1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết hồ anh thái

187 1,3K 24
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Tác giả Nguyễn Bảo Trung
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 461 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2003, Nhà xuất bản Hội Nhà văn - Trung tâm Vănhoá Ngôn ngữ Đông Tây tổ chức su tầm và biên soạn cuốn Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lí thuyết, mà nh lời mở đầu của nó đ

Trang 1

-Nguyễn bảo trung

Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại

trong tiểu thuyết hồ anh thái

Chuyên ngành: văn học việt nam

Trang 2

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại là trào lu t tởng văn hoá

-triết học và nghệ thuật nổi lên ở phơng Tây từ sau chiếntranh thế giới thứ hai, phát triển rộng khắp và có ảnh hởngmạnh mẽ đến sự phát triển của nhân loại từ hai thập niêncuối của thế kỉ XX Văn học hậu hiện đại đã trở thành mộttrào lu có mặt hầu khắp các nền văn học thế giới, khôngriêng gì ở Mĩ và châu Âu Tuy nhiên, ở Việt Nam, chủ nghĩahậu hiện đại nói chung và văn học hậu hiện đại nói riêng vẫncòn là một điều mới mẻ và có phần xa lạ

1.2 Văn học Việt Nam sau 1975, nhất là từ 1986 lại nay,

đã bớc sang một giai đoạn phát triển mới so với trớc đó, nhngcho đến nay, vẫn cha có một khái niệm khả dĩ định danhvăn học giai đoạn này Ngoài khái niệm “đổi mới”, văn họcViệt Nam đơng đại về cơ bản, cha đợc định danh, cha đợcxác định xem viết theo những trào lu, khuynh hớng nào Từsau thế kỉ XX, văn học thế giới chuyển qua giai đoạn hậuhiện đại “Nếu hoạt động sáng tạo ở Việt Nam phát triểntheo hớng hoà nhập với t duy nghệ thuật của nhân loại thìliệu có thể tìm thấy trong văn học thời đổi mới của chúng tanhững dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại hay không?Muốn đặt tên cho văn học Việt Nam sau 1975 bằng mộtphạm trù mĩ học mang tính tổng thể phải giải quyết nhữngvấn đề nh thế” [34] Văn học Việt Nam, tuy là hơi muộn sovới nhiều nớc trên thế giới, nhng không thể tránh khỏi ảnh h-ởng của chủ nghĩa hậu hiện đại Cha thể khẳng định mộtcách chắn chắn rằng đã có một trào lu văn học hậu hiện đại

Trang 3

với đầy đủ ý nghĩa của khái niệm này trong văn học ViệtNam, nhng có thể tìm thấy những dấu hiệu, những yếu tốcủa nó trong sáng tác của nhiều cây bút mà tiểu thuyết HồAnh Thái là một trờng hợp tiêu biểu.

1.3 Trong số các cây bút đơng đại gây đợc nhiều chú

ý, Hồ Anh Thái là một trong những gơng mặt nổi bật nhất

và đã có những đóng góp đáng kể Ngay từ các sáng tác

đầu tay, Hồ Anh Thái đã bộc lộ một t duy nghệ thuật và lốiviết mới mẻ so với các nhà văn cùng thời Với một khối lợng tácphẩm hơn ba mơi đầu sách gồm truyện ngắn, tiểu thuyết,tiểu luận và biên khảo, Hồ Anh Thái thuộc vào số những nhàvăn đơng đại tích cực góp phần đa văn học Việt Nam hộinhập với văn học thế giới Trong tình hình văn học Việt Nam

đang đứng trớc rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vớibạn đọc, Hồ Anh Thái vẫn là một hiện tợng văn học thu hút đ-

ợc sự quan tâm của đông đảo độc giả Tiểu thuyết Hồ AnhThái phần lớn đợc sáng tác từ 1986 lại nay và về sau càng cókhuynh hớng cách tân mạnh mẽ theo hớng hội nhập với kĩthuật viết của văn học thế giới, đặc biệt là kĩ thuật viết hậuhiện đại Những đóng góp về mặt t tởng, quan niệm và bútpháp của tác giả đối với tiểu thuyết Việt Nam đơng đại là

Trang 4

Nha), nhan đề Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu

hiện đại” [5,108] Thật ra, trớc đó, năm 1989 trong bài viết Tại sao tôi dịch truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp sang tiếng Anh của tác giả ngời úc Greg Lockhart (đăng trên tạp chí Văn

học số 4, 7-8/ 1989) đã sử dụng khái niệm này Đến năm

1995, chính tác giả Nguyễn Văn Dân có bài lợc thuật một

ch-ơng sách của tác giả ngời Pháp Luc Ferry, đầu đề Sự suy tàn

của phong trào tiên phong: nghệ thuật hậu hiện đại (Tạp chí

Thông tin Khoa học Xã hội, số 2 – 1995) Trên Tạp chí Văn học,

số 5 -1997, Lộc Phơng Thuỷ dịch và giới thiệu bài viết của

giáo s triết học ngời Hà Lan John Verhaar Về chủ nghĩa hậu

hiện đại Những bài viết này về cơ bản chỉ là những bài

thông tin ngắn, giới thiệu sơ lợc một số quan niệm của phơngTây về chủ nghĩa hậu hiện đại chứ cha trình bày hết mọikhía cạnh của vấn đề

Tiếp đó, trên Tạp chí Nhà văn số 8 – 2000, xuất hiện bài

viết của Phơng Lựu nhan đề Tìm hiểu chủ nghĩa hậu hiện

đại Theo tác giả bài báo, do khuôn khổ của tạp chí nên ông

phải viết rất ngắn gọn, vì vậy bài báo này cũng chỉ mới giớithiệu một cách rất sơ lợc một số cách hiểu của phơng Tây

về chủ nghĩa hậu hiện đại mà cha đa ra nhận xét củamình Và phải mãi đến hơn 8 năm sau, Phơng Lựu mới quaytrở lại với vấn đề chủ nghĩa hậu hiện đại qua hai bài viết là:

Chủ nghĩa lịch sử mới, một chuyển biến trong lòng chủ nghĩa hậu hiện đại (Nghiên cứu Văn học, số 12-2007) và Những bậc tiên phong của t duy hậu hiện đại (Nghiên cứu

Văn học, số 5-2008) Đây là hai bài viết có tính lí luận vàkhái quát về chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học ở bài viết

Trang 5

Chủ nghĩa lịch sử mới, một chuyển biến trong lòng chủ nghĩa hậu hiện đại, tác giả chỉ ra một trong những khuynh

hớng phát triển có tính phái sinh của chủ nghĩa hậu hiện đại

đó là sự ra đời của cái gọi là “chủ nghĩa lịch sử mới” Bài

viết Những bậc tiên phong của t duy hậu hiện đại có tính

chất nh một bài khảo cứu – giới thiệu về hai lý luận gia củachủ nghĩa hậu hiện đại là J Lacan và M Foucault với t cách lànhững ngời tiên phong của t duy hậu hiện đại

Năm 2001, Nguyễn Văn Dân có một bài viết khá quy

mô Chủ nghĩa hậu hiện đại hay là sự chồng chéo khái niệm (Tạp chí Văn học số 9 - 2001, bài này về sau đợc sửa chữa, in trên Tạp chí Văn học Nớc ngoài số 3 - 2002 và in trong sách

Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lí thuyết, Nxb

Hội Nhà văn - Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 2003,

Hà Nội) Bài viết này đã giới thiệu khá kĩ các quan niệm vềchủ nghĩa hậu hiện đại ở phơng Tây và bớc đầu đa ranhững nhận xét về cách hiểu đối với các khái niệm “hậuhiện đại” và “chủ nghĩa hậu hiện đại” Theo đó, tác giảkhông thừa nhận cách gọi chủ nghĩa hậu hiện đại trong vănhọc, ông viết: “Riêng tôi, tôi cho rằng chỉ nên dùng khái niệm

“hậu hiện đại” cho kiến trúc và hội hoạ, còn trong các lĩnhvực khác, đặc biệt là trong văn học, thì không nên dùng nó,

mà chỉ nên dùng khái niệm “[chủ nghĩa] hiện đại” hoặccùng lắm thì dùng khái niệm “[chủ nghĩa] tối [hoặc siêu]hiện đại” Nh thế là rất chính xác và thoả đáng” [4, 146].Tuy vậy cho đến nay bài viết nói trên vẫn là một trong số ítbài ở Việt Nam nghiên cứu một cách chi tiết, kĩ lỡng và khá

Trang 6

toàn diện về chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học hậu hiện

đại

Năm 2003, Nhà xuất bản Hội Nhà văn - Trung tâm Vănhoá Ngôn ngữ Đông Tây tổ chức su tầm và biên soạn cuốn

Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lí thuyết, mà

nh lời mở đầu của nó đã nói, đó là một “cố gắng đầu tiêntập hợp hầu hết nguồn t liệu Tiếng Việt hiện có, - những bàiviết, bài dịch đề cập các khía cạnh lí thuyết của chủ nghĩahậu hiện đại, văn học hậu hiện đại” [4, 5] Cuốn sách này,cho đến nay vẫn là công trình dày dặn, bề thế nhất bằngtiếng Việt bàn về chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học hậuhiện đại nói chung Cuốn sách đã giới thiệu những bài viếtcủa nhiều tác giả nổi tiếng trên thế giới trực tiếp bàn về chủnghĩa hậu hiện đại và văn học hậu hiện đại nh Jenan-Francois Lyotard (Pháp), I.P.Ilin (Nga), V.L.Inozemsev (Nga),Mikhail Epstein (Nga), Mary Klages (Anh), Barry Lewis (Anh),Hans Bertens (Anh), John Verhaar (Mỹ), Charles Jencks (Mỹ),Paul Hoover (Mỹ), Antonio Blach (Tây Ban Nha), Hoàng VĩTông (Trung Quốc) Ngoài ra còn có các bài viết của các nhànghiên cứu ngời Việt trong nớc nh Phơng Lựu, Nguyễn VănDân, Lê Huy Bắc và các nhà nghiên cứu ngời Việt hải ngoại làNguyễn Hng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Ước Cũng trong

cuốn sách trên, Lê Huy Bắc trong bài viết Truyện ngắn hậu

hiện đại cho rằng “chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học ra

đời từ những năm 1950, là khuynh hớng tiếp nối chủ nghĩahiện đại, gắn với sự bùng nổ của sự phát triển kinh tế, khoahọc kĩ thuật vợt bậc, của thành tựu đô thị hoá… đợc thểhiện ở cả ba phơng diện thơ, kịch, văn xuôi (chủ yếu là văn

Trang 7

xuôi h cấu) với các đặc điểm chính: đa trị, huyền ảo, lắpghép, mảnh vỡ, cực hạn, độ căng; hạn chế tối đa vai tròthống trị của ngời kể chuyện, không quan tâm đến cốttruyện, kịch và văn xuôi mang nhiều chất thơ” [4, 424].

