Hiện nay, một số phương pháp đã được GVTiểu học vận dụng vào dạy học một cách có hiệu quả và phát huy được tính tíchcực trong học tập của HS, trong đó có đề cập đến SĐTD.Năm 2010, Dự án
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS CHU THỊ HÀ THANH
Trang 32 LTVC Luyện từ và câu
6 PGD & ĐT Phòng Giáo dục và đào tạo
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ……… 4
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 4
1.2 Sơ đồ tư duy và việc sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC……… 6
1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4, 5 với việc sử dụng SĐTD 15
1.4 Khả năng vận dụng SĐTD vào các nội dung DH LTVC lớp 4, 5 22
1.5 Tiểu kết chương 1 26
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ……….27
2.1 Nội dung chương trình LTVC lớp 4, 5 với việc sử dụng SĐTD 27
2.2 Giới thiệu về quá trình nghiên cứu thực trạng……… 33
2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng………34
2.4 Tiểu kết Chương 2………46
Chương 3: QUY TRÌNH SỬ DỤNG SĐTD VÀ TỔ CHỨC CHO HỌC SINH SỬ DỤNG SĐTD TRONG DẠY HỌC LTVC Ở LỚP 4, 5……….47
3.1 Các nguyên tắc đề xuất……… 47
3.2 Sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC……… 51
3.3 Thử nghiệm Sư phạm ……… 81
3.4 Tiểu kết Chương 3 ……… 96
KẾT LUẬN CHUNG 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC ……….101
Trang 5Tuy nhiên, việc dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn LTVC nói riêng cònnhiều khó khăn bởi bản thân Tiếng Việt vốn rất giàu và rất đẹp, sự diễn đạttrong Tiếng Việt rất phong phú và đa dạng Muốn diễn đạt tốt ngôn ngữ củachính dân tộc mình, các em cần phải hiểu rõ cấu tạo, ý nghĩa, bản chất và cách
sử dụng của Tiếng Việt trong từng ngữ cảnh, trong từng trường hợp cụ thể Do
đó, cần phải có biện pháp giúp HS học tốt Tiếng Việt, cụ thể là học tốt phânmôn LTVC
Từ xưa đến nay, việc dạy học ở Tiểu học đã có rất nhiều phương pháp giúp
HS đạt được, tiếp thu được những kiến thức, kĩ năng, thái độ cần có theo từnglứa tuổi Từ những phương pháp truyền thống cho đến những phương pháp dạyhọc mới theo hướng tích cực hóa đều có những ưu khuyết điểm riêng Trong cácphương pháp đó, không có phương pháp nào là hay nhất, tốt nhất mà GV phảibiết kết hợp các phương pháp để chúng hổ trợ lẫn nhau nhằm giúp HS tìm tòi,phát hiện và chiếm lĩnh tri thức
Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mớiphương pháp dạy học theo quan điểm “lấy người học làm trung tâm” được đặt ramột cách bức thiết Bản chất của dạy học “lấy người học làm trung tâm” lànhằm phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học Có
Trang 6rất nhiều phương pháp dạy học mới đang được triển khai nhằm nâng cao chấtlượng giáo dục, trong đó dạy học bằng SĐTD là một phương pháp mới đangđược sự chú ý của rất nhiều người SĐTD đã được ứng dụng rất nhiều và thànhcông trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống.
Trên thực tế hiện nay, còn nhiều HS học tập một cách thụ động, chỉ họcthuộc lòng để nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa được rèn luyện kỹnăng tư duy HS chỉ học gì biết nấy, chưa có sự liên hệ kiến thức nên các emchưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ thống Để có thể giúp HS dễ nhớ
và nhớ lâu bài, kích thích hứng thú học tập của các em ở tất cả các môn học,SĐTD chính là một trong những phương pháp học tập đạt hiệu quả cao Học tậpbằng SĐTD sẽ giúp các em nắm tri thức một cách có hệ thống, dễ nhớ, hìnhthành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc và khoa học,các em sẽ học tốt không chỉ các kiến thức trong sách vở mà còn nắm bắt đượccác kiến thức từ thực tế cuộc sống Vì vậy, nếu GV giúp các em biết sử dụngSĐTD cũng có nghĩa là GV đã giúp các em có phương pháp học tập tốt nhằmnâng cao hiệu quả học tập
Với các lí do trên, tôi xác định đề tài nghiên cứu là: Sử dụng sơ đồ tư duy
trong dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất quy trình sử dụng SĐTD và tổ chức cho HS sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC ở lớp 4, 5 nhằm nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở Tiểu
học
3 Khách thể - đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học LTVC lớp 4, 5
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quy trình sử dụng SĐTD và tổ chức cho HS sử dụngSĐTD trong dạy học LTVC ở lớp 4, 5
4 Giả thuyết khoa học
Trang 7Nếu đề xuất được quy trình sử dụng SĐTD và tổ chức cho HS sử dụng SĐTDphù hợp với đặc điểm tư duy và quá trình nhận thức của HS lớp 4, 5 thì có thểnâng cao được chất lượng dạy học của phân môn LTVC.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
5.2 Quy trình sử dụng SĐTD và tổ chức cho HS sử dụng SĐTD trong dạy họcLTVC
5.3 Thử nghiệm sư phạm để kiếm tra kết quả nghiên cứu của đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
7 Đóng góp mới của luận văn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì cấutrúc luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 3: Quy trình và tổ chức cho học sinh sử dụng SĐTD trong dạy họcLTVC ở lớp 4, 5
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Khái quát về SĐTD
SĐTD là một công cụ cho mọi hoạt động tư duy Có thể miêu tả nó là một
kỹ thuật hình hoạ, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù
hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp khai phá
tiềm năng vô tận của bộ não
SĐTD được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20) bởi Tony
Buzan (ông sinh năm 1942 tại London), là người sáng tạo ra phương pháp tưduy bằng sơ đồ Theo Tony Buzan, dạy học bằng sơ đồ SĐTD được xem như làmột cách để giúp HS "ghi lại bài giảng" mà chỉ cần dùng các từ then chốt và cáchình ảnh Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn
Tony Buzan đã xây dựng tên tuổi của mình từ một ý tưởng về cơ bản rấtđơn giản mà ông gọi là SĐTD - công cụ hỗ trợ tư duy được mô tả là “Công cụcủa bộ não” với hơn 250 triệu người sử dụng trên thế giới
Giữa thập niên 70, Peter Russell đã làm việc chung với Tony Buzan và họ
đã truyền bá kĩ xảo về Mind Map cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các họcviện giáo dục
Adam Khoo là một trong những triệu phú trẻ giàu có nhất Singapore, doanhnhân và là diễn giả hàng đầu của Châu Á, ông đã ứng dụng thành công SĐTD để
từ chỗ là một HS cá biệt, có thành tích học tập kém cỏi đã vươn lên trở thànhmột HS giỏi toàn diện và thành công vang dội khắp Châu Á Có thể nói: SĐTD
là bí quyết của sự thành công trong cuộc sống
1.1.2 Sử dụng SĐTD trong dạy học ở nhà trường
Dự án hổ trợ GV Tiểu học của tổ chức Cứu trợ Nhi đồng Úc và Thụy Điển
đã giới thiệu tài liệu “Dạy học phát huy tính tích cực của HS trong Toán vàTiếng Việt ở Tiểu học” Các bài đọc chuyên môn trong tập tài liệu này cũng tập
Trang 9trung vào môn Toán và Tiếng Việt Hiện nay, một số phương pháp đã được GVTiểu học vận dụng vào dạy học một cách có hiệu quả và phát huy được tính tíchcực trong học tập của HS, trong đó có đề cập đến SĐTD.
