổi sang xuân, họ vẫn tổ chức đợc những trò vui, mà qua đó đã thể hiện một sự thông minh, tài hoa, một tâm hồn tơi sáng lành mạnh” [2, 34] Mở rộng vấn đề này, Lữ Huy Nguyên trong Kim Lân với những thú chơi ngày xuân Kinh Bắc khẳng định: “Nếu có dịp đọc lại

toàn bộ tác phẩm của Kim Lân mà chủ yếu là truyện ngắn, ta sẽ thấy ông không chỉ là đại diện văn học của loại nhân vật đầu thừa đuôi thẹo, ông còn

là đại diện văn học sáng giá của những lớp ngời tài hoa, bặt thiệp, phong lu” [45, 7]

Đánh giá về sự lựa chọn, cách tổ chức nghệ thuật trong truyện của Kim Lân ở loại bài viết thứ nhất này tuy không nhiều nhng cũng có những ý kiến xác đáng Trên đặc san Văn học và tuổi trẻ (Tập 12, 1996), Nguyên An nhận

định: “Ông là nhà văn kỹ lỡng, tinh tế trong việc lựa chọn chi tiết, kỳ khu, tài hoa trong việc lựa chọn ngôn từ, hình ảnh” [1, IV] Đi sâu và nghiên cứu toàn diện hơn vẫn là bài Văn xuôi Kim Lân của Lại Nguyên ân Tác giả của bài

viết đã chỉ ra những thành công cơ bản của truyện ngắn Kim Lân trên các

ph-ơng diện nh: miêu tả nhân vật : “các nhân vật ngời nghèo, chủ yếu là nông dân trong các truyện ngắn của ông đều đợc mô tả hết sức chân thật, từ cách nghĩ, cách c xử đến lời ăn tiếng nói, dù đó là các nhân vật phụ hay đó là các nhân vật chính” Về kiểu cấu tứ, tác giả đã chỉ ra ở Kim Lân có ba kiểu truyện chính: truyện tính cách, truyện tình huống và truyện ngụ ý Còn về giọng điệu, Lại Nguyên ân cho rằng:”Chất giọng thờng xuyên trong các truyện của Kim Lân là chất giọng thực sự văn xuôi” [3, 56-60]

Loại bài viết thứ hai, có tính chất nhận xét, đánh giá một sốtác phẩm tiêu biểu của Kim Lân nh: Vợ nhặt, Làng Loại bài viết này đ… ợc viết dới dạng bình văn, phân tích, bình giảng nh trong Giảng văn văn học Việt Nam

[53], Tiếng nói tri âm [52] Các bài viết này chủ yếu đi sâu phân tích, bình

Trang 6

giảng những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm Tuy vậy các tác giả có đan xen những lời nhận xét khái quát về giai đoạn sáng tác hoặc toàn bộ qúa trình sáng tác của Kim Lân Trong Tiếng nói tri âm, Nguyễn Thanh Văn với bài Phẩm giá con ngời trong truyện ngắn Vợ nhặt đã

nhận định: “Với Vợ nhặt giọng miêu tả phong tục tỉ mỉ xen những chi tiết

hóm hỉnh ở loại truyện Đôi chim thành, Con mã mái, Chó săn không còn

nữa Nó không phù hợp với không khí lúc “cái đói đã tràn đến”” Tác giả nhấn mạnh: “ở Vợ nhặt ống kính nhà văn dừng lâu hơn ở các chi tiết đen tối,

tàn nhẫn và ngôn ngữ dờng nh thô tháp, chì chiết hơn cho đúng với tâm tính hoàn cảnh nhân vật” [52, 134] Trần Đồng Minh trong Bóng tối và ánh sáng trong câu chuyện nhặt vợ cho rằng: “Đọc văn Kim Lân, ngoài những từ ngữ

nh vắt ra từ cuộc sống bình dị, ta còn thích thú nhận ra rằng, ngòi bút ông

đây đó cứ chợt điểm vào cái huyệt dễ mỉm cời Xét ở khía cạnh nhân bản…thì những cái cời, giọng cời đơn giản ấy, có nghĩa lý sâu xa của chúng” [52, 145]

Trong loại bài viết thứ hai này, đáng lu ý là những nhận định của Đỗ Kim Hồi về Vợ nhặt, nhân đó nói nhiều hơn về văn phong Kim Lân Ngoài

việc khẳng định Kim Lân là một trong những nhà văn viết ít mà ngày càng

đ-ợc khâm phục, là nhà văn có hai trong bốn tác phẩm đđ-ợc xếp vào loại gần nh

“thần bút” của văn xuôi Việt Nam hiện đại, tác giả còn nhận định ở Kim Lân

“Vốn liếng ngôn ngữ giàu có và đặc sắc, cái lối viết văn tởng nh dễ dàng mà không dễ phỏng theo, giản dị vô cùng mà sao cứ thấy ánh lên chất hào hoa Kinh Bắc” [53, 527]

Đề cập tới những hạn chế trong truyện của Kim Lân, cả hai loại bài viết trên đều thống nhất cho rằng ở nhiều tác phẩm vẫn còn “hơi hớng ghi chép” [3,65], và đôi chỗ có phần “gợng gạo” [53, 531], ở một số tác phẩm sau Cách mạng còn mang tính chất “tuyên truyền”

Ngoài ra, một số ghi chép qua những cuộc phỏng vấn mang tính chất tự bạch của nhà văn cũng đợc lu ý nh trong Nhà văn nói về tác phẩm [11], Nhà

văn Kim Lân: Văn chơng là một thứ tôn giáo [22], Nhà văn Kim Lân nói về truyện “Vợ nhặt” [15] Nội dung của loại bài này nghiêng về mục đích sáng

tác, quan điểm nghệ thuật Chẳng hạn, những phát biểu của Kim Lân nh:

“Tôi thấy văn chơng là một thứ đạo, một thứ tôn giáo”, “ngòi bút của tôi

Trang 7

h-ớng vào cái thật, cái đẹp, giúp cho con ngời sống thật đẹp với nhau” [22, 9],

“Tôi quan niệm: truyện ngắn cũng là tiểu thuyết và điều quan trọng là nhân vật Nhân vật phải có tính cách và phải hành động một cách tự nhiên, không giả tạo, sáo rỗng” [11, 35], “Ngôn ngữ truyện ngắn phải tinh, gọn, kỹ và phải

3 Phạm vi đối tợng nghiên cứu

Nh ở mục 1 (1.2) đã giới thiệu, Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện, truyện ngắn Số lợng tác phẩm của ông không nhiều: có trên hai mơi truyện, truyện ngắn và một truyện phim Hiện tại, có một số tác phẩm của Kim Lân chúng tôi cha su tầm đợc: Cô Dí, Ngời kép già, Cô Vịa, Tông chim Cả Chuống, Pháo Đồng Kỵ, Thổi ống suỳ đồng, Tha hơng Chúng tôi cũng

không đặt truyện phim Cô gái công trờng [33] trong đối tợng nghiên cứu của

mình

Để khảo sát toàn bộ tác phẩm của Kim Lân là một việc làm công phu,

đòi hỏi phải có nhiều thời gian Vì điều kiện, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ khảo sát những tác phẩm truyện, truyện ngắn của Kim Lân đợc

in và in lại từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Bớc đầu xác lập nội hàm khái niệm t tởng nghệ thuật (idée poétique) và từ

sự phân tích đề tài, chủ đề, cảm hứng t tởng, hình tợng nghệ thuật trong truyện của Kim Lân, chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong t tởng nghệ thuật của nhà văn

4.2 Từ những đặc điểm về t tởng nghệ thuật của Kim Lân, luận văn sẽ phân tích, đánh giá các phơng diện của giá trị nhân bản trong truyện của Kim Lân

Trang 8

4.3 Chỉ ra, phân tích và lý giải những đặc sắc nghệ thuật trong truyện của Kim Lân qua hệ thống các yếu tố hình thức thể hiện: nghệ thuật xây dựng cốt truyện và nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật trong mối quan hệ phù hợp với t tởng nghệ thuật, giá trị nhân bản trong truyện của Kim Lân.

- Phơng pháp so sánh: Trong quá trình phân tích, tiến hành so sánh giữa các chi tiết, yếu tố trong tác phẩm, so sánh giữa tác phẩm đó với tác phẩm khác của nhà văn và của nhà văn khác để làm rõ vấn đề, tìm ra đặc trng riêng của đối tợng nghiên cứu

Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng một số phơng pháp nghiên cứu khác nh: phơng pháp khảo sát-thống kê, phơng pháp hệ thống, phơng pháp tổng hợp

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 51 trang chính văn và 64 đơn vị T.L.T.K

Tơng ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Mở đầu ( 6 tr.) và phần Kết luận ( 2 tr.), nội dung của luận văn đợc triển khai trong 3

chơng:

Chơng 1: T tởng nghệ thuật của Kim Lân.