Hoàng Ngọc Tuấn trong một bài trả lời phỏng vấn đãmạnh dạn khẳng định, “Trong vài năm gần đây, tôi đã thấyvài nhà văn Việt Nam sử dụng một số kĩ thuật viết hậu hiện

đại, chẳng hạn kĩ thuật “nhại văn” (pastische), lối viết đatuyến, phi tuyến, hiện thực kì ảo… Tuy nhiên, những truyện

ấy cha thực sự là truyện hậu hiện đại, vì cha thực sự chuyênchở cái cảm quan hậu hiện đại Dẫu sao, tôi tin rằng chẳngbao lâu nữa lối viết hậu hiện đại sẽ trở nên phổ biến ở ViệtNam” [99]

Trong bài viết Lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn

Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại, tác

giả Cao Kim Lan đã đặt ra một vấn đề rất đáng chú ý: “Chủnghĩa hậu hiện đại và những nguyên tắc thẩm mĩ trongviệc tạo dựng tác phẩm văn chơng nghệ thuật có những tác

động và ảnh hởng nh thế nào đến nền văn học Việt Nam

đơng đại? (…) Chủ nghĩa hậu hiện đại là con đẻ của một xãhội phát triển Và đi cùng với nền văn hoá hậu hiện đại ấy làmột nền văn chơng với lối viết hậu hiện đại Song có mộtthực tế, khi thông tin là một kênh mở thì sự thống trị củavăn hoá hậu hiện đại ở Tây Âu và Mĩ chắc chắn có nhữngtác động đến mọi quốc gia trên thế giới này, cho dù những

điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội có thể cha đạt tới

điều kiện cho phép Sự ảnh hởng của trào lu hậu hiện đại làkhông thể phủ nhận và nền văn học Việt Nam cũng không

Trang 8

phải là một ngoại lệ Tuy nhiên diện mạo của nó ra sao, vàmức độ thâm nhập đến đâu của trào lu này trớc một nềnvăn hoá khác biệt thì lại là một vấn đề không dễ có câu trảlời chính xác” [49] Trong phạm vi nghiên cứu của bài viết, tácgiả nhận thấy trong truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp đã

có sự dịch chuyển sang một hệ hình thi pháp mới - hệ hìnhthi pháp hậu hiện đại - trên các mặt: sự phá vỡ trật tự thờigian trong tâm thế chối bỏ “đại tự sự”; phơng thức đa kếtphá vỡ kết cấu trung tâm của văn bản tác phẩm; ngời kểchuyện không tin cậy và việc giải mã các yếu tố nhục thể

Đào Tuấn Ảnh trong bài viết Những yếu tố Hậu hiện đại

trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga đã chỉ

ra những tơng đồng và dị biệt trong văn học đơng đại Nga

và Việt Nam xét trên phơng diện ảnh hởng của chủ nghĩahậu hiện đại Tác giả gọi sự tơng đồng về loại hình của hainền văn học này là “tơng đồng loại hình văn học hậu hiệnthực xã hội chủ nghĩa” Tác giả cũng đi đến kết luận chorằng cần thiết đề xuất cách tiếp cận mới đối với những tácphẩm văn học đơng đại đợc viết theo lối hậu hiện đại nh làmột yêu cầu tất yếu: “Hậu hiện đại là một khuynh hớng lớntrong văn học thế giới, nên việc xuất hiện những yếu tố hậuhiện đại trong văn học Việt Nam là điều dễ hiểu Hớng tiếpcận so sánh loại hình cho phép “đọc khác” những tác phẩmvăn học đơng đại, qua đó nhận diện rõ hơn những yếu tốhậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam hai thập niên vừa qua,thấy đợc sự tìm tòi, thể nghiệm của các nhà văn, đặc biệtcác nhà văn trẻ Việt Nam, nhằm tạo dựng đợc một thứ văn học

Trang 9

mới có khả năng soi chiếu những vấn đề và các góc tối củathời đại họ đang sống” [3].

La Khắc Hoà trong bài viết Những dấu hiệu của chủ

nghĩa Hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài đã khớc từ việc minh giải

những khái niệm hay các vấn đề có tính lí thuyết liên quan

đến chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học, thay vào đó tácgiả khảo sát và chỉ ra một số dấu hiệu cụ thể của chủ nghĩahậu hiện đại trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp vàPhạm Thị Hoài Chẳng hạn, xuyên suốt sáng tác của hai nhàvăn này là những câu chuyện về một thế giới vô nghĩa, vôhồn; thế giới phân mảnh, đứt gãy, hình tợng đợc kiến tạotheo nguyên tắc lạ hoá, văn bản ngôn từ nổi trên bình diệnthứ nhất của văn bản văn học, “lời” và “nghĩa” xô đẩy nhau,giễu nhại nhau đa hình thức ngôn từ đến với các hình thứchỗn loạn thể loại Tác giả bài viết kết luận, “Sáng tác củaNguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài cung cấp đủ t liệu chophép rút ra kết luận: những điều kiện lịch sử, xã hội trongvòng 30 năm nay đã làm nảy sinh tâm thức, cảm quan và loạihình văn hoá hậu hiện đại trong văn học Việt Nam” [34]

Đông La trong bài viết Chủ nghĩa hậu hiện đại và ảnh

hởng của nó ở nớc ta đã cho rằng: “Tinh thần hậu hiện đại đã

và đang phảng phất đâu đó trong văn chơng Việt Namcũng là lẽ thờng tình, nhng không có tài, không hiểu biết

đến nơi đến chốn mà mê muội bắt chớc, thì chỉ làm ranhững bản sao tồi mà thôi Cũng đã có những nhóm cực

đoan đúng là đã làm ra đợc văn chơng hậu hiện đại thứthiệt nhng tiếc là chỉ mới ở dạng thấp nhất của nó Ví dụ nh

Trang 10

tính phản kháng, phản kháng cao cấp tức là phải có khả năngphân tích sự yếu kém của cái cũ và đa ra đợc cái mới tốthơn thay thế, còn chỉ chống đối suông thì quá đơn giản”[48] Mặc dù còn khá dè dặt, nhng tác giả đã nhận thấy ảnhhởng không thể chối bỏ của chủ nghĩa hậu hiện đại đếnvăn học Việt Nam và các nhà văn Việt Nam không thể thờ ơtrớc hiện tợng có tính toàn cầu này mà cần ứng xử một cáchbĩnh tĩnh, tiếp nhận chủ động, sáng tạo

Trong khi Lí giải về sự khó đọc của tiểu thuyết hiện

nay dù không trực tiếp bàn về khái niệm hậu hiện đại nhng

qua việc chỉ ra những nguyên nhân về sự “khó đọc” củatiểu thuyết hiện nay, Phùng Gia Thế đã gián tiếp chỉ ranhững đặc điểm của văn xuôi Việt Nam mang dấu ấn hậuhiện đại Theo tác giả thì có các nguyên nhân nh: tiểuthuyết ở ta gần đây có xu hớng mờ nhạt về tính “chuyện”,

sự mờ nhạt và phân rã cốt truyện thế tất dẫn tới một hệ quả:

sự đứt gẫy, quanh co phức tạp trong cấu trúc tiểu thuyết; sựtô đậm tính chất trò chơi của tiểu thuyết; ngôn ngữ tiểuthuyết có xu hớng làm nhoà ranh giới giữa tính tinh tuyển vàtính thông tục; những biến hình so với truyền thống củahình tợng nhân vật nh: phi trung tâm, vênh lệch giữa vaitính cách và vai hình tợng, không có nhân vật lí tởng, phitính cách, nhân vật có khi chỉ nh một cái bóng; sự pha trộnthể loại hay những biến đổi tự sự nhiều khi làm tâm thếtiếp nhận của bạn đọc, khiến họ điều chỉnh không kịphoặc “hồ nghi” bản chất của thể loại Cũng tác giả này (Phùng

Gia Thế) trong bài Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt

Nam sau 1986 đã đề cập đến vấn đề hậu hiện đại trong

Trang 11

văn học Việt Nam từ sau đổi mới, ông viết: “rồi nữa ta cứ gọimãi văn học sau 1986 là “văn học đổi mới” liệu đã thoả đángcha, trong khi đổi mới là bản chất của văn nghệ mọi thời?Nền văn học Việt Nam từ sau 1986, có hiện tợng nào nên gọi

là “hậu hiện đại” không, hay cứ nh cũ mà gọi: sự tiếp nối sửthi, phản sử thi, hay tiếp tục hiện đại hoá? (…) Tôi cho rằng,nếu không có một triết học hậu hiện đại với t cách là một tr-ờng phái (hiểu theo nghĩa cổ điển) thì vẫn có, cái gọi làvăn hoá hậu hiện đại Nghĩa là, vẫn có thái độ, tâm thức,hay là cảm quan hậu hiện đại Hiển nhiên ai cũng biết, ở ViệtNam, không thể có một chủ nghĩa hậu hiện đại trong vănchơng theo ý nghĩa đầy đủ của thuật ngữ này Tuy thế,vẫn có cơ sở để khẳng định: có những dấu ấn, dấu hiệucủa nó” [97]

Tuy nhiên, thái độ ngờ vực, chối bỏ sự hiện diện của chủnghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam cũng đã xuất

hiện Lê Chí Dũng trong bài viết Phải chăng “chẳng bao lâu

nữa lối viết hậu hiện đại sẽ trở nên phổ biến tại Việt Nam”,

sau khi tranh luận với Hoàng Ngọc Tuấn đã khẳng định “chủnghĩa hậu hiện đại, với t cách là một trào lu văn học, không

có tiền đồ ở Việt Nam” [15]

Một trong những tác giả có nhiều bài viết nhất về chủnghĩa hậu hiện đại và ảnh hởng của nó đối với văn học ViệtNam là Nguyễn Hng Quốc Có thể kể ra một loạt bài viết khácông phu về chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học hậu hiện

đại ở Việt Nam của tác giả này nh: Chủ nghĩa hậu hiện đại

và văn học Việt Nam (2000), Giễu nhại nh một ý niệm (2005), Văn bản và liên văn bản (2005), Giải lãnh thổ hoá trong văn

Trang 12

học Việt Nam (2008), Toàn cầu hoá và văn học Việt Nam

(2008), Tính lai ghép trong văn học Việt Nam (2008), Chủ

nghĩa hậu hiện đại và những cái cần chết trong văn học Việt Nam (2009), Chủ nghĩa hậu hiện đại – Những mảnh nghĩ rời (2009), v.v Trong các bài viết của mình, Nguyễn H-

ng Quốc đã lần lợt xem xét vấn đề hậu hiện đại trong vănhọc Việt Nam trên rất nhiều phơng diện, từ khả năng chịu

