1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi khi làm quen biểu tượng hình dạng luận văn tốt nghiệp đại học

79 8,7K 35

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ 5-6 tuổi khi làm quen với biểu tượng hình dạng
Tác giả Trần Thị Việt Hoa
Người hướng dẫn ThS. Phạm Thị Hải Châu
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục Mầm Non
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 669 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNSau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo - Thạc sỹ Phạm Thị Hải Châu, tôi đã hoàn thành khóa luân tốt nghiệp của mình với đề tài : “Sử d

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa giáo dục -*** -

Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với biểu tợng hình dạng

Khoá luận tốt nghiệp đại học

ngành giáo dục mầm non

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của

cô giáo - Thạc sỹ Phạm Thị Hải Châu, tôi đã hoàn thành khóa luân tốt nghiệp của mình với đề tài : “Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng

khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi khi làm quen biểu tượng hình dạng”.

Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện và đóng góp ý kiến của Ban chủ nhiệm khoa Giáo Dục, cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như trong thời gian tôi làm khóa luận này Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc

nhất tới cô giáo Ths Phạm Thị Hải Châu, đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong

suốt thời gian tôi làm khóa luân này Cảm ơn ban giám hiệu các trường mầm non : Quang Trung 2, Bình Minh, Trường Thi, Hưng Dũng, Hoa Hồng đã cộng tác và giúp tôi hoàn thành khóa luận.

Đây là lần đầu tiên tôi làm công tác nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu sót, chính vì vậy qua đây tôi rất mong nhận được những

ý kiến đóng góp chân thành của các thầy cô giáo cùng các độc giả.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Vinh , tháng 5 năm 2011

Tác giả

Trần Thị Việt Hoa

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN 0

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 0

MỤC LỤC 0

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu: 3

3 Khách thể nghiên cứu- Đối tượng nghiên cứu: 3

4 Phạm vi nghiên cứu: 3

5 Giả thuyết khoa học: 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu: 3

7 Phương pháp nghiên cứu: 3

8 Đóng góp mới của đề tài: 4

9 Cấu trúc của đề tài: 4

PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.2 Lý luận chung về trò chơi học tập 7

1.2.1 Khái niệm, cấu trúc, phân loại trò chơi học tập 7

1.2.2 Vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo 11

1.3 Những vấn đề về biểu tượng hình dạng 13

1.3.1 Khái niệm về biểu tượng 13

1.3.2 Khái niệm về hình dạng 16

1.3.3 Đặc điểm phát triển biểu tượng hình dạng của của trẻ mẫu giáo 17

1.3.4 Nội dung hình thành biểu tượng hình dạng của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 20

1.4 Những vấn đề về tính khái quát hóa 21

1.4.1 Khái niệm – bản chất khái quát hóa 21

1.4.2 Khả năng khái quát hóa của trẻ: 24

Trang 5

1.4.3 Khả năng khái quát hóa và sự hình thành khái quát hóa ở trẻ mẫu giáo 5-6

tuổi 26

1.4.4 Khả năng khái quát hóa biểu tượng hình dạng của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 29

Kết luận chương 1 32

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG KHÁI QUÁT HÓA CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN 5-6 TUỔI KHI LÀM QUEN VỚI BIỂU TƯỢNG HÌNH DẠNG 34

2.1 Mục đích điều tra thực trạng 34

2.2 Đối tương điều tra trục trạng 34

2.3 Nội dung điều tra thực trạng 34

2.4 Phương pháp điều tra thực trạng 34

2.5 Kết quả thực trạng 35

2.5.1 Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng trò chơi học tập trong việc dạy trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi làm quen với biểu tượng hình dạng 35

2.5.2 Thực trạng sử dụng trò chơi học tập khi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi làm quen biểu tượng hình dạng để phát triển khả năng khái quát hóa 42

Kết luận chương 2 50

Chương 3: ĐỀ XUẤT VÀ XÂY DỰNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP DÀNH CHO TRẺ 5-6 TUỔI LÀM QUEN VỚI BIỂU TƯỢNG HÌNH DẠNG NHẰM PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG KHÁI QUÁT HÓA 51

3.1 Yêu cầu đối với việc sử dụng trò chơi học tập trong quá trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 51

3.2 Cách thức tổ chức trò chơi học tập trong quá trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ 5-6 tuổi nhằm phát triển khả năng khái quát hóa 52

3.3 Thiết kế trò chơi học tập cho trẻ 5-6 tuổi làm quen biểu tượng hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hóa 55

3.3.1 Quy trình thiết kế trò chơi học tập giúp trẻ làm quen với biểu tượng hình dạng 55

Trang 6

3.3.2 Thiết kế một số trò chơi học tập cho trẻ 5-6 tuổi làm quen biểu tượng

hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hóa 56

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 64

1 Kết luận 64

2 Kiến nghị 68

PHỤ LỤC 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 7

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Giáo dục mầm non là một trong những bậc học thuộc hệ thống giáo dụcquốc dân Việt Nam, là một trong những mắt xích có vị trí quan trọng trongchiến lược phát triển con người

Trong chương trình đổi mới hiện nay nghành giáo dục mầm non xây dựngmục tiêu đào tạo là nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của trẻ,chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp một

Cho trẻ làm quen với các biểu tượng toán là một trong những nhiệm vụ cơbản để thực hiện được mục tiêu đó, trong đó cho trẻ làm quen với biểu tượnghình dạng là một nội dung quan trọng hình thành cho trẻ những biểu tượng đúngđắn, phát triển các năng lực tư duy và đặc biệt là phát triển khả năng khái quáthóa và góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ Có rất nhiều loại phươngtiện, biện pháp được các giáo viên sử dụng góp phần thực hiện những mục tiêugiáo dục và trong đó phải kể đến trò chơi học tập - một phương tiện toàn diện đểgiáo dục trẻ

Trò chơi học tập tác động trực tiếp đến việc củng cố kiến thức và giúp trẻnắm bắt, khám phá thế giới xung quanh một cách nhẹ nhàng, sâu sắc, kích thíchtính tích cực hoạt động nhận thức của trẻ bởi thông qua trò chơi học tập giúp trẻphát triển các kỹ năng, chính xác hóa các biểu tượng thu nhận được Trong tròchơi học tập nhiệm vụ chính là nhiệm vụ nhận thức và cũng chính là nhiệm vụchơi

Nhiệm vụ chơi đặt ra yêu cầu trẻ phải biết phân tích, so sánh, phân loại,khái quát hóa, trừu tượng hóa… các sự vật, hiện tượng xung quanh Tính hấpdẫn của hành động chơi trong trò chơi học tập giúp trẻ tích cực hoạt động, kíchthích tư duy, trang bị kỹ năng, năng lực tư duy, trí tuệ… từ đó giúp trẻ có đượccác trí lực cần thiết cho việc tiếp thu những kiến thức mới và giúp trẻ nhanh trí,linh hoạt, có óc quan sát, đặc biệt giúp trẻ hình thành và phát triển khả năng kháiquát hóa - một trong những khả năng cơ bản của hoạt động tư duy

Trang 8

Việc hình thành các thao tác tư duy cho trẻ như phân tích, tổng hợp, sosánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa…là vô cùng quan trọng nhằm hình thànhcác hứng thú nhận thức, luyện tập các kỹ năng, kỹ xảo giúp phát triển năng lựcnhận thức hoạt động tư duy tích cực, sáng tạo, chủ động cho trẻ Đặc biệt với trẻ5-6 tuổi thì giáo dục trí tuệ còn nhằm trang bị đầy đủ mọi điều kiện cho trẻ vàohọc lớp một Bên cạnh đó, việc cho trẻ làm quen với các biểu tượng hình dạng làmột nội dung quan trọng trong việc phát triển tư duy cho trẻ mẫu giáo.

Từ trước đến nay, trò chơi học tập được coi là một phương tiện toàn diện đểgiáo dục trẻ, đã được rất nhiều các nhà giáo dục học, tâm lý học quan tâmnghiên cứu và cũng được các giáo viên lựa chọn để sử dụng trong trong nhiều

bộ môn như tác phẩm văn học, môi trường xung quanh… nhưng trong lĩnh vựchình thành biểu tượng toán nói chung và làm quen với biểu tượng hình dạng nóiriêng thì việc sử dụng trò chơi học tập các giáo viên sắp xếp, tổ chức và hướngdẫn ra sao?

Giáo viên mầm non nhận thức như thế nào về việc sử dụng trò chơi học tậpnhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ khi làm quen với biểu tượnghình dạng và phương pháp nào để giúp giáo viên mầm non biết cách lựa chọn,sắp xếp, tổ chức trò chơi học tập để phát huy được hiệu quả cao nhất khi dạy trẻlàm quen với biểu tượng hình dạng… đang là vấn đề cần phải được quan tâmnghiên cứu và thực tiễn hiện nay qua các đợt kiến tập ở một số trường mầm noncho thấy rằng giáo viên mầm non chưa thực sự phát huy tối đa hiệu quả của việc

sử dụng trò chơi học tập vào giảng dạy đặc biệt là trong các hoạt động nhậnthức Các tiết học cho trẻ làm quen với biểu tượng toán- cho trẻ làm quen vớibiểu tượng hình dạng nói chung đang còn diễn ra một cách rập khuôn, gượng ép,

tẻ nhạt, chưa kích thích được hứng thú của trẻ trong hoạt động tư duy, mức độkhả năng khái quát hóa cuả trẻ chưa cao

Đồng thời để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả của việc sử dụng tròchơi học tập vào giảng dạy, hình thành những biểu tượng toán học nhằm pháttriển khả năng khái quát hóa trong hoạt động tư duy của trẻ 5- 6 tuổi, chúng tôi

mạnh dạn chọn đề tài: “ Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng

Trang 9

khái quát hóa cho trẻ 5-6 tuổi khi làm quen với biểu tượng hình dạng” làm

đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình

3 Khách thể nghiên cứu- Đối tượng nghiên cứu:

3.1.Khách thể nghiên cứu: Quá trình hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng

khái quát hóa cho trẻ 5-6 tuổi khi làm quen với biểu tượng hình dạng

4 Phạm vi nghiên cứu:

Giới hạn trong các tiết học làm quen với biểu tượng hình dạng và các trẻ ởcác trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh

5 Giả thuyết khoa học:

Trong quá trình cho trẻ làm quen với biểu tượng hình dạng nếu giáo viênmầm non biết sử dụng trò chơi học tập một cách khoa học, hợp lý, linh hoạt,sáng tạo sẽ góp phần phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ

6 Nhiệm vụ nghiên cứu:

6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và những vấn đề lịch sử có liên quan đến đề tàinghiên cứu

6.2 Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng trò chơi học tập khi cho trẻ mẫu giáo 5-6tuổi làm quen với biểu tượng hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hóa.6.3 Đề xuất một số kiến nghị và xây dựng một số trò chơi học tập mẫu nhằmphát triển khả năng khái quát hóa của trẻ khi làm quen với biểu tượng hình dạng

7 Phương pháp nghiên cứu:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý

luận có kiên quan đến đề tài nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Trang 10

7.2.1 Phương pháp quan sát quá trình dạy của giáo viên và hoạt động học củatrẻ ở các trường mầm non.

7.2.2 Phương pháp trò chuyện, đàm thoại với các giáo viên mầm non

7.2.3.Phương pháp điều tra anket: Dùng hệ thống câu hỏi cho giáo viên mầmnon

7.2.4 Phương pháp thống kê toán học: xử lý số liệu thu được ở phiếu điều tra

8 Đóng góp mới của đề tài:

- Hoàn thành thêm cơ sở lý luận về việc sử dụng trò chơi học tập nhằm pháttriển khả năng khái quát hóa cho trẻ khi làm quen với biểu tượng hình dạng

- Thực tiễn: Làm rõ được thực trạng việc lựa chọn, sắp xếp và tổ chức sửdụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa khi hình thànhbiểu tượng hình dạng cho trẻ 5-6 tuổi

9 Cấu trúc của đề tài:

Đề tài gồm 3 phần

Phần I: Phần mở đầu.

