1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học khóa trình lịch sử việt nam giai đoạn 1858 1918 (lớp 11 nâng cao)

106 1,5K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918 (lớp 11 nâng cao)
Tác giả Hoàng Thị Sinh
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Hà, PTS.
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 461 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử là phương pháp phát huy tínhtích cực học tập của học sinh một cách có hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực tưduy của học sinh.Thông qua c

Trang 1

rờng đại học vinh Khoa Lịch sử

- -HOÀNG THỊ SINH

KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SỬ DỤNG TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG DẠY HỌC KHOÁ TRèNH LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1858 – 1918(LỚP 11 –

NÂNG CAO)

CHUYấN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ

VINH - 2010 LỜI CẢM ƠN

Trang 2

Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhậnđược sự động viên, giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn, các thầy cô giáotrong khoa lịch sử, gia đình và bè bạn tôi.

Lời đầu tiên, cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo NguyễnThị Hà - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiệnkhoá luận này

Và tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa, gia đình

và bè bạn tôi đã luôn ở bên cạnh, động viên, ủng hộ tôi trong thời gian qua.Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh lớp

11 trường THPT Bỉm Sơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực nghiệmkhoá luận

Là một sinh viên, lần đầu tiên làm quen với một đề tài khoa học ứngdụng nên bản thân không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mongđược sự đóng góp ý kiến chân thành của quý thầy cô và bạn bè để đề tài nàyđược hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5 năm 2010

Sinh viên thực hiện

Hoàng Thị Sinh

MỤC LỤC

Trang 3

Trang A Mở đầu……… 01

B Nội dung……… 07

Chương 1: Vấn đề sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT: lí luận và thực tiễn……… 07

1.1 Cơ sở lí luận……… 07

1.1.1 Khái niệm tài liệu và tài liệu tham khảo………… … 07

1.1.2 Ý nghĩa của sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT……… … 08

1.1.3 Các loại tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT…… 10

1.2 Thực tiễn sử dụng tài liệu tham khảo ở trường THPT… 13

1.2.1 Kết quả điều tra……… 13

1.2.2 Hạn chế, khuyết điểm…….……… 15

Chương 2: Các loại tài liệu tham khảo sử dụng trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918 (lớp 11 - nâng cao)……… 17

2.1 Cơ sở khoa học để xác định các loại tài liệu tham khảo trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918 (lớp 11 - nâng cao) 17

2.1.1 Nội dung của khoá trình……… 17

2.1.2 Mục đích, yêu cầu của khoá trình………19

2.1.3 Căn cứ vào trình độ nhận thức, đặc điểm tâm lí học sinh………22

2.1.4 Căn cứ vào điều kiện dạy học……… 23

2.2 Các loại tài liệu tham khảo sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918 (lớp 11 - nâng cao)………… 24

Trang 4

Chương 3: Phương pháp sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học khoá

trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918 (lớp 11 - nâng cao)… 58

3.1 Những nguyên tắc cần tuân thủ trong sử dụng tài liệu tham khảo… 58

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính cơ bản……… 58

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học……… 59

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức………59

3.1.4 Nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh……… 60

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi……… 60

3.2 Phương pháp sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918 (lớp 11 - nâng cao)………… 61

3.2.1 Sử dụng trong bài nội khoá……… 61

3.2.2 Sử dụng trong bài ngoại khoá……… … 71

3.3 Thực nghiệm sư phạm……….78

C Kết luận……… 93

Tài liệu tham khảo……….95

Trang 6

học kỹ thuật, của nền văn minh tin học, thì một trong những nhiệm vụ trọngtâm đặt ra cho nước ta là đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo Vì vậy,ngay từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã xác định giáo dục và đào tạo là

“quốc sách hàng đầu” Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Namphát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghềnghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hìnhthành và phát triển nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêucầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc (Luật giáo dục 2005) Để thựchiện được mục tiêu đó thì ngành giáo dục cần đổi mới phương pháp dạy học,nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo Vấn đề này đã được Nghịquyết Trung ương II khoá VIII khẳng định: “Đổi mới phương pháp giáo dục -đào tạo, từng bước áp dụng các phương pháp hiện đại vào dạy học, đảm bảođiều kiện và thời gian tự học” Đến hội nghị của ngành giáo dục và đào tạotháng 8 - 2006, Bộ giáo dục và đào tạo đã phát động phong trào chống tiêucực trong thi cử và bệnh thành tích trong toàn ngành giáo dục, đồng thời nóikhông với “đọc - chép” “Đọc - chép” trong dạy học là phương pháp dạy học

mà thầy đọc - trò chép, thầy giảng - trò nghe, học sinh không sử dụng đến tàiliệu học tập, không phát huy được năng lực tự học dẫn đến chất lượng học tậprất kém

Trong thực tế, việc đổi mới phương pháp dạy học đã và đang được ứngdụng ở các nhà trường THPT tuy nhiên vẫn chưa mang lại kết quả khả dĩ.Giáo viên phần lớn vẫn còn duy trì cách dạy đọc chép, còn học sinh vẫn thụđộng trong việc tiếp thu kiến thức - đó là sự ỷ lại vào bài giảng của giáo viên

ở trên lớp Hiện trạng này duy trì ở hầu hết các môn học trong đó có môn lịch

sử Mặt khác, do quan niệm lịch sử là một “môn phụ”, đặc thù của môn lịch

sử là môn khô khan toàn sự kiện vì vậy học sinh phổ thông không hứng thú

Trang 7

trong học tập lịch sử, học chỉ mang tính chất đối phó Nhiều học sinh khôngnắm được kiến thức lịch sử nhất là kiến thức lịch sử dân tộc

Để tăng hứng thú học tập môn lịch sử cho học sinh thì bản thân môn lịch

sử phải đổi mới Bộ môn lịch sử phải xây dựng nội dung, chương trình vàphương pháp dạy như thế nào để khắc phục được quan niệm chỉ chú trọnglịch sử quân sự, đấu trang giai cấp, coi nhẹ lịch sử văn hoá, lịch sử nghệthuật Như vậy, phải chú trọng đến dạy học liên môn, đến việc đổi mớiphương pháp dạy học: không chỉ sử dụng đơn nhất một phương pháp mà sửdụng đa dạng các phương pháp

Phương pháp dạy học lịch sử ngoài sử dụng lời nói sinh động, hấp dẫn,

sử dụng đồ dùng trực quan một cách mềm dẻo linh hoạt thì việc đa dạng hoácác nguồn tài liệu, sử dụng các loại tài liệu tham khảo khác nhau vào bài học

là điều không thể thiếu, là một yêu cầu bức thiết Tài liệu tham khảo được sửdụng vào tất cả các khoá trình của lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới

Khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918: 60 năm là mộttrang sử đau thương nhưng hào hùng của dân tộc Năm 1858 với “Tiếng súngVũng Thùng” đánh dấu thực dân Pháp xâm lược nước ta Đến năm 1884, saugần 30 năm Pháp mới hoàn thành quá trình vũ trang xâm lược Việt Nam, biếnViệt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa còn tàn

dư phong kiến Nhưng quá trình đó cũng là những trang sử hào hùng nhất vềcuộc kháng chiến chống thưc dân Pháp của nhân dân ta Đó là phong tràochống Pháp của nhân dân Nam Kỳ, của phong trào Cần Vương hay phongtrào cứu nước theo khuynh hướng tư sản

Học lịch sử giai đoạn này học sinh có hiểu biết thêm về lịch sử dân tộc,

có cái nhìn đúng đắn về trách nhiệm của triều Nguyễn, về vai trò của các cánhân trong lịch sử Đồng thời học lịch sử giai đoạn này còn bồi đắp cho học

Trang 8

sinh lòng căm thù giặc sâu sắc, lòng kính yêu quần chúng nhân dân, lòng yêudân tộc.

Để làm được điều này thì nguồn tài liệu tham khảo vận dụng vào dạy họclịch sử dân tộc nói chung và lịch sử giai đoạn 1858 - 1918 là điều vô cùng cầnthiết và quan trọng

Từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Sử dụng tài

liệu tham khảo trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 1918” (Lớp 11 - nâng cao) làm luận văn tốt nghiệp.

