1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khoá trình lịch sử việt nam giai đoạn 1954 1975 (sách giáo khoa lịch sử 12 nâng cao)

88 1,6K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (Sách giáo khoa lịch sử 12 - nâng cao)
Tác giả Ngô Minh Hợi
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Duyên Vinh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Phương pháp dạy học lịch sử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 536 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975" SGK lịch sử lớp 12 - nâng cao để làm khóa luận tốt

Trang 1

Trờng đại học vinhKhoa Lịch sử

===  ===

ngô minh hợi

khóa luận tốt nghiệp đại học

sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn

Trang 2

Trờng đại học vinhKhoa Lịch sử

===  ===

ngô minh hợi

khóa luận tốt nghiệp đại học

sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn

Trang 3

Lời cảm ơn

Để khoá luận đợc hoàn thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô

giáo - thạc sĩ Nguyễn Thị Duyên - ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi trong suốt

thời gian thực hiện đề tài

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáotrong khoa lịch sử trờng Đại học Vinh nói chung và các thầy cô giáo trong tổPhơng pháp dạy học lịch sử nói riêng cùng gia đình, bạn bè đã hết lòng giúp

đỡ tôi hoàn thành khoá luận này

Do thời gian và trình độ kiến thức còn nhiều hạn chế, chắc chắn khoáluận không tránh khỏi những sai sót Do vậy, tôi rất mong nhận đợc sự góp ýchân thành của các thầy cô giáo và bạn đọc để khoá luận đợc hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 5 năm 2009

Tác giả

Ngô Minh Hợi

Trang 5

Mục lục

Trang

A Mở đầu 1

B Nội dung 7

Chơng 1 Vấn đề sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trờng THPT - lý luận và thực tiễn 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Khái niệm tài liệu văn học và cách phân loại tài liệu văn học 7

1.1.2 ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trờng PT 9

1.1.3 Các loại tài liệu văn học sử dụng trong dạy học lịch sử ở trờng PT 11

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Thực trạng của việc dạy học lịch sử 15

1.2.2 Thực trạng việc vận dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trờng PT hiện nay 18

Chơng 2 Các loại tài liệu văn học đợc sử dụng trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (SGK lịch sử lớp 12 - Nâng cao) 22

2.1 Vị trí, ý nghĩa và nội dung cơ bản của khóa trình 22

2.1.1 Vị trí 22

2.1.2 ý nghĩa 22

2.1.3 Nội dung cơ bản của khóa trình 25

2.2 Một số nội dung văn học đợc sử dụng trong dạy học khóa trình 28

Trang 6

Chơng 3 Phơng pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa

trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 65

3.1 Một số nguyên tắc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử .65

3.2 Những yêu cầu khi sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trờng PT 69

3.3 Phơng pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 70

3.4 Thực nghiệm s phạm 82

Kết luận 92

Tài liệu tham khảo 95

Phụ lục

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XXI đang diễn ra những chuyển biến mới cực kỳ quan trọng ảnh hởng to lớn đến tình hình các nớc, các dân tộc và cuộc sống thờng nhật của

Trang 7

con ngời Trong những chuyển biến đó, nổi bật là sự hình thành một xã hộithông tin, kinh tế tri thức và sự phát triển nhanh chóng cha từng thấy của khoahọc công nghệ, xu thế không cỡng lại đợc của toàn cầu hoá Những yếu tố đó

đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục, tạo ra một làn sóng cải cách giáo dụcchung ở các nớc trên thế giới mà điểm hội tụ là sự chú ý đặc biệt đến khuyếncáo về 4 trụ cột giáo dục của tổ chức Liên hiệp quốc về giáo dục, khoa học,văn hoá (UNESCO):

đáp ứng với yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Con ngời đợc đào tạo theo mục tiêu giáo dục nh vậy, vừa tiếp nhậntruyền thống dân tộc vừa đáp ứng những yêu cầu hiện tại; vừa thể hiện bản sắcdân tộc vừa tiếp nhận tinh hoa văn hoá nhân loại Việc thực hiện mục tiêu đàotạo nh trên đòi hỏi sự đóng góp tích cực của bộ môn lịch sử ở trờng PT Nhà n-

ớc Việt Nam đã đặt môn lịch sử ở vị trí xứng đáng của nó trong chơng trình,

kế hoạch giáo dục thế hệ trẻ Bởi vì, trong nền văn hoá dân tộc, "kiến thức lịch

sử không chỉ giúp cho học sinh có biểu tợng đầy đủ về quá khứ mà còn làm cho ngời đang sống có ý thức về xã hội, suy nghĩ, cảm thụ những gì đã xảy ra trong ngày qua để có trách nhiệm với hiện tại và mai sau" [15,235] Nó có ý

nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Sự phát triển nh vũ bão của cách mạng và khoa học công nghệ ngày naygây nên một ấn tợng lệch lạc là khoa học, kỹ thuật có quyền uy tối thợngtrong việc tạo "một nền văn minh mới" [15,459] Chúng ta không coi nhẹ sứcmạnh, tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật vì chúng ta đang tiến hànhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Tuy những thành tựu của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày càng tăng, có ảnh hởng lớn đến

đời sống hiện tại, song không thể xóa bỏ sự phát triển hợp quy luật của lịch

sử, không hề làm giảm sự chú ý, hấp dẫn của mọi ngời với lịch sử quá khứ

Trang 8

Mỗi thế hệ trẻ đi vào cuộc sống, hớng theo sự phát triển chung của nhân loại

và dân tộc, không thể không mang theo mình những giá trị của quá khứ,không thể không tiếp nhận những tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại,làm cơ sở để hình thành nhân cách, trách nhiệm của mình với dân tộc với thời

đại

Việc nâng cao, đổi mới nội dung, phơng pháp dạy học lịch sử ở ViệtNam hiện nay nhằm góp phần tích cực hơn vào sự nghiệp giáo dục Trong bản

"Khuyến nghị" số 1283 (1996) của Nghị viện Hội đồng châu Âu có viết: .lịch“ lịch

sử là một trong những phơng tiện để thấy lại quá khứ và để xác lập nên một bản sắc văn hoá nó cũng là một cánh cửa mở ra kinh nghiệm và sự phong phú của quá khứ và của những nền văn hoá khác" [15,463].

Khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 trong chơng trìnhlịch sử lớp 12 (nâng cao) là một khóa trình lịch sử quan trọng đề cập đến côngcuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, cũng nh cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹxâm lợc ở miền Nam thống nhất nớc nhà Đây là khóa trình có rất nhiều sựkiện lịch sử tiêu biểu có ý nghĩa giáo dục đối với học sinh, là đơn vị kiến thứcchủ đạo trong các kỳ thi tốt nghiệp của học sinh hay thi tuyển sinh vào đạihọc, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Vì vậy, dạy học khóa trình lịch sửnày, giáo viên không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức cần thiết màthông qua đó phải góp phần hoàn thiện, bồi dỡng phẩm chất, năng lực cho họcsinh

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975" (SGK lịch sử lớp 12 - nâng cao) để làm khóa luận tốt nghiệp đại học, hi vọng với ý

nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài sẽ góp một phần nhỏ vào việc nâng caochất lợng dạy học lịch sử ở trờng PT hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

Phơng pháp sử dụng tài liệu văn học nói riêng, phơng pháp sử dụng tàiliệu tham khảo nói chung trong dạy học lịch sử là vấn đề đợc nhiều nhà khoahọc, nhiều công trình lớn nhỏ đề cập đến

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tiếp cận một số tài liệu: Tâm lýhọc, Giáo dục học, tài liệu về lý luận dạy học bộ môn và các tài liệu thamkhảo có liên quan đến vấn đề sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử

Trang 9

Trong cuốn "Phát triển t duy học sinh" (NXB Giáo dục, 1976) tác giả M Alecxep,V Ônhixuc cho rằng "T duy phản ánh hiện thực không phải trực tiếp

mà là gián tiếp, tức là thông qua cảm giác, tri giác, biểu tợng" [24;10].

Trên Tạp chí Giáo dục số 90 (chuyên đề) tháng 4/ 2004 tác giả Nguyễn

Quốc ái (giáo viên trờng Cao đẳng s phạm Thái Bình) có bài: "Đôi điều về

phơng pháp dạy học lịch sử" đã nêu rõ: viết lịch sử đã mang tính nghệ thuật

cao, dạy học lịch sử cũng phải có tính nghệ thuật

Chúng tôi cũng tiếp cận tác tài liệu về phơng pháp dạy học bộ môn nh:

Phơng pháp dạy học lịch sử, Tập 2 của Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (NXB

Giáo dục, 2000); Hệ thống các phơng pháp dạy học lịch sử ở trờng PT của

Trịnh Đình Tùng (chủ biên) trong đó có nêu về phơng pháp sử dụng tài liệuvăn học trong dạy học lịch sử

Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo một số khóa luận tốt nghiệp nh: “ lịchSử

dụng tài liệu tham khảo trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn

1930 - 1945 (SGK lịch sử lớp 12)“ lịch của tác giả Nguyễn Thị Trang Nhung; "Sử dụng câu hỏi trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975" của tác

giả Nguyễn Thị Quý

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn dạy học lịch sử chúng tôi nênlên vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ViệtNam khóa trình 1954 - 1975 nhằm nâng cao chất lợng bộ môn

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề sử dụngtài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trờng PT

+ Về lý luận: Tìm hiểu các vấn đề đặc trng của bộ môn lịch sử, đặc

điểm hoạt động nhận thức của học sinh, việc sử dụng tài liệu văn học trongdạy học lịch sử, đổi mới phơng pháp dạy học lịch sử ở trờng PT

+ Về thực tiễn: Khảo sát điều tra thực trạng dạy học lịch sử ở trờng PT

về các phơng pháp dạy học, điều kiện dạy học, chất lợng dạy học, những vấn

đề thực tiễn đặt ra

- Nghiên cứu chơng trình sách giáo khoa để xác định nội dung và đối ợng văn học đợc sử dụng trong bài học

Trang 10

t Vận dụng tài liệu văn học trong dạy học quá trình lịch sử Việt Namgiai đoạn 1954 - 1975.

- Thực nghiệm s phạm để kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của việc vậndụng tài liệu văn học vào giảng dạy khóa trình lịch sử nói trên

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tợng nghiên cứu của khóa luận

Là quá trình dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975(SGK lịch sử lớp 12 - nâng cao)

* Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trìnhlịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (SGK lịch sử lớp 12 - nâng cao)

5 Giả thuyết khoa học

Nếu các giải pháp s phạm trong việc vận dụng tài liệu văn học đợc thiết

kế phù hợp với thực tiễn dạy học lịch sử ở trờng PT sẽ làm cho hiệu quả bàihọc đợc nâng lên, đồng thời sẽ nâng cao chất lợng dạy học lịch sử

6 Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu thực tiễn

+ Điều tra, khảo sát thực tế việc vận dụng tài liệu văn học trong dạy họclịch sử ở trờng THPT qua dự giờ, trao đổi với giáo viên, học sinh, phát phiếu

điều tra xử lý thông tin và đa ra nhận xét khái quát chung

+ Soạn và thực nghiệm một tiết dạy cụ thể của khóa trình lịch sử ViệtNam giai đoạn 1954 - 1975 (SGK lịch sử lớp 12 - nâng cao) để khẳng định tínhkhả thi của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trờng PT

7 Cấu trúc của khóa luận

Trang 11

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, cấu trúckhóa luận gồm 3 chơng:

Chơng 1 Vấn đề sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở

tr-ờng THPT - lý luận và thực tiễn

Chơng 2 Các loại tài liệu văn học đợc sử dụng trong dạy học khoá

trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (SGK lịch sửlớp 12 - Nâng cao)

Chơng 3 Phơng pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khoá

trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975

Trang 12

B Nội dung Chơng 1 Vấn đề sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trờng THPT - Lý luận và thực tiễn

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm tài liệu văn học và cách phân loại tài liệu văn học