Phần II: Phần nội dung: có 3 chương.

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Thực trạng việc sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khảnăng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi khi làm quen với biểu tượng hìnhdạng

Chương 3: Đề xuất và xây dựng một số trò chơi học tập dành cho trẻ 5-6tuổi làm quen với biểu tượng hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hóa

Phần III: Kết luận và kiến nghị.

Trang 11

PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trò chơi học tập là một trong những phương tiện giáo dục toàn diện có ýnghĩa hết sực to lớn trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ em Do đó vấn đềnày đã được rất nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học trong và ngoài nước quantâm và nghiên cứu

Ngay từ đầu thế kỉ XVII nhà giáo dục học người Hà Lan I.B Bêđêđốp đãcho rằng “Trò chơi học tập là phượng tiện dạy học cho trẻ mẫu giáo Nếu trongtiết học cô giáo sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết họcdưới hình thức trò chơi sẽ đáp ứng đươc nhu cầu và phù hợp với đặc điểm củatrẻ, giúp cho giờ học có hiệu quả hơn…”

Phrebenlia cho rằng: trò chơi học tập như là một phương pháp dạy học Tuynhiên Phrebenlia nhấn mạnh vai trò của trò chơi học tập là những bài tập, nhữngnhiệm vụ học dưới sự hướng dẫn của người lớn Thế nhưng những trò chơi họctập được tổ chức cho trẻ theo chương trình của Phrebenlia theo nhận xét của cácnhà giáo dục tiến bộ của nước Nga tiêu biểu là K.Đ Usinski(1824-1870) thìnhững trò chơi học tập đó còn tẻ nhạt, nó có khả năng dạy trẻ hơn là để trẻ tựhọc

Ở Liên Xô trước đây việc sử dụng trò chơi học tập trong giáo dục mầm noncũng được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:

- E.M Chikhepva có công lớn trong việc xác định vai trò của trò chơi họctập và cho rằng trò chơi học tập tạo điều kiện phát triển mọi năng khiếu cho trẻnhư tư duy, ngôn ngữ…

- N.K Krupxkaia xem trò chơi học tập như một phương tiện để nhận thứcthế giới thông qua trò chơi trẻ tìm hiểu màu sắc, hình dạng, tính chất vật liệu,tìm hiểu động thực vật… Bà khẳng định rằng: để trẻ phát triển toàn diện thìcần phải tổ chức cho trẻ chơi một cách nghiêm túc

Trang 12

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhiều học thuyết về trò chơi đã xuất hiệntrong đó nổi bật lên là quan điểm sinh vật hóa trò chơi Cũng giữa thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX một số nhà giáo dục tiêu biểu như Ph Phroebel (người Đức) MMontesori (Người Ý), P.A Pesonopva (Người Nga), PH Phlexghap (1837-1909), A.X Macarenco… Đặc biệt là AU Uxova nghiên cứu trò chơi học tậpnhư là một phương tiện lĩnh hội và củng cố kiến thức, ở một chừng mực nào đóthì những trò chơi học tập này đươc nghiên cứu như là một phương pháp hìnhthành các năng lực nhận thức cũng như các quá trình tâm lý như trí tuệ, chú ý,ghi nhớ, tư duy, tưởng tượng… tất cả những năng lực này giúp trẻ có kết quảcao trong học tập.

Vấn đề sử dụng trò chơi học tập vào mục đích giáo dục được các nhà sưphạm nghiên cứu theo các khuynh hướng sau:

- Khuynh hướng 1: Nghiên cứu và sử dụng trò chơi học tập vào mục đích

giáo dục, phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ (A.E Pokrovxki, I.A.Komenxki, N.K Krupxkaia, E.I Chikhepva…)

- Khuynh hướng 2: Nghiên cứu và sử dụng trò chơi học tập bó hẹp trong

mục đích dạy học cho trẻ mẫu giáo (PH Phroebel, M Montesori, ÔvidaĐekroli…)

- Khuynh hướng 3: Nghiên cứu và sử dụng trò chơi học tập vào mục đích

giáo dục và phát triển một số năng lực, phẩm chất trí tuệ, tư duy …cho trẻ mẫugiáo (T.M Babunova, A.K Bônđarencô…)

Cùng với xu thế phát triển chung của giáo dục mầm non trong khu vựccũng như trên thế giới ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về

cơ sở lý luận của việc giáo dục trẻ thông qua các hoạt động vui chơi đặc biệtphải kể đến các tên tuổi như Nguyễn Ánh Tuyết (1987), Trần Thị Trọng (1989),Nguyễn Ngọc Chúc (1990), Ngô Công Hoan (1995)… nhằm mục đích phát triểntrí tuệ cho trẻ mẫu giáo, kết quả nghiên cứu trò chơi học tập dùng trong cáctrường mầm non được tập trung phản ánh trong “Chương trình chăm sóc và giáodục trẻ” và các tuyển tập trò chơi dành cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

Trang 13

Tuy vậy, trong những công trình nghiên cứu này vấn đề xem xét nghiêncứu trò chơi học tập như là một phương pháp có khả năng giúp trẻ lĩnh hội, làmsâu sắc, hệ thống hóa vốn hiểu biết, năng lực hoạt động trí tuệ chưa được cácnhà giáo dục nghiên cứu một cách sâu sắc, chưa đi vào hiệu quả thực tiễn của

nó, chưa làm nổi bật được tầm quan trọng của trò chơi học tập trong trườngmầm non, đặc biệt là phát huy các năng lực trí tuệ như khả năng khái quát hóa,trừu tượng hóa, so sánh, phân tích, tổng hợp…

Mặt khác, đã có nhiều công trình nghiên cứu trò chơi học tập song ít ai đềcập đến việc sử dụng trò chơi học tập để dạy trẻ 5-6 tuổi nhằm tăng tính kháiquát hóa khi làm quen với biểu tượng hình dạng

Như vậy, các tác giả trong và ngoài nước đều đã nhìn nhận đúng vai trò

và tầm quan trọng của trò chơi học tập đối với trẻ em đặc biệt là trẻ mẫu giáo.Tuy nhiên việc vận dụng trò chơi học tập trong các tiết học làm quen với biểutượng toán trong đó có biểu tượng hình dạng còn yếu chưa thực sự đạt hiệu quảtrong việc tăng tính khái quát hóa Thực tiễn đó đặt ra cho các nhà giáo dụcnhiêm vụ quan trọng là phải tiếp tục nghiên cứu để tìm ra các cách thức thíchhợp nhằm tăng tính khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo

1.2 Lý luận chung về trò chơi học tập.

1.2.1 Khái niệm, cấu trúc, phân loại trò chơi học tập.

a) Khái niệm trò chơi học tập.

Trò chơi học tập là một loại trò chơi có luật, nó tác động trực tiếp đến việccủng cố kiến thức và phát triển qúa trình nhận thức của trẻ Thông qua trò chơihọc tập để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo như: pháttriển ngôn ngữ, chính xác hóa các biểu tượng, phát triển các hoạt động tư duy…Trong trò chơi học tập, trẻ giải quyết nhiệm vụ học tập dưới hình thức chơinhẹ nhàng, thoải mái làm cho trẻ dễ dàng vượt qua những khó khăn, trở ngạinhất định Vì thế trẻ tiếp nhận nhiệm vụ học tập như một nhiệm vụ chơi, trẻ hàohứng chơi, trí tuệ và tư duy cũng theo đó mà phát triển hơn

Trang 14

Trò chơi học tập là do người lớn nghĩ ra Nó có nguồn gốc trong nền vănhóa dân gian kết hợp trò chơi với các yếu tố dạy học và mang những đặc điểmchung của trò chơi trẻ em.

b) Cấu trúc của trò chơi học tập.

Trò chơi học tập là một hiện tượng phức tạp Đó là một trò chơi mang hìnhthức dạy học và đồng thời lại cũng như một hoạt động chơi, các nhà sư phạm

Xô Viết coi trò chơi học tập có một cấu trúc chơi – học đặc biệt với các thànhphần chơi :

- Nội dung chơi

- Hành động chơi

- Luật chơi

- Kết quả chơi

* Nội dung chơi:

Đây là nội dung nhận thức, nhiệm vụ nhận thức của trẻ Nó đặt ra trước trẻnhư một bài toán mà trẻ phải tìm cách giải quyết dựa trên những hiểu biết vàđiều kiện đã cho Nếu kích thích được sự hứng thú, tính tích cực hoạt động củatrẻ thì sẽ thỏa mãn nhu cầu chơi của trẻ

Nhiêm vụ nhận thức do giáo viên xác định dựa vào mục đích dạy học, theonội dung chương trình giáo dục mẫu giáo, theo đặc điểm nhận thức và phản ánhhoạt động dạy của giáo viên

Nhiệm vụ nhận thức trong các trò chơi học tập nhằm phát triển khả năngkhái quát hóa cho trẻ 5-6 tuổi rất phong phú: làm giàu vốn biểu tượng xungquanh cho trẻ, dựa vào những dấu hiệu chung, vào vốn từ ngữ trẻ xác định đượccác sự vật hiện tượng riêng lẻ, cụ thể phù hợp với các dấu hiệu chung, với ngônngữ có được, vận dụng vốn hiểu biết của mình nhằm giải quyết các nhiệm vụtrò chơi đặt ra Trong trò chơi học tập nhiệm vụ chơi được tách ra một cách đặcbiệt, nó chứa đựng trong chính tên gọi của trò chơi, được đoán ra qua việc miêu

tả yêu cầu của trò chơi

VD: Trò chơi học tập “ Cái túi kì diệu”

Nhiệm vụ học tập được đặt ra là trẻ chỉ dùng xúc giác, thính giác, thị giác

Trang 15

(nhìn, sờ) để thực hiện yêu cầu: nhìn thẻ hình để lấy đúng đồ vật có hìnhdạng tương tự với thẻ hình.