-2 Lịch sử vấn đề

Vấn đề sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPTkhông phải là một đề tài mới mà nó đã được đề cập đến trong một số côngtrình nghiên cứu trong và ngoài nước

Ở nước ngoài, vấn đề này được đề cập đến trong các tác phẩm:

Trong cuốn: “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của nhà

nghiên cứu phương pháp dạy học Liên Xô trước đây đã chỉ rõ về vai trò, ýnghĩa, phương pháp sử dụng các nguồn tài liệu lịch sử ở trường phổ thông

Trong tác phẩm của I F Khalamôp: “Phát huy tính tích cực học tập của

học sinh như thế nào?” cũng khẳng định vai trò của sử dụng tài liệu học tập

trong dạy học

Đặc biệt vấn đề sử dụng tài liệu tham khảo được đề cập sâu trong tác

phẩm : “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” của tiến sĩ Liên Xô trước

đây N G Đairi Ông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các nguồn tài liệutham khảo để một giờ học lịch sử có hiệu quả Từ đó ông đã đề xuất phươngpháp sử dụng các loại tài liệu tham khảo trong một giờ học lịch sử cụ thể.Ông đã khái quát thành sơ đồ nổi tiếng mà giới chuyên môn gọi là : “sơ đồĐairi”

Trang 9

Ở trong nước, các giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan

Ngọc Liên (chủ biên) đã đề cập đến vị trí, ý nghĩa, cách phân loại đồng thờigợi ý về phương pháp sử dụng TLTK cho giáo viên và học sinh Tuy nhiên,đây là sách giáo trình do vậy chưa đi sâu vào phương pháp sử dụng tài liệutham khảo trong các khoá trình ở trường phổ thông

Cuốn: “Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử” do Phan Ngọc

Liên chủ biên ( 2002), NXB ĐHQG Hà Nội cũng có một số bài viết trình bày

về phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông nhưng chủ yếu nói đếntài liệu của Hồ Chí Minh

Giáo sư Phan Ngọc Liên (chủ biên) cũng có cuốn: “Những vấn đề lịch

sử trong tác phẩm Hồ Chí Minh” NXB ĐHQG Hà Nội - 1999 đã trích dẫn

một số tài liệu dùng trong dạy học ở các bài, các chương trong chương trìnhlịch sử ở phổ thông

Trong một số luận văn đại học cũng có đề cập đến phương pháp sửdụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở THPT Tuy nhiên các luậnvăn chỉ đề cập đến sử dụng tài liệu văn học trong dạy học các khoá trình lịch

sử dân tộc Chỉ có luận văn của Nguyễn Thị Trang Nhung (2004), đề cập đến:

“Sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giai

đoạn 1930-1945” (lịch sử lớp 12).

Như vậy, tất cả các công trình trên đã đề cập đến mặt này hay mặt kháccủa vấn đề sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT,nhưng chưa có một công trình nào giải quyết đầy đủ, có hệ thống việc sửdụng tài liệu tham khảo trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn

1858 - 1918 (lớp 11 - nâng cao) Tuy vậy, những kết quả nghiên cứu trên lànguồn tài liệu để chúng tôi tham khảo và sử dụng khi thực hiện đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng:

Trang 10

Đối tượng nghiên cứu là những biện pháp sử dụng tài liệu tham khảotrong bài nội khoá và hoạt động ngoại khoá của khoá trình lịch sử Việt Namgiai đoạn 1858 - 1918 (lớp 11 - nâng cao).

3.2 Phạm vi:

Phạm vi nghiên cứu là việc dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam lớp11- nâng cao, giai đoạn 1858 - 1918 ở trường THPT

4 Giả thuyết khoa học

Nếu lựa chọn đúng các loại tài liệu tham khảo và đề ra phương pháp sửdụng thích hợp thì sẽ nâng cao hiệu quả dạy học khoá trình lịch sử Việt Namgiai đoạn 1858 - 1918 nói riêng và dạy học lịch sử lớp 11 nói chung

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Mục đích:

Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn dạy học lịch sử chúng tôi khẳng địnhvai trò, ý nghĩa của tài liệu tham khảo trong dạy học Theo đó, chúng tôi xácđịnh các loại tài liệu tham khảo có thể sử dụng và phương pháp sử dụng cácloại tài liệu tham khảo đó trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giaiđoạn 1858 - 1918 ở trường phổ thông để có hiệu quả dạy học tốt nhất

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề

sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

- Xác định nội dung bài viết trong sách giáo khoa lịch sử Việt Nam giaiđoạn 1858 - 1918 để lựa chọn tài liệu tham khảo

- Tập hợp, thống kê, lựa chọn các loại tài liệu tham khảo, đề ra cácphương pháp sử dụng thích hợp để dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 -1918

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của việc vậndụng tài liệu tham khảo vào dạy học khoá trình lịch sử nói trên

Trang 11

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu lí luận về vấn đề sử dụng tài liệu tham khảo trong dạyhọc lịch sử ở trường phổ thông

- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 11 giai đoạn

1858 - 1918, sách giáo viên và các loại tài liệu có liên quan để xây dựng nộidung tài liệu tham khảo ứng dụng vào dạy học

6.2 Nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra sư phạm: thông qua trao đổi với tổ bộ môn, vớigiáo viên lịch sử ở trường phổ thông bằng phiếu điều tra, phỏng vấn, dự giờ

từ đó xử lí thông tin và đưa ra nhận xét khái quát chung

- Phương pháp thực nghiệm: tiến hành soạn và thực nghiệm một tiết dạy

cụ thể của khoá trình để khẳng định tính khả thi của việc sử dụng tài liệutham khảo trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dungchính của Khóa luận được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Vấn đề sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ởtrường THPT: lí luận và thực tiễn

Chương 2: Các loại tài liệu tham khảo được sử dụng trong dạy học khoátrình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918 (lớp 11 - nâng cao)

Chương 3: Phương pháp sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học khoátrình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918 (lớp 11 - nâng cao)

Néi dung

Trang 12

VẤN ĐỀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT : LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.

1 Cơ sở lí luận.

1.1.1 Khái niệm tài liệu và tài liệu tham khảo

Cho đến nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về tài liệu và tài liệutham khảo Trong dạy học tài liệu và tài liệu tham khảo được hiểu một cáchtổng quát nhất là công cụ phục vụ có hiệu quả cho quá trình dạy và học Còntheo Nguyễn Như Ý trong “Đại từ điển tiếng Việt” khái niệm “tài liệu” đượchiểu theo 2 nghĩa: Thứ nhất, tài liệu là văn bản giúp cho việc tìm hiểu mộtvấn đề như tài liệu học tập, tài liệu tham khảo; Thứ hai, tài liệu là sử liệu Xéttheo cách hiểu thứ hai thì tài liệu tham khảo là nguồn sử liệu giúp cho việctìm hiểu những vấn đề quan trọng của lịch sử Tài liệu tham khảo là phươngtiện có hiệu quả để hiểu rõ hơn sách giáo khoa, là nguồn tài liệu cần thiết để

bổ sung, đào sâu, mở rộng tri thức lịch sử cho học sinh, góp phần nâng cao chấtlượng dạy học

Có nhiều loại tài liệu tham khảo sử dụng trong dạy học lịch sử ở trường phổthông Theo Phan Ngọc Liên, hiện nay các loại tài liệu tham khảo được sử dụngtrong dạy học lịch sử ở phổ thông tựu chung gồm hai loại: tài liệu lịch sử và tàiliệu văn học

- Tài liệu lịch sử theo nghĩa rộng, là tất cả những hiện vật, văn bản mangthông tin về quá khứ xã hội loài người và dân tộc Qua đó con người có thêmnhững hiểu biết cần thiết về lịch sử dân tộc cũng như lịch sử xã hội loàingười

- Tài liệu văn học chính là những tác phẩm văn học được đưa vào làmcông cụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu một số lĩnh vực khoa học

Vậy tác phẩm văn học là gì? Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi trong cuốn: “Từ điển thuật ngữ văn học” thì tác phẩm văn học là

Trang 13

công trình nghệ thuật ngôn từ do cá nhân hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiệnkhái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, biểu hiện tâm tư, tìnhcảm, thái độ của chủ thể trước thực tại Tác phẩm văn học là sự thống nhấttrọn vẹn của các yếu tố đề tài, chủ đề, tư tưởng nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lờivăn.

1.1.2 Ý nghĩa của sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

1.1.2.1 Về hình thành tri thức lịch sử cho học sinh

Hình thành tri thức lịch sử cho học sinh là một trong những nhiệm vụquan trọng hàng đầu trong dạy học lịch sử ở trưòng phổ thông Muốn hìnhthành tri thức lịch sử cho học sinh phải dựa vào quá trình nhận thức lịch sử của họcsinh

Quá trình nhận thức lịch sử của học sinh cũng tuân theo quy luật nhậnthức chung của loài người như Lênin đã đúc rút: Từ trực quan sinh động đến

tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó là con đườngbiện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan

Nhưng đặc trưng của khoa học lịch sử là các sự kiện, các nhân vật đềudiễn ra trong quá khứ nên nhận thức lịch sử có nét đặc thù so với nhận thứcchung của loài người Nhận thức lịch sử là nhận thức những gì đã qua vàkhông lặp lại cho nên giai đoạn nhận thức cảm tính không thể tri giác trựctiếp mà phải thông qua sự kiện lịch sử để tạo biểu tượng lịch sử từ đó hìnhthành khái niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử

Muốn tái hiện bức tranh quá khứ một cách sinh động thì chúng ta phảidựa trên cơ sở của tài liệu tham khảo Tài liệu tham khảo có ý nghĩa quantrọng trong việc khôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ Nó là căn cứ khoa học,

là bằng chứng về tính chân thực, tính cụ thể phong phú của sự kiện mà học

Trang 14

sinh cần tiếp nhận Trên cơ sở đó học sinh cũng tránh được việc “tô hồng”hay “bôi đen” lịch sử hay hiện đại hoá lịch sử.