Chơng 2: Giá trị nhân bản của truyện Kim Lân.

Chơng 3: Bút pháp, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện

Kim Lân.

Cuối cùng là phần Tài liệu tham khảo.

Trang 9

Chơng 1

T tởng nghệ thuật của Kim Lân

1.1 Về khái niệm t tởng nghệ thuật

T tởng nghệ thuật (idée poétique) là một trong những khái niệm trung tâm của khoa nghiên cứu văn học, đợc nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học định nghĩa, phân tích Cho đến nay, trên thế giới có một số lợng lớn những quan niệm khác nhau về t tởng nghệ thuật Xanhtơ Bơvơ ( Ste Beuve) cho rằng: t tởng nghệ thuật là “phẩm chất sâu kín và cốt yếu của tinh thần ”, Ippôlit Ten (H Taine) gọi là “năng lực chủ đạo” Philaredơ Saxlơ (Ph.Chasles) gọi là “tụ điểm của những tia sáng khác nhau trong đời sống tinh thần của nhà văn”, Pôn Buốcgiê (P.Bourget): “hình thái cảm nhận đặc thù của nhà văn” Pôn Lacôngbơ (P.Lacombe): “khuynh hớng cảm xúc”, Gióoc Rơna (G.Renard) nói đến “cơ cấu nội tại của thiên tài” hay là những

“năng lực cơ bản” của nhà văn Giăng Rútxê (J Rousset) gọi là “cấu trúc cơ bản của trí tởng tợng”, Êmin Phaghê (E.Faguet) thì nói gọn: “t tởng cơ bản” [ Dẫn theo 43, 8] Đó là những quan niệm về t tởng nghệ thuật có tính chất cơ bản nhng còn ở mức độ khái quát, cha cụ thể Biêlinxky là ngời bàn nhiều nhất về

t tởng nghệ thuật Ông quan niệm: “T tởng nghệ thuật không phải là một tam

đoạn luận, một giáo điều hay một quy tắc, đó là một say mê mãnh liệt, một nhiệt hứng Trong tâm trạng nhiệt hứng, t… tởng xâm chiếm nhà thơ một cách đắm say nh một ngời tình xinh đẹp bằng xơng bằng thịt mà ông ta chiêm ngỡng, không phải bằng lý trí, bằng ngộ tính, bằng tình cảm hay một năng lực nào đó của tâm hồn, mà bằng toàn bộ con ngời tinh thần của mình với tất cả nội dung phong phú và tính tổng thể toàn vẹn của nó, vì thế, t tởng trong thơ không phải là một t tởng trừu tợng hay một hình thái chết, mà là một sáng tạo sống động ”[ Dẫn theo 43, 9] Biêlinxky thiên về hiểu t tởng nghệ thuật là cảm hứng sáng tạo Cần nhớ rằng: trong sáng tạo nghệ thuật, cảm hứng thẩm mĩ là một trạng thái tình cảm mang t tởng, gắn với t tởng Nhng cảm hứng không phải là t tởng, cảm hứng chỉ là một yếu tố quan trọng của t tởng mà thôi Xét về mặt cấp độ, cảm hứng không đồng nghĩa với t t-ởng

Nhóm tác giả Trần Đình Sử, Phơng Lựu, Nguyễn Xuân Nam trong Giáo trình Lí luận văn học không dùng khái niệm t tởng nghệ thuật nhng đã đề

Trang 10

cập đến các phơng diện chủ quan của nội dung t tởng tác phẩm văn học Thực ra, đó cũng là những luận điểm phân tích về t tởng nghệ thuật Bởi vì, t tởng nghệ thuật của nhà văn biểu hiện ở hình tợng nghệ thuật của tác phẩm văn học Mặc khác, “t tởng nghệ thuật tạo ra tính thống nhất, tính hệ thống, tính chỉnh thể cho toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn” [43, 8] Các tác giả của Giáo trình Lí luận văn học khẳng định: “T tởng trong tác phẩm văn

học không tách rời khỏi đề tài và chủ đề, nhng biểu hiện tập trung ở ba

ph-ơng diện: lý giải chủ đề, cảm hứng t tởng và tình điệu thẩm mĩ ” [57, 44] Cũng vậy, trong Từ điển văn học các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: “T tởng tác phẩm văn học là sự nhận thức, lý giải và thái độ đối với toàn bộ nội dung cụ thể, sống động của tác phẩm văn học, cũng nh vấn đề nhân sinh đặt ra ở trong đó” [17, 315] Nguyễn Đăng Mạnh là ngời tâm huyết với khái niệm t tởng nghệ thuật Trong chuyên luận

Con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn tác giả đã dành hẳn phần

1 để bàn về khái niệm t tởng nghệ thuật với t cách là một khái niệm và với tcách là khái niệm hữu dụng có tính chất phơng pháp luận trong nghiên cứu tác giả văn học Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “T tởng nghệ thuật là thứ t t-ởng có tính tổng hợp cao rút ra từ toàn bộ tác phẩm của nhà văn Nói cách khác, đó là một t tởng bao gồm cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chi phối

về căn bản thế giới nghệ thuật của ông ta ” [43, 8] Những luận điểm của Nguyễn Đăng Mạnh trong chuyên luận Con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn là những kiến thức quý báu cho quá trình nghiên cứu t tởng

nghệ thuật của nhà văn Tuy nhiên, tác giả chuyên luận lại cha “gọi tên” một cách cụ thể “t tởng nghệ thuật là gì ? ”

Theo chúng tôi, t tởng nghệ thuật là hình thức nhận thức, phản ảnh thế giới bằng hình tợng nghệ thuật biểu hiện quan niệm, thái độ của nhà văn về hiện thực đợc miêu tả trong tác phẩm, chi phối đến sự lý giải và tổ chức toàn

bộ các yếu tố của tác phẩm văn học

Nh vậy, t tởng nghệ thuật không phải là một thứ t tởng trừu tợng, có tính tiên nghiệm mà đợc nảy sinh từ những tiếp xúc của nhà văn với hiện thực khách quan Nếu t tởng triết học nhận thức, quan niệm thế giới bằng các phạm trù, quy luật, mối quan hệ giữa tồn tại và t duy, t tởng đạo đức nhìn nhận con ngời bằng các chuẩn mực của hành vi thì t tởng nghệ thuật biểu hiện quan niệm về hiện thực của nhà văn bằng hình tợng nghệ thuật Cho

Trang 11

nhà văn qua những tiền đề ngoài phạm vi của thế giới nghệ thuật “Hình tợng nghệ thuật là căn cứ duy nhất để ngời nghiên cứu có thể “tóm bắt”đợc t tởng nghệ thuật của ông ta” [43, 16] Tuy nhiên, để xác định t tởng nghệ thuật của nhà văn phải đi từ việc tìm hiểu quá trình sáng tác của nhà văn, hoàn cảnh của quá trình sáng tác đó, đề tài và cách xử lý đề tài, chủ đề và sự lý giải chủ

đề, cảm hứng Chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu t tởng nghệ thuật của Kim Lân qua các quá trình phân tích nh trên

1.2 T tởng nghệ thuật của Kim Lân

1.2.1 Kim Lân bớc vào sự nghiệp văn chơng nh một lẽ tự nhiên của cuộc sống, nh cái duyên trời của tài hoa Có lẽ vì thế mà ông thuộc vào số ít nhà văn có thể chứng minh cho chân lý “quý hồ tinh bất quý hồ đa” trong nghệ thuật Kể từ khi in tác phẩm đầu tay (1942) cho đến nay, Kim Lân đã có sáu mơi năm cầm bút Vậy mà nhà văn chỉ có khoảng trên hai mơi truyện, truyện ngắn và một truyện phim Cho nên, khi đọc Kim Lân , Đỗ Kim Hồi có cảm tởng rằng “Kim Lân làm văn chơng theo lối tài tử nhiều hơn là theo lối nhà nghề, dẫu biết rằng ông vẫn đợc coi là nhà văn chuyên nghiệp” [53, 527]