Nhiệm vụ chơi là thành phần cơ bản của trò chơi học tập

* Hành động chơi:

Là hành động trẻ làm trong lúc chơi, các hành động chơi trong trò chơi họctập chủ yếu đòi hỏi vận dụng các khả năng tư duy, trí tuệ của trẻ để vận dụngnhững hiểu biết, vốn kiến thức của bản thân nhằm hoàn thành yêu cầu mà tròchơi đặt ra

Những hành động chơi càng phong phú, hình thức bao nhiêu thì số trẻ thamgia càng nhiều bấy nhiêu và trò chơi thì càng hấp dẫn và lý thú bấy nhiêu Sốlượng và tính chất của hành động chơi khác nhau ở lứa tuổi

- Ở Mẫu giáo bé là sự lặp đi lặp lại của các hành động chơi như di chuyển,sắp xếp, nhập các đồ vật, so sánh chung, lựa chọn theo các dấu hiệu, màu sắc,kích thước, là bố trí trong tranh, bắt chước các thao tác chơi…

Mọi trẻ tham gia trong trò chơi học tập thường có cùng 1 vai chơi và

do đó hành động chơi giống nhau với mọi trẻ

- Ở Mẫu giáo nhỡ và lớn thì động tác chơi đã phức tạp hơn, những hànhđộng chơi của trẻ đòi hỏi phải có sự liên hệ lẫn nhau giữa hành động chơi củamột số trẻ này với 1 số trẻ khác, đòi hỏi phải có sự liên tục và tuần tự Nhiều tròchơi của trẻ Mẫu giáo lớn đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ kỹ trước khi hành động, phảihoàn thành một vai nhất định của trò chơi Trò chơi mang tính bí ẩn bao nhiêuthì càng kích thích tính hấp dẫn trẻ bấy nhiêu

* Luật chơi:

Trò chơi học tập là một trò chơi có luật do nội dung quy định Đó là nhữngquy định chung mà những người tham gia chơi phải thực hiện Luật chơi là yếu

tố tổ chức của trò chơi, chúng xác định tính chất, cách thức các hành động chơi

mà không phạm luật Đồng thời luật chơi tổ chức và điều khiển mối quan hệ củatrẻ trong khi chơi, hướng trực tiếp hoạt động nhận thức của trẻ vào việc giảiquyết nhiệm vụ học tập Luật chơi là tiêu chuẩn đánh giá hành động chơi đúnghay sai Nếu luật chơi không thiết lập sớm thì hành động chơi sẽ tản mạn và

Trang 16

không thực hiện được nhiệm vụ trò chơi nêu ra Nhờ có luật chơi mà giáo viênhình thành ở trẻ khả năng định hướng điều kiện thay đổi, kỹ năng điều khiển ýchí, tình cảm, tập trung giải quyết nhiệm vụ nhận thức nhằm hình thành vốnkiến thức, hiểu biết về cuộc sống xung quanh Trò chơi có luật có vai trò quantrọng đối với sự phát triển nhân cách của trẻ, nó giúp cho trẻ làm chủ được hành

vi của mình Trò chơi với các nhiệm vụ chơi giúp cho trẻ hình thành các néttính cách như khả năng tự đánh giá việc thực hiện luật chơi của trẻ, kích thíchhứng thú, tính độc lập, sáng tạo, khả năng ghi nhớ, tư duy… Trong trò chơi học

tập thì ba bộ phận là : nhiệm vụ chơi, hành động chơi, luật chơi có mối quan hệ

chặt chẽ với nhau trong đó nhiệm nhận thức( nhiệm vụ chơi) có vai trò quyếtđịnh Nó xác định đặc điểm hành động chơi làm thành nội dung chơi Luật chơigiúp cho việc thực hiện hành động chơi và qua đó giải quyết nhiệm vụ nhậnthức, giúp trẻ phát triển trí tuệ, chỉ cần thiếu 1 trong 3 bộ phận thì trò chơikhông thực hiện được

* Kết quả chơi:

Trò chơi học tập bao giờ cũng có một kết quả nhất định, đó là lúc kết thúctrò chơi, trẻ hoàn thành một nhiệm vụ nhận thức nào đó (trẻ đoán được cáchình dạng tương tự nhau, tìm và xếp được các tranh ảnh , hình ) đúng theo yêucầu

Đối với trẻ kết quả trò chơi khuyến khích trẻ tích cực hoạt động, tham giavào những trò chơi tiếp theo còn đối với giáo viên kết quả trò chơi là chỉ tiêumức độ thành công khi giải quyết nhiệm vụ học tập của trẻ

c) Phân loại và yêu cầu đối với trò chơi học tập.

* Phân loại: Hiện nay trong lý thuyết về trò chơi học tập thống nhất phân

thành 3 loại chính theo tính chất của trò chơi và trong quá trình hình thành biểutượng toán cho trẻ hiện nay cũng sử dụng 3 loại trò chơi gồm:

+ Trò chơi học tập với đồ vật, đồ chơi và tranh in: Đây là loại trò chơi họctập sử dụng đồ vật đồ chơi tranh in khi chơi với đồ vật, đồ chơi tranh in sẽ giúptrẻ so sánh, phân tích xác đinh sự khác nhau và giống nhau giữa các đồ vật, đồchơi, tìm ra được các dấu hiệu và có khả năng khái quát hóa các sự vật, đồ chơi

Trang 17

như hình dạng, màu sắc, kích thước, tính chất… điều này đòi hỏi trẻ phải có 1 sốkhả năng tư duy, đặc biệt là khả năng khái quát hóa.

+ Trò chơi học tập với tranh (lôtô): Trò chơi này rất phong phú về chủngloại như tranh xếp từng đôi, tranh lôtô, cờ đôminô, trò chơi ghép tranh…

+ Trò chơi học tập bằng lời nói: Trò chơi này được hình thành nhờ lời nói

và hành động của người chơi với trò chơi dựa vào những ấn tượng về đồ vật, đồchơi trẻ hiểu sâu sắc hơn về chúng và thể hiện hiểu biết của mình qua lời nói

* Yêu cầu đối với mỗi trò chơi học tập:

- Mỗi trò chơi học tập phải cho trẻ được luyện tập hoạt động trí tuệ và giáodục phẩm chất đạo đức

- Mỗi nhiệm vụ nhận thức trong trò chơi đòi hỏi trẻ phải huy động các giácquan và các khả năng của tư duy

- Trong mỗi trò chơi học tập cần kết hợp cả 2 yếu tố (nhận thức và hàihước) để trẻ có hứng thú khi chơi

1.2.2 Vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo.

Trò chơi học tập có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diệnnhân cách của trẻ Nó vừa là con đường vừa là phương tiện để phát triển triểntrí tuệ cho trẻ mẫu giáo Trong quá trình chơi trẻ phải huy động và sử dụng cácgiác quan, ngôn ngữ của mình để thực hiện thao tác chơi, nhiệm vụ chơi Nhờvậy mà các giác quan của trẻ trở nên tinh nhạy hơn, ngôn ngữ trở nên mạch lạchơn, đồng thời tư duy trực quan phát triển hơn Mặt khác trò chơi học tập sẽgiúp cho trẻ củng cố được, khắc sâu thêm các biểu tượng, các tri thức, khái niệmmột cách có hệ thống hơn

Các trò chơi học tập sẽ giúp cho trẻ biết nhìn nhận, phân tích, so sánh, kháiquát các tri thức đã lĩnh hội trước đó trò chơi học tập còn giúp cho trẻ rènluyện và phát triển trí nhớ, các biểu tượng, tri thức được lồng vào nội dung chơi

sẽ giúp trẻ có được ấn tượng sâu sắc, vì thế trẻ nhớ được lâu hơn

Trò chơi học tập giúp trẻ phát huy được tính tự giác tích cực chủ động củatrẻ Khi hứng thú của trẻ được kích thích thì trẻ sẽ hào hứng chủ động đối vớinhiệm vụ học tập được lồng vào động cơ chơi Và bằng cách này trẻ sẽ củng cố

Trang 18

được các kiến thức, các kỹ năng, kỹ xảo một cách chắc chắn, có thể nói đây là

cơ sở để giúp trẻ dễ dàng ghi nhớ các kiến thức

Qua việc tham gia vào các trò chơi học tập trẻ sẽ làm quen với phươngpháp học chủ động hơn và tự tin vào bản thân Bà NK Krupkaia đã từng khẳngđịnh rằng “Đối với trẻ mẫu giáo trò chơi học tập có ý nghĩa đặc biệt Trò chơivới chúng là học tập, trò chơi với chúng là lao động, cũng có khi trò chơi vớichúng là một hình thứ giáo dục nghiêm túc”

Nhờ trò chơi học tập mà trẻ tiếp thu được một số tính chất của đồ vật nhưmàu sắc, hình dạng, kích thước… cũng như định hướng được không gian, âmthanh cũng như nắm bắt được các tính chất vật lý của đồ vật và các vật liệu Tròchơi học tập không chỉ tác động đến trí tuệ của trẻ mà còn giáo dục một số phẩmchất đạo đức cho trẻ như tính thật thà, tính tổ chức, tính tự lập… trong các tròchơi học tập tập thể trẻ còn học được cách giao tiếp, biết thống nhất hành độngcủa mình với bạn Cũng chính trong trò chơi học tập mà trẻ học được cách đánhgiá và tự đánh giá về kết quả đạt được

Ở lứa tuổi mẫu giáo trò chơi học tập là một trong những hình thức chơi phùhợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa sức, lại hấp dẫn là một trong nhữngphương tiện có hiệu quả để phát triển các năng lực trí tuệ, tư duy trong đó cókhả năng khái quát hóa – một năng lực cần thiết của tư duy con người

Theo các nhà khoa học thì trẻ em có thể phát triển hoàn thiện, thực sự bộc

lộ được nhu cầu ham hiểu biết, tích cực tìm tòi, say mê và sáng tạo trong mọihoạt động đặc biệt là trong hoạt động học tập khi trẻ có hứng thú với hoạt động,

có cơ hội và điều kiện để hoạt động từ đó trẻ hoạt đông một cách tích cực nắmđược các phương thức và có kỹ năng hành động

Trong các loại trò chơi thì trò chơi học tập vừa thỏa mãn được nhu cầu chơilại thỏa mãn được nhu cầu nhận thức của trẻ, nét đặc trưng của trò chơi học tập

là nhiệm vụ nhận thức, luật chơi và các thao tác chơi có mối quan hệ qua lại vớinhau, cùng nằm trong một khối thống nhất thúc đẩy trẻ tìm kiếm các phươngthức giải quyết nhiệm vụ nhận thức, điều đó làm xuất hiện hứng thú bền vữngvới trò chơi học tập mang lại cho trẻ sự thỏa mãn, niềm vui sướng và giúp trẻ

Trang 19

phát hiện ra được khả năng của mình, tạo điều kiện cho sự sáng tạo của trẻ đượcphát triển.