Qua các nguồn tài liệu tham khảo phong phú, chân xác còn giúp cho họcsinh có thêm cơ sở để nắm vững bản chất của sự kiện, hình thành khái niệm,rút ra quy luật và bài học lịch sử Tài liệu càng đầy đủ tri thức càng chính xác,phong phú, toàn diện thì học sinh càng dễ dàng hơn để hiểu bản chất, quy luậtlịch sử

Mặt khác, tài liệu tham khảo là phương tiện quan trọng để học sinh nắmvững và mở rộng kiến thức lịch sử trong sách giáo khoa

Như vậy, trong việc hình thành tri thức lịch sử cho học sinh ta có thểkhẳng định tài liệu tham khảo là cơ sở, là cái nền để học sinh tích luỹ và lĩnh hộitri thức lịch sử

1.1.2.2 Về giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh

Sử dụng tài liệu tham khảo đặc biệt là sử dụng tài liệu văn học trong dạyhọc lịch sử có tác dụng giáo dục to lớn

Tài liệu tham khảo là bằng chứng gốc, là “sự thật” của lịch sử nên cóhiệu quả giáo dục cao Nhìn vào các tấm gương có thật học sinh sẽ cảm phục

từ đó học tập noi theo Thông qua những hình ảnh sinh động, những lời thơ,lời văn truyền cảm không chỉ giúp học sinh hiểu quá khứ mà còn bồi đắp tưtưởng, tình cảm, lòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, lòng kínhyêu quần chúng nhân dân và các nhân vật lịch sử

Trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay, với những mặt trái của cơchế thị trường đang làm suy thoái đi nhiều giá trị đạo đức thì việc: dạy sử đểdạy người càng có ý nghĩa Đặc biệt khi sử dụng tài liệu tham khảo học sinh

có nhận thức sâu hơn về quá khứ, rút ra được bài học từ quá khứ từ đó sẽ hìnhthành tư tưởng, tình cảm đúng đắn

1.1.2.3 Về rèn luyện và phát triển kỹ năng cho học sinh

Trang 15

Sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử là phương pháp phát huy tínhtích cực học tập của học sinh một cách có hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực tưduy của học sinh.

Thông qua các nhận định, đánh giá, thông qua các hình ảnh, hình tượngtài liệu tham khảo thực sự có tác dụng kích thích học sinh suy nghĩ, tiến hànhcác thao tác so sánh, tổng hợp, suy luận lịch sử để hiểu sâu sắc hơn bản chất

sự kiện cũng như mối quan hệ giữa các sự kiện

Giáo viên sử dụng những câu hỏi khi học sinh làm việc với tài liệu thamkhảo hầu hết là những câu hỏi phát triển tư duy học sinh: vì sao? như thế nào?

Do vậy mà cũng góp phần lớn để học sinh phát triển tư duy

Mặt khác, sử dụng tài liệu tham khảo còn góp phần phát triển cho họcsinh thói quen và kỹ năng tự học, tự làm việc với tài liệu để phục vụ cho họctập Đây là tiền đề để học sinh hình thành khả năng nghiên cứu khoa họccũng như phát triển năng lực nhận thức cho học sinh

1.1.3 Các loại tài liệu tham khảo được sử dụng trong dạy học lịch sử

- Tài liệu thành văn: Gồm nhiều loại, nội dung và tính chất của mỗi loạicũng không giống nhau Về đại thể, có thể phân tài liệu thành văn thành các loạisau:

+ Tài liệu lịch sử gốc bao gồm các văn kiện, tài liệu có liên quan trực tiếpđến sự kiện, ra đời vào thời điểm xảy ra các sự kiện như các loại văn tự cổ,các hiệp ước, điều ước, tuyên ngôn… Loại tài liệu này dùng để dẫn chứng,

Trang 16

minh hoạ cho sự kiện đang trình bày Trong dạy học lịch sử Việt Nam giaiđoạn 1858-1918 thì nguồn tài liệu này được sử dụng phổ biến.

+ Tài liệu, văn kiện của Đảng, Nhà nước, phong trào cộng sản quốc tế.Văn kiện Đảng phản ánh đường lối cách mạng của Đảng qua các thời kỳlịch sử Đây là nguồn tài liệu gốc, thể hiện quan điểm, mang tính chỉ đạo,tổng kết những kinh nghiệm và khái quát, nâng tầm lí luận

Văn kiện Đảng bao gồm:

Các văn kiện Đảng trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Đó là cáctài liệu có từ thời kỳ hoạt động của các tổ chức tiền thân của Đảng

* Văn kiện của hội nghị thành lập Đảng: “Chính cương vắn tắt”, “Sáchlược vắn tắt”, chương trình và điều lệ vắn tắt; văn kiện đại hội đại biểu toànquốc và hội nghị cán bộ Trung ương; văn kiện hội nghị của Ban chấp hànhTrung ương và văn kiện của Ban thường vụ Trung ương

* Các tác phẩm quan trọng của Hồ Chí Minh và các Tổng bí thư vềđường lối, chủ trương của Đảng trong các thời kỳ cách mạng

* Một số tài liệu khác có quan hệ chặt chẽ với hoạt động của Đảng cộngsản Việt Nam ví như gắn với sự ra đời của Đảng là tài liệu của Quốc tế cộngsản: “Gởi cho những người cộng sản ở Đông Dương”

* Hồi ký cách mạng - là những tác phẩm, văn bản do những nhân chứnglịch sử tái hiện lại sự kiện, hiện tượng lịch sử mà mình được trực tiếp thamgia hoạt động hoặc được chứng kiến

+ Các công trình, các tác phẩm nghiên cứu: Tác phẩm nghiên cứu lịch sử,tác phẩm nghiên cứu của các ngành khoa học kế cận như lịch sử Đảng, khảo

cổ học, dân tộc học Đây là loại tài liệu quan trọng nhất nhằm giúp cho họcsinh thấy được tính đa dạng của sự kiện, để làm cơ sở cho phân tích, nhận xétđúng đắn bản chất của sự kiện lịch sử

1.1.3.2 Tài liệu văn học

Trang 17

Tài liệu văn học được thể hiện dưới nhiều thể loại, mỗi thể loại có nộidung nghệ thuật khác nhau Để hình thành tác phẩm, tác giả phải tìm hiểukiến thức thực tế, phải nghiên cứu các loại tài liệu lịch sử, xuất phát từ thực tếlịch sử, do đó chính tài liệu văn học đã phần nào phản ánh lịch sử.

Vì vậy trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, tài liệu văn học được sửdụng phổ biến với các loại sau: văn học dân gian và văn học viết

- Văn học dân gian ra đời sớm (từ khi chưa có chữ viết) Văn học dângian rất phong phú về thể loại bao gồm thần thoại, ca dao, hò vè… Đây làloại tài liệu có giá trị, phản ánh nhiều nội dung lịch sử quan trọng, nhiều sựkiện lịch sử quan trọng của lịch sử dân tộc Nếu gạt bỏ những yếu tố hoangđường thần bí thì chúng ta sẽ tìm thấy được những yếu tố hiện thực của lịchsử

- Văn học viết: cũng đa dạng nhưng trong dạy học lịch sử giáo viên cóthể sử dụng một số loại cơ bản sau:

+ Truyện ngắn: là hình thức ngắn của tự sự Những tác phẩm xuất hiệnvào thời kỳ diễn ra các sự kiện lịch sử, có ý nghĩa với việc khôi phục quákhứ

+ Tiểu thuyết lịch sử: lấy chủ đề là những sự kiện trong quá trình lịch sử,giúp cho học sinh khôi phục lại bối cảnh lịch sử, hình ảnh của các sự kiện lịchsử

+ Thơ ca cách mạng: là những bài thơ, bài ca có nội dung cách mạng.+ ký: bao gồm phóng sự, bút ký, tuỳ bút, nhật ký, truyện ký… về những

sự kiện, những nhân vật lịch sử cụ thể

Như vậy, tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử phong phú và đa dạng.Tài liệu tham khảo là công cụ để hiểu rõ hơn sách giáo khoa, góp phần nângcao chất lượng dạy học lịch sử Tuy nhiên vấn đề đặt ra là phải sử dụng tàiliệu tham khảo như thế nào và mức độ ra sao? tức là, phải giải quyết mối

Trang 18

quan hệ giữa nội dung bài học trong sách giáo khoa với nội dung tài liệu thamkhảo như thế nào để bài học sinh động có hiệu quả mà không làm cho khốilượng kiến thức tăng lên, không dẫn đến tình trạng quá tải.

