BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHNGUYỄN DUY QUỐC NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC TRÊN ĐẤT CÁT VEN BIỂN NGHI LỘC – NGHỆ AN VỤ HÈ THU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN DUY QUỐC
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC TRÊN ĐẤT CÁT VEN BIỂN NGHI LỘC – NGHỆ AN
VỤ HÈ THU NĂM 2011
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NÔNG HỌC
VINH - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học do em trực tiếp thực hiện trong vụ Hè Thu 2011, dưới sự hướng dẫn của Th.s Phan Thị Thu Hiền Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố và sử dụng trong một luận văn nào trong nước và ngoài nước
Em xin cam đoan rằng, mọi sự trích dẫn và giúp đỡ trong luận văn này đã được thông tin đầy đủ và trích dẫn chi tiết và chỉ rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN DUY QUỐC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt đề tài này với tấm lòng chân thành em xin bày tỏ sự biết
ơn tới các thầy cô giáo khoa Nông lâm Ngư, Ngành Nông Học, đặc biệt là Th.s Phan Thị Thu Hiền, người đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian thực hiện đề tài và trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ kỹ thuật thuộc ngành Nông học, trại thực hành, cùng các bạn bè khoa Nông Lâm Ngư đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợ cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
đề tài
Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên khích
lệ, những người góp phần rất lớn phía sau sự thành công của em và giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự đóng góp quý báu của tất cả thầy giáo, cô giáo, cùng các bạn bè trong lớp để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa cho phép em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các thành viên với sự giúp đỡ này
Nghi Lộc, 17/ 05/2012
TÁC GIẢ LUẬN VĂN NGUYỄN DUY QUỐC
Trang 4MỤC LỤC
NGUYỄN DUY QUỐC i
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP i
KỸ SƯ NÔNG HỌC i
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu 3
2.1 Mục đích 3
2.2 Yêu cầu 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 5
1.3 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và ở Việt Nam 6
1.3.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 6
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới trong những năm từ 2005 – 2010 được biểu diễn qua bảng sau: 6
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới ở từng khu vực 7
Bảng 1.3 Diện tích, sản lượng của một số nước trên thế giới .7
1.3.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 8
Bảng 1.4 Diện tích năng suất, sản lượng lạc ở Việt Nam 8
Bảng 1.5 Diện tích, năng suất và sản lượng các vùng năm 2009 9
Bảng 1.6 Tình hình sản xuất lạc ở Nghệ An trong những năm vừa qua 11
1.4 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống lạc trên thế giới và Việt Nam 11
1.4.1 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống lạc trên thế giới 11
1.4.2 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống lạc ở Việt Nam 13
1.4.3 Tình hình nghiên cứu lạc ở Nghệ An 18
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
Trang 52.1 Đối tượng, nội dung và điều kiện nghiên cứu 20
2.3 Đất đai 22
2.4 Một số yêu cầu sinh thái của cây lạc 23
2.5 Bố trí thí nghiệm 24
2.6 Quy trình kỹ thuật trồng lạc 25
2.6.1 Thời vụ 25
2.6.2 Xử lý hạt giống 25
2.6.3 Làm đất 25
2.6.4 Kỹ thuật gieo hạt 25
2.6.5 Kỹ thuật bón phân 25
2.6.6 Chăm sóc 26
2.7 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 26
2.7.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống lạc 26
2.7.2 Chiều cao cây và chiều dài cành cấp 1 của các giống lạc 27
2.7.3 Diện tích lá/cây và chỉ số diện tích lá của các giống lạc 27
2.7.4 Thời gian ra hoa và động thái ra hoa của các giống lạc 27
2.7.5 Thời gian sinh trưởng của các giống lạc 28
2.7.6 Số lượng nốt sần của các giống lạc 28
2.7.7 Khối lượng vật chất tươi và chất khô tích lũy của các giống lạc 28
2.7.8 Tính chống chịu sâu bệnh và phương pháp điều tra 28
2.7.9 Các yếu tố cấu thành năng suất 30
2.7.10 Năng suất 31
2.7.11 Đặc điểm hình thái 31
2.8 Phương pháp xử lý số liệu 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống lạc 32
3.1.1 Thời gian và tỉ lệ mọc mầm của các giống lạc 32
Bảng 3.1 Kết quả theo dõi tỉ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của các giống lạc trong vụ hè thu 2011 33
3.1.2 Chiều cao cây và chiều dài cành cấp 1 33
3.1.2.1 Chiều cao thân chính 33
Bảng 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống lạc 34
Trang 6Hình 3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống 36
3.1.2.2 Chiều dài cành cấp 1 36
Bảng 3.3 Động thái tăng trưởng chiều dài cành cấp 1 của các giống lạc 36
Đơn vị tính: cm 36
Hình 3.2 Động thái tăng trưởng chiều dài cành cấp 1 của các giống 38
3.1.3 Thời gian ra hoa và động thái ra hoa 38
Bảng 3.4 Thời gian ra hoa và số lượng hoa của một số giống 39
Bảng 3.3 Động thái ra hoa của các giống 40
3.1.4 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống lạc 40
Bảng 3.5 Diện tích lá (DTL) và chỉ số diện tích lá của các giống lạc 41
Hình 3.4 Chỉ số diện tích lá của các giống lạc ở các giai đoạn sinh trưởng 42
3.1.5 Số lượng nốt sần 42
Bảng 3.6 Số lượng nốt sần của các giống lạc 43
Hình 3.5 Biểu đồ số lượng nốt sần của các giống qua các thời kỳ STPT 44
3.1.6 Khối lượng chất khô tích lũy 44
Bảng 3.7 Kết quả theo dõi khối lượng chất khô tích luỹ của các giống 45
Hình 3.6 Biểu đồ khối lượng chất khô tích lũy của các giống qua các thời kỳ 46
3.1.7 Tình hình sâu bệnh hại 46
3.1.7.1 Tình hình sâu hại 47
3.1.7.2 Tình hình bệnh hại 47
3.1.8 Thời gian sinh trưởng của các giống 48
Bảng 3.9 Thời gian sinh trưởng của các giống thí nghiệm 48
3.2.1 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí nghiệm 48
3.2.1.1 Các yếu tố cấu thành năng suất 48
Bảng 3.10 Kết quả theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất của các giống 49
3.2.1.2 Năng suất 50
Bảng 3.11 Kết quả theo dõi năng suất của các giống lạc thí nghiệm 51
3.1.10 Đặc điểm hình thái 52
Bảng 3.12 Đặc điểm hình thái của các giống lạc thí nghiệm 53
1 Kết luận 54
2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 7KẾT QUẢ PHÂN TÍCH PHƯƠNG SAI 61
Trang 8DANH MỤC BẢNG
B ng 1.1 Di n tích, n ng su t, s n l ả ệ ă ấ ả ượ ng l c trên th gi i trong nh ng ạ ế ớ ữ
n m t 2005 – 2010 ă ừ đượ c bi u di n qua b ng sau: ể ễ ả Error: Reference
source not found
B ng 1.2 Tình hình s n xu t l c trên th gi i t ng khu v c ả ả ấ ạ ế ớ ở ừ ự Error:
Reference source not found
B ng 1.3 Di n tích, s n l ả ệ ả ượ ng c a m t s n ủ ộ ố ướ c trên th gi i ế ớ Error:
Reference source not found
B ng 1.4 Di n tích n ng su t, s n l ả ệ ă ấ ả ượ ng l c Vi t Nam ạ ở ệ Error:
Reference source not found
B ng 1.5 Di n tích, n ng su t v s n l ả ệ ă ấ à ả ượ ng các vùng n m 2009 ă Error:
Reference source not found
B ng 1.6 Tình hình s n xu t l c Ngh An trong nh ng n m v a qua ả ả ấ ạ ở ệ ữ ă ừ
Error: Reference source not found
B ng 2.1 M t s y u t th i ti t v Hè Thu ả ộ ố ế ố ờ ế ụ Error: Reference source not
found
B ng 3.1 T l n y m m c a các gi ng l c trong v hè thu 2011 ả ỉ ệ ả ầ ủ ố ạ ụ Error:
Reference source not found
B ng 3.2 ả Độ ng thái t ng tr ă ưở ng chi u cao thân chính c a các gi ng ề ủ ố
Error: Reference source not found
B ng 3.3 ả Độ ng thái t ng tr ă ưở ng chi u d i c nh c p 1 c a các gi ng ề à à ấ ủ ố
l c ạ Error: Reference source not found
B ng 3.4 Th i gian ra hoa v s l ả ờ à ố ượ ng hoa c a m t s gi ng ủ ộ ố ố Error:
Reference source not found
B ng 3.5 Di n tích lá (DTL) v ch s di n tích lá c a các gi ng l c ả ệ à ỉ ố ệ ủ ố ạ
Error: Reference source not found
Trang 9B ng 3.6 S l ả ố ượ ng n t s n c a các gi ng l c ố ầ ủ ố ạ Error: Reference source not
found
B ng 3.7 K t qu theo dõi kh i l ả ế ả ố ượ ng ch t khô tích lu c a các gi ng ấ ỹ ủ ố
Error: Reference source not found
B ng 3.8 M c ả ứ độ nhi m b nh h i c a các gi ng l c ễ ệ ạ ủ ố ạ Error: Reference
source not found
B ng 3.9 Th i gian sinh tr ả ờ ưở ng c a các gi ng thí nghi m ủ ố ệ Error:
Reference source not found
B ng 3.10 K t qu theo dõi các y u t c u th nh n ng su t c a các ả ế ả ế ố ấ à ă ấ ủ
gi ng ố Error: Reference source not found
B ng 3.11 K t qu theo dõi n ng su t c a các gi ng l c thí nghi m ả ế ả ă ấ ủ ố ạ ệ Error:
Reference source not found
B ng 3.12: ả Đặ đ ể c i m hình thái c a các gi ng l c ủ ố ạ
.