Phải thấy rằng trò chơi học tập đã dạy trẻ tư duy từ nhận thức hoàn cảnhxung quanh, đôi khi trò chơi họ tập còn dạy trẻ cả sự láu lỉnh, thông minh để tìm

ra lời giải đáp, tìm ra bí mật Trò chơi học tập bao giờ cũng chứa đựng nhữngnhiệm vụ nhận thức khác nhau có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động trí tuệ củatrẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Mặt khác trẻ muốn nhanh chóng tìm ra được kết quả củatrò chơi thì đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý, tích cực tìm kiếm các phương thức

để giải quyết nhiệm vụ nhận thức, có gắng huy động vốn hiểu biết và lựa chọnnhững thao tác tư duy cần thiết để tìm được kết quả nhanh nhất

Theo quan điểm của tác giả Đỗ Tiến Đạt thì: trò chơi học tập là hoạt độngđược tổ chức có tính vui chơi, giải trí, thông qua đó học sinh có điều kiện“ Học

mà chơi- chơi mà học” Trò chơi mang sắc thái tình cảm, đi kèm theo cảm giácthỏa mãn, khi chơi trẻ tưởng tượng và suy ngẫm thử nghiệm các tình huống cáccách lập luận để đạt kết quả

Còn tác giả Trần Thị Ngọc Trâm cho rằng: “Trò chơi học tập là một trongnhững phương tiện có hiệu quả để phát triển năng lực trí tuệ, trong đó khả năng

khái quát hóa là một năng lực đặc biệt của con người” (Trò chơi phát triển tư

duy cho trẻ, NXB Giáo dục)

Bà E.I Chikhiepva đã từng nói “ Cũng không nên đánh giá trò chơi học tậpchỉ về mặt mục đích học tập hiển nhiên của nó, tức là sự định hướng của trẻtrong các biểu tượng này hay biểu tượng khác Những trò chơi này đẩy mạnh sựphát triển tất cả mọi mặt của cá nhân trẻ Trò chơi đã tổ chức trẻ lại với nhau,nâng cao được tính tự lập của trẻ Nếu cô giáo tiến hành trò chơi này một cáchkhéo léo và sinh động thì trẻ rất thích thú và hào hứng như thế trò chơi học tập

sẽ tăng thêm phần ý nghĩa”

1.3 Những vấn đề về biểu tượng hình dạng.

1.3.1 Khái niệm về biểu tượng.

a) Theo quan điểm của triết học Mác- Lênin.

Trang 20

Biểu tượng là hình ảnh về khách thể đã được tri giác còn lưu lại trong bộ óccon người và do một tác động nào đấy được tái hiện, nhớ lại.

Như vậy: biểu tượng cũng như cảm giác và tri giác là hình ảnh của “chủquan của thế giới khách quan” Nhưng khác với cảm giác, tri giác biểu tượngphảm ánh khách thể một cách gián tiếp, là hình ảnh của hình ảnh ngoài ra bằngtưởng tượng con người từ những biểu tượng cũ có thể sáng tạo ra những biểutượng mới

Là sản phẩm của những tri giác cảm tính trước đó, biểu tượng có vai trò làkhâu trung gian giữa trực quan sinh động và tư duy trừu tượng Như vậy, theoquan điểm của triết học Mác – Lênin thì cảm giác, tri giác và biểu tượng lànhững hình thức khác nhau của giai đoạn đầu tiên trong quá trình nhận thức,mọi nhận thức đều bắt đầu từ giai đoạn đầu tiên trong quá trình nhận thức Mọinhận thức đều bắt đầu từ giai đoạn này, song chỉ bằng trực quan sinh động, conngười không có thể nhận thức được những mối liên hệ bản chất và các quy luậtchi phối sự vận động phát triển của các khách thể Để nắm bắt được bản chất vàquy luật của khác thể nhận thức phải chuyển qua giai đoạn cao hơn đó là tư duytrừu tượng

Tóm lại “Từ những tri giác nhận thức cảm tính chuyển sang giai đoạn caohơn đó là biểu tượng”

b) Theo quan điểm tâm lý học Mác xít.

Các nhà tâm lý học cho rằng: biểu tượng được coi là sản phẩm của quátrình nhớ và tưởng tượng Biểu tượng là sự làm ra trong óc cá nhân một cáchnguyên vẹn hoặc có sáng tạo những hình tượng mà ta tri giác trước mặc dầukhông có những thuộc tính củ thể của các sự vật hiện tượng đó, tác động trựctiếp vào cơ quan cảm giác của ta như trước

Ví dụ: Khi ta chung sống cùng một người bạn, ta tri giác được những hìnhảnh củ thể về người bạn, khi ta đi xa những hình ảnh về hình dáng, nét mặt, điệu

bộ, giọng nói… của người bạn vẫn có thể hiện ra rõ nét trong trí nhớ và tưởngtượng của chúng ta

Trang 21

Biểu tượng được hình thành khi sự vật hiện tượng trước đây đã tác độngvào các giác quan tạo ra những đường liên hệ thần kinh tạm thời để lại nhữngdấu vết trong vỏ não, đó là cơ sở sinh lý của tưởng tượng.

Biểu tượng là kết quả của sự chế biến và tổng quát những hình tượng do trigiác đã tạo ra Thiếu tri giác biểu tượng không thể hình thành được

Biểu tượng vì thế cũng giống như hình ảnh của tri giác giống như hình ảnh

củ thể Khi ta nói “Có biểu tượng về cái gì đó” thì có nghĩa là ta đã từng đượctrực tiếp tiếp xúc với nó, như từng nghe hoặc từng thấy cái gì đó ngoài thực tếkhách quan và phản ánh nó vào não

- Biểu tượng tuy cũng có tính trực quan, song tính trực quan của biểu tượngbao giờ cũng không rõ nét bằng tính trực quan của tri giác Nói chung, biểutượng không đầy đủ, không rõ ràng, không chính xác bằng hình ảnh của tri giác

mà chỉ những “mẫu” những “đoạn” nào đó của tri giác, so với hình ảnh của trigiác, biểu tượng không ổn định bằng và thường dao động

VD: Khi ta trực tiếp nhìn vào chiếc bàn thì hình ảnh tri giác về kích thướccủa chiếc bàn ổn định, không thay đổi Nhưng nếu ngồi nhớ lại thì biểu tượng vềkích thước của chiếc bàn có thể dao động, không rõ nét nữa, thậm chí có thểnhầm lẫn giữa biểu tượng về kích thước của chiếc bàn này và chiếc bàn khác.Biểu tượng còn khái quát những điều tri giác riêng lẻ, nhấn mạnh đếnnhững dấu hiệu đặc trưng, độc đáo của sự vật hiện tượng chẳng hạn như trongthực tế ta nhìn thấy nhiều con sông có chiều dài khác nhau, có hai bờ khác nhau,nhưng trong biểu tượng chỉ phản ánh những dấu hiệu củ thể đặc trưng cho bất

kỳ con sông nào đó là hình ảnh một dòng nước chảy giữa hai bờ

Theo các nhà tâm lý học thì đặc điểm chính của biểu tượng là sự xâm nhậpgiữa tính trực quan và tính khái quát nhờ có sự hỗ trợ lẫn nhau giữa hệ thống tínhiệu thứ nhất và hệ thống tín hiệu thứ hai Những tín hiệu của hệ thống tín hiệuthứ nhất như: màu sắc, mùi vị, hình dáng… là xuất phát điểm về những hình ảnhcủa biểu tượng Nhờ sự tham gia của hệ thống tín hiệu thứ hai (lời nói, chữ viết)

mà tính khái quát của biểu tượng được hình thành

Trang 22

Tóm lại: Biểu tượng vừa có tính trực quan vừa có tính khái quát nên biểu

tượng được chuyển tiếp từ cảm tính lên nhận thức lý tính

Chính vì vậy biểu tượng chính xác là nền tảng vững chắc cho sự hình thànhnhững khái niệm của tư duy trừu tượng sau này

1.3.2 Khái niệm về hình dạng.

Trong môi trường xung quanh mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại dưới dạngbiểu hiện khác nhau về màu sắc, kích thước và hình dạng Những dấu hiệu nàychính là cơ sở để con người phân biệt vật thể này với vật thể kia, tuy nhiên sựtồn tại của những dấu hiệu này trên các vật thể lại tạo ra những biểu tượng vôcùng phong phú và phức tạp, có thể trên những vật thể khác nhau thì lại cónhững dấu hiệu giống nhau Vậy làm thế nào để có thể phân biệt và so sánh sựkhác nhau giữa các đồ vật mà không bị nhầm lẫn?

Những gì ta nhận biết bằng quan sát tri giác và thao tác, sự tích lũy kinhnghiệm trong các hoạt động dẫn đến khả năng sâu rộng về tri thức cho conngười Và để phân biệt vật này với vật khác thì những hiểu biết về hình dạng vậtthể cũng như hình học cơ bản là rất quan trọng

Như vậy hình dạng là một trong những dấu hiệu bên ngoài của vật thể, nó

là dấu hiệu đầu tiên con người thu nhận được khi quan sát Mỗi vật thể đều cónhững hình dạng biểu hiện khác nhau đa dạng, tuy nhiên chúng đều được kháiquát bằng những hình học nào đó hoặc bằng sự kết hợp của một số hình họctheo một kiểu nhất định trong không gian Do đó có thể nói hình hình học chính

là cơ sở để con người dựa vào đó xác định hình dạng các vật thể, các dạng hìnhhọc cơ bản thường thể hiện dưới dạng hình học phẳng hoặc dạng hình học trongkhông gian

Hình hình học phẳng: hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật, hình tamgiác…

Hình hình học không gian: khối cầu, khối trụ, khối chữ nhật, khối vuông….Trong đó hình học phẳng là những hình hình học được thể hiện trên mặtphẳng dưới dạng các hình hình học khác nhau Mặt phẳng là mặt không bị giớihạn về mọi phía, nó có thể là mặt giấy, mặt bảng, mặt bàn… các hình hình học

Trang 23

cơ bản kết hợp theo một kiểu nhất định trong không gian tạo ra các hình hìnhkhông gian và các hình khối Với trẻ mẫu giáo do những đặc điểm về nhận thức

và phát triển trí tuệ mà những biểu tượng về hình dạng không phải là những kháiniệm trừu tượng, nó được củ thể hóa theo đặc điểm của hình

1.3.3 Đặc điểm phát triển biểu tượng hình dạng của của trẻ mẫu giáo.