Để đi vào tìm hiểu t tởng nghệ thuật của Kim Lân một cách cụ thể và có cơ sở xác đáng, chúng tôi tiến hành sắp xếp các tác phẩm truyện của nhà văn theo trật tự thời gian từ sáng tác đầu tay cho đến nay Chỗ cần lu ý ở đây là

về thời điểm ra đời của các tác phẩm: trong quá trình sáng tác của một nhà văn, có những tác phẩm nhà văn viết đã lâu trớc khi đăng báo hoặc in thành sách Cho nên, có thể nhầm lẫn khi xác định những tác phẩm hay nhóm tác phẩm đánh dấu bớc chuyển biến quan trọng trong sự vận động, biến đổi của

t tởng nghệ thuật của nhà văn ở Kim Lân, thời điểm ra đời của các tác phẩm gần với thời điểm công bố tác phẩm *∗ Có một số trởng hợp đặc biệt, chúng tôi sẽ ghi chú sau

- Đứa con ngời vợ lẽ 1942 (Trung Bắc chủ nhật, 120, 26.7.1942)

- Nỗi này ai có biết 1943 (Tiểu thuyết thứ bảy, 468, 3.7.1943)

- Đôi chim thành 1943 (Trung Bắc chủ nhật, 164, 4.7.1943)

 Về thời điểm ra đời của tác phẩm Kim Lân, một số chúng tôi lấy từ kết quả su tầm của Lữ Huy Nguyên trong Tuyển tập Kim Lân [37], số khác do chúng tôi su tầm tại Th viện Quốc gia Việt Nam

Trang 12

- Cơm con 1943 (Tiểu thuyết thứ bảy, 476, 28.8.1943)

- Cầu đánh vật – Từ ngôi đất

“Hình

nhân bái tớng” đến chuyện“Voi

cái ngựa lồng”

1943 (Tiểu thuyết thứ bảy,487, 13.11.43)

- Trả lại đòn 1944(Tiểu thuyết thứ bảy, Nguyệt san)

- Con mã mái 1944(Tiểu thuyết thứ bảy, 1.6.1944)

- Con chó xấu xí, Bố con ông gác

máy bay trên núi Côi Kê 1962

- Anh chàng hiệp sĩ gỗ, Ông Cản Ngũ 1958 (Nhà xuất bản Kim Đồng)

Nh vậy, Kim Lân sáng tác từ trớc đến sau Cách mạng Trớc Cách mạng, gia đình và bản thân ông sống trong cảnh ngộ cơ cực, nghèo nàn Kim Lân viết văn từ khi còn là anh thợ sơn guốc mới hơn hai mơi tuổi Với động cơ sáng tác ban đầu là “đòi cho mình một nhân phẩm, một chỗ đứng trong cuộc sống nhỏ bé, quẩn quanh của quê hơng ” [4., 393] Kim Lân bớc vào làng văn với tác phẩm đầu tay mang tính chất tự truyện: Đứa con ngời vợ lẽ

(1942) Truyện kể về nỗi đói nghèo của một thanh niên Với sáng tác đầu tay này, ngòi bút Kim Lân cha phản ánh đợc những vấn đề có ý nghĩa hiện thực một cách sâu sắc Nhân vật hiện lên còn mờ nhạt, cha có sức nặng về nghệ thuật Kim Lân thử bút mình ở tác phẩm thứ hai: Nỗi này ai có biết Thiên

truyện kể về những tình cảm yêu đơng của tuổi trẻ có khuynh hớng thiên về

 Theo lời Kim Lân, “Truyện Vợ nhặt đợc rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ c – cuốn tiểu thuyết viết dở ở thời kỳ trớc Cách mạng Hoà bình lập lại, nhân số kỷ niệm Tổng khởi nghĩa, báo Văn đặt, tôi mới viết lại, rồi đa in ở

Trang 13

cảm hứng lãng nạm Đề tài này không trở lại trong các tác phẩm sau của Kim Lân Có lẽ nhà văn cảm nhận đợc rằng: đây không phải là “vùng thẩm mĩ” và

“sở trờng” của mình Kim Lân trở nên độc đáo và hấp dẫn khi ông viết về những cái gọi là “thú đồng quê” hay “phong lu đồng ruộng” Đôi chim thành

là thành công đầu tiên của nhà văn trong lĩnh vực này Một loạt tác phẩm của Kim Lân tiếp theo miêu tả những sinh hoạt văn hoá phong phú ở thôn quê rất thành công: Cầu đánh vật- Từ ngôi đất Hình nhân bái tớng đến

chuyện Voi cái ngựa lồng , Trả lại đòn, Con mã mái, Th“ ” ợng tớng Trần Quang Khải Trạng vật, Đuổi tà – Đơng thời, có nhiều cây bút khác viết về

đề tài này Chẳng hạn: Toan ánh, Nguyễn Tất Thứ với những tác phẩm viết

về tục kéo chữ, bơi thuyền, hát ví ở nông thôn ngày x… a Nhng nếu đọc những tác phẩm của Toan ánh, Nguyễn Tất Thứ ta chỉ thu nhận đợc những tri thức văn hoá cổ truyền, thì đọc Kim Lân, hơn thế, ngời ta thấy đợc những tâm hồn nghệ sĩ, qua cách tổ chức nghệ thuật, xây dựng hình tợng đầy tài năng Đọc những tác phẩm này, độc giả nhận ra “chất Kinh Bắc” tài hoa, tinh

tế của nhà văn Đất Kinh Bắc – một vùng đất cổ của ngời Việt với biết bao

di tích lịch sử, biết bao đền đài miếu mạo cùng với những truyền thuyết, huyền thoại, cổ tích và những thú chơi văn hoá truyền thống Sinh ra và lớn lên ở vùng quê Kinh Bắc, tâm hồn Kim Lân gắn bó máu thịt với vùng đất cổ kính này, gắn bó với từng cảnh vật, với mỗi con ngời, với nhứng giá trị văn hoá tinh thần hàng ngàn đời của ông cha để lại Tình yêu tha thiết, say mê vùng quê Kinh Bắc ấy vốn tiềm tàng, chất chứa bấy lâu trong tâm hồn ông nay đợc thể hiện bằng những trang văn trong sáng, tự nhiên, bằng những hình tợng nghệ thuật sinh động

Năm 1944, Kim Lân giác ngộ Cách mạng, tham gia Hội văn hoá Cứu quốc, trở thành bạn tri kỷ với Nguyên Hồng, Nam Cao – những nhà văn của lớp ngời cùng khổ Nhà văn tâm sự: “Đề cơng (Đề cơng văn hoá Việt Nam-

ngời trích dẫn ghi chú) đã thấm vào chúng tôi Do tiếp xúc, trao đổi nhiều,…sáng tác của Nguyên Hồng đã ảnh hởng tốt đối với tôi Tôi bắt đầu chuyển từ loại truyện phong tục, thú vui ở nông thôn sang loại truyện xã hội, những truyện có nội dung nhân đạo Đây là một bớc ngoặt quan trọng trong đời sáng tác của tôi Truyện … Vợ nhặt tôi viết sau Cách mạng tháng Tám Có lẽ

đây là truyện đầu tiên tôi viết sau khi tiếp nhận Đề cơng (truyện này chữa từ tiểu thuyết Xóm ngụ c) xem đó là bớc chuyển đầu tiên cũng đợc Thứ hai mới

đến truyện Làng ” [50, 72] Ngòi bút Kim Lân đã mở rộng ra với nhiều quan

Trang 14

hệ xã hội mới Tuy nhiên, làng quê Việt Nam – mảng sống mà từ lâu Kim Lân đã hiểu biết khá kỹ lỡng vẫn là “vùng thẩm mĩ” có “chất dính” với ngòi bút nhà văn Kim Lân đề cập đến những khát vọng hạnh phúc trong cuộc sống đói nghèo, tăm tối của ngời nông dân (Vợ nhặt), phản ảnh, ngợi ca sự

đổi mới nhận thức và tình cảm của ngời nông dân trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp (Làng), sự đổi đời của họ trong Cải cách ruộng đất

(Nên vợ nên chồng), cuộc sống mới dần dần cất cho con ngời những uất ức,

tủi nhục (Ngời chú dợng), những hoạt động bình thờng nhng cảm động và

đáng quý của họ (Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê) Nh… vậy, trong cả hai giai đoạn sáng tác, tuy viết không nhiều, nhng Kim Lân có những

đóng góp tích cực trong thể tài truyện, truyện ngắn và về mảng hiện thực nông thôn Ông viết về mảng hiện thực này bằng tình cảm, tâm hồn của một ngời vốn là con đẻ của đồng ruộng Nói nh Nguyên Hồng, “ông là nhà văn một lòng đi về với “đất”, với “ngời”, với “thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống” [23, 214]

1.2.2 Qua quá trình sáng tác của Kim Lân trình bày ở trên, chúng tôi thấy, ngòi bút của nhà văn tập trung vào hai mảng đề tài chính:

- Cuộc sống và tâm t tình cảm của những kiếp ngời nghèo khổ

- Những sinh hoạt văn hoá cổ truyền, những thuần phong mỹ tục của

ng-ời dân thôn quê

Kim Lân từng tâm sự: “Những truyện tôi thích và cũng đợc nhiều ngời thích, đều là những cái tôi viết về chính mình, về làng xóm mình, ngời thân mình ” [15, 9] Cho nên, hầu hết các truyện của Kim Lân mang tính chất tự truyện Mỗi truyện nh một mảng đời của nhà văn, đợc “xắn ra” (chữ dùng của Tô Hoài) từ mảnh đất sống của những kiếp ngời nghèo khổ thấm đẫm mồ hôi, nớc mắt và cả những nụ cời hồn nhiên xúc động Nhà văn Nguyên Hồng từng kể lại: “Từ giữa năm 1943-1944 ấy, tôi đợc đọc mấy truyện của Kim Lân Thoạt tiên, tôi chẳng những không để ý mà còn thấy cái tên Kim Lân…chơng chớng thế nào ấy, hình nh định chọi, định đả chữ nhau với một số tên

nh Mộng Ngọc, Mộng Dơng, Hoài Trạch lúc bấy giờ vậy Nh… ng rồi chỉ bập vào mấy truyện của anh mà tôi thấy không phải loại ớt át một cách bợm bãi, trái lại có một cái gì chân chất của đời sống và con ngời nghèo hèn, khổ

đau, giọng văn nhiều rung cảm, thắm thiết, đặc biệt là lại gần gũi với mình

Trang 15

thì tôi liền tự trách và giữ ngay số báo đó”(Chú ý: phần in nghiêng trong

đoạn trích dẫn là nhấn mạnh của tác giả luận văn) [24, 78]

Truyện của Kim Lân không chỉ “chân chất của đời sống và con ngời nghèo hèn ” nh Nguyên Hồng nhận xét mà còn ẩm áp tình ngời, tình cảm của những con ngời lao động đôn hậu, nhân ái, thuỷ chung và giàu khát vọng Những tác phẩm đầu tay nh Đứa con ngời vợ lẽ, Cơm con biểu hiện

mong muốn của nhà văn: con ngời đối xử với nhau bao dung, nhân hậu hơn

Từ Cách mạng tháng Tám trở về sau Kim Lân vẫn viết về những mảnh đời bình dị, cuộc sống thôn quê nhng t tởng của tác phẩm sâu sắc hơn, hình tợng nhân vật mang ý nghĩa xã hội rộng lớn hơn Tiêu biểu cho những tác phẩm này là Vợ nhặt, Làng, Nên vợ nên chồng, Con chó xấu xí Vợ nhặt toát lên ý

nghĩa: trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào,

ng-ời nông dân vẫn khao khát vơn lên trên cái chết, cái thảm đạm, để mà vui, để

mà hy vọng Viết Vợ nhặt Kim Lân muốn khẳng định cái chất Ngời: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình nghĩa và hy vọng không thể bị tiêu diệt Nên vợ nên chồng nói về nỗi bất hạnh, nghèo đói của gia đình mẹ Thế: “Một năm

đói kém, ngời ta thấy mẹ Thế đem bốn đứa con nhỏ lên đất Triều Dơng này kiếm việc Việc không có ngày ngày mẹ con bồng bế, dắt díu khắp làng xin

ăn Ngày đợc vài bát cháo, ngày đợc vài củ khoai, có ngày chẳng đợc hột nào, mấy mẹ con nghèo đói chỉ còn thấy răng với mắt Rồi hai ngời chị lớn Thế chết Mẹ Thế nh ngời mất trí, hai mắt lơ láo Mấy hôm sau thì mẹ Thế…cũng chết nốt” Đọc Vợ nhặt, Nên vợ nên chồng, khiến chúng ta liên tởng

đến truyện Đây bóng tối của Nguyên Hồng viết về hai vợ chồng Nhân và

Mũn can đảm xây dựng hạnh phúc trong cảnh nghèo hèn –nhng một ngời bị

mù vì lao động cực nhọc, một ngời bị chết đuối vì chen chúc bán hàng trên tàu thuỷ Rồi Nhân, ngời chồng loà phải dắt con đi ăn mày “trên con đờng cát bụi đã chứng kiến biết bao thây chết dới những nanh vuốt của thiếu thốn, của khổ sở, của đoạ đày” [25] Đây là điểm gặp gỡ trong việc phản ánh hiện thực và t tởng nhân đạo của những nhà văn “của những con ngời cùng khổ” Còn ở truyện Làng, Kim Lân xây dựng hình tợng nhân vật ông Hai – một

nông dân đôn hậu gắn bó tha thiết với nhà cửa, ruộng vờn, đờng làng, ngõ xóm Vậy mà, ông phải rứt ruột rời bỏ tất cả để tản c, đi theo kháng chiến Trớc kia, ông yêu làng bằng một tình yêu tự nhiên của con ngời “chôn rau cắt rốn” nơi đồng ruộng Bây giờ, khi nhận thức rõ ràng ý nghĩa của công cuộc kháng chiến, ông yêu làng trong t thế một quê hơng đã thay đổi, đứng

Trang 16

lên từ Cách mạng tháng Tám Hình tợng nhân vật ông Hai đợc xem là một phát hiện có ý nghĩa điển hình cho văn học kháng chiến ở Con chó xấu xí ,

Kim Lân đặt ra vấn đề có tính chất “ngụ ý” Nhà văn xây dựng hai hình t ợng

đối lập nhau độc đáo: con chó xấu xí, ốm yếu bị mọi ngời xem thờng, hắt hủi

và anh chàng “trí thức nửa mùa” Nhợc Dự lúc nào cũng kiêu căng, lăm le đợi khi con chó “có chút lông da” sẽ làm một bữa no say Một bên là con vật,

một bên là con ngời Vậy mà, sau những ngày chạy giặc vất vả, con chó vẫn

không bỏ chủ, tìm đờng trở về căn nhà cũ Qua đây, phải chăng nhà văn muốn nói đến tấm lòng chung thuỷ, nhân nghĩa của con ngời Còn Nhợc Dự, sau đợt loạn ly đã “dinh tê viết báo, viết truyện chửi kháng chiến” Xây…dựng nhân vật Nhợc Dự, Kim Lân bộc lộ những tâm sự chua xót, nỗi đau về tình trạng băng hoại nhân cách của con ngời

Trong các truyện ngắn về các phong tục văn hoá, viết cho thiếu nhi, ngòi bút Kim Lân cũng luôn luôn hớng tới điều thiện, phát hiện và ca ngợi những con ngời lơng thiện, giàu lòng bao dung, mang trong mình lẽ sống công bằng Đó là nhân vật cụ Cả Lẫm trong keo vật quyết liệt với đô vật tăm tiếng lẫy lừng Cản Ngũ đã dùng miếng võ tuyệt chiêu chắc thắng, bõng dừng tay, chịu thua vì một nguyên cớ cao đẹp: “Đã là ngời đô vật mình, dù ở đâu, cũng là ngời dân Việt ta Trong cái buổi còn đang n… ớc mất, nhà tan này có nên vì hơn, thua một keo vật mà đánh một ngời nghĩa khí, một ngời vì dân, vì nớc nh ông bác đây thành một ngời tàn phế, bỏ đi đợc không ? Đợc nh vậy,

có thể gọi là đợc, đợc không ? ” (Ông Cản Ngũ) Đó là anh chàng hiệp sĩ Gỗ

cháy bỏng một mơ ớc đợc trở thành “ngời” để đi khắp nơi “cứu khổ cho con ngời” nhng phải đứng trớc một thử thách mà mụ phù thuỷ hứa giúp chàng toại nguyện: “Chàng phải giết chết một cô gái lơng thiện giết chết một con…ngời, lại là một cô gái lơng thiện để bản thân mình đợc hoá thân từ “Gỗ” thành “Ngời” ? Không thể đợc, không bao giờ nên thà suốt đời làm hiệp sĩ…

Gỗ giúp đỡ những con rối, những chú khỉ con, những đồ chơi bé nhỏ mà thân phận thờng gặp nhiều khổ đau ” (Anh chàng hiệp sĩ Gỗ)

Quy chung lại, cảm hứng t tởng xuyên suốt trong các tác phẩm của Kim Lân xuất phát từ chiều sâu nhân bản T tởng ấy đã có lần nhà văn bộc lộ:

“Tôi thấy văn chơng là một thứ đạo, một thứ tôn giáo, mà tôn giáo nào cũng

đòi hỏi sự thơng yêu giữa con ngời với con ngời, đòi hỏi con ngời có quyền làm ngời, bình đẳng, tự do, bác ái” [22, 14]

Trang 17

1.2.3 Trong Nhà văn Việt Nam hiện đại, Kim Lân viết: “Tôi nghĩ

muốn theo đuổi nghề văn thì ngời viết phải là ngời tử tế đã Dĩ nhiên, không phải cứ là ngời tử tế ắt hẳn viết văn hay đợc Viết văn phải có tài Cái tài đến với nhà văn rất tự nhiên, mất đi cũng từ nhiên ” [54, 370] Cái “tử tế” của nhà văn mà Kim Lân tâm sự ở trên chính là tấm lòng của ngời viết, cái tâm trong nhân cách của ngời nghệ sĩ

Từ quan niệm ấy, ngòi bút Kim Lân đã tạo ra đợc cho mình những bản sắc, giá trị riêng trong t tởng nghệ thuật Tìm hiểu truyện của Kim Lân từ những sáng tác đầu tay cho đến nay chúng tôi thấy nổi lên ba đặc điểm chính:

- Một tinh thần nhân bản sâu sắc hớng về tầng lớp cùng khổ, “dới đáy” của xã hội

- Một sự gắn bó máu thịt, một niềm đam mê hết mực với những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc

- Một niềm tin không bao giờ lụi tắt ở nghị lực, nhân phẩm của con ời

ng-Có thể nói, Kim Lân bớc vào nghề văn do sự thôi thúc của những nỗi thống khổ Cái động cơ sáng tác ban đầu “đòi cho mình một nhân phẩm trong cuộc sống nhỏ bé, quẩn quanh” [48, 359] thực ra có nguồn gốc từ những nỗi thống khổ mà nhà văn nếm trải và chứng kiến Cái “chất dân nghèo” đã hớng ngòi bút Kim Lân “đầu thai” vào những nhân vật gần gũi và quen thuộc trong “cái đáy” của nông thôn ngày trớc Cũng nh Nguyên Hồng, Kim Lân trớc hết là “nhà văn của những ngời cùng khổ” Ngòi bút ông đã bắt rất sâu vào những cảnh thơng tâm, những kiếp ngời bất hạnh, nghèo đói Nh-

ng không nên quên rằng, Kim Lân còn có một mảng sáng tác gắn bó máu thịt với những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Dới ngòi bút Kim Lân, hình ảnh những con ngời tài hoa, bặt thiệp, phong lu với những thú chơi lành mạnh biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của ngời dân thôn quê - những ngời sống cực nhọc, khổ nghèo nhng vẫn yêu đời, trong sáng, thông minh, tài hoa Cho nên, có thể khẳng định: Kim Lân là một trong số ít những cây bút hớng tới phản ánh nông thôn một cách có tính chất toàn diện

Miêu tả nỗi thống khổ hay vẻ đẹp tâm hồn của con ngời cũng đều cốt khẳng định một niềm tin Với Kim Lân, ở những ngời nông dân vô cùng vất vả, lam lũ ấy vẫn có một niềm yêu đời, vui sống, và một lòng tin không gì lay chuyển đợc về lẽ tất thắng của chính nghĩa “Ai giàu ba họ, ai khó ba

Trang 18

đời”, “ác giả ác báo, ở hiền gặp lành” t… tởng lạc quan hồn nhiên, chất phác

đó đã là linh hồn của biết bao cổ tích, truyện nôm của ngời bình dân xa, giúp

họ vợt qua bao thử thách Giờ đây, ở Kim Lân cái “chất dân nghèo” đã tạo nên một tinh thần lạc quan đặc biệt vững chãi Tinh thần lạc quan ấy càng đ-

ợc củng cố mạnh mẽ khi nhà văn tiếp nhận lý tởng cách mạng của Đảng Cho nên, giá trị nhân bản trong truyện của Kim Lân là một nội dung có tính chân thực, gắn bó sâu nặng với truyền thống dân tộc, không hề chung chung, trừu tợng Chúng tôi sẽ đi vào phân tích, lý giải một cách cụ thể giá trị nhân bản của Kim Lân với những nội dung tiêu biểu của nó trong chơng 2

Trang 19

Chơng 2

Giá trị nhân bản của truyện Kim Lân

2.1 Cảm thông, bệnh vực quyền sống của con ngời

Lấy tinh thần nhân bản làm mục đích sáng tạo nghệ thuật, Kim Lân đã hớng về nông thôn để miêu tả Trong các sáng tác của Kim Lân, trừ một số truyện viết về phong tục văn hoá lấy bối cảnh cuộc sống thôn quê bình yên,

êm ả, còn hầu hết đều tạo dựng bức tranh về một cuộc sống vất vả đói nghèo Sinh ra từ nông thôn, Kim Lân hiểu sâu sắc nông thôn Việt Nam Cùng với Ngô Tất Tố (1892-1954) Nam Cao (1917-1951) Thạch Lam (1910-1942)… Kim Lân đã phản ánh khá toàn diện không khí nông thôn Việt Nam dới chế

độ thực dân phong kiến – một nông thôn nghèo đói, tiêu điều, xác xơ

Trong văn học hiện thực Việt Nam 1930-1945, chúng ta đã từng bắt gặp hình ảnh làng Vũ Đại trong Chí Phèo của Nam Cao, làng Đông Xá trong Tắt

đèn của Ngô Tất Tố Giờ đây, qua các tác phẩm của Kim Lân ta lại thấy…thôn quê Việt Nam hiện lên với một “xóm ngụ c” của Tràng trong Vợ nhặt,

một làng Triều Dơng ở Nên vợ nên chồng, một xã Đồng Thịnh trong Chị Nhâm Hiện lên trên những không gian đó là những cảnh đời cơ cực, những

ngời nông dân đói khổ, nhọc nhằn, bị áp bức, bị bóc lột cả về vật chất lẫn tinh thần Nhng điểm khác biệt của Kim Lân so với Ngô Tất Tố, Nam Cao là

ở chỗ: ngời nông dân của Ngô Tất Tố, Nam Cao khổ, nghèo nhng vẫn là ngời dân gốc của nơi mình sống Chị Dậu còn có ruộng, Lão Hạc còn có v ờn Đến

nh Chí Phèo, không có một thớc đất cắm dùi nhng xét ra Chí vẫn là ngời làm thuê, làm mớn chính nơi mà mình sinh ra Còn trong nhiều truyện của Kim Lân, ta bắt gặp cái thế giới của những thờng dân khốn khổ, những ngời nông dân miền xuôi mất đất, xiêu dạt lên miền ngợc, họ bám vào một xóm chợ, bến sông, một góc núi hay ven một đồn điền, xóm trại để vật lộn với miếng cơm manh áo sơ đẳng hàng ngày

Dới ngòi bút của Kim Lân, chân dung của những ngời dân không nhà, không đất hiện lên rất rõ Họ là “mẹ Thế đem bốn đứa con nhỏ lên đất Triều Dơng này kiếm việc Việc không có, ngày ngày mẹ con bồng bế, dắt díu đi khắp làng xin ăn Ngày đợc vài bát cháo, ngày đợc vài củ khoai, có ngày chẳng đợc hột nào, mấy mẹ con gầy đói chỉ còn nom thấy răng và mắt ” (Nên vợ nên chồng) Họ là những ông bố, bà mẹ vì con cài mà phải lần hồi

Trang 20

kiếm sống: “Sáng, bố cõng một con đi một phơng, mẹ cõng một con đi một phơng Tối về, mấy bố con mới lại gặp nhau hi hút thổi nấu ở một cái lều góc chợ ” (Tìm em) Còn đây, hình ảnh gia đình ông T Mủng, một hình ảnh

rất điển hình để minh chứng cho cái “lý lịch” của những ngời dân ngụ c Việt Nam: “Ông T Mủng vốn là ngời làm ruộng không có đất, thèm ruộng đất xa nay Từ đời ngời ông nội, đến đời ông, mấy đời ngời ao ớc có một mảnh đất

mà sinh sống, mấy đời ngời bỏ làng quê, mồ mả ông cha, phiêu dạt khắp đó

đây đi tìm đất M… ời một con ngời đói khát, vừa lớn vừa bé trong gia đình mỗi lần nghe ngời ông nội nhắc đến Thái Nguyên, Bắc Giang lại tỉnh ra, vui lên, lại hi vọng, tin tởng, lại lếch thếch bồng bế, dắt díu nhau đi ” (… Bố con