1.1.1.1 Khái niệm

Tài liệu văn học chính là những tác phẩm văn học đợc đa vào làm công

cụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu một số lĩnh vực khoa học Vậy “ lịchtác phẩmvăn học” là gì? Theo cuốn “ lịchTừ điển thuật ngữ văn học” (của nhóm tác giả LêBá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi) thì tác phẩm văn học là công trìnhnghệ thuật ngôn từ do cá nhân hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiện khái quátbằng hình tợng về cuộc sống con ngời, biểu hiện tâm t, tình cảm, thái độ củachủ thể trớc thực tại Tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn của các yếu

tố đề tài, chủ đề, t tởng nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn Nhng sự thốngnhất ấy lại đợc thực hiện theo những quy định nhất định

1.1.1.2 Phân loại tài liệu văn học

- ở Phơng Tây ngời ta chia tác phẩm văn học làm ba loại sau:

+ Tác phẩm tự sự: tái hiện đời sống thông qua việc miêu tả sự kiện, có

sự thâm nhập sâu sắc t tởng, tình cảm của nhà thơ ở đây nhà thơ đóng vai trò

là ngời kể lại các sự kiện tự vận động và tự kết thúc Loại này gồm thơ tự sự,tiểu thuyết, truyện ngụ ngôn

+ Loại trữ tình: bao gồm các tác phẩm thông qua sự bộc lộ tình cảm của

tác giả mà phản ánh hiện thực ở loại này, tác giả trực tiếp bộc bạch nhữngcảm xúc và tình cảm yêu ghét của mình trớc hiện thực đời sống

+ Loại kịch: bao gồm các tác phẩm trong đó nhân vật tự biểu hiện qua

hành động của mình Tác phẩm loại này vừa có cốt truyện hoàn chỉnh lại vừa

có yếu tố trữ tình Nó bao gồm hài kịch, bi kịch và chính kịch…

- ở Trung Quốc ngời ta thừa nhận văn học có 4 loại:

+ Thơ ca: gồm thơ trữ tình và thơ tự sự.

+ Tiểu thuyết: có các đặc điểm nổi bật là lấy việc miêu tả con ngời,

khắc họa tính cách làm trung tâm, có nhiều đặc điểm riêng trong cốt truyện,trần thuật, lời văn khác hẳn với thơ và văn xuôi Nó có vị trí đặc biệt trong đờisống tinh thần ngời hiện đại nên ngời ta tách riêng ra làm một loại

Trang 13

+ Văn xuôi: Phạm vi loại này rất rộng, bao gồm văn xuôi trữ tình, văn

xuôi có cốt truyện nh du ký, tạp ký, phóng sự, truyện ký kết hợp trần thuật vàbình luận nh tạp văn, tiểu phẩm…

+ Kịch: hoàn toàn trùng với loại kịch theo quan niệm của Châu âu

- ở Việt Nam, trong các giáo trình lý luận văn học thờng chia thànhcác loại sau:

* Thơ trữ tình: là sự thổ lộ ý nghĩa, cảm xúc trớc thế giới một cách trực

tiếp, trong đó tình cảm là mạch phát triển chủ đạo của tác phẩm

* Tiểu thuyết: Tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời,

những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinhhoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng Tiểu thuyết là thể loại tự sựdân chủ, năng động và giàu khả năng phản ánh đời sống nhiều mặt bậc nhấttrong các thể loại văn học

* Ký: Gulaiep cho rằng: “ lịchký là một biến thể của loại t sự” [5;420] Thể

ký bao gồm phóng sự, bút ký, tuỳ bút, th, truyện ký…Là những thể văn xuôixuất hiện khá sớm

* Kịch: Có nhiều cách phân loại kịch theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau.

Nhng cách phân loại phổ biến nhất là theo tính chất của các loại hình xung

đột, ngời ta chia thành: Bi kịch, hài kịch, chính kịch Ngoài ra, còn có một sốthể loại nh sau:

- Truyện vừa: là thể loại văn xuôi tự sự cỡ trung bình Câu văn truyện

vừa thờng giản dị, gọn gàng, trong sáng, đối tợng đợc tái hiện của truyện vừa

là các sự kiện, các cuộc đời thờng là đặc sắc, khác thờng hoặc các hiện tợng

đời sống nổi bật

- Truyện ngắn: Là hình thức ngắn của tự sự Truyện ngắn có thể kể về

cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “ lịchchốc lát” trong cuộcsống nhân vật, nhng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện,

mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời

- Anh hùng ca (sử thi): là thể loại tự sự miêu tả các sự kiện quan trọng,

có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc, củanhân dân Vì vậy, đặc trng chủ yếu của anh hùng ca là biểu hiện ý thức cộng

đồng của nhân dân, dân tộc đối với quá khứ vẻ vang của mình

- Truyện thơ, trờng ca, thơ trờng thiên: là thể loại tự sự bằng thơ Cái

chung của các hình thức truyện thơ, trờng ca, thơ trờng thiên là sự quan tâm đến

Trang 14

con ngời và những tình cảm của nó Nhân vật của hình thức này là những ngờibình thờng, những cá nhân với những lợi ích thuần tuý con ngời của nó.

- Ngụ ngôn: là một kiểu truyện phúng dụ bằng thơ hoặc văn xuôi rất

ngắn mang nội dung giáo dục đạo đức Bài học đạo đức trong ngụ ngôn toát ra

từ việc chế giễu các tính cách và đặc điểm tiêu cực nào đó của con ngời Phầnlớn các thói xấu và nhợc điểm của con ngời trong ngụ ngôn đều đợc thể hiệntrong các hình tợng loài vật nh chim, cá, gia súc, thú vật…

1.1.2 ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở ờng PT

tr-* Về giáo dỡng

Nói đến lịch sử là nói đến sự kiện, không gian, thời gian Vì vậy, trongquá trình giảng dạy lịch sử, nhiệm vụ cơ bản của giáo viên là cung cấp chohọc sinh kiến thức cơ bản đủ để khôi phục lại quá khứ và hiểu biết quá khứ.Các tác phẩm văn học góp phần quan trọng làm cho bài giảng sinh động, hấpdẫn, nâng cao hứng thú học tập cho học sinh Bởi vì, các tác phẩm thực sự cógiá trị đều phản ánh cuộc sống một cách chân thực Vì vậy, trong quá trìnhdạy học ngoài việc sử dụng các phơng pháp khác nhau nh: phơng pháp sửdụng đồ dùng trực quan, sử dụng bài tập nhận thức, sử dụng dạy học nêu vấn

đề…thì việc sử dụng tài liệu văn học để bổ sung vào bài học là rất quan trọng.Qua việc sử dụng tài liệu văn học để minh họa cho bài học lịch sử, giáo viên

sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc kiến thức lịch sử, góp phần nhất định vào việckhôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ Việc sử dụng tài liệu văn học còn giúpcho học sinh có thêm cơ sở để nắm vững bản chất các sự kiện, hình thành kháiniệm, hiểu rõ quy luật, bài học của lịch sử

* Về giáo dục

Các tác phẩm văn học bằng những hình tợng cụ thể, có tác động mạnh

mẽ đến t tởng, tình cảm của ngời học, từ đó làm nảy sinh những hành động

đúng đắn Ngoài ra, sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử còn gópphần giáo dục t tởng, đạo đức cho học sinh Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,vấn đề giáo dục t tởng, đạo đức càng đặt ra một cách cấp thiết Nền kinh tế thịtrờng với những mặt tích cực ngày càng đợc khẳng định trong quá trình đổimới toàn diện của đất nớc, song nó cũng có mặt tiêu cực cần phải hạn chế vàkhắc phục Trong bối cảnh chung ấy, giáo dục lịch sử cần phải khai thácnhững giá trị tiến bộ, đích thực để làm phong phú đời sống vật chất, tinh thần

Trang 15

của nhân dân ta, cần phải tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại, giữ gìnbản sắc văn hoá của dân tộc mình.

1.1.3 Các loại tài liệu văn học sử dụng trong dạy học lịch sử ở trờng PT

Trong việc dạy học lịch sử ở trờng phổ thông, giáo viên thờng sử dụngcác loại tài liệu văn học chủ yếu sau: văn học dân gian và văn học viết

- Văn học dân gian: ra đời sớm và rất phong phú, bao gồm nhiều thể

loại nh thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, dân gian…Đây lànhững loại tài liệu có giá trị, phản ánh nội dung nhiều sự kiện lịch sử quantrọng trong lịch sử dân tộc Nếu gạt bỏ những yếu tố thần bí, hoang đờng,chúng ta có thể tìm đợc nhiều yếu tố hiện thực của lịch sử trong văn học dângian Ví dụ: “ lịchKhông thêm, không bớt nửa lời,

Nhà ta ta ở, không dời không đi.”

Câu ca dao trên thể hiện tinh thần chống chính sách di dân lập dinh

điền, lập khu trù mật của Mỹ Diệm, chống cái gọi là “ lịchquốc sách ấp chiến l ợc” của Mỹ - Diệm; chống tập trung dân vào ấp chiến lợc, nhân dân kiênquyết bám đất, bám ruộng vờn Sử dụng tài liệu văn học dân gian, giáo viên cóthể tiến hành có kết quả việc giáo dục t tởng, đạo đức nói chung, giáo dụctruyền thống dân tộc nói riêng cho học sinh

- Văn học viết: cũng rất đa dạng nhng trong dạy học lich sử ở trờng PT

giáo viên có thể sử dụng các loại cơ bản sau đây: truyện ngắn, tiểu thuyết lịch

sử, ký, thơ ca cách mạng

+ Truyện ngắn: là hình thức ngắn của tự sự, đặc biệt là các tác phẩm

xuất hiện vào thời kỳ diễn ra các sự kiện lịch sử, có ý nghĩa đối với việc khôiphục hình ảnh quá khứ Trong khóa trình lịch sử dân tộc, nhất là phần lịch sử

Trang 16

từ 1954 - 1975, giáo viên có thể sử dụng nhiều tác phẩm có giá trị nh: “ lịchRừng

xà nu” của Nguyễn Trung Thành, “ lịchNhững đứa con trong gia đình” củaNguyễn Thi, “ lịchChiếc lợc ngà’’ của Nguyễn Quang Sáng, “ lịchMảnh trăng cuốirừng” của Nguyễn Minh Châu…Các tác phẩm đã tập trung khái quát mô - típcăm thù, nét đặc trng nổi bật của tính cách con ngời Miền Nam trong đấutranh Các tác giả mô tả nhiều dạng căm thù khác nhau, qua sự mô tả đó, làmnổi bật tính cách, thuyết minh hùng hồn cho sức mạnh chiến thắng của lòngyêu nớc và căm thù giặc của con ngời miền Nam

+ Tiểu thuyết lịch sử: lấy chủ đề là những sự kiện trong quá trình lịch

sử, giúp học sinh khôi phục lại bối cảnh lịch sử, hình ảnh các sự kiện, của quákhứ Đặc biệt trong dạy học khóa trình lịch sử dân tộc giai đoạn 1954 - 1975thì tiểu thuyết miền Nam đã để lại cho chúng ta một số hình tợng đẹp thuộcnhiều giới khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau Những thế hệ nh ông T Đồn(Hòn đất) mắt mù mà lòng yêu nớc sáng rực, tuổi đã cao nhng vẫn tham giachống địch bằng cách kéo đàn vận động binh sỹ nguỵ trở về với chính nghĩa;

ông Hai Biền (Rừng U Minh) khảng khái nuôi giấu cán bộ phong trào, kiên ờng đấu tranh chống địch dồn dân lập ấp; ông T Trầm (ở xã Trung Nghĩa)chống bọn đại diện nguỵ quyền lăm le cớp lại phần đất mà cách mạng đã cấpcho ông Nhiều tác phẩm tỏ ra thành công hơn với những nhân vật phụ nữ của

c-họ Có nhiều bà má nh: Má Sáu (Hòn đất), má Bảy (Gia đình má Bảy), má Ba(Rừng U Minh) giàu lòng yêu nớc và tin yêu Đảng, có đủ can đảm và sự tháovát để đảm đơng những công việc khó khăn của cách mạng và vợt qua nhữngthử thách của kẻ thù Mỗi bà má đều yêu thơng chăm sóc cán bộ và con cáicủa mình với tinh thần ngời mẹ và tinh thần bà má chiến sỹ Thơng cán bộcách mạng nh thơng con, má Sáu đã gả Quyên cho Ngạn; má Ba lợi dụng việc

tổ chức đám cới cho con để đào hầm trong buồng nuôi Chín Kiên Hoặc thơngcon với tinh thần bà má chiến sỹ nh má Bảy tỏ thái độ gan góc trớc mặt kẻ thùkhi chúng tra tấn út Sâm con gái má