Trang 10DANH MM C B NG Ụ Ả
Hình 3.1 Độ ng thái t ng tr ă ưở ng chi u cao thân chính c a các gi ng ề ủ ố
Error: Reference source not found Hình 3.2 Độ ng thái t ng tr ă ưở ng chi u d i c nh c p 1 c a các gi ng ề à à ấ ủ ố
Error: Reference source not found Hình 3.3 Độ ng thái ra hoa c a các gi ng ủ ố Error: Reference source not
found Hình 3.4 Ch s di n tích lá c a các gi ng qua các th i k STPT ỉ ố ệ ủ ố ờ ỳ Error:
Reference source not found
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) Là cây thuộc bộ đậu, có tên gọi khác là cây đậu phộng được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam,
là loại cây công nghiệp ngắn ngày có vai trò quan trọng trong chăn nuôi, cải tạo đất, làm thực phẩm, dùng trong y học, là cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao Đặc biệt, lạc là một trong năm mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị của nước ta và đứng thứ hai sau cây lúa Trong hạt lạc có chứa 40 – 60% Lipit, 26 – 34% Protein,
6 - 25% Gluxit, 8 loại axít amin không thay thế và nhiều loại vitamin hòa tan, cụ thể trong thành phần protein lạc có mặt đầy đủ 8 loại axid amin không thể thay thế như: alanin, metionin… mà con người và động vật không tự tổng hợp được Tỷ lệ đạm dễ tiêu trong hạt lạc chiếm tới 25 - 38%, so với vừng hạt lạc có tỷ lệ dầu tương đương nhưng tỷ lệ đạm cao hơn nhiều, còn so với đậu tương tỷ lệ dầu trong hạt lạc cao gấp 2 - 4 lần nhưng kém 40% về chất đạm Mặt Khác, xét về mặt năng lượng thì trong thành phần hạt lạc có chứa các chất giàu năng lượng nên nó cung cấp một nguồn năng lượng rất lớn Ngoài ra, chất Lêcthin (Photphatidy choline) có trong hạt lạc còn có tác dụng làm giảm hàm lượng Cholesterol trong máu, chống hiện tượng xơ vữa động mạch máu
Ngoài việc, sử dụng như một loại thực phẩm cho con người, lạc còn được
sử dụng nhiều trong chăn nuôi Trong thân lá lạc có thành phần dinh dưỡng tương đương với các loại cỏ chăn nuôi dùng làm thức ăn cho trâu, bò sữa và gia súc khác Vỏ quả lạc có thể nghiền cám để nuôi lợn, gà, vịt rất tốt Không những thế, cây lạc còn có ý nghĩa to lớn đối với việc cải tạo và bồi dưỡng đất Đồng thời, lạc cũng là cây có khả năng tạo ra tính đa dạng trong sản xuất nông nghiệp thông qua các hình thức trồng thuần, trồng xen canh, trồng gối vụ làm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Bên cạnh đó cây lạc có khả năng thích ứng rộng, không kén đất, không đòi hỏi bón nhiều phân đạm vì bộ rễ có vi khuẩn cộng sinh (Rhizobium vigna) có khả
Trang 13năng cố định đạm, tạo ra lượng đạm sinh học cung cấp cho cây và làm tăng độ phì đất và cũng nhờ đó mà hàm lượng protein ở hạt và các bộ phận khác của cây lạc cao hơn các cây trồng khác, ước tính có khả năng cố định được 72-174 kg N/ha/năm (FAO, 1984) Bởi vậy, nó đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống nông nghiệp bán khô hạn (ICRISAT) như ở Việt Nam nơi mà thời tiết có nhiều biến động lớn Là loại cây trồng ngắn ngày nên cây lạc dễ dàng bố trí vào các công thức luân canh, trồng xen, trồng gối nên cây lạc có vị trí quan trọng trong hệ thống luân canh cây trồng 3vụ/năm.
Đã có rất nhiều công trình đầu tư và dày công nghiên cứu về cây lạc về nhiều mặt, với việc đầu tư về giống sẽ góp phần làm giảm chi phí đầu tư, đỡ tốn công lao động mà còn có thể đạt năng suất cao Hơn nữa, nghiên cứu giống thích hợp với vùng sinh thái cũng rất quan trọng tạo điều kiện cho cây lạc sinh trưởng, phát triển tốt nhất là vấn đề đang được quan tâm song nhưng công trình nghiên cứu giống thích hợp với vùng sinh thái còn ít
Sản xuất lạc tại Nghệ An nói chung và huyện Nghi Lộc còn gặp nhiều khó khăn như: Vụ hè và đầu vụ thu đông thường mưa nhiều, mức độ thâm canh thấp, khả năng đầu tư chưa cao, nhiều đối tượng sâu bênh hại Đặc biệt, vụ Hè Thu ở Bắc miền Trung nói chung, vùng tiến hành đề tài (Nghi Lộc – Nghệ An) nói riêng
là vụ lạc trái cho nên còn có ít công trình nghiên cứu, hay thử nghiệm giống trong
vụ này, đất thường bỏ hoang do đặc điểm thời tiết, khí hậu của vùng, dẫn đến lượng giống hàng năm cho vụ tiếp theo thường phải nhập từ các tỉnh khác về, đôi khi không thích hợp với vùng sinh thái Mặt khác giống lưu trữ lại từ vụ xuân thì chất lượng nảy mầm giảm sút
Có thể thấy, việc nghiên cứu khảo nghiệm giống lạc mới để tìm ra giống thích hợp với vùng sinh thái, cho năng suất cao là hết sức cấp thiết
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài:
" Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số
giống lạc trên đất cát pha huyện Nghi Lộc – Nghệ An vụ Hè Thu năm 2011".