ảnh hởng, những tính chất riêng biệt ở văn học Việt Nam,v.v Trong bài “Chủ nghĩa hậu hiện đại và những cái (cần)chết trong văn học Việt Nam” (đăng trênhttp:www.tienve.org ngày 19.11.2008), tác giả viết: “Có nhiềucách tiếp cận chủ nghĩa hậu hiện đại Trong bài này, tôi chọncách tiếp cận từ một góc độ: những cái chết Và cũng chỉ giới hạn

ở vài cái chết chính trực tiếp liên quan đến văn học: cái chết củachân lý, cái chết của đại tự sự, cái chết của hiện thực, và cuốicùng, cái chết của các điển phạm và những thiết chế gắn liền vớicác điển phạm ấy” [77]

Tác giả Nhật Chiêu đã tìm thấy sự tơng đồng gần gũigiữa hậu hiện đại và Thiền khi nói đến khả năng tương chiếu

tư tưởng Thiền và Hậu hiện đại Theo đó, những nỗ lực củaDerrida trong giải cấu trúc, của Taylor trong giải trung tâm vềbản ngã, những trò chơi ngôn ngữ và phản ứng của Hậu hiện đạiđối với các đại tự sự, v.v, nh có sự cộng hởng những âm vang

từ Thiền

Nguyễn Văn Tùng cũng cho rằng có một trào lu văn họchậu hiện đại đang manh nha và bớc đầu phát triển ở ViệtNam: “Bạn đọc có thể sẽ lại đặt câu hỏi: ở Việt Nam đã cóvăn học hậu hiện đại cha Có thể trả lời rằng, trong một số

Trang 13

tác phẩm văn xuôi ra đời vào những năm cuối thế kỉ XX

đầu thế kỉ XXI đã có những dấu ấn của chủ nghĩa hậuhiện đại” [112, 35]

Ngoài ra có thể kể đến một số bài viết rải rác trên cáctrang web văn học của một số tác giả nh Inrasara, Phan NhiênHạo, Hoàng Ngọc Tuấn, Nh Huy, Trịnh Thanh Thuỷ, Văn Giá,Nguyễn Chí Hoan, Đoàn Cầm Thi, v.v, hoặc trực tiếp hoặcgián tiếp đã đề cập đến yếu tố hậu hiện đại trong văn họcViệt Nam nh một hiện tợng hấp dẫn, thú vị

Những nghiên cứu nói trên là kết quả của quá trình tìmtòi, học tập và cả sự nỗ lực không mệt mỏi của các nhànghiên cứu trên con đờng đa nền văn học Việt Nam trong

đó có Lí luận và Phê bình – Nghiên cứu văn học hội nhập vớivăn học thế giới Đó cũng là những gợi mở hết sức thú vị chocông việc nghiên cứu về hậu hiện đại trong văn học qua thựctiễn sáng tác ở Việt Nam nói chung và tiểu thuyết Hồ AnhThái nói riêng

2.2 Nghiên cứu về sáng tác của Hồ Anh Thái

2.2.1 Các bài báo hoặc lời giới thiệu của nhà xuất bản

Cùng với Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Phan ThịVàng Anh, v.v, Hồ Anh Thái là một trong những tác giả vănxuôi Việt Nam đơng đại có tác phẩm đợc dịch và giới thiệuvới bạn đọc nớc ngoài Wayne Karlin (trong lời giới thiệu tiểu

thuyết Ngời đàn bà trên đảo cho bản in của Nhà xuất bản Đại

học Washington, 2001) cho rằng, Hồ Anh Thái đã biết vợt lênkhỏi xuất phát điểm của bản thân và nền văn học Việt Nam

đơng thời khi tiếp cận với những ảnh hởng của chủ nghĩahiện thực huyền ảo Mĩ La tinh và tác phẩm của nhà văn Pháp

Trang 14

gốc Czech Milan Kundera Những đổi mới dũng cảm trongcách nhìn về các vấn đề nh số phận con ngời thời hậuchiến, những di chứng của chiến tranh, tình dục và cách ứng

xử của con ngời trớc nó, v.v, đã gây ấn tợng mạnh với bạn đọcngoài nớc Tác giả này cũng nhận thấy trong tác phẩm Hồ AnhThái, chất hài hớc, chất lạ quyện với chất Kafka dờng nh gâybất ngờ cho ngời phơng Tây khi họ tìm hiểu văn học ViệtNam Wayne Karlin đã khẳng định: “Hồ Anh Thái và nhữngngời đơng thời Việt Nam đang tiên phong cho nền văn họccủa các nớc đang phát triển, nền văn học không còn bị địnhnghĩa bằng những thông số của cuộc đấu tranh giữa haibên t bản và cộng sản Đó là nền văn học toàn châu á, thực

tế là toàn cầu, chỉ quan tâm tới sự căng thẳng giữa một bên

là sự ức chế và một bên là khát vọng tự do, giữa khát vọng

đ-ợc đảm bảo về kinh tế và sự xói mòn về văn hoá cùng nhữngmối quan hệ giữa ngời với ngời, khi mà cuộc sống chỉ còn bịthôi thúc bởi khát khao tiền bạc và tài sản – những mối quan

hệ căng thẳng in dấu trong cuộc đấu tranh quyết liệt trênhầu khắp thế giới đang chuyển mình sang thế kỉ XXI” [84,387]

Janine Gillon (trong lời giới thiệu tiểu thuyết Ngời đàn

bà trên đảo cho bản in của nhà xuất bản L’aube, Pháp, 2001)

bày tỏ sự ngạc nhiên trớc cách đặt vấn đề thẳng thắn vàmạnh mẽ của Hồ Anh Thái khi đề cập đến số phận củanhững nữ cựu binh chống Mĩ, đặc biệt là cách nhà văn đa

ra vấn đề tính dục và ham muốn của con ngời trong một ờng hợp thật đặc biệt nh thế

Trang 15

tr-Trong bài viết ngắn Đặt ra vấn đề cá nhân ở nớc Việt

Nam (Thời báo Los Angeles, 18.9.2001), Michael Harris cũng

nhận thấy ảnh hởng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mĩ

La tinh trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái nh một dấu hiệu chothấy nỗ lực rất đáng kể của nhà văn Việt Nam trong việctiếp cận và hội nhập với văn học thế giới

Nhà thơ George Evans đánh giá cao sự dũng cảm của

Hồ Anh Thái trong việc tiếp cận hiện thực thời hậu chiếnbằng một văn phong tinh tế, hài hớc và uyên bác về những

điều xảy ra khi thế giới thảm bại đi qua chiến tranh và sựthay đổi văn hoá

Chris King (thời báo ST Louis Missuri River Front Times)nhận thấy sáng tác của Hồ Anh Thái là hành trình đi từnhững vẻ đẹp nhân bản giản dị dẫn tới nỗi đau khủng khiếpnhất, rồi nỗi đau ấy lại đợc cứu rỗi bằng chính sự thông hiểunhân bản Jennifer Eagleton (Đại học tổng hợp Trung Quốc)cho rằng, thành công của Hồ Anh Thái trong tiểu thuyết

Trong sơng hồng hiện ra là ở sự tái tạo huyền thoại kết hợp với

sự giản dị trong sáng của ngôn ngữ và chất hài hớc, châmbiếm nhẹ nhàng

ở trong nớc, Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn đợcbáo chí và công chúng quan tâm, nhắc đến rất nhiều; ởmột phơng diện nào đó, cái tên Hồ Anh Thái đã trở thànhmột thơng hiệu, một sự đảm bảo nhất định cho các nhàxuất bản

Truyện ngắn Hồ Anh Thái đợc chú ý trớc hết bởi chấtgiọng giễu nhại sắc sảo, tinh tế Lê Vĩnh Nguyên cho rằng,tiếng cời trong truyện ngắn Hồ Anh Thái có khả năng dồi dào

Trang 16

trong việc phóng chiếu, châm biếm và chạm đến phần nhạy

cảm của con ngời Tác giả Ngọc Hà trong bài viết Giễu nhại

ngôn ngữ thị dân đã bớc đầu chỉ ra những độc đáo trong

cách sử dụng ngôn ngữ của Hồ Anh Thái trên ba phơng diện:lối nói liệt kê, bổ sung; lối nói nhấn mạnh và lối nói thông tục

Đây là một trong những dấu hiệu quen thuộc của kĩ thuậtviết hậu hiện đại Tôn Phơng Lan cũng nhận thấy cảm hứngnhân văn trải dài và xuyên suốt trong sáng tác của Hồ AnhThái, và ở giai đoạn đầu đó là cảm hứng chủ đạo Theo tácgiả bài báo, Hồ Anh Thái luôn làm mới mình qua từng trangviết, mới trong giọng điệu, mới trong ngôn ngữ, mới trong kếtcấu: “Có thể nói trong các truyện ngắn viết gần đây ít khi

ta gặp lại một Hồ Anh Thái trong kiểu kết cấu truyền thống.Anh tạo cho mình một kiểu cấu trúc riêng, một thứ ngôn từriêng Phải nói rằng ngôn ngữ thị dân là một đặc trng rấtriêng trong văn Hồ Anh Thái Đó là một nét lạ và không thể nói

là không hấp dẫn Thứ ngôn từ đó rất hợp với giọng giễu nhại

có trong nhiều sáng tác của anh” [90, 240]

Tiểu thuyết Hồ Anh Thái đợc đông đảo bạn đọc và giớinghiên cứu phê bình văn học quan tâm bởi tác giả luôn biếtcách tạo ra những bất ngờ trong tác phẩm của mình Ma VănKháng cho rằng, “Nghệ thuật thực sự luôn làm nên cái bấtngờ Truyện ngắn, tiểu thuyết Hồ Anh Thái, nhất là nhữngcái gần đây, thú vị trớc hết ở chỗ đó; ở từng con chữ có đờisống là lạ; ở mỗi tình tiết giàu sức khám phá, ở các mối liên t-ởng lạ lùng và gần gũi; ở tổng thể câu chuyện, nó mở ra mộtgóc nhìn nhân sinh, nó cho thấy tính đa tầng, những thực

Trang 17

tại nhìn thấy và không nhìn thấy, những ấn tợng đặc sắcthông qua chủ đề của nó ở chính cuộc đời này ” [82, 326].