Các biểu tượng hình dạng xuất hiện ở trẻ từ rất sớm, sự hình thành chúng làmột quá trình lâu dài và phức tạp Ban đầu những biểu tượng về hình dạng đượchình thành dựa trên cơ sở thực tiễn cuộc sống xung quanh trẻ cùng với sự giúp

đỡ của phức hợp giác quan khác như: thị giác, thính giác, giác quan vận động…Sau đó các biểu tượng về hình dạng sẽ dần dần được tích lũy- khái quát hóa lêntạo thành vốn kinh nghiệm thực tiễn phong phú, đa dạng Trẻ em sinh ra và lớnlên giữa thế giới của những sự vật, hiện tượng đa dạng Ngay từ khi còn rất nhỏtrẻ đã được tiếp xúc và làm quen với những đồ vật có màu sắc, hình dạng khácnhau ở xung quanh cuộc sống Vì vậy nhận biết được hình dạng của nhiều vậtquen thuộc là rất cần thiêt Tuy nhiên do việc nhận biết hình dạng vật thể vànhận biết các hình hình học và hình dạng vật thể phụ thuộc rất nhiều vào lứatuổi, vốn kinh nghiệm cảm giác của bản thân trẻ và sự tác động giáo dục của cácnhà sư phạm cho nên ở mỗi lứa tuổi đặc điểm phát triển hình dạng cũng khácnhau rất nhiều

Ở lứa tuổi nhà trẻ: các biểu tượng về hình dạng vật thể được hình thành dựatrên quá trình thao tác thực tiễn với đồ vật- đồ chơi, khi trẻ 2-3 tuổi chúng đã cóthể thự hiện được các thao tác hoạt động trí tuệ phức tạp như phân biệt hìnhdạng và hiểu lời nói tương ứng với vật.Tuy nhiên khi thực hiện nhiệm vụ tìmkiếm vật theo hình dạng trẻ thường bị lôi cuốn bởi các thao tác với đồ vật mà trẻthích thú

Ở trẻ 3 tuổi: chúng có khả năng nhận biết được chính xác hình hình họcmag không phụ thuộc vào vị trí sắp đặt trong không gian Trẻ phân biệt được vàlựa chọn các hình tròn , hình vuông, hình tam giác ….theo mẫu chính xác Bêncạnh đó ở trẻ lứa tuổi này còn có những hạn chế như: trẻ thường bị nhầm lẫngiữa những hình tương đối giống nhau như hình ovan với hình tròn, hình vuông

Trang 24

với hình chữ nhật, điều này xuất phát từ khả năng tri giác của trẻ chưa thực sựhoàn thiện của trẻ, trẻ thường nhận biết đối tượng một cách khái quát qua loa.

Sự tri giác về các đặc điểm riêng và nắm bắt các chi tiết chính xác củ thể củađối tượng chưa được chú trọng Chính vì vậy ở lứa tuổi này khả năng khảo sátcác hình hình học của trẻ còn rất thấp, chúng chưa biết nhìn vật liên tục theođường bao hình mà không nhìn kỹ càng hình dạng vật thể Trẻ chỉ nhận biếtđược đặc điểm bên ngoài của hình như: màu sắc, kích thước… mà không nắmđược hình dạng chung của toàn bộ vật

Ở lứa tuổi lớn hơn khả năng nhận biết vật thể của trẻ được nâng cao do đóbiểu tượng về hình dạng vật thể và các hình hình học của trẻ mẫu giáo lớn trởnên chính xác hơn, các biện pháp khảo sát hình dạng cũng ngày càng hoàn thiện

và trở nên sắc sảo hơn

Về kiến thức: Trẻ đã biết sử dụng các hình hình học như những hình chuẩn

để so sánh lựa chọn, xác định hình dạng của mọi vật xung quanh Trẻ không cònđồng nhất các hình hình học với các đồ vật giống chúng, khả năng phân biệtnhận biết của trẻ được nâng cao rất nhiều, sự nhầm lẫn giữa các hình tròn vớihình ovan, hình vuông với hình chữ nhật giảm đáng kể Đa số trẻ có thể thựchiện những yêu cầu - nhiệm vụ của giáo viên đề ra cho dù phải vận dụng cácthao tác tư duy phức tạp như: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa…chẳng hạn khi yêu cầu trẻ tìm đồ vật theo dấu hiệu đặc trưng trẻ có thể tìm rấtchính xác theo yêu cầu Ngoài ra ở giai đoạn này trẻ còn có khả năng sử dụngnhững từ ngữ riêng về hình dạng vật thể, nắm được các khái niệm đặc điểm hình

và diễn đạt được nội dung đặc điểm các hình đó

Về kỹ năng: trong quá trình trẻ làm quen với các vật thể và tìm hiểu đặc

điểm của các vật thể đó chúng rất thích được trực tiếp thực hiện các thao tác với

đồ vật Khi trẻ tiếp xúc với đồ vật này bằng xúc giác của bản thân chúng có thểcảm nhận được một phần hình dạng, đặc điểm, tính chất bên ngoài Tuy nhiêntrẻ rất tích cực sờ nắm các vật bằng một tay nhưng các đầu ngón tay của trẻ vẫnchưa thực sự tham gia vào quá trình đó Sự phối hợp giữa xúc giác và các thaotác tư duy - trí tuệ chưa được liên kết rõ ràng, những gì thu nhận được bằng xúc

Trang 25

giác còn rất riêng lẻ, hạn chế Trẻ chưa biết nhìn lần lượt bao quanh vật vì vậychúng không thể nắm được chính xác hình dạng vật thể.

Ở tuổi mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) những biểu tượng về hình dạng của vật thểcủa trẻ ngày càng được mở rộng Quá trình tri giác được hoàn thiện, khả năngthao tác với đồ vật được nâng cao do đó những hình dạng mà trẻ nhận biết đượccũng trở nên chi tiết, chính xác hơn Hoạt động trí óc tích cực làm cho óc suyluận, trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ ngày càng phát triển, trẻ có khả năng tạo ranhững hình dạng mới từ những hình đã biết và vận chúng vào thực tiễn cuộcsống xung quanh mình

Ví dụ: Trẻ biết từ nhũng chiếc hình cơ bản như hình tròn, hình vuông, hình

chữ nhật, khối vuông, khối chữ nhật lắp ghép thành những đồ vật khác nhaunhư: ô tô, tàu hỏa, ngôi nhà hoặc khi yêu cầu trẻ tìm trong môi trường xungquanh những vật có hình dạng hình học cơ bản thì trẻ có thể dễ dàng tìm đượcngay Như vậy ở lứa tuổi này kinh nghiệm và vốn hiểu biết về biểu tượng của trẻrất phong phú, trẻ đặc biết liên hệ các chi tiết riêng lẻ của hình dạng để tìm ra đồvật bằng cách sử dụng linh hoạt các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổnghợp Khái quát hóa, trừu tượng hóa Việc sử dụng cùng một lúc nhiều thao tác

tư duy sau khi đã thu nhận các chi tiết bằng các giác quan như cảm giác, thịgiác, xúc giác được tiến hành nhanh chóng, thuần thục và nhuần nhuyễn, chínhxác Trong ý thức của trẻ đã có sự tách rời các hình hình học ra khỏi đồ vật Các kỹ năng, thao tác với đồ vật như khảo sát đường bao, lăn hình, lănkhối đã rất phát triển, trẻ có thể tiến hành tìm hiểu hình dạng của vật thể mộtcách trình tự và có hệ thống bằng hai tay Các đầu ngón tay và mắt đã tích cựcchuyển động theo các đường bao hình trên bề mặt giúp trẻ nhận biết hình dạngvật thể một cách nhanh chóng và chính xác Trẻ có thể dễ dàng trẻ lời được cáccâu hỏi phức tạp về hình, vốn từ ngữ riêng về hình dạng của trẻ đã rất phong phú

và phát triển một cách đáng kể

Như vậy: Sự phát triển các biểu tượng hình dạng của trẻ là một quá trình lâu

dài và phức tạp, việc trẻ nắm được các hình chuẩn cho thấy mức độ phát triển trítuệ và nhận thức của trẻ,chính khả năng nhận biết hình dạng, phân loại, phân

Trang 26

nhóm theo các dấu hiệu, tạo nhóm vật theo hình dạng, phân tích hình của các đồvật và khả năng sử dụng các hình hình học chuẩn vào việc xác định hình dạngcác đồ vật có trong môi trường xung quanh là chỉ số đo sự phát triển tư duy, trítuệ của trẻ Việc cho trẻ làm quen với biểu tượng hình dạng vật thể không chỉgiúp trẻ thấy được sự phong phú đa dạng của cuộc sống mà còn là phương tiệngiúp trẻ định hướng dẽ dàng hơn trong cuộc sống.

1.3.4 Nội dung hình thành biểu tượng hình dạng của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

Những biểu tượng toán học được hình thành ở trẻ em là kết quả của việc trẻtri giác và thao tác với đồ vật- đồ chơi tồn tại trong cuộc sống xung quanh Xuấtphát từ mục tiêu giáo dục mầm non, cũng như mục đích của việc dạy trẻ hìnhthành biểu hình dạng nhằm nâng cao khả năng khái quát hóa, phân biệt, nhậnbiết, so sánh các đối tượng mà nội dung hình thành biểu tượng cho trẻ mẫu giáocần phải được bắt đầu từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ bản chất bênngoài đến các yếu tố bên trong sao cho phù hợp hơn với trình độ nhận thức vàphát triển trí tuệ của trẻ Do đó căn cứ theo lứa tuổi của trẻ mà yêu cầu đối vớinội dung hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng những biểu tượng về cácdấu hiệu nhận biết biểu hiện nhất định bên ngoài của đồ vật dựa vào các hìnhhình học cơ bản trên mặt phẳng cũng như trong không gian

Ở mẫu giáo lớn 5-6 tuổi:

- Mở rộng và làm phong phú hơn biểu tượng về các hình hình học cho trẻ

- Dạy trẻ biện pháp khảo sát các hình khối như: khối cầu, khối trụ, khốivuông, khối chữ nhật nhằm giúp trẻ nắm được những dấu hiệu đặc trưng của cáchình khối như: cấu tạo bề mặt bao quanh khối, số lượng các mặt, các góc củachúng và hình dạng của mặt khối

- Dạy trẻ phân biệt khối cầu với khối trụ, khôi vuông với khối chữ nhậtnhằm giúp trẻ thấy được sự giống nhau và khác nhau giữa chúng

- Luyện tập cho trẻ xác định hình dạng của những vật xung quanh trẻ trên

cơ sở so sánh hình dạng giữa chúng với các hình hình học đã biết

Các nội dung hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ được xây dựng trênnguyên tắc đồng tâm mở rộng, mỗi biểu tượng được hình thành trước chính là

Trang 27

cơ sở vững chắc cho việc hình thành những biểu tượng tiếp theo, ban đầu việchình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ chỉ đơn giản như nhận biết gọi tên cáchình hình học ở mẫu giáo bé lên đến mẫu giáo nhỡ thì phức tạp hơn nhận biết ,phân biệt sự giống nhau và khác nhau của các hình hình học và khi lên mẫu giáolớn thì nội dung lại càng phức tạp bằng việc cho trẻ làm quen và nhận biết cáckhối cũng như các thao tác khảo sát các khối.

1.4 Những vấn đề về tính khái quát hóa.

1.4.1 Khái niệm – bản chất khái quát hóa.

a) Khái niệm.