Trang 142 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích
- Xác định được giống lạc có năng suất cao, thích ứng với điều kiện sinh thái của vùng và các vùng sinh thái tương tự, bổ sung giống lạc mới vào bộ giống lạc mới của tỉnh Nghệ An
2.2 Yêu cầu
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của các giống (màu sắc thân, lá )
- Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống
- Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của các giống lạc ở các giai đoạn khác nhau
- Theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lạc
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho việc xác định giống lạc mới
có năng suất cao thích hợp với điều kiện sinh thái của vụ Hè Thu
- Cung cấp dữ liệu khoa học cho biện pháp thâm canh tăng năng suất lạc
- Kết quả đề tài có thể cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, tập huấn và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1 Cơ sở khoa học
Giống là một nhóm cây trồng có đặc điểm kinh tế, sinh học và các tính trạng hình thái giống nhau, cho năng suất cao và chất lượng, ổn định ở các vùng sinh thái khác nhau và điều kiện khí hậu phù hợp
Giống quyết định đến hệ thống canh tác và các biện pháp phòng trừ, mỗi một giống sẽ có nhu cầu khác nhau để thể hiện hết khả năng của chúng theo mục đích sản xuất mà cụ thể là năng suất Vì vậy việc nghiên cứu khảo nghiệm và lai tạo cần phải sát hơn với thực tế
Tất cả các quy trình về sản xuất giống, khảo nghiệm giống cây trồng đều nhằm tạo ra giống mới hay chọn lọc, đánh giá những giống tốt hơn, thích hợp hơn với giống đang sản xuất về các mặt năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh cũng như sự bất thuận của thời tiết, chất lượng giống, thời gian sinh trưởng, phù hợp với điều kiện sinh thái nhất định theo mong muốn của người trồng trọt và thị hiếu người tiêu dùng…
Quan trọng hơn nữa là tìm ra câu trả lời cho mối quan hệ giữa giống cây trồng và hệ sinh thái về mối quan hệ không thể tách rời, mỗi loại cây trồng chỉ thích hợp với từng vùng sinh thái nhất định Hơn nữa giống cây trồng có tính khu vực hóa rất cao, một số giống được đánh giá tốt ở vùng sinh thái này lại tỏ ra không thích hợp với vùng sinh thái khác, đôi khi ngay trong cả những chi tiết nhỏ như đất, chênh lệch ngày đêm
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nên sự thay đổi về nhiệt độ,
độ ẩm, ánh sáng diễn ra liên tục trong năm đã ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây lạc đồng thời đó cũng chính là nguyên nhân thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển Xuất phát từ những thực tế trên đòi hỏi phải có biện pháp canh tác thích hợp, phát huy tiềm năng về năng suất, chọn tạo ra các giống thích hợp cho từng vùng sinh thái
Trang 16Mặt khác, trồng lạc còn giúp bồi dưỡng và cải tạo đất tốt nhờ xác bã thân,
lá để lại cho đất và các nốt sần ở rễ cung cấp đạm cho cây Điều đó cho thấy cây lạc có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trên nhiều loại đất và các điều kiện sinh thái khác nhau (Ngô Thế Dân + etal, 2000) [5]
Do đó cần kết hợp chặt chẽ giữa chọn tạo giống với so sánh, khảo nghiệm
và đánh giá để tìm ra giống cho năng năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu, đánh giá tính thích hợp với vùng sinh thái nhất định để có thể phát huy hết tiềm năng của giống
1.2 Cơ sở thực tiễn
Khí hậu nước ta nóng ẩm, mưa nhiều, Nghệ An chịu ảnh hưởng của gió Phơn tây nam khô nóng vào mùa hè và gió mùa Đông Bắc lạnh ẩm vào mùa đông, đặc biệt trong tình hình hiện nay khí hậu có những biến đổi mưa nắng thất thường
Nó là một trong những tố ảnh hưởng khá lớn và gây khó khăn trở ngại lớn cho sản xuất nông nghiệp
Mặt khác ở đây đất cát nghèo dinh dưỡng nắng thì nhanh chóng hạn, tưới tiêu thì không giữ ẩm, riêng vùng Nghi Lộc lại là vùng có hệ thống thuỷ lợi phát triển rất kém, không có khả năng tiêu úng vào mùa mưa, kể cả khi mưa giao mùa cũng là một nguyên nhân bất trở với nhu cầu sống của cây trồng
Lạc là cây rất quan trọng và giữ vị trí chiến lược của vùng đem lại giá trị kinh tế cao Thực tế bà con đã có nhiều cải tiến về giống cũng như kỹ thuật thâm canh nhưng năng suất vẫn còn hạn chế, chưa tăng lên đáng kể, có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều này, trong đó yếu tố giống là một yếu tố không thể thiếu
Vì vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi nhằm xác định được giống lạc có khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất tốt, có khả năng kháng sâu bệnh hại,… của cây lạc Dựa trên kết quả nghiên cứu có thể bổ sung giống lạc mới vào bộ giống lạc của Nghệ An
Trang 171.3 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Cây lạc tuy đã trồng lâu đời trên thế giới nhưng cho đến giữa thế kỷ XVIII, sản xuất lạc vẫn có tính tự cung, tự cấp cho từng vùng Cho tới khi công nghiệp ép dầu lạc phát triển mạnh, việc buôn bán lạc trở nên tấp nập và trở thành động lực thúc đẩy mạnh sản xuất lạc, trên thế giới hiện nay nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng đã và đang khuyến khích nhiều nước đầu tư phát triển sản xuất lạc với diện tích ngày càng lớn Trong số các cây lấy dầu, cây lạc có diện tích, sản lượng đứng thứ 2 sau đậu tương và được trồng rộng rãi ở hơn 100 nước trên thế giới, từ 40 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới trong những năm
từ 2005 – 2010 được biểu diễn qua bảng sau:
(Triệu/Ha)
Năng Suất (Tấn/Ha)
Sản Lượng (Triệu Tấn)
Từ năm 2006 đến 2008 diện tích lạc tăng dần, sản lượng lạc trên thế giới cũng tăng, trong đó năm 2006 đến 2007 tổng sản lượng tăng 4,05 triệu tân, tăng gần 4 lần so với năm 2007 đến năm 2008, năng suất lạc năm 2007 cao nhất giai đoạn từ 2005 đến 2010 Từ năm 2008 đến 2010 diện tích, năng suất, sản lượng lạc biến động nhẹ
Trang 18Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới ở từng khu vực
Châu Châu Phi Châu Mỹ Châu Âu Châu Á Châu Đại
và thấp nhất là châu Âu Nhưng về năng suất châu Mỹ lại là châu Lục đứng đầu dao động trong khoảng 29 – 31 tạ/ha, gấp hơn 4 lần trung bình chung năng suất của Châu Âu, Châu Á đứng thứ 2, thấp nhất là Châu Âu
Bảng 1.3 Diện tích, sản lượng của một số nước trên thế giới.
Trang 19Senegal 0,84 1,06 1,2 Mỹ 2,34 1,67 1,88
Nguồn: FAOSTAT, tháng 05/2012
Qua bảng 1.3 Ta thấy tình hình sản xuất lạc của một số nước trên thế giới
ta thấy Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria… là một trong những nước luôn đứng đầu về diện tích cũng như sản lượng lạc hàng năm
Đứng đầu về diện tích trồng lạc năm 2010 là Ấn Độ 4,93 triệu ha, tiếp đến
là Trung Quốc 4,55 triệu ha, Nigeria…, về sản lượng thì Trung Quốc đứng đầu 15,71 triệu tấn/ ha năm 2011 Tuy nhiên, diện tích sản xuất lạc hàng năm của Ấn
Độ ngày càng giảm đi, sự biến động này là do Ấn Độ ảnh hưởng của điều kiện khô hạn, năng suất giảm từ 6,29 triệu ha năm 2005 xuống còn 4,93 triệu ha năm
2010, còn Trung Quốc thì diện tích sản xuất tăng đều qua các năm
1.3.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam.