Ngay từ khi mới xuất hiện, tiểu thuyết Hồ Anh Thái gây

đợc ấn tợng mạnh bởi những đột phá có tính tiên phong

Xuân Cang trong bài viết Một hơng vị riêng (báo Văn Nghệ, 26-01-1991) nhận thấy trong tiểu thuyết Ngời và xe chạy dới

ánh trăng, Hồ Anh Thái đã phá vỡ tính cố định của kiểu cốt

truyện truyền thống khi tạo ra sự đan xen giữa các bối cảnh,các chi tiết, các mảnh đời, giữa quá khứ và hiện tại Vũ ĐìnhMinh thì tỏ ra băn khoăn về điều này: “Cuốn sách đợc viếtkhá hấp dẫn, nhng cảm giác chung là hơi khó theo dõi, và chathật chặt chẽ Vì tác giả đã tung ra một vài nhân vật phụkhông gắn lắm với mạch chính của chuyện chăng? Vì haimảng nhân vật, thực chất là hai bút pháp tiểu thuyết làmcảm giác không nhất quán chăng?” [85, 398] Xuân Thiều

nhận thấy Sức mạnh của văn học từ một tiểu thuyết là rất

đáng ghi nhận khi Hồ Anh Thái đã phơi mở hiện thực đờisống thời hậu chiến qua cái nhìn đầy tính nhân đạo và

nghiêm khắc Trần Thanh Giao, trong bài viết Không theo

kiểu cũ (Báo Văn Nghệ, 02-1991), nhấn mạnh đến sự khó

đọc của Ngời và xe chạy dới ánh trăng, “vì tác giả sử dụng

thủ pháp “dòng suy tởng, cảm xúc” để nội tâm các nhânvật đợc bộc lộ rõ ràng, qua đó mà cái thiện cái ác, lẽ phải vàbất công, lòng cao thợng và giả dối…đấu nhau rất quyết liệt”

[85 , 410] Lê Minh Khuê thì nhận xét: “Có lẽ ngay từ ngày ấy,

tác giả đã ý thức rằng tác phẩm văn học muốn hoà nhập đợcvới dòng văn học chảy ào ạt ngoài kia của thế giới và muốntiếp cận đợc với ngời đọc hôm nay thì đừng có quá lệ thuộc

Trang 18

vào hiện thực giản đơn” [85, 416] Gần với ý kiến trên của Lê

Minh Khuê, trong bài viết Một cá tính sáng tạo độc đáo (Đài

tiếng nói Việt Nam, 2001), Trần Bảo Hng cũng cho rằng: “Có

thể nói hiện thực trong Ngời và xe chạy dới ánh trăng là một

hiện thực đa chiều, và để phản ánh đợc cái thực tại phức tạp

ấy, Hồ Anh Thái sử dụng nhiều thủ pháp linh hoạt, cả phụchiện và đồng hiện; rồi một cốt truyện đầy co giãn với nhữngmạch ngang, lối rẽ… miễn là góp phần khắc hoạ thật đầy

đặn những nhân vật anh định đa ra dới trờng đời, miễn

là lí giải đợc những băn khoăn, khúc mắc về cuộc đời tronghiện thực ngổn ngang, phức tạp mới chỉ bắt đầu đợc dọndẹp lại” [85, 420-421]

Nguyễn Đăng Điệp với bài viết Hồ Anh Thái - Ngời mê chơi

cấu trúc (2003), là một trong những ngời đầu tiên chỉ ra dấu

ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái: “Chân dungcủa hiện thực trong văn Hồ Anh Thái vì thế bề bộn, nhiềugóc khuất, nhiều trạng thái, nhiều giá trị tốt xấu đan cài chứkhông đơn điệu kiểu mở đầu ta thắng địch thua và khikết thúc thì phải gióng lên những tiếng hát lạc quan cho

đúng quy phạm nghệ thuật trong văn học một thời Đó là hiệnthực “phân mảnh” nh các nhà hậu hiện đại vẫn thờng nói

đến” [20] Nguyễn Đăng Điệp cũng đã nhận thấy một trongnhững điểm mới của tiểu thuyết Hồ Anh Thái là tính liên vănbản và khả năng dung hợp văn hoá hết sức năng động: “Khảosát hành trình văn chơng Hồ Anh Thái có thể nhận ra mộkiểu đối thoại mang tính văn hoá thấm trong từng văn bản:văn xuôi Việt không có truyền thống lâu đời nh thơ ca Đây

là một khó khăn cho các nhà văn trong quá trình thiết lập hệ

Trang 19

ngôn từ tự sự Khi sáng tạo, không ít nhà thơ bị rơi vào tìnhtrạng thơ hoá Bởi thế, để tránh những lực cản truyền thống,nhà văn phải biết vợt ra khỏi sự du dơng của ngôn ngữ thơ

ca Từ quan niệm ấy, cấu trúc ngôn ngữ của Hồ Anh Tháikhông bằng phẳng mà “lổn nhổn” một cách cố ý” [20]

Nhiều ngời đọc đã ít nhiều nhận ra những cách tântrong kĩ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái ở những sáng tác gần

đây của ông Chẳng hạn, Từ Nữ đã nhìn thấy ở Mời lẻ một

đêm tính phân mảnh, rời rạc trong cốt truyện lẫn bề mặt

kết cấu: “Có thể nói, mỗi phần là một truyện ngắn, nhữngtruyện ngắn đợc chia bởi nhiều phân đoạn, giới thiệu đợcnhững nét riêng của nhân vật” [91, 289] Hoài Nam đánh giá

cao chất hài hớc và nghịch dị trong Mời lẻ một đêm và xem

đó nh đòn bẩy giúp Hồ Anh Thái tạo dựng nên thế giới nghệthuật sống động và hấp dẫn

Đáng chú ý hơn cả là bài viết “Mời lẻ một đêm” - cái

nhìn hắt sáng từ phía sau của Nguyễn Thị Minh Thái (báo

Văn Nghệ, 10-6-2006) Tác giả bài báo cho rằng, Mời lẻ một

đêm độc đáo ở chỗ đợc viết với một giọng kể nh báo chí của

“thi pháp giễu nhại – thông tấn”, nhân vật tiểu thuyết bị

đẩy lùi xuống thứ yếu để nhờng chỗ cho tính chất dung hợpgiữa các chi tiết, sự kiện có tính thời sự và các chi tiết cótính vụn vặt, manh mún khác mà nhà dờng nh “vô tình” kể

ra

2.2.2 Các luận văn, tiểu luận về Hồ Anh Thái

Sáng tác của Hồ Anh Thái đợc nhiều tác giả lựa chọn làm

đối tợng nghiên cứu trong nhiều đề tài khoa học khác nhau

Trong công trình Nghệ thuật kết cấu của tiểu thuyết Hồ

Trang 20

Anh Thái (Luận văn Thạc sĩ, 2005), tác giả Nguyễn Thanh

Thuý đã bớc đầu nhận thấy tiểu thuyết của Hồ Anh Thái cókhuynh hớng phá bỏ lối kết cấu trần thuật truyền thống, hớng

đến lối kết cấu mở Võ Anh Minh nhận thấy, Văn xuôi Hồ Anh

Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con ngời (Luận văn

Thạc sĩ, 2005) có sự phong phú, đa dạng, độc đáo và nhiềunét mới so với văn xuôi Việt Nam trớc đó Con ngời trong sángtác của Hồ Anh Thái đợc nhìn nhận ở nhiều phơng diện, đợc

đặt trong nhiều bối cảnh, đợc soi chiếu dới nhiều góc nhìnkhác nhau, nổi bật hơn cả là tầng lớp thị dân với những

đặc trng của xã hội Việt Nam trong buổi đầu hội nhập vớithế giới

Trơng Thị Ngọc Hân trong khi khảo sát và nghiên cứu

Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đơng đại (Luận văn Thạc sĩ, 2006) đã nhận thấy ở

tiểu thuyết Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phơng, Phạm ThịHoài, Nguyễn Viện, Bùi Hoằng Vị, v.v, những dấu hiệu hậuhiện đại ở cách nhìn nhận về xã hội, con ngời, nghệ thuật vàtrên phơng diện tổ chức văn bản Chẳng hạn, đó là sự lêntiếng phản biện về xã hội với những hiện tợng mang tính phì

đại đang diễn ra ngay trớc mắt, tạo nên thứ hiện thực tànnhẫn bằng kiểu viết lạnh lùng, bỏ mặc tâm lí nhân vật, sửdụng chất giọng giễu nhại, v.v Tác giả kết luận, “Trongnhững tác phẩm văn xuôi của các tác giả Phạm Thị Hoài,Nguyễn Bình Phơng, Hồ Anh Thái, Nguyễn Viện, Bùi Hoằng

Vị, Thuận, Lê Thị Thấm Vân, v.v, ở mặt này hay mặt kia

đều đã in dấu ấn của kĩ thuật viết hậu hiện đại” [28, 121]

Trang 21

Nhìn nhận Hồ Anh Thái nh là một trong những tác giảvăn xuôi Việt Nam đơng đại có nhiều cách tân thành côngnhất, tác giả Hoàng Thị Thuý Hằng trong công trình nghiên

cứu của mình (Những cách tân trong văn xuôi Hồ Anh Thái,

Luận văn Thạc sĩ, 2007) đã chỉ ra đợc những nỗ lực của nhàvăn trong việc thử nghiệm những kĩ thuật viết mới trong vănxuôi Những cách tân của Hồ Anh Thái trên các phơng diện:quan niệm nghệ thuật về con ngời, quan niệm về tiểuthuyết và công việc viết, những đổi mới về các mặt cốttruyện, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, v.v, đã đợc tác giả luậnvăn chỉ ra Tuy không thấy đợc ảnh hởng của kĩ thuật viếthậu hiện đại trong văn xuôi Hồ Anh Thái nhng kết quả nghiêncứu nói trên ít nhiều đã cho thấy đợc đóng góp của Hồ AnhThái đối với văn xuôi Việt Nam đơng đại với t cách là mộttrong những tác giả tiên phong trong nỗ lực đa văn học nớc tahội nhập với văn học thế giới xét trên nhiều phơng diện

Thiều Đức Dũng nhận thấy một trong những đặc sắclàm nên sức hút của tác phẩm Hồ Anh Thái là chất châm

biếm, trào lộng, hài hớc Trong công trình Cảm hứng trào

lộng trong sáng tác của Hồ Anh Thái (Luận văn Thạc sĩ, 2007),

tác giả đã cho rằng cảm hứng trào lộng trong sáng tác của HồAnh Thái xuất hiện ngay từ những sáng tác đầu tiên và trởthành cảm hứng xuyên suốt, chủ đạo Một trong những nétnổi bật trong cảm hứng trào lộng đó là sử dụng giễu nhại nh

là một trong những thủ pháp đắc dụng để triển khai cáinhìn về cuộc sống Điều này cho thấy, dù tự giác hay không,sáng tác của Hồ Anh Thái ít nhiều đã sử dụng giọng giễu nhại– một trong những đặc trng của văn học hậu hiện đại