ít tuổi hơn các má, có những chị nh chị Sứ (Hòn đất) chung thuỷ đảm

đang, sẵn sàng hi sinh vì cách mạng, vì nhân dân làng Hòn Chị Hai Khê (ở xãTrung Nghĩa), can đảm trong việc vợt cạn một mình và dũng cảm quyết liệt tr-

ớc kẻ thù khi chúng đến cớp đất, cớp nhà của chị Chị Sáu Thắm (đất Quảng)

từ những mất mát đau thơng nhất đã đứng dậy cao lớn, trực diện đơng đầu với

kẻ thù giai cấp Trẻ tuổi hơn là những nữ thanh niên nh út Sâm (gia đình máBảy) bớc theo cách mạng với tâm hồn trong sáng hồn nhiên, rất anh dũng khi

Trang 17

đánh giặc và gan góc chịu đựng những đòn tra tấn của kẻ thù; út Hảo (rừng UMinh), cô Vi (đất Quảng) đầy sức trẻ trung và nhiệt tình công tác, dũng cảm

và thẳng thắn, không ngại gian khổ, không ngại hi sinh…

Song, cần lựa chọn và xác định những tiểu thuyết lịch sử nào đáp ứngnhững yêu cầu của dạy học lịch sử, tránh những loại tiểu thuyết bịa đặt, ảnh h-ởng xấu đến nhận thức lịch sử của học sinh

- Ký: cũng là thể loại có giá trị giáo dục có thể khai thác để phục vụ

cho quá trình dạy học lịch sử ở trờng PT Chúng ta có một loạt tính cách trongtruyện ký nh: Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Thị út, Nguyễn Đức Thuận… Đóvừa là những hình tợng văn học đẹp, vừa là những điển hình mang ý nghĩacách mạng của thời đại Nguyễn Văn Trỗi là một khuôn mẫu về ngời thanhniên Việt Nam trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ Đó là hình ảnh hoà hợp lý t-ởng cách mạng và hành động đấu tranh kiên cờng chống kẻ thù, hoà hợp tìnhyêu và nghĩa vụ Một khuôn mẫu khác là hình ảnh Nguyễn Đức Thuận Đó làchất thép đã tôi trong lò lửa của những thử thách kinh khủng nhất, sáng rực vìtrải qua những cuộc đấu tranh của bản thân, bảo đảm kiên trì lý tởng Nguyễn

Đức Thuận đã trở thành một nhân cách cách mạng, một tấm gơng phản chiếucuộc thi gan đọ sức giữa những ngời cách mạng đầy đủ bản lĩnh với kẻ thùtrâng tráo đáng tởm nhất trong thời đại ngày nay Qua cuộc đọ sức mang ýnghĩa giai cấp, ý nghĩa thời đại ấy, ngời cộng sản ấy đã chiến thắng bằng cáchgiơng cao ngọn cờ lý tởng cách mạng Trong khi đó, chị út là một điển hình

về ngời phụ nữ vừa nuôi con vừa đánh giặc, mang những phẩm chất u tú củangời nông dân Miền Nam Chị út là hình ảnh của cuộc sống bình thờng màanh hùng của ngời phụ nữ Miền Nam trong chiến tranh: Chị đánh giặc cũnggiản dị tự nhiên nh chị nuôi con vậy; chị yêu chồng, săn sóc cán bộ cũng nhẹnhàng nh chị làm công tác nguỵ vận vậy Trên đôi vai chị út, tất cả nhữngnặng nhọc của cuộc sống trong chiến tranh trở thành một công việc bình th-ờng mà ngời đợc gánh vác lấy làm thích thú và nếu không đợc làm nh thế thì

sẽ buồn biết chừng nào! Cuộc sống của chị út, đó là cuộc sống đích thực củangời phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh, đó là phơng thức sống đích thực củanhân dân Miền Nam trong kháng chiến trờng kỳ

- Thơ ca cách mạng: là những bài thơ, bài ca có nội dung cách mạng

nh: Thơ Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu, thơ Tế Hanh, thơ Chế Lan Viên, thơ LêAnh Xuân…

Trang 18

Việc sử dụng các loại tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr ờng PTphải đảm bảo hai tiêu chuẩn cơ bản: giá trị giáo dỡng - giáo dục và giá trị vănhọc Tài liệu văn học góp phần tạo nên một bức tranh sinh động về những sựkiện, nhân vật lịch sử của thời đại đang học, miêu tả đợc bối cảnh của xã hội

cụ thể, phục vụ nội dung, yêu cầu của từng bài học, phù hợp với trình độ nhậnthức của học sinh Tài liệu văn học không làm loãng nội dung bài lịch sử,phân tán sự chú ý của học sinh vào những vấn đề đang học mà trái lại cànglàm tăng thêm hứng thú học tập cho học sinh

Tóm lại, tài liệu văn học là phơng tiện cần thiết và quan trọng đối vớiviệc dạy học lịch sử của giáo viên và học sinh Mỗi thể loại văn học có vị trí

và tác dụng nhất định, nếu đợc sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, thì hiệu quả sphạm của nó rất lớn Vì vậy, phơng pháp sử dụng tài liệu văn học này phảitiến hành trên những cơ sở lý luận của việc dạy học lịch sử, theo yêu cầu giáodỡng, giáo dục của bộ môn và thực tiễn của nhà trờng PT Trong sử dụng tàiliệu văn học chúng ta cần chú ý tránh tình trạng “ lịchquá tải”, làm cho giờ học trởnên quá nặng nề, hoặc làm loãng nội dung, mất đặc trng của bài lịch sử, hoặcbiến giờ học lịch sử trở thành một giờ văn học, hay bài giảng giáo dục côngdân Tuy nhiên, việc khai thác nội dung các kiến thức văn học trong giờ lịch

sử lại là cần thiết để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng tài liệu tham khảo,tăng chất lợng giáo dục môn học

Nhờ chất lợng giảng dạy của giáo viên và sự nỗ lực của học sinh, việchọc tập bộ môn lịch sử nhìn chung cũng có một số tiến bộ đáng mừng Đaphần các em chăm học hơn, số học sinh thích học lịch sử tăng lên, chất lợnghọc tập của những em ở các trờng chuyên, lớp chọn đã vợt xa những học sinh

ở loại hình trờng, lớp này nhiều năm về trớc Những học sinh đại trà tuychuyển biến chậm hơn nhiều so với bộ phận học sinh giỏi, nhng cũng đã có

Trang 19

một số dấu hiệu tích cực Những chuyển biến tích cực trong việc dạy và họcmôn lịch sử nói trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân

- Thứ nhất: Đó là sự tiến bộ toàn diện của đất nớc ta, sự quan tâm của

toàn xã hội đối với ngành giáo dục Điều này, khiến cho các trờng THPT cóthêm cơ sở vật chất, thiết bị tạo nên những tiền đề về mặt tâm lý xã hội rấtquan trọng để nâng cao chất lợng giảng dạy, đặc biệt dạy các môn khoa họcxã hội trong đó có môn lịch sử

- Thứ hai: bắt nguồn từ sự đổi mới về chơng trình và SGK để phục vụ

cải cách giáo dục

- Thứ ba: đó là tình yêu nghề, sự phấn đấu vợt qua nhiều thiếu thốn gian

khổ của đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy ở các trờng THPT trên khắp mọimiền của đất nớc, đặc biệt là những giáo viên đang công tác giảng dạy ở nhữngvùng xa xôi, hẻo lánh

- Thứ t: Khâu chỉ đạo chuyên môn của các cấp, đặc biệt ở các phòng

PT thuộc các Sở giáo dục - Đào tạo đã có nhiều chuyển biến tích cực Hàngnăm, các phòng PT đều có văn bản hớng dẫn đầu năm học khá cụ thể vềnhiệm vụ giảng dạy bộ môn cho các trờng, các tổ bộ môn

Tóm lại, cùng với sự chuyển biến tích cực của đất nớc, của ngành giáodục, bằng sự nỗ lực từ nhiều phía, việc dạy và học môn lịch sử ở trờng THPT

ấy nhiều khi các em đã biết kỹ qua các tiết học trớc

Đặc biệt, hiện nay vẫn còn những giờ lịch sử đợc tiến hành theo phơngpháp độc thoại, thầy đọc trò ghi, không hoạt động hoá đợc ngời học Điều nàykhiến cho tiết dạy lịch sử trong nhà trờng bỗng trở thành một “ lịchbát canh nhạtnhẽo” (nh cách diễn đạt của Tvadovski), làm tê liệt sự hào hứng của học sinh

Trang 20

Mặt khác, vẫn còn một bộ phận ít thầy, cô giáo thích thú với loại giáo án mẫu,bài soạn mẫu…dù họ thừa biết điều hứng thú đó trái ngợc với bản chất su tầm

t liệu của việc giảng dạy lịch sử

Bên cạnh đó, khâu kiểm tra đánh giá vẫn cha đợc đổi mới Không ít đềbài yêu cầu quá cao đối với hoc sinh, hoặc thiếu chính xác về mặt khoa học,diễn đạt mơ hồ Không hiếm giáo viên cha có thói quen chuẩn bị đáp án vàbiểu điểm chấm đồng thời hoặc ngay sau việc ra đề Việc chấm bài còn khánhiều thiếu sót Phần lớn giáo viên chỉ sử dụng một số mức điểm nhiều nhất là

điểm 5, 6, 7, rất hiếm khi cho điểm 9, 10 và thờng cho điểm 3, 4 khi cần thấyphải phạt học trò Lời phê thờng hết sức chung chung, không chỉ ra mặt mạnh,mặt yếu của bài làm và không gợi ý phơng hớng để học sinh khắc phục, chonên không khích lệ đợc tinh thần học hỏi của học sinh Thậm chí, không hiếmgiáo viên chỉ cho điểm mà không để lại “ lịchbút tích” gì trong toàn bộ bài làm củahọc sinh

Việc đổi mới phơng pháp giảng dạy tuy đã đợc phát động từ lâu, nhng

về căn bản phần đông giáo viên vẫn dạy theo phơng pháp cũ Các giờ học lịch

sử hầu nh dạy chay, không có đồ dùng trực quan, không có tranh ảnh, không

có tài liệu tham khảo…không phát huy đợc tính tích cực chủ động của họcsinh, làm giảm sút sức hấp dẫn của bộ môn

 Về học sinh

Có một bộ phận học sinh say mê học lịch sử điều đó thể hiện qua kếtquả học tập môn lịch sử của các em, hoặc có một bộ phận thể hiện tinh thầntìm hiểu lịch sử qua các cuộc thi nh: Theo dòng lịch sử, tham gia các cuộc thitìm hiểu lịch sử do Đài truyền hình tổ chức Tuy nhiên, bộ phần này ít, phần

đông, các em vẫn tỏ ra thờ ơ, ít có nhu cầu học tập môn lịch sử

Do quan niệm về “ lịchmôn chính, môn phụ” mà tỷ lệ giờ dạy ở trờng PTkhông phù hợp Mặt khác, học sinh còn bị tâm lý “ lịchứng thi” chi phối, trong đócác em chỉ quan tâm đến các môn học đợc Bộ giáo dục - Đào tạo quy định thitốt nghiệp nh Văn, Toán, Ngoại ngữ,…Môn lịch sử cũng chịu chung số phận

nh nhiều “ lịchmôn phụ” khác, nếu năm học nào không thi tốt nghiệp môn lịch sửcoi nh kế hoạch dạy và học chấm dứt vào những ngày đầu của tháng 4 hằngnăm Do tính “ lịchthực dụng” học gì thi nấy đã hớng các em học sinh ngày càngsay mê với các môn khoa học tự nhiên nh: Toán, Lý, Hoá, Sinh…để sau nàythi vào các trờng đại học thuộc khối kinh tế và kỹ thuật, bởi sau khi tốt nghiệp

Trang 21

ở các trờng đó sinh viên dễ kiếm việc làm và việc làm lại tập trung ở các đôthị lớn với thu nhập cao.