Ở Việt Nam sản xuất lạc những năm gần đây có chiều hướng tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng; Nguyên nhân chủ yếu là do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và sản xuất hàng hóa, mức đầu tư thấp, hơn nữa hiệu quả của việc trồng lạc là cao hơn so với một số loại cây trồng khác
Bảng 1.4 Diện tích năng suất, sản lượng lạc ở Việt Nam
Nghìn ha
Năng suấtTạ/ha
Sản lượngNghìn tấn
Trang 20Về năng suất lạc: Nhìn chung năng suất lạc ở Việt Nam vẫn còn thấp hơn
so với các nước trên thế giới và khu vực Tuy nhiên năng suất lạc những năm gần đây gia tăng liên tục từ 14,51 tạ/ha năm 2001 và đạt 21,03 tạ/ha năm 2010 Năng suất lạc của các tỉnh phía Bắc thường thấp hơn năng suất lạc của các tỉnh phía Nam
Trong những năm trở lại đây sản xuất lạc ở nước ta có những chuyển biến tích cực về năng suất và sản lượng là do công tác chọn tạo giống đã được quan tâm nghiên cứu, cũng như áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Năm 2010 diện tích sản xuất lạc của cả nước giảm so với năm 2000 là 13.900 ha, nhưng năng suất trung bình cả nước vẫn tăng đạt 21,03 cao hơn so với năng suất 14,51 tạ/ha năm 2000 là 6,42 tạ /ha và tổng sản lượng đạt 485.700 tấn với diện tích trồng 231.000 ha năm 2010 trong khi đó năm 2000 với diện tích trồng 244.900 ha tổng sản lượng cũng chỉ đạt 355.300 tấn
Bảng 1.5 Diện tích, năng suất và sản lượng các vùng năm 2009
Vùng sản xuất
Diện Tích(Ngìn Ha)
Năng Suất(Tạ/Ha)
Sản Lượng(Ngìn Tấn)
2009 2010 2009 2010 2009 2010Đồng bằng Sông Hồng 31,4 30,2 23,2 24,1 72,8 72,8
Trang 21Trung Du và miền núi Phía Bắc 50,5 50,2 17,2 17,6 86,7 88,5Bắc Trung Bộ và duyên hải Miền
và 42,00% (2010) Vùng có năng suất lạc cao nhất lại là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với năng suất 33,1 tạ/ha (2009) và 35,6 tạ/ha (2010) (so với mức bình quân cả nước 20,8 tạ/ha) Thấp nhất cả nước là 2 vùng Tây Nguyên, Trung Du và Miền Núi Phía Bắc
Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong mấy năm nay đã góp phần đáng
kể vào ngành sản xuất lạc như: Xác định thời vụ, mật độ, khoảng cách, trừ sâu bệnh, bón phân… Các giống lạc tốt như TB25, Trạm Xuyên đã được phổ biến ở một số tỉnh thay dần cho giống lạc địa phương năng suất thấp, góp phần tăng năng suất, sản lượng lạc đáng kể
Cùng với việc đưa các giống lạc mới năng suất cao, áp dụng công nghệ phủ nilon, trong nhiều năm qua các cơ quan khoa học Nông nghiệp hàng đầu như Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Trung tâm khuyến nông - khuyến ngư Quốc gia vv… Đã dày công nghiên cứu xây dựng nhiều quy trình sản xuất lạc khoa học đồng thời đầu tư kinh phí, thời gian, công sức triển khai hàng trăm mô hình trình diễn tại hầu hết các tỉnh có diện tích lạc lớn để chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật cho bà con nông dân nên năng suất, sản lượng lạc của nhiều địa phương đã được cải thiện đáng kể Về mặt xuất khẩu, cây lạc đã trở thành một trong 10 loại cây trồng chính có giá trị xuất khẩu cao Trong các cây trồng hàng năm, xuất khẩu lạc đứng thứ 2 (sau cây lúa) Góp phần đưa Việt Nam thành nước xuất khẩu đứng thứ
5 trong 25 nước trồng lạc Châu Á Theo FAO (2008), 5 năm gần đây Việt Nam
Trang 22sản xuất 400,000 - 450,000 tấn, xuất khẩu từ 50,000 - 105,000 tấn thu về 30 - 50 triệu USD.
Nghệ An có diện tích đất đai lớn nhất cả nước, cũng là một trong những tỉnh đứng đầu vê diện tích lạc đứng thứ 2 cả nước về diện tích nông nghiệp
Bảng 1.6 Tình hình sản xuất lạc ở Nghệ An trong những năm vừa qua.
Năm (nghìn ha)Diện tích Năng suất(tạ/ha) (nghìn tấn)Sản lượng
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
Năng suất lạc ở Nghệ An cũng đã tăng lên, từ 19,8 tạ/ha (2006) lên 22,3 tạ/ha (2009) trong đó 2 huyện Diễn Châu và Nghi Lộc là 2 huyện có năng suất và sản lượng lớn nhất Với những chính sách, nhưng ưu tiên, đầu tư cho nông nghiệp như hiện nay, và được đánh giá là 10 cây trồng chủ lực của tỉnh, 1 trong 3 cây lấy dầu chủ yếu nên năng suất lạc ở Nghệ An cũng như Việt Nam càng có thêm triển vọng để phát triển và nâng cao
1.4 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống lạc trên thế giới và Việt Nam 1.4.1 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống lạc trên thế giới
Nhiều năm nay, lạc của Trung Quốc là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu nổi tiếng trên thế giới Năng suất lạc của Trung Quốc tăng nhanh trong những năm gần đây từ 2005 trở lại đây, đây là kết quả của việc quan tâm nghiên cứu chuyên sâu về cây lạc Những nghiên cứu về cây lạc ở Trung Quốc tập trung vào 2 lĩnh vực chính là công nghệ giống và cải tiến đồng bộ các biện pháp canh tác (Nguyễn Thị Chinh + etal, 2003) [2]
Năm 1991 đã có hơn 200 giống lạc năng suất cao được trồng ở Trung Quốc Trong đó diện tích trồng các giống có thời gian sinh trưởng ngắn và trung bình
Trang 23tăng lên như Shanyou27, Yuegon116, Yuexuan58, Hua37, Hua17, Yahua 1, Hua28.
Một số giống lạc được đánh giá cao trong sản xuất ở Trung Quốc là:
- Fuhua Sheng: loại hình Spanish được lai tạo ở Sơn Đông (1961) và được nhân giống trồng ở đây với diện tích 720 triệu ha Đây là giống có thời gian thu hoạch sớm
- Yueyon 551: thuộc loại hình Spanish cho thu hoạch sớm, được lai tạo và chọn lọc ở Quảng Đông (1981)
- Baisha 1016: được tạo và chọn lọc ở Quảng Đông 1963 và được nhân giống trồng ở đây trên diện tích 313 triệu ha Đây là giống thuộc loại hình Spanish có thời gian sinh trưởng ngắn
- Haihua 1: Được lai tạo 1984 ở Sơn Đông, được trồng và nhân giống trên diện tích 316 triệu ha (Qui Qing Shu + etal, 1996) [18]
Giống Zhong Hua 4 được trồng ở Bắc Hải, Quảng Tây cho năng suất 6,3tấn/ha Trồng ở Hồng An, Hồ Bắc cho năng suất 6,9 tấn/ha Đây là giống có thời gian sinh trưởng trong vụ Xuân là 125ngày, vụ Hè là 105 ngày (Tang Guying + etal, 1996) [19]
Hàn Quốc: Bắt đầu từ năm 1960, ở Hàn Quốc nhờ sự kết hợp giống mới với các biện pháp kỹ thuật canh tác đã làm cho năng suất lạc năm 1990 tăng gấp 4lần
so với 1960 Một số giống có triển vọng là:
- Giống Nam Kwangtang Kong: thuộc loại hình Virginia Bunch, thời gian sinh trưởng dài Năng suất năm 1990 đạt 2,73 tấn/ha, hàm lượng dầu trong hạt đạt 50,9%, prôtêin là 23,1%
- Giống Dae Wontang Kong: thuộc loại hình Virginia Bunch, thời gian sinh trưởng dài Năng suất năm 1993 thu được là 2,76 tấn/ha, hàm lượng dầu trong hạt đạt 50,9%, prôtêin là 24,7%
- Giống Dae Pungtang Kong thuộc loại hình Virginia Bunch, thời gian sinh trưởng trung bình Năng suất đạt 3,23 tấn/ha năm 1994 Hàm lượng dầu trong hạt đạt 44,7%, prôtêin là 25% (Park Chang Hwan, 1995) [17]
Trang 24Ở khu vực Đông Nam Á thì Inđônêxia, Philippin, Thái Lan cũng thu được một số thành tựu khả quan.