Năm 2010, Dự án Việt – Bỉ với chuyên đề “Nâng cao chất lượng đào tạo vàbồi dưỡng GV tiểu học” cũng đã giới thiệu tài liệu “Dạy và học tích cực – Một
số phương pháp và kỹ thuật dạy học” Tài liệu này đã giới thiệu một số phươngpháp và kỹ thuật dạy học tích cực hiện đang được thực hiện tại nhiều nước trênthế giới và các nước trong khu vực, nhằm giúp cho GV tiếp cận với một sốphương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực của HS như: phươngpháp học theo góc, học theo hợp tác, học theo dự án và các kỹ thuật khăn phủbàn, mảnh ghép, đặc biệt là SĐTD
Hưởng ứng phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt” và đổi mới phương phápdạy học nhằm phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS, hiện nay các GV đang
áp dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực để từng bước chuyển dần cách dạyhọc: từ chỗ trang bị kiến thức cho học sinh sang dạy cho học sinh cách tiếp cận
và tìm tòi kiến thức Từ đó, vận dụng kiến thức vào thực tế và biến đổi thành kỹnăng cho riêng bản thân mình Việc áp dụng phương pháp dạy học bằng SĐTDkết hợp với các phương pháp học nhóm, công nghệ thông tin,… vào trong giảngdạy hiện đang là công cụ phù hợp và đạt hiệu quả mà ở một số trường đang dầnthực hiện trong việc nâng cao chất lượng dạy và học trong giáo dục hiện nay
Trong phương pháp dạy học trước đây thì việc dạy học bằng SĐTD đãđược nhiều GV áp dụng như vẽ sơ đồ hay biểu bảng nhưng chỉ ở mức độ đơngiản và GV áp dụng không thường xuyên
SĐTD phù hợp với tâm lý HS, nó đơn giản, dễ hiểu, giúp HS thay việc ghinhớ lý thuyết bằng ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hóa kiến thức
Trang 10- SĐTD trợ giúp xác định những khái niệm then chốt, thể hiện mối liên hệgiữa các ý tưởng và giúp ghi nhớ một cách bền vững.
- SĐTD trợ giúp lập kế hoạch cho một hoạt động hay một dự án thông qua
tổ chức và tập hợp các ý tưởng, thể hiện mối liên hệ giữa chúng
- SĐTD trợ giúp đánh giá kinh nghiệm hoặc kiến thức thông qua quá trìnhsuy nghĩ về những yếu tố chính trong những gì đã biết hoặc đã làm
Như vậy, đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứumột cách toàn diện việc sử dụng SĐTD trong dạy học Tiếng Việt nói chung, dạyhọc LTVC nói riêng cho HS tiểu học
1.2 Sơ đồ tư duy và việc sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC
1.2.1 Sơ đồ tư duy
Khái niệm:
SĐTD là một công cụ tổ chức tư duy, là con đường dễ nhất để chuyển tảithông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Đồng thời là phương tiệnghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó “sắp xếp” ý nghĩ.SĐTD là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh, để
mở rộng và đào sâu các ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởngđược liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên mộtphạm vi rất rộng Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh, … gây ra những kíchthích rất mạnh trên hệ thống rìa (hệ thống cổ áo) của não giúp cho việc ghi nhớđược lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích, xử lý, rút
ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu
Tất cả chúng ta đều biết rằng: SĐTD hay còn gọi là lược đồ tư duy, bản đồ
tư duy, … hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau Các quan điểm này tùythuộc vào cách nhìn nhận của mỗi người về nó
Trang 11Trong cuốn “Lập Bản đồ tư duy” Tony Buzan cho rằng: SĐTD là phươngpháp dễ nhất để truyền tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin rangoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theođúng nghĩa của nó.
Trong cuốn “Sử dụng trí tuệ của bạn” do Lê Huy Lâm biên dịch đã địnhnghĩa: SĐTD là phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của
bộ não Đây là cách ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay để phân tích vấn đề thànhmột dạng của lược đồ phân nhánh
Trong cuốn “Sơ đồ tư duy cho trẻ em” do Thanh Huyền biên dịch quanniệm rằng: SĐTD là một công cụ tổ chức tư duy, là một phương tiện ghi chéphiệu quả thể hiện sự “sắp xếp” ý nghĩ của bạn
Bên cạnh đó, trên một số trang web cũng đưa ra một số quan niệm về
SĐTD: Theo nguồn tin từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, SĐTD (Mindmap)
là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năngghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, tổng hợp, phân
tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy
tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo một trình tự nhất địnhchẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của một câu truyện) thì não bộ còn cókhả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau Phương pháp này khai thác cảhai khả năng này của bộ não
Phương pháp này có lẽ đã được nhiều người Việt biết đến nhưng nó chưađược hệ thống hóa, chưa được nghiên cứu kĩ lưỡng và phổ biến chính thức trongnước mà chỉ được dùng rải rác trong giới sinh viên, học sinh trong các mùa thi.Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng giản đồ ý,tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thìliên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức ghi chép này, các dữ liệuđược ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn Thay vì dùng chữ viết
để miêu tả một chiều thì SĐTD biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối
Trang 12tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng, sự quan hệ
hỗ tương giữa các khái niệm (hay ý) có liên quan và cách liên hệ giữa chúng vớinhau bên trong của một vấn đề lớn
SĐTD là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, SĐTD được hiểu như làmột hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét
vẽ, màu sắc và chữ viết Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế SĐTD theomạch tư duy của mỗi người (Theo báo GD&TĐ)
Thạc sĩ Trương Tinh Hà (Khoa Vật lý Trường Đại học Sư phạm TP.HCM),trong bài viết “Giảng dạy và học tập với công cụ bản đồ tư duy” cũng đưa raquan niệm về SĐTD - là công cụ xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mốiliên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt:ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo, …Đây là một hình thức ghi chép sử dụng nhiều màu sắc và hình ảnh để lập kếhoạch hay giải quyết một vấn đề nào đấy Với SĐTD thì chúng ta có thể có mộtcái nhìn tổng quan và đầy đủ về các kế hoạch, dự án, đồng thời phát huy tối đasức mạnh trí tuệ để giải quyết vấn đề một cách sáng tạo
Có quan niệm khả thi đơn giản hóa SĐTD bằng công thức:
Ghi nhớ tốt + Từ khoá + Não trái phải = SƠ ĐỒ TƯ DUY
Sơ đồ tư duy của bộ não
Trang 13Theo điều tra khảo sát thì phần đông những người biết đến SĐTD đều đồng
ý với quan niệm rằng: SĐTD là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hìnhảnh để mở rộng, đào sâu các ý tưởng Ở giữa sơ đồ là một ý tưởng hay hình ảnhtrung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng cácnhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý trung tâm Cácnhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ởmức độ sâu hơn nữa Nhờ sự kết nối giữa các nhánh mà các ý tưởng cũng có sựliên kết dựa vào mối liên hệ của bản thân các ý Điều này khiến SĐTD có thểbao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê các ýtưởng thông thường không thể làm được