1.2 Thực tiễn của việc sử dụng tài liệu tham khảo ở trường THPT

1.2.1 Kết quả điều tra:

Sử dụng tài liệu tham khảo có ý nghĩa to lớn trong dạy học lịch sử nhưngthực tế việc thực hiện như thế nào, kết quả ra sao còn phụ thuộc vào điều kiện

cụ thể của từng nhà trường, phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, lòng say mênghề nghiệp của giáo viên cùng với ý thức, trình độ nhận thức của học sinh

Để biết được thực trạng sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch

sử ở trường THPT, trong đợt thực tập sư phạm chúng tôi đã tiến hành điều tragiáo viên, học sinh trường THPT Bỉm Sơn và giáo viên trường THPT HậuLộc III

Đối với giáo viên: Chúng tôi đã trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, phát phiếu

trưng cầu ý kiến (Phụ lục I) với 6 giáo viên dạy lịch sử ở cả hai trường để biếtđược quan niệm của giáo viên về sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy họclịch sử cũng như những đề xuất của giáo viên trong việc sử dụng tài liệu thamkhảo nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử

Sau khi phát phiếu trưng cầu ý kiến, tiến hành xử lý thông tin chúng tôithu được thực trạng sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trườngTHPT với nội dung sau: 100% giáo viên được điều tra phỏng vấn cho rằng sửdụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử là cần thiết Thực tế giáo viênlịch sử ở cả hai trường đã đầu tư cho bài giảng, đưa vào bài dạy nhiều kiếnthức bổ ích ngoài sách giáo khoa Có tới 66% giáo viên cho rằng khi dạy họclịch sử ở trường phổ thông các thầy cô gặp khó khăn đó là ý thức và hứng thúhọc tập môn lịch sử của học sinh còn rất nhiều hạn chế

Trang 19

Về học sinh: Chúng tôi cũng tiến hành trao đổi, phát phiếu điều tra

(Phụ lục II) ở lớp 11B7 trường THPT Bỉm Sơn Sau khi điều tra, xử lý sốliệu, chúng tôi thấy rằng: Với câu hỏi khi học lịch sử Việt Nam, giáo viên sửdụng tài liệu tham khảo em thấy hứng thú học tập lịch sử hơn không?

Kết quả thu được ở bảng thống kê sau:

Với câu hỏi em có nhận xét gì về thực trạng dạy học lịch sử của giáoviên hiện nay thì kết quả thu được như sau:

1.Nhiệt tình giảng dạy, bài giảng sinh động hấp dẫn 8 học sinh2.Có cải tiến phương pháp dạy học 11 học sinh3.Giảng chủ yếu lý thuyết ít vận dụng thực tiễn 19 học sinh4.Dạy khô khan đơn điệu 10 học sinhNhư vậy, dù giáo viên nhận thức được việc cần thiết khi sử dụng tài liệutham khảo vào dạy học lịch sử nhưng do nhiều lý do khác nhau, giáo viênchưa thực sự chú trọng đưa thêm những đơn vị kiến thức bổ ích vào bài dạy

để cho bài học sinh động, hấp dẫn hơn

1.2.2 Hạn chế, khuyết điểm:

- Đối với giáo viên:

Trang 20

Tất cả các giáo viên được chúng tôi điều tra đều nhận thức rõ ràng sự cầnthiết khi sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử, nhiều người cònđánh giá cao việc sử dụng tài liệu tham khảo trong việc giúp học sinh có hứngthú học tập đồng thời giúp học sinh mở rộng, đào sâu kiến thức lịch sử.

Tuy nhiên, mức độ sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử lạichưa thực sự thường xuyên Trường hợp giáo viên sử dụng thường xuyên lànhững giáo viên giỏi, có nhiều kinh nghiệm giảng dạy Còn lại phần lớn giáoviên sử dụng tài liệu tham khảo ở mức độ thấp với nhiều lý do: không có tàiliệu tham khảo chủ yếu, học sinh không chịu học, thời gian một tiết học cóhạn

Về phương pháp giảng dạy giáo viên chủ yếu trình bày nội dung sáchgiáo khoa theo phương pháp đọc - chép, một số giáo viên sử dụng tài liệutham khảo nhưng mang tính chất nhỏ giọt, hình thức, thông báo làm cụ thểhóa sự kiện nhưng không đi sâu giúp học sinh hiểu được bản chất của sự kiệnđó

Thực tế trong dạy học lịch sử yêu cầu phải đảm bảo kiến thức chuẩn đãquy định của chương trình trong sách giáo khoa nhưng để phát huy hứng thúhọc tập tích cực của học sinh thì vấn đề đặt ra là phải đổi mới phương phápdạy học trong đó có việc sử dụng tài liệu tham khảo

- Đối với học sinh:

Qua điều tra chúng tôi thấy học sinh không có hứng thú học tập môn lịch

sử Dù giáo viên cố gắng sử dụng tài liệu tham khảo thì chỉ có một bộ phậnhọc sinh chú ý lắng nghe mà thôi Mặt khác, khi tiếp cận với một số bài kiểmtra của học sinh chúng tôi thấy nội dung bài viết thường theo kiểu ghi nhớ,liệt kê sự kiện mà không rút ra được những đánh giá, so sánh hay đối chiếucần thiết Đó chính là hệ quả của việc học sinh không độc lập suy nghĩ, khôngbiết vận dụng những kiến thức ở tài liệu tham khảo vào bài làm

Trang 21

Từ thực tiễn trên, chúng tôi cho rằng việc sử dụng tài liệu tham khảo cầnđược quan tâm hơn nữa trên tất cả các mặt từ trong nhận thức và trong nhữngviệc làm cụ thể nhằm đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn đổimới sách giáo khoa và phương pháp dạy học như hiện nay mà thiết thực hơn

là nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử ở trường THPT

CHƯƠNG 2:

Trang 22

CÁC LOẠI TÀI LIỆU THAM KHẢO SỬ DỤNG RONG DẠY HỌC KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1858 - 1918

( LỚP 11 - NÂNG CAO) 2.1 Cơ sở để xác định các loại tài liệu tham khảo trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918 (lớp 11 - nâng cao).

2.1.1 Nội dung khoá trình

Khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918 có nhiều nội dungquan trọng, được bố trí trong 2 chương:

Chương 1: Việt Nam từ 1858 đến cưối thế kỷ XIX

Chương 2: Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến hết chiến tranh thế giới thứnhất

Lịch sử Việt Nam giai đoạn này có 4 nội dung lớn:

Thứ nhất, nước Việt Nam giữa thế kỷ XIX - trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp.

Từ giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào giai đoạnkhủng hoảng Những mâu thuẫn xã hội nảy sinh, biểu hiện bằng những cuộckhởi nghĩa nông dân Nền kinh tế tiểu nông trì trệ Yêu cầu lịch sử lúc này làthống nhất đất nước tạo điều kiện cho nền kinh tế hàng hoá và thị trường dântộc phát triển, giải phóng sức sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân

Giữa lúc đó, tư bản Pháp sau một thời gian dài điều tra đã tìm mọi cáchxâm lược Việt Nam thông qua giáo sĩ Bằng nhiều thủ đoạn chúng đã thiết lập

cơ sở chính trị, xã hội đầu tiên trên đất nước ta, dọn đường cho cuộc chiếntranh xâm lược sắp tới

Thứ hai, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam và cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Trang 23

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Do thiếu đườnglối chỉ đạo đúng đắn của triều đình Nguyễn nên cuối cùng Việt Nam đã rơivào tay Pháp năm 1884.

Trái ngược với thái độ yếu hèn của triều đình Huế, ngay từ đầu nhân dânViệt Nam đã đứng dậy kháng chiến chống Pháp Cuộc chiến tranh nhân dânbền bỉ, dẻo dai đã khiến cho thực dân Pháp chịu nhiều tổn thất khiến chúngphải mất 26 năm mới hoàn thành quá trình xâm lược sau đó phải mất tới 11năm để bình định mới thiết lập được nền thống trị trên toàn cõi Việt Nam.Trong những năm cuối thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh chống Phápdiễn ra dưới ngọn cờ phong kiến và phong trào tự vệ ở các địa phương Mặc dùthất bại, nhưng nó đã đánh dấu một mốc son trong trang sử chống ngoại xâmcủa dân tộc

Thứ 3, những biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam đầu thế

kỷ XX.