Inđônêxia: Công tác chọn tạo giống lạc cũng này càng được quan tâm Năm
1991, các giống có triển vọng như Mahesa, Badak, Biawar và Kômdo đã được khuyến cáo và đưa vào sản xuất (CRIPC 1991)
Thái Lan: Theo các tác giả Sanun Jogjoy, Tungsina Sansaya Wichai cho biết: Hàng năm ở Thái Lan có hơn 100 ha trồng lạc, năng suất trung bình đạt 1,4 tấn/ha, sản lượng đạt 140 nghìn tấn Một số giống lạc có đặc tính năng suất cao, chín sớm, chống hạn, kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt, có khích thước hạt lớn như Tainan 9 Khon Keon 60-3, Khon Keon 60-1 đã được đưa vào sản xuất và cho kết quả tốt
Từ những thông tin nêu trên, chúng ta có thể thấy công tác chọn, tạo giống là vấn đề luôn được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm, tạo tiền đề quan trọng cho việc nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho cây lạc
1.4.2 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống lạc ở Việt Nam
Lạc là cây công nghiệp được trồng lâu đời ở Việt Nam, là cây có giá trị kinh
tế cao, chiếm một vị trí quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp và góp phần xây dựng nền kinh tế của nước ta Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đáp ứng công cuộc phát triển chung, nguyện vọng của nhà nông, công tác nghiên cứu, chọn tạo, khảo nghiệm giống lạc ở Việt nam cũng đã thu được một số thành tựuđáng khích lệ
Các giống lạc mới được chọn tạo bằng ba con đường: Nhập nội, lai tạo và
xử lý tác nhân gây đột biến Nhiều giống mới đã được chọn tạo thành thành công, được khảo nghiệm và mở rộng diện tích trồng trong sản xuất
Từ năm 1968-1990 sau những năm đổi mới từ các giống nhập nôi, quỹ gen thu thập được ở Việt Nam, trung tâm nghiên cứu cây trồng ở Việt – Nga đã tiến hành lai tạo, gây đột biến, chọn lọc, khảo nghiệm và thí nghiệm sản xuất thử Kết quả thu được nhiều giống lạc có năng suất cao, ổn định, khả năng chống chịu khá, thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau, đó là các giống Trạm Xuyên, đỏ
Trang 25Bắc Giang, B5000 được trồng ở các tỉnh phía Bắc, hay giống Sen lai Nghệ An và Sen lai 75/23 được trồng ở các tỉnh miền Trung, khu 4 cũ (Lê Huy Phương + etal,1996) [12].
Ứng dụng phương pháp lai hữu tính, năm 1974 bộ môn Cây công nghiệp - Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội ứng dụng phương pháp lai có cải tiến trong điều kiện Việt Nam đã lai tạo ra 24 tổ hợp Qua chọn lọc, đánh giá đã cho ra dòng 75/23 có nhiều ưu thế, 75/23 là con lai giữa Trạm Xuyên và Mộc Châu trắng Đây
là giống đã kết hợp được nhiều đặc điểm tốt của bố mẹ, tỷ lệ nảy mầm cao, sinh trưởng khoẻ, năng suất chất lượng tốt phù hợp cho vùng thâm canh Giống 75/23
đã công nhận là giống quốc Gia 1991 (Lê Song Dự + etal, 1991) [6]
Từ năm 1988-1990, Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam đã kết hợp với Viện cây trồng cạn Quốc tế (ICRISAT), khảo nghiệm các giống lạc ở Việt nam cho thấy:
- Giống chín sớm 86143, 87054 và RL29 có thời gian sinh trưởng là 125 ngày, năng suất cao hơn giống Sen Nghệ An, trọng lượng hạt cao
- Các giống chín sớm ICGS35, ICGV 87157 cho năng suất cao và tính chống bệnh đốm lá cao hơn hẳn Sen lai Nghệ An (Trần Văn Lài +etal) [8]
Qua nghiên cứu từ 1991-1995, tác giả Ngô Thị Lam Giang và cộng sự đã chọn được giống lạc VD1 với thời gian sinh trưởng là 90 ngày, đạt năng suất bình quân trong điều kiện thí nghiệm là 3493kg/ha Đặc điểm của giống VD1 là ra hoa tập trung và chín đều (Ngô Thị Lam Giang, Phan Liêu) [9]
Hoàng Tuyết Minh và ctv (1995) đã tiến hành gây đột biến giống lạc Sen lai năm 1989 và chọn lọc được 2 dòng D329 và D332 có tiềm năng năng suất cao (23-24 tạ/ha), ổn định, khả năng sinh trưởng và khả năng chống chịu tốt Dòng D332 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép khu vực hóa năm 1995 (Hoàng Tuyết Minh + etal, 1991-1995) [11]
Nguyễn Thị Chinh (1996) cho biết: Chọn lọc 79 nguồn gen ngắn ngày nhập nội từ ICRISAT chỉ có 9 giống mẫu có thời gian sinh trưởng từ 105-110 ngày trong điều kiện Miền Bắc Việt nam đó là các giống ICGV 86055, ICGV 87883
Trang 26Số còn lại có thời gian sinh trưởng xấp xỉ 120 ngày Đây thực sự là nguồn gen giữ cho công tác cải tiến giống ngắn ngày Cũng qua đánh giá, tác giả đã chọn tạo ra được 2 giống lạc JL24, L05 (ICGV 86143) vừa có thời gian sinh trưởng ngắn, vừa
có năng suất cao Cả 2 giống trên đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép khu vực hoá trên diện tích rộng (Nguyễn Thị Chinh,1996) [3].Năm 1997-1998, trong dự án xây dựng mô hình đảm bảo an toàn ổn định lương thực, phát triển nông sản hàng hoá và bảo vệ môi trường sinh thái của Sở Khoa học – Công nghệ tỉnh Hải Dương, tiến hành ở vụ Xuân 1997, vụ Xuân 1998,
vụ Đông 1998 đã thực hiện khảo nghiệm 4 giống lạc và kết luận được 3 giống lạc 77/43, L02, Dịt Dầu Trung Quốc đều cho năng suất cao từ 31-37 tạ/ha, cao gấp 5
lần giống lạc đối chứng là lạc Sen lai, được bổ sung vào cơ cấu mùa vụ (Tạp chí
Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, số 4 năm 2008) [16].
Các tác giả Nguyễn Thiên Lương và cộng tác viên cho biết: Vụ Vuân năm
2000, Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương đã tiến hành khảo nghiệm 8 giống lạc tại phía Bắc gồm MD7, NC2, BG51, L13, L14, D40, Trạm Dầu 207, Sán Dầu 30 và dùng giống L02 làm đối chứng Kết quả cho thấy các giống L13, L14, Sán Dầu 30 là những giống có triển vọng Giống L14 có thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng hồi xanh sau mọc nhanh, sạch sâu bệnh, tỷ lệ nhân/quả khá, cho năng suất ổn định Các tác giả đề nghị tiếp tục khảo nghiệm các giống còn lại (Nguyễn Thiên Lương +etal, 2000) [10]
Các tác giả Nguyễn Khoa Huân, Lê Quý Tường, Nguyễn Thiên Lương cùng cộng tác viên cho biết: Vụ Xuân Hè và Hè Thu năm 2000, Trạm khảo nghiệm giống cây trồng miền Trung thuộc Trung tâm khảo nghiệm Trung ương đã tiến hành khảo nghiệm 9 giống lạc mới tại 2 tỉnh Quãng Ngãi và Quảng Nam là LVT, MD7, D40, Trạm dầu 207, NC2, Sán Dầu 30, BG51, L02, KPS13, và dùng giống
Sẻ Gia Lai làm đối chứng Qua khảo nghiệm tác giả cho biết, các giống lạc đều sinh trưởng phát triển và thích nghi tốt với đất bãi ven sông tại hai tỉnh Năng suất các giống đều đạt cao hơn hẳn so với đối chứng Trong đó, các giống có triển vọng, ngắn ngày, năng suất cao, ít nhiễm bệnh tại Quảng Ngãi vụ Xuân Hè là
Trang 27MD7, Trạm Dầu 207, Sán dầu 30, LVT, KPS13 Còn tại Quảng Nam là các giống LVT (vụ Xuân Hè và Hè Thu), L02 (vụ Hè Thu) Các giống còn lại các tác giả đề nghị tiếp tục khảo nghiệm (Nguyễn Khoa Huân + etal) [7].