Trang 22

Trong công trình “Cõi ngời” trong thế giới nghệ thuật

tiểu thuyết Hồ Anh Thái (Luận văn Thạc sĩ, 2008), tác giả

Trần Thị Hải Vân nhận thấy một trong những phơng diệnlàm nên thế giới nghệ thuật phong phú, hấp dẫn trong tiểuthuyết Hồ Anh Thái chính là quan niệm, đặc điểm và cách

thể hiện Cõi ngời Tác giả luận văn cho rằng, trong khi tạo dựng và thể hiện Cõi ngời trong tiểu thuyết, Hồ Anh Thái đã

vận dụng một số kĩ thuật viết của văn học hậu hiện đại nhcốt truyện phân mảnh, giọng giễu nhại, dung hợp ngôn ngữ

Tác giả kết luận, “Có thể nói Cõi ngời là nhân tố trung tâm

quy tụ trong đó tất cả các vấn đề thuộc về nội dung, t tởngcũng nh nghệ thuật của tiểu thuyết Hồ Anh Thái Hay nóicách khác nó bao hàm tính chỉnh thể của tiểu thuyết Hồ

Anh Thái Tìm hiểu về Cõi ngời trong thế giới nghệ thuật

tiểu thuyết Hồ Anh Thái, chúng ta có đợc cái nhìn bao quát

về các tác phẩm văn xuôi của nhà văn, thấy đợc những cáchtân của ông đặc biệt trên lĩnh vực tiểu thuyết” [118, 117]

Tính độc đáo của tác phẩm Hồ Anh Thái không chỉnằm ở những cách tân về kĩ thuật viết, mà ở một tầng caohơn, đã thẩm thấu trở thành “quan niệm viết đợc kiến trúc

trên sự tự ý thức triết học về cái viết, diễn ra đồng thời với

quá trình hành động nhằm đổi mới t duy, giọng điệu vàcách ứng xử ngày càng hiện đại hơn với tiếng Việt trên một

nền tảng đầy đặn về văn hoá sống và văn hoá viết” [91,

293] Từ góc nhìn này, Nguyễn Thị Khánh Hoà (trong công

trình ảnh hởng của văn hoá ấn Độ trong trong t duy nghệ

thuật Hồ Anh Thái, Luận văn Thạc sĩ, 2008) đã nhận thấy

trong t duy nghệ thuật Hồ Anh Thái có dấu ấn đậm nét của

Trang 23

văn hoá ấn Độ Với t cách là một nhà nghiên cứu văn hoá ấn Độ,

Hồ Anh Thái tìm thấy trong nền văn hoá vĩ đại đó những vẻ

đẹp gần gũi với văn hoá và con ngời Việt Nam Từ góc độmột nhà văn, Hồ Anh Thái đã tạo ra mối gắn bó giữa văn họcvới văn hoá, khiến cho qua mỗi trang viết, ngời đọc thờngxuyên đợc tiếp xúc với một kiến văn uyên bác Chẳng hạn, đó

là sự chi phối đến việc lựa chọn đề tài ấn Độ trong các tậptruyện ngắn, tiểu thuyết và biên khảo cũng nh tạo ra trongtruyện ngắn và tiểu thuyết chất du kí – khảo cứu đầy hấpdẫn Đây là một trong những biểu hiện cho thấy Hồ Anh Tháirất có ý thức trong việc tạo ra khả năng dung hợp thể loạitrong quá trình sáng tác, nhất là ở thể loại tiểu thuyết

Ngoài ra có thể kể đến một số công trình khác đi vàokhảo sát và nghiên cứu một tập truyện ngắn hay một tiểu

thuyết của Hồ Anh Thái nh: Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật

trong “Tự sự 265 ngày” (Nguyễn Thị Hơng, Luận văn Thạc

sĩ, 2008); Giọng điệu nhại của tiểu thuyết “Mời lẻ một đêm”

(Hồ Anh Thái) (Lê Thị Cần, Luận văn Thạc sĩ, 2008); Những

đặc sắc nghệ thuật trong “Đức Phật, nàng Savitri và tôi”

(Luận văn Thạc sĩ, Nguyễn Thị Huệ, 2008), v.v ở nhữngcông trình này, các tác giả dù không xuất phát từ góc nhìnhậu hiện đại nhng đều nhận thấy những đóng góp có tínhtiên phong của Hồ Anh Thái trong quá trình đa văn học ViệtNam đơng đại bớc đầu hội nhập với văn học thế giới

Rõ ràng, giới nghiên cứu phê bình đã nhận thấy kĩ thuậtviết hậu hiện đại đã và đang hiện diện trong một số tácphẩm của các nhà văn Việt Nam đơng đại mà Hồ Anh Thái làmột trong những gơng mặt đáng kể nhất Tuy vậy, những

Trang 24

nghiên cứu kể trên (cả diện rộng lẫn bề sâu về thực tiễnsáng tác ở Việt Nam, trong đó có tác phẩm của Hồ Anh Thái)chỉ mới dùng lại ở tình trạng khái quát lí thuyết, tổng kết,

đánh giá hoặc là những nghiên cứu bớc đầu Cho đến naycha có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu ảnh hởngcủa chủ nghĩa hậu hiện đại cũng nh chỉ ra đợc những dấuhiệu hậu hiện đại trong sáng tác của Hồ Anh Thái nói chung,tiểu thuyết của ông nói riêng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nh tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài

là đi tìm những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trongtiểu thuyết Hồ Anh Thái

3.2 Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:

- Thứ nhất, chỉ ra những dấu hiệu của chủ nghĩa hậuhiện đại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái trên một số phơngdiện trong cấu trúc tự sự

- Thứ hai, ở một chừng mực nhất định, chỉ ra nhữngdấu ấn cá nhân Hồ Anh Thái so với một số nhà văn Việt Nam

đơng đại

4 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tợng khảo sát và nghiên cứu của đề tài là những

dấu hiệu (hay yếu tố) hậu hiện đại trong tiểu thuyết Hồ AnhThái

4.2 Phạm vi khảo sát, nghiên cứu của đề tài là tiểu

thuyết của Hồ Anh Thái, trong đó trọng tâm là những tác

phẩm ra đời sau thời kì đổi mới nh: Ngời đàn bà trên đảo,

Trong sơng hồng hiện ra, Ngời và xe chạy dới ánh trăng, Cõi

Trang 25

ngời rung chuông tận thế, Mời lẻ một đêm, Đức Phật, nàng Savitri và tôi Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát một số tác

phẩm tiêu biểu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phơng,Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Viện, Bùi Hoằng Vị, Thuận, v.v

5 Phơng pháp nghiên cứu

Hớng tiếp cận của đề tài là từ góc độ thi pháp học Đểgiải quyết nhiệm vụ đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng một sốphơng pháp nh: Phơng pháp khảo sát - thống kê; phơng phápmiêu tả - phân tích; phơng pháp so sánh, v.v

6 Đóng góp của luận văn

- Khảo sát, phân tích một cách có hệ thống dấu hiệuhậu hiện đại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

- Từ kết quả nghiên cứu, bớc đầu chỉ ra hớng tiếp cận có

ý nghĩa đối với một số hiện tợng trong văn học Việt Nam

đ-ơng đại

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chơng:

Chơng 1 Tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong bối cảnh tiểu

thuyết Việt Nam sau 1986 và một số vấn đề

về chủ nghĩa hậu hiện đại

Chơng 2 Tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết Hồ

Anh Thái

Chơng 3 Dấu hiệu hậu hiện đại trong tiểu thuyết Hồ

Anh Thái trên phơng diện tổ chức trần thuật

Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo

Chơng 1

Trang 26

Tiểu thuyết Hồ anh tháI trong bối cảnh tiểu thuyết

Việt Nam sau 1986 và một số vấn đề về

chủ nghĩa hậu hiện đại

1.1 Vài nét về tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

1.1.1 Những tiền đề cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

1.1.1.1 Thời kì mới của lịch sử đất nớc

Sau 1975, chiến tranh kết thúc, đất nớc đợc thống nhất,cả dân tộc bớc vào công cuộc tái thiết và phục hồi sau những

đổ nát chiến tranh với rất nhiều khó khăn, thử thách Hậuquả nặng nề của hai cuộc chiến ác liệt và lâu dài nhất tronglịch sử dân tộc đã khiến cả đất nớc hết sức vất vả trongviệc tái thiết mà cho đến nay vẫn cha thể khắc phục hết

đợc Chiến tranh đã tàn phá, huỷ diệt nặng nề cơ sở hạ tầngcủa một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, môi tr-ờng bị huỷ hoại nghiêm trọng, con ngời phải sống chung vớinhững di chứng chiến tranh Đặc biệt là những hậu quảnặng nề về tinh thần mà không gì có thể đo đếm đợc và

sẽ còn phải rất lâu nữa những vết thơng tinh thần ấy mới cóthể lắng xuống Đất nớc thời hậu chiến đã phải gồng mình

để đứng vững trớc núi khó khăn chồng chất đó Cha hết, nớc

ta còn bị đẩy vào tình thế khó khăn gấp bội bởi chính sáchcấm vận kinh tế, cô lập chính trị Cuộc đại khủng hoảng dẫn

đến tan rã của hệ thống các nớc Xã hội chủ nghĩa và sự sụp

đổ của Liên bang Xô viết đã tác động mạnh mẽ, toàn diện

đến toàn bộ đời sống của đất nớc Cả dân tộc hoang mang,bất an trớc tình hình phức tạp của chính trị – kinh tế thế

Trang 27

giới, nguy cơ của khủng hoảng đã ngày một hiện rõ Nhữngchủ trơng chính sách kinh tế – xã hội của Đảng tỏ ra nóng vội,nặng về chủ quan, duy ý chí đã khiến cho tình hình đấtnớc gặp nhiều khó khăn và lâm vào bế tắc Ngoài ra, nhữngbất đồng trong quan điểm chính trị và xung đột về lợi ích

đã khiến cho tình hình ở biên giới phía Bắc và Tây Nam trởnên hết sức nỏng bỏng dẫn đến đổ máu, quan hệ quốc tếláng giềng hết sức căng thẳng Tất cả những đặc điểm đó

đã đẩy đất nớc đến cuộc khủng hoảng kinh tế ngày càngnặng nề ở nửa những năm đầu thập kỉ tám mơi của thế kỉtrớc

Trớc tình hình ngày càng xấu đi của nền kinh tế,chính trị, xã hội và đời sống, những thay đổi đã manh nha,trớc hết là những cố gắng “xé rào”, “tự cởi trói” của nhiều

địa phơng, nhiều cơ sở kinh tế Đại hội lần thứ VI của Đảng(12 - 1986) đã xác định đờng lối đổi mới toàn diện, mở ramột thời kì mới cho đất nớc vợt qua khủng hoảng để bớc vàogiai đoạn ổn định, phát triển mạnh mẽ và ngày càng vữngchắc Đờng lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng và Nghị quyết

