1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

113 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử Dụng Phương Tiện Dạy Học Hiện Đại Vào Giảng Dạy Môn Pháp Luật Đại Cương Tại Trường Đại Học Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh – Cơ Sở Nghệ An
Tác giả Cao Thị Phương Nhung
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Lương Bằng
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Giáo dục Chính trị, Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Vinh và các thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng d

Trang 1

CAO THỊ PHƯƠNG NHUNG

SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC HIỆN ĐẠI VÀO GIẢNG DẠY MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – CƠ SỞ NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, 2012

Trang 2

CAO THỊ PHƯƠNG NHUNG

SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC HIỆN ĐẠI VÀO GIẢNG DẠY MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – CƠ SỞ NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Trang 3

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Giáo dục Chính trị, Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Vinh và các thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng dạy tôi trong khóa học, đã dành nhiều tâm huyết truyền đạt những tri thức quý báu, giúp tôi hoàn thành khóa học và luận văn.

Đặc biệt, để thực hiện đề tài “Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại

vào giảng dạy môn Pháp luật đại cương tại trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở Nghệ An” tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận

tình của PGS TS Nguyễn Lương Bằng Vì vậy, cho phép tôi được gửi lời cảm

ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Lương Bằng - Người Thầy đã hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, cơ sở Nghệ An cùng đồng nghiệp, gia đình

và bạn bè đã động viên, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập

và hoàn thành luận văn.

Vinh, tháng 7 năm 2012

Tác giả

Cao Thị Phương Nhung

Trang 4

TT CHỮ VIẾT TẮT NỘI DUNG

1 ĐHCNTPHCM Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

5 PTDHHĐ Phương tiện dạy học hiện đại

Trang 5

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

B PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC HIỆN ĐẠI VÀO GIẢNG DẠY MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – CƠ SỞ NGHỆ AN 7

1.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn Pháp luật đại cương tại trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở Nghệ An 7

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào dạy môn Pháp luật đại cương tại Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở Nghệ An 23

Kết luận chương 1 37

CHƯƠNG II: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC HIỆN ĐẠI VÀO GIẢNG DẠY MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – CƠ SỞ NGHỆ AN 38

2.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 38

2.2 Đối tượng và địa điểm thực nghiệm 39

2.3 Phương pháp thực nghiệm 39

2.4 Nội dung thực nghiệm 40

2.5 Quy trình thực nghiệm 54

2.6 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm 56

Kết luận chương 2 65

Trang 6

CƯƠNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH – CƠ SỞ NGHỆ AN 67

3.1 Những yêu cầu sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn Pháp luật đại cương tại trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở Nghệ An 67

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn Pháp luật đại cương tại trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở Nghệ An 81

Kết luận chương 3 95

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

E PHỤ LỤC 102

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự bùng nổ của công nghệ thông tin, truyền thông nói riêng và khoahọc công nghệ nói chung đã và đang tác động mạnh mẽ đến quá trình pháttriển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội, trong đó có ngành giáo dục

Tùy theo mức độ phát triển về chính trị, kinh tế và xã hội mà mỗi nước

đã đề ra các chiến lược phát triển giáo dục khác nhau Nhiều mô hình, giảipháp được triển khai, nhưng tất cả đều có xu hướng chung là nâng cao tínhtích cực trong dạy và học, giúp cho người học hướng tới học tập chủ động,sáng tạo Muốn vậy, cần phải cải cách, cải tiến đồng bộ cả phương pháp vàphương tiện dạy học Nghị quyết 40/2000/ Quốc Hội khóa X đã khẳng định:

“Đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học phảithực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học” [23;1]

Dạy học là một hoạt động truyền thông, hoạt động dạy học của giáoviên được coi là có hiệu quả khi trong một thời gian cho phép, có thể phát ramột lượng thông tin phong phú liên quan đến môn học, đạt được mục đích,nhiệm vụ dạy học Trong từng trường hợp cụ thể, mỗi giáo viên phải biết lựachọn “kênh” thông tin phù hợp để chuyển tải một lượng thông tin phong phú

và hấp dẫn Thiết bị dạy học hiện đại sẽ có lợi thế lớn trong việc cung cấpthông tin thông qua việc tác động một lúc đến nhiều giác quan của người học,giúp cho việc tiếp nhận tri thức sâu sắc và bền vững

Để đáp ứng yêu cầu giáo dục, trường Đại học Công nghiệp thành phố

Hồ Chí Minh – cơ sở Nghệ An đang từng bước đổi mới phương pháp dạy vàhọc theo hướng phát huy tính tích cực của sinh viên Tuy nhiên, quá trìnhtriển khai thực hiện vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, đặc biệt là việc sử dụngphương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy các môn lý thuyết nói chung vàmôn Pháp luật đại cương nói riêng chưa thực sự đạt kết quả cao Nhiều giáo

Trang 8

viên chưa chịu khó cải tiến dạy học, chưa biết vận dụng các phương tiện nghenhìn để hỗ trợ quá trình lên lớp Đây là một vấn đề cấp thiết đang đặt ra choNhà trường hiện nay Nhận thấy được tầm quan trọng to lớn của việc sử dụngphương tiện dạy học hiện đại, là một giảng viên của khoa Khoa học cơ bản vàkiến thức cơ sở ở trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh – cơ

sở Nghệ An đã thôi thúc tôi phải có trách nhiệm nghiên cứu, tìm tòi đổi mớiphương pháp, phương tiện giảng dạy cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn

Xuất phát từ những lý do nói trên, đồng thời quán triệt Quyết định số1928/2009/QĐ-TTg ngày 20 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

trong nhà trường", chúng tôi chọn vấn đề “Sử dụng phương tiện dạy học

hiện đại vào giảng dạy môn Pháp luật đại cương tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh - cơ sở Nghệ An” làm đề tài nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiêncứu, nhiều bài viết liên quan đến việc vận dụng phương tiện dạy học Nhữngcông trình nghiên cứu đó đã góp phần quan trọng làm thay đổi nhận thức củagiáo viên về việc khai thác và sử dụng các phương tiện hiện đại nhằm đổi mới

phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tiêu biểu có các

công trình:

Nghiên cứu về các phương tiện dạy học có cuốn “Phương tiện dạy

học” của tác giả Tô Xuân Giáp đã nêu cụ thể vai trò của các loại phương tiện

nghe nhìn cũng như phạm vi sử dụng, cách thiết kế, chế tạo các loại phương

tiện dạy học Ngoài ra, còn có các công trình như: “Giáo dục học hiện đại” của Đặng Thành Hưng; “Lý luận dạy học đại cương” của Nguyễn Ngọc Quang; “Tài liệu bài giảng lý luận dạy học” của Nguyễn Văn Tuấn; “Lý luận

giảng dạy đại học” của Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức; “Thiết bị dạy học và điều kiện đảm bảo sử dụng có hiệu quả” của Lê Minh Luân.

Trang 9

Các công trình này chủ yếu đề cập đến các vấn đề chung về phươngtiện dạy học như khái niệm, phân loại, vai trò, chức năng, yêu cầu sử dụngcủa nó trong quá trình dạy học Tuy nhiên, các công trình đó chưa đi sâunghiên cứu về phương tiện dạy học hiện đại cũng như việc ứng dụng vàogiảng dạy các môn học cụ thể.

Nghiên cứu về phương tiện dạy học hiện đại tiêu biểu có cuốn

sách“Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” của Thái Duy Tuyên đã

chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức và các biện pháptích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, trong đó việc khai thác và sửdụng phương tiện nghe nhìn là một trong những biện pháp hữu hiệu Hay Hồ

Thị Hưng với bài viết “Mối quan hệ giữa phương pháp dạy học tích cực với

phương tiện dạy học hiện đại” đã phân tích: “Giữa phương pháp dạy học tích

cực và các phương tiện dạy học hiện đại có mối quan hệ tương trợ lẫn nhau.Điều quan trọng là người giáo viên phải biết được những nguyên tắc vàng khi

áp dụng các phương pháp và phương tiện đó, để phát huy một cách tối ưu vào

công tác giảng dạy”[14;1] Bên cạnh đó còn có các tác phẩm như: “Sử dụng

máy vi tính trong nhà trường” của tác giả Nguyễn Hạnh; “Công nghệ thông tin trong dạy học ở trung học phổ thông” của Đào Thái Lai; “Tiêu chí đánh giá chất lượng thiết bị dạy học và hiệu quả sử dụng trong quá trình dạy học”

của Vũ Trọng Rỹ; “Giáo trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học” của Đỗ Mạnh Cường; “Phân loại và sử dụng phương tiện trực quan trong

dạy học” của Lê Tràng Định.