Mặc dù diễn đạt khác nhau nhưng tất cả các quan niệm trên đều hướng đếnmột kết luận chung là: SĐTD là công cụ tổ chức tư duy, giúp con người làmviệc khoa học, sáng tạo
Như vậy SĐTD là kĩ thuật dạy học nhằm tổ chức và phát triển tư duy, giúp
người học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não mộtcách dễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và hiệu quả:
+ Mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng
+ Bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng
Trang 14Nói một cách khác, SĐTD chính là sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởngvới nhau khiến SĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên phạm vi rộng Tínhhấp dẫn của hình ảnh, màu sắc, … gây ra những kích thích rất mạnh mẽ trên hệthống bộ não giúp việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi
để vỏ não phân tích, xử lý, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượngcần nghiên cứu Đây là một sơ đồ mở, nó phát huy được tối đa khả năng sángtạo của mỗi người
1.2.1.1 Sự cần thiết của SĐTD đối với việc dạy học LTVC ở Tiểu học
Trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học, LTVC được tách ra thànhmột phân môn độc lập, có vị trí ngang bằng với các phân môn khác như Tậpđọc, Chính tả, Tập làm văn, Ngoài ra LTVC còn được đặt trong các phân mônkhác thuộc môn Tiếng Việt và trong giờ học của các môn khác, Như vậy nộidung dạy về LTVC trong chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn họcnói chung ở Tiểu học, chiếm một tỷ lệ đáng kể Điều này cho thấy ý nghĩa quantrọng của việc dạy LTVC ở Tiểu học
Nói đến dạy LTVC ở Tiểu học người ta thường nói tới 3 nhiệm vụ chủ yếu
là giúp HS phong phú hoá vốn từ, chính xác hoá vốn từ và tích cực hoá vốn
từ Phong phú hoá vốn từ còn gọi là mở rộng vốn từ (MRVT), phát triển vốn từ
nghĩa là xây dựng một vốn từ ngữ phong phú, thường trực và có hệ thống trong
trí nhớ HS, để tạo điều kiện cho từ đi vào hoạt động ngôn ngữ (nghe đọc, nói
-viết) được thuận lợi Chính xác hoá vốn từ là giúp HS hiểu nghĩa của từ một
cách chính xác - nhất là đối với những từ ngữ mà HS thu nhận được qua cách
học tự nhiên, đồng thời giúp HS nắm được nghĩa của những từ ngữ mới Tích
cực hoá vốn từ là giúp HS luyện tập, sử dụng từ ngữ trong nói - viết, nghĩa là
giúp HS chuyển hoá những từ ngữ tiêu cực (từ ngữ mà chủ thể hiểu nhưngkhông hoặc ít dùng) thành những từ ngữ tích cực (từ ngữ được chủ thể sử dụng
trong nói - viết) phát triển kỹ năng, kỹ xảo phát triển từ ngữ cho HS.
Trang 15Trong 3 nhiệm vụ cơ bản nói trên, nhiệm vụ phong phú hoá vốn từ, phát
triển, MRVT được coi là trọng tâm Bởi vì, đối với HS tiểu học, từ ngữ đượccung cấp trong phân môn LTVC sẽ giúp các em hiểu được các phát ngôn khinghe - đọc
Ngoài ra, ở một chừng mực nào đó, phân môn LTVC ở Tiểu học còn cónhiệm vụ cung cấp cho HS một số khái niệm có tính chất sơ giản ban đầu về cấutạo từ và nghĩa của từ Tiếng Việt (như các khái niệm từ đồng nghĩa, từ tráinghĩa, từ đồng âm, nghĩa của từ, ) Những kiến thức có tính chất lý thuyết về
từ này có tác dụng làm cơ sở, làm chỗ dựa cho việc thực hành luyện tập về từngữ của HS
Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, SĐTD có thể phục
vụ một số mục đích Ba trong số những mục đích chính là làm cho tư duy trởnên nhìn thấy được qua sơ đồ:
- Tìm hiểu những gì ta biết, giúp xác định những khái niệm then chốt, thểhiện mối liên hệ giữa các ý tưởng và lập nên một mẫu có nghĩa từ những gì tabiết và hiểu, do đó giúp ghi nhớ một cách bền vững
- Trợ giúp lập kế hoạch cho một hoạt động hoặc một dự án thông qua tổchức và tập hợp các ý tưởng và thể hiện mỗi liên hệ giữa chúng
- Trợ giúp đánh giá kinh nghiệm hoặc kiến thức thông qua quá trình suynghĩ về những yếu tố chính trong những gì đã biết hoặc đã làm
- Trong SĐTD, HS được tự do phát triển các ý tưởng, xây dựng mô hình vàthiết kế mô hình để giải quyết những vấn đề thực tiễn Từ đó hình thành và pháttriển các kiến thức, kĩ năng tư duy cho HS
Với việc lập SĐTD, HS không chỉ là tiếp nhận thông tin mà còn cần phảisuy nghĩ về các thông tin đó, giải thích nó và kết nối nó với cách hiểu biết của
Trang 16mình Và điều quan trọng hơn là HS học được một quá trình tổ chức thông tin,
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớlâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ củamình vì vậy việc sử dụng SĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy độngtối đa tiềm năng của bộ não Việc HS tự vẽ SĐTD có ưu điểm là phát huy tối đatính sáng tạo của HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS, các em tự
do chọn lựa những màu sắc yêu thích (xanh, đỏ, tím, vàng, …), những đườngnét (thẳng, cong, đậm, nhạt, …) Mỗi tác phẩm SĐTD mà HS vẽ được thể hiện
rõ cách hiểu, cách trình bày của từng HS và qua đó HS sẽ biết yêu quý và trântrọng tác phẩm do mình làm ra
Sử dụng SĐTD đối với việc dạy học LTVC ở Tiểu học còn có tác dụng làdạy cho HS phương pháp tự học một cách khoa học ngay từ bậc tiểu học, giúp
HS biết cách ghi chép có hiệu quả và nắm vững ý chính khi đọc tài liệu thamkhảo, biết hệ thống hóa các bài học cụ thể, tự ôn tập các chủ điểm hay tổng kếtvốn từ của mình theo một hệ thống logic
Với việc lập SĐTD, HS không chỉ tiếp nhận thông tin mà còn phải suy nghĩ
về các thông tin đó, giải thích và kết nối nó bằng cách hiểu biết của mình
Với cách thể hiện gần như là cơ chế hoạt động của bộ não, SĐTD rất phùhợp với nhận thức và tâm lý HS, SĐTD sẽ giúp HS:
- Tự tin, sáng tạo hơn
- Tiết kiệm thời gian
Trang 17- Học có hiệu quả hơn, bài học sinh động hơn
- Trao đổi thông tin và ghi nhớ tốt hơn Quan hệ giữa HS tốt hơn
- Nhìn thấy bức tranh tổng thể, tổ chức và phân loại
- Hoạt động học tập phong phú hơn, HS hoạt động nhiều hơn
- Động não về một vấn đề phức tạp…
- Trẻ vui học, học vui
- GV có nhiều cơ hội giúp đỡ HS hơn và phát triển được tính độc lập, sángtạo của HS
Như vậy sử dụng SĐTD trong dạy học đã phát huy được tính sáng tạo, tối
đa hoá khả năng của mỗi cá nhân đồng thời kết hợp sức mạnh cá nhân thành sứcmạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả SĐTD tạocho mỗi cá nhân cơ hội được giao lưu học hỏi và phát triển chính mình một cáchhoàn thiện hơn
Để cho việc sử dụng SĐTD trong dạy học đạt hiệu quả thiết thực, GV cần
có kế hoạch:
- Đối với HS trung bình: Tập cho HS có thói quen tự ghi chép, tổng kết một
vấn đề, một chủ đề đã đọc, đã học theo cách hiểu của các em dưới dạng SĐTD
- Cho HS tập “đọc hiểu” và tự vẽ SĐTD sau từng bài học Ban đầu, GV cho các
em làm quen với một số SĐTD có sẵn, sau đó tập cho các em vẽ bằng cách cho
từ khóa (key words) – tên chủ đề hoặc một hình ảnh, hình vẽ của chủ đề chínhvào vị trí trung tâm rồi đặt ra các câu hỏi gợi ý để các em tiếp tục vẽ ra cácnhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3… Hướng dẫn, gợi ý để các em tự hệ thống kiến thứctrọng tâm, kiến thức cần nhớ của mỗi bài học vào một trang giấy Có thể vẽchung trên một cuốn vở hoặc để thành các trang giấy rời, rồi kẹp thành một tập.Mỗi bài học được vẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần, chỉ cầnrút tờ SĐTD của bài đó ra là các em nhanh chóng ôn lại kiến thức một cách dễdàng
Trang 18- Với cách làm này, GV sẽ rèn luyện cho bộ óc các em hướng dần tới cách suynghĩ lôgic, mạch lạc và cũng là cách giúp các em hiểu bài, ghi nhớ kiến thức vàonão chứ không phải là học thuộc lòng, học vẹt.