Tại Nghệ An, năm 2000, Trung tâm nghiên cứu và phát triển Nông nghiệp Bắc Trung Bộ đã nghiên cứu và phát triển giống lạc L20 cho vùng sinh thái Bắc Trung Bộ (Phạm Văn Chương và cộng sự) (Phạm Văn Chương + etal, 2006) [4].Tại Duyên hải miền Trung, năm 2002 đã đưa vào khảo nghiệm các giống lạc SD1, MD9, L12, L14 được 2 vụ, trong đó hai giống SD1 và L14 được đánh giá bước đầu có triển vọng năng suất cao L14 đạt trung bình 25,3 tạ/ha, SD1 trung bình đạt 26,2 tạ/ha Cả hai giống đều tương đối ít sâu bệnh Tất cả các giống trên đều được đề nghị tiếp tục đưa vào khảo nghiệm để có được kết luận chính xác hơn (Nguyễn Văn Thắng + etal, 2011) [13]
Năm 2004-2007, tập thể tác giả Công ty Cổ phần Giống Cây trồng Thái Bình đã chọn lọc và tiến hành khảo nghiệm giống lạc TB-25 trình diễn qua 6 vụ Kết quả thu được giống TB-25 là giống có thời gian sinh trưởng ngắn hơn L14 từ 5-7 ngày, chịu rét khá, chống chịu khá tốt với bệnh hại, năng suất vượt đối chứng với các giống phổ biến ở địa phương đều trên mức 10%, thậm chí 15% (40 tạ/ha)
Vụ Đông Xuân 2006-2007, Trung Tâm Khuyến nông - khuyến lâm tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp với Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam tổ chức khảo nghiệm một số giống lạc mới, gồm: L16, L23, L24 và lấy giống L14 làm đối chứng Qua đánh giá thực tế cho thấy, đây là những giống có tiềm năng năng suất cao, phẩm chất tốt Năng suất L16 đạt 332kg/sào, tăng so với đối chứng 22kg/sào L23 đạt 330kg/sào, tăng so với đối chứng 20kg/sào L24 thấp hơn đối chứng Để tiếp tục đánh giá ưu nhược điểm của các giống, trung tâm tiếp tục khảo nghiệm các giống để đạt kết quả chính xác hơn.Năm 2007, đề tài “ Nghiên cứu đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc tại Thanh Trì, Hà Nội” do các tác giả Phan Quốc Gia, Nguyễn Thị Chinh, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Xuân Thu (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu
đỗ, Viện Cây Lương thực - Thực phẩm) và Nguyễn Thiên Lương (Vụ Khoa học,
Trang 28Công nghệ và Môi trường) thực hiện Thí nghiệm được tiến hành vào vụ Xuân năm
2007 với 9 giống lạc bao gồm 2 giống lạc mới công nhận, 6 mẫu giống mới nhập tư ICRISAT và L14 làm đối chứng Kết quả cho thấy, dựa vào chỉ số nhạy cảm với hạn (S), đề tài đã chọn ra được 5 giống có năng suất ít chịu ảnh hưởng với các điều kiện thiếu nước: ICG 96296, ICG 95377, L14, L12 và ICG97229 Dựa vào chỉ số mức suy giảm năng suất hạt, đề tài xác định được giống ICG96296 có khả năng chịu hạn trung bình, hai giống có khả năng chịu hạn yếu hơn là ICG 95377, L14
(Tạp chí hoạt động khoa học, số ra ngày 07/04/2011) [15].
Vụ Xuân năm 2009, Trạm Khuyến nông Vị Xuyên – Hà Giang đã tiến hành khảo nghiệm, so sánh giống lạc L18 (do Viện KHNN Việt Nam chọn tạo) với các giống đại trà tại địa phương Kết quả cho thấy giống L18 có sức nảy mầm, khả năng sinh trưởng cũng như khả năng chống chịu với một số loại sâu bệnh đều cao hơn các giống lạc khác của địa phương, đặc biệt là khả năng chịu rét
Năm 2010, ở Hải Dương đã tiến hành đề tài “ Sản xuất thử giống LĐN-02 ở một số vùng sinh thái” do Kỹ sư Hoàng Minh Tú – Giám đốc Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Hải Dương làm chủ nhiệm Sau 1năm thực hiện thu được kết quả là giống LĐN-02 có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất trung bình 34-
36 tạ/ha, khả năng chống chịu khá, chịu rét và chịu úng tốt, chất lượng ngon (Các
dự án, đề tài Khoa học và công nghệ năm 2011) [14].
Theo Trần Thanh Hiên (2010) [16] tiến hành đề tài “ Nghiên cứu tập đoàn giống lạc mới và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh lạc trên địa bàn tỉnh Quảng Trị” trong 3 vụ: Hè Thu 2009, Đông Xuân 2009-2010 và Hè Thu 2010, tiến hành khảo nghiệm, so sánh các giống mới triển vọng (Giống Lỳ Tây Nguyên, L14, TB25, L23, LĐN-01, L20) Kết quả nghiên sứu khẳng định L23 là giống có nhiều ưu điểm về năng suất cũng như khả năng chống chịu sâu bệnh so với các giống khác Vì vậy cùng với L14, giống L23 cần phải bổ sung đưa vào cơ cấu giống để thay thế cho các giống lạc địa phương năng suất thấp và nhiễm bệnh.Qua những thông tin nêu trên, chúng ta đã thấy được công tác chọn tạo giống lạc ở Việt Nam trong thời gian qua cũng đã đạt được những thành tựu đáng
Trang 29ghi nhận Nhiều giống lạc mới có năng suất cao, phẩm chất tốt đã được nghiên cứu và đưa cào sản xuất phù hợp với từng địa phương, từ đó đã góp phần nâng cao năng suất và sản lượng lạc cả nước, đưa cây lạc lên vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung.
1.4.3 Tình hình nghiên cứu lạc ở Nghệ An
Cây lạc là một trong mười cây trồng trọng điểm của tỉnh Nghệ An Sản phẩm của cây lạc là mặt hàng xuất khẩu có giá trị, mang nguồn ngoại tệ đáng kể cho tỉnh nhà Tại Nghệ An công tác chọn tạo giống lạc, xây dựng hệ thống các biện pháp canh tác trên cây lạc đã được quan tâm phát triển từ nhiều năm nay Trên địa bàn tỉnh nói riêng và vùng Bắc Trung Bộ nói chung, viện KHKT nông nghiệp Bắc Trung Bộ là cơ quan đầu ngành chuyên nghiên cứu về cây lạc Ngoài ra, còn có trung tâm giống cây trồng trường Đại học có nhiều hướng nghiên cứu khác nhan trên cây lạc
Tại Nghệ An, đã có nhiều công tác chọn tạo giống cho vùng khó khăn hạn hán, nhờ nước trời đặc biệt là vùng đất cát ven biển, nhằm tạo ra giống có tiềm năng năng suất cao hơn (3,0 – 3,5 tấn/ha), có khối lượng hạt lớn (62 – 65 g/100 hạt), màu vỏ lụa trắng hồng, tỉ lệ hạt trên quả cao (trên 75%) đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu
Giống lạc L20 được chọn tạo từ tổ hợp lai BG78 và IRS51 do bộ môn miễn dịch thực vật viện KHKTNNVN lai tạo theo phương pháp phả hệ đời F5 được đặt tên là BG51, năm 1988 dòng BG51 được đưa vào TT NC và PTNN BTB (nay là viện KHKT NN BTB) sau đó được tiếp tục tuyển chọn ổn định về mặt di truyền năm 2000 được đặt tên là giống L20
“Nghiên cứu, xác định giải pháp đồng bộ sản xuất lạc đạt 5 tấn/ha ở diện tích 5 ha trở lên” do Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ và PGS
TS Phạm Văn Chương cùng các cộng sự chủ trì thực hiện Nhằm đánh giá thực trạng quy trình sản xuất lạc tại các vùng trọng điểm sản xuất lạc ở Nghệ An, đưa
ra các tiêu chí và tiến hành lựa chọn các điểm, chọn hộ triển khai dự án; đào tạo tập huấn về quy trình thâm canh lạc đạt năng suất 5 tấn/ha cho 200 lượt người