05 của Bộ Chính trị đợc thông qua đã khẳng định một cáchmạnh mẽ quyết tâm đổi mới đất nớc Sự suy thoái kinh tế đã

đợc chặn lại, tốc độ tăng trởng của nền kinh tế ngày một

đ-ợc nâng cao và dần đi vào ổn định, nền kinh tế thị trờngdần đợc hình thành Đã bắt đầu có những dấu hiệu phụchồi kinh tế thông qua hàng loạt chủ trơng, chính sách mới đợckịp thời ban hành

Sau đổi mới, những chuyển biến về xã hội, văn hoá - t ởng là hết sức rõ nét Từ chiến tranh sang hoà bình, từ nền

Trang 28

t-kinh tế tập trung, bao cấp chuyển đổi sang nền t-kinh tế thịtrờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa đã kéo theo nhiềuthay đổi về mặt xã hội Một trong những thay đổi xã hộimạnh mẽ nhất đó là sự thay đổi của bộ mặt nông thôn ViệtNam Từ chỗ là thành luỹ kiên cố khó bị tấn công nhất trongcơ cấu xã hội Việt Nam, nông thôn Việt Nam đã từng bớcthích nghi với nền kinh tế thị trờng vừa chịu ảnh hởng tíchcực vừa phải hứng chịu những mặt trái đầy thử thách của

nó Thành thị từ chỗ cha có vai trò lớn trong cơ cấu xã hội ViệtNam đã dần cởi bỏ tấm áo cũ nhạt màu, thay vào đó là sựphong phú, ồn ã, tấp nập vừa văn minh vừa cũng không thiếunhững hạn chế có tính tất yếu của một đất nớc đang chậpchững những bớc đầu tiên trên hành trình công nghiệp hoá

và hội nhập cùng thế giới trong xu thế toàn cầu hoá Đất nớcthoát khỏi chiến tranh, cuộc sống đợc cởi bỏ cơ chế bao cấptrì trệ, con ngời đợc trả về đời sống xã hội thờng nhật, với

đời thờng mà ở đó có muôn màu muôn vẻ, lẫn lộn tốt xấu,trắng đen, bi hài, v.v Xã hội Việt Nam chứng kiến quy luậtnghiệt ngã của buổi giao thời: những giá trị về đạo đức, xãhội, nhân cách trớc đây bền vững là thế thì nay đã bị nềnkinh tế thị trờng tấn công mạnh mẽ không khoan nhợng dẫn

đến lung lay, rạn nứt, đổ vỡ Trong khi đó, các chuẩn mực

và các giá trị mới cha thực sự hình thành Xã hội và con ngờiViệt Nam trong hơn 30 năm qua đã “trải qua một cuộc trở dạlớn lao và không ít đau đớn, phải tự xây dựng lại hình ảnhcủa chính mình cùng lúc với việc phải tự hình thành từng bớccác tiêu chí giá trị” [115, 134] Trong tình ấy, đời sống văn

Trang 29

hoá - t tởng cũng có những diện mạo và diễn biễn hết sứcphức tạp

Trên bình diện giao lu quốc tế, nhu cầu đổi mới cũngtạo điều kiện cho Việt Nam mở cửa thiết lập các mối quan

hệ và hội nhập với thế giới trên các mặt chính trị, kinh tế,văn hoá Thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, các tổchức khu vực và thế giới ngày càng phát huy vai trò kết nốithế giới thành “ngôi nhà chung”, mỗi quốc gia – dân tộc đều

đợc quyền tham dự vào các hoạt động của nhân loại

1.1.1.2 ảnh hởng của toàn cầu hoá đối với văn học Việt Nam

Trong The world is flat (Thế giới phẳng), một trong

những cuốn sách hay nhất viết về hiện tợng toàn cầu hoá,Thomas L.Fredman đã giải mã hiện tợng toàn cầu hoá dẫn

đến quá trình làm phẳng thế giới Theo tác giả, những tiến

bộ nhanh chóng trong lĩnh vực công nghệ và thông tin, đặcbiệt là với mạng Internet và điện thoại di động kết nối toàncầu, đã đa thế giới từ “tròn” sang “phẳng”, nối liền mọi ngờilại với nhau, nối liền các quốc gia và vùng lãnh thổ Quá trìnhlàm “phẳng” thế giới đã đa lại cả cơ hội lẫn thách thức chotất cả các quốc gia dân tộc cũng nh mỗi cá nhân Nếu quốcgia nào còn đang ở trạng thái vô cảm với toàn cầu hoá, cánhân nào còn thờ ơ với nhịp sống sẽ bị tụt lại phía sau, sẽ bịgạt ra ngoài Thế giới không “phẳng” một cách tuyệt đối, cómột thế giới không “phẳng” đang tồn tại với những quốc gia

và các cá nhân ốm yếu vì nhiều căn bệnh thế kỉ; với quá ítquyền và cơ hội tiếp cận khoa học công nghệ (còn gọi là

“phẳng” một nửa); với những bực tức, căm giận, thù địch,

Trang 30

xung đột sắc tộc - tôn giáo - văn hoá; và với tình trạng ônhiễm môi trờng nghiêm trọng, v.v Những dỡ bỏ rào cản vềchính trị cùng với những tiến bộ vợt bậc của cuộc cách mạng

số đang mở ra cho các nớc những phơng thức sản xuất - kinhdoanh, những tình thế địa - chính trị và địa - kinh tế mới.Vấn đề đặt ra là, trong xu thế toàn cầu hoá ngày càngmạnh mẽ, văn hoá chịu ảnh hởng nh thế nào, và văn học thời

đại toàn cầu hoá sẽ có diện mạo ra sao? Nhìn vào hiện tợngnày, dễ nhận thấy mặt nổi của nó là các hoạt động kinh tế

và mặt chìm của nó là các phát minh khoa học - kĩ thuật;nhng trung tâm của toàn cầu hoá lại là văn hoá Những trao

đổi của con ngời diễn ra trên rất nhiều phơng diện với vôvàn cách thức và phơng tiện khác nhau nhng điểm đồngquy của chúng chính là các giá trị văn hoá Nhu cầu xích lạigần nhau của nhân loại thời đại toàn cầu hoá không phảinhằm hớng đến sự hoà tan của các nền văn hoá mà kì thực

là muốn hớng đến sự dung hợp, trao đổi và cùng phát triển.Việt Nam là quốc gia thuộc thế giới thứ ba đợc đánh giá năng

động, có tiềm năng trong quá trình xây dựng và phát triểnhiện nay Những tiến bộ vợt bậc của Việt Nam trong nhữngnăm gần đây trên tất cả các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đã đ-

ợc cộng đồng quốc tế thừa nhận và đánh giá tốt Sự tham giangày càng tích cực của Việt Nam vào các tổ chức của khuvực và thế giới đã và đang nhận đợc sự ủng hộ và giúp đỡcủa nhiều quốc gia Đó là tín hiệu đáng mừng cho thấy sựhội nhập và thích nghi khá nhanh chóng của Việt Nam với thếgiới Trên phơng diện văn hoá, văn học, Việt Nam không đứngngoài xu thế toàn cầu hoá, mà ngợc lại, đang cố gắng xác lập

Trang 31

chỗ đứng của mình Các hoạt động trao đổi, giao lu vănhoá giữa Việt Nam với thế giới ngày càng nhiều hơn theo cảhai chiều Thực tế này cho thấy, toàn cầu hoá không phảichỉ là thách thức mà còn có nhiều điều kiện thuận lợi cho sựphát triển của văn học Việt Nam Những tiến bộ của khoahọc kĩ thuật (đặc biệt là Internet và điện thoại di động) vàtính phổ biến của ngôn ngữ quốc tế đã và đang ngày ngàykết nối các nền văn học với nhau mà không phân biệt biêngiới, dân tộc, văn hoá, điều kiện kinh tế, trình độ khoa học– kĩ thuật, v.v, trong đó Việt Nam không phải là ngoại lệ.Theo đó, văn học Việt Nam hoàn toàn đến đợc với thế giới với

t cách là một nền văn học đang cố gắng hội nhập, ngợc lại,những diễn biến văn học thế giới đợc tiếp nhận ở Việt Nammột cách nhanh nhất

Xu thế toàn cầu hoá mạnh mẽ và quyết liệt đang dần

đa nhân loại đến một “thế giới phẳng” mà ở đó mọi ranhgiới về dân tộc, quốc gia có thể bị xoá bỏ bất kì, ở đó, mỗicá nhân đóng vai trò là một trung tâm của thế giới Hiệnthực ấy đòi hỏi mỗi một quốc gia phải tự tìm cách tồn tạiriêng Và trong phạm vi mỗi quốc gia, từng lĩnh vực, các bộphận cố kết nên nền văn hoá dân tộc phải tự mình tạo lậpnên những mối quan hệ tơng đối bền vững để cùng tồn tại

và phát triển độc lập với thế giới Với tinh thần đó, có thể nóivăn học Việt Nam đang có rất nhiều thuận lợi nhng cũng

đồng thời gặp nhiều thách thức khi bớc vào “sân chơi toàncầu hoá”

Thuận lợi của văn học Việt Nam trong “cuộc chơi” này

tr-ớc hết nằm ngay trong bản thân nó Đó là những cuộc tiếp

Trang 32

xúc của văn học Việt Nam với văn học thế giới trong lịch sử.Chẳng hạn, tiếp xúc giữa văn học Việt Nam với văn hoá, vănhọc ấn Độ trong thời cổ đại (chủ yếu là Phật giáo khoảng thế

kỉ II, III); với văn hoá, văn học Trung Hoa trong suốt mời thế

kỉ phong kiến Việt Nam; với văn học phơng Tây (chủ yếu làvăn học Pháp) từ đầu thế kỉ XX; với văn học Nga từ sau 1945

và văn học Mĩ từ sau 1954 Những cuộc tiếp xúc ấy diễn rabằng nhiều con đờng khác nhau (hoà bình, chiến tranh,v.v), dới nhiều hình thức riêng (truyền giáo, cỡng bức văn hoá,giao lu hợp tác, v.v), vì vậy, mức độ ảnh hởng và dấu ấn củacác yếu tố ngoại nhập cũng đậm nhạt khác nhau Nh vậy, vănhọc Việt Nam không hề lạ lẫm với những giao lu, tiếp xúc vănhọc Đấy có thể xem nh một lợi thế mà mỗi ngời làm văn họccần ý thức khai thác để có thể vợt qua “mặc cảm tâm líhậu thuộc địa về một nền văn chơng nhỏ bé” (Inrasara).Ngoài ra, với một đất nớc có nền văn hoá đậm bản sắc, cótruyền thống yêu chuộng thơ văn và một nền văn học với lịch

sử phát triển tơng đối dày dặn cũng là nhân tố có lợi chonhững bớc tiến của văn học Việt Nam trong điều kiện hiệnnay

Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), đờng lối “đổi mới”

và “mở cửa” đã đem lại cơ hội phát triển và hội nhập chokinh tế, văn hoá ở quy mô khu vực và thế giới Bối cảnh ấy là

điều kiện thuận lợi cho văn học bớc ra khỏi ám ảnh của chiếntranh, cởi trói khỏi gánh nặng t tởng chính trị và nhiệm vụcách mạng, trở về đúng với bổn phận và bản chất của mình.Thực tế này đợc ghi nhận bằng việc chứng kiến sự phát triểnmạnh mẽ của văn học, đặc biệt là văn xuôi với những gơng

Trang 33

mặt truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu nh Nguyễn MinhChâu, Nguyễn Khải, Chu Lai, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, NguyễnKhắc Trờng, Dơng Hớng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,Dơng Thu Hơng, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, PhanThị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Y Ban, v.v.Mặc dù cha có đợc những kiệt tác mang tầm thế giới nhngnhững sáng tác của họ, ở những mức độ và phơng diện khácnhau, đã góp phần dân chủ hoá đời sống văn học và ítnhiều tạo nền một diện mạo tơi sáng hơn cho nền văn họcdân tộc trong quá trình vơn ra tầm khu vực và thế giới.