Vấn đề đặt ra ở đây, không phải là vấn đề đánh giá bài làm lịch sử kháhay kém, việc khinh hay trọng đối với môn học mà điều đáng nói hơn làchứng tỏ chất lợng dạy và học môn lịch sử rõ ràng còn nhiều bất cập Thực tếnày, đòi hỏi ngành giáo dục phải có những biện pháp đồng bộ để nâng caochất lợng đào tạo, mà trớc hết, theo ý kiến của chúng tôi là khắc phục nhữnghạn chế đã nêu trên

1.2.2 Thực trạng việc vận dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trờng PT hiện nay

 Đối với giáo viên

Tất cả các giáo viên đợc chúng tôi điều tra đều nhận thức rõ ràng sự cầnthiết phải sử dụng đồng thời sách giáo khoa và tài liệu văn học trong quá trìnhdạy, học lịch sử Nhiều ngời còn đánh giá cao tác dụng tích cực của việc làmnày vì nó không những góp phần nâng cao hiệu qủa bài dạy, giúp học sinh ghinhớ nhanh, nhớ lâu, dễ hiểu bài và có hứng thú học tập Nh vậy, tài liệu vănhọc là cần thiết cho việc phục vụ dạy và học Tuy nhiên, mức độ sử dụng đồngthời cả sách giáo khoa và tài liệu văn học này ở giáo viên không cao Điều đó

đợc thể hiện cụ thể ở kết quả điều tra nh sau: Số giáo viên “ lịchthờng xuyên” sửdụng chỉ có 5%, và có 14% số giáo viên “ lịchthỉnh thoảng” mới sử dụng Đây lànhững giáo viên có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, là những giáo viên giỏi củacác tỉnh, thành phố Số còn lại là những giáo viên “ lịchkhông sử dụng” vì nhiều lý

do nh: Không có tài liệu “ lịchtham khảo” chủ yếu, “ lịchhọc sinh không chịu học”,

“ lịchthời gian của một tiết học quá ngắn”,… Mặt khác, phần lớn giáo viên đềucho rằng, trong tình hình khó khăn về nhiều mặt nh hiện nay (đời sống, điềukiện, phơng tiện học tập…) thì khi dạy “ lịchchỉ cần nói đúng, nói đủ nh sách giáokhoa đã là tốt lắm rồi!”

Về phơng pháp giảng dạy, chúng tôi nhận thấy rằng phần lớn giáo viênchỉ trình bày lại nội dung của sách giáo khoa mà thôi (thậm chí có giáo viêngần nh chỉ đọc bài cho học sinh chép), một số giáo viên đã sử dụng tài liệuvăn học nhng cũng chỉ dừng lại ở mức độ thông báo, làm sinh động, cụ thểhoá sự kiện, hiện tợng lịch sử chứ không đi sâu để giúp học sinh hiểu bản chấtcủa sự kiện, hiện tợng lịch sử đó Một số giáo viên sử dụng tài liệu văn họccũng rất hình thức nh giới thiệu vắn tắt nội dung của tài liệu hay sử dụng một

Trang 22

đoạn trích có tính khái quát cao, điển hình từ một tài liệu văn học nào đó vàyêu cầu học sinh phân tích, chứng minh (khi làm bài kiểm tra) hoặc đọc tríchmột đoạn tài liệu văn học để minh hoạ… Hoặc ngợc lại, nhiều giáo viên “ lịchquátải” khi sử dụng tài liệu văn học, thoát ly hoàn toàn sách giao khoa lịch sử, chỉtập trung giới thiệu về tác phẩm văn học đó.

Trên thực tế, có thể nói rằng việc dạy, học lịch sử ở trờng PT hiện nay chủyếu chỉ dựa vào sách giáo khoa để đảm bảo sự tiếp thu của học sinh theo đúngchơng trình đã quy định, còn việc sử dụng tài liệu văn học hầu nh không đợc chú

ý Rõ ràng, phơng pháp dạy học lịch sử nh vậy không phát huy đợc tính tích cựctrong nhận thức của học sinh, không gây đợc hứng thú trong học tập cho nên đã

ảnh hởng không ít đến chất lợng học tập của học sinh

 Đối với học sinh

Nhiều học sinh, nhất là bộ phận học sinh khá, giỏi thờng xuyên thamkhảo tài liệu văn học để bổ sung vào bài học, nâng cao hiểu biết của mình, tựhình thành cho mình một phơng pháp khoa học làm việc với tài liệu, có hứngthú say mê tìm hiểu tài liệu văn học Bên cạnh đó, đa phần học sinh ít hoặcthậm chí là không bao giờ sử dụng tài liệu văn học Nhiều học sinh chỉ dừnglại ở mức độ tham khảo, nhớ máy móc bài giảng của giáo viên

Qua tìm hiểu các bài kiểm tra môn lịch sử của học sinh đã cho thấy nộidung của bài viết thờng chỉ chú ý nhiều đến việc ghi nhớ các sự kiện và rút ranhận xét khái quát, không có những liên hệ, những so sánh, những sự đốichiếu cần thiết Các em thờng chỉ viết chung chung, đại khái nh: “ lịchChúng bóclột nhân dân ta vô cùng thậm tệ”, “ lịchđời sống của nhân dân ta vô cùng cựckhổ”…Điều đó chứng tỏ học sinh cha biết cách sử dụng tài liệu văn học, chathể hiện đợc tính độc lập trong suy nghĩ của mình, cha biết trình bày nội dungcủa bài viết… các em cũng còn nhiều khó khăn, lúng túng khi xác định vềkhông gian và thời gian của một tác phẩm văn học nào đó có liên quan đếnnội dung của bài học lịch sử

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó đáng chú ý cácnguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất: Mặc dù giáo viên đã nhận thức đợc việc sử dụng tài liệu

văn học trong dạy học lịch sử là quan trọng, nhng họ “ lịchcha nắm vững kỹ năng

và phơng pháp sử dụng tài liệu” Việc xử lý mối quan hệ giữa nội dung củaSGK và của tài liệu văn học cha đợc giáo viên xác định rõ ràng Do khônglàm đợc điều này, nên nội dung của bài học không “ lịchthêm” mà cũng không

Trang 23

“ lịchbớt” những nội dung của SGK Chính vì thế, mặc dù giáo viên có đủ tài liệuvăn học, nhng đôi khi họ vẫn không dám sử dụng, vì sợ “ lịchtiết học quá ngắn”,

“ lịchnói hết SGK đã không còn thời gian thì làm sao có thể sử dụng thêm tài liệunữa”, “ lịchtài liệu văn học thì nhiều, biết chọn loại nào và không chọn loạinào”…Mặt khác, ngoài bài học trên lớp, các hình thức tổ chức dạy học kháccho phép giáo viên sử dụng rộng rãi các tài liệu văn học cũng ít đ ợc thựchiện

- Thứ hai: ở các trờng PT hiện nay, tài liệu văn học cần thiết cho việc

dạy của giáo viên, việc học của học sinh lại không thật đầy đủ Hơn nữa, thầy

và trò cũng cha mạnh dạn khắc phục những khó khăn trong việc su tầm tàiliệu văn học

Điều này, một phần do giáo viên cha có điều kiện để đầu t công sức vàoviệc giảng dạy Mặt khác, do động cơ học tập của học sinh cha đúng đắn.Ngoài ra, những khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất của nhà trờng cũng có

ảnh hởng nhất định đến tâm lý giảng dạy, học tập của cả thầy và trò

Qua thực tế một số trờng PT hiện nay, chúng tôi cho rằng việc sử dụngtài liệu văn học trong dạy, học lịch sử lại càng phải đợc quan tâm hơn nữa trêntất cả các mặt từ trong nhận thức và trong những việc làm cụ thể nhằm đápứng những yêu cầu, những nhiệm vụ trong tình hình đổi mới toàn diện chơngtrình, cấu trúc, sách giáo khoa, phơng pháp dạy học nh hiện nay

Trang 24

Chơng 2 Các loại tài liệu văn học đợc sử dụng trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (sách giáo khoa lịch sử lớp 12 - nâng cao)

2.1 Vị trí, ý nghĩa và nội dung cơ bản của khóa trình

2.1.1 Vị trí

Trong tiến trình lịch sử dân tộc, giai đoạn 1954 - 1975 chiếm một vị trí

đặc biệt quan trọng Đây là giai đoạn Việt Nam tạm thời bị chia làm 2 miềnvới 2 chế độ khác nhau: Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi lên CNXH,còn Miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và các lực lợng tay sai thống trị Sựnghiệp cách mạng dân tộc dân chủ của nhân dân trên cả nớc còn cha hoànthành Nhân dân Việt Nam vừa phải lo hàn gắn vết thơng chiến tranh, khôiphục kinh tế, đa Miền Bắc tiến dần lên CNXH, vừa phải tiếp tục đẩy mạnhcuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, tiến tới thực hiện hoàbình thống nhất đất nớc

Lịch sử dân tộc giai đoạn này ghi dấu nhiều thắng lợi vẻ vang ở cả 2miền, đặc biệt là đại thắng mùa Xuân năm 1975 Sau chiến thắng đó, dân tộc

ta tiến vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do đi lên CNXH Vìvậy, đây cũng là giai đoạn có tính bản lề, khép lại một chặng đờng dài dân tộc

ta phải sống trong cảnh gơm đao, súng đạn của chiến tranh, mở ra một thời kỳmới - thời kỳ hoà bình xây dựng cuộc sống tự do, hạnh phúc

2.1.2 ý nghĩa

* Về mặt giáo dỡng

Giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn này, phải giúp học sinh nắm đợcquá trình cách mạng và những thành tựu đạt đợc của nhân dân ta suốt 20 nămxây dựng và chiến đấu Qua việc cung cấp cho học sinh những sự kiện cụ thể,giúp các em nhận thức đợc tình hình nớc ta sau Hiệp định Giơnevơ, do so sánhlực lợng và tình hình chính trị thế giới phức tạp lúc đó, dẫn đến việc 2 miềnphải tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lợc khác nhau Miền Bắc bắt tay vào tiếnhành cách mạng XHCN, làm nghĩa vụ hậu phơng đối với cách mạng cả nớckhi hoà bình cũng nh khi có chiến tranh phá hoại của Mỹ Trong khi đó, nhândân Miền Nam phải đối phó với một kẻ thù nham hiểm nhất từ trớc đến nay,

đó là đế quốc Mỹ Nhng nhân dân cả 2 miền đã giành đợc những thắng lợi to

Trang 25

lớn, góp phần đánh bại đế quốc Mỹ và tiến tới thống nhất nớc nhà vào năm1975.