Nghiên cứu việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại trong giảng

dạy các môn chính trị có luận văn “Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào

giảng dạy phần III môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin

ở trường Cao đẳng Y tế Nghệ An” của Nguyễn Thị Thanh Hương; “Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn chủ nghĩa xã hội khoa học ở trường chính trị Trần Phú – Hà Tĩnh” của Bùi Thị Nhung Bên cạnh đó,

Trang 10

nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng giảng dạy pháp luật, nổi bật có các

công trình: “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học pháp

luật ở trường trung học phổ thông” của Nguyễn Thị Thanh Mai; “Góp phần dạy tốt, học tốt môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông” của

Nguyễn Đăng Bằng; “Giáo dục pháp luật trong nhà trường” của Nguyễn

Đình Đặng Lục

Ngoài các công trình đã nêu trên, còn có nhiều công trình, bài viết khácnghiên cứu vấn đề sử dụng phương tiện dạy học nhưng chưa có công trình

nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về sử dụng phương tiện dạy học

hiện đại vào dạy môn Pháp luật đại cương Tuy nhiên, những kết quả nghiên

cứu trên là các tư liệu quý để tác giả làm cơ sở, tiền đề cho luận văn Đề tài

“Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn Pháp luật đại

cương tại trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh – cơ sở Nghệ An” là sự tiếp nối, kế thừa những công trình khoa học nghiên cứu đã có để có

thể đào sâu nghiên cứu vào một môn học góp phần nâng cao hiệu quả giảngdạy Pháp luật đại cương ở các trường Cao đẳng, Đại học nói chung

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục tiêu

Nghiên cứu việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại (PTDHHĐ) vàodạy môn pháp luật đại cương (PLĐC) tại Trường Đại học Công nghiệp thànhphố Hồ Chí Minh (ĐHCNTPHCM) - cơ sở Nghệ An nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng PTDHHĐ vào bộ môn PLĐC, góp phần nâng cao chất lượng giảngdạy môn học

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng PTDHHĐ vào

dạy môn PLĐC tại Trường ĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ An Cụ thể là: làm

rõ khái niệm phương tiện dạy học (PTDH); khái niệm, chức năng, phân loại

Trang 11

PTDHHĐ; ý nghĩa, thực trạng sử dụng PTDHHĐ vào dạy mụn PLĐC ởTrường ĐHCNTPHCM – cơ sở Nghệ An.

- Tiến hành khảo sỏt thực nghiệm, thiết kế giỏo ỏn tiến tới thực nghiệmmức độ phự hợp, khẳng định tớnh khả thi và hiệu quả của việc sử dụngphương tiện dạy học hiện đại vào dạy mụn PLĐC tại Trường ĐHCNTPHCM

- cơ sở Nghệ An

- Phõn tớch cỏc yờu cầu và xõy dựng giải phỏp nhằm sử dụng hiệu quảPTDHHĐ vào dạy mụn PLĐC tại Trường ĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ An

4 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu

4.1 Đối tượng nghiờn cứu

+ Vấn đề sử dụng PTDHHĐ vào dạy mụn PLĐC

+ Diện khảo sỏt: Trường ĐHCNTPHCM – cơ sở Nghệ An

4.2 Phạm vi nghiờn cứu

Luận văn tập trung đi sõu nghiờn cứu việc sử dụng PTDHHĐ, chủ yếu

là cỏc phương tiện nghe nhỡn, trong giảng dạy mụn Phỏp luật đại cương tạitrường ĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ An hiện nay

5 Phương phỏp nghiờn cứu

Trong đề tài chỳng tụi sử dụng cỏc phương phỏp liờn ngành của xó hộihọc, toỏn học như: điều tra, phỏng vấn, thu thập số liệu, phõn tớch, so sỏnh,đối chiếu, thống kờ, xử lý thụng tin để nghiên cứu thực trạng dạy học mụnPLĐC tại Trường ĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ An

6 Giả thuyết khoa học

Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào dạy mụn PLĐC tại TrườngĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ An một cỏch đỳng đắn, phự hợp thỡ sẽ phỏt huyđược tớnh tớch cực, chủ động của sinh viờn, đẩy mạnh phong trào thi đua dạytốt mụn PLĐC ở Trường ĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ An

Trang 12

7 Đóng góp của đề tài

- Về lý luận: luận văn có thể là nguồn tư liệu tham khảo đối với giáoviên dạy bộ môn PLĐC, Giáo dục công dân và sinh viên ngành Giáo dụcchính trị

- Về thực tiễn: luận văn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học mônPLĐC, phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên Trường ĐHCNTPHCM

- cơ sở Nghệ An

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,nội dung chính của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng PTDHHĐ vàogiảng dạy môn PLĐC tại Trường ĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ An

Chương 2: Thực nghiệm sư phạm việc sử dụng PTDHHĐ vào dạy mônPLĐC tại Trường ĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ An

Chương 3: Những yêu cầu và giải pháp sử dụng hiệu quả PTDHHHĐvào giảng dạy môn PLĐC tại Trường ĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ An

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG

PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC HIỆN ĐẠI VÀO GIẢNG DẠY MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - CƠ SỞ NGHỆ AN

1.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn Pháp luật đại cương tại trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh - cơ sở Nghệ An.

1.1.1 Lý luận chung về phương tiện dạy học hiện đại

1.1.1.1 Khái niệm phương tiện dạy học và phương tiện dạy học hiện đại

Theo đại từ điển tiếng Việt, “phương tiện là cái để tiến hành côngviệc”[38;1352] có thể hiểu nghĩa là công cụ dùng để đạt mục đích

Phương tiện theo tiếng La tinh là “medium”, có nghĩa là ở giữa, trung

gian liên kết giữa người cho và người nhận Phương tiện vừa nói lên sự hàmchứa, tính vị trí, vừa có chức năng chuyển giao, liên kết trong quan hệ giữangười gửi và người nhận

Phương tiện là một cấu trúc chứa đựng và thể hiện các tín hiệu nhằmchuyển giao nội dung nhất định giữa người gửi và người nhận bằng hệ thốngcác tín hiệu thông qua các giác quan cảm nhận của con người

- Phương tiện dạy học:

Cũng giống như bất kỳ một quá trình sản xuất nào, quá trình dạy họccũng phải sử dụng những công cụ lao động nhất định Có rất nhiều cách địnhnghĩa khác nhau về PTDH:

“Phương tiện dạy học là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sửdụng trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học đó là: các vật

Trang 14

thật, các vật tượng trưng (bản đồ, sơ đồ, biểu đồ), các vật tạo hình (tranh ảnh,

mô hình, hình vẽ, phim); thí nghiệm và các thiết bị thí nghiệm, các phươngtiện mô tả đối tượng và hiện tượng bằng lời, bằng kí hiệu (sách giáo khoa,sách hướng dẫn, tài liệu in, các công thức, phương trình); các phương tiện kỹthuật dạy học (phương tiện nghe nhìn, computer, camera )” [31;12]

Hay một đánh giá “PTDH là tập hợp những đối tượng vật chất đượcgiáo viên sử dụng với tư cách là những đối tượng tổ chức, điều khiển hoạtđộng nhận thức của người học, là phương tiện nhận thức của người học, thôngqua đó mà thực hiện những nhiệm vụ dạy học” [19;7]

Khác với các ý kiến trên, quan điểm giáo dục học nhìn nhận PTDH làđại diện khách quan của đối tượng nhận thức ẩn chứa trong đó đầy đủ những

ý định, hoạch định ban đầu cả về nội dung truyền đạt và nhận thức, phươngpháp truyền đạt của giáo viên và lĩnh hội của học sinh

Theo Nguyễn Ngọc Quang, phương tiện dạy học “bao gồm mọi thiết bị

kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm

dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo” [27;78]

Phần lớn các quan điểm xem PTDH là một tập hợp những đối tượng vậtchất được GV sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt độngnhận thức của học sinh và đối với học sinh, đó là nguồn tri thức phong phú đểhọc sinh lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kỹ năng

Để hiểu đầy đủ khái niệm PTDH chúng ta cần tìm hiểu theo nghĩa rộng

và nghĩa hẹp “Theo nghĩa rộng, phương tiện dạy học là toàn bộ các yếu tố sửdụng vào trong quá trình dạy học nhằm tác động đến sự chuyển biến nộidung, đạt được mục tiêu dạy học Theo nghĩa hẹp, PTDH là những đối tượngmang nội dung dạy học, gồm một tập hợp ký hiệu được trình bày và lưu trêngiá mang thông tin (phương tiện truyền thông)” [32;36]

Có rất nhiều cách định nghĩa về PTDH, tùy theo mức độ rộng, hẹp khác

nhau Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm PTDH là những đối

Trang 15

tượng vật chất được giáo viên sử dụng để tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo của người học.