ông gác máy bay trên núi Côi Kê) Sống ở một nớc nông nghiệp, đất đai là

hàng đầu, thế mà gia đình ông T Mủng có đến mấy đời ớc ao có đợc miếng

đất để sinh sống Nhà văn đã hiểu sâu sắc cái khổ tâm, đau xót nhất của ngời Việt Nam lúc bấy giờ là không có đất Cái tâm lý tất yếu “Sống ngôi nhà, chết ngôi mồ ”, có “an c” mới “lạc nghiệp” đã ăn sâu trong họ Do vậy, không gì khổ tâm hơn là cảnh “sống vô gia c, chết vô địa táng” Ngời Việt Nam yêu quí đất nhiều khi hơn cả bản thân mình Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao đã nhất quyết không bán mảnh đất cằn cỗi của mình

dù nghèo, đói đến kiệt cùng Thấu hiểu nét tâm lý này, Kim Lân đã chỉ ra cái nghịch cảnh để ngời đọc rõ hơn thực trạng khốn khổ của ngời nông dân Việt Nam

Không có đất, tất yếu dẫn tới cái đói Trên một đất nớc thiên tai và giặc giã triền miên, chế độ phong kiến lạc hậu, trì trệ kéo dài, cái đói là một nỗi

ám ảnh đối với mỗi ngời dân và đã trở thành một đề tài trong nhiều xu hớng văn học Cũng nh Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng,Kim Lân dành nhiều tâm lực để miêu tả cái đói Nam Cao cất lên tiếng kêu

cứu lấy nhân phẩm con ngời đang bị cái đói bào mòn Còn Kim Lân lại hớng

về miêu tả những kiểu đói, kiểu nghèo và sự huỷ diệt tàn bạo của nó đối với con ngời Dòng đầu tiên của truyện ngắn đầu tay Đứa con ngời vợ lẽ ngời

đọc đã thấy: “T nằm dán mình trên giờng, bụng hóp lại, mặt phờ phạc T…

đói quá, đói lả ngời đi ” Những cảnh đói tơng tự nh vậy đều có trong Vợ nhặt, Nên vợ nên chồng, Chị Nhâm, Tìm em Nhng nếu cái đói ở Đứa con ngời vợ lẽ mới chỉ “dày vò” T, mới chỉ làm cho T “oán trách ngấm ngầm

trong thâm tâm” thì cái đói trong các truyện sau này dữ dội hơn nhiều Trong

Trang 21

Thế nh ngời mất trí, hai mắt lơ láo, cả ngày chỉ ngồi ở gốc cây đa ngoài bến

đò nói lảm nhảm một mình Ai đi qua cũng hỏi “Có lấy trẻ con tôi cho mấy

đứa đây này” Rồi lại cời khí khí trả lời một mình “Chả cho, chả cho đứa nào cả” Mấy hôm sau thì mẹ Thế cũng chết nốt” Trong Tìm em cũng chỉ vì cái

đói mà “bố Viên tự tử, mẹ Viên chết, anh em Viên thất lạc, Viên phải đi làm thuê từ lúc mời ba tuổi” Đặc biệt, trong Vợ nhặt, cái đói đã lộ hết sức huỷ

diệt cuộc sống đến mức khủng khiếp Chỉ mấy chữ “cái đói đã tràn đến ” đủ gợi lên hoài niệm kinh hoàng cho ngời dân xứ Việt về một hiểm họa lớn của dân tộc đã quét đi xấp xỉ gần một phần mời dân số trên đất nớc này Kim Lân

đặc tả chân dung con ngời năm đói “khuôn mặt hốc hác, u tối” Nhng đáng

sợ nhất là có tới hai lần ông so sánh ngời với ma: “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lợt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám nh những bóng ma Ng… ời chết nh ngả rạ”, và “bóng những ngời đói dật

dờ đi lại lặng lẽ nh những bóng ma” Kiểu so sánh ấy thể hiện một cảm quan

đặc biệt của Kim Lân về cái thời ghê rợn: đó là cái thời mà ranh giới ngời và

ma, cái sống và cái chết chỉ mong manh nh sợi tóc Khó có thể tìm thấy đợc một tác phẩm văn học nào có sự miêu tả chi tiết, sống động, xác thực về cái

đói nh vậy Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế các chi tiết của hiện thực và nhất là mối

đồng cảm sâu sắc, niềm phẫn nộ cao độ đã tạo nên một bút lực hiếm có Viết về cái đói và sức huỷ diệt tàn bạo của nó, Kim Lân đồng thời khắc họa nỗi khổ của ngời dân và phê phán sự bóc lột của thực dân, phong kiến Rất nhiều nhân vật trong truyện của Kim Lân không có nổi một thớc đất cắm dùi Bị bóc lột tàn tệ, chỉ còn hai bàn tay trắng, họ phải phiêu dạt hi vọng kiếm một mảnh đất sinh sống Song, đó là một ớc mơ không thể trở thành hiện thực Thời ấy, sống ở làng nào, xã nào không là “làm nô lệ cho thằng Tây” ở làng nào, xã nào không có “bọn kỳ lý chuyên môn khua khoét ra…vào hống hách trong cái đình và cái đình nh của riêng chúng nó, lại thâm nghiêm ghê gớm, chứa toàn những sự ức hiếp đè nén anh nào ho hoe, hóc…hách một ít thì chúng nó tìm hết cách để hại, cắt phần ruộng, truất ngôn, trừ ngoài, tống ra khỏi làng ” (… Làng) Kim Lân đã có sự bổ sung đáng ghi nhận

cho bản danh sách chân dung bọn quan lại độc ác, nham hiểm trong nền văn học lúc bấy giờ Đó là địa chủ Khang đã giết bố Hoà, dùng mu mẹo ngăn không cho Thế lấy vợ (Nên vợ nên chồng) Đó là địa chủ thị Toàn đã đánh

mẹ Viên đến chết Còn em Viên chỉ vì “đói quá em ăn của nhà nó mấy quả chuối xanh trong bếp Nó bắt đợc xích em vào gốc cau, nh xích con chó Khi

Trang 22

sáng ra nó hỏi “Có rét không ? ”em sợ không trả lời thế là “Nó ra bể múc mấy gầu nớc lã dội từ đầu đến chân” (Tìm em) Trong Chị Nhâm , tên tổng

Đáng khét tiếng một vùng chỉ vì một đồng ba bạc, nó đã bắt Nhâm mời ba tuổi “làm không thiếu một việc gì: quét nhà, nấu cơm, chăn trâu, xay lúa, giã gạo Nhâm làm từ mờ đất cho tới tối đêm không lúc nào ngơi tay Thế mà…

nó vẫn đánh, vẫn chửi” Khi Nhâm lớn lên xinh đẹp, vợ chồng tổng Đáng bèn

dụ dỗ cho ăn ngon, mặc đẹp để chuẩn bị “đem chôn sống làm thần giữ của” Tuy nhiên, phải nhận định một cách khách quan rằng: mức độ điển hình của tính cách những nhân vật phản diện trong truyện của Kim Lân cha cao Miêu tả những tên địa chủ cụ thể nh trên, Kim Lân đã chỉ ra cái căn nguyên của những cảnh đói nghèo mà ngời dân gánh chiụ Mặt khác, đó chính là sự cảm thông sâu sắc, tinh thần đấu tranh đòi quyền sống cơ bản, tất yếu cho ngời dân nghèo

2.2 Ca ngợi tinh thần lạc quan, nghị lực, nhân phẩm của con ngời.

Cảm thông sâu sắc với nhứng đói nghèo của ngời dân, Kim Lân đồng thời nhận ra trong họ những khát vọng sống, khát vọng làm ngời chân chính Những ngời dân nghèo trong truyện Kim Lân là những ngời tiềm ẩn sức sống mãnh liệt của dân tộc, những ngời giữ gìn truyền thống của cha ông A.G.Botsarov từng cho rằng: “Khi muốn thể hiện tính vĩnh cửu, không phai tàn của nền tảng đạo đức, ngời ta lại khai thác cảnh thôn cùng xóm vắng: ở

đấy có thể tìm đợc tính cách cần thiết, hoàn cảnh nh ý muốn mà không vi phạm sự thật cuộc sống, không cỡng ép chất liệu mà nghệ sĩ đã biết” [6, 26] Trong các sáng tác của mình, Kim Lân đã thể hiện tinh thần lạc quan, yêu