Nh vậy, trên cơ sở kiến thức các em đã đợc học ở cấp II, khi dạy lịch sửgiai đoạn này phải làm cho các em có những nhận thức sâu sắc hơn, khái quáthơn, đặc biệt là nâng cao về mặt lý luận Trong điều kiện cho phép, giáo viêncũng cần phải giúp học sinh thấy đợc tác động mạnh mẽ của quan hệ quốc tế

đối với dân tộc ta Đây là thời kỳ đối đầu giữa hai phe: XHCN và đế quốc chủnghĩa, đứng đầu là Liên Xô và Mỹ Sự đối đầu đó chi phối mạnh mẽ đến đờisống chính trị của toàn thế giới Những kết quả mà dân tộc ta đạt đợc tronggiai đoạn này là biểu hiện sự mền dẻo của Đảng ta trong việc xử lý các mốiquan hệ quốc tế

Đồng thời, khi giảng dạy khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954

-1975 cũng cần làm cho các em nhận thức đợc những bài học, quy luật pháttriển của lịch sử Mặt khác, cần củng cố và hình thành cho học sinh hệ thốngkhái niệm mới nh: chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, kiểu mới; chiến tranh cục bộ;chiến tranh đặc biệt; Việt Nam hoá chiến tranh; đồng khởi

* Về mặt giáo dục

Có thể nói lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 là chặng đờng đầykhó khăn gian khổ, nhng cũng hết sức vẻ vang trong lịch sử dân tộc Cho nên,giảng dạy lịch sử giai đoạn này giáo viên phải làm cho học sinh biết tự hào vềtruyền thống kiên cờng, bất khuất của dân tộc ta Bởi vì, trong lịch sử chốngngoại xâm, cha bao giờ dân tộc ta phải đơng đầu với một kẻ thù mạnh nh đếquốc Mỹ - một tên đế quốc giàu có và sừng sỏ nhất thế giới

Bên cạnh đó, giúp học sinh thấy đợc vai trò lãnh đạo của Đảng với đờnglối chính trị, quân sự, ngoại giao đúng đắn, độc lập, linh hoạt và sáng tạo, lànhân tố quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng nớc ta Từ đó, giáo dụccác em lòng biết ơn và tin tởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong thời đại ngàynay Mặt khác, nhắc nhở các em biết kính yêu những ngời đã anh dũng chiến

đấu hy sinh để bảo vệ Tổ quốc Từ đó các em biết quý trọng cuộc sống ấm no,hạnh phúc mà mình đang sống và biết sống xứng đáng với những gì mà thế hệcha, anh đi trớc đã hy sinh để đem lại cuộc sống đó cho mình Giáo dục các

em truyền thống “ lịchuống nớc nhớ nguồn” của dân tộc ta

Qua dạy học lịch sử giai đoạn này, cũng cần giáo dục học sinh niềm tinvào chính nghĩa và có thái độ đúng đắn đối với bọn đế quốc xâm lợc Ngoài racòn giáo dục cho học sinh thấy đợc sức mạnh tình đoàn kết của dân tộc tacũng nh của nhân dân 3 nớc Đông Dơng trong mặt trận chống kẻ thù chung,

Trang 26

sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới Thấy đợc những thành quả củacách mạng XHCN, từ đó có niềm tin vào CNXH, trung thành với con đờng và

lý tởng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn đó là độc lập dân tộc gắnliền với CNXH

* Về mặt phát triển

Dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 phải góp phần nângcao năng lực nhận thức, t duy lý luận, khả năng nhận xét, đánh giá các sự kiệnlịch sử cũng nh biết so sánh rút ra những điểm giống nhau và khác nhau củacác chiến lợc chiến tranh nh: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, ViệtNam hóa chiến tranh… mà Mỹ áp dụng ở Việt Nam Biết làm việc với đồdùng trực quan nh phân tích bản đồ, trình bày diễn biến các chiến dịch lớntrên bản đồ, biết làm việc với các tài liệu gốc, hoặc các nguồn tài liệu khácnhau Vì vậy, đòi hỏi học sinh phải có khẳ năng khái quát, hệ thống hoá kiếnthức, xâu chuỗi các sự kiện để tìm ra đợc mối liên hệ bên trong của các sựkiện, hiện tợng lịch sử

Tóm lại, giảng dạy lịch sử Việt Nam khóa trình này giáo viên cần phảibiết kết hợp nhiều phơng pháp dạy học nhằm kích thích tính tích cực, chủ

động của học sinh để nâng cao chất lợng dạy và học

2.1.3 Nội dung cơ bản của khóa trình

Cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nớc của dân tộc ta có thể chia thành 5giai đoạn nhỏ nh sau:

- Giai đoạn 1954 - 1960: Đây là giai đoạn gắn liền với việc đế quốc Mỹhất cẳng lực lợng thực dân Pháp còn lại ở Miền Nam Việt Nam, dựng lênchính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm thân Mỹ thay thế chính quyền Bảo Đạithân Pháp Về phía địch, đây là giai đoạn thờng gọi là “ lịchchiến tranh đơn ph-

ơng” hay “ lịchchiến tranh một phía” Mỹ - Diệm thiết lập chế độ độc tài gia đìnhtrị ở Miền Nam Chúng mở “ lịchchiến dịch tố cộng” đánh phá lực lợng nòng cốtcủa cách mạng, chúng lập nhiều s đoàn chuẩn bị “ lịchBắc tiến” nhằm biến MiềnNam Việt Nam thành căn cứ quân sự , thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ Vềphía nhân dân ta đây là giai đoạn đấu tranh chính trị là chính, bảo tồn lực lợngyêu nớc, đòi dân sinh, dân chủ, đòi thi hành các điều khoản Hiệp nghịGiơnevơ ở giai đoạn này, cách mạng Miền Bắc gặt hái đợc nhiều thành tựutrong công cuộc cải cách ruộng đất khôi phục kinh tế, bớc đầu cải tạo XHCN

và phát triển kinh tế, văn hoá Trong khi đó, cuộc đấu tranh của nhân dân

Trang 27

Miền Nam đang gặp nhiều khó khăn, tổn thất do chính quyền Diệm thi hànhchính sách phát xít, thẳng tay khủng bố nhân dân, tiêu diệt lực lợng cáchmạng Nhng với phong trào “ lịchĐồng khởi” cách mạng Miền Nam đã chuyểnsang một thời kỳ mới.

- Giai đoạn 1961 - 1965: Đây là giai đoạn Miền Bắc bớc vào kế hoạch

5 năm lần thứ nhất Những thành tựu đạt đợc trong kế hoạch này đã làm biến

đổi sâu sắc mọi mặt của kinh tế - xã hội Miền Bắc, đồng thời là cơ sở để MiềnBắc làm tròn nghĩa vụ hậu phơng lớn ở Miền Nam, đế quốc Mỹ thực hiệnchiến lợc “ lịchchiến tranh đặc biệt” với âm mu “ lịchdùng ngời Việt đánh ngời Việt”.Chiến lợc chiến tranh này đợc thực hiện qua 2 kế hoạch lớn là: kế hoạchXtalây - Taylo và kế hoạch Giônxơn - Mác Namara

Kế hoạch Xtalây - Taylo (năm 1961) dự định quét sạch lực lợng cáchmạng Miền Nam trong vòng 18 tháng Mỹ - Diệm tăng cờng nguỵ quân cao

độ (40 vạn) nhằm “ lịchtiêu diệt Việt cộng trong trứng nớc” Chúng bày ra chiếnthuật “ lịchphợng hoàng bay” tức là dùng trực thăng bất ngờ nhảy dù bắt du kích

và cán bộ Chúng lập hệ thống “ lịchấp chiến lợc” nhằm cắt đứt quan hệ giữa nhândân với lực lợng vũ trang của nhân dân, nhằm “ lịchtách cá khỏi nớc” Nhng kếhoạch đó đã thất bại trớc khí thế cách mạng của nhân dân Miền Nam Chiếnthắng ấp Bắc (21/1/1963) cho thấy vũ khí hiện đại và máy bay Mỹ khôngquyết định đợc thắng lợi

Kế hoạch Giônxơn Mác Namara ra đời thay thế cho kế hoạch Xtalây Taylo nhằm tăng cờng sự chỉ huy trực tiếp của Mỹ, ra sức bình định MiềnNam trong vòng 2 năm 1964 - 1965 Nhng với chiến thắng Bình Giã (Bà Rịa)

-từ khoảng tháng 12/1964 đến tháng 1/1965 quân dân ta đã làm thất bại kếhoạch này cũng nh làm thất bại hoàn toàn chiến lợc chiến tranh đặc biệt của

Mỹ - Nguỵ

- Giai đoạn 1965 - 1968: Đây là giai đoạn cả nớc có chiến tranh MiềnBắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ kết hợp với xâydựng CNXH, làm tròn nghĩa vụ hậu phơng Miền Nam chiến đấu chống chiếnlợc “ lịchchiến tranh cục bộ” của Giônxơn Đông Xuân 1965 - 1966, kẻ xâm lợc

mở cuộc “ lịchphản công chiến lợc mùa khô” (thứ nhất) nhằm “ lịchbẻ gãy xơng sốngViệt cộng” Nhng, cái bị bẻ gãy không phải là quân giải phóng mà chính làchiến lợc “ lịch5 mũi tên” [6,10] của Mỹ Bớc sang mùa khô năm 1966 - 1967,Chúng mở cuộc “ lịchphản công chiến lợc mùa khô” (thứ 2), cũng với mục tiêu

“ lịchtìm diệt” nh năm trớc Nhng chúng cũng không thể chuyển bại thành thắng,

Trang 28

mà bị thất bại nặng nề hơn Trên đà thắng to, trên thế chủ động ở chiến tr ờng,quân dân Miền Nam phấn khởi bắt đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồngloạt vào Xuân Mậu Thân (năm 1968) Cuộc tổng tấn công và nổi dậy năm

1968 đã làm cho sự bố trí chiến lợc của Mỹ ở Miền Nam bị đảo lộn và đặtGiônxơn vào một tình thế khốn đốn Giônxơn buộc phải ngừng ném bomMiền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari (13/5/1968) vàtuyên bố không ra tranh cử tổng thống năm 1968

- Giai đoạn1968 - 1973: Tiếp tục thời kỳ cả nớc có chiến tranh ở MiềnNam, Mỹ thực hiện chiến lợc “ lịchViệt Nam hoá chiến tranh” và “ lịchĐông Dơng hoáchiến tranh” can thiệp mạnh hơn vào Lào và uy hiếp Campuchia âm mu cơbản của Mỹ vẫn là “ lịchdùng ngời Việt đánh ngời Việt”, “ lịchdùng ngời Đông Dơng

đánh ngời Đông Dơng” với bom đạn, đô la Mỹ, do Mỹ chỉ huy và vì lợi íchcủa Mỹ Những chiến thắng của nhân dân 3 nớc Đông Dơng trong giai đoạnnày, đặc biệt là cuộc tiến công chiến lợc năm 1972 của quân dân Miền NamViệt Nam đã làm thất bại hoàn toàn âm mu của Mỹ ở Miền Bắc, tiếp tục bắttay vào hàn gắn vết thơng chiến tranh, đẩy mạnh xây dựng CNXH, chiến đấuchống chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của Mỹ và chi viện cho Miền Nam Đâycũng là giai đoạn ta tiến hành đấu tranh với Mỹ trên mặt trận ngoại giao Hộinghị Pari về Việt Nam đợc bắt đầu từ ngày 13/5/1968 trải qua tất cả 202 phiênhọp chung công khai, 24 cuộc tiếp xúc riêng, trong thời gian 4 năm 9 tháng

đến ngày 27/1/1973 Hiệp định Pari đợc ký kết, nhiệm vụ “ lịchđánh cho Mỹ cút”

đợc hoàn thành, mở ra khả năng lớn để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ “ lịchđánhcho Nguỵ nhào” giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nớc

- Giai đoạn 1973 - 1975: Đây là thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tếMiền Bắc, cả nớc dồn sức giải phóng hoàn toàn Miền Nam, giành toàn vẹnlãnh thổ tổ quốc Sau khi hoàn thành xong nhiệm vụ “ lịchđánh cho Mỹ cút”chúng ta lại tiếp tục thực hiện nhiệm vụ còn lại của cuộc kháng chiến là “ lịchđánhcho Nguỵ nhào” Ngay sau năm 1973, cả nớc ra sức chuẩn bị mọi mặt để bớcvào một trận đánh lớn Riêng ở Miền Nam, đến năm 1974, thời cơ thuận lợi đã

đến, Bộ chính trị đã kịp thời chớp lấy đề ra kế hoạch giải phóng Miền Namtrong vòng 2 năm, nhng lại nhấn mạnh “ lịchcả năm 1975 là thời cơ” và chỉ rõ

“ lịchnếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng MiềnNam trong năm 1975” Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 đãdiễn ra với tốc độ “ lịchmột ngày bằng 20 năm” với 3 chiến dịch lớn: Chiến dịchTây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng và chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh

Trang 29

đánh vào Sài Gòn giành thắng lợi hoàn toàn Nguỵ quyền bị sụp đổ, MiềnNam đợc giải phóng, đất nớc ta đợc thống nhất.