Khái niệm hiện đại chỉ tồn tại khi có khái niệm truyền thống Phươngtiện dạy học truyền thống là các loại phương tiện dạy học đã được sử dụng lâuđời và ngày nay vẫn còn được sử dụng trong dạy học Thông thường, phươngtiện dạy học truyền thống được hiểu là những đồ dùng trực quan được dùngtrong dạy học như giáo trình, bảng viết, vật mẫu, vật thật, v.v

Nội hàm khái niệm PTDHHĐ gồm các thuộc tính sau:

+ Đó là những phương tiện chưa xuất hiện trong dạy học truyền thống+ Đó là những phương tiện ra đời từ bắt đầu cuộc cách mạng khoa họccông nghệ hiện đại (từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX đến nay)

+ Đó là những phương tiện được chế tạo bằng trình độ công nghệ caonhư máy vi tính, máy chiếu

+ Đó là những phương tiện dạy học cũ nhưng được đổi mới về chất nhưbảng điện tử đa năng, thư viện điện tử, v.v

PTDHHĐ vừa là sản phẩm của tư duy khoa học hiện đại, vừa là công

cụ tiện ích phục vụ cho quá trình tư duy khoa học của nhân loại

1.1.1.2 Chức năng của phương tiện dạy học hiện đại

Khi nghiên cứu về giáo dục học chúng ta đã biết một kết luận quantrọng, đó là: tính trực quan là tính chất có tính quy luật của quá trình nhậnthức khoa học Do đó, khi dạy các môn học GV cần chú ý đến hai vấn đề chủyếu sau:

+ Học sinh tri giác trực tiếp các đối tượng Con đường nhận thức nàyđược thể hiện dưới dạng học sinh quan sát các đối tượng nghiên cứu ở trongcác giờ học hay khi đi tham quan

+ Dưới sự hướng dẫn của GV, SV tri giác không phải bản thân đốitượng nghiên cứu mà tri giác những hình ảnh, biểu tượng, sơ đồ phản ánh một

bộ phận nào đó của đối tượng

Trang 16

Trong khi tri giác những biểu tượng có sơ đồ hóa hoặc hình ảnh của đốitượng và hiện tượng, quá trình cần nghiên cứu, học sinh có thể tìm hiểu đượcbản chất của các quá trình và hiện tượng đã thực sự xảy ra Những tính chất

và hiểu biết về đối tượng được SV tri giác không chỉ bằng thị giác mà còn cóthể bằng xúc giác, thính giác và trong một số trường hợp ngay cả khứu giáccũng được sử dụng

PTDHHĐ có những chức năng chủ yếu sau:

+ Chức năng kiến tạo tri thức:

Thực hiện chức năng này nghĩa là thiết bị dạy học hiện đại đáp ứngđược sự cần thiết của việc giảng giải nội dung kiến thức Nếu học sinh chưabiết nội dung thông tin chứa trong PTDH truyền thống thì PTDHHĐ mangchức năng hình thành biểu tượng về đối tượng cần nghiên cứu cho học sinh

PTDH tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoàicủa đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng Phương tiệndạy học giúp cụ thể hóa những cái quá trừu tượng, đơn giản hóa những máymóc và thiết bị quá phức tạp

+ Chức năng minh họa:

Ở đây, PTDHHĐ không chỉ có tác dụng minh họa làm sáng rõ thêm nộidung giáo viên trình bày bằng ngôn ngữ mà còn hỗ trợ, bổ sung thêm nhữngthông tin hình ảnh mà GV không thể trình bày trọn vẹn, rõ ràng bằng ngônngữ của mình

+ Chức năng rèn luyện kỹ năng:

PTDHHĐ có thể hỗ trợ rèn luyện kỹ năng sử dụng một số công cụ,thiết bị điện tử Đồng thời, giúp SV phát triển một số kỹ năng quan sát, tưduy, phân tích, so sánh, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độtin cậy

+ Chức năng tổ chức, điều khiển quá trình học tập:

Trang 17

Sử dụng PTDH minh họa còn có tác dụng hợp lí hóa lao động của GV

và SV, tiết kiệm được thời giờ đứng lớp để có thêm quỹ thời gian để giảnggiải, rèn luyện các kiến thức khác tốt hơn Mặt khác, nó còn giúp GV điềukhiển được hoạt động nhận thức của SV, kiểm tra và đánh giá kết quả học tậpcủa các em được thuận lợi và có hiệu suất cao

1.1.1.3 Những phương tiện dạy học hiện đại vận dụng vào giảng dạy môn Pháp luật đại cương

Cho đến nay, các nhà giáo dục vẫn có nhiều quan điểm khác nhau khibàn và phân loại PTDH Mỗi quan điểm phân loại đều dựa trên một yếu tố, cơ

sở nào đó như tính chất, cấu tạo và mức độ sử dụng PTDH trong quá trình dạyhọc Theo quan điểm phổ biến nhất, PTDH gồm ba nhóm chủ yếu là: phươngtiện thí nghiệm, thực hành; đồ dùng trực quan; phương tiện nghe nhìn Phápluật đại cương là môn học lý thuyết nên không sử dụng phương tiện thínghiệm, thực hành và đồ dùng trực quan Cho nên, trong phạm vi của luậnvăn này cũng như đảm bảo phù hợp với môn học, chúng tôi bàn về PTDHHĐ,

mà chủ yếu là phương tiện nghe nhìn

Phương tiện nghe nhìn được đánh giá là phương tiện dạy học có hiệuquả cao Sử dụng phương tiện nghe nhìn trong giờ học tạo điều kiện cho SVtiếp thu bài tốt hơn, nhớ bài lâu hơn nhờ sử dụng nhiều nguồn kích thích sựchú ý của SV (hình ảnh, âm thanh, hình ảnh động ) Phương tiện nghe nhìn

có thể được GV sử dụng ở lớp như là một công cụ minh họa làm sáng tỏ nộidung bài học Phương tiện nghe nhìn cũng có thể được SV sử dụng để tự học(truyền hình dạy học, băng từ, chương trình vi tính )

Dưới đây là một số phương tiện nghe nhìn được sử dụng trong dạy học:

* Các phương tiện nghe

Phương tiện nghe tác động trực tiếp vào thính giác, dưới dạng âmthanh, thông qua “giải mã” làm cho người nghe hiểu được nội dung thông tin.Theo kết quả thống kê, hầu hết thời gian trên lớp của SV là để nghe (trong đó

Trang 18

có kết hợp với nhìn) Như vậy, việc sử dụng phương tiện nghe và kỹ năngnghe là rất quan trọng trong quá trình dạy học.

Nghe là quá trình sinh lí học mà sóng âm thanh lan truyền tới tai, làmrung động cơ học và các thanh rung chuyển vào trong tai, tạo nên các xung vàđưa đến vùng nghe của não để nhận ra âm thanh Quá trình nghe diễn ra kháphức tạp nên thường gây ra mệt mỏi, ức chế với người nghe: do đó GV cầnbiết định hướng và gây hứng thú cho người học, đưa họ vào trạng thái lắngnghe

Một số loại phương tiện nghe thông dụng trong dạy học:

Ghi và tạo âm thanh là quá trình lưu trữ và tạo lại tín hiệu âm thanh đãghi được trên một vật mang nhất định Về cơ bản, tín hiệu âm thanh dù được

xử lí dưới dạng tương tự (analog) hay số (digital) đều có thể được ghi lại theocác phương pháp: cơ học, quang học, từ học và từ tính Trong đó, ghi theo cácphương pháp cơ học và quang học thường được dùng cho các tín hiệu âmthanh số và sản phẩm nhận được từ các đĩa quang Còn nghi âm theo phươngpháp từ tính là quá trình lưu giữ tín hiệu audio lên băng từ nhờ sự từ hóa vậtliệu và từ phủ trên mặt băng Quá trình đó diễn ra theo luật biến thiên củadòng âm tần trong các cuộn dây của đầu ghi

+ Băng âm thanh: thường là dạng băng từ, gồm hai lớp: đế bằng nhựa

và trên nó phủ lớp keo bột từ

+ Đĩa âm thanh: thường là đĩa từ hoặc đĩa CD để chứa dữ liệu hoặc âmthanh dưới dạng tín hiệu số Đĩa âm thanh có đặc điểm là dễ bảo quản và códung lượng lớn hơn nhiều so với băng âm thanh nhờ kĩ thuật nén số liệu

Các băng, đĩa chứa thông tin này được sử dụng qua các thiết bị kĩ thuậtdạy học (Catsette, đầu video, đầu đĩa CD hoặc DVD ) cần đảm bảo sự tươngthích và bảo quản nơi khô ráo, chống bụi và những tác động cơ học

* Các phương tiện nhìn

Trang 19

Các phương tiện dạy học nhìn bao gồm: hình phóng trên giấy, hìnhphóng trên màn mỏng, phim dương bản, phim slide, phim vòng và các loạimáy chiếu Phương tiện nhìn tác động trực tiếp vào thị giác dưới dạng hìnhảnh, thông qua “giải mã” làm cho người tri giác hiểu được nội dung thông tin.

+ Máy chiếu

Máy chiếu là loại PTDHHĐ được sử dụng ngày càng nhiều trong dạyhọc, có nhiều loại máy chiếu: máy chiếu hình vẽ, máy chiếu bản trong, máychiếu slide, máy chiếu đa phương tiện Trong đó máy chiếu bản trong vàmáy chiếu đa phương tiện được sử dụng rộng rãi nhất

Máy chiếu bản trong (máy chiếu qua đầu) là loại máy chiếu dùng đểphóng to và chiếu văn bản, hình ảnh tĩnh có trên phim nhựa trong suốt lênmàn hình phục vụ cho việc trình bày Máy chiếu qua đầu có thể chiếu trongphòng không cần che bớt ánh sáng Hầu hết, tất cả các máy chiếu qua đầu đềunhẹ, di chuyển và vận hành đơn giản Khi sử dụng, GV có thể nhìn xuống học

SV GV có thể tự làm tấm nhựa trong Ngoài việc dùng để chiếu trên máychiếu qua đầu, tấm nhựa trong còn có thể được dùng để chụp coppy cho SV.Như thế, sau khi xem các hình ảnh đã chiếu trên lớp, SV có thể có bản coppy

Trang 20

Bên cạnh đó, máy chiếu qua đầu vẫn có hạn chế như tính hiệu quả củaviệc dùng tấm nhựa trong phụ thuộc nhiều vào kĩ năng của người sử dụng Nókhông thể lập trình để trình bày các vấn đề theo thứ tự định sẵn và cũngkhông có băng âm thanh đi kèm theo.