Trang 30thuộc vùng dự án và 500 lượt người trên các vùng trọng điểm lạc; đã xây dựng mô hình với diện tích trên 10 ha tại xã Diễn Lộc, Diễn Châu cho năng suất 61,4 tạ/ha (Vụ Xuân 2008 đạt 65,2 tạ/ha, vụ Xuân 2009 đạt 57,63 tạ/ha) tăng 71,1% so với đối chứng; Tại Nam Tân, Nam Đàn đạt 55,59 tạ/ha (vụ Xuân 2008 đạt 58,4 tạ/ha, vụ Xuân 2009 đạt 52,78 tạ/ha) tăng 88,6% so với đối chứng; đặc biệt kết quả nghiên cứu của dự án đã hoàn chỉnh bổ sung và đưa ra được quy trình thâm canh lạc đạt năng suất 5 tấn/ha trên diện tích 5ha trở lên có cơ sở khoa học, thực tiễn và khả thi cao để khuyến cao áp dụng cho các vùng trọng điểm sản xuất lạc trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Hiện nay có nhiều công tác khảo nghiệm, đánh giá, thí nghiệm nhằm đánh giá tính phù hợp của chúng với điều kiện sinh thái vùng của giống, phân bón và lượng bón cho nhiều vùng đất, cho các giống khác nhau, thời gian sinh trưởng
Trang 31Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, nội dung và điều kiện nghiên cứu
Giống L14 có thời gian sinh trưởng 98 – 100 ngày vụ đông xuân, vụ Hè Thu 90 – 95 ngày, có 4 – 5 cành cấp 1, khối lượng 100 quả đạt 160 –
165 g, tỷ lệ nhân 70%
Giống lạc L14 kháng bệnh đốm lá khá Ưu điểm của L14 là năng suất
ổn định từ 30 – 40 tạ//ha trong vụ đông xuân và 20 – 25 tạ/ha trong vụ thu đông
L23 Trung tâm nghiên cứu và phát triển đậu đỗ, viện cây lương thực thực
phẩm chọn tạo ra từ nguồn thu thập 2001 từ tập đoàn nhập nội của Trung Quốc, được công nhận giống chính thức 2010 và được bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép sẩn xuất kinh doanh ở việt nam theo thông tư số 55/2010/TT – BNNPTNT ngày 28/9/2010
Giống lạc L23 thuộc dạng hình thân đứng, tán gọn, lá xanh đậm, sinh trưởng khỏe, ra hoa tập trung, kháng bệnh đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt và héo xanh vi khuẩn khá Khối lượng 100 quả 140 – 150g, tỷ lệ nhân 70 – 72%, tiềm năng năng suất 40 – 45 tạ/ha Quả có gân vỏ, vỏ hạt màu
Trang 32hồng, L23 là giống chịu thâm canh cao, thời gian sinh trưởng 95 – 105 ngày Chiều cao thân chính 35 – 50cm Giống lạc L23 có thể trồng trên đất ruộng, đất bãi có thành phần cơ giới nhẹ Thời gian sinh trưởng : vụ xuân 120-125 ngày, vụ thu đông 95-100 ngày
- Giống lạc L26 thuộc dạng hình thực vật Spanish, lá dạng hình trứng thuôn dài, màu xanh đậm, thân chính cao (40-45cm), quả to (165-185g/100 quả), gân trên quả rõ, mỏ quả trung bình-rõ, tỷ lệ nhân đạt 73-75%, hạt to (75-85g/100 hạt), vỏ lụa màu hồng cánh sen và không bị nứt
vỏ hạt Năng suất đạt 45-54 tạ/ha
LĐN01
Trung tâm khảo nghiện giống cây trồng tỉnh Hải Dương chọn lọc từ giống lạc nhập vào tỉnh năm 2001 có tên là TH116
- giống LĐN-01 có thơid gian sinh trưởng 98 – 100 ngày vụ đông xuân,
vụ Hè Thu 90 – 95 ngày, có 4 – 5 cành cấp 1, khối lượng 100 quả đạt
160 – 165 g, tỷ lệ nhân 70 – 75 % Kháng bệnh đốm lá khá, bị héo xanh
ít hơn giống L14 Năng suất ổn định từ 30 – 40 tạ//ha trong vụ đông xuân và 20 – 25 tạ/ha trong vụ thu đông
LĐN02 Trung tâm khảo nghiện giống cây trồng tỉnh Hải Dương chọn lọc từ
giống lạc nhập nội Được phép khu vực hoá năm 1998 Thời gian sinh trưởng vụ Xuân 127 ngày, vụ Thu 110 ngày Cây cao 32 - 40cm, khối
Trang 33lượng 100 hạt 60-65 gam Năng suất 30,2 - 36,5 tạ/ha Chống bệnh héo xanh ở mức trung bình, chịu thâm canh Chống chịu bệnh rỉ sắt, bệnh đốm nâu, đốm đen trung bình khá
L17 TQ6/L08, Do Trung tâm nghiên cứu và phát triển đậu đỗ tuyển chọnL19
Là sản phẩm của tổ hợp lai giữa L15/ V79 có nhiều triển vọng như: năng suất cao từ 45 - 50 tạ/ha, vỏ mỏng như V79, khối lượng hạt 60-65 g/100hạt, màu vỏ lụa đẹp, tỷ lệ nhân cao, kháng bệnh lá khá
- Nội dung nghiên cứu:
Nghiên cứu đặc điểm hình thái của các giống lạc (đặc điểm thân,
màu sắc lá )
Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển
Mức độ nhiễm sâu bệnh hại
Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số giống lạc
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Thí nghiệm được tiến hành vào vụ Hè Thu năm 2011
Ngày gieo: 06 – 07 – 2011
Ngày thu hoạch: tháng 10 – 2011
- Địa điểm: thí nghiệm được bố trí trên đất cát trại thực nghiệm Nông học,
Khoa Nông – Lâm – Ngư, Đại học Vinh
2.3 Đất đai
Đất nơi tiến hành thí nghiệm là đất cát nghèo dinh dưỡng có hàm lượng mùn
và NPK tổng số thấp
Có thể tránh úng ở điều kiện mưa nhẹ, vừa
Đất thuận lợi cho quá trình đâm tia hình thành quả, vun xới, và thông thoáng oxy
Trang 342.4 Một số yêu cầu sinh thái của cây lạc
Cây lạc cũng như các loại cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển luôn chịu sự ảnh hưởng rất lớn và chặt chẽ của các yếu tố thời tiết, khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa…, điều kiện có thể thay đổi như dinh dưỡng, chăm sóc, tưới tiêu…
Nhiệt độ: Lạc là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, là cây ưa ẩm, nhiệt độ thích hợp cho cả quá trình sinh trưởng của lạc là 25 – 300C để sinh trưởng thuận lợi Nhiệt độ trung bình thích hợp cho thời kỳ nảy mầm 25-300C, thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng 20-300C, thời kỳ ra hoa 24-330C, thời kỳ chín 25-280C Tích ôn hữu hiệu của lạc 2.600-4.8000C thay đổi tuỳ theo giống
Độ ẩm: Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lạc Tuy lạc được coi là cây trồng chịu hạn, song thực ra lạc chỉ chịu hạn ở một giai đoạn nhất định Độ ẩm đất trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc yêu cầu khoảng 70-80% độ ẩm giới hạn đồng ruộng Yêu cầu này có cao hơn một chút ở thời kỳ ra hoa, kết quả (80 - 85%) và giảm ở thời kỳ chín của hạt
Tổng nhu cầu về nước trong suốt thời gian sinh trưởng của cây lạc từ khi mọc đến thu hoạch (không kể thời kỳ nảy mầm) là 450 - 700mm
Ánh sáng: Lạc là cây ngắn ngày song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu và đối với nhiều trường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ Số giờ nắng/ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc Quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng
Trong thời gian tiến hành thí nghiệm chúng tôi thu được một số yếu tố khí hậu sau:
Trang 35Qua bảng số liệu thời tiết vụ Hè Thu và đặc điểm sinh thái của cây lạc thì mặt băng chung ta thấy nhiệt độ vụ Hè Thu là một yếu tố thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây lạc, song tồn tại những mặt khó khăn do có những ngày nhiệt đố lên cao, kéo dài, đặc biệt giai đoạn khi gieo cho đến bắt đầu ra hoa, đất hạn cần tiến hành tưới giữ ẩm đất và cây.