Cần phải khẳng định rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc 1954

-1975 là một thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa dân tộc và quốc tế sâu sắc Thắng lợinày là kết quả của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó sự lãnh

đạo của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu

2.2 Một số nội dung văn học đợc sử dụng trong dạy học khóa trình

Để thuận tiện cho quá trình dạy học, chúng tôi lựa chọn trích dẫn một

số đoạn, bài tiêu biểu trong các tác phẩm văn học có thể minh họa cho các nộidung lịch sử, trình bày theo nội dung của bài của khóa trình lịch sử Việt Namgiai đoạn 1954 -1975 Qua đây, giúp giáo viên và học sinh có thể sử dụngtham khảo trong dạy và học khóa trình ở trờng PT

Bài 24: Miền Bắc thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội, Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm, gìn giữ hoà bình (1954 -1960)

I Tình hình và nhiệm vụ cách mạng nớc ta sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dơng

Sau chiến thắng quân sự ở Điên Biên Phủ dẫn tới chiến thắng chính trị ởGiơnevơ, Miền Bắc đợc giải phóng ở Niềm Nam, Đế quốc Mỹ âm mu dập tắtphong trào cách mạng, biến nơi đây làm thuộc địa kiểu mới làm căn cứ tấncông Miền Bắc và hệ thống XHCN Cách mạng ở mỗi miền có nhiệm vụ chiếnlợc riêng nhng phối hợp chặt chẽ với nhau

Việt Nam chôn rau cắt rốn giữa rừng.

Trong giai đoạn này nớc ta đã trải qua một cơn biến động xã hội lớntrong lịch sử Đất nớc ta tạm thời bị chia cắt làm 2 miền với 2 nhiệm vụ chínhtrị khác nhau Trớc thực tế lịch sử đó nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

Trang 30

“ lịchChúng muốn xé bản đồ ta làm hai nửa Tổ quốc

Xé thân thể ta thành máu thịt đôi miền”

(Chế Lan Viên - Đừng quên)Hay Tố Hữu cũng viết rằng:

“ lịchAi vô đó, nói với đồng bào, đồng chí

Nói với nửa - Việt Nam yêu quý

Nớc ta là của chúng ta Nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà Chúng ta, con một cha, nhà một nóc Thịt với xơng, tim, óc dính liền”

(Ta đi tới - Tố Hữu)Thịt, xơng, tim, óc vốn là những bộ phận tạo thành cơ thể con ngời đã

đợc các nhà thơ miêu tả nh những bộ phận của cơ thể Tổ quốc Điều đóchứng tỏ ý niệm về Tổ quốc của các nhà thơ trở nên hết sức thiêng liêng, đốivới họ Tổ quốc là một cơ thể sống, không thể chia cắt đợc, giống nh:

Mẹ yêu mẹ đợi chờ Con yêu con phấn đấu Hai tấm lòng ớc mơ

Một ngày mai đoàn tụ ” [7,126 -127]

Hay với tập thơ “ lịchMũi Cà Mau” Xuân Diệu đã làm cho hình ảnh đất nớchiện lên thật cụ thể, sâu sắc:

“ lịchĐất nớc trong tôi là một khối

Dòng sông Bến Hải chảy qua tim”

ở đây Xuân Diệu đã chỉ ra kẻ thù của dân tộc lúc này là đế quốc Mỹ vàbọn tay sai đang tìm cách chia cắt đất nớc, hại dân Xuân Diệu một mặt thểhiện tình cảm của mình với Miền Nam nhng mặt khác cũng bộc lộ lòng cămgiận kẻ thù, tình cảm xót xa của mình trớc cảnh đồng bào Miền Nam đangtrong nớc sôi, lửa bỏng:

Sao tôi chỉ có hai bàn tay

“ lịch

Trang 31

Sao tôi chỉ có trái tim này Tôi muốn khóc thành rừng, thành lửa Thành cơn thịnh nộ đất đá bay”

Và Xuân Diệu đã nhìn thấy đúng hiện thực của Miền Nam đó là lòngthuỷ chung và niềm tin không gì lay chuyển đợc của nhân dân đối với sựnghiệp đấu tranh thống nhất nớc nhà Một ngời phụ nữ mặc áo sờn vai, theo

Đảng nuôi con ngày ngày tâm niệm:

“ lịchMột nửa quê hơng em quyết bảo toàn

Trao lại tay anh ngày về thống nhất” [22,111]

Mặt khác, Tổ quốc còn đợc quan niệm nh một con ngời đang vơn mình

đứng dậy:

N

“ lịch ớc Việt Nam từ trong máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng loà”

(Đất nớc - Nguyễn Đình Thi)

II Miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất (1954 -1960)

1 Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thơng chiến tranh (1954 - 1957)

Phản ánh nhịp sống hối hả, hăng say của không khí lao động, sản xuất,xây dựng CNXH trên Miền Bắc, trong bài thơ “ lịchMời năm” ta đợc chứng kiến

sự thay da đổi thịt của Miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ:

“ lịchTôi đứng giữa bốn bề ánh điện

Nhìn mênh mông nh đứng giữa ban ngày Hải Phòng, Hòn Gai, Uông Bí

Một vùng công nghiệp của ta”

(Mời năm - Lê Anh Xuân)

2 Cải tạo quan hệ sản xuất, bớc đầu phát triển kinh tế - xã hội (1958 -1960)

Trong 3 năm tiếp theo (1958 -1960), Miền Bắc lấy cải tạo XHCN làmtrọng tâm Giáo viên có thể đọc các câu thơ sau của Tế Hanh để thấy rõ hơnquá trình cải tạo quan hệ sản xuất, bớc đầu phát triển kinh tế - xã hội:

Trên đ

“ lịch ờng xã hội chủ nghĩa chúng tôi đi tới Cần có thêm xe, có thêm lúa, có thêm nhà

Có thêm ngừơi, có thêm sách, có thêm hoa Thêm tình yêu và có thêm hạnh phúc ” [7,179]

Trang 32

Nói về chủ trơng hợp tác hoá nông nghiệp, tác giả viết:

Cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp đợc tiến hành theo nguyên tắc

tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ cho nên đời sống nông thôn ở MiềnBắc đã có nhiều đổi mới Trong “ lịchBài thơ tháng Bảy” Tế Hanh đã miêu tả vềcuộc sống mới ở Miền Bắc XHCN:

Nửa đất n

“ lịch ớc thân yêu theo bánh chuyển Tới tơng lai trong nhịp hát công trờng Ngày lao động ngon lành nh trái chín Trĩu cây đời quấn quít những cành thơng Vành đai trắng đã xanh rờn ruộng lúa

Tổ đổi công vui tiếng học i tờ Vơn nhịp mới cầu nối bờ thơng nhớ Than mấy tầng đen nhánh ánh thi đua ” [7,187]

III Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm, gìn giữ và phát triển lực lợng cách mạng tiến tới Đồng khởi (1954 -1960)“ lịch ”

1 Đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm, gìn giữ và phát triển lực lợng cách mạng (1954 -1959)

Từ những ngày sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Thanh Hải đã ghi lạimột cuộc bãi thị:

Chợ ta ngày ấy vắng tanh

“ lịch

Em không đi bán theo anh dặn dò” [22,165]

Đó là một trong những hình thức đấu tranh chính trị của đồng bào MiềnNam dựa trên cơ sở pháp lý của Hiệp định Giơnevơ

Trang 33

Cuối năm 1959 đầu năm 1960, ca dao và thơ quần chúng phản ánh rõkhí thế cách mạng đi lên, phản ánh những cuộc đấu tranh mạnh mẽ của quầnchúng cách mạng:

Nửa khuya gà gáy rộn vang

“ lịch

Giật mình sửa soạn hành trang lên đờng Một tay chị giữ lá đơn

Một tay vỗ nhẹ vai chồng gửi con.” [22,41]

Ngời phụ nữ gửi con cho chồng để vào thị xã đấu tranh, còn anh thanhniên ốm liệt lại nằm mơ tấn công:

Cơm trắng không màng, cháo cũng không

“ lịch

Thịt heo bảo đắng, cá tanh nồng Nằm nghe đơn vị bàn chiến đấu Vùng dậy xin vào A thọc hông.“ lịch ” [22,41]

Tế Hanh thì lại viết:

Khi quê h

“ lịch ơng đứng lên nh sóng bể Cuộc mít tinh sôi sục vạn con ngời Con tin là mẹ trong đó, mẹ ơi!

Nh cây chuối nhiều tàu, lá lành che lá rách [” 7,225]

2 Phong trào Đồng Khởi (1959 - 1960)“ lịch ”

- Khi chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật 10/59, đặt cộng sảnngoài vòng pháp luật, cho phép thẳng tay giết hại bất cứ ngời yêu nớc nào, bất

cứ ai có biểu hiện chống lại chúng, làm cho hàng vạn cán bộ, đảng viên bị giếthại, hàng chục vạn đồng bào yêu nớc bị tù đày Sự có mặt của đế quốc Mỹ vàtay sai đã làm nên những trang đau thơng của dân tộc Việt Nam Bất cứ nơi đâucũng hằn sâu dấu chân quỷ dữ Chúng ta thấy không ngày nào mà không cónhững thân thể bị tra tấn bắn giết, xác phơi đầy đồng, thây đầy lạch sông:

Năm năm qua Trời năm năm khủng khiếp!

“ lịch

Quê ta trong lửa bỏng dầu sôi Bọn Mỹ - Nguỵ thẳng tay bắn giết Không ngày nào không máu chảy xơng rơi” [7,297]

Chính sách “ lịchtố cộng”, “ lịchdiệt cộng” với phơng châm: “ lịchbắn nhầm cònhơn bỏ sót” thì đâu đâu mạng sống của con ngời cũng mong manh nh lá mỏngcành khô:

Đợt tố cộng nh

“ lịch một cơn gió chớng Mạng con ngời nh lá rụng cành khô

Đợt dinh điền tiếp theo: dòng nớc cuốn

Trang 34

Ngời sống không nơi, ngời chết không mồ Xóm bên Đông có đứa con khóc mẹ

Xóm bên Tây có ngời mẹ khóc con Chồng thơng vợ nh cành cây gió bẻ

Vợ thơng chồng không nắm đất vùi thân” [7,297]

Hay trong bài “ lịchMẹ mãi còn” Tế Hanh viết:

Mẹ còn không sau những ngày năm bảy (57)

“ lịch

Đợt tố cộng dìm quê ta trong máu chảy?“ lịch ”

Mẹ còn không sau những ngày năm chín (59), Mẹ ơi Khi quân thù đem cọc tre, thép gai

Dồn dân chúng trong khu trù mật“ lịch ” [7,244 -245]

Đồng bào Miền Nam đã nói không ngoa rằng: “ lịchChế độ Mỹ - Diệm làmột lò sát sinh man rợ nhất trên trái đất ngày nay” [22,127] Thật vậy, tội áccủa Mỹ - Diệm nhiều nh lá rừng mỗi bức th đều có vạch ra Thử đọc vài đoạn

th: “ lịchAnh Ty ở Hiệp Hng bị chúng bắt đè ra mổ bụng, cắt gan Anh chạy

hoảng, la thất thanh, máu ở ruột tuôn xối ra Anh ngã ra chết giữa tiếng reo

c-ời thú vật của bọn giặc ở Long Mỹ, bọn Mỹ - Diệm cắt cổ 26 thanh niên, máu đỏ ngầu cả một khúc mơng vờn ( ) Một chị phụ nữ, có thai gần ngày sanh chống cự lại khi chúng hãm hiếp, chúng bắn chết chị ấy Thai trong bụng ngột hơi đạp, chúng liền lấy chày vồ đập xuống bụng chị làm thai vọt ra, chúng đứng chống nạnh cời thích thú!” [22,127] Hay đoạn: “ lịchTôi có đến thôn T.D trớc đây 3 năm, bọn Mỹ - Diệm kéo quân về thôn này bắt tất cả đàn ông

từ 17 tuổi trở lên đợc 350 ngời Sau khi đánh đập tàn nhẫn ngời thì bể đầu, ngời gẫy chân tay, chúng đẩy cả đoàn ngời vô tội ấy xuống những hầm cạn trong một đám ruộng lầy Chúng đem hai đôi trâu mắc vào hai cái bừa rồi bừa lên đầu đám ngời ấy Máu loang ra lênh láng cả đám lầy Những tiếng

rú ghê hồn Đến 12 giờ tra không một thân ngời nào còn nguyên vẹn nữa, mà

2 đôi trâu cũng chết Đám ruộng lầy đã thành một bể máu! Nhân vị của“ lịch ”

bọn Mỹ -Diệm là thế đó” [22,127] Tội ác của kẻ thù đối với phụ nữ cũng

thật đáng ghê tởm: “ lịchở Điện Bàn, chị Th có mang 7 tháng, bị chúng bắt tra

tấn suốt mấy ngày; Cuối cùng chị bị một cú đá giày vào bụng, đứa con ch a

đủ tháng bị phọt ra ngoài Chị cầm cái thai, vừa rú lên vừa chạy ra ngoài đ ờng Một loạt tiểu liên bắn theo, chị ngã chết.” (Th Quảng Nam, Tập II) “ lịchở Thăng Bình chị T bị chúng cột chặt đầu ống quần lại, bỏ vào trong 5 con

Trang 35

-rắn Chị ngã ra chết ngất Đến nay, đêm đến là chị rùng mình, đang ngủ vùng dậy kêu la: Nó nhiều quá nhiều quá! “ lịch ” (Th Quảng Nam, Tập II).