Sau khi bình định xong, thực dân Pháp bắt tay ngay vào công cuộc khaithác thuộc địa quy mô, có hệ thống trên toàn cõi Đông Dương Việt Nam trởthành nước thuộc địa nửa phong kiến, thực dân Pháp cột chặt nền kinh tế ViệtNam vào chính quốc

Tuy nhiên, công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp cũng làm nảy sinhnhững nhân tố mới, ngoài ý muốn của chúng Vào đầu thế kỷ XX, ở ViệtNam đã xuất hiện những thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa, dù còn nonyếu Cơ cấu xã hội biến động, các tầng lớp mới xuất hiện Giai cấp công nhânhình thành, tư sản và tiểu tư sản cũng phát triển nhưng chưa trở thành giaicấp

Thứ 4, phong trào yêu nước và cách mạng.

Trang 24

Đầu thế kỷ XX, trào lưu dân chủ tư sản dội vào nước ta Các sĩ phu có

“tâm hồn tư sản” đã tiếp thu những luồng tư tưởng mới ấy để dấy lên mộtcuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản

Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, sau khi cuộc vận động theo khuynhhướng tư sản bị thất bại, phong trào cách mạng Việt Nam rơi vào khủnghoảng sâu sắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo Chính trong bối cảnh đó,Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước mới Những hoạt động trongthời kỳ này là cơ sở quan trọng để Người xác định con đường cứu nước đúngđắn cho cách mạng Việt Nam

2.1.2 Mục đích, yêu cầu của khoá trình.

- Về kiến thức

Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918, có nhiều nội dung kiến thứclịch sử, song giáo viên cần hình thành và khắc sâu cho học sinh những kiếnthức cơ bản sau:

Thứ nhất, về cuộc đấu tranh của nhân dân chống thực dân Pháp xâmlược Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng ở nước ta, cũng là triềuđại đứng trước ngưỡng cửa của sự xâm lược của thực dân Pháp Tuy nhiên,điều bất lợi là triều Nguyễn vào giữa thế kỷ XIX đã lâm vào khủng khoảngsâu sắc cả về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao Trong lúc đó thực dânPháp đã vũ trang xâm lược nước ta Sau gần 30 năm thực dân Pháp đã hoànthành quá trình xâm lược đó Giáo viên cần nhấn mạnh cho học sinh rằng:Việt Nam bị xâm lược là tất yếu nhưng không tất yếu dẫn đến mất nước Đâychính là nói đến trách nhiệm của triều Nguyễn, đã biến điều không tất yếu trởthành tất yếu khi làm cho dân mòn, lực kiệt làm suy giảm sức đề kháng củadân tộc

Trong lúc triều Nguyễn chống cự yếu ớt rồi đi đến đầu hàng thì nhân dânnổi lên chống Pháp khắp nơi Sau năm 1862, ngọn cờ kháng chiến đã chuyển

Trang 25

sang hẳn tay của quần chúng nhân dân Phong trào phát triển mạnh mẽ đã cảnbước tiến của thực dân Pháp.

Phong trào Cần Vương tuy diễn ra dưới hình thức “giúp vua, cứu nước”nhưng thực chất là phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta chốngPháp xâm lược Sự thất bại của phong trào Cần Vương cùng với việc hoànthành bình định về quân sự của thực dân Pháp đã chấm dứt cuộc kháng chiếncủa nhân dân ta dưới ngọn cờ phong kiến

Thứ hai, phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX

Bước vào đầu thế kỷ XX, công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất củathực dân Pháp và những ảnh hưởng của những sự kiện lớn trên thế giới: cảicách Minh Trị, biến pháp Mậu Tuất đã ảnh hưởng lớn đến phong trào chốngPháp của nhân dân ta

Tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ lúc bấy giờ đã thay thế cho tư tưởngphong kiến Phong trào Đông Du (1905 - 1908), phong trào chống thuế ởTrung kỳ (1908), hoạt động của Duy Tân hội, Đông Kinh nghĩa thục (1907)

… chứng tỏ phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta đã bước sanggiai đoạn mới, mang mầu sắc dân chủ tư sản

Tuy nhiên, cũng giống như cuộc đấu tranh theo con đường phong kiến,phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản cũng không thoátkhỏi tình hình dường như “trong đêm tối không có đường ra” Song, như C.Mác đã khẳng định rằng: lịch sử không bao giờ đặt ra cho mình vấn đề khônggiải quyết Sự xuất hiện của Hồ Chí Minh trong phong trào yêu nước từ đầuthế kỷ XX là do nhu cầu của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự

do cho dân tộc

Trang 26

- Về mặt giáo dục

Giai đoạn 1858 - 1918, giai đoạn đầu trong lịch sử 80 năm chống Phápxâm lược của dân tộc ta Trên cơ sở hình thành kiến thức cơ bản, giáo viêngiáo dục nhiều mặt cho học sinh

Trước hết, giáo viên nâng cao lòng tự hào về truyền thống chống xâmlược của cha ông ta, về lòng yêu nước của nhân dân ta Lòng yêu nước biểuhiện qua quá trình “tay không đánh giặc”, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”,nhân dân với tinh thần quật cường anh dũng đã liên tục đấu tranh chống Pháp,không khuất phục trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào

Thứ hai, qua khoá trình này giúp học sinh hiểu được bản chất xâm lượctàn bạo của thực dân Pháp Dù núp dưới chiêu bài nào thì sự xâm lược, khaithác thuộc địa của chúng đều là phi nghĩa Sau khi nhận thức được bản chấtcủa thực dân Pháp, sẽ giáo dục học sinh lòng căm thù bọn bán nước và cướpnước

Thứ ba, qua khoá trình cần cho học sinh có những đánh giá, có thái độđúng đắn về triều Nguyễn; trân trọng, kính yêu các cá nhân lịch sử; biết quýtrọng và biết ơn những người đã hi sinh trong cuộc kháng chiến; biết trântrọng tấm lòng yêu nước của các nhà cách mạng đầu thế kỷ XX; giáo dụclòng kính yêu quần chúng nhân dân

- Về mặt phát triển

Qua dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn này, tiếp tục rènluyện và hình thành cho học sinh nhiều kỹ năng: kỹ năng phân tích, so sánh,nhận xét, đánh giá vấn đề lịch sử Ví như, thông qua cả tiến trình gần 30 nămchống xâm lược, qua phân tích so sánh học sinh sẽ rút ra được sự đối lập giữanhân dân với triều đình Huế: một bên kiên quyết chống Pháp - với một bênhoà với Pháp Hãy phân tích để thấy được tính chất bất bình đẳng trong cáchiệp ước mà thực dân Pháp ký với triều đình Huế Đặc biệt, kỹ năng so sánh

Trang 27

được học sinh phải phát huy nhiều như: so sánh sự giống và khác nhau củanền kinh tế xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX với nền kinh tế xã hội Việt Namđầu thế kỷ XX để thấy được sự biến đổi của kinh tế - xã hội Việt Nam quacuộc khai thác thuộc địa của Pháp.

Đặc biệt, giai đoạn lịch sử này còn nhiều vấn đề gây tranh cãi, còn cónhiều kiến giải buộc học sinh phải có kỹ năng phân tích, đánh giá đúng đắn

để nhận thức đúng lịch sử

Qua giai đoạn này, giáo viên phải bồi dưỡng cho học sinh một số kỹ năngthực hành bộ môn như vẽ lược đồ, cách sử dụng lược đồ Qua vấn đáp sẽ traudồi ngôn ngữ, rèn luyện khả năng diễn đạt cho học sinh Mặt khác, cũng rènluyện cho học sinh kỹ năng sử dụng sách giáo khoa và tài liệu tham khảo để hiểusâu nội dung bài học

2.1.3 Căn cứ vào trình độ nhận thức, đặc điểm tâm lý của học sinh.

Theo giáo dục học, giữa nhận thức và dạy học có mối quan hệ mật thiết.Trên cơ sở nhận thức thế giối khách quan mà tạo nên hệ thống tri thức Vìvậy, muốn hình thành tri thức lịch sử cho học sinh phải qua quá trình nhậnthức của học sinh Suy ra, khi sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch

sử chúng ta phải căn cứ vào trình độ nhận thức của học sinh bên cạnh đóchúng ta cần xem xét yếu tố tâm lý, đặc điểm lứa tuổi của học sinh

Đặc trưng trong nhận thức lịch sử là nhận thức những gì đã qua trong quákhứ, không lặp lại trong thực tại cho nên giai đoạn nhận thức cảm tính thôngqua nắm sự kiện lịch sử cụ thể để tạo biểu tượng Biểu tượng là chiềc cầu nốigiữa nhận thức cảm tính với nhận thức lý tính, là một giai đoạn không thểthiếu giúp cho học sinh khôi phục bức tranh quá khứ, hình thành khái niệmlịch sử, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng tình cảm của học sinh và giúp họcsinh phát triển trí tưởng tượng Điều kiện cơ bản nhất để tạo biểu tượng làgiáo viên sử dụng những tài liệu tham khảo Nếu giáo viên không vận dụng

Trang 28

tài liệu tham khảo phong phú, đa dạng, chân thực thì dù có vận dụng phươngpháp giảng dạy khác tốt hơn đi nữa thì cũng không đạt được kết quả nhưmong muốn.