đời của con ngời Nhà văn đã nhận ra ở thôn quê “khi đói ngời ta không nghĩ tới con đờng chết mà chỉ nghĩ tới con đờng sống” [15, 9] Nhà văn cũng từng tâm sự: “Trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào, ngời dân vẫn khao khát vơn lên trên cái chết, cái thảm đạm, để mà vui, để mà

hi vọng ” [49, 85] Trên trang sách Kim Lân, sự sống lan toả nh ánh bình minh, ấm áp và đầy ớc vọng Sự sống đã tạo cho văn Kim Lân ánh lên niềm tin và nghị lực con ngời Các nhân vật trong truyện của Kim Lân, dù ở trong hoàn cảnh khó khăn vẫn tin vào một tơng lai tơi sáng, dù phải bôn ba kiếm sống, dù phải đối mặt hàng ngày với cái đói, cái rét, cực nhọc vẫn nghĩ tới một ngày mai tốt lành Hình ảnh “những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lợt bồng bế, dắt díu nhau lên ” (… Vợ nhặt) tiềm ẩn

Trang 23

Về nhà thì đói lắm ! Mẹ đa con đi trên ấy có cơm không phải ăn củ” ở Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê, ngời ông nội của ông T Mủng, trong

tiếng nói run run vì kiệt sức do đói kém vẫn động viên con cái: “Cố lên ! Cố lên các con ơi ! Bắc Giang, Thái Nguyên dất rộng ngời tha lên đ… ợc đến trên

ấy là có cái sống rồi !” Còn trong Chị Nhâm, khi phải lựa chọn giữa cái

sống và cái chết, Nhâm đã “cắm đầu chạy, Nhâm chạy không kể gì gai góc

đâm toạc chân, toạc mặt” Nhâm chạy bởi Nhâm “tha thiết muốn sống”, lúc nào “ý nghĩ muốn sống” cũng trỗi dậy, cũng làm cho “rạo rực trong ngời” Khát vọng sống đã trở thành nội lực mạnh mẽ, ý nghĩ muốn sống đã giúp Nhâm vợt qua tất cả

Ngợi ca tinh thần lạc quan, khát vọng sống của con ngời, ngòi bút Kim Lân đã tạo ra những tình huống thật đắc địa Trong bối cảnh cái đói lộ hết sức mạnh huỷ diệt cuộc sống đến mức khủng khiếp, Tràng trong Vợ nhặt đã

“tính chuyện trăm năm” cho mình Khi “nhặt ” vợ về, Tràng không phải không biết chờn: “Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng” Nhng rồi anh ta chặc lỡi: “Chậc, kệ!” Một quyết

định có vẻ rất “tầm phơ” đối với một sự việc trọng đại bậc nhất của đời ngời Nhng, cũng có thể hiểu, khi chặc lỡi nh vậy là Tràng đã đánh cuộc cùng cái

đói, để đợc sống cuộc sống bình thờng nh mọi ngời Nghĩa là, khát vọng sống, niềm tin đã tạo ra nghị lực giúp Tràng quyết định nh vậy Và niềm tin

về một ngày mai tơi sáng hơn đã hiện lên trong tâm trí mỗi ngời “hình nh ai nấy đều có ý nghĩ thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn” Cũng vậy, Thế và ngời yêu trong

Nên vợ nên chồng dù đang phải sống cuộc đời đi ở, vẫn ớc mơ, vẫn “bàn tính

với nhau: cới xong, sẽ ở riêng, làm một túp lếu nhỏ, hai vợ chồng cày cấy

m-ớn nuôi nhau, nhất định không đi ở cho thằng Khang nữa” Niềm tin, ớc mơ

đã tăng thêm sức sống cho ngời dân nghèo Vì vậy, càng khó khăn, gian khổ, thì sức sống càng mạnh mẽ Thông điệp mang ý nghĩa nhân văn ấy của Kim Lân gợi cho chúng ta nghĩ đến sự suy ngẫm của nhân vật Paven Corsaghin trong tiểu thuyết nổi tiếng Thép đã tôi thế đấy của nhà văn Nhicôlai

Ôtrôpxki: “Hãy biết sống cả những khi cuộc đời trở nên không chịu đợc nữa” [47] Đọc văn Kim Lân, độc giả có thể lý giải đợc sức sống mãnh liệt của ng-

ời dân Việt Nam, lý giải đợc tinh thần lạc quan – một yếu tố giúp họ trụ vững trên mảnh đất khắc nghiệt, nhiều tai họa của mình

Sự sống là cần thiết, nhng phải sống xứng đáng với hai chữ Con Ngời (viết hoa) mới là điều quan trọng Kim Lân ca ngợi nghị lực sống của ngời

Trang 24

dân nghèo, đồng thời ông cũng thất đợc rằng “trong cảnh đói nghèo nhng con ngời ta vẫn giữ gìn đạo lý” [15, 9] Phần đông các nhân vật trong truyện của Kim Lân đều khao khát đợc sống, song họ cũng luôn nghĩ: sống cho ra sống Trong Đứa con ngời vợ lẽ, bà mẹ của T “Dẫu rằng nghèo nhng không muốn

chịu tiếng nhờ ai”, cho dù “nhiều khi không có việc làm, mẹ con đành nhịn

đói” Rồi T “nghiến răng ném mạnh bát phở ra sân” trong khi đã hai ngày không có một chút gì vào bụng Nhân vật Cả Chuẩn trong Con mã mái rất

thích câu “bần thanh còn hơn phú trọc” Sống thanh tao, trong sạch là lẽ sống

đáng trân trọng Lẽ sống ấy đã giúp Tràng (Vợ nhặt) trong lúc đã kề bên “cái

đói chết ngời” vẫn không tơ hào một li khi kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh Lẽ sống này cũng đã giúp Thế và ngời yêu chỉ ớc “làm một túp lều nhỏ, hai vợ chồng cày cấy nuôi nhau” chứ “nhất định không đi ở cho thằng Khang nữa” (Nên vợ nên chồng) Yêu cuộc sống, sống trong sạch đó là những đức tính

nổi bật của ngời dân Việt Nam Những đức tính này bổ sung cho nhau tạo nên sức mạnh trong mỗi con ngời Chính vì vậy, ngời đọc sẽ không lạ lẫm khi thấy những nhân vật nghèo khổ này lại là những ngời hồ hởi đi theo Cách mạng Lúc ấy, họ đã đợc Cách mạng trao cho quyền sống, quyền làm ngời Nội lực tiềm ẩn trong mỗi con ngời đợc dịp phát huy Đó là những Hoà, Thế trong Nên vợ nên chồng, là Viên trong Tìm em, là Nhâm trong Chị Nhâm,

là ông Hai trong Làng, là ông T Mủng trong Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê… Khẳng định nghị lực sống, ý thức làm ngời, mỗi tác phẩm của

Kim Lân là một bài ca ngợi ca những phẩm chất đáng quý của ngời dân nghèo

2.3 Khẳng định đời sống tâm hồn phong phú của ngời dân thôn quê, khẳng định nền văn hoá dân tộc

Bằng một loạt truyện viết về những thuần phong mĩ tục ở nông thôn, những sinh hoạt văn hoá cổ truyền của dân tộc, Kim Lân đã cho ngời đọc thấy đợc rằng: “Sau những luỹ tre làng xanh xanh kia, từ bao đời nay ngời nông dân sống lam lũ thật, nhng tháng ba ngày tám và những buổi sang xuân,

họ vẫn tổ chức đợc những trò vui mà qua đó, đã thể hiện một sự thông minh, tài hoa, một tâm hồn tơi sáng, lành mạnh” [2, 34] Là ngời sinh ra và lớn lên trên đất Kinh Bắc giàu truyền thống văn hoá, Kim Lân đã sớm cảm nhận đợc những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Viết về các phong tục dân gian, trớc hết Kim Lân muốn khẳng định tâm hồn của ngời dân thôn quê

Đọc Đôi chim thành, Con mã mái, Chó săn, Cầu đánh vật từ ngôi đất

Trang 25

Hình nhân bái t

sống thôn quê lành mạnh Bao nhiêu nỗi nhọc nhằn thờng nhật của ngời dân giờ đây nhờng chỗ cho sự thảnh thơi trong cuộc sống thanh bình êm ả Họ đã tạo ra đợc nhiều thú chơi: thả chim, chọi gà, đánh vật…

Đọc các truyện viết về phong tục của Kim Lân, ta thấy tình cảm sâu

đậm của ngời nông dân đối với các vật nuôi của mình Họ vui vẻ, hồ hởi khi các con vật khoẻ mạnh, chiến thắng trong ngày hội Họ lo lắng khi các con vật ốm đau Họ buồn phiền khi các con vật của mình thi đấu kém hiệu quả Tình cảm của họ đối với vật nuôi thật đằm thắm Nhân vật Cả Chuẩn “suốt ngày chỉ lăn lóc với gà Ngay từ mờ sáng cha dậy đợc, nằm trên giờng, ông