- Đối với HS khá giỏi: Sử dụng SĐTD để tìm hiểu cách giải quyết một vấn đề,
hay tìm nhiều hướng giải của một bài toán, hệ thống hóa kiến thức … Việc vẽ raSĐTD theo nhóm nên thực hiện trước khi nghiên cứu tài liệu mới, kiến thức mới
để cả nhóm tìm cách giải quyết vấn đề hoặc cũng có thể thực hiện để hệ thốnghóa kiến thức một chủ đề, một chương Sau khi mỗi nhóm “vẽ” xong, đại diệnmỗi nhóm hoặc một số thành viên trong mỗi nhóm “thuyết trình” SĐTD cho cảlớp nghe để thảo luận, góp ý, bổ sung (nếu cần thiết)
Ngoài việc vẽ SĐTD trong học tập, nên tập cho các em có thói quen sử dụngSĐTD tự ghi tóm nội dung chính của sách dưới dạng SĐTD khi các em đọcsách Hoặc gợi ý cho các em lập kế hoạch học tập, vạch kế hoạch cho bản thân
để biến ước mơ thành hiện thực trong tương lai, các kế hoạch này có thể bổ sungdần dần theo năm tháng bằng cách vẽ thêm nhánh khi mỗi người có sự điềuchỉnh kế hoạch Khuyến khích HS ôn luyện bài, học bài ở nhà, ở lớp hoạt độngnhóm bằng SĐTD
1.3 Đặc điểm nhận thức của HS lớp 4, 5 với việc sử dụng SĐTD
1.3.1 Đặc điểm của quá trình nhận thức
Vấn đề đặc điểm lứa tuổi trẻ em ngày nay đang được các nhà khoa họcquan tâm nghiên cứu và đặc biệt chú trọng đến sự phát triển Sự phát triển làthuật ngữ để chỉ sự phát triển nhanh về sinh lý, về tâm lý của trẻ em
Sự phát triển sớm về trí tuệ, sự phát triển về tri thức ở trẻ em ngày nay có thểxem như là sự phát triển tâm lý của trẻ em Mặt khác, sự nhận thức của trẻ emngày nay cũng được mở rộng, năng khiếu, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu thẩm
mĩ, trở nên phong phú và đa dạng hơn Trẻ em ngày nay còn được tiếp nhậnnhững lượng thông tin nhờ sự tăng dần đáng kể của các phương tiện thông tinđại chúng,
Trang 19Với những đặc diểm này, việc giáo dục trẻ em cũng dễ hơn và cũng khóhơn trước Dễ hơn là vì trẻ tiếp thu nhanh, có khả năng và điều kiện để vận dụngnhững điều đã học Khó hơn là vì tầm suy nghĩ của chúng rộng hơn, những vấn
đề chúng đặt ra phong phú và phức tạp hơn
HS lớp 4, 5 là những trẻ ở độ tuổi 9 đến 10 tuổi Theo nghiên cứu của cácnhà tâm lý học, ở lứa tuổi này các em có những thay đổi rõ rệt về nhận thức.Nhìn chung thì nhận thức của các em ở giai đoạn này vẫn là nhận thức cảm tính
Tư duy của các em vẫn mang tính cụ thể, hình tượng Việc dạy kiến thức cho
HS lớp 4, 5 vẫn cần thiết sử dụng đồ dùng trực quan như tranh ảnh, vật thật,phim, để các em có thể nhanh chóng nắm bắt được kiến thức cần thiết Nhưng
để hình thành và phát triển năng lực tư duy trừu tượng cho HS thì cần tiến hànhtheo nhiều mức độ khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp GVcần hướng dẫn cho HS cách tiếp cận để có thể nhanh chóng tìm ra những địnhnghĩa khái quát, trừu tượng đúng với cái mà từ ngữ cần biểu đạt Nghĩa là GVphải để HS tự thực hiện các thao tác tư duy như: phân tích, so sánh, cụ thể hóa,trừu tượng hóa, khái quát hóa, Đây chính là các thao tác để HS đi vào suynghĩ, hình thành tư duy trừu tượng
a Nhận thức cảm tính
- Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều
phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện
- Tri giác: Tri giác của HS tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang
tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trựcquan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quansát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mangtính mục đích, có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kếhoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )
Trang 20Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới,mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thíchtrẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
* Tưởng tượng
- Tưởng tượng của HS tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm nonnhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên,tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và
dễ thay đổi
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình
ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đốiphát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ,làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bịchi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiệntượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các
em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc,đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt
Trang 21động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức
lý tính của mình một cách toàn diện
* Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Hầu hết HS tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầuxuất hiện ngôn ngữ viết và đến lớp 4, 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắtđầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ pháttriển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tựkhám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảmtính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởngtượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữnói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thểđánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phảitrau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thúcủa trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyệntranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghehoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cáchviết nhật kí, Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú
và đa dạng
* Chú ý và sự phát triển nhận thức của HS tiểu học
Giai đoạn cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh
chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự
nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một côngthức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giớihạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép đểlàm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gianquy định
Trang 22Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc haybài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụnglinh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thểcủa trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáodục trẻ
* Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của HS tiểu học
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic
Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường.
Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủđịnh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ củacác em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thúcủa các em
Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quáthóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọngcần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễhiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú
và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức
* Ý chí và sự phát triển nhận thức của HS tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu
cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen,
quét nhà để được ông cho tiền, ) Nhưng đến cuối tuổi tiểu học các em đã có
khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuyvậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các
em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho HS tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục sựkiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ,thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ
Trang 23Nói tóm lại, đây là bước ngoặc lớn của trẻ thơ Môi trường thay đổi - Đòi
hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút Chuyển từ hiếu kỳ,
tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầu kiềm chế dần tínhhiếu động, bộc phát để chuyển thành tính kỷ luật, nề nếp, chấp hành nội quy họctập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôibàn tay để tập viết, Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốtnhững điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và
xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học
1.3.2 Hứng thú học tập của HS khi sử dụng SĐTD
Hứng thú học tập của HS khi sử dụng SĐTD phụ thuộc vào các yếu tố: bảnthân HS, GV, cơ sở vật chất Dạy học có sử dụng SĐTD sẽ làm cho giờ họctrở nên sinh động, thu hút được sự chú ý của HS vì đây là hình thức học tập cótính mới lạ lại dễ thực hiện nên được các em tiếp nhận nhanh chóng Giờ học trởnên sôi nổi, các em được sáng tạo, được phát huy kỹ năng hội họa, trí tưởngtượng khiến cho các em có hứng thú học và chờ đợi tới giờ để học Nhờ thíchthú, có hứng thú học nên HS phát huy được tính tích cực của mình, các em hănghái tham gia giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình học, tạo ra hiệu quả họctập cao Ứng dụng SĐTD vào dạy học sẽ tạo cho HS cảm thấy thoải mái tronggiờ học, giảm bớt gánh nặng lo ngại học bài (học vẹt), giảm áp lực về học tậpcho HS Bước đầu được vẽ SĐTD theo ý mình, các em cảm thấy mới mẻ, thíchthú và làm tăng hứng thú học tập Với những hình ảnh sinh động, hấp dẫn đượcthiết kế theo trí tưởng tượng của mình sẽ tạo cho HS sự say mê, yêu thích mônhọc, kích thích được sự sáng tạo của HS
Trong quá trình dạy học bằng SĐTD, GV thiết kế trò chơi (thi đua vẽSĐTD nhanh nhất, đẹp nhất) lồng vào tiết học giúp HS vừa học vừa chơi, tiếpthu kiến thức dễ dàng, nhanh chóng, mang lại kết quả học tập tốt hơn và HScũng thích thú hơn Ngoài ra, với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi tiểu học thìnhững hình ảnh mới lạ, có màu sắc bắt mắt, kích thích tính tò mò, muốn khám
Trang 24phá vì thế tính tích cực tìm hiểu của HS sẽ được phát huy Giai đoạn này, ở các
em tư duy trực quan sinh động phát triển hơn cả và việc GV sử dụng các SĐTD
có hình ảnh sẽ giúp cho HS nắm vấn đề dễ dàng hơn Cũng chính từ việc hiểu,nắm được những vấn đề cơ bản mà HS tích cực tư duy, phát hiện và giải quyếtvấn đề nảy sinh từ những vấn đề cơ bản
Như vậy, nếu áp dụng được SĐTD vào trong dạy học sẽ mang lại nhữnghiệu quả to lớn trong dạy và học, GV có phương pháp dạy mới, có sự sáng tạo
và khoa học hơn khi trình bày bài giảng; HS có hứng thú và tiếp thu bài nhanhhơn, có điều kiện để phát triển tư duy
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy bằng SĐTD nói chung và môn TiếngViệt nói riêng, việc lấy HS làm trung tâm thúc đẩy tư duy HS, mở cho các emhướng nghiên cứu và tự mình giải quyết những thắc mắc, những khó khăn trongviệc tìm hiểu phân tích Người GV không còn giảng giải một cách say sưa, HSkhông tiếp thu bài một cách thụ động, các em được làm quen với những câu hỏigợi mở, những gợi ý cho một đề tài thảo luận, các em có quyền nêu những ýkiến cá nhân về đề tài , về chủ điểm, về từ khóa Những ý kiến chưa chính xác
sẽ gây tranh cãi góp phần rất lớn trong việc điều chỉnh nhận thức, gây hứng thúcho các em
Việc gây hứng thú trong giờ dạy bằng SĐTD bước đầu cả GV và HS đềuphải làm việc tích cực, thời gian chuẩn bị bài nhiều hơn, HS phải hoạt động hơntrong giờ học, chắc chắn sẽ có những khó khăn nhất định, lúc mới áp dụng khi
HS phải đi từ cách học thụ động (nghe giảng, ghi chép) sang cách học tích cực(phát biểu ý kiến, tham gia thảo luận, dự các trò chơi, ) Tuy nhiên với tâm sinh
lý của lứa tuổi tiểu học: bản tính ham học hỏi, thích thú với việc được sáng tạo,được vừa chơi vừa học cùng với sự nhiệt tình tổ chức hướng dẫn của GV, dạyhọc bằng SĐTD sẽ thành công tốt đẹp trong giờ dạy LTVC ở tiểu học
1.4 Khả năng vận dụng SĐTD vào các nội dung dạy học LTVC lớp 4, 5
Trang 25- Vận dụng SĐTD vào các nội dung dạy học LTVC lớp 4, 5 sẽ mang lại hiệuquả cao, phát huy tính tích cực của HS SĐTD phù hợp với tâm lý HS, đơn giản,
dễ hiểu thay cho việc ghi nhớ lý thuyết bằng ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hóa kiếnthức Nhờ SĐTD, HS sẽ hiểu sâu bản chất của vấn đề và phát triển tư duy logic,khả năng phân tích tổng hợp, MRVT, giúp HS hiểu bài ,nhớ lâu, thay cho ghinhớ dưới dạng thuộc lòng, học “vẹt”
- Dạy học LTVC cho HS lớp 4, 5 bằng cách sử dụng SĐTD, người GV sẽ đạtđược mục đích rèn luyện và phát huy tư duy logic cho HS trong việc lĩnh hộicũng như vận dụng vốn từ vào học tập và giao tiếp
- Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu
và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ củamình Vì vậy việc sử dụng SĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy độngtối đa tiềm năng của bộ não Việc HS tự vẽ SĐTD có ưu điểm là phát huy tối đatính sáng tạo của HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS, các em tự
do chọn màu sắc (xanh, đỏ, tím, vàng, ), đường nét đậm nhạt, thẳng cong, Trên mỗi SĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng HS vàSĐTD do các em tự thiết kế nên các em sẽ yêu quý và trân trọng “tác phẩm” củamình hơn
- Vận dụng SĐTD vào các nội dung dạy học LTVC lớp 4, 5 còn có ý nghĩa làdạy cho HS cách tự học khoa học, giúp HS biết cách ghi chép và nắm vững ýchính khi đọc tài liệu tham khảo, biết hệ thống hóa các bài học cụ thể, tự ôn tậpcác chủ điểm hay tổng kết vốn từ của mình theo một hệ thống logíc
SĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (cácnhánh) Có thể vận dụng SĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiếnthức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì
Trang 26Qua nghiên cứu và thực nghiệm giảng dạy cho thấy một số GV còn gặpkhó khăn trong việc tổ chức hoạt động dạy học trên lớp với việc thiết kế và sửdụng SĐTD
* Đối với dạng bài mở rộng và hệ thống hóa vốn từ:
Nếu trình độ HS trong lớp còn hạn chế về tiếng Việt, GV chỉ có thể yêu cầu tìmđược một vài từ thông dụng theo gợi ý trong SGK (tùy thuộc khả năng và vốnsống của HS) hoặc chủ động dẫn dắt, gợi ý, giải nghĩa từ ngữ bằng nhiều hìnhthức khác nhau để bổ sung vốn Tiếng Việt và giúp các em dễ thực hiện yêu cầucủa bài tập; hạn chế HS tự làm bài hoặc trao đổi theo nhóm để bớt khó khăncho HS trong giờ học LTVC
Ví dụ: Trong bài MRVT “Hữu nghị – Hợp tác” (TV5, tập 1, trang 56), bài
tập 2 có yêu cầu sau:
Xếp các từ có tiếng hợp cho dưới đây thành hai nhóm a và b:
hợp tình, hợp tác, phù hợp, hợp thời, hợp lệ, hợp nhất, hợp pháp, hợp lực, hợp lí, thích hợp
a Hợp có nghĩa là “gộp lại” (thành lớn hơn) M: hợp tác.
b.Hợp có nghĩa là “đúng với yêu cầu, đòi hỏi nào đó” M: thích hợp.