Máy chiếu slide (Slide Projector): là loại máy chiếu dùng để phóng to

và chiếu các hình ảnh trong phim slide (là một phi dương bản được kẹp chặtbởi một khuôn nhựa) Loại máy chiếu này thường dùng cho các bài dạy cầnminh họa bằng các hình ảnh thực tế

Máy chiếu đa phương tiện (multimedia projector) là loại máy chiếudùng để phóng to và chiếu các nội dung từ các nguồn tín hiệu điện khác nhaunhư tín hiệu video, tín hiệu audio từ các thiết bị điện tử như máy radio, đầuvideo, máy vi tính phục vụ cho việc trình bày

* Các phương tiện nghe nhìn

+ Phim dạy học

So với các phương tiện dạy học khác, phim dạy học có nhiều khả năngrộng hơn Phim dạy học có màu truyền đạt được lượng tin đáng kể Do hìnhảnh sống động kết hợp với âm thanh nên phim dạy học có dung lượng thôngtin và tốc độ truyền đạt cao, nhờ đó có thể rút ngắn thời gian diễn giảng và tạothêm nhiều thời gian để SV có thể nắm vững bài

Trong công tác ngoại khóa, phim dạy học thường được sử dụng đểcủng cố và làm sâu sắc thêm kiến thức đã tiếp thu được trên lớp, mở rộng tầmnhìn chính trị, văn hóa và nghề nghiệp, kể cả giải trí cho SV

+ Máy vi tính và phần mềm dạy học

Cùng với sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin, máy vi tính đã vàđang thâm nhập vào nhà trường Trong dạy học, máy vi tính có thể xem làmột phương tiện đa chức năng, thực hiện rõ nhất ở chức năng của mộtphương tiện nghe nhìn có tương tác cao

Trang 21

Máy vi tính và những phần mềm dạy học tương ứng đóng vai trò lànguồn cung cấp thông tin cho SV trong quá trình nhận thức Thông tin cungcấp từ máy vi tính có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau và được thể hiện dướinhiều dạng (văn bản, tranh ảnh, phim, âm thanh ).

1.1.2 Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn Pháp luật đại cương là yêu cầu khách quan

1.1.2.1 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn Pháp luật đại cương

Từ luận điểm của C Mác khi phân tích lịch sử phát triển của các hìnhthái kinh tế xã hội “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúngsản xuất ra cái gì mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệulao động nào” [5;269] gợi cho ta thấy vai trò của phương pháp và phương tiệnlao động Đối với sự nghiệp “trồng người” thì đó chính là các thành tố mụctiêu, phương pháp dạy học và PTDH

Trong hoạt động dạy học, mục đích, nội dung, phương pháp và PTDHluôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Căn cứ vào nội dung dạy học, tìnhhình học sinh, các phương tiện hiện có, GV lựa chọn phương pháp tác độngvào học sinh nhằm đạt mục đích dạy học Thực tế dạy học đã chứng minhrằng trực quan đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu của quá trình hìnhthành khái niệm Nó là phương tiện giúp cho sự phát triển tư duy logic củahọc sinh

Khi bàn về con đường nhận thức V.I.Lênin đã chỉ ra “từ trực quan sinhđộng đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng trở lại thực tiễn, đó là conđường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức thế giới kháchquan”[37;179] Vì thế, trong quá trình dạy học, việc vận dụng các phươngpháp dạy học không thể tách rời việc sử dụng những PTDH Nó được sử dụngnhằm mục đích khắc phục những khoảng cách giữa việc tiếp thu lí thuyết vàthực tiễn, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên dễ dàng

Trang 22

Hình 1.2 Sơ đồ mô tả các yếu tố của quá trình dạy học [33;4]

Trong sơ đồ trên, nếu xét về phương diện nhận thức thì thiết bị dạy vàhọc vừa là “trực quan sinh động”, vừa là “phương tiện” để nhận thức và đôikhi còn là “đối tượng” chứa nội dung cần nhận thức

Nghiên cứu về vai trò của thiết bị dạy và học, người ta còn dựa trên vaitrò của các giác quan trong quá trình nhận thức và đã chỉ ra rằng: “tỉ lệ kiếnthức thu nhận được qua các giác quan theo tỉ lệ: 1% qua nếm, 1,5% qua sờ;3,5% qua ngửi, 11% qua nghe, 83% qua nhìn” [32;11] Những số liệu trêncho thấy, để quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao cần phải thông qua quá trìnhnghe – nhìn và thực hành Muốn vậy, phải có phương tiện (thiết bị, công cụ)

để tác động và hỗ trợ

Theo sơ đồ 1.2, ta thấy các cặp thành tố có quan hệ tương hỗ hai chiều

Cả quá trình có nhiều mối quan hệ và việc điều khiển tối ưu quá trình này cóthể được coi là nghệ thuật về mặt sư phạm Thiết bị dạy học có mặt trong quátrình nêu trên có vai trò tương đương với các thành tố khác và không thể thiếumột thành tố nào

Lý luận dạy học đã khẳng định quá trình dạy học là một quá trìnhtrong đó hoạt động dạy và hoạt động học là những hoạt động khăng khít giữa

các đối tượng xác định và có mục đích nhất định Để quá trình dạy học có

chất lượng và hiệu quả cao, con người đã tìm ra và sử dụng nhiều phương

Mục tiêu

HSGV

PTDH

Trang 23

pháp khác nhau cho mục đích này và theo đó PTDH phục vụ cho phươngpháp dạy học cũng ra đời và phát triển.

Xét về mặt nội dung và phương pháp dạy học thì PTDH đóng vaitrò hỗ trợ tích cực Vì có PTDH tốt thì mới có thể tổ chức được quá trình dạyhọc khoa học, đưa người học tham gia thực sự vào quá trình này, tự khai thác

và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của người dạy PTDH phải đủ và phùhợp mới triển khai được các phương pháp dạy học một cách hiệu quả Tuynhiên, ở một góc độ khác thì PTDH còn là bộ phận không thể thiếu được củanội dung và phương pháp giảng dạy

PTDHHĐ là các sản phẩm khoa học kỹ thuật có chức năng xác định vàmang tính mục đích sư phạm rất cao, chúng chứa đựng một tiềm năng tri thức

to lớn đồng thời đóng vai trò là đối tượng nhận thức Nó là bộ phận của nộidung và phương pháp, có thể vừa là phương tiện để nhận thức, vừa là đốitượng chứa nội dung cần nhận thức

Ngoài mối quan hệ với mục tiêu, nội dung, phương pháp, PTDH còn cóquan hệ chặt chẽ với các yếu tố GV- người tổ chức, điều khiển và HS - chủthể tự điều khiển của quá trình dạy học tạo nên “vùng hợp tác sinh động” giữanhững người tham gia quá trình sư phạm với các yếu tố khác của quá trìnhdạy và học

Việc dạy học theo cách truyền thụ một chiều đang dần được thay bằngcách dạy học coi người học là trung tâm của quá trình nhận thức Hướng đổimới tích cực này đã dựa trên một số thay đối cơ bản có liên quan chặt chẽ đến

PTDHDH: người học được chủ động hơn trong công việc, được tham gia tích

cực vào quá trình học tập; người học được tổ chức hoạt động, được làm nhiềuhơn thông qua việc làm đó mà chiếm lĩnh tri thức

Để học tập khoa học theo phương pháp được khám phá, chứng minhkiến thức, thể hiện tường minh phương pháp nghiên cứu và kỹ năng thì các

PTDHHĐ có vai trò và tiềm năng to lớn Yêu cầu trực quan cao trong việc

Trang 24

quan sát, trình diễn vận hành của cơ chế, cấu trúc, vận động, mô hình, môphỏng: các phương tiện nghe - nhìn có ưu thế rõ rệt.

Xuất phát từ đặc trưng tư duy hình ảnh, tư duy cụ thể của con người,trong quá trình dạy và học, sự trực quan đóng vai trò quan trọng đối với việclĩnh hội kiến thức của người học, đặc biệt quan trọng là kênh nhìn Từ tâm lýhọc tập chúng ta thấy rằng việc tiếp nhận các thông tin nhờ vào năm giácquan của con người: nghe, nhìn, nếm, ngửi, cảm nhận Theo cách dạy họctrước đây, thường chỉ có một giác quan duy nhất được huy động, đó là tai đểnghe Truyền thụ kiến thức theo hình thức cũ này chỉ thông qua lời nói, còncác giác quan khác chưa được sử dụng cho việc tiếp thu các bài giảng Phầnlớn tiềm năng tiếp thu học chưa được phát huy

“Theo số liệu thống kê nếu chỉ đọc thì người học chỉ nhớ được 10%,chỉ có nghe thôi thì khả năng tiếp thu được 20%, viết chép tiếp thu 30% Nếukết hợp cả nghe và nhìn sẽ tiếp thu được 50%, nếu được trình bày thì khảnăng nhớ lên đến 70%, đặc biệt nếu được kết hợp cả nghe, đọc, nghiên cứu tựtrình bày thì mức độ nhớ lên đến 90%” [1;21] Chỉ riêng điều đó thôi cũng nóilên sự đòi hỏi phải áp dụng các PTDHHĐ, mà đặc biệt là phương tiện nghe -nhìn vào dàn dựng bài giảng Trực quan hoá như vậy bắt buộc phải cụ thể hoácác nội dung và hạn chế được hiểu sai, nói một đằng, hiểu một nẻo Như vậy

sử dụng PĐHHĐ có ý nghĩa sau:

- Tập trung sự chú ý của người học

- Rút ngắn thời gian giảng bài

- Làm thông tin trở nên dễ tiếp thu

- Giúp SV định hướng tốt

- Làm rõ ràng cụ thể hơn những điều cơ bản

- Mở rộng bổ sung những điều đã nói

Trực quan hoá và việc áp dụng các phương tiện học tập tương ứng bắtbuộc phải chuẩn bị các PTDH và các minh hoạ cho bài giảng một cách chu

Trang 25

đáo và nghiêm túc Càng dành tâm huyết bao nhiêu cho vấn đề này thì chấtlượng bài giảng cũng như mức độ nhớ, hiểu bài của học sinh càng được nângcao.