Mặt khác, học sinh hiện nay có những thay đổi lớn trong tâm - sinh lý,đặc điểm lứa tuổi Các em không thoả mãn với vai trò tiếp thu thụ động, vớiviệc chấp nhận những giải pháp có sẵn mà yêu cầu lĩnh hội độc lập các trithức và phát triển kỹ năng Sự vận dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch

sử là phương pháp tối ưu để học sinh phát huy năng lực tự học

2.1.4 Căn cứ vào điều kiện dạy học.

Điều kiện dạy học là cơ sở vật chất để vận dụng tài liệu tham khảo vàodạy học Điều kiện dạy học ở đây bao gồm nguồn tài liệu tham khảo phục vụcho dạy và học, là trình độ sử dụng tài liệu tham khảo của giáo viên và khảnăng tiếp thu của học sinh

Các nguồn tài liệu tham khảo hiện nay phục vụ cho dạy học lịch sử gồmnhiều loại và sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên, lịch sử là quá khứ xã hội loàingười, có những sự kiện cách đây hàng triệu năm vì vậy cần có những tài liệugốc, tài liệu cổ Nhưng do thời gian, chiến tranh và thiên tai đã làm mất mát,phá hủy phần lớn các nguồn tài liệu này Mặt khác, ở trường phổ thông hiệnnay tuy đầu tư cho trang thiết bị dạy và học nhưng mới đáp ứng một phần nhỏyêu cầu tài liệu giảng dạy của giáo viên, còn học sinh hầu như không đượctiếp cận Vì vậy, việc dạy chay - học chay vẫn duy trì

Giáo viên là người đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức hoạt động của học sinh.Giáo viên là người chủ động sử dụng tài liệu tham khảo thì giáo viên phải cótrình độ chuyên môn sâu, phải nắm vững kỹ năng và phương pháp sử dụng tàiliệu tham khảo như N G Đairi nói: người giáo viên phải thanh toán tìnhtrạng thời gian “chết” trong giờ học

Trang 29

Về khả năng tiếp thu của học sinh chỉ mới dừng lại ở một bộ phận họcsinh khá giỏi còn phần lớn khả năng tiếp thụ này còn rất hạn chế Khôngnhững thế, khả năng tiếp thu của học sinh còn phụ thuộc nhiều vào khả năngdiễn đạt, truyền thụ kiến thức của giáo viên.

Do vậy, trong dạy học lịc sử mà hẹp hơn là trong việc sử dụng tài liệutham khảo cần có sự đầu tư quan tâm của nhà trường, sự nỗ lực của bản thângiáo viên và học sinh để việc sử dụng tài liệu tham khảo thực sự phát huyđược vai trò ý nghĩa của nó

2.2 Các loại tài liệu tham khảo sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918 (lớp 11 - nâng cao).

Tài liệu tham khảo sử dụng trong dạy học lịch sử gồm 2 loại cơ bản: tàiliệu văn học và tài liệu lịch sử, nhưng ở đây chúng tôi không trình bày riêngtừng loại mà lồng ghép 2 loại vào nhau để tiện cho giáo viên khi áp dụng vàotừng bài học, từng chương cụ thể Mặt khác, trong từng tiểu mục, từng bài cóthể giáo viên vừa sử dụng tài liệu văn học vừa sử dụng tài liệu lịch sử để tăngthêm tính khả thi trong việc vận dụng tài liệu tham khảo

Trên cơ sở xác định nội dung cơ bản của bài, của chương, của khoá trình

và nguồn tài liệu tham khảo thu thập được chúng tôi chọn lọc một số đoạn,bài trong tài liệu tham khảo phù hợp với nội dung kiến thức cơ bản đã xácđịnh

Chương I: Việt Nam từ 1858 đến cuối thế kỷ XIX.

Bài 33: Việt Nam trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược.

Mục 1: Tình hình Việt Nam giữa thế kỷ XIX.

- Đến giữa thế kỷ XIX, Việt Nam đã bộc lộ những dấu hiệu khủng hoảng,suy yếu nghiêm trọng Biểu hiện rõ trong cảnh sống bế tắc của nhân dân dướithời Tự Đức Để học sinh thấy rõ tình cảnh đó, giáo viên sử dụng đoạn tàiliệu văn học sau:

Trang 30

Vè “Là cái thời Tự Đức”

“… Vợ con thời nheo nhócChồng lại phải phu phen,Muốn vạch cả trời lên,Kêu gào cho hả dạ

Cơm thì nỏ cóRau cháo cũng không,Muối trắng xoá đầy đồng,Nhà giàu niêm kín cổng

Còn một bộ xương sống,

Vơ vất đi ăn mày,Rồi xó chợ, lùm cây,Quạ kêu bốn phía,Xác đầy nghĩa địa

Thây thối bên cầuTrời cảm u sầu,Cảnh hoang tàn đói rét

Dân nghèo cùng kiệt,

Kẻ lưu lạc tha phương, Người chết chợ chết đường” [8, 447-448]

- Khả năng phòng thủ đất nước bị giảm sút, quốc phòng yếu kém Giáoviên sử dụng tài liệu lịch sử sau để cho học sinh thấy rõ tình hình binh lựcdưới thời Nguyễn:

“… Dưới thời Tự Đức, ngay chiếc thuyền bằng chèo, bằng buồm (cũng)không còn mấy nữa; những chiếc thuyền ấy so với chiếc thuyền buôn củaPháp thì tựa như thuyền nan so với thuyền bể, đừng nói chi so với chiếcthuyền máy của địch Minh Mạng, Thiệu Trị có đóng ba loại thuyền máy Yến

Trang 31

Phi, Vân Phi, Vũ Phi; còn đến thời Tự Đức thì thôi, không đóng thuyền máynữa Sự trang bị rất là lạc hậu: Mỗi đội 50 người thì 4 người cầm vũ khí thô

sơ như gươm, giáo, chỉ có 5 súng châm ngòi; mỗi năm tập bắn một lần, mỗilần bắn 6 phát, chưa kể rằng khoa chăm sóc súng đạn rất kém; súng gỉ, đạn

ẩm là thường; Pháp biết như thế nên chúng nhằm đánh lúc trời mưa Đại bác

ở các thành thì khá nhiều nhưng bắn gần, ít trúng, đạn là những cục gang haycục đá, trúng ai chết nấy, không nổ, không chết người bên cạnh…” [7, 50-51]

Mục 3: Thực dân Pháp tìm cớ can thiệp vào Việt Nam

- Pháp sử dụng giáo sĩ để dọn dường cho việc can thiệp Thực chất vấn

đề giáo sĩ như thế nào, giáo viên sử dụng đoạn tài liệu lịch sử sau: “Vấn đềgiáo sĩ thực ra chỉ là cái cớ để chúng ta ra tay hành động đối với nước Nam.Việc mất Ấn Độ hồi thế kỷ XVIII, việc nước Anh địch thủ của chúng ta, pháthiện lực lượng ngày càng mau chóng ở Viễn Đông, đã buộc chúng ta phải cốtìm cách đặt chân vào vùng biển Trung Quốc…Nước Nam sẽ giúp chúng ta có

cớ để can thiệp và chúng ta phải nắm ngay cơ hội đó một cách vội vàng nhưng

66 khẩu súng thần công Rồi ngày 24 - 10 - 1856, một tuần dương hạm khác

do Cô-li-ê chỉ huy lại đến Đà Nẵng, trực tiếp hăm doạ quan đầu tỉnh QuảngNam” [16, 9]

Trang 32

Bài 34: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 - 1884).

I Kháng chiến ở Đà Nẵng và các tỉnh Nam Kì.