GV có thể giúp HS hiểu nghĩa từ hợp pháp (đúng với pháp luật) để các em
có thể xếp vào nhóm b
Khi HS tập giải nghĩa từ, GV cũng cần chấp nhận nhiều cách diễn đạtkhác nhau (đôi khi còn vụng về, “ngây ngô”), miễn sao thể hiện được sự cảmnhận đúng và biết cách dùng từ không sai lạc về ý nghĩa Từ đó, GV uốn nắn
để các em biết cách giải nghĩa từ cho chính xác
Trang 27* Đối với loại bài hình thành kiến thức lý thuyết: để phù hợp với đặc điểm
nhận thức của HS lớp 5, GV cần khai thác và vận dụng hiệu quả phương pháp
phân tích ngôn ngữ Tư duy phân tích, tổng hợp của HS lớp 5 đã bước đầu hình
thành, các em đã biết tri giác các tài liệu học tập để tìm ra những hiện tượng lặplại và phát hiện bản chất của sự vật, hiện tượng Để giờ học lí thuyết đảm bảotính vừa sức và tạo được hứng thú với HS, GV cần phối hợp sử dụng các
phương pháp dạy học khác như: phương pháp luyện tập theo mẫu , phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp thảo luận nhóm, …
Ví dụ: Khi dạy bài Từ đồng âm, để giúp HS nhận biết khái niệm về từ đồng
âm và phân biệt nghĩa của các từ đồng âm, GV nên cho HS thảo luận nhóm đểcác em huy động vốn hiểu biết của mình về từ đồng âm và cùng nhau trao đổinhững hiểu biết của mình về từ đồng âm mà bài học yêu cầu
* Đối với loại bài luyện tập: Tùy từng nội dung cụ thể, GV có thể sử dụng phối
hợp các phương pháp dạy học: phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp
thảo luận nhóm, phương pháp trò chơi học tập, để HS có thể thực hành các
kiến thức lí thuyết được học một cách linh hoạt vào các tình huống sử dụngngôn ngữ cụ thể
Tư duy là một khái niệm dùng để chỉ những hoạt động tinh thần của conngười, giúp con người có nhận thức đúng đắn về hiện tượng, sự vật, sự việc.Hoạt động tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức
đã nắm được từ trước, phát triển những suy nghĩ tiếp theo, là giai đoạn cao củaquá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật.Con người thường tư duy bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm,phán đoán, suy luận Sơ đồ là bản vẽ ghi lại những nét chính của sự vật, sự việc,hoạt động SĐTD là bản vẽ ghi lại những nét chính về nhận thức của con người
Trang 28về một sự vật (sự việc) nào đó và được coi là công cụ ghi chú tối ưu do TonyBuzan khởi xướng.
Tư duy bằng sơ đồ là dùng hình ảnh, đường nét, màu sắc, ngôn ngữ ghi lạinhận thức của mình về sự vật, sự việc, hoạt động … định hướng phát triển của
sự vật, sự việc, hoạt động đó theo cách nhìn nhận của mỗi cá nhân Sự khácnhau cơ bản giữa ghi chú truyền thống và ghi chú bằng SĐTD là: Nếu ghi chútruyền thống chỉ lấy “chữ” làm phương tiện biểu hiện theo một trật tự nhất định(thường là từ trên xuống dưới, trái qua phải), thì SĐTD sử dụng cả đường nét,hình vẽ, màu sắc… lại được con người sử dụng thiết kế phi tuyến tính hoàn toàntheo sở thích cá nhân họ Người ta nói rằng “Nếu ghi chép thông tin bằng các kí
tự, đường thẳng, con số … thì chúng ta chỉ sử dụng một nửa của bộ não – nãotrái, mà chưa hề sử dụng kĩ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng xử lí cácthông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng”
Sản phẩm của tư duy bằng bản đồ chỉ được thể hiện trong một giới hạn nhấtđịnh (một mặt phẳng) nên người ta phải biết chọn lựa những hình ảnh, màu sắc,ngôn ngữ tối giản nhất để có thể biểu hiện tối đa nhất
Tuy nhiên, mặt mạnh của SĐTD lại cũng chính là hạn chế của nó SĐTDghi lại nhận thức của con người chủ yếu bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc mà
ít dùng ngôn ngữ SĐTD không lí giải mà chỉ biểu hiện mối quan hệ của cácthành tố sự vật, sự việc, nó thể hiện dễ dàng với các quan hệ logic thứ bậc, nóđòi hỏi phải chọn lọc từ ngữ và hình ảnh biểu tượng ấn định có tính độc đáo
1.5 Tiểu kết Chương 1
Tóm lại, trong chương 1, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lí luậncủa việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và việc vận dụng kỹ thuật dạyhọc tích cực vào dạy học LTVC ở lớp 4, 5 nói riêng
Chúng tôi đã phân tích và khái quát về SĐTD và việc sử dụng SĐTD trongdạy học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng; Đặc điểm nhận thức –hứng thú học tập của học sinh khi sử dụng SĐTD; Khả năng vận dụng SĐTD
Trang 29vào các nội dung dạy học LTVC ở lớp 4, 5; Chúng tôi đã khái quát tương đối vềđịnh nghĩa và sự cần thiết của SĐTD đối với việc dạy học LTVC ở Tiểu học.Đặc biệt là việc sử dụng SĐTD trong dạy học nhưng trên thực tế hiện nay ítđược GV sử dụng.
Những vấn đề về cơ sở lí luận mà chúng tôi khái quát được trong chương 1 chính là cơ sở khoa học cho việc đề xuất cách vận dụng SĐTD vào dạy học LTVC ở lớp 4, 5 mà chúng tôi sẽ trình bày trong chương sau
Trang 30Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Nội dung chương trình LTVC lớp 4, 5 với việc sử dụng SĐTD
2.1.1 Mục tiêu
Phân môn LTVC lớp 4, 5 giúp HS:
1 Mở rộng, hệ thống hóa vốn từ và trang bị cho HS một số hiểu biết sơgiản về từ, câu và văn bản
2 Rèn luyện cho HS các kỹ năng dùng từ đặt câu (nói và viết) và sử dụngcác dấu câu
3 Bồi dưỡng cho HS thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; có ýthức sử dụng Tiếng Việt trong văn hóa giao tiếp
2.1.2 Nội dung chương trình LTVC lớp 4, 5
2.1.2.1 Lớp 4
a Nội dung dạy LTVC trong sách TV 4
Học kì I Học kì II Cả năm
- Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ
- Cấu tạo tiếng, từ:
+ Cấu tạo của tiếng
522
43
10
9
19
23
522
439
Trang 3161
30
31
62162
b Yêu cầu kiến thức, kỹ năng của phân môn LTVC lớp 4
Yêu cầu kiến thức
Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ:
- Việc mở rộng và hệ thống hoá vốn từ được thực hiện thông qua các biện pháp:cung cấp từ theo chủ điểm, cung cấp thành ngữ - tục ngữ theo chủ điểm, hệthống hoá và tích cực hóa vốn từ
- HS được học MRVT theo các chủ điểm
Trang bị các kiến thức sơ giản về từ và câu
* Từ
- Cấu tạo tiếng
- Cấu tạo từ : + Từ đơn và từ phức
Trang 32* Các kiểu câu
+ Câu hỏi và dấu chấm hỏi
- Câu hỏi là gì?