Tác dụng của việc sử dụng PTDHHĐ vào môn PLĐC thể hiện ở nhữngđiểm cụ thể sau đây:

Nếu như việc “dạy chay, dạy suông” làm cho người học thụ động,không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, thì sự hỗ trợ đắc lựccủa PTDHHĐ sẽ là cầu nối giữa người dạy và người học, làm cho hai nhân tốnày gắn kết với nhau trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung đào tạo, làm chochất lượng giảng dạy và học tập được nâng cao

Dùng phương tiện để SV dễ dàng hiểu được những vấn đề GV muốndiễn đạt, làm rõ những điều GV định diễn đạt Sử dụng PTDHHĐ tạo điềukiện xây dựng các khái niệm một cách chính xác hơn về các đối tượng nghiêncứu Ví dụ như khi nghiên cứu về tội phạm, thông qua những hình ảnh trìnhchiếu minh họa cho tính chất nguy hiểm của hành vi để SV nắm bắt được bốnloại tội phạm: ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệtnghiêm trọng

Dưới sự điều khiển của GV, PTDHHĐ thể hiện vai trò của nó: làm tăngtốc độ truyền thông tin, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn làm cho giờ học sinh động,hiệu quả hơn Sử dụng các PTDHHĐ tiết kiệm được thời gian, trong một thờigian ngắn có thể truyền thụ cho nhiều SV một khối lượng thông tin lớn, chínhxác và đầy đủ về các ngành luật, tình huống pháp luật hay các quy định cũngnhư chế tài hình sự, dân sự, hành chính, kỷ luật Những bài giảng qua bănghình được chuẩn bị rất kỹ lưỡng, nội dung cô đọng và phong phú

Nhờ sử dụng PTDHHĐ với những hình ảnh cụ thể với kích thước vĩ

mô, mang tính giáo dục cao nên SV dễ nhận biết, dễ nhớ để từ đó hiểu đượcbản chất của đối tượng nghiên cứu Đặc biệt là phương tiện nghe nhìn làmtăng cường tính trực quan của quá trình dạy học, làm cho SV nắm kiến thức

Trang 26

luật pháp dễ dàng hơn, sâu sắc hơn, không còn khô khan, “khó nhập” nhưnhiều SV quan niệm trước đây Tác dụng cuốn hút người học tham gia tíchcực vào bài giảng làm cho lớp học năng động không buồn tẻ, hiệu quả giảngdạy tốt hơn

Sử dụng PTDHHĐ góp phần tăng cường nội dung dạy học Chính vìkhi sử dụng PTDHHĐ trong dạy học, SV tiếp thu kiến thức nhanh chóng hơn,sâu sắc hơn, nên trong quá trình dạy học có thể bổ sung thêm những kiến thứcmang tính thời sự, những thông tin, văn bản pháp luật mới vào chương trìnhmôn học Pháp luật đại cương Ngoài ra còn có thể phổ biến nhanh chóngnhững chính sách của Đảng và Nhà nước, các Nghị quyết, Nghị định củaChính phủ, cũng như cập nhật kịp thời tình hình thực hiện pháp luật hay viphạm pháp luật đưa vào bài giảng thêm phong phú, hấp dẫn người học

Sử dụng PTDHHĐ góp phần đổi mới và hoàn thiện phương pháp dạyhọc PTDHHĐ kết hợp với những phương pháp dạy học hiện đại (dạy học nêuvấn đề - orixtic, phương pháp algorit dạy học, phương pháp gráp dạy học )tạo tổ hợp những phương pháp dạy học hiện đại phức hợp nhằm mục đíchhình thành ở SV tính tích cực, sáng tạo, thích ứng và năng động với thực tiễnluôn luôn đổi mới Chúng vừa hiện đại vừa hiệu nghiệm, có tính chuyển tảicao rất thích hợp với việc phát triển tư duy cho SV

Nhờ phương tiện nghe nhìn, công nghệ thông tin và các phương tiệnthông tin đại chúng hướng SV vào việc tăng cường năng lực vận dụng tri thức

đã học vào cuộc sống, gắn kiến thức với thực tế Khuyến khích SV chủ độngtham gia tích cực vào quá trình học tập ở trên lớp

Ví dụ như khi GV giảng bài “Ngành luật hình sự và tố tụng hình sự”,nói đến phần những trường hợp được giảm truy cứu trách nhiệm hình sự thì

GV trình chiếu hình ảnh hay đoạn phim xét xử vụ án “Lê Văn Luyện cướptiệm vàng Ngọc Bích” Luyện phạm tội giết người dã man và cướp tài sảnnhưng chỉ bị kết án 18 năm tù giam vì bị cáo chưa đủ tuổi thành niên Từ đó,

Trang 27

để học sinh nắm bắt, hiểu được quy định: không áp dụng mức hình phạt tửhình, chung thân cho tội phạm chưa thành niên.

Sử dụng PTDHHĐ góp phần tăng cường tính khách quan, chính xáccủa việc kiểm tra - đánh giá Sử dụng PTDHHĐ trong kiểm tra - đánh giá chophép đánh giá kết quả học tập của SV một cách khách quan, nhanh chóng,bảo đảm độ tin cậy cao (ví dụ sử dụng trắc nghiệm khách quan)

1.1.2.2 Khái quát chương trình môn Pháp luật đại cương tại trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh – cơ sở Nghệ An

+ Mã học phần: 1112006

+ Đối tượng đào tạo: sinh viên năm nhất khối Đại học, Cao đẳngchuyên nghiệp của khối ngành Kinh tế và Công nghệ, gồm: Kế toán kiểmtoán, Quản trị kinh doanh, Tài chính ngân hàng, Tài chính doanh nghiệp,Công nghệ ô tô, Công nghệ thông tin, Công nghệ hóa dầu, Công nghệ môitrường, Công nghệ điện, Điện tử viễn thông, Cơ khí chế tạo

+ Thời lượng đào tạo: 2 tín chỉ

+ Phân bổ thời gian: SV phải lên lớp 30 tiết và tự học 60 tiết

+ Mục tiêu của học phần:

Học phần trang bị cho SV những kiến thức lý luận cơ bản nhất về Nhànước và pháp luật nói chung, Nhà nước và pháp luật Xã hội chủ nghĩa nóiriêng Từ đó giúp cho SV có nhận thức, quan điểm đúng đắn về đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước ta Đồng thời, hình thành kỹ năng lựa chọnhành vi ứng xử phù hợp với đạo đức và pháp luật, bước đầu có kỹ năng phântích một số tình huống pháp luật phổ biến.

Trên cơ sở nhận thức đúng các nội dung, những kiến thức lý luận đócũng giúp cho SV hiểu biết hơn về pháp luật để vận dụng vào thực tiễn cuộcsống và có thái độ đúng đắn, nghiêm túc chấp hành pháp luật, đấu tranhchống lại những hành vi phạm pháp, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mình

+ Mô tả vắn tắt nội dung của học phần:

Trang 28

- Phần đầu học phần trang bị cho SV những vấn đề lý luận chung vềnhà nước và pháp luật như: nguồn gốc nhà nước, khái niệm, bản chất nhànước, chức năng nhà nước, hình thức nhà nước, bộ máy nhà nước; nguồn gốc,khái niệm, bản chất, chức năng và vai trò pháp luật, các kiểu và hình thứcpháp luật; quy phạm pháp luật và hệ thống pháp luật; quan hệ pháp luật; thựchiện pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý; nhà nước phápquyền và pháp chế Xã hội chủ nghĩa.