đã để ý xem hôm nay con Chuối gáy mấy tiếng, con Bạch Nhạn gáy mấy tiếng, có đợc mạnh mẽ không ” Khi thấy gà ốm “ ruột gan Cả Chuẩn rối…bời lên để chạy thuốc cho hai con gà Đứng không yên, ngồi không yên, ai mách lối nào ông cũng làm” “Cả Chuẩn nh mất hồn, trông ngời sút hẳn đi, phờ phạc xanh xao, suốt đêm không ngủ ” (Con mã mái) Trong Đôi chim thành Trởng Thuận cũng phát sốt khi thấy đàn chim bị gió đánh lạc Khi

chim về “ông Trởng đang rên hừ hừ, vùng trở dậy, run lẩy bẩy chạy ra sân miệng hỏi: Đâu! Thật không ? ” Thấy chim “hai mắt ông sáng lên vì sung s-ớng Cặp môi héo của ông nở một nụ cời rất tơi” Sự quan sát tinh tế đã giúp nhà văn nhìn thấy những tình cảm chân thành của ngời nông dân đối với nhứng con vật nuôi của mình Không chỉ có nhằm vào các lễ hội mà ngời dân mới có tình yêu với các con vật nh vậy Yêu vật nuôi vốn là bản tính của ngời nông dân Sau này, khi viết về ngời nông dân ở t thế khác, t thế cùng cả dân tộc đánh giặc, Kim Lân vẫn nhấn mạnh những tình cảm đặc biệt này Trong

Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê, tác giả viết: “Suốt ngày ngồi gác

máy bay ngoài đầu núi, chiều về ông T Mủng chỉ quấn quýt với lũ gà, lũ chim, với luống khoai, luống đỗ” và “ông T Mủng mê mẩn cả ngời với lũ gà quê âm sầm vui vẻ ấy Trong một lúc hình nh ông quên cả mọi sự, quên cả bom đạn, quên cả những cảnh tàn phá, chết chóc vẫn diễn ra hàng ngày ”

Nh vậy tình yêu đối với những con vật thể hiện sự phong phú của tâm hồn ngời dân thôn quê Mặt khác, tình yêu này vừa tạo ra niềm vui sức mạnh cho

họ vợt qua những khó khăn, gian khổ, góp phần chiến thắng mọi kẻ thù Viết về những phong tục văn hoá truyền thống, Kim Lân còn chỉ ra cho

độc giả thấy những nét tài hoa của ngời nông dân Việt Nam Bao nhiêu phong tục là bấy nhiêu cách tổ chức, dàn dựng, cách nhìn nhận thẩm mĩ Hãy

Trang 26

đọc đoạn văn sau để thấy đợc con mắt thẩm mĩ của ngời dân lao động Đây là vờn cảnh của Cả Chuẩn trong truyện Con mã mái: “Giàn thiên lý, chính giữa

thấp lè tè, cành lá xum xuê che chiếc bể cạn thả cá vàng và bốn chậu lan đặt trên đôn sứ Trong bể kê một hòn non bộ sần sùi, gân guốc, cỏ tóc tiên mọc…

um tùm che dấu một vẻ bí mật đối với một bọn ngời sành lý đặt theo điển tích Nào chùa, tháp, cầu, quán chênh vênh, hiểm trở, nào ng, tiều, canh, mục, nào cầm, kỳ, thi, tửu, nào Bá Nha, Tử Kỳ ” Trong đoạn văn này, cái…

đẹp hiện lên hết sức đa dạng và gắn chặt với truyền thống văn hoá phơng

Đông Sự tài hoa của ngời dân thôn quê còn thể hiện ở luật lệ, thuật ngữ trong các lễ hội Trong hội thả chim có các thuật ngữ nh: trung chính, thợng tiểu tuỳ,vần thợng, đại tuỳ (Đôi chim thành) Trong chọi gà có: đòn linh,

bằng trang, hơn xơng, tháo chái (Con mã mái) Trong đấu vật có: cần cối,

móc quai xanh, xối vả, bá tay t, bò cắm (Tợng tớng Trần Quang Khải – Trạng vật) Nh vây, qua đây, Kim Lân muốn khẳng định: ngời dân thôn quê

bình dị song ở họ có một tâm hồn thật phong phú và tiềm ẩn nhiều tài năng Viết về các phong tục văn hoá truyền thống, ngoài tinh thần ngợi ca tâm hồn phong phú, trong sáng, lành mạnh, ngợi ca nét tài hoa khéo léo của ngời dân thôn quê, Kim Lân còn thể hiện niềm tự hào dân tộc Ông từng tâm sự: một dân tộc nếu để mất tiếng nói, để mất văn hoá thì coi nh đã đánh mất mình Ông cho rằng, dân tộc Việt Nam tồn tại đợc là nhờ tiếng nói riêng, phong tục, văn hoá riêng Vì thế, theo ông, cần thấy vẻ đẹp của lịch sử dân tộc, của tâm hồn cha ông qua các lễ hội văn hoá Likhachov từng cho rằng:

“Văn hoá, đó là cái mà trong một mức độ đáng kể biện minh cho sự tồn tại của một quốc gia và một dân tộc” [38, 6] Đọc mảng truyện phong tục của Kim Lân, độc giả nhận ra dấu ấn xa xa của nền văn minh nông nghiệp Với

Thợng tớng Trần Quang Khải Trạng vật, Ông Cản Ngũ, Cầu đánh vật- từ

ngôi đất Hình nhân bái tớng đến chuyện Voi cái ngựa lồng , ” “ ” Kim Lân đã

vẽ lại những tinh hoa của đất nớc Việt Nam thợng võ Một dân tộc luôn phải

đồng tâm hợp lực để chống trả lại sự tàn bao của giặc ngoại xâm thì sức khoẻ

là yếu tố vô cùng cần thiết Trong Thợng tớng Trần Quang Khải Trạng

vật, Kim Lân đã nói rõ ý này: “Trong nớc tuy đã yên ổn thái bình, nhng Thái

s Trần Thủ Độ vẫn không một lúc nào không lo toan chỉnh chu binh bị Mỗi năm một lần tuyển những đinh tráng trong nớc sang làm lính Những ngời lính này phần nhiều là đô vật Từ kẻ chợ đến thôn quê đâu đâu cũng náo nức…

Ngày đăng: 20/12/2013, 19:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyên An, Kim Lân, Đặc san Văn học và tuổi trẻ, tập 12, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Lân
2. Nguyên An, Nhà văn của các em, Nxb Văn học, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn của các em
Nhà XB: Nxb Văn học
3. Lại Nguyên Ân, Văn xuôi Kim Lân, Tạp chí Văn học, số 6/1986, 56-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Kim Lân
4. Lại Nguyên Ân (biên soạn), 150 thuật ngữ Văn học, Nxb ĐHQG, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ Văn học
Nhà XB: Nxb ĐHQG
5. M.Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh C dịch, Trờng viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
6. A.G. Botsarov, Cuộc tìm tòi vô tận, Huy Bích lợc dịch, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc tìm tòi vô tận
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
7. Sylvan Barnet, Morton Berman, William Burton, Nhập môn văn học, Hoàng Ngọc Hiến dịch, Trờng viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn văn học
8. Lê Huy Bắc, Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí Văn học, số 9/1998, 66-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
9. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt – , Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. O.Docurot, T.Todorov, Từ điển bách khoa về các khoa học ngôn ngữ, Tài liệu đánh máy, Th viên Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa về các khoa học ngôn ngữ
11. Hà Minh Đức (chủ biên), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Nhà XB: Nxb Văn học
12. Hà Minh Đức (chủ biên), Lý luận Văn học, Nxb Giáo dục, Hà Néi, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận Văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
13. Nguyễn Đăng Điệp, Giọng điệu thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Néi, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Nhà XB: Nxb Văn học
14. Văn Giá, Một khoảng trời văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một khoảng trời văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Hơng Giang, Nhà văn Kim Lân nói về truyện Vợ nhặt “ ”, Báo Văn nghệ số 19, 8.5.1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Kim Lân nói về truyện Vợ nhặt "“
16. M.Gorki, Bàn về văn học, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học
Nhà XB: Nxb Văn học
17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ "văn học
Nhà XB: Nxb ĐHQG
18. Hoàng Văn Hành (chủ biên), Từ điển từ láy tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học xuất bản, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ láy tiếng Việt
19. Hoàng Ngọc Hiến, Văn học và học văn, Nxb Văn học, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và học văn
Nhà XB: Nxb Văn học
20. Nguyễn Thái Hoà, Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w