- Dùng câu hỏi vào mục đích khác
- Cách phép lịch sự khi đặt các câu hỏi
- Câu cầu khiến là gì?
- Cách đặt câu cầu khiến
- Giải pháp khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị
- Nhận biết được các bộ phận cấu tạo của tiếng
- Giải các câu đố chữ liên quan đến cấu tạo của tiếng
- Nhận biết các kiểu cấu tạo từ
- Nhận biết các từ loại
Trang 33- Đặt câu với những từ đã cho.
- Tìm từ theo nghĩa và hình thức cấu tạo đã cho
- Xác định nghĩa của từ và các yếu tố cấu tạo từ
- Đặt câu với từ đã cho
- Xác định từ huống sử dụng thành ngữ - Tục ngữ
* Câu
- Nhận biết các kiểu câu
- Đặt câu theo mẫu
- Nhận biết các kiểu trạng ngữ
- Thêm trạng ngữ cho câu
- Nhận biết tác dụng của dấu câu
- Điền dấu câu vào chỗ thích hợp
- Viết đoạn văn với dấu câu thích hợp
- Chữa lỗi về dấu câu
- Lựa chọn kiểu câu để đảm bảo yêu cầu giao tiếp
2.1.2.2 Lớp 5
Nội dung dạy LTVC trong sách TV 5
Học kì I Học kì II Cả năm
- Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ
-Nghĩa của từ (từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa,
từ đồng âm, từ nhiều nghĩa)
- Từ loại (đại từ, quan hệ từ)
- Câu ghép
- Văn bản (liên kết câu)
- Ôn tập (về từ loại, cấu tạo từ, câu đơn,
dấu câu, tổng kết vốn từ)
Tổng số
12
115
432
10
84830
22
115841262
Trang 34Yêu cầu kiến thức, kỹ năng của phân môn LTVC lớp 5
Yêu cầu kiến thức
a Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ:
Từ ngữ được mở rộng và hệ thống hoá trong phân môn LTVC ở lớp 4, 5bao gồm các từ thuần Việt, Hán Việt, các thành ngữ và tục ngữ phù hợp với chủđiểm học tập của từng đơn vị học
b Trang bị các kiến thức sơ giản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và văn bản; Rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu, liên kết câu và sử dụng dấu câu
* Ngữ âm
+ Các bộ phận của vần
+ Cách đánh dấu thanh trên phần vần
* Từ và nghĩa của từ
+ Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ theo chủ điểm
+ Nghĩa của từ: Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.+ Từ loại: - Đại từ
* Ôn tập: - về cấu tạo từ, về từ loại, về câu và về dấu câu
Yêu cầu kỹ năng:
Trang 35+ Nhận biết và có khả năng sử dụng các đại từ, quan hệ phổ biến.
+ Nhận biết và có khả năng tạo lập câu ghép trong nói và viết
+ Biết dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu hai chấm, dấuchấm phẩy, dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang
- Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ:
+ Nhận biết và bước đầu cảm nhận được cái hay của những câu văn có sửdụng biện pháp so sánh, nhân hóa trong các bài học
+ Biết dùng các biện pháp nhân hóa và so sánh để nói và viết được câu vănhay
2.1.3 Đặc điểm cấu trúc nội dung chương trình LTVC lớp 4, 5
Nội dung chương trình LTVC lớp 4, 5 được cấu trúc theo từng chủ điểm.Thông qua các chủ điểm, SGK giúp HS mở rộng, hệ thống hóa, tích cực hóa vốn
từ một cách tự nhiên và có hiệu quả
Theo nguyên tắc tích hợp, nội dung ngữ liệu trong từng phân môn, từng bàiđều có nội dung phù hợp với chủ điểm của tuần Chẳng hạn, lấy VD ở tuần 1
(TV4): Đây là tuần có chủ điểm Thương người như thể thương thân Trong phân
môn LTVC, HS học về cấu tạo của tiếng Ngữ liệu cho HS phân tích để rút ra
mô hình cấu tạo của tiếng là những câu ca dao như: Bầu ơi thương lấy bí cùng,tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn; … Như vậy, nội dung ngữ liệu đềutập trung vào chủ điểm chính, thể hiện tính tích hợp cao của chương trình
Trang 36Theo quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của HS, kiến thức bài mớiđược xây dựng dựa trên hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn HS thực hiện cáchoạt động nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát triển kỹ năng sử dụng Tiếng Việt VD: Bài MRVT Cái đẹp (TV4, tập 2, trang 40), SGK có nhiều câu hỏikhiến HS phải tích cực suy nghĩ mới trả lời được những câu hỏi ấy.
Tìm các từ:
a) Thể hiện vẻ đẹp bên ngoài của con người
b) Thể hiện nét đẹp trong tâm hồn, tính cách con người
c) Chỉ dùng để thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh vật
d) Dùng để thể hiện vẻ đẹp của cả thiên nhiên, cảnh vật, con người (Mỗicâu hỏi đều có từ mẫu cho HS)
Qua bài tập trên, các em sẽ được MRVT nói về cái đẹp, từ cái đẹp bênngoài đến cái đẹp bên trong, tính cách con người đến cái đẹp của thiên nhiên,cảnh vật, … Từ những dạng bài tập như thế làm cho giờ học thêm sinh động, HSđược rèn luyện năng lực tư duy suy nghĩ, được MRVT, được luyện tập thựchành nhiều hơn là học lý thuyết, …
2.2 Giới thiệu về quá trình nghiên cứu thực trạng
Để xác lập cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu chúng tôi đã tiến hànhkhảo sát nội dung dạy học LTVC lớp 4, 5, thực trạng nhận thức và sử dụngSĐTD của GV trong dạy học và chất lượng học LTVC của HS trong phân mônLTVC lớp 4, 5
2.2.1 Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi khảo sát vấn đề này là để làm căn cứ thực tiễn cho việc đưa ra quytrình sử dụng SĐTD và tổ chức cho HS sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC ởlớp 4, 5
2.2.2 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng nhận thức của GV về sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC
- Thực trạng sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC
Trang 37- Thực trạng về chất lượng học LTVC của HS lớp 4,5.