Khái quát hóa là một năng lực đặc thù của hoạt động tư duy con người Đó

là hình thức phản ánh những dấu hiệu và phẩm chất chung của các sự vật, hiệntượng

Theo các tác giả Phạm Minh Hạc và Trần Trọng Thủy thì: Khái quát hóa làquá trình con người dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau nhưng cóchung những thuộc tính, liên hệ, quan hệ nhất định thành một nhóm, mộtloại”( Tâm lý học NXB Giáo dục, 1992)

b) Bản chất của khái quát hóa.

Hiện thực xung quanh chúng ta có rất nhiều điều mà con người chưa biết.Nhiệm vụ của cuộc sống và hoạt động thực tiễn luôn đòi hỏi con người phải hiểuthấu những cái chưa biết đó ngày một sâu sắc, đúng đắn và chính xác hơn Phảivạch ra cái bản chất và những quy luật phát triển của chúng Quá trình nhận thức

đó gọi là tư duy Vậy tư duy là gì?

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, nhữngmối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng tronghiện thực khách quan mà trước đó chúng ta không biết

Tư duy của con người là một quá trình nhận thức có nội dung chủ yếu làtiến hành các thao tác trí tuệ bằng phương tiện ngôn ngữ Kết quả nghiên cứucủa nhiều nhà khoa học và tâm lý học đã chỉ ra rằng: sự phản ánh của tư duyluôn mang lại tính khái quát trên cơ sở phân tích – tổng hợp và trừu tượng hiệnthực được phản ánh

Trang 28

Kết quả của khái quát hóa là hiện thực phản ánh cái chung, phản ánh nhữngmối quan hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng có chung những thuộc tínhnhất định.

Khái quát hóa có thể diễn ra bằng hoạt động thực tiễn hoặc bằng hoạt độngtrí tuệ

Như vậy khái quát hóa vừa được xem như là một thao tác của tư duy vừa làsản phẩm của tư duy

* Khái quát hóa là thao tác cơ bản của tư duy:

Trong tâm lý học hiện đại các công trình nghiên cứu về tư duy đã chỉ rarằng: tư duy là quá trình cá nhân thực hiện các thao tác nhất định để giải quyếtvấn đề, nhiệm vụ trí tuệ nào đó Xét về mặt cấu trúc quá trình tư duy bao gồmcác thao tác: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa

Các công trình nghiên cứu về tư duy của các nhà khoa học như: Piaget,L.X Vưgôxki, V.V Đavưđôp, P.I.A Ganperin Hăngrivaley đã xác định đượckhái quát hóa có từ lúc 1 đến 3 tuổi khi trẻ bắt đầu hoạt động với thế giới đồ vậttheo cơ chế bắt chước Chính việc theo dõi, bắt chước các hành động của ngườilớn ở trẻ là cơ sở của khả năng khái quát hóa sau này Việc hình thành khả năngkhái quát hóa thể hiện rõ ràng trong quá trình lĩnh hội khái niệm khái quát hóaphản ánh các dấu hiệu bản chất và thuộc tính chung của các vự vật, hiện tượngtrong thế giới khách quan, từ đó xây dựng nên khái niệm Khái niệm tồn tạitrong các từ - khi lĩnh hội được nghĩa của từ thì trẻ sẽ lĩnh hội được khái niệm.Khái quát hóa hình thành mối quan hệ thực tế của các quan hệ đặc biệt từ

đó mở ra các đặc điểm chung, mở ra các bản chất của đối tượng, dần đi đến cáichung của một nhóm đối tượng Khác với các hình thức phản ánh các hiện thựckhách quan khác, khái quát hóa phản ánh các đặc điểm và thuộc tính chung củacác sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, phản ánh các mối quan hệnguồn gốc của một hệ thống trọn vẹn nào đó Kết quả là khái quát hóa giúphình thành các khái niệm mà theo L.X Vưgôtxki đã xác định thì khái quát hóa

là một hành vi từ ngữ đặc biệt của ý nghĩa Còn V.V Đavưđôp thì cho rằng kháiquát hóa đã giúp tống hợp lại các dấu hiệu trừu tượng từ đó tạo nên khái niệm

Trang 29

Trong các công trình nghiên cứu của X.L Rubinstein chỉ ra quá trình kháiquát hóa diễn ra phụ thuộc vào 2 loại khái quát hóa:

+ Khái quát hóa kinh nghiệm diễn ra bằng con đường so sánh để tách racác dấu hiệu chug giống nhau ở hai hay nhiều sự vật, hiện tượng và tình huốngkhác nhau

+ Khái quát hóa khoa học diễn ra bằng con đường phân tích để tách ra cácthuộc tính, các mặt và các mối quan hệ cơ bản của các sự vật, hiện tượng

Như vậy khái quát hóa là một thao tác tư duy phức tạp và diễn ra bằng conđường phân tích, tổng hợp, so sánh để tìm ra những dấu hiệu chung giống nhauhay bản chất của các sự vật, hiện tượng và tìm tên gọi để biểu đạt chúng Phântích, so sánh, tổng hợp là các thao tác tư duy tham gia vào quá trình khái quáthóa Khái quát hóa được coi là sự tổng hợp ở mức độ cao

* Khái quát hóa là sản phẩm của tư duy:

Khái quát hóa bao giờ cũng là hình thức phản ánh cái chung, cái giống nhaunào đó được tách ra từ 2 hay nhiều sự vật Hiện tượng riêng lẻ và liên kết lạithành hệ thống trọn vẹn nào đó

Những thuộc tính mà khái quát hóa phản ánh có thể là những thuộc tínhgiống nhau theo dấu hiệu bên ngoài hay thuộc tính bản chất tuy vậy giữa nhữngdấu hiệu giống nhau chưa hẳn là thuộc tính bản chất Việc tách những dấu hiệuchung bản chất để liên kết các sự vật trên cơ sở loại bỏ các thuộc tính bên ngoàikhông bản chất giúp trẻ lĩnh hội những khái niệm đơn giản, dễ dàng

Mặt khác khái niệm là sự phản ánh khái quát toàn bộ một nhóm các đốitượng giống nhau có dấu hiệu chung bản chất Khái niệm không mang hình thứccảm tính mặc dù nó được xây dựng trên cơ sở cảm giác Do đó khái quát là sảnphẩm của tư duy sáng tạo

Khái quát hóa phản ánh những mối liên hệ, quan hệ qua lại giữa các sự vật,hiện tượng xung quanh có tính quy luật, trong những trường hợp này từ ngữđược dùng để chỉ khái quát hóa kinh nghiệm

Trong quá trình khái quát hóa, dựa vào vốn từ ngữ, chủ thể tư duy xác địnhđược các sự vật, hiện tượng riêng lẻ, củ thể phù hợp với dấu hiệu chung đó, vì

Trang 30

thế kết quả của khái quát hóa còn phù thuộc vào sự lĩnh hội ngôn ngữ, đặc biệt

là ở trẻ mẫu giáo

Như vậy khái quát hóa không chỉ là sản phẩm của quá trình tư duy mà hơnthế nó còn là sản phẩm của tư duy ngôn ngữ mà kết quả của nó là sự lĩnh hộinghĩa của từ, hình thành các khái niệm và hệ thống các khái niệm mà ở đó kháiniệm- sản phẩm của quá trình khái quát hóa đã trở thành phương tiện của hoạtđộng tư duy từ đó cho phép con người đi tiến xa hơn trong công cuộc tìm kiếmcác tri thức và khám phá bí ẩn của tự nhiên

Thuật ngữ “ Khái quát hóa” thường được thấy trong các tài liệu tâm lý

học-lý luận dạy học và phương pháp dạy học, nó được dùng để kí hiệu nhiều khíacạnh của quá trình tiếp thu tri thức của trẻ

Nếu lưu ý đến quá trình khái quát hóa của trẻ thì nó chỉ rõ bước chuyển tiếpcủa trẻ em từ chỗ mô tả các tính chất của từng sự vật, hiện tượng đến chỗ pháthiện và tách chúng ra, trong một nhóm các sự vật tương tự, ở đây trẻ tìm thấy vàtách các tính chất ổn định, lặp lại của các sự vật đó

Đối với các công trình nghiên cứu Tâm lý học- lý luận dạy học thì luậnđiểm điển hình là: Tiến hành khái quát hóa có nghĩa là các tính chất giống nhautrong tất cả các sự vật cùng loại hay cùng nhóm được thừa nhận là tính chất

chung (Lý luận dạy học, Dịch từ tiếng Đức, NXB Viện Hàn Lâm Khoa học giáo

dục CHLB Nga, 1959, Trang 77)

Khi khái quát hóa, chúng ta làm rõ cái chung trong các sự vật, hiện tượng

đơn lẻ của hiện thực (Tâm lý học trẻ em trước tuổi đi học- Sự phát triển các quá

trình nhận thức, Chủ biên A.V Daparoget và Đ.B Faconhin, NXB Giáo dục,

1964)

Việc hình thành và phát triển ở trẻ khả năng khái quát hóa và các thao táckhái quát hóa được coi như một trong những mục tiêu cơ bản của dạy học trongnhà trường

1.4.2 Khả năng khái quát hóa của trẻ:

Những nghiên cứu về tư duy và khái quát hóa của trẻ mầm non cho thấyrằng: ở trẻ em từ 2- 3 tuổi đã hình thành hành động khái quát hóa, lĩnh hội và sử

Trang 31

dụng các từ ngữ, khái niệm (mặc dù còn rất đơn giản) về các sự vật, hiện tượnggần giũ xung quanh Khái quát hóa của trẻ được hình thành trong qúa trình hànhđộng với các đồ vật, hiện tượng và lĩnh hội ý nghĩa của từ ngữ, khái niệm dùng

để biểu đạt chúng trong khi giao tiếp và hoạt động chung cùng với người lớn,đặc biệt trong quá trình trẻ học ở trường mầm non

Khi cho trẻ làm quen với các đồ vật (thìa, ly uống nước, dày dép, các loại

đồ chơi…), giáo viên hình thành cho trẻ năng lực phân biệt, so sánh những cấutrúc, hình dạng, đặc điểm, chức năng giống nhau, tương tự nhau hay khác nhaucủa đồ vật, đồ chơi và dựa vào đó để xếp thành nhóm loại và gọi tên và đặt têncho chúng Từ ngữ bây giờ là khái niệm của các sự vật, nó chứa đựng cấu trúc,

hệ thống các yếu tố chức năng, đặc điểm chung và bản chất của một loại sự vậthay hiện tượng