Mục 1: Trên mặt trận Đà Nẵng năm 1858

Để cho học sinh thấy được sự ủng hộ của nhân dân cả nước cho mặt trận

Đà Nẵng: đô đốc Phạm Văn Nghị đưa quân vào Đà Nẵng nhưng lúc đó Pháp

đã cho lui quân vào Gia Định, vua ra lệnh cho ông rút quân trở về Từ đó chohọc sinh thấy rõ quyết tâm chống Pháp của nhân dân ta, giáo viên sử dụngđoạn tài liệu văn học sau:

Hành quân vào Trà Sơn -Phạm Văn Nghị -

“Trà Sơn rách mắt giặc Tây tràn,Nay tới Trà Sơn biển đã quang

Ta kéo quan vào đầy khảng khái,Vua cho lệnh rút sợ gian nan

Bảo lui bảo tiến đành cam chịu,Rằng đúng rằng sai miễn luận bàn

“Chịu rét bách tùng” còn ẩn đỏTấm son đâu để chịu tro tàn” [8, 129-130]

- Pháp bị sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng do vấp phải làn sóng đấu tranh củanhân dân ta với một mạng lưới dân binh gồm những ai không đau ốm, khôngtàn tật; ngoài ra quân Pháp còn bị thiệt hại nặng nề vì phong thổ khí hậu Giáoviên sử dụng tư liệu lịch sử sau ghi lại lời của một lính Pháp để cho học sinhthấy rõ tình cảnh khốn quẫn của Pháp khi sa lầy tại mặt trận Đà Nẵng: “Cónhững khi binh lính đương đi thì ngừng lại như bị xây xẩm mặt mày… Cảnhtượng buồn bã là lính ta sinh lực cùng cạn, đổ xuống đất nắng cháy, súng rờikhỏi tay, tay không cầm được súng nữa” [5, 71]

Trang 33

Mục 2: Chiến sự ở Gia Định và các tỉnh Nam Kì từ năm 1859 đến năm 1862

- Giáo viên sử dụng tài liệu lịch sử để tường thuật trận Pháp đánh thànhGia Định: “Sáng 17, chiến thuyền địch tập trung hoả lực bắn vào thành cànglúc càng hung hãn; bên ta bắn trở lại, càng lâu càng thưa, bắn chỉ trúng cộtbuồm tàu địch không bắn chìm được tàu địch Đến trưa, thuỷ quân lục chiếnI-pha-nho đổ bộ, tập trung hoả lực vào góc đông nam thành mà đánh, cố pháthủng góc ấy cũng là góc mà bên ta bố trí nhiều đại bác nhất bởi vì đó là nơigần bến tàu nhất Quân địch đem nhiều thuốc nổ đến đánh vào cửa thành,dùng thang tre leo lên thành Hai bên đánh giáp lá cà dữ dội đến gần đứngbóng thì quan trấn thủ ra lệnh rút quân…” [5, 79]

- Sau khi thành Gia Định thất thủ, để cho học sinh thấy tội ác của Pháp,tình cảnh khốn khổ của nhân dân đồng thời nói lên trách nhiệm của nhàNguyễn, giáo viên sử dụng đoạn tài liệu văn học sau:

Nỡ để dân đen mắc nạn này!” [9, 39]

Giáo viên sử dụng đoạn tài liệu văn học này để giảng về sự kiện sau khithành Gia Định thất thủ, cho học sinh thấy tội ác của Pháp, tình cảnh khốnkhổ của nhân dân đồng thời nói lên trách nhiệm của nhà Nguyễn

Trang 34

- Giáo viên sử dụng tài liệu lịch sử để tạo biểu tượng về đại đồn Chí Hoà:

“Đại đồn dài độ 3 cây số, ngang 1 cây số, là chiếc đồn lớn nhất Việt Nam tự

cổ chí kim, án ngữ phía tây nam thành Gia Định Trong đồn chia thành 5 khu,khu này cách khu kia bằng đường đất, vách đá, có cửa, phòng địch vào tới nơinày thì nơi kia vẫn chiến đấu được Vách thành làm bằng đất sét và đá ong,cao 3 thước rưỡi, dày 2 thước, có lỗ châu mai, trên mặt vách thành có trồngnhiều cây gai góc dày đặc Ngoài vách thành có rào tre, có hố chữ phẩm cắmchông tre, có ụ đất, có hào sâu đầy nước, cạm bẫy đó xa hàng trăm thước từchân thành trở ra Mặt đông bắc (tức mặt tiền) thì mạnh, chắc hơn là mặt hậu

là mặt tây nam Nếu là cuộc chiến tranh với vũ khí thô sơ của thời phong kiếnthì đại đồn là một đồn luỹ vô cùng kiên cố gần như bất khả xâm phạm” [5, 99

- 100]

Mục 3: Cuộc kháng chiến từ sau hiệp ước 1862

- Giáo viên sử dụng đoạn tài văn học sau để cho học sinh thấy được sựbất bình của nhân dân đối với việc triều đình Huế kí hiệp ước Nhâm Tuất vàquyết tâm chống Pháp của nhân dân:

Trang 35

thuật hay ấy để đi công đồn thì với tình trạng vũ khí của ta bấy giờ, không thểnào không thất bại được Dù sao cuộc kháng chiến do Trương Định chỉ huychứng tỏ lòng ái quốc của toàn dân, khả năng chiến đấu của quần chúng vàchứng tỏ rằng dân chúng hơn triều đình, có khả năng thống nhất chỉ đạo cuộcchiến tranh trên một địa bàn rộng lớn mà đây là một điều kiện để thắng địch”[5, 146].

Mục 4: Kháng chiến ở ba tỉnh miền Tây Nam Kì

- Để cho học sinh khắc sâu hơn về nhân vật Nguyễn Trung Trực, giáoviên sử dụng đoạn tài liệu văn học sau:

“Hoả hồng nhật tảo oanh thiên địaKiếm bạt Kiên Giang khốc quỷ thầnAnh hùng cường cảnh phương danh thọ

Tu sát đê đầu vị tử nhân” [9, 216]

- Giáo viên sử dụng đoạn tư liệu văn học sau để tạo biểu tượng vềNguyễn Hữu Huân: “Ông người làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, tỉnh MỹTho đỗ thủ khoa (đỗ cử nhân) khoa Nhâm Tý (1852) triều Tự Đức

… Đến giờ hành quyết, giặc đóng gông thủ khoa Huân lại, bắt ông ngồitrên mui thuyền chở đi từ nhà ngục Mỹ Tho đến chợ Thân Trong (thuộc vùngBến Tranh, Phủ Kiết quê nhà ông) Thuyền đi đến đâu giặc cho đánh trốngphách vang lên đến đấy để quy tụ dân chúng ra xem, cốt làm mất tinh thần

họ Đông đảo dân chúng ở hai bên bờ sông Bảo Định chẳng những không bịmất tinh thần trước giờ kết liễu cuộc đời của người anh hùng yêu nước, tráilại họ tỏ ra luyến tiếc vô hạn Trong những giờ phút mỏng manh, gươm kề tận

cổ, súng kề tai, trên mui thuyền, thủ khoa Huân vẫn ung dung làm thơ, tỏ bày

ý chí và tâm trạng với đồng bào qua cái gông mà giặc Pháp đang tròng lên cổmình

Hai bên thiên hạ thấy hay không

Trang 36

Một g¸nh cang thường há phải gôngĐến địa điểm xử tử, không chịu để cho giặc chém đầu, thủ khoa Huânliền cắn lưỡi tự tử.

… Chí quyết chết cho tan đởm giặc

Lẽ đâu sống chịu đứt đầu ông” [9, 234-235]

II Cuộc kháng chiến ở Bắc Kì lần thứ nhất

Mục 1: Tình hình Việt nam trước khi thực dân Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất.

- Tình hình xã hội không ổn định, giáo viên sử dụng đoạn tài liệu lịch sửsau để học sinh thấy rõ điều đó: “Những đám “giặc khách” Cờ trắng (BànVăn Nhị, Lương Văn Lợi), Cờ vàng (Hoàng Sùng Anh, Lương Thiên Tích,Ngô Anh) cùng những đám Tàu ô, cướp biển đã thừa dịp suy yếu bất lực củatriều đình Tự Đức, mặc sức tung hoành các vùng thượng du, trung du và ven

bờ biển Bắc Kì… Những đám tướng lĩnh trụ cột của Tự Đức từ Phạm ChiHuống, Đoàn Thọ, ông Ích Khiêm, Nguyễn Tri Phương đến Hoàng Tá Viêm,Tôn Thất Thuyết, đều lần lượt được lệnh của Tự Đức rời khỏi mặt trận lụctỉnh bỏ mặc lục tỉnh cho giặc, để ra Bắc Kì đối phó với nông dân khởi nghĩa

và “giặc khách Tàu ô” Tự Đức còn phải thu nạp cả tướng Cờ Đen Lưu VĩnhPhúc và cầu viện quân Mãn Thanh ở Quảng Đông do Phùng Tử Tài cầm đầusang trợ lực để đứng vững được ở Bắc Kì” [17, 141]

Mục 2: Cuộc kháng chiến ở Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Kì.

“Phú kể lại việc Pháp đánh Bắc Kì lần đầu”

Phạm văn Nghị

“… Thương ơi!

Bảy mươi ba năm áo dày cam nặng xiết bao bể rộng non cao;

Vừa một chớp nhoáng đất động trời kinh, mới biết kẻ hư người khó!Trong bốn tỉnh biết bao ông cả, há rằng không có chi can thành

Trang 37

Giữa ba mươi chưa hết ba tuần, sao bỗng nỡ rời tay then khoá?

Hay là vốn không chí đánh, thét gào rằng gò, rằng ụ, chỉ giơ súng sậy họvoi;

Hay là vốn sẵn trước hoà, luẩn quẩn xin cối xin chày, quen dắt bò vàngđón cửa?