Độ ẩm và ánh sáng trong vụ Hè Thu ở giai đoạn đầu cũng khá thuận lơi cho cây lạc, nhưng ở 2 tháng 9 và 10 lượng mưa quá nhiều độ ẩm cao và giờ sáng
ít cũng ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng, phất triển và tạo năng suất của lạc
Sâu bệnh: vụ Hè Thu ở vùng thí nghiệm rất ít được trồng, chân đất, vùng lân cận thì đây là vụ đầu tiên được trồng nên rất ít sâu bệnh chính mà chủ yếu là cào cào, châu chấu…
Trang 36Mương thoát nước
Lên luống: Sau khi làm đất xong tiến hành lên luống, chia ô thí nghiệm
Chiều cao luống: 25cm
Trang 37- N :30kg
- P2O5 :90kg
- K2O :60kg
- Vôi bột: 500kg
* Cách bón: Bón phân được chia làm 3 đợt
- Bón lót: + bón 50% lượng vôi bột vào lần cày bừa cuối cùng
+ 100% phân chuồng + 100% lân + 1/3 kali khi rạch hàng để gieo hạt
- Bón thúc: chia làm 3 lần bón
+ Bón thúc lần 1: Bón lúc lạc có 2 – 3 lá, bón 50% N + 1/3 K2O, bón giữa rãnh, bón theo hàng kết hợp với làm cỏ xới xáo nhẹ
- Tưới nước:trong quá trình thí nghiệm, nếu bị hạn tiến hành tưới nước bổ sung cho cây
- Phòng trừ sâu bệnh: Theo dõi và phòng trừ bệnh kịp thời bằng các biện
Pháp phòng trừ bệnh tổng hợp
2.7 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
2.7.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống lạc
- Thời gian từ gieo đến mọc mầm (ngày): Tính từ khi gieo đến khi có 50% số hạt mọc xoè 2 lá mầm trên mặt đất
- Tỷ lệ mọc mầm
Trang 38Tỷ lệ mọc mầm (%) = Tổng số cây mọc/ô
Tổng số hạt gieo/ô
- Tỷ lệ mọc mầm (%): Là tỷ lệ mọc trung bình của 3 lần nhắc lại
2.7.2 Chiều cao cây và chiều dài cành cấp 1 của các giống lạc
- Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính và chiều dài cành cấp 1(cm):
- 10 ngày theo dõi một lần mỗi lần nhắc lại theo dõi 10 cây đã được đánh dấu trước Định kỳ 10 ngày theo dõi một lần, bắt đầu đo khi cây có 3 – 4 lá thật
Cách đo: Chiều cao cây: Đo từ đốt phân cành cấp 1 (nách lá mầm) đầu tiên đến đỉnh sinh trưởng của thân chính
Chiều dài cành cấp 1: Đo từ gốc cành cấp 1 đến đỉnh sinh trưởng của cành và chỉ đo cặp cành cấp 1 đầu tiên
2.7.3 Diện tích lá/cây và chỉ số diện tích lá của các giống lạc
- Xác định chỉ số diện tích lá (LAI) ở 3 thời kỳ: bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ, quả vào chắc
- Chỉ số diện tích lá: xác định bằng phương pháp cân nhanh (có đối chứng với máy đo) Xác định ở 3 thời kỳ: thời kỳ ra hoa, ra hoa rộ và quả chắc
Cây sau khi nhổ về đem rửa sạch để ráo nước, ngắt từng lá xếp trên mẩu giấy
10 cm2 sau đó cân khối lượng lá của 1dm2, cân khối lượng lá của toàn cây từ đó xác định được LAI của 1 cây
Chỉ số diện tích lá (LAI) = Diện tích lá x Mật độ (m2 lá/m2 đất)
- Tiến hành 3 lần nhắc lại, 1 lần nhắc lại theo dõi 1 cây
2.7.4 Thời gian ra hoa và động thái ra hoa của các giống lạc
- Xác định thời gian ra hoa: từ khi mọc cho đến có 10% số hoa mọc
- Xác định tổng số hoa và động thái ra hoa /cây mẫu/ ngày của các giống
- Thời gian ra hoa (ngày): Tính từ khi có 50% số cây bắt đầu xuất hiện ít nhất
1 hoa nở ở bất kỳ đốt nào trên cây đến khi có 50% số cây kết thúc ra hoa rộ
Trang 392.7.5 Thời gian sinh trưởng của các giống lạc
- Tính từ ngày gieo đến khi quả chín thu hoạch
- Căn cứ để xác định thời điểm thu hoạch: Khi lá vàng, khô, khi có trên 80% số quả già
2.7.6 Số lượng nốt sần của các giống lạc
- Số nốt sần theo dõi ở 3 thời kỳ: bắt đầu hoa, ra hoa rộ, quả vào chắc mỗi
lần nhắc lấy 3 cây mẫu đại diện ở 1 trong 2 hàng ở giữa của công thức
Cách làm: Đếm toàn bộ nốt sần hữu hiệu của mỗi cây mẫu ở mỗi lần nhắc.
Xác định nốt sần hữu hiệu bằng cách dùng dao lam bổ đôi nốt sần, nốt sần
đang hoạt động có dịch màu hồng do sắc tố Leghemoglobin tạo ra, nốt sần vô hiệu
có kích thước nhỏ, có dịch màu trắng hoặc trắng xanh
2.7.7 Khối lượng vật chất tươi và chất khô tích lũy của các giống lạc
- Khối lượng chất tươi (gam/cây) tích lũy của cây ở 3 thời kỳ: bắt đầu ra
hoa, ra hoa rộ, củ vào chắc, sau khi lấy mẫu, rữa sạch để ráo nước và cân
- Khối lượng chất khô (gam/cây) cân xác định bằng cách sấy khô đến khối
lượng không đổi 3 cây mẫu của mỗi công thức ở 3 thời kỳ: bắt đầu ra hoa, ra hoa
rộ và quả vào chắc
Chọn ngẫu nhiên 3 cây trên mỗi ô thí nghiệm nhổ về rửa sạch, cắt cân tươi
và bỏ trong túi giấy, đem sấy Đưa vào tủ sấy tăng nhiệt độ lên đến 105oc trong 30
phút để diệt men, sau đó hạ nhiệt độ xuống 60oc sấy đến khi khối lượng không đổi,
đem cân và tính khối lượng của 1 cây (gam/cây)
2.7.8 Tính chống chịu sâu bệnh và phương pháp điều tra
Theo dõi theo 5 điểm đường chéo, mỗi điểm 1 m2, hoặc điều tra 10 cây trên
một điểm tính tỷ lệ bị hại (%)
Trang 40Đánh giá khả năng chống chịu sâu hại: Tính % cây bị hại theo dõi ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của lạc.
Sâu hại: theo dõi tỷ lệ sâu hại; tỷ lệ cây bị sâu hại (%) = số cây bị hại/tổng
số cây điều tra; mỗi công thức theo dõi trên hai hàng
* Đánh giá khả năng chống chịu của bệnh theo hai cách:
- Đánh giá mức độ bị hại qua sự tồn tại của lá ở trên cây
- Đánh giá bệnh hại qua lá qua thang bệnh 9 điểm của ICRISAT
3 Có một vài vết bệnh ở gốc lá, hình thành bào tử, vết bệnh không lan rộng 6 – 10%
4 Có nhiều vết bệnh to nhỏ, tập trung ở tầng gốc và tầng giữa 11 – 20%
5 Có nhiều vết bệnh, tập trung ở tầng gốc, lá chuyển vàng, hình thành bào tử ở mức trung bình 21 – 30%
6 Như điểm 5, nhưng hình thành bào tử mạnh hơn 31 – 40%
8 Như điểm 7, nhưng mức độ khô héo nhiều hơn 61 – 80%
Mức độ nhiễm một số bệnh hại chính tính theo tỷ lệ hại và cấp hại
* Bệnh gỉ sắt Puccinia arachidis Speg, điều tra ước lượng diện tích lá bị
bệnh của 10 cây mẫu trên ô (theo 5 cấp chéo góc) xác định mức độ bệnh:
- Rất nhẹ, cấp 1 (dưới 1% diện tích lá bị hại)
- Nhẹ, cấp 3 (1 - 5% diện tích lá bị hại)
- Trung bình, cấp 5 (> 5 - 25% diện tích lá bị hại)