Ở trẻ nhà trẻ, trẻ có thể lĩnh hội nội dung, nghĩa của từ và khái niệm về các

sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh có chung cấu trúc như: cái bàn, cái ghế,

xe ô tô, con cá, con gà…dưới sự hướng dẫn của giáo viên trong các giờ hoạtđộng sinh hoạt hằng ngày như ăn, ngủ, vệ sinh, hoạt động vui chơi, giao tiếp…Đến tuổi mẫu giáo năng lực tư duy trực quan hình ảnh và ngôn ngữ pháttriển mạnh mẽ, đặc biệt là khả năng tư duy trực quan sơ đồ, khả năng thực hiệnhành động khái quát hóa, trừu tượng hóa và lĩnh hội khái niệm về sự vật, hiệntượng xung quanh của trẻ ngày càng được phong phú hơn, nâng cao hơn, mởrộng hơn và cũng phức tạp hơn

Trẻ có thể khái quát hóa và lĩnh hội những khái niệm trên cơ sở những đặcđiểm về cấu trúc, mối quan hệ chung, tương tự hay giống nhau và cả mối quan

hệ bên trong, bản chất của một loại, một nhóm sự vật và hiện tượng xung quanhnhư những con vật nuôi 2 chân, 2 cánh, có mỏ, đẻ trứng hay như hình tam giác,hình vuông, số lượng…

Các kết quả nghiên cứu về tư duy và khái quá hóa cao lĩnh hội từ ngữ- kháiniệm ở trẻ mầm non của các nhà tâm lý học, giáo dục học đã chứng minh đượckhả năng khái quát hóa và lĩnh hội hệ thống khái niệm dựa trên quan hệ bản chấtcủa các sự vật, hiện tượng xung quanh ở trẻ mẫu giáo

Trang 32

Thực nghiệm hình thành hành động khái quát hóa lĩnh hội các khái niệmtheo các giai đoạn hình thành hành động trí tuệ đã chỉ ra rằng trẻ mẫu giáo từ 4-

5 tuổi trở đi thì dễ dàng phân chia nhóm, loại và hiểu các từ ngữ, khái niệm vềlớp, về loài, về dạng của các sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên và xã hội ởxung quanh như loại chim, loại cá, phương tiện giao thông, dụng cụ vẽ, nặn, đồchơi, đồ vật sử dụng trong ăn uống, sinh hoạt…hay những biểu tượng khái niệm

về tập hợp, số lượng từ 1 đến 10, về các chữ số từ 1 đến 10, về hình dạng nhưtròn, vuông, chữ nhật, tam giác… về kích thước hay định hướng không gian Trẻ mẫu giáo không những có khả năng khái quát hóa lĩnh hội khái niệm

mà còn có khả năng sử dụng chúng để chứng minh, để giải thích về các thuộctính của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên sự phát triển khả năng khái quát hóa vàlĩnh hội những từ ngữ khái niệm cần phải có những điều kiện và phương pháphình thành các khái niệm và phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ

Như vậy khả năng khái quát hóa của trẻ cũng phát triển từ sơ đẳng đếnphức tạp, từ cục bộ đến toàn bộ, nó phát triển cùng với lứa tuổi và giai đoạn pháttriển của trẻ

1.4.3 Khả năng khái quát hóa và sự hình thành khái quát hóa ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

Khả năng khái quát hóa xuất hiện khi tư duy của trẻ đạt đến một mức độnhất định nào đó, những kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khi trẻ 2-3 tuổi thìtrên cơ sở so sánh những đối tượng cùng loại và lĩnh hội các đặc điểm của các

sự vật hiện tượng thì trẻ thường chú ý đến các dấu hiệu bên ngoài, những néttrực tiếp đập vào mắt trẻ và trẻ khái quát theo những dấu hiệu bên trong của các

sự vật như vậy cơ sở để trẻ khái quát hóa là các dấu hiệu bên ngoài Đến khi trẻ4-5 trở đi thì trẻ bắt đầu chú ý đến các thuộc tính bên trong, đến nguyên nhânbên trong của các sự vật – hiện tượng

Ở độ tuổi này, nội dung tư duy của trẻ thay đổi kéo theo sự thay đổi củahình thức tư duy Cùng với sự chuyển của quá trình tư duy từ “bình diện bênngoài” vào “bình diện bên trong”, lúc này trẻ khái quát dựa vào các đặc điểm,các hình ảnh mà trẻ tri giác được Thời kỳ này khả năng khái quát hóa của trẻ

Trang 33

phát triển mạnh- trẻ biết khái quát các sự vật, hiện tượng theo dấu hiệu bản chấthơn, đặc trưng hơn và biết bỏ qua các thuộc tính và đặc điểm phụ.

Trẻ mẫu giáo lớn khi tư duy thì bắt đầu lĩnh hội một số khái niệm cùng họ,cùng loại… và tiến hành các thao tác khái quát hóa ở mức độ cao hơn trên cơ sởphân tích, tổng hợp những sự vật, hiện tượng quan sát được từ đó trẻ rút ra đượcnhững dấu hiệu bản chất theo kinh nghiệm sống và vốn hiểu biết của trẻ

Công trình nghiên cứu của L.Rixnhicova chỉ ra rằng cơ sở khái quát hóa ởtrẻ 5 tuổi hình thành theo các giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1: Giai đoạn tổng hợp đơn giản.

Trẻ thực hiện các hành động thực tế song chưa nhận thức được dấu hiệuchung, chưa tìm được từ ngữ (khái niệm) để thực hiện khái quát

- Giai đoạn 2: Khái quát trực quan cụ thể:

Trẻ thường gọi tên cho nhóm như là một chỉnh thể nhưng khái niệm trẻdùng chưa chính xác, chưa phù hợp, cái chung được phản ánh thông qua cái cụthể

- Giai đoạn 3: Khái quát ngôn ngữ cụ thể :

Trẻ dùng tên gọi khái quát để kí hiệu cho cả nhóm như là một thể thốngnhất

- Giai đoạn 4 : Trước khi thực hiện hành động phân nhóm các sự vật, hiện

tượng trẻ đã biết gọi tên chung của một nhóm nhưng trẻ sử dụng từ thông quacác vật cụhể trong nóm chung đó

- Giai đoại 5 : Trẻ gọi tên khái quát của nhóm trước khi xác định các vật củ

thể

Theo X.L Vưgôtxky quá trình hình thành khái niệm ở trẻ diễn ra như sau:

+ Giai đoạn 5.1: Hình thành tập hợp: đây là quá trình liên kết các đối tượng

riêng lẻ vào một nhóm và địnhnghĩa chung bằng một từ, giai đoạn này gồm 3bước:

Bước 1: chọn và liên kết các đối tượng một cách may rủi.

Bước 2: lựa chọn trên cơ sở các dấu hiệu không gian của các đồ vật.

Bước 3: đưa đến kháo niệm chung cho tất cả các đồ vật.

Trang 34

+ Giai đoạn 5.2 : Hình thành khái niệm là quá trình tổ hợp trên cơ sở của

một vài dấu hiệu liên kết gồm: tổ hợp theo bất kỳ một dấu hiệu thay thế bênngoài nào đó; liên kết các đồ vật trên cơ sở của những dấu hiệu chức năng; liênkết theo từng dấu hiệu, trong một vật thể có nhiều đồ vật được liên kết theonhững dấu hiệu khác nhau; giả khái niệm (Bên ngoài là khái niệm, bên trong là

tổ hợp)

- Giai đoạn 6: Hình thành khái niệm thực sự:

Hình thành kỹ năng tách, trừu tượng các thành phần và sau đó tổng hợpchúng thành các khái niệm chung bên ngoài phụ thuộc đồ vật trong đó có :

Giai đoạn tiền khái niệm: trẻ phân nhóm đồ vật theo một dấu hiệu chungnào đó

Giai đoạn khái niệm thật: trẻ trừu tượng hành động dấu hiệu cần thiết vàđầy đủ để xác định khái niệm, sau đó trẻ tổng hợp và xếp vào một khái niệmtương ứng

Loại tư duy tiền khái niệm đặc trưng ở trẻ mẫu giáo, các khái niệm dù làkhái niệm đời thường cũng không xuất hiện một cách rời rạc, đơn độc, chúngthống nhất xen lẫn giữa các yếu tố trực quan với từ ngữ

N.N Savanshin đã nghiên cứu và xác định các mức độ:

+ Khái quát trên cơ sở tính chất chung của các dấu hiệu bên ngoài đập vàomắt

+ Khái quát hóa trên cơ sở gọi đúng bằng từ (tên gọi)

+ Khái quát trên cơ sở tách một dấu hiệu chung cho các đối tượng khácnhau nhưng không phải là dầu hiệu bản chất

+ Khái quát trên cơ sở tính chất chung các dấu hiệu bản cơ bản được trẻtách biệt trong các đối tượng khác nhau

Ph.I Fratkina và một số tác giả nghiên cứu sự phát triển khái quát hóa củatrẻ trong qúa trình hình thành khái niệm, bà đã chỉ ra cơ sở khái quát hóa của trẻ.Theo bà trẻ thường khái quát hóa theo các dấu hiệu :

* Dấu hiệu ngẫu nhiên

* Theo bộ sưu tập (Bộ đồ uống tách trà, ly…)

Trang 35

* Theo chức năng công dụng được tách ra để đựng, mặc…

* Theo vật liệu gỗ, nhựa, kim loại…

* Theo loại, dạng, đối tượng…

Theo Vưgôtxky và Saxarop trong tác phẩm “Tư duy và ngôn ngữ”, kháiquát hóa được diễn ra theo các mức độ:

- Khái quát đơn giản: là sự hình thành những tập hợp hình thức liên kết các

đối tượng trên cơ sở một đặc điểm ngẫu nhiên nào đó Tập hợp này được gọi làhỗn chung vì các đối tượng không có mối liên hệ khách quan nào cả

- Khái quát hóa phức tạp: là sự hình thành các khái niệm- tập hợp trên cơ

sở liên kết một dấu hiệu khách quan khác nhau (liên kết theo dấu hiệu cảm tính,theo dấu hiệu chức năng…)

- Khái quát hóa khái niệm: là sự khái quát trong đó các đối tượng được

phân loại và liên kết theo các dấu hiệu cần thiết để xác định khái niệm sau đótổng hợp và đưa chúng vào định nghĩa phù hợp

Như vậy có thể nói khái quát hóa của trẻ phụ thuộc vào kinh nghiệm hoạtđộng, kinh nghiệm hình ảnh và vốn ngôn ngữ Khi xem xét khái quát hóa theomức độ, theo loại, dạng thì việc phát triển khái quát hóa cho trẻ 5-6 tuổi vẫn lànhiệm vụ cần thiết để tạo cơ sở cho tư duy logic phát triển trước khi trẻ vào lớpmột Song khái quát hóa sẽ được phát triển tốt nếu tổ chức đầy đủ và bảo đảmtheo các thao tác sau:

+ Thiết hợp mối tương quan giữa các đối tượng định khái quát trên cơ sởphân tích, tổng hợp để rút ra dấu hiệu chung, cơ bản

+ Rút ra kết luận khái quát theo các dấu hiệu chung cơ bản trên cơ sở sosánh đối chiếu các dấu hiệu giống nhau

+ Biểu thị bằng lời dấu hiệu khái quát hóa

1.4.4 Khả năng khái quát hóa biểu tượng hình dạng của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

Khả năng khái quát hóa của trẻ là một trong những yếu tố quan trọng đánhgiá sự phát triển tư duy của trẻ Cho nên việc chuẩn bị cho trẻ đến trường phổthông là việc cần phải được quan tâm và đầu tư đúng mức đến việc hình thành

Trang 36

khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua biểu tượng hình dạngdưới sự tác động của các biện pháp đặc biệt là trò chơi học tập.