Hay là nửa tỉnh nửa mê chưa sạch, tham bạo răng tham sống cũng răng;Hay là lầm chi quả chưa khôn, khiếp chết rứa khiếp Tây cũng rứa (?)!Hẳn có lòng son dạ sắt, lập trận kia bày trận nọ, dẫu giặc trời khôn ẩnlánh thiện đường;

Bởi vì chỉ địa khí nhu, thấy giặc sợ nói giặc kinh, để cường bạo quấy hôimiền Nam thổ!

Dặn ai:

Theo dấu y trường;

Vực xe lang hổ,

Vì nước thuỷ chung cùng nước, học là thiên địa bao dung;

Giữ thành sống chết cùng thành, chớ để giang san hâm nộ” [8,136 - 137].Giáo viên sử dụng đoạn tài liệu văn học trên khi giảng về sự kiện Phápđánh Bắc Kì lần thứ nhất Qua bài phú cho thấy, trách nhiệm của các quan lạinhà Nguyễn khi để mất Hà thành và bốn tỉnh Bắc Kì

- Giáo viên sử dụng tư liệu lịch sử để làm rõ nội dung của hiệp ước 1874

Mục 3: Tình hình nước ta sau hiệp ước 1874

- Triều đình nhà Nguyễn sau khi kí hiệp ước 1874 đã vấp phải sự phảnứng mạnh mẽ của nhân dân cả nước Giáo viên sử dụng đoạn tài liệu lịch sửsau: “ Cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất nổ ra vào đầu tháng 2 năm 1874 lôi cuốnmột lực lượng tham gia gần 300 người ở Nghệ An, Hà Tĩnh lan ra đến NinhBình, Thanh Hoá Nghĩa quân đã làm bài hịch “ Bình Tây sát tả” và tuyên bố:

“Triều đình dẫu hoà với Tây mặc lòng, sĩ phu nước Nam quyết không chịu,

Trang 38

vậy trước hết xin giết hết giáo dân, sau đánh đuổi hết Tây để giữ cho vănminh nho giáo của nước ta đã hơn một ngàn năm nay” [27, 37].

- Giáo viên sử dụng đoạn tài liệu lịch sử sau để cho học sinh thấy đượctình hình của nước ta qua nhận định của Pháp: “Bây giờ nước Đại Nam bị suynhược, nó đã tự nhận là không đủ sức cai trị thần dân của nó Một nước nhưthế tất sẽ bị một cường quốc đô hộ” [18, 8]

III Nhân dân Bắc Kì và Trung Kì tiếp tục kháng chiến.

Mục 1: Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ hai (1882 - 1883)

- Giáo viên sử dụng đoạn tài liệu lịch sử sau để tường thuật trận Hà thànhlần thứ hai: “Hoàng Diệu uỷ cho án sát Tôn Thất Bá ra ngoài thương thuyếtxin thêm một ngày nữa để trả lời, mục đích để có thì giờ chuẩn bị thêm Bávừa ra khỏi cửa thành thì quân Pháp đã bắn bức Từ 8 giờ đến 10 giờ, 3 chiếnhạm của Pháp nã súng đại bác lên thành Một phát trúng vào kho thuốc nổcháy rực trời 10 giờ, Ri-vi-e dàn binh đánh vào cửa Bắc và cửa Đông (cửaĐông thì giặc giả đánh để chia quân ta); trong thành, quân ta bắn trả, nhândân tự thiêu huỷ các phố nhà lá, nhà gỗ thành một bức tường lửa, ngăn cản sựtiến binh của địch và buộc địch mấy lần phải dời ổ đại bác Nhưng lửa cháykhông lâu được Tường lửa hạ xuống, quân địch băng qua chiến hào đầy nước

và bùn Hoàng Diệu cùng với tuần phủ Hoàng Hữu Xứng chia đường đốcquân kháng chiến Kho đạn nổ sinh ra rối loạn trong hàng ngũ Phần thì từ lâuquân Pháp đã mua chuộc một số quan lại ở trong thành (Tôn Thất Bá), chúngbiết rõ địa đồ, binh lực Địch bắc 40 chiếc thang trèo lên thành, vào được bêntrong nhưng cửa Bắc được ngăn trở bởi nhiều tường đất cho nên địch phảidùng nhiều thuốc súng mới phá vỡ được Thành bị hãm hồi 11 giờ, HoàngDiệu chạy tắt lẫn trong đám quân đã loạn, rồi một mình đến trước đền QuanCông thắt cổ dưới gốc cây lớn” [5, 376-377]

Trang 39

Mục 3: Quân Pháp tấn công cửa biển Thuận An Hiệp ước H¸cm¨ng (1883)

Khoản 2: Quân Pháp chiếm đóng đồn Thuận An, từ Thuận An đến suốtkinh thành, mọi đồn luỹ, mọi công sự phòng bị ở ven sông đều bị triệt bỏ hết.Khoản 3: Địa giới nước Đại Nam từ giáp giới với tỉnh Biên Hoà (NamKì) tới tiếp giáp với tỉnh Ninh Bình (Bắc Kì); các quan viên đều làm việc caitrị như cũ Trừ các việc thương chính và tạo tác cần có quan Pháp quản trị, thìnhững việc thường khác nếu có dùng người Pháp hay bác vật, những ngườinày chỉ làm quản đốc thôi

Khoản 4: Từ giáp Biên Hoà đến giáp Ninh Bình, trong mọi tỉnh, trừ bếnThị Nại đã mở cửa buôn bán rồi, nay hai bến Đà Nẵng thuộc Quảng Nam vàXuân Đài thuộc Phú Yên, phải khai mở buôn bán, ngoài ra mọi bến từ nay vềsau nếu xét có lợi ít thì cùng hội nghị bàn khai thương thêm, nước Pháp sẽ đặtquan ở những nơi khai thương thêm đó Các quan ấy đều tuân theo mạng lệnhcủa trú kinh khâm sứ đại thần

Khoản 5: Trú kinh khâm sứ đại thần của Đại Pháp chuyên giữ việc bảo

hộ Đại Nam, giao thiệp với ngoại quốc, không dự vào việc chính trị các tỉnhtrong giới hạn của khâm sứ đại thần ấy có quân Pháp tuỳ tùng

Khoản 6: Nước Đại Nam từ giáp Ninh Bình vào giáp Biên Hoà, tỉnh nào

mà xét thấy có việc cần kíp thì Đại Pháp đặt các quan công sứ hoặc phó công

sứ, các quan này đều theo lệnh của trú kinh khâm sứ đại thần Tỉnh nào có

Trang 40

công sứ hay phó công sứ cư trú ngay trong tỉnh thành, gần chỗ quan tỉnh cưtrú, có quân Pháp hoặc quân Nam theo hầu.

Khoản 7: Công sứ Pháp đặt ở tỉnh nào ở Bắc Kì cũng không có dự làmmọi việc dân chính các tỉnh ấy, các quan tỉnh vô luận thuộc phẩm hạng nào

cứ cai trị hạt dân như cũ, duy quan Pháp kiểm soát coi viên quan Nam nàonên đổi cách, nếu quân Pháp xin đổi cách thì lập tức quan Nam thi hành đổicách

Khoản 8: Bất luận hạng viên chức nào của Pháp như có việc gì nên tưbáo với nước Đại Nam thì do công sứ Pháp tự báo mà thôi

Khoản 9: Nước Đại Pháp sẽ lập đường điện báo theo duyên lộ từ Sài Gònđến Hà Nội do người Pháp chuyên đảm nhận, số tiền được lợi từ khoản này,Pháp sẽ trích một phần cho nước Nam tiêu dùng vì nước Nam có phần đườngđất để xây dựng nhà cửa, phòng làm việc, cư trú cho nhân viên điện báo.Khoản 10: Mọi người ngoại quốc ngự ở nước Đại Nam từ giáp giới NinhBình đến giáp giới Biên Hoà và cả địa hạt Bắc Kì đều do nước Đại Pháp xửđoán; như người Nam với người ngoại quốc, hay người ngoại quốc với ngườingoại quốc, có việc gì kiện nhau thì do Đại Pháp phân xử

Khoản 11: Trong nước Đại Nam từ giáp Biên Hoà đến giáp Ninh Bình,quan bố chính chiếu lệ thu thuế nộp về triều đình Đại Nam như cũ, không cóquan Đại Pháp kiểm soát Còn như địa hạt Bắc Kì thì các quan công sứ hợpvới các quan bố chính cùng tính mọi số thuế Mỗi tỉnh thu riêng cho tiện kiểmsoát số thu và số chi, thu xong hai bên Pháp Nam hội đồng chuẩn định chi phícác sở và công nhu, còn bao nhiêu sẽ nộp về kho ở kinh cho triều đình nướcNam

Khoản 12: Tất cả các sở thương chính trong nước Đại Nam tái lập lại đềugiao cho quan Đại Pháp chuyên biện Chỉ nên mở sở thương chính ở duyênhải và biên giới mà thôi Các sở thương chính, hễ từ trước đến nay các võ

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w