Bọn địch còn tạo ra một tục dã man kinh khủng: Tục ăn thịt ngời “ lịchở

một thôn trong huyện Tam Kỳ, bọn biệt kích kéo đến càn quét, bắn giết tàn sát thả cửa, rồi chúng bắt hai ngời đem chặt ra từng khúc nhỏ, bỏ vô chảo, nấu

ăn uống rợu! Chúng còn bắt đồng bào ăn nữa, nếu ai không ăn là còn thơng Việt cộng” (Th Quảng Nam, Tập II), chúng lại còn đua nhau buôn mật ngời Giành nhau một cái mật, chúng có thể đâm chém nhau, bắn nhau, bởi vì một

“ lịch

cái mật có thể bán 1000 đồng

- Nói về phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, tập bút kí, “ lịchCửu Long cuộnsóng” của Trần Hiếu Minh phản ánh: Bến Tre là tỉnh giàu ngời, giàu của vàgiàu truyền thống đấu tranh của Nam Bộ Sông Cửu Long xuống đến đồngbằng Nam Bộ thì xoè ra nhiều nhánh Nằm xen vào giữa 4 nhánh sông Tiền,sông Ba Lai, sông Hàm Luông, Sông Cổ Chiên là Cù Lao Minh, Cu Lao Bảo

và Cù Lao An Hoá Tỉnh Bến Tre gồm 3 Cù Lao đó Bến Tre là tỉnh vùng dậysớm nhất ở Nam Bộ trong phong trào Đồng Khởi

“ lịchNgọn lửa Mỏ Cày” là tác phẩm phản ánh không khí đấu tranh âm ỷcủa đồng bào Miền Nam, từ đầu những ngày sau Hiệp nghị Giơnevơ năm

1954, đến đầu năm 1960 thì cháy bùng lên Ngọn lửa Đồng Khởi này lan ra

khắp tỉnh Bến Tre, lan khắp Nam Bộ và Miền Nam “ lịchNgọn lửa đã lan ra, âm ỷ

nh lửa than đớc Cà Mau, hừng hực lửa đồng cỏ Tháp Mời, nh lửa cháy rừng Trờng Sơn, nh lửa đấu tranh trên đờng phố Huế, Sài Gòn ” [22,185] Ngọn

lửa cứ nh vậy mà bùng lên, lan ra, thiêu đốt kẻ thù, làm sáng cả đất, rừng, làngquê

“ lịchNgọn lửa Mỏ cày” là bài ký ghi lại bớc chuyển biến cách mạng củahuyện Mỏ Cày, phản ánh cả hai mặt áp bức và chống áp bức, có cái khôngkhí nặng nề của những ngày địch o ép và cái không khí phơi phới vùng lên

của quần chúng Đồng Khởi Tác giả đã dùng hình ảnh so sánh: “ lịchBến Tre là

rừng dừa, mỗi cây dừa đều có thể khắc trên thân cây một bia căm thù”

[22,285] Hầu hết các gia đình ở Bến Tre đều có hình ngời chết đặt trên bànthờ hoặc treo ở một chỗ trang trọng nhất Đó là hình ngời nhà bị Mỹ và taysai giết chết

Bài 25: Xây dựng CNXH ở Miền Bắc, chiến đấu chống chiến lợc chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ ở Miền Nam (1961 -1965)

Trang 36

I Miền Bắc xây dựng bớc đầu cơ sử vật chất - kỹ thuật của CNXH (1961 -1965)

2 Miền Bắc thực hiện kế hoạch nhà nớc 5 năm (1961 -1965)

Sau khi đợc giải phóng, nhân dân miền Bắc bớc vào thời kỳ xây dựngcuộc sống mới Sau kế hoạch nhà nớc 5 năm (1961 -1965) Đất nớc lúc nàyhiện lên với vẻ đẹp sinh sôi, ngày ngày thay da đổi thịt, từ rừng núi Việt Bắc

đến núi đồi Điện Biên đã xanh màu cuộc sống, từ màu xanh bát ngát của rừngnúi Trờng Sơn đến màu xanh vô tận của biển trời, hải đảo đâu đâu ta cũngthấy Tổ Quốc đang vơn mình đứng dậy nh đất trời trong buổi sớm bình minh.Nhà thơ Chế Lan Viên viết:

Ngày sinh nhật tháng năm đồng bằng Bắc Bộ“ lịch

Lúa chiêm phơi chiếu bạc chiếu vàng Tháp Trung Châu những xóm làng thoát khổ Hết đêm rồi đời lại giở sang trang

Tôi ra bể cá nồng hơi gió biển Sóng du dơng ca đất nớc mạnh giàu Chim bạn hữu rực cờ bay quốc tế

Ôi quê hơng nh hải cảng lắm tàu”

Tố Hữu lại thiên về vẻ đẹp cuộc sống mới dới bầu trời tự do - độc lập:

Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi

“ lịch

Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt Nắng chiếu sông Lô hò ô tiếng hát Chuyến phà rào rạt bến nớc bình ca”

(Ta đi tới - Tố Hữu)

Đúng nh Hồ Chủ Tịch nhận định tại Hội nghị chính trị đặc biệt tháng3/1964: “ lịchTrong 10 năm qua, miền Bắc nớc ta đã tiến những bớc dài chatừng thấy trong lịch sử dân tộc Đất nớc, xã hội và con ngời đều đổi mới”.Nhà thơ Tế Hanh đã ca ngợi quê hơng miền Bắc sau kế hoạch 5 năm nhsau:

Lúa mùa đang ngậm đòng đòng

Trang 37

Theo con đờng đỏ, qua khe, về chuồng” [7,202]

Trong bài nói chuyện tại Đại hội liên hoan chiến sĩ thi đua toàn quốc

Hồ Chí Minh có viết bài thơ “ lịchcông nông binh thi đua” ca ngợi cuộc sống xâydựng ở miền Bắc:

Công nhân phất cao ngọn cờ Duyên Hải

“ lịch

Nông dân phất cao ngọn cờ Đại Phong

Bộ đội anh hùng phất cờ Ba Nhất Công nông binh đại thi đua, đại đoàn kết Chủ nghĩa xã hội nhất định đại thành công Bắc Nam nhất định sẽ thống nhất, non sông một nhà” [11,84]

Hay trong bài “ lịchThơ mừng xuân 1962” Bác Hồ lại viết:

Chúc miền Bắc đua phấn khởi

“ lịch

Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới Sức triệu ngời hơn sóng biển Đông Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi Hoà bình thống nhất quyết thành công” [11,85]

II Miền Nam chiến đấu chống chiến lợc Chiến tranh đặc biệt của“ lịch ”

đế quốc Mỹ (1961 -1965)

1 Chiến lợc Chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ ở Miền Nam“ lịch ”

Trong chiến lợc “ lịchChiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ đáng chú ý nhất

là “ lịchấp chiến lợc” Ca dao của quần chúng nhân dân chống chính sách di c, lậpdinh điền, lập khu trù mật của Mỹ - Diệm, chống cái gọi là “ lịch Quốc sách ấpchiến lợc” của Mỹ - Diệm; chống tập trung dân vào ấp chiến lợc, nhân dânkiên quyết bám đất, bám ruộng vờn

Dân ta chỉ biết cụ Hồ mà thôi” [22,39].

Hay trong tác phẩm “ lịchGiấc mơ ông lão vờn chim”, Anh Đức viết: Khi ta“ lịch

cảm thụ hết chữ đất, ta sẽ không lấy làm lạ khi gặp trên đờng các chiến sĩ quá trẻ, hầu hết là con cái nông dân đang lớp lớp tiến ra mặt trận Tất cả những

Trang 38

cái đó không ngoài mục đích giành lại sự sống - mà sự sống ở Miền Nam này gần nh 100% là trông cậy ở cây lúa mọc lên từ các mảnh ruộng” [22,262].

Viết về quá trình dồn dân lập “ lịchấp chiến lợc”, của Mỹ - Nguỵ, Tế Hanh

ra sức tố cáo những hành động tàn bạo của chúng Chúng bắt nhân dân ta lìa

xa nhà cửa, dồn dân lập ấp, mọi sinh hoạt của con ngời nằm trong sự kiểmsoát của giặc Những ngời dân vô tội bị chúng coi nh những con vật vô tri, vôgiác không biết phản ứng, không có khả năng kháng cự

Quân c

“ lịch ớp nớc bắt lìa nhà cửa Chúng dồn dân lần nữa là ba Ban ngày chúng thả cho ra

Đêm vào đồn ngủ nh là bò trâu” [7,119]

Nguyễn Thi đã tái hiện lại cuộc sống đầy o ép, chật chội, bức bối, ngộtngạt của nhân dân ta trong ấp chiến lợc của Mỹ - Diệm trong những năm 1954-1968, trong chủ trơng dồn dân khoanh vùng cô lập cách mạng của kẻ thù:

“ lịchKhông biết ăn trầu, Hạnh cũng ăn cho mồm miệng tèm lem Chị đi vẩn quần

vo áo cụt Tóc hầm hập những nắng Trong cảnh hổn độn ầm ầm những tiếng khóc, tiếng chửi, tiếng xe giặc rú, tiếng súng nổ, tiếng xoang xoảng của đống kẽm gai, cọc sắt, xi măng và đá xây dựng Trong những căn nhà còn liệng bừa bãi những chăn màn và quần áo rách, trên những con đờng nham nhở dậy lên mùi phân, mùi nớc đái và chỗ nào cũng gặp những ngời mẹ chạy tìm con”

[19,450]

Để thấy đợc cảnh nhân dân ta phải sống cơ cực nh thế nào dới vòngkiểm soát của Mỹ - Diệm trong các ấp chiến lợc Nguyễn Thi đã sử dụng từ láy

“ lịchlộp cộp” Nó gợi ra chuỗi ngày dài với bao cơ cực của ngời dân Nam Bộ dới

ách kìm kẹp của kẻ thù, gây cảm giác về một thứ âm thanh với sự đe doạ ờng trực đối với ngời dân khi phải đối diện với thực tại cuộc sống Đúng là

th-“ lịchNhững tiếng lộp cộp nh bẻ gãy từng khúc đời ngời” [19,452]

Lộp cộp, thằng bé con nhà ai bị lính đánh, tay b“ lịch ng cơm miệng mếu máo chạy qua Lộp cộp, lại một bà tay bồng, tay dắt con từ ngoài đồng đi về, nớc mắt đỏ hoe, mình ớt loi ngoi, lóp ngóp Lộp cộp, bò đôi ngời ta dùng kéo

xe, lính nó bắn chết con, giờ chỉ còn một con ngơ ngác Lộp cộp, sáng dân ra chiều dân về Lộp cộp, về sớm thì không có ăn, về muộn thì lính nó đánh”

[19,452]