- Sau khi học xong phần lý luận, học phần sẽ trang bị cho sinh viênnhững vấn đề chung nhất về một số ngành luật cơ bản trong hệ thống phápluật Việt Nam như: Luật hiến pháp, Luật dân sự và Luật tố tụng dân sự, Luậthôn nhân và gia đình, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự, Luật Thương mại,Luật lao động, Luật hành chính…

+ Giáo trình chính: Tập bài giảng pháp luật đại cương, trường Đại học

Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

+ Tài liệu tham khảo: Giáo trình Pháp luật đại cương, trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh; Giáo trinh Lý luận về nhà nước và pháp luật,

trường Đại học Luật Hà Nội

Bảng phân phối chương trình môn Pháp luật đại cương

tiết

Giờ tín chỉ

Lý thuyết Tự học

Trang 29

luật Việt Nam

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào dạy môn Pháp luật đại cương tại Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở Nghệ An

1.2.1 Khái quát về Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh - cơ sở Nghệ An

Tên tiếng Anh của Trường ĐHCNTPHCM là Ho Chi Minh CityUniversity of Industry, viết tắt là “HUI”

Tiền thân của Trường ĐHCNTPHCM là Trường Trung học Kỹ thuậtDONBOSCO được thành lập từ năm 1957 Sau ngày miền Nam hoàn toàngiải phóng, Trường được đổi tên thành Trường Công nhân Kỹ thuật IV trựcthuộc Bộ Cơ khí và Luyện kim Đến năm 1994, Trường hợp nhất với TrườngTrung học Hóa chất II tại Thành phố Biên Hòa thành Trường Trung học Kỹthuật Công nghiệp IV, trực thuộc Bộ Công nghiệp Tháng 3 năm 1999, lậpthành Trường Cao đẳng Công nghiệp IV và tháng 12 năm 2004 Trường đượcnâng cấp thành Trường ĐHCNTPHCM theo Quyết định số 214/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Đây là một trong những cơ sở giáo dục đạihọc, kỹ thuật và đào tạo lớn nhất Việt Nam

ĐHCNTPHCM có cơ sở chính tại địa chỉ số 12 Nguyễn Văn Bảo,phường 4, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, trường còn có 5

cơ sở đào tạo trên cả nước gồm: Cơ sở Thái Bình, cơ sở Thanh Hóa, cơ sởNghệ An, cơ sở Quảng Ngãi và cơ sở Biên Hòa (Đồng Nai)

Cơ sở Nghệ An (địa chỉ số 26 Nguyễn Thái Học, thành phố Vinh) là

một trong 6 Cơ sở của hệ thống các cơ sở đào tạo của Trường ĐHCNTPHCMtại các địa phương khắp cả nước

Trang 30

Cơ sở đào tạo Nghệ An là mô hình đào tạo kết hợp giữa năng lực đàotạo của trường đại học có uy tín với khả năng tài chính và nhu cầu nguồnnhân lực của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty lớn trong và ngoài nước.

Cơ sở Nghệ An góp phần cung ứng nguồn nhân lực có tay nghề giỏi,trình độ cao cho sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An và các tỉnh trongkhu vực Bắc Trung Bộ, đặc biệt là các khu kinh tế lớn: Nghi Sơn, Hoàng Mai,Đông Nam, Vũng Áng,… Đầu năm 2008, hưởng ứng kêu gọi thu hút đầu tưvào tỉnh Nghệ An, các tổng công ty lớn, các tập đoàn kinh tế đã nhận thấy sựcần thiết phải đầu tư xây dựng một cơ sở đào tạo và phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao tại khu vực Bắc Trung Bộ Mặt khác, nhận thấy TrườngĐHCNTPHCM là trường đại học có uy tín và quy mô đào tạo lớn, có đủ nănglực đào tạo để trở thành đối tác cùng với các nhà đầu tư để thực hiện thànhcông mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trước hết cung ứng chocác đơn vị đầu tư, sau đó là cả khu vực Bắc Trung Bộ và cả nước

Việc khai thác năng lực đào tạo của ĐHCNTPHCM và sức mạnh tàichính cũng như nhu cầu nguồn nhân lực của các tổng công ty, tập đoàn kinh

tế đã mang hiệu quả rất tốt Một cơ sở đào tạo tọa lạc ở trung tâm thành phốVinh, đã đầu tư trên 200 tỷ đồng để xây dựng hệ thống giảng đường, phòngthực hành - thí nghiệm, hệ thống nhà xưởng, hệ thống thư viện, các phòngchức năng được lắp đặt và trang bị đầy đủ các thiếp bị dạy học hiện đại đápứng tốt các yêu cầu trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Hiện nay, cơ sở Nghệ An đã xây dựng và đưa vào sử dụng dãy nhà A

và nhà B Nhà A có 4 tầng với tổng diện tích 4.828m2, sử dụng làm các phòngchức năng, các văn phòng khoa và các phòng thực hành tin học, phòng thitrắc nghiệm

Nhà B gồm hai khối nhà 7 tầng chính nối thông khép kín bằng 2 dãy 7tầng phụ Tổng diện tích tòa nhà B khoảng 15.000m2 đã xây dựng hoàn chỉnh

và đưa vào sử dụng Trị giá đầu tư xây dựng khoảng 70 tỷ đồng, kết cấu kiên

Trang 31

cố, kiến trúc đẹp, thể hiện tính hiện đại phù hợp với môi trường đào tạochuyên nghiệp Công năng sử dụng lớn và đa dạng Có 46 phòng học lýthuyết đảm bảo bố trí giờ học đồng thời cho 3.000 sinh viên, có 49 phòng thínghiệm, xưởng thực hành Trường có thư viện tổng diện tích 1500m2 bao gồmkho sách (gần 20.000 đầu sách, giáo trình và các loại tài liệu tham khảo), cácphòng đọc (500 chỗ ngồi), phòng đọc báo - giải trí (300 chỗ ngồi), phòngInternet (50 máy vi tính).

Hệ thống thiết bị dạy học được trang bị hiện đại, có 20 máy chiếu trên

49 phòng học và 7 máy chiếu xách tay 100% GV trang bị máy vi tính và

micro Cơ sở Nghệ An còn có khu nhà xưởng có diện tích hơn 400m2 đượcxây dựng cho SV thực hành các môn học ngành Cơ khí như Phay, Hàn, Tiện,

Nguội…và 1 trạm biến áp với Công suất 630KVA.

“Cơ sở đang tổ chức đào tạo các ngành nghề: Công nghệ Thông tin;Công nghệ kỹ thuật Điện; Công nghệ Điện tử; Công nghệ Ôtô; Công nghệ Cơkhí chế tạo; Công nghệ Hóa dầu; Kế toán - Kiểm toán; Tài chính ngân hàng;Tài chính doanh nghiệp, Quản trị kinh doanh Quá trình đào tạo nguồn nhânlực tại cơ sở Nghệ An đang được nhiều công ty, tổng công ty, tập đoàn kinh

tế, tổ chức xã hội quan tâm, đặt hàng cung ứng nguồn lao động” [35,2] Hàngnăm các đơn vị bên ngoài đã tài trợ nhiều suất học bổng cho sinh viên vượtkhó, trị giá trên một trăm triệu đồng

Hàng năm, Nhà trường cung cấp các dịch vụ đào tạo chính khóa theo 5bậc học với chương trình mang tính liên thông, cho phép học viên khi muốntiếp tục theo học lên bậc cao hơn có thể được miễn giảm những phần đã họcqua ở bậc thấp (Trung cấp nghề, Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng và Cao

đẳng nghề và bậc Đại học).

Cơ sở hiện có 162 cán bộ, giảng viên và giáo viên thỉnh giảng đượcmời từ các trường đại học khác Đã có 7 Phó Giáo sư và Tiến sĩ, 22 nghiêncứu sinh; 76 thạc sỹ và cao học, 36 kỹ sư, cử nhân Trong đó có 5 GV dạy

Trang 32

môn PLĐC Những năm gần đây, nhà trường đã quy tụ được một đội ngũ cán

bộ khoa học kỹ thuật trẻ, có năng lực chuyên môn, có khả năng sư phạm tốt,

đó là nguồn lực tiềm năng để bổ sung vào đội ngũ sư phạm những người giỏi,tâm huyết, yêu nghề và là đội ngũ nòng cốt cho quá trình phát triển và nângcao chất lượng đào tạo của Nhà trường

Tích hợp các quan điểm hiện đại về hệ thống đào tạo đại học, TrườngĐHCNTPHCM – Cơ sở Nghệ An đã xác định một triết lý nhất quán đối vớichiến lược bổ sung, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trongsuốt quá trình tồn tại và phát triển Theo định hướng này ít nhất trong 10 nămđầu kể từ khi thành lập trường, nhiệm vụ đào tạo nâng cao trình độ cho độingũ giảng viên của nhà trường được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu;việc tăng cường lực lượng đội ngũ giảng viên trình độ cao phải được ưu tiênhơn việc tăng tuyển sinh để tăng quy mô đào tạo

1.2.2 Thực trạng việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào dạy môn Pháp luật đại cương tại Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh - cơ sở Nghệ An

Để tìm hiểu thực trạng sử dụng phương tiện dạy học ở TrườngĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ An, chúng tôi đã tiến hành xin ý kiến, phỏngvấn cán bộ quản lý (trưởng khoa, phó khoa), của GV các khoa Cơ bản, khoaCông nghệ, khoa Kinh tế và thu được kết quả sau:

1.2.2.1 Thực trạng phương tiện dạy học hiện đại của trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh - cơ sở Nghệ An

Qua điều tra nghiên cứu, chúng tôi thu được kết quả về tình hình trangthiết bị phương tiện dạy học hiện đại ở Trường ĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ

Tương đốiĐầy đủ(%)

Khôngđáng kể(%)

Chưa có(%)

Trang 33

Không chỉ tìm hiểu về tình hình trang bị PTDHHĐ so với yêu cầu sửdụng, chúng tôi còn tìm hiểu về chất lượng và tính đồng bộ của các PTDHHĐ

mà trường ĐHCNTP.HCM - cơ sở Nghệ An hiện có

Bảng 1.2 Đánh giá về chất lượng của PTDHHĐ Mức độ

Tìm hiểu về tính đồng bộ của PTDHHĐ, chúng tôi thu được kết quả thểhiện ở bảng sau:

Trang 34

Bảng 1.3 Đánh giá về tính đồng bộ của PTDH Mức độ

Khi được hỏi về tính đồng bộ của các PTDHHĐ, 2/4 cán bộ quản lý

cho rằng các PTDHHĐ ở trường là đồng bộ, nửa còn lại cho rằng các PTDHHĐ ở trường là không đồng bộ Phần lớn giáo viên (chiếm 80%) cho

rằng PTDHHĐ ở khoa mình là không đồng bộ Có thể thấy, tính đồng bộ củaPTDHHĐ qua sự đánh giá của cán bộ quản lý và GV là rất thấp

Nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng trên về chất lượng và tính đồng bộcủa các PTDHHĐ? Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết có rất nhiều nguyênnhân dẫn đến tình trạng trên Cán bộ quản lý cho rằng đó là do Nhà trườngchưa mua sắm đầy đủ, đồng bộ; do hư hỏng nhưng không có kinh nghiệm đểsửa chữa và bổ sung kịp thời Khi xin ý kiến của GV, chúng tôi cũng nhậnđược những ý kiến tương tự như trên Ngoài ra, các thầy cô còn cho biếtphương pháp quản lý thiết bị chưa khoa học, ý thức sử dụng và cách thức sửdụng của GV chưa tốt, thiết bị quá cũ chưa được thay thế và cường độ sửdụng các trang thiết bị, máy móc nhiều trong khi số lượng trang thiết bị hạnchế là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng và tính đồng bộcủa các PTDHHĐ được đánh giá chưa cao

Như vậy, qua điều tra, phỏng vấn cán bộ quản lý, GV, SV trong trường,chúng tôi thu được kết quả về thực trạng PTDHHĐ như sau: số lượng cácPTDHHĐ còn thiếu nhiều, chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng của GV và SVtrong quá trình dạy học; với những PTDH hiện có thì chất lượng và tính đồng

bộ chưa cao

Trang 35

1.2.2.2 Thực trạng kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học hiện đại của giáo viên giảng dạy môn Pháp luật đại cương ở Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh - cơ sở Nghệ An

Trước khi tìm hiểu thực trạng kỹ năng sử dụng PTDHHĐ của GVgiảng dạy bộ môn PLĐC, chúng tôi đã điều tra, khảo sát sự nhận thức về vaitrò của PTDHHĐ trong quá trình giảng dạy môn PLĐC với ba nhóm đốitượng là cán bộ quản lý, GV, SV và thu được kết quả ở bảng 1.4

Bảng 1.4 Nhận thức về vai trò của PTDH trong quá trình dạy môn PLDC

GV và SV là những người trực tiếp sử dụng PTDHHĐ đánh giá vai trò củaPTDHHĐ trong quá trình dạy học là rất cần thiết Trong khi đó, đa số cán bộquản lý cho rằng PTDHHĐ là cần thiết trong quá trình dạy học

Tìm hiểu SV về lý do của sự lựa chọn trên, đa số SV cho rằng việc sửdụng PTDH, đặc biệt là những PTDHHĐ sẽ giúp SV hiểu bài nhanh hơn,vững chắc hơn, đồng thời còn kích thích nhu cầu tìm tòi, óc tưởng tượng củacác em Và rất nhiều SV cho biết sử dụng PTDHHĐ sẽ giúp giờ học sôi nổihơn Tất cả SV đều hứng thú với phim tình huống pháp luật và phần mềm tròchơi học tập giải ô chữ “ai là triệu phú”

Trang 36

Tuy nhiên, khi phỏng vấn một số GV trong tổ, một số người lại chorằng việc sử dụng PTDHHĐ vào giảng dạy môn PLĐC làm mất nhiều thờigian, công sức cho việc chuẩn bị mà hiệu quả trong việc nâng cao chất lượngdạy học không đáng kể Vì vậy, những GV này thường chưa có ý thức và thóiquen sử dụng nhiều loại PTDHHĐ trong quá trình giảng dạy.

Khi tìm hiểu về tình hình sử dụng PTDHHĐ của GV bộ môn PLĐC,chúng tôi thấy rằng đa số GV đánh giá tình hình sử dụng PTDHHĐ của GVtrong tổ bộ môn PLĐC là tích cực Hầu hết các GV tự đánh giá mức độ tốt vàkhá Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số GV đánh giá vấn đề sử dụngPTDHHĐ vào môn PLĐC mới chỉ ở mức trung bình, còn nhiều hạn chế cầnhọc hỏi, khắc phục dần

Hiện nay, khi các PTDHHĐ ngày càng được trang bị nhiều hơn, khivấn đề đổi mới phương pháp dạy học ngày càng được triển khai sâu rộngnhằm nâng cao chất lượng đào tạo thì việc sử dụng PTDHHĐ vào môn PLĐC

là vấn đề tất yếu, khách quan Không chỉ tìm hiểu về tình hình sử dụngPTDHHĐ mà chúng tôi còn tìm hiểu sâu hơn về mức độ sử dụng các loạiphương tiện cụ thể, phổ biến ở trường Kết quả điều tra được thể hiện ở bảng1.5

Bảng 1.5 Đánh giá về mức độ sử dụng PTDHHĐ của giáo viên

bộ môn PLĐC Mức độ

PTDHHĐ

Thườngxuyên Thỉnh thoảng Chưa sử dụng

Trang 37

Máy vi tính, giáo án điện tử 3 60 2 40 0 0

Nhìn vào bảng 1.5 ta có thể thấy mức độ sử dụng các PTDHHĐ của

GV giảng dạy bộ môn PLĐC là không đều Trong đó, máy chiếu, máy vi tính,giáo án điện tử là những phương tiện dạy học mà các GV thường xuyên sửdụng nhất trong quá trình giảng dạy Đây là những phương tiện hiện đại phổbiến, thông dụng, dễ sử dụng nên được đa số GV dùng

Ngoài ra, băng ghi âm, catset thì lại chưa có một GV dạy PLĐC nào sửdụng Lý do các GV đưa ra là không cần thiết phải sử dụng PTDH này,thường nó chỉ được giáo viên tổ anh văn sử dụng để rèn luyện kỹ năng nghenói mà thôi Còn phần mềm trò chơi học tập, truyền thanh, truyền hình lànhững PTDHHĐ ngày càng thể hiện những ưu điểm Tuy nhiên, đa số GV lạichưa hoặc ít khai thác sử dụng Điều này được giải thích là do sự hiểu biết của

GV về các phần mềm, chương trình cũng như kỹ năng sử dụng chúng còn hạnchế, quá trình chuẩn bị mất thời gian nên mức độ sử dụng các phương tiện đórất thấp

Để đánh giá về kỹ năng sử dụng PTDHHĐ của GV giảng dạy mônPLĐC, chúng tôi đã tiến hành điều tra ở cả ba khối đối tượng là cán bộ quản

lý, GV bộ môn, SV và thu được kết quả thể hiện ở bảng 1.6

Bảng 1.6 Đánh giá về kỹ năng sử dụng PTDHHĐ của GV

bộ môn PLĐC Mức độ

Đối tượng

Trang 38

Cán bộ quản lý 0 0 3 75 1 25 0 0

Khi được hỏi, đa số cán bộ quản lý (3/4 ý kiến) cho rằng phương pháp

và kỹ năng sử dụng PTDHHĐ của GV bộ môn PLĐC là khá, chỉ có 1 cán bộquản lý đánh giá ở mức trung bình

Tự đánh giá về phương pháp và kỹ năng sử dụng PTDHHĐ, đa số GV

bộ môn PLĐC đánh giá ở mức độ khá (chiếm 80% số GV được hỏi), 20%giáo viên tự đánh giá ở mức độ tốt, không có giáo viên nào đánh giá mứctrung bình và yếu về kỹ năng sử dụng PTDHHĐ của mình

Khi điều tra ở SV, chúng tôi lại thu được kết quả chênh lệch Vẫn cókhoảng 22,4% GV bộ môn PLĐC bị đánh giá kỹ năng sử dụng PTDHHĐ chỉ

ở mức trung bình, thậm chí có 1% đánh giá ở mức độ yếu

Như vậy, khi đánh giá về kỹ năng sử dụng PTDHHĐ của GV dạy mônPLĐC chúng ta thấy rằng còn nhiều SV chưa thỏa mãn, hài lòng với những gì

mà GV thể hiện, trình bày trên lớp Trong khi GV là đối tượng trực tiếp lĩnhhội tri thức từ bài giảng của thầy cô, có thể nói mức độ thỏa mãn của SV làmột trong những thước đo chất lượng giảng dạy của GV Nhưng còn nhiều

GV vẫn chưa tự đánh giá chính xác được kỹ mức độ, kỹ năng sử dụngPTDHHĐ của mình hoặc còn e ngại, dấu khuyết điểm Điều này rất đáng longại, ảnh hưởng không nhỏ đến việc đổi mới phương pháp dạy học, sử dụngPTDHHĐ nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy

1.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại tại Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh - cơ sở Nghệ An

1.2.3.1 Nguyên nhân chủ quan

Trang 39

Trước hết, có thể nhận thấy thực trạng sử dụng PTDHHĐ của GVTrường ĐHCNTPHCM - cơ sở Nghệ An đã đạt được nhiều kết quả đángmừng như: GV sử dụng các loại PTDHHĐ vào quá trình giảng dạy tương đốinhiều; đa số GV có phương pháp, kỹ năng khá trong sử dụng PTDHHĐ vàđạt được hiệu quả trong quá trình sử dụng Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc sửdụng PTDHHĐ trong quá trình dạy học của nhiều GV còn bộc lộ những hạnchế như: một số GV ít sử dụng những PTDHHĐ khác ngoài một số PTDHHĐthông dụng, phổ biến; phương pháp và kỹ năng sử dụng chưa thành thạo,đúng cách thức, quy trình; hiệu quả sử dụng một số PTDH chưa cao Tìm hiểu

về nguyên nhân chủ quan nào dẫn đến những hạn chế ấy, chúng tôi nhận thấy:

Chưa phải tất cả GV đều nhận thức đúng tầm quan trọng của PTDHHĐtrong quá trình dạy học Có những GV cho biết, nếu sử dụng thêm nhữngPTDHHĐ như máy chiếu, máy vi tính, phim học tập vào quá trình dạy họcthì hiệu quả của quá trình dạy học cũng không được cải thiện đáng kể Chưanhận thức rõ vai trò, ý nghĩa của PTDHHĐ nên nhiều GV chưa tích cựcnghiên cứu, tìm hiểu, sử dụng nhiều loại PTDH vào quá trình lên lớp củamình

Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng PTDHHĐ của GV chưatốt, chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 1.7

Bảng 1.7 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc sử dụng PTDHHĐ của

GV chưa có ý thức, thói quen sử dụng PTDHHĐ 2 40

Chưa có quy định cụ thể về việc sử dụng PTDHHĐ 3 60Lãnh đạo nhà trường chưa quan tâm đúng mức việc sử

Trang 40

Lý do được nhiều GV đưa ra nhất để giải thích về tình hình sử dụngPTDHHĐ của GV vào bộ môn PLĐC chưa tốt là do chưa có quy định cụ thể

về việc sử dụng PTDHHĐ Điều đó chứng tỏ GV còn rất thụ động trong vấn

đề tiếp cận và sử dụng PTDHHĐ vào quá trình dạy học nhằm nâng cao chấtlượng giảng dạy Ngoài ra, GV còn ngại khó, mất thời gian; để có thể sử dụngmột số PTDHHĐ, khi lên lớp GV không những phải có nhiều thời giannghiên cứu, chuẩn bị mà còn tốn công vận chuyển chúng từ nơi cất giữ đếnlớp học Điều này gây tâm lý e ngại cho không ít GV Đây cũng là nguyênnhân khiến cho nhiều GV chưa thực sự tích cực sử dụng; chưa có ý thức, thóiquen sử dụng PTDHHĐ vào môn PLĐC

Cơ sở Nghệ An là một cơ sở non trẻ, mới thành lâp được 4 năm Đápứng nhu cầu mở rộng quy mô đào tạo, Nhà trường đã tuyển dụng rất nhiều

GV, trong đó hầu hết là GV trẻ Bên cạnh ưu điểm nổi bật của những GV này

là sức trẻ và lòng nhiệt tình, có trình độ chuyên môn thì không ít GV chưathực sự vững vàng về nghiệp vụ sư phạm

1.2.3.2 Nguyên nhân khách quan

Không chỉ về phía bản thân người GV mà còn nhiều nguyên nhân khácảnh hưởng tới việc sử dụng PTDHHĐ của GV trong quá trình dạy học, cụ thểlà:

Tình trạng thiếu PTDHHĐ, phương tiện chất lượng thấp, thiếu tínhđồng bộ là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những khó khăn,hạn chế trong việc sử dụng PTDHHĐ của GV Cán bộ quản lý, GV, SV đềucho đây là nguyên nhân chính trong việc ảnh hưởng không tốt đến tình hình

sử dụng, mức độ sử dụng, phương pháp và kỹ năng sử dụng cũng như hiệu

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Như An (2010), Sử dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ trong dạy học đại học, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ trong dạy học đại học
Tác giả: Lê Như An
Năm: 2010
2. Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
3. Nguyễn Đăng Bằng (Chủ biên) (2001), Góp phần dạy tốt, học tốt môn GDCD ở trường THPT, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần dạy tốt, học tốt môn GDCD ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Đăng Bằng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
4. Nguyễn Lương Bằng (2001), Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục – đào tạo ở Việt nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục – đào tạo ở Việt nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Lương Bằng
Năm: 2001
5. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
6. Nguyễn Gia Cầu (2007), Dạy học phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh, Tạp chí Giáo dục, số 156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 2007
8. Nguyễn Cương (1995), Phương tiện kỹ thuật và đồ dùng dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện kỹ thuật và đồ dùng dạy học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
9. Đỗ Mạnh Cường (2008), Giáo trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, Nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Tác giả: Đỗ Mạnh Cường
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2008
10.Lê Tràng Định (2003), Phân loại và sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học, Tạp chí Giáo dục, số 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại và sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học
Tác giả: Lê Tràng Định
Năm: 2003
11.Tô Xuân Giáp (2000), Phương tiện dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
12.Nguyễn Hạnh (2000), Sử dụng máy vi tính trong nhà trường, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng máy vi tính trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Hạnh
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2000
13.Đặng Thành Hưng (2002), Giáo dục học hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học hiện đại
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
14.Hồ Thị Hưng (2008), Mối quan hệ giữa phương pháp dạy học tích cực với phương tiện dạy học hiện đại, Trang thông tin điện tử trường chính trị tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa phương pháp dạy học tích cực với phương tiện dạy học hiện đại
Tác giả: Hồ Thị Hưng
Năm: 2008
15.Nguyễn Thị Thanh Hương (2010), Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy phần III môn những nguyên lya cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin ở trường Cao đẳng Y tế Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy phần III môn những nguyên lya cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin ở trường Cao đẳng Y tế Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Năm: 2010
16.Nguyễn Thuý Hồng (2008), Một giờ dạy học theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, Tạp chí giáo dục, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một giờ dạy học theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Nguyễn Thuý Hồng
Năm: 2008
17.Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức (2006), Lí luận dạy học đại học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
18.Nguyễn Văn Khôi - Lê Huy Hoàng (2003), Thiết kế bài học môn Công nghệ ở phổ thông theo hướng dạy học tích cực và tương tác, Tạp chí Giáo dục số 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học môn Công nghệ ở phổ thông theo hướng dạy học tích cực và tương tác
Tác giả: Nguyễn Văn Khôi - Lê Huy Hoàng
Năm: 2003
19.Đào Thái Lai (2006), Công nghệ thông tin trong dạy học ở trung học phổ thông (T1), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ thông tin trong dạy học ở trung học phổ thông
Tác giả: Đào Thái Lai
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
20.Nguyễn Đặng Đình Lục (2001), Giáo dục pháp luật trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục pháp luật trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Đặng Đình Lục
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
21.Lê Minh Luân (1999), Thiết bị dạy học và điều kiện đảm bảo sử dụng có hiệu quả, Thông tin khoa học giáo dục, số 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết bị dạy học và điều kiện đảm bảo sử dụng có hiệu quả
Tác giả: Lê Minh Luân
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Các loại máy chiếu qua đầu a) Máy chiếu bản trong mini - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Hình 1.1. Các loại máy chiếu qua đầu a) Máy chiếu bản trong mini (Trang 22)
Hình 1.2. Sơ đồ mô tả các yếu tố của quá trình dạy học [33;4] - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Hình 1.2. Sơ đồ mô tả các yếu tố của quá trình dạy học [33;4] (Trang 25)
Bảng phân phối chương trình môn Pháp luật đại cương - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng ph ân phối chương trình môn Pháp luật đại cương (Trang 31)
Bảng 1.1. Mức độ đáp ứng của phương tiện dạy học hiện đại - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.1. Mức độ đáp ứng của phương tiện dạy học hiện đại (Trang 36)
Bảng 1.2. Đánh giá về chất lượng của PTDHHĐ - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.2. Đánh giá về chất lượng của PTDHHĐ (Trang 36)
Bảng 1.3. Đánh giá về tính đồng bộ của PTDH - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.3. Đánh giá về tính đồng bộ của PTDH (Trang 37)
Bảng 1.6. Đánh giá về kỹ năng sử dụng PTDHHĐ của GV bộ môn PLĐC - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.6. Đánh giá về kỹ năng sử dụng PTDHHĐ của GV bộ môn PLĐC (Trang 40)
2.1.4. Hình phạt - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
2.1.4. Hình phạt (Trang 53)
Hình   ảnh   những   trường  hợp bị cấm kết hôn để SV  dễ lĩnh hội kiến thức - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
nh ảnh những trường hợp bị cấm kết hôn để SV dễ lĩnh hội kiến thức (Trang 59)
Bảng 2.1: Phân phối tần số và tần suất điểm học tập môn PLĐC của sinh  viên trước thực nghiệm - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.1 Phân phối tần số và tần suất điểm học tập môn PLĐC của sinh viên trước thực nghiệm (Trang 63)
Bảng 2.2:  Bảng thống kê điểm số kết quả các bài kiểm tra - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.2 Bảng thống kê điểm số kết quả các bài kiểm tra (Trang 66)
Bảng 2.3: Bảng thống kê số % HS đạt điểm từ X i trở xuống - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.3 Bảng thống kê số % HS đạt điểm từ X i trở xuống (Trang 67)
Đồ thị đường tần suất tích tũy của nhóm ĐC và TN - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
th ị đường tần suất tích tũy của nhóm ĐC và TN (Trang 67)
Bảng 2.4: Thống kê phân loại điểm số hai bài kiểm tra - Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy môn pháp luật đại cương tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh   cơ sở nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.4 Thống kê phân loại điểm số hai bài kiểm tra (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w