2.2.3 Địa bàn nghiên cứu, đối tượng khảo sát
GV và HS các trường trong Quận 5 – TP Hồ Chí Minh
2.2.4 Tiêu chuẩn và thang đánh giá
- Dùng phiếu thăm dò, thu thập ý kiến của một số GV và HS lớp 4, 5
- Dự giờ một số tiết dạy phân môn LTVC của GV lớp 4, 5
- Thu thập nhận xét từ phiếu đánh giá tiết dạy của CBQL trường học, thu thậpthông tin từ kết quả làm bài của HS trong vở
- Phỏng vấn một số GV và HS lớp 4, 5 một số trường Tiểu học
2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng
Qua khảo sát 61 phiếu thăm dò GV lớp 4,5 ở các trường Tiểu học trên địabàn Quận 5 – TP HCM: TH Hùng Vương, TH Minh Đạo, TH Nguyễn ĐứcCảnh, TH Lê Đình Chinh
Ngoài việc lấy ý kiến của GV qua phiếu thăm dò, chúng tôi còn tiến hành
dự giờ một số tiết dạy phân môn LTVC của GV lớp 4, 5 (5 tiết), tập hợp cácnhận xét ở phiếu đánh giá tiết dạy của các thanh tra viên đã trực tiếp dự giờ tiếtdạy của GV
Trong quá trình dự giờ GV, chúng tôi đã quan sát hoạt động học của HS,xem vở TV của các em, đồng thời trực tiếp trò chuyện - phỏng vấn nhanh một số
GV ở các lớp mà chúng tôi dự giờ để tìm hiểu về kết quả học tập môn TV củacác em và kĩ năng sử dụng vốn từ trong học tập và trong giao tiếp của các em.Tổng hợp số liệu khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng, chúng tôi thuđược kết quả sau:
2.3.1.Thực trạng của GV về sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC
2.3.1.1.Thực trạng nhận thức của GV về sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC
Phân môn LTVC tạo cho HS môi trường giao tiếp để HS MRVT có địnhhướng, trang bị cho HS các kiến thức cơ bản về TV gắn với các tình huống giao
Trang 38tiếp thường gặp Từ đó nâng cao các kỹ năng sử dụng TV của HS GV là mộttrong 3 nhân tố cần được xem xét của quá trình dạy học LTVC là nhân tố quyếtđịnh sự thành công của quá trình dạy học này Khi nghiên cứu quá trình dạy,hướng dẫn HS làm các dạng bài tập LTVC cho HS lớp 4, 5: tôi thấy thực trạngcủa GV như sau:
Bảng 2.1 Mức độ nhận thức của GV về việc sử dụng SĐTD
và các nhiệm vụ trong dạy học LTVC ở lớp 4, 5
Sự cần thiết của việc
sử dụng SĐTD
Các nhiệm vụ của việc
dạy LTVC STT Đơn vị thăm dò Rất
cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
Nêu Nêu Nêu
đủ chưa sai đúng đủ
nó cũng giúp rèn cho HS thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu, có ý thức
sử dụng TV trong giao tiếp phù hợp với các chuẩn mực văn hóa
- Về các nhiệm vụ của việc dạy LTVC, phần lớn GV đã hiểu và nêu được một
số nhiệm vụ của việc dạy LTVC nhưng chưa đầy đủ Số GV nêu không đủ
Trang 39nhiệm vụ hoặc nêu sai chiếm tỷ lệ tương đối nhiều Qua phiếu trả lời của GV,chúng tôi nhận thấy rất nhiều GV hiểu chưa thấu đáo các nhiệm vụ của việc dạyLTVC, gọi tên các nhiệm vụ chưa thống nhất, trùng lặp, thậm chí có GV còn có
sự nhầm lẫn giữa các nội dung dạy học LTVC Ví dụ: Có GV nêu nhiệm vụ củadạy LTVC là “giải nghĩa từ, phân loại vốn từ, chính xác hóa vốn từ, sử dụng từ,viết văn, tích cực hóa vốn từ” Hoặc như có GV cho rằng nhiệm vụ của dạyLTVC là “Nghe – Nói – Đọc – Viết”, hoặc có GV thì nêu: “Giới thiệu bài –Hình thành khái niệm – Hướng dẫn luyện tập – Củng cố, dặn dò” Chỉ có một ít
GV là hiểu đầy đủ và thấu đáo, lô-gíc các nhiệm vụ liên hoàn của dạy LTVC là:
Hệ thống hóa vốn từ (phân loại, quản lý, MRVT), Chính xác hóa vốn từ (giảinghĩa từ, nắm nghĩa từ), Tích cực hóa vốn từ (Sử dụng từ, đặt câu, viết văn),Văn hóa vốn từ (làm đẹp vốn từ, dùng từ có văn hóa)
- GV một số ít không chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để khai tháckiến thức, lệ thuộc vào đáp án, gợi ý dẫn đến HS ngại học phân môn này
- Cách dạy của một số GV còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sách giáo khoa,hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn HS
- Nhiều GV chưa quan tâm đến việc MRVT, phát triển vốn từ cho HS, giúp HSlàm giàu vốn hiểu biết phong phú về môn TV
- Thực tế trong trường tôi công tác, chúng tôi thường rất tích cực đổi mớiphương pháp dạy sao cho có hiệu quả nhất ở môn học này Đồng thời là tiền đềtrong việc phát triển bồi dưỡng những em có năng khiếu Nhưng kết quả giảngdạy và hiệu quả còn bộc lộ không ít những hạn chế
2.3.1.2 Thực trạng sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC
Bảng 2.2 Mức độ sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC ở lớp 4, 5
Mức dộ sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa sử dụng
Trang 40Nhìn vào bảng số liệu, chúng tôi rút ra được một số ý sau:
- Hầu hết GV đã biết sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực vào dạy học TV ởtiểu học nói chung và môn LTVC ở lớp 4, 5 nói riêng Đặc biệt là các phươngpháp và kỹ thuật dạy học như : thực hành giao tiếp, đàm thoại, luyện tập theomẫu, kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật học tập hợp tác,… thường xuyên được GV
sử dụng trong các tiết dạy học trên lớp, GV đã sử dụng khá nhuần nhuyễn vàlinh hoạt các phương pháp, kỹ thuật này Song, vẫn còn một số GV thỉnh thoảngmới sử dụng hoặc chỉ sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực khi có người dự giờ,thăm lớp nên khi sử dụng rất lúng túng, cứng nhắc, không điều tiết được hoạtđộng của HS GV có sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực nhưng vẫn còn mangtính hình thức chưa đem lại hiệu quả thiết thực HS làm việc thụ động, chỉ mộtvài HS hoạt động còn lại phần lớn là các em ngồi im, trông chờ vào kết quả làmviệc của nhóm Cách thức tổ chức các hoạt động chưa khoa học, chưa bao quátđược HS, hệ thống câu hỏi, dẫn dắt tìm hiểu bài còn vụn vặt, chưa mạch lạc,chưa lô-gíc
- Tuy thời gian qua, hầu hết các GV đều được tập huấn và tham dự các chuyên
đề về việc vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực vào dạy tất cả các môn nhưngthực tế rất nhiều GV chưa sử dụng SĐTD trong dạy học LTVC ở lớp 4, 5
Xử lý tình huống Sư phạm còn chậm bởi vì GV chưa hiểu hết được mụcđích và tác dụng của SĐTD nên chưa biết cách vận dụng và khai thác triệt đểvào bài dạy Do đó, đa số GV chỉ dừng lại ở việc xây dựng sơ đồ rồi giảng giải
để HS công nhận Việc làm này chỉ mang tính hình thức và áp đặt HS, làm cho
HS chưa thật sự là chủ thể của hoạt động, tự tìm kiếm và ghi nhớ cũng như làmphong phú thêm vốn từ cho bản thân trên cơ sở khai thác vốn từ và kinh nghiệmsẵn có Trên thực tế, hệ thống các bài tập LTVC ở lớp 4, 5 vẫn có một số bài tậpđược trình bày ở dạng sơ đồ (cho bảng kẻ sẵn tên các nhóm từ, yêu cầu HS tìm
từ hoặc chọn từ điền vào mỗi nhóm) Nhưng do GV chưa hiểu hết tác dụng của