Không những thế ngời dân còn bị giết hại dới bàn tay tội ác của giặc:

“ lịchTang cha còn trắng trên đầu

Đến chồng bị giết mẹ rầu chết theo” [7,120]

Trang 39

Trong bài “ lịchMẹ mãi còn”, tác giả viết:

Mẹ còn không sau những ngày sáu mốt (61)“ lịch

Chúng dội bom, rải chất độc lan tràn Hay mới đây trong những trận càn

ấp chiến lợc, mẹ còn không hỡi mẹ?” [7,125]

Trong bài “ lịchBài thơ tháng bảy”, tác giả viết:

U uất ngục tù ấp chiến l

Thù này lấy biển mà đo chửa vừa” [7,122]

Hay nh trong tác phẩm “ lịchNgời đàn bà Ninh Thuận” Tế Hanh tổng kết:

Bao giờ lệnh tổng phản công

“ lịch

Chắc là đá cũng xuống đồng giết Tây Núi rừng tất cả lá cây

Không ghi hết tội của bầy chó kia ” [7,122]

2. Miền Nam chiến đấu chống chiến lợc Chiến tranh đặc biệt của“ lịch ”

Mỹ

Có thể nói, cuộc đấu tranh chống và phá “ lịchấp chiến lợc” diễn ra gay goquyết liệt giữa ta và địch Bên cạnh đó phong trào đấu tranh chính trị của cáctầng lớp nhân dân trong các đô thị, cả ở những thành phố lớn nh Sài Gòn, Huế,

Đà Nẵng có những bớc phát triển mạnh mẽ, nổi bật nhất là đấu tranh của cáctín đồ Phật giáo, của “ lịchđội quân tóc dài” chống lại sự đàn áp của chính quyềnDiệm

Trong nhiều bài ký nh: Khi giặc Mỹ đến nhà; Chiến thắng; Sóng CửuLong, tác giả Trần Hiếu Minh đã cho ngời đọc thấy đợc phong trào đấu tranh

chính trị của các bà, các chị nh chị Ba, chị Bảy, chị Hai Chị Ba đi tù “ lịchTừ

khám lá Bến Tre, lên nhà lao Chí Hoà, rồi bị đa xuống Định Tờng, lại trở lên Chí Hoà ” Địch đánh đập, tra tấn chị đủ cách, đủ kiểu vẫn không khai thác

Trang 40

đợc gì Chị Bảy đã tham gia ít ra là 200 cuộc đấu tranh từ ngày Đồng Khởi,

nhng khi hỏi về chuyện đó thì chị lại nói: Chị tối dạ lắm, chị dễ“ lịch quên lắm”

[22,286] Hay nh chị Hai cũng ngoài 40 tuổi, mới đợc học chữ, cha ghi chép

đợc, vậy mà “ lịchcả mời mấy khẩu hiệu đấu tranh chính trị chị đọc lại cho mọi

ngời học, không sai sót một chữ” [22,286] Trong một cuộc đấu tranh vào thị

xã, bọn địch bắt tất cả các bà, các chị vào sân bay, rồi một tên đứng lên trớcmáy phóng thanh kể, nào “ lịchViệt cộng xấu, quốc gia và ngời Mỹ tốt” Chị Hailiền nhảy vào giữa vòng vây súng ống của chúng, chị giằng lấy ống nói:

“ lịchPhải, tôi cũng đồng ý là ngời Mỹ tốt, nhng có hai thứ Mỹ ( ) Thứ Mỹ qua

đây, đem máy bay, bom đạn bắn phá, rải thuốc độc cho chết đồng bào ta, h lúa, h dừa, chết heo, chết vịt của ta, thứ Mỹ đó xấu Đả đảo thứ Mỹ đó!

Có thể nói phong trào đấu tranh chính trị ở Miền Nam Việt Nam pháttriển rất mạnh mẽ, với nhiều hình thức đấu tranh phong phú, có những “ lịchNgời

điên” vẫn tham gia đấu tranh Hãy nghe bà Năm kể: Năm 50 Tây đóng bốt“ lịch

trong xã, em bịnh, em lên chùa 2 năm rồi phát điên ( ) Rồi em nghe bên tai

có tiếng thì thầm biểu em: Này con! Ta là quan thế Âm Bồ Tát, ta nói cho con“ lịch

biết: Con ở chùa chữa không lành đâu, về mà tìm cụ Hồ ” [22,287] Bà Nămvẫn làm việc nhà, đi chợ, khi gặp chuyện bất bình mới nổi cơn điên Bọn địchnghi ngờ rình quanh nhà bà Chúng thấy bà thức suốt đêm, ca hát nhảy múa,truyền lệnh Bà hay nhắc đến Hồ Chủ Tịch, địch cấm không đợc Có khi bọn

địch nói láo động đến Hồ Chủ Tịch, bà nổi lên la làng: “ lịchTụi bay mới chết Tụi

bay sống nhăn đó nhng đã chết rồi Còn Cụ Hồ thì không bao giờ! đồng bào còn đánh Tây, đánh Mỹ thì cụ còn Ngời nh Cụ thì lúc nào cũng còn!”

[22,287]

Nhà văn Anh Đức đã nói về khí thế đấu tranh, thái độ ung dung trầm

tĩnh của các mẹ, các chị “ lịchKhí thế chánh trị của ta là ở mái chèo vỗ sóng, vỗ

nớc, ở rừng xuồng ghe lao mũi tới nh tên bắn, ở sự ung dung tự tin của các bà

mẹ ngồi trên xuồng đi đấu tranh vẫn điềm nhiên ngoáy trầu ăn và các cô gái vừa bơi vừa sửa lại khăn đội đầu cho ngay ngắn ” [22,249 -250]

Không những thế trong giai đoạn này còn diễn ra cuộc đấu tranh trongcác nhà lao của Mỹ - Diệm đó là cuộc đấu tranh trong lý tởng của những ngờicộng sản

Trong truyện ký “ lịchSống nh Anh” do Trần Đình Vân ghi lại cuộc đời củaNguyễn Văn Trỗi, tập trung mô tả đoạn cuối đời anh từ khi anh bị địch bắt chotới khi anh ra pháp trờng (từ 10 -3 -1964 đến 15 -10 -1964), nhất là chín phút

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Hải Châm, Nguyễn Xuân Trờng (2006), Đổi mới phơng pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn lịch sử lớp 10, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phơng pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn lịch sử lớp 10
Tác giả: Hải Châm, Nguyễn Xuân Trờng
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
[2] Đỗ Ngọc Đạt (2000), Bài giảng lý luận dạy học hiện đại, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lý luận dạy học hiện đạ
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
[3] Phạm Văn Đồng, “Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Đại hội anh hùng và chiến sỹ thi đua chống Mỹ cứu nớc”, Báo Nhân dân ngày 9/1/1967 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Đại hội anh hùng và chiến sỹ thi đua chống Mỹ cứu nớc”, "Báo Nhân dân
[4] Anh Đức (1969), Giấc mơ của ông lão vờn chim, NXB Giải phóng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giấc mơ của ông lão vờn chim
Tác giả: Anh Đức
Nhà XB: NXB Giải phóng
Năm: 1969
[5] Anh Đức (1965), Bài “Sài Gòn ta đó” - Bức th Cà Mau, NXB Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sài Gòn ta đó” - "Bức th Cà Mau
Tác giả: Anh Đức
Nhà XB: NXB Văn hoá
Năm: 1965
[6] Trần Văn Giàu (1978), Miền Nam giữ vững thành đồng, Tập V, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền Nam giữ vững thành đồng, Tập V
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1978
[7] Tế Hanh, Tuyển tập thơ (1997), NXB Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ (1997)
Tác giả: Tế Hanh, Tuyển tập thơ
Nhà XB: NXB Văn hoá
Năm: 1997
[8] Tế Hanh, Chính Hữu (2006), Tác phẩm văn học đợc giải thởng Hồ Chí Minh. XNB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học đợc giải thởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Tế Hanh, Chính Hữu
Năm: 2006
[9] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ "văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
[10] Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Th (2005), Đại cơng lịch sử Việt Nam từ 1945 - 2000, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử Việt Nam từ 1945 - 2000
Tác giả: Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Th
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
[11] Hồ Chí Minh (1970), Thơ, NXB Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Văn hoá
Năm: 1970
[12] Phợng Nguyên, Tạp chí Văn nghệ giải phóng, số 31 tháng 7/1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn nghệ giải phóng
[13] Mã Giang Lân (2000), Tế Hanh về tác giả và tác phẩm, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tế Hanh về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2000
[14] Nguyễn Văn Long, Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Phạm Thị Việt (2001), Đại cơng văn học, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Long, Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Phạm Thị Việt
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2001
[15] Phan Ngọc Liên (2003), Lịch sử và giáo dục lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và giáo dục lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
[16] Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2002), Phơng pháp dạy học lịch sử, Tập II, NXB Đại học S phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp dạy học lịch sử, Tập II
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học S phạm
Năm: 2002
[17] Phơng Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình (1997), Lý luận văn học, NXB Giáo dôc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phơng Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình
Nhà XB: NXB Giáo dôc
Năm: 1997
[18] Lê Ngọc Tông, “Đổi mới phơng pháp dạy học - đôi điều cần bàn thêm”, Nghiên cứu Giáo dục, số 18 tháng 12/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phơng pháp dạy học - đôi điều cần bàn thêm”, "Nghiên cứu Giáo dục
[19] Ngô Thảo (1996), Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi toàn tập, Tập II, NXB Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi toàn tập, Tập II
Tác giả: Ngô Thảo
Nhà XB: NXB Văn hoá
Năm: 1996
[20] Nguyễn Đức Thuận (1967), Bất khuất, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất khuất
Tác giả: Nguyễn Đức Thuận
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1967

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

thể tự lập bảng “bút ký khoa học” [23,275] không chỉ nêu rõ kết quả đọc sách mà còn chuẩn bị cho việc trình bày nội dung sách, cho việc trao đổi, thảo luận,  học tổ. - Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khoá trình lịch sử việt nam giai đoạn 1954   1975 (sách giáo khoa lịch sử 12   nâng cao)
th ể tự lập bảng “bút ký khoa học” [23,275] không chỉ nêu rõ kết quả đọc sách mà còn chuẩn bị cho việc trình bày nội dung sách, cho việc trao đổi, thảo luận, học tổ (Trang 85)
- Tình hình nớc ta sau hiệp định Giơnevơ 1954? Nhiệm vụ cách mạng của 2 miền trong thời kỳ mới? - Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khoá trình lịch sử việt nam giai đoạn 1954   1975 (sách giáo khoa lịch sử 12   nâng cao)
nh hình nớc ta sau hiệp định Giơnevơ 1954? Nhiệm vụ cách mạng của 2 miền trong thời kỳ mới? (Trang 93)
đến cuối 1964, theo bảng số liệu - Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khoá trình lịch sử việt nam giai đoạn 1954   1975 (sách giáo khoa lịch sử 12   nâng cao)
n cuối 1964, theo bảng số liệu (Trang 97)
1965) từ sau cuộc đảo chớnh nội cỏc nguỵ quyền đó cú đến 10 cuộc đảo chớnh. Sau  - Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khoá trình lịch sử việt nam giai đoạn 1954   1975 (sách giáo khoa lịch sử 12   nâng cao)
1965 từ sau cuộc đảo chớnh nội cỏc nguỵ quyền đó cú đến 10 cuộc đảo chớnh. Sau (Trang 99)
Nhìn vào bảng so sánh, chúng ta thấy kết quả học tập của lớp 12A1 (lớp thực nghiệm) cao hơn lớp 12A4 (lớp đối chứng) - Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khoá trình lịch sử việt nam giai đoạn 1954   1975 (sách giáo khoa lịch sử 12   nâng cao)
h ìn vào bảng so sánh, chúng ta thấy kết quả học tập của lớp 12A1 (lớp thực nghiệm) cao hơn lớp 12A4 (lớp đối chứng) (Trang 99)
Một số hình ảnh t liệu minh họa - Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khoá trình lịch sử việt nam giai đoạn 1954   1975 (sách giáo khoa lịch sử 12   nâng cao)
t số hình ảnh t liệu minh họa (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w