Bên cạnh đó, sự phát triển của lí luận - phê bình vànghiên cứu văn học cũng là nhân tố có ý nghĩa thiết thựctrong quá trình hội nhập Những thành tựu của lí luận vànghiên cứu trên thế giới đã đợc giới nghiên cứu trong nớc tiếpthu, vận dụng vào nghiên cứu văn học dân tộc và thu đợcnhững kết quả khả quan Chẳng hạn nh lí thuyết về Thipháp học và lí thuyết về Thể loại của Bakhtin, lí thuyết vềcấu trúc văn bản nghệ thuật của Lôtman, lí thuyết về liênvăn bản của chủ nghĩa hậu hiện đại, v.v, cùng những thànhtựu nghiên cứu ngôn ngữ học thế giới đã trở nên quen thuộctrong đời sống văn học - điều mà trớc 1986 còn cha thực sựphổ biến (nhất là ở miền Bắc)

Những tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt làmạng Internet toàn cầu, nhu cầu phổ biến về ngoại ngữ và

sự phát triển của hoạt động dịch thuật văn học, sự quốc tếhoá luật bản quyền, v.v, đã làm cho đời sống văn học dântộc trở nên sôi nổi hơn và có xu hớng xích lại gần nhau giữacác nền văn học

Trang 34

Song hành với những thuận lợi kể trên là không ít khókhăn, thách thức cho văn học Việt Nam trong quá trình hộinhập với văn học thế giới Mặc dù là đất nớc có văn hoá lâu

đời, có nền văn học phát triển tơng đối sớm nhng những tácphẩm đạt đến trình độ và đẳng cấp thế giới cha nhiều(vì vậy không phải không có cơ sở khi có ý kiến cho rằng,Nôben cho văn học Việt Nam vẫn còn là một khát vọng xavời) Sự thật này ít nhiều gây khó khăn cho việc quảng báhình ảnh văn học cũng nh là nguyên nhân gây nên “mặccảm tâm lí hậu thuộc địa” đã nói ở trên Điều này gắn bóvới hiện tợng rất đáng chú ý là vấn đề “văn chơng ngoại vi vàvăn chơng trung tâm” tồn tại nh một nghịch dị, theoInrasara nó vốn không thuộc bản chất văn học nhng là hiện t-ợng có thật trong văn học Đông Nam á nói chung và văn họcViệt Nam nói riêng Thế nên, khi Nguyễn Huy Thiệp, BảoNinh, Dơng Thu Hơng, v.v, đợc dịch ra tiếng Anh, Pháp thìkhông hẳn vì mục đích văn chơng ở Đông Nam á, giữa cácnền văn học trong khu vực cũng tỏ ra thờ ơ, dửng dng theokiểu đóng cửa với nhau, xem nhẹ nhau - cũng là xem nhẹchính mình Tâm lí hậu thuộc địa mà tàn d là tâm lí số

đông tạo nên sức ì cha dễ vợt qua của văn học, mặc cho vềkinh tế chính trị Đông Nam á đã có những bớc tiến và hộinhập mạnh mẽ với phần còn lại của thế giới

Ngoài ra có thể kể đến những khó khăn thuộc về cáchlàm văn học ở ta mà theo cách nói bây giờ là còn thiếu tínhchuyên nghiệp: phê bình văn học vẫn đợc xem là khâu yếunhất trong đời sống văn học (dù rằng các nhà phê bình đã rất

cố gắng và không phải là không có thành tựu); cha có chơng

Trang 35

trình quảng bá văn chơng chúng ta ra thế giới; khâu dịchthuật còn nặng về chọn các tác phẩm viết về chiến tranhhoặc có nội dung chính trị; các giảng đờng gần nh bỏ ngỏviệc giảng dạy hoặc giới thiệu văn học đơng đại thế giới, v.v.

Nếu sự giao lu, trao đổi diễn ra trên cả bề rộng lẫnchiều sâu thì những những kinh nghiệm của thế giới là hếtsức bổ ích cho văn học dân tộc trong thời điểm hiện tại.Tuy nhiên, trên thực tế, không phải khi nào và ở đâu ý thứchội nhập cũng hiện diện trong văn học Việt Nam đơng đại

Đây đó, những lo lắng thái quá đến từ phía các nhà quản lívăn học nghệ thuật; sự do dự ngập ngừng của một bộ phậncầm bút; những định kiến cứng nhắc về thẩm mĩ và vănhọc của cả tác giả lẫn độc giả, v.v, đã tự tớc đi cơ hội củavăn học dân tộc Nhìn một cách tổng quát, toàn cầu hoá đã

và đang ảnh hởng mạnh mẽ đến văn học Việt Nam ở cả haimặt thuận lợi và khó khăn theo một cách thức riêng với những

sự thống nhất từ cảm hứng, đề tài, chủ đề, nhân vật cho

đến kết cấu, giọng điệu, v.v Nền văn học ấy diễn ra tronghoàn cảnh đất nớc có chiến tranh kéo dài suốt ba mơi năm,văn học Việt Nam giai đoạn này đã đóng góp một phần to lớnvào sự nghiệp chung của đất nớc, đổi lại, nền văn học dân

Trang 36

tộc cũng đã phải hi sinh rất nhiều, nh đó là cái giá phải trảtrong hoàn cảnh chiến tranh

Văn học Việt Nam đơng đại, nhất là từ sau 1986 lại nay,

là một quá trình văn học rất phong phú, đa dạng, lại đangtiếp diễn Với những thay đổi lớn lao của đời sống, văn họcViệt Nam đang dần bớc vào một quỹ đạo phát triển mới mà ở

đấy những thành tựu trong lịch sử đợc đặt ngang hàng vớinhững thành tựu của văn chơng thế giới Sau 1975, khi đấtnớc trở về với hoà bình văn học đợc trả về với cuộc sống bìnhthờng của nó Tuy vậy, phải mất gần mời năm trợt dài theo

“quán tính sử thi”, cơ chế quản lí bao cấp và tình trạngthiếu dân chủ kéo dài, văn học Việt Nam mới thực sự chuyểnmình, mới bắt đầu đợc sống đúng với bản chất của nó Vàocuối những năm 70 đã hình thành rõ rệt nhu cầu nhìn lạigiai đoạn văn học trớc đó, chỉ ra những hạn chế của nó để

từ đó hình thành hớng phát triển mới cho văn học dân tộc.Một trong những nhà văn tiên phong chính là Nguyễn MinhChâu, “ngời mở đờng tinh anh và tài hoa” của văn học Việt

Nam thời kì đổi mới Với truyện ngắn Cái mặt (viết từ năm

1976 nhng mãi đến năm 1982 mới đợc công bố dới cái tên Bức

tranh) Nguyễn Minh Châu đã đặt những viên gạch đầu tiên

cho công cuộc đổi mới diễn ra hết sức sôi động sau đó.Những trăn trở của các nhà nghiên cứu nh Hoàng Ngọc Hiến,Phơng Lựu, Lê Đình Kỵ, v.v, về vấn đề tính chân thực trongvăn học, về quan hệ giữa văn học và hiện thực, về tính dântộc trong văn học cũng là những khởi động đáng chú ý báohiệu sự chuyển mình mạnh mẽ của văn học từ sau 1986

Trang 37

Tại Đại hội VI, tinh thần đổi mới, chống quan liêu, baocấp, thực hiện dân chủ trở thành khẩu hiệu chính thức,khẩu hiệu lớn nhất của cả nớc Tiếp đó, cuộc gặp của Tổng

Bí th Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuốinăm 1987 đã thổi một luồng gió mới vào đời sống văn nghệcủa nớc nhà, tạo nên một hiệu ứng lan truyền tinh thần đổimới t duy, nhìn thẳng vào sự thật Với khẩu hiệu “cởi trói”,

“tự cứu lấy mình” của hoạt động sáng tác văn học nghệthuật, các văn nghệ sĩ đã hởng ứng hết sức nhiệt tình Tiênphong cho cao trào đổi mới là lĩnh vực lí luận – phê bình,

đây là một tín hiệu hết sức lạc quan Năm 1987, Nguyễn

Minh Châu tiếp tục gây sự chú ý đặc biệt với bài viết Hãy

đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ Bài

báo nh một phát súng lệnh tiến công vào thành trì củanhững định kiến và quan niệm cứng nhắc về văn nghệ.Nguyễn Minh Châu phê phán đờng hớng lãnh đạo văn nghệ

đã can thiệp quá sâu vào tự do sáng tác của nhà văn và làmcho nhà văn Việt Nam đang tự hèn đi, tự thui chột đi và kêugọi sự giải phóng văn nghệ, tạo không khí tự do, dân chủthật sự trong đời sống văn nghệ nớc nhà Hiệu ứng xã hội màbài báo của Nguyễn Minh Châu tạo ra là hết sức mạnh mẽ

Trên lĩnh vực sáng tác, Thời xa vắng của Lê Lựu là tác phẩm

mở đờng cho sự xuất hiện hết sức rầm rộ của rất nhiều tácphẩm đợc viết theo tinh thần dân chủ, đổi mới Ngoài ra có

thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu khác nh: Thiên sứ, Maria

Sến (Phạm Thị Hoài), Ma mùa hạ, Mùa lá rụng trong vờn, Ngợc dòng nớc lũ (Ma Văn Kháng), Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của ngời, Một cõi nhân gian bé tí, Thợng đế thì cời (Nguyễn

Trang 38

Khải), Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam (Nguyễn Minh Châu);

Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Tớng về hu, Không có vua

(Nguyễn Huy Thiệp); Bến không chồng (Dơng Hớng), Mảnh

đất lắm ngời nhiều ma (Nguyễn Khắc Trờng), Đám cới không

có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), v.v.

Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới đã đứng trớc nhucầu “đổi mới t duy tiểu thuyết” Tiểu thuyết từ sau 1975 đ-

ợc đánh dấu bằng hai mốc thời gian: những năm tiền đổi mới(1975 - 1985) và từ 1986 trở về sau Những năm tiền đổimới, tiểu thuyết vẫn trợt dài theo “quán tính sử thi” Chỉ khibớc vào thời kì đổi mới, đợc cởi trói khỏi những quan niệm

cũ, tiểu thuyết mới có cơ hội chuyển mình thực sự Quanniệm mới về văn học – nghệ thuật nói chung, tiểu thuyết nóiriêng đợc dân chủ hoá Sự đổi mới t duy tiểu thuyết dẫn

đến hệ quả là sự thay đổi hệ hình tiểu thuyết nh: đề tài,cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, v.v

Trớc hết là sự đổi mới trong quan niệm và cách tiếp cậnhiện thực Văn học 1945 – 1975, do tính đặc thù về lịch sử,

là nền văn học phát triển theo khuynh hớng sử thi ở thể loạitiểu thuyết, tính chất sử thi càng đợc phát huy đậm đặcqua hiện tợng dung hợp thể loại tạo nên một kiểu thể loại đặcthù là tiểu thuyết sử thi Tiểu thuyết sử thi tiếp cận cuộcsống chủ yếu trên bình diện của “hiện thực lớn”, khám phá

và phản ánh “cuộc sống mới, con ngời mới”, đó là những tácphẩm mang đặc trng thể loại của tiểu thuyết nhng lại lấy nộidung lịch sử - dân tộc làm đề tài sáng tạo nghệ thuật vớicảm hứng anh hùng, ngợi ca sự nghiệp và con ngời của dântộc Từ đầu những năm 80, bằng sự mẫn cảm của ngời nghệ

Trang 39

sĩ, các nhà văn có thực tài và tâm huyết đã tìm tòi hớng đimới cho văn học Sau cú hích năm 1986, nhà văn Việt Nam

nh đợc tiếp thêm năng lợng sáng tạo Họ quan tâm nhiều hơn

đến cuộc sống đời t, đến số phận cá nhân, đến nhữngmặt khuất lấp của cuộc sống bấy lâu vẫn bị phong toảhoặc che khuất Biên độ của hiện thực đợc nới rộng hơn baogiờ hết, nhà văn đợc giải phóng khói cái gọi là “chủ nghĩa

đề tài”, đợc thử sức mình trớc mọi biểu hiện của cuộc sống,

kể cả những điều trớc kia phải kiêng kị Văn học 1945 –

1975, do đặc thù lịch sử, thờng giới hạn đề tài cho nhà văn

nh đề tài Tổ quốc, chiến tranh, cuộc sống lao động tập thể,v.v, những đề tài có tính cá nhân, riêng t nh thân phận conngời, tình yêu, tình dục, bi kịch hôn nhân – gia đình, bikịch thời hậu chiến thì hoặc là bị xếp vào nhóm đề tài

“nhỏ bé” hoặc là bị cấm kỵ Ngay cả trong hơn mời năm sauchiến tranh, văn học Việt Nam vẫn bị ám ảnh và chi phối bởi

“chủ nghĩa đề tài”, các nhà văn loay hoay trong biển kí ức

về chiến tranh mà cha tìm đợc lối ra cho nền văn học dântộc Những bứt phá, xé rào của Nguyễn Minh Châu, NguyễnHuy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Ma Văn Kháng, v.v, có thể coi làsáng tạo có tính lịch sử cho tiến trình văn học Việt Nam.Tiểu thuyết với t cách là thể loại trung tâm, hàng đầu củavăn học đợc xem là nơi mà nhu cầu nhìn lại hiện thực, thay

đổi cách t duy về hiện thực cũng nh mối quan hệ giữa vănhọc với hiện thực diễn ra một cách sôi động nhất Cha hết,trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá, sự giao lu tiếp biến vănhoá - văn học diễn ra phổ biến và thuận lợi thì quan niệm

về hiện thực thậm chí đã bị đảo lộn Có thể ở Việt Nam

Trang 40

ch-a thật sự có thch-ay đổi toàn diện quch-an niệm về cái gọi là hiệnthực, trong khi đó ở các nớc phát triển “không những đánhmất niềm tin vào chân lí hay vào các siêu tự sự, chủ nghĩahậu hiện đại còn đánh mất niềm tin vào hiện thực, đúnghơn: vào cái gọi là hiện thực” [77].

Từ sự thay đổi quan niệm và cách tiếp cận hiện thực,

văn học sau 1986 xuất hiện khuynh hớng nhận thức lại Trớc

nhu cầu bức thiết của đời sống yêu cầu nhìn thẳng vào sựthật, nhiều tác phẩm đã dũng cảm phơi bày những mặt tráicòn bị che khuất, lên án những định kiến lỗi thời đã trởthành vật cản trên bớc đờng phát triển của xã hội Tiểu

thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu đợc coi là tác phẩm chính

thức khơi dòng cho khuynh hớng này Nhận thức lại mà trớchết là về chiến tranh, là nhu cầu bức thiết của đời sống, đợccác nhà văn hết sức quan tâm Chiến tranh đợc nhìn từnhững tác động ghê gớm của nó đến số phận con ngời, lànguyên nhân gây nên những bi kịch thời hậu chiến (bi kịchgia đình, bi kịch tình yêu, bi kịch đời sống, bi kịch thânphận, v.v), vết thơng chiến tranh để lại không một thứ hàoquang phù phiếm nào có thể làm lành, ngợc lại, trớc nhữngbiến động nghiệt ngã của đời sống, nó lại nhức nhối hơn bao

giờ hết Những tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu (Mùa trái

cóc ở miền Nam, Cỏ lau), Bảo Ninh (Thân phận tình yêu),

D-ơng Hớng (Bến không chồng), Hồ Anh Thái (Ngời đàn bà trên

đảo, Ngời và xe chạy dới ánh trăng), v.v, đã đem đến một cái

nhìn khác trớc về cuộc chiến tranh của dân tộc ở những tácphẩm kể trên, không còn những trang viết hào hùng, khôngcòn giọng điệu ngợi ca, thay vào đó là những nỗi đau,

Ngày đăng: 20/12/2013, 19:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Antoine Compagnon (2006), Bản mệnh của lí thuyết (Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào dịch), Nxb Đại học S phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản mệnh của lí
Tác giả: Antoine Compagnon
Nhà XB: Nxb Đại học S phạm Hà Nội
Năm: 2006
2. Ngọc ánh (2008), “Nhà văn Hồ Anh Thái: Sáng tạo, bứt phá trên từng con ch÷”, http://www.hanoimoi.com.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Hồ Anh Thái: Sáng tạo, bứt phá trên từng con ch÷
Tác giả: Ngọc ánh
Năm: 2008
3. Đào Tuấn ảnh (2008), “Những yếu tố Hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga”, http://www.vienvanhoc.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố Hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga
Tác giả: Đào Tuấn ảnh
Năm: 2008
4. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (biên soạn, 2003), Văn học hậu hiện đại thế giới Những vấn đề lí thuyết – , Nxb Hội Nhà văn – Trung tâm văn hoáNgôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới Những vấn đề lí thuyết
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn – Trung tâm văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây
5. Lại Nguyên Ân (2004), Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hậu hiện đại thế giới, Nxb Hội Nhà văn – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hậu hiện đại thế giới
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2004
6. Lê Huy Bắc (Tuyển chọn và giới thiệu, 2003), Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới, Nxb Hội Nhà văn – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây
7. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 1995, những đổi mới – cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 1995, những đổi mới"–"cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Lê Thị Cần (2008), Giọng điệu nhại của tiểu thuyết “Mời lẻ một đêm” (Hồ Anh Thái), Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trờng Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu nhại của tiểu thuyết "“"Mời lẻ một đêm"”" (Hồ Anh Thái)
Tác giả: Lê Thị Cần
Năm: 2008
9. Anh Chi (2009), “Hiện tợng văn chơng Hồ Anh Thái”, http://www.evan.com.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tợng văn chơng Hồ Anh Thái
Tác giả: Anh Chi
Năm: 2009
10. Claudio Magris (2006), Không tởng và thức tỉnh (Vũ Ngọc Thăng dịch), Nxb Hội nhà văn – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không tởng và thức tỉnh
Tác giả: Claudio Magris
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2006
11. Nguyễn Văn Dân (2008), “Con đờng phát triển của kĩ thuật tiểu thuyết”, http://www.vanhoanghethuat.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đờng phát triển của kĩ thuật tiểu thuyết
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2008
12. Dorothy Brewster &John Burrell (2003), Tiểu thuyết hiện đại (Dơng Thanh Bình dịch), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Dorothy Brewster &John Burrell
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2003
13. Trơng Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học nh là quá trình, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học nh là quá trình
Tác giả: Trơng Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
14. Trơng Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trơng Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
15. Lê Chí Dũng (2004), “Phải chăng chẳng bao lâu nữa lối viết hậu hiện đại sẽ trở nên phổ biến ở Việt Nam?”, http://www.tienve.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải chăng "chẳng bao lâu nữa lối viết hậu hiện đại sẽ trở nên phổ biến ở Việt Nam
Tác giả: Lê Chí Dũng
Năm: 2004
16. Thiều Đức Dũng (2007), Cảm hứng trào lộng trong sáng tác của Hồ Anh Thái, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trờng Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng trào lộng trong sáng tác của Hồ Anh Thái
Tác giả: Thiều Đức Dũng
Năm: 2007
17. Đoàn ánh Dơng (2008), “Nguyễn Bình Phơng – Lục đầu giang tiểu thuyÕt”, http://www.vienvanhoc.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bình Phơng – Lục đầu giang tiểu thuyÕt
Tác giả: Đoàn ánh Dơng
Năm: 2008
18. Đặng Anh Đào (2006), Việt Nam và phơng Tây Tiếp nhận và giao thoa – trong văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và phơng Tây Tiếp nhận và giao thoa"–"trong văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
19. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
20. Nguyễn Đăng Điệp (2002), “Hồ Anh Thái – Ngời mê chơi cấu trúc”, http://www.talawas.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Anh Thái – Ngời mê chơi cấu trúc
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w