Để tạo ra khả năng khái quát hóa một cách độc lập cho trẻ thì trước hết phảicho trẻ phân tích, so sánh các đối tượng giống nhau và tương tự nhau đã đượcgiáo viên lựa chọn và đưa ra với mục đích cần đạt, ở đây trẻ xem xét lần lượt cáctính chất riêng biệt của các đồ vật khác nhau và xác định chúng khác nhau ởđiểm nào, sau đó lựa chọn tính chất chung của các sự vật, hiện tượng

Trẻ 5-6 tuổi có sự tách biệt rõ ràng giữa hình hình học với đồ vật và sửdụng các hình hình học như các vật thể chuẩn để xác định hình dạng của các vậtthể gặp trong cuộc sống

Ở mẫu giáo lớn việc nhận thức vật thể và các hình hình học chủ yếu là bằngcác giác quan Biểu tượng về hình dạng của vật, giới hạn giữa vật và môi trườngxung quanh xuất hiện ở trẻ là rất sớm, từ nhỏ trẻ đã có thể nhận ra các vật màkhông lệ thuộc vào vị trí không gian giữa chúng

VD: Cái bàn để ngược chân lên trẻ vẫn có thể nhận ra nó là cái bàn Tuyvậy trẻ không nhìn thấy sự giống hệt về hình dạng của các vật khác nhau thếnhưng vói sự tham gia tích cực của tư duy và hệ thống tín hiệu ngôn ngữ thứ 2thì trẻ không chỉ nhận ra đối tượng mà còn khái quát chúng bằng lời

Ở trẻ 5-6 tuổi đã hệ thống được kiến thức về các hình học khi chính hìnhdạng được trình bày với trẻ như là như tập hợp liên tục bao gồm các điểm, góc,cạnh, đỉnh…

Việc hình thành các biểu tượng về hình dạng thông qua sự tác động của hệthống các biện pháp thì trẻ dễ dàng khái quát hóa chúng theo những dấu hiệubản chất hay không bản chất Từ đó trẻ phân biệt rõ dấu hiệu của đối tượng vàxác định rõ đối tượng riêng lẻ nhưng có chung đặc điểm nào đó vào một nhómxác định Trẻ khái quát chúng bằng lời một cách hệ thống và logic

Để hình thành và phát triển cũng như thực hiện các sơ đồ khái quát hóatrong quá trình giảng dạy cho trẻ 5-6 tuổi đòi hỏi một số điều kiện như sau:

Trang 37

- Trước hết cần có một tập hợp các đối tượng riêng biệt hay tập hợp các ấntượng cụ thể (những ấn tượng này có thể nhận được trực tiếp từ các sự vật hoặctrên cơ sở mô tả chúng bằng lời hay bằng hình ảnh).

Chúng được dùng làm tài liệu xuất phát để tiến hành so sánh (trẻ tiếp thuquan điểm này hay quan điểm khác nhờ việc trẻ so sánh các sự vật, hiện tượngquan sát được, làm rõ các điểm giống nhau và khác nhau của chúng)

Nhờ đó mà trẻ tìm được các tính chất chung giống nhau, cùng nhau củachúng

- Tính đầy đủ và tính phù hợp của khái quát hóa phụ thuộc vào khoảng biếnthiên của các dấu hiệu kết hợp vào sự có mặt trong tài liệu ban đầu, sự kết hợp

“bất ngờ”,“ không quen thuộc” và nhất là của tính chất chung với các dấu hiệu

đi kèm hay hình thức biểu hiện

VD: Trong quá trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ cụ thể là hìnhthành cho trẻ biểu tượng hình chữ nhật, thì chúng ta cần phải nhìn thấy và dựnghình chữ nhật với tương quan các cạch khác nhau (chẳng hạn tăng chiều dài

đáng kể so với chiều rộng) (Đặc điểm cá nhân của hoạt động tư duy trong việc

tiếp thu ngữ pháp của học sinh tiểu học, KG Palova, Luận án PTS, 1959).

“Nhận ra cái riêng” sự vật hiện tượng cụ thể liên quan ra sao đến một nhómnhất định (trên cơ sở một tính chất chung nào đó) là chức năng thực sự của cáichung trừu tượng tức là chỉ bằng cách so sánh sự vật, hiện tượng với nhau, conngười có khả năng định hướng đúng đắn trong thế giới xung quanh có phản ứngnhư nhau đối với sự giống nhau trong các sự vật, hiện tượng và hành động khác

nhau, tùy thuộc vào sự khác nhau thế nào có sẵn trong chúng (Tâm lý học trẻ

em trước tuổi đi học - Sự phát triển các quá trình nhận thức, Chủ biên A.V.

Daparoget và Đ.B Faconhin, NXB Giáo dục, 1964 )

Trang 38

- Trò chơi học tập có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển nhân cáchcủa trẻ, nó giúp cho trẻ làm chủ được các hành vi của mình, trò chơi với cácnhiệm vụ chơi giúp trẻ hình thành các nét tính cách như khả năng tự đánh giáviệc thực hiện luật chơi của trẻ, kích thích hứng thú, phát triển các năng lực tưduy…

- Ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi năng lực tư duy trực quan hình ảnh và ngôn ngữphát triển mạnh đặc biệt là tư duy trực quan sơ đồ, khả năng thực hiện hànhđộng khái quát hóa, trừu tượng hóa và lĩnh hội khái niệm về sự vật, hiện tượngxung quanh trẻ ngày càng được nâng cao( nhanh, nhạy hơn), được mở rộng hơn,phong phú hơn,phức tạp hơn…Trẻ có thể khái quát hóa và lĩnh hội những kháiniệm trên cơ sở những chi tiết cấu trúc, mối quan hệ chung, tương tự nhau haygiống nhau và cả mối quan hệ bên trong, bản chất của một loại,một nhóm sự vật

và hiện tượng xung quanh…

- Trò chơi học tập là một con đường rất thuận lợi để phát triển khả năngkhái quát hóa của trẻ nói chung và khả năng khái quát hóa khi làm quen với biểutượng hình dạng

Những công trình tâm lý học, giáo dục học đã chỉ ra rằng:

Tổ chức cho trẻ tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng, đồ dùng, đồ chơi sẽ tạocho trẻ hứng thú và phát triển các năng lực của hoạt động tư duy đặc biệt là khảnăng khái quát hóa

Trang 39

Sử dụng đồ chơi, đồ dùng kết hợp lời nói diễn đạt đúng lúc, đúng nơi sẽgiúp trẻ phát triển khả năng khái quát hóa.

Nội dung cho trẻ làm quen với biểu tượng hình dạng gắn liền và phù hợpvới đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ, phù hợp với nội dung của trò chơi sẽgiúp trẻ phát triển toàn diện và đặc biệt là phát triển các năng lực tư duy trong

đó có khả năng khái quát hóa

Tóm lại: Nghiên cứu cơ sở lý luận trò chơi học tập nhằm phát triển khả

năng khái quát hóa cho trẻ khi làm quen với biểu tượng hình dạng giúp chúng tahiểu sâu sắc hơn về bản chất và ý nghĩa của trò chơi học tập đối với sự phát triểncủa trẻ nói chung và phát triển khả năng khái quát hóa của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổinói riêng, thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng trò chơi học tập nhằm pháttriển khả năng khái quát hóa của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi khi làm quen với biểutượng hình dạng

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Nguyễn Ánh Tuyết: “ Trò chơi của trẻ em” NXB Phụ Nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi của trẻ em
Nhà XB: NXB Phụ Nữ
8. Đào Như Trang: “Luyện tập toán qua trò chơi cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi chuẩn bị vào lớp một”. Trung tâm nghiên cứu giáo viên. Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện tập toán qua trò chơi cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi chuẩn bị vào lớp một
1. Bộ GD-ĐT: Chương trình chăm sóc- giáo dục mẫu giáo và hướng dẫn thực hiện 5-6 tuổi.NXB Giáo dục Khác
2. Nguyễn Ánh Tuyết ( Chủ biên): Tâm lý học trẻ em. NXB ĐHQG Hà Nội 1997 Khác
3. Đào Thanh Âm- Trịnh Dân: Giáo dục học mầm non tập III- NXB ĐHQG Hà Nội 1997 Khác
4. V.V Davadop- Các dạng khái quát trong dạy học- Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 8-1992 Khác
5. Bộ GD-ĐT: Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên mầm non Khác
6. Phạm Thị Đức- Một số suy nghĩ về năng lực khái quát hóa- Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 5- 1992 (trang 22-28) Khác
9. Đỗ Thị Minh Liên: Phương Pháp hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non. NXB ĐH SP 2004 Khác
12. Nguyễn Thị Bích Lê: Phát triển khả năng phân biệt hình hình học và hình dạng các sự vật thông qua việc sử dụng trò chơi học tập để dạy trẻ 3-4 tuổi . Luận văn tốt nghiệp đại học. Năm 2002 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Vai trò của trò chơi học tập trong quá trình hình thành biểu  tượng hình dạng  cho trẻ mẫu giáo lớn: - Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi khi làm quen biểu tượng hình dạng luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 2 Vai trò của trò chơi học tập trong quá trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn: (Trang 40)
Bảng 3 : Mức độ thường xuyên sử dùng trò chơi học tập  của giáo viên trong  quá trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ MGL 5-6 tuổi: - Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi khi làm quen biểu tượng hình dạng luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 3 Mức độ thường xuyên sử dùng trò chơi học tập của giáo viên trong quá trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ MGL 5-6 tuổi: (Trang 41)
Bảng 4: Mức độ sử dụng các loại trò chơi học tập (TCHT) trong quá trình  hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo5-6 tuổi. - Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi khi làm quen biểu tượng hình dạng luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 4 Mức độ sử dụng các loại trò chơi học tập (TCHT) trong quá trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo5-6 tuổi (Trang 42)
Bảng 5: Thời điểm sử dụng trò chơi học tập khi hình thành biểu tượng hình  dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ 5-6 tuổi: - Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi khi làm quen biểu tượng hình dạng luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 5 Thời điểm sử dụng trò chơi học tập khi hình thành biểu tượng hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ 5-6 tuổi: (Trang 43)
Bảng 7: Những vấn đề GVMN chú ý khi tổ chức TCHT trong quá trình  hình thành BTHD nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ 5-6 tuổi. - Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi khi làm quen biểu tượng hình dạng luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 7 Những vấn đề GVMN chú ý khi tổ chức TCHT trong quá trình hình thành BTHD nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ 5-6 